1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẬN DỤNG JUST IN TIME vào CASUMINA

25 605 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng Just In Time vào Casumina
Tác giả Nhóm 4 – QTKD Đêm 5
Người hướng dẫn PGS.TS. Hồ Tiến Dũng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị Sản xuất và Điều hành
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 596 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẬN DỤNG JUST IN TIME vào CASUMINA

Trang 1

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Trang 2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 7 NĂM 2013

Trang 3

MỤC LỤC



PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐIỀU HÀNH

VỪA ĐÚNG LÚC & ĐỒNG BỘ (JUST IN TIME) 3

I Khái niệm JIT 3

1 Khái niệm 3

2 Bản chất 3

3 Mục đích 3

4 Nội dung 3

5 Vai trò 4

6 Ý nghĩa 4

II Lịch sử hình thành 4

III Các yếu tố chính của hệ thống JIT 5

1.Mức độ sản xuất đều & cố định 5

2 Tồn kho thấp 6

3 Kích thước lô hàng nhỏ 6

4 Lắp đặt với chi phí thấp & nhanh 7

5 Bố trí mặt bằng hợp lý 7

6 Sửa chữa & bảo trì định kỳ 8

7 Sử dụng công nhân đa năng 8

8 Đảm bảo mức chất lượng cao 9

9.Nâng cao tinh thần hợp tác 9

10 Lựa chọn người bán hàng tin cậy 10

11 Sử dụng hệ thống kéo 10

12 Nhanh chóng giải quyết sự cố trong quá trình sản xuất 13

13 Liên tục cải tiến 14

IV ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA JIT 14

V NHỮNG YẾU TỐ THEN CHỐT TẠO NÊN THÀNH CÔNG CHO JIT 16

PHẦN B: VẬN DỤNG JIT TRONG CÔNG TY CASUMINA 18

Trang 4

PHẦN A TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐIỀU HÀNH VỪA ĐÚNG LÚC & ĐỒNG BỘ

I. Khái niệm JIT

1. Khái niệm

- Sản xuất Just-In-Time, hay JIT, là một triết học quản lý tập trung vào loại trừ nhữnghao phí trong sản xuất bằng việc chỉ sản xuất đúng số lượng và kết hợp các thành phần tạiđúng chỗ vào đúng thời điểm Điều này dựa vào một thực tế hao hụt là kết quả từ bất kỳhoạt động nào làm gia tăng chi phí mà không gia tăng thêm giá trị cho sản phẩm, như là sựchuyển dịch hàng tồn kho từ chỗ này sang chỗ khác hay thậm chí chỉ là hành động của việccất giữ hàng tồn

- Just In Time là một hình thức quản lý dựa trên sự cải tiến không ngừng và giảm thiểutối đa sự lãng phí trong tất cả các bộ phận của công ty Hay nói cách ngắn gọn, khái niệmJust In Time được diễn tả trong một câu "Đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng nơivào đúng thời điểm"

tỷ lệ lỗi sản phẩm thấp hơn, chi phí thấp hơn, và lợi nhuận cao hơn

4. Nội dung

- JIT cũng được biết như một phương pháp sản xuất tinh gọn (Lean) hay sản xuất khôngtồn kho, bởi vì yếu tố then chốt của việc áp dụng thành công JIT là giảm tồn kho tại nhiềucông đoạn khác nhau dây chuyền sản xuất tới mức tối thiểu Điều này cần phải có sự phốihợp tốt giữa những công đoạn sao cho mỗi công đoạn chỉ sản xuất chính xác số lượng cầnthiết cho công đoạn sau Nói một cách khác, một công đoạn chỉ nhận vào chính xác sốlượng cần thiết từ công đoạn trước

Trang 5

- Hệ thống JIT bao gồm định nghĩa luồng sản xuất và thiết lập khu vực sản xuất sao choluồng nguyên liệu khi được đưa vào sản xuất được thông suốt và không bị cản trở, do đógiảm bớt thời gian đợi nguyên liệu Điều này yêu cầu khả năng của các những trạm làmviệc khác nhau mà nguyên liệu đi qua tương ứng và cân bằng một cách chính xác, và nhưvậy những điểm “thắc cổ chai” trong dây chuyền sản xuất sẽ được loại trừ Cơ cấu này bảođảm rằng nguyên liệu sẽ được gia công mà không có việc xếp hàng hay ngừng lại chờ.

- Khía cạnh quan trọng khác của JIT là việc sử dụng một hệ thống “kéo” (pull) để dichuyển những tồn kho xuyên qua dây chuyền sản xuất Với một hệ thống như vậy, nhữngyêu cầu của công đoạn tiếp theo sẽ điều chỉnh sản lượng của công đoạn trước đó Vì vậyđối với JIT thật cần thiết để định nghĩa một quá trình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc

“kéo” các lô từ một công đoạn sang công đoạn kế tiếp

5. Vai trò của JIT

- Triệt tiêu tất cả các nguồn gây hao phí, bao gồm cả tồn kho không cần thiết và phế liệusản xuất

- Tối thiểu hóa chi phí không gia tăng giá trị

- Giảm tồn kho tới mức thấp nhất có thể vì chi phí kho hàng là chi phí không gia tăng giátrị rất lớn

- Cải thiện chất lượng

- Nỗ lực liên tục để loại bỏ sự lãng phí và kém hiệu quả khỏi quá trình sản xuất thôngqua những kích thước lô hàng nhỏ, chất lượng cao, và làm việc theo nhóm

- JIT bắt nguồn từ Nhật bản, nơi nó đã được thực hành từ đầu những năm 1970

- Lịch sử của phương pháp quản lý JUST IN TIME bắt nguồn từ lần ông Toyota đọc mộtbài báo buổi sáng mùa xuân năm 1954, bài báo viết về một hãng sản xuất máy bay của Mỹ

Trang 6

áp dụng phương thức quản lý Super Market vào quy trình sản xuất đã tiết kiệm hàng nămkhoảng 250.000 USD Một baì baó với mẫu tin không quan trọng nhưng với một nhà quản

lý xí nghiệp như Toyota thì nó như một tia chớp giữa trời đen khi mà ông và các cộng sựđang ngập ngụa trong việc giải quyết các quy trình xử lý, quản lý trong công xưởng sảnxuất xe với hàng chục ngàn chi tiết sản phẩm, ngay lập tức ông tìm hiểu cung cách của mọingười đi chợ và người bán hàng Người mua chỉ cần mua đủ số hàng mình cần và ngườibán phải có đủ hàng ngay lúc đó thoả mãn nhu cầu của người mua "Người mua" ở trongquản lý xí nghiệp chính là vị trí công đoạn trong dây chuyền sản xuất lắp ráp và "ngườibán" chính là các hệ thống công ty vệ tinh sản xuất hàng trực thuộc Toyota Rộng hơn trongtoàn bộ quy trình quản lý từ sản xuất đến phân phối xe của Toyota là sẽ không có hiệntượng xe tồn kho, nguyên vật liệu tồn kho, xe sản xuất đúng và đủ với đơn đặt hàng, đúngchính xác giờ giấc giao hàng cho khách và từ đó Phương pháp JUST IN TIME (JIT) ra đời

- Phương pháp JIT do ông Taiichi Ohno (Phó tổng giám đốc sản xuất) cùng nhiều đồngnghiệp triển khai ở hãng Toyota Motor Taiichi Ohno phát triển những triết học này nhưmột phương tiện nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng với thời gian nhanh nhất Nhưvậy, trước đây, JIT được sử dụng không chỉ để giảm bớt hao phí trong sản xuất mà còn chủyếu để sản xuất hàng hóa sao cho hàng hóa đến tay khách hàng chính xác khi họ cần đến

- Sự phát triển của JIT ở Nhật có thể là do đặc điểm nước Nhật là một quốc gia đông dân

và ít nguồn tài nguyên thiên nhiên, vì vậy người Nhật đã trở nên nhạy cảm với sự lãng phí

và kém hiệu quả Họ xem việc phá hỏng và làm lại sản phẩm là lãng phí và họ xem tồn khonhư là một khuyết điểm vì nó chiếm chỗ và hao phí tài nguyên

- Sau Nhật, Just In Time được 2 chuyên gia là Deming và Juran phát triển ở Bắc Mỹ, vàsau đó lan rộng ra khắp thế giới

III. Các yếu tố chính của hệ thống JIT

Trang 7

trong một khoảng thời gian (thường là một tháng) để có thể thiết lập các lịch mua hàng vàsản xuất Rõ ràng là luôn có áp lực lớn để có được những dự báo tốt và phải xây dựngđược các lịch trình thực tế bởi vì không có nhiều tồn kho để bù đắp những thiếu hụt hàngtrong hệ thống.

2. Tồn kho thấp

Một trong những dấu hiệu nhận biết của hệ thống JIT là lượng tồn kho thấp.Lượngtồn kho bao gồm các chi tiết và nguyên vật liệu được mua, sản phẩm dỡ dang và thànhphẩm

Lượng tồn kho thấp có 03 khía cạnh quan trọng.Hai khía cạnh phản ánh lợi ích củaJIT, và một phản ánh yêu cầu cơ bản của hệ thống này

- Về hai khía cạnh phản ánh lợi ích của JIT, lợi ích rõ ràng nhất của lượng tồn kho thấp

là tiết kiệm được không gian và tiết kiệm do không phải ứ đọng vốn trong các bộ phận còntồn đọng trong kho Lợi ích thứ hai thì khó thấy hơn nhưng là một khía cạnh then chốt củatriết lý JIT Đó là tồn kho là những cái đệm dự trữ để giúp công ty tránh gặp nguy hiểm, vìkhi máy móc hư, hệ thống sẽ không dừng nếu có sẵn lượng tồn kho đưa đến trạm làm việc

kế tiếp Tuy nhiên, có nhiều tồn kho sẽ làm cho những nhà quản lý ỷ lại, không cố gắngkhắc phục những sự cố trong sản xuất và dẫn đến chi phí tăng cao Phương pháp JIT làmgiảm dần dần lượng tồn kho, từ đó người ta càng dễ tìm thấy và giải quyết những khó khănphát sinh

- Về khía cạnh thứ ba lý giải: Để có khả năng hoạt động khi ít tồn kho thì những vấn

đề chính phải được giải quyết Vì vậy, ít tồn kho là kết quả của quá trình giải quyết thànhcông những vấn đề gặp phải

3 Kích thước lô hàng nhỏ

Đặc điểm của hệ thống JIT là kích thước lô hàng nhỏ trong cả hai quá trình sản xuất

và phân phối từ nhà cung ứng Kích thước lô hàng nhỏ sẽ tạo ra một số lợi ích cho hệ thốngJIT hoạt động một cách có hiệu quả như sau:

- Lượng hàng tồn kho sản phẩm dở dang sẽ ít hơn so với kích thước lô hàng lớn Điềunày sẽ giảm chi phí lưu kho và tiết kiệm diện tích kho bãi

- Ít bị cản trở hơn tại nơi làm việc

- Khi nói đến chất lượng thì kích thước lô hàng nhỏ sẽ có chi phí kiểm tra và sửa lại nhỏ

- Linh động hơn trong việc hoạch định Trong nhiều hệ thống cổ điển, người ta sản xuấtmột loạt sản phẩm trong một khoảng thời gian dài, sau đó mới chuyển sang sản xuất mộtloại sản phẩm khác Điều này sẽ làm chi phí trải đều cho việc vận hành nhiều sản phẩm

Trang 8

nhưng sẽ làm thời gian thực hiện trên một dãy sản phẩm sẽ dài hơn Với phương pháp JITvới kích thước lô hàng nhỏ sẽ giúp cho hệ thống sản xuất trở nên linh hoạt, thường xuyênthay đổi từ việc sản xuất sản phẩm này sang sản phẩm khác, giúp sản phẩm đáp ứng nhanhchóng với nhu cầu thay đổi của khách hàng Từ đó, chỉ tạo ra những sản phẩm cần thiết.

4 Lắp đặt với nhanh với chi phí thấp

Theo phương pháp này, người ta sử dụng các chương trình làm giảm thời gian và chi phí lắp đặt để đạt được kết quả mong muốn, những công nhân thường được huấn luyện để làm công việc lắp đặt cho riêng họ, công cụ và thiết bị cũng như quá trình lắp đặt phải đơn giản và đạt được tiêu chuẩn hóa, thiết bị và đồ đa năng có thể giúp làm giảm bớt thời gian lắp đặt Hơn nữa, người ta có thể sử dụng nhóm công nghệ để làm giảm chi phí và thời gianlắp đặt nhờ tận dụng sự giống nhau trong những thao tác có tính lặp lại.Quá trình xử lý mộtloạt các chi tiết tương tự nhau trên những thiết bị giống nhau có thể làm giảm yêu cầu thay đối sự lắp đặt, sự tinh chỉnh trong trường hợp này là cần thiết

Nhược điểm: chỉ tốn chi phí đầo tạo ban đầu, chỉ áp dụng được cho những thao tác đơn giản

5 Bố trí mặt bằng hợp lý

Theo lý thuyết sản xuất cổ điển, mặt bằng của các phân xưởng thường được bô trí theo nhu cầu xử lý gia công Hệ thống JIT thường được sử dụng bố trí mặt bằng dựa trên nhu cầu sản phẩm.Thiết bị được sắp xếp để điều khiển những dòng sản phẩm giống nhau,

có nhu cầu lắp ráp hay xử lý giống nhau Để tránh việc di chuyển một khối lượng chi tiết lớn trong khu vực thì người ta đưa những lô nhỏ chi tiết từ trung tâm làm việc này đến trung tâm làm việc kế tiếp, như vậy thời gian chờ đợi và lượng sản phẩm dở dang sẽ được giảm đến mức tối thiểu Mặt khác, chi phí vận chuyển nguyện vật liệu sẽ giảm đáng kể và không gian cho đầu ra cũng giảm Các nhà máy có khuynh hướng nhỏ lại nhưng có hiệu quả hơn và máy móc thiết bị có thể sắp xếp gần nhau hơn, từ đó tăng cường sự giao tiếp trong công nhân

6 Sửa chữa và bảo trì định kỳ

Do hệ thống JIT rất ít hàng tồn kho nên khi thiết bị hư hỏng có thể gây ra nhiều rắc rối Để giảm thiểu việc hỏng hóc, doanh nghiệp sử dụng các chương trình bảo trì định kỳ,

Trang 9

trong đó nhấn mạnh vào việc duy trì thiết bị trong điều kiện hoạt động tốt nhất và vào việc thay thế những cụm chi tiết có dấu hiệu hỏng trước khi sự cố xảy ra Những công nhân thường có trách nhiệm bảo trì thiết bị máy móc của mình.

Mặc dù có bảo trì định kỳ, đôi khi thiết bị cũng hư hỏng Vì vậy,cần thiết phải chuẩn bị chođiều này và phải có khả năng sửa chữa cũng như đưa thiết bị vào sản xuất một cách nhanh chóng Muốn vậy, doanh nghiệp cần có những chi tiết dự phòng và duy trì lực lượng sửa chữa nhỏ hoặc huấn luyện công nhân tự mình sửa chữa những hư hỏng đột xuất có thẻ xảy ra

7 Sử dụng công nhân đa năng

Trong hệ thống cổ điển, công nhân thường được đào tạo trong phạm vi hẹp mà thôi Hệ thống JIT dành vai trò nổi bật cho công nhân đa năng được huấn luyện để điều khiển tất cả những công việc từ việc điều khiển quy trình sản xuất, vận hành máy đến việc bảo trì, sửa chữa…Người ta mong muốn công nhân có thể điều chỉnh và sửa chữa nhỏ cũng như thực hiện việc lắp đặt Hãy nhớ rằng trong hệ thống JIT người ta đẩy mạnh đơn giản hóa việc lắp đặt, làm thuận lợi cho người vận hành Trong hệ thống JIT, công nhân không chuyên môn hóa mà được huấn luyện để thực hiện nhiều thao tác, do vậy họ có thể giúp những công nhân không theo kịp tiến độ Người công nhân không những có trách nhiệm trong việc kiểm tra chất lượng công việc của mình mà còn quan sát kiểm tra chất lượng công việccủa những công nhân ở khâu trước họ Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là mất nhiều thời gian và chi phí đào tạo những công nhân đa năng để đáp ứng yêu cầu của hệ thống

8 Sản xuất với mức chất lượng cao

Những hệ thống JIT đòi hỏi các mức chất lượng cao Những hệ thống này được gài vàomột dòng công việc liên tục, nên sự xuất hiện của những trục trặc do chất lượng kém sẽ tạo

sự phá vỡ trên dòng công việc này Thực tế, do kích thước các lô hàng nhỏ, lượng hàng tồnkho để đề phòng mọi bất trắc thấp, nên khi sự cố xảy ra, việc sản xuất phải ngừng lại chođến khi sự cố được khắc phục Vì vậy, phải tránh bất cứ sự ngừng việc nào hoặc nhanhchóng giải quyết trục trặc khi chúng xuất hiện

Trang 10

Hệ thống JIT dùng ba giải pháp mũi nhọn để xử lý vấn đề chất lượng:Một là, thiết kế chất lượng cho sản phẩm và quá trình sản xuất Thực tế cho thấy hệ thốngJIT sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hóa sẽ dẫn đến tiêu chuẩn hóa các phương pháp làmviệc, các công nhân rất quen thuộc với công việc của họ và sử dụng các thiết bị tiêu chuẩnhóa, tất cả những vấn đề trên sẽ đóng góp làm tăng chất lượng sản phẩm ở các khâu củaquá trình sản xuất.

Hai là, yêu cầu các nhà cung cấp giao nguyên liệu và các bộ phận sản phẩm có chấtlượng cao để giảm thiểu trục trặc do hàng hóa đem tới Nếu đạt được yêu cầu này, thời gian

và chi phí kiểm tra hàng hóa có thể được loại bỏ

Ba là, làm cho công nhân có trách nhiệm sản xuất những hàng hóa có chất lượng cao.Điều này đòi hỏi phải cung cấp thiết bị và công cụ làm việc phù hợp, huấn luyện phươngthức làm việc thích hợp cho công nhân, huấn luyện trong đo lường chất lượng và phát hiệnlỗi, động viên công nhân cải tiến chất lượng sản phẩm và khi có sự cố xảy ra thì tranh thủ

sự cộng tác của công nhân

9.Nâng cao tinh thần hợp tác.

Hệ thống JIT đòi hỏi tinh thần hợp tác giữa các công nhân, quản lý và người cung cấp.Nếu không đạt được điều này thì khó có thể có một hệ thống JIT thật sự hiệu quả, và tinhthần hợp tác cũng chính là một phương diện được người Nhật thực hiện rất thành côngkhác hẳn với những nước phương Tây thường gặp trục trặc về tính hợp tác giữa 3 nhóm:công nhân, quản lý và người cung cấp gây khó khăn trong việc kết hợp nhuần nhuyễn bộmáy sản xuất Đòi hỏi bộ phận quản lý phải đánh giá đúng tầm quan trọng của hợp tác và

sự nổ lực chặt chẻ để thấm nhuần tin tinh thần hợp tác tôn trọng lẫn nhau

10 Lựa chọn người bán hàng tin cậy:

Hầu hết hệ thống JIT mở rộng về phía người bán, người bán được yêu cầu giao hànghóa có chất lượng cao, các lô hàng nhỏ và thời điểm giao hàng tương đối chính xác

Theo truyền thống, người mua đóng vai trò kiểm tra chất lượng và số lượng hàng mangđến, và khi hàng hóa kém phẩm chất thì trả cho người bán để sản xuất lại

Trong hệ thống JIT, hàng hóa kém phẩm chất sẽ đình trệ sự liên tục của dòng côngviệc.Việc kiểm tra chất lượng hàng hóa đưa đến được xem là không hiệu quả vì nó không

Trang 11

được tính vào giá trị sản phẩm Do đó việc đảm bảo chất lượng được chuyển sang ngườibán Người mua sẽ làm việc với người bán để giúp họ đạt được chất lượng hàng hóa mongmuốn.Mục tiêu cơ bản của người mua là có thể công nhận người bán như một nhà sản xuấthàng hóa chất lương cao, do vậy không cần có sự kiểm tra của người mua.

Như vậy, trong hệ thống kéo, công việc được luân chuyển để đáp ứng yêu cầu của côngđoạn kế tiếp theo của quá trình sản xuất Trái lại, trong hệ thống đẩy, công việc được đẩy rakhi nó hoàn thành mà không cần quan tâm đến khâu kế tiếp theo đã sẳn sàng chuẩn bị chocông việc hay chưa Vì vậy công việc có thể bị chất đống tại khâu chậm tiến độ do thiết bịhỏng hóc hoặc phát hiện có vấn đề về chất lượng

Hệ thống JIT dùng phương pháp kéo để kiểm soát dòng công việc, mỗi công việc sẽ gắnđầu ra với nhu cầu của khâu kế tiếp Trong hệ thống JIT, có sự thông tin ngược từ khâu nàysang khâu khác, do đó công việc được di chuyển “đúng lúc” tới khâu kế tiếp, theo đó dòngcông việc được kết nối nhau, và sự tích lũy thừa tồn kho giữa các công đoạn sẽ được tránhkhỏi

So sánh nguyên tắc “kéo” và nguyên tắc “đẩy”:

- Đầu ra được kéo dựa trên nhu cầu

Trang 12

- Quan tâm đến công việc của khâu kế - Không quan tâm công việc của khâu kế

- Dòng sản phẩm diễn ra liên tục - Dễ xảy ra tình trạng chất đống

Có nhiều phương cách truyền tin giữa các công đoạn như la hét hay vẫy tay ra hiệunhưng cách thông thường nhất là dùng công cụ gọi là KANBAN

KANBAN là gì: KANBAN là một hệ thống thông tin nhằm kiểm soát số lượng linh

kiện hay sản phẩm trong từng quy trình sản xuất Mang nghĩa một nhãn hay một bảng hiệu,mỗi kanban được gắn với mỗi hộp linh kiện qua từng công đoạn lắp ráp Mỗi công nhâncủa công đoạn này nhận linh kiện từ công đoạn trước đó phải để lại 1 kanban đánh dấu việcchuyển giao số lượng linh kiện cụ thể Sau khi được điền đầy đủ từ tất cả các công đoạntrong dây truyền sản xuất, một kanban tương tự sẽ được gửi ngược lại vừa để lưu bản ghicông việc hoàn tất, vừa để yêu cầu linh kiện mới KANBAN qua đó đã kết hợp luồng đicủa linh kiện với cấu thành của dây truyền lắp ráp, giảm thiểu độ dài quy trình TrênKANBAN, thường chứa những thông tin sau:

- Tên chi tiết, sản phẩm được sản xuất

- Sức chứa container

- Địa chỉ, ký hiệu của quy trình làm việc trước

- Địa chỉ, ký hiệu của quy trình sau

Ngoài các thông tin chủ yếu đó, thì tuỳ vào loại KANBAN và tuỳ vào tình hình cụ thểcủa mỗi doanh nghiệp mà có thể có thêm những thông tin khác

Chức năng của KANBAN

- Hướng dẫn: là công cụ hướng dẫn sản xuất và vận chuyển.(sản xuất chi tiết, sản phẩmnào, vận chuyển bao nhiêu…)

- Tự kiểm tra: để ngăn ngừa sản xuất thừa Mỗi công đoạn tự kiểm tra để đảm bảo chỉsản xuất những chi tiết, sản phẩm vớI số lượng cần thiết, tại thời điểm cần thiết

- Kiểm tra bằng mắt: thẻ KANBAN không chỉ chứa thông tin bằng số mà còn chứathông tin vật lý (Ví dụ: các thẻ KANBAN màu trắng, xanh lá, và vàng: màu trắng hoặcxanh thì chưa cần sản xuất ngay, màu vàng là tín hiệu việc sản xuất phải được bắt đầu)

Ngày đăng: 13/12/2013, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w