Đề xuất giải pháp áp dụng mô hình Just In Time vào hoạt động quản lý hàng tồn kho trong các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam .... Việc ứng dụng mô hình Just In Time vào hoạt động quản lý hà
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH JUST IN TIME VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Trần Thị Hoài Thương
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO VÀ MÔ HÌNH JUST IN TIME 4
1.1 Quản lý hàng tồn kho 4
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại hàng tồn kho 4
1.1.2 Các chi phí liên quan đến quản lý hàng tồn kho 5
1.1.3 Quy trình quản lý hàng tồn kho 7
1.1.4 Các biện pháp quản lý hàng tồn kho 8
1.2 Mô hình Just In Time 11
1.2.1 Giới thiệu về mô hình Just In Time 11
1.2.2 Đặc điểm mô hình Just In Time 13
1.2.3 Điều kiện áp dụng mô hình Just In Time trong doanh nghiệp 16
1.2.4 Lợi ích và hạn chế của mô hình Just In Time 18
1.3 Mô hình Just In Time trong hoạt động quản lý hàng tồn kho 20
1.3.1 Một số công cụ hỗ trợ trong quản lý hàng tồn kho theo mô hình Just In Time 20
1.3.2 Mô hình Just In Time trong hoạt động quản lý hàng tồn kho 24
1.4 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả mô hình Just In Time trong quản lý hàng tồn kho 25
1.4.1 Đánh giá dựa trên tính khả thi của phương pháp 25
1.4.2 Đánh giá dựa trên tính bền vững theo chiều sâu của doanh nghiệp 26
1.4.3 Đánh giá dựa trên tiêu chí khả năng đo lường 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 28
2.1 Giới thiệu khái quát về ngành Dệt may Việt Nam 28
2.1.1 Lịch sử hình thành 28
2.1.2 Tổng quan ngành Dệt may Việt Nam 28
2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh ngành Dệt may Việt Nam 30
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.2 Thực trạng quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 34
2.2.1 Tình hình hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 34 2.2.2 Hoạt động quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 40
2.3 Ứng dụng Just In Time trong quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 48
2.3.1 Sự cần thiết của việc ứng dụng Just In Time trong quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 48 2.3.2 Ứng dụng Just In Time vào quản lý hàng tồn kho trong các doanh
nghiệp Dệt may Việt Nam 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG MÔ HÌNH JUST IN TIME TRONG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM 583.1 Định hướng phát triển ngành Dệt may Việt Nam 583.2 Thuận lợi và khó khăn của các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam khi áp dụng
mô hình Just In Time trong quản lý hàng tồn kho 60
3.2.1 Thuận lợi 60 3.2.2 Khó khăn 61
3.3 Đề xuất giải pháp áp dụng mô hình Just In Time vào hoạt động quản lý hàng tồn kho trong các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 62
3.3.1 Các giai đoạn ứng dụng mô hình Just In Time trong các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 62 3.3.2 Nhóm các giải pháp ứng dụng mô hình Just In Time vào quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 65
KẾT LUẬN 74DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CMT Cut – Make – Trim (Gia công thuần túy)
EVE Công ty Cổ phần Everpia Việt Nam
GIL Công ty Sản xuất Kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình Thạnh
GMC Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại May Sài Gòn
KMR Công ty Cổ phần Mirae
NPS Công ty May Phú Thịnh – Nhà Bè
TCM Công ty Cổ phần Dệt may – Thương mại – Đầu tư Thành Công
TNG Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG
VITAS Hiệp hội Dệt may Việt Nam
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
Nội dung Trang Hình 1.1 Quy trình quản lý hàng tồn kho 8
Hình 1.2 Phân loại nhóm hàng tồn kho theo phương pháp ABC 9
Hình 1.3 Dòng thông tin và dòng vật chất trong hệ thống Pull 23
Hình 1.4 Xây dựng mô hình Just In Time trong quản lý hàng tồn kho 24
Hình 2.1 Quản lý hàng tồn kho trong các doanh nghiệp Dệt may Việt
Hình 2.2 Triển khai Just In Time trong quản lý hàng tồn kho doanh
Bảng 1.1 Nhóm chi phí phát sinh trong tồn trữ hàng tồn kho 6
Bảng 2.1 Tổng quan ngành Dệt may Việt Nam 29
Bảng 2.2 Tổng kim ngạch xuất khẩu Dệt may Việt Nam 31
Bảng 2.3 Thị trường và tổng kim ngạch xuất khẩu Dệt may Việt Nam 32
Bảng 2.4 Các chỉ số hàng tồn kho của hàng may mặc so với các mặt
Bảng 2.5 Chỉ số tồn kho ngành Dệt may Việt Nam 36
Bảng 2.6 Giá trị tồn kho một số doanh nghiệp Dệt may Việt Nam 37
Bảng 2.7 Số ngày một vòng quay hàng tồn kho của một số doanh
Bảng 2.8 Cơ cấu hàng tồn kho một số doanh nghiệp Dệt may Việt
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 7 năm gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã và đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn trong quá trình hội nhập, phát triển Bên cạnh môi trường kinh doanh rộng mở, năng động, những thời cơ lớn, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp nước ngoài Để tận dụng được tối đa những lợi thế đang có, làm chủ thị trường trong nước đồng thời vươn ra thị trường quốc tế, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến và hoàn thiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Một trong những yếu tố phải kể đến chính là việc tối thiểu hóa chi phí mà vẫn gia tăng lợi nhuận, đảm bảo tuân thủ pháp luật
Đối với doanh nghiệp sản xuất nói chung và các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam nói riêng, hàng tồn kho chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng vốn lưu động, và có mối quan hệ mật thiết với hoạt động sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường có xu thế đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh của mình nhằm mục tiêu thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu của khách hàng Để sản xuất mỗi một loại sản phẩm lại đòi hỏi phải có một lượng các chi tiết, bộ phận và nguyên vật liệu đa dạng, tuy nhiên lượng nguyên vật liệu được sử dụng lại khác nhau theo từng thời điểm và thường xuyên thay đổi Bên cạnh đó, sự biến động khôn lường của nhu cầu thị trường, cùng sự tăng giảm thất thường của giá cả khiến cho việc hoạch định sản xuất, dự trữ thành phẩm trở nên vô cùng phức tạp Vì vậy ổn định nguồn nguyên liệu, tính toán đúng và đủ lượng nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm cần dự trữ không phải là công việc dễ dàng Quản lý tốt nguồn nguyên vật liệu đầu vào, dự trữ được lượng hàng cần thiết là biện pháp quan trọng giúp giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường, và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm Với ý nghĩa đó, quản lý hàng tồn kho là một vấn đề cần được các doanh nghiệp coi trọng
Ra đời từ những năm 30 của thế kỉ 20 và được Ohno Taiichi của Toyota hoàn thiện vào những năm 70, Just In Time là một trong những mô hình sản xuất được cả thế giới ngưỡng mộ, mô hình này hoạt động dựa trên việc triệt tiêu tất cả các sự lãng phí, hoàn thiện các hoạt động cần thiết để sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
từ khâu kế hoạch cho đến khi sản phẩm đến tay khách hàng cuối cùng Việc ứng dụng mô hình Just In Time vào hoạt động quản lý hàng tồn kho là một trong những phương pháp giúp doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu, tránh lãng phí, nhờ đó mà gia tăng giá trị sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp
Với mong muốn tìm hiểu về mô hình Just In Time, từ đó thấy được những điểm phù hợp của mô hình cũng như những lợi ích mà mô hình mang lại khi áp dụng vào công tác quản lý hàng tồn kho trong doanh nghiệp Dệt may Việt Nam, em
đã lựa chọn đề tài: “Ứng dụng mô hình Just In Time vào hoạt động quản lý hàng tồn
kho trong các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Về thời gian: số liệu thu thập từ năm 2009 đến năm 2014
3 Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu mô hình Just In Time để thấy được ưu điểm, nhược điểm của nó Từ đó đưa ra một số đề xuất ứng dụng mô hình này vào hoạt động quản lý hàng tồn kho trong các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích của việc nghiên cứu, bài khóa luận cần hoàn thành những nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý hàng tồn kho
Tìm hiểu về mô hình Just In Time
Nghiên cứu thực trạng tồn kho và quản lý hàng tồn kho của các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Đề xuất các giải pháp ứng dụng mô hình Just In Time vào hoạt động quản lý hàng tồn kho trong doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập
dữ liệu, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp diễn giải, so sánh
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý thuyết về quản lý hàng tồn kho và mô hình Just In Time Chương II: Thực trạng quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Chương III: Giải pháp ứng dụng mô hình Just In Time trong quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO
VÀ MÔ HÌNH JUST IN TIME
1.1 Quản lý hàng tồn kho
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại hàng tồn kho
1.1.1.1 Khái niệm hàng tồn kho
“Tồn kho là số lượng hàng hóa được tự tạo trong kinh doanh nhằm đáp ứng cho nhu cầu trong tương lai Nhu cầu này có thể là sản phẩm của công ty mà cũng
có thể là hàng cung cấp dùng trong quá trình gia công” (Đặng Minh Trang, 2003, tr.106)
Đối với mỗi bộ phận khác nhau, nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau thì
có những mức kỳ vọng tồn kho không giống nhau Tồn kho cao giúp người bán giảm được nguy cơ thiếu hàng khi máy móc hư hỏng, nhân viên phụ trách sản xuất
và tác nghiệp lên kế hoạch sản xuất dễ dàng hơn Trong khi mức tồn kho thấp nhất
có thể giúp bộ phận tài vụ, kế toán quản lý nguồn tiền hiệu quả hơn vì giảm thiểu khả năng đồng tiền bị mắc kẹt ở tồn kho không thể chi tiêu vào các hoạt động khác
1.1.1.2 Đặc điểm hàng tồn kho
Hiện nay có khá nhiều quan điểm về hàng tồn kho, song về cơ bản các nhà nghiên cứu đều thống nhất về đặc điểm, theo đó, hàng tồn kho thường có những đặc điểm cơ bản sau:
Hàng tồn kho là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản lưu động, có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong kế toán, tài sản lưu động được chia làm 5 loại có tính thanh khoản từ cao đến thấp là tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, ứng trước ngắn hạn và hàng tồn kho “Tính thanh khoản chỉ mức độ mà một tài sản bất kì có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không làm ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản đó” (John Maynard Keynes, tr.67) Hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất vì phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau như phân phối và tiêu llllthụ, sau đó mới chuyển thành khoản phải thu, rồi từ đó mới chuyển thành tiền mặt Do vậy nếu hàng tồn kho chiếm tỷ lệ quá cao trong tài sản lưu động thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hàng tồn kho trong doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nên chi phí cấu thành nên giá gốc của hàng tồn kho cũng khác nhau
Hàng tồn kho tham gia vào toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chuyển hóa thành những tài sản ngắn hạn dưới những hình thái khác nhau như tiền tệ, sản phẩm dở dang hay thành phẩm
Hàng tồn kho gồm nhiều loại khác nhau, do đó thường được cất trữ, bảo quản ở những nơi khác nhau, việc kiểm kê, quản lý thường mất nhiều chi phí
1.1.1.3 Phân loại hàng tồn kho
Có nhiều cách để phân loại hàng tồn kho Theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hàng tồn kho bao gồm:
Hàng hóa mua về để bán: Hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến;
Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán;
Sản phẩm dở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm;
Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và
đã mua đang đi trên đường;
1.1.2 Các chi phí liên quan đến quản lý hàng tồn kho
Đối với doanh nghiệp, hàng tồn kho luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong giá trị tài sản vì vậy kiểm soát hàng tồn kho luôn là một vấn đề quan trọng trong hoạt động quản lý doanh nghiệp Hoạt động quản lý hàng tồn kho được xem là hiệu quả khi doanh nghiệp tối thiểu hóa được các loại chi phí nhưng vẫn mang lại lợi ích Các chi phí liên quan đến quản lý hàng tồn kho bao gồm:
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Chi phí mua hàng: là chi phí cần thiết để có mua hoặc sản xuất ra từng món
hàng tồn kho một Chi phí này được biểu hiện bằng chi phí một đơn vị nhân với số lượng nhận được hoặc sản xuất ra
Chi phí đặt hàng: chi phí gắn liền với đợt hoặc lô hàng định đặt không phụ
thuộc vào số lượng món hàng định đặt Chi phí này bao gồm chi phí đơn hàng, gửi hàng, vận chuyển, nhận hàng, chi phí giao dịch,…
Chi phí lưu kho: chi phí này liên quan đến việc tồn kho món hàng trong một
giai đoạn thời gian, phụ thuộc vào mức lưu trữ và thời gian lưu trữ hàng tồn kho Chi phí này bao gồm:
Bảng 1.1: Nhóm chi phí phát sinh trong tồn trữ hàng tồn kho
Nhóm chi phí Tỷ lệ so với giá trị
tồn kho
1 Chi phí về nhà cửa, kho tàng
- Tiền thuê hoặc khấu hao nhà cửa
- Chi phí bảo hiểm nhà kho, kho hàng
- Chi phí thuê nhà đất
Chiếm 3-10%
2 Chi phí sử dụng thiết bị, phương tiện
- Tiền thuê hoặc khấu hao dụng cụ, thiết bị
- Chi phí năng lượng
- Chi phí vận hành thiết bị
Chiếm 1-4%
3 Chi phí về nhân lực cho hoạt động quản lý Chiếm 3-5%
4 Phí tổn cho việc đầu tư vào hàng dự trữ
- Thuế đánh vào hàng dự trữ
- Chi phí vay vốn
- Chi phí bảo hiểm hàng dự trữ
Chiếm 6-24%
5 Thiệt hại hàng dự trữ do mất mát, hư hỏng hoặc
Nguồn: Trương Đức Lực, Nguyễn Đình Trung, 2013 Chi phí thiếu hàng: chi phí thiếu hàng phản ánh kết quả kinh tế khi hết hàng
trong kho Đó là cơ hội bị mất đi do không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, làm mất đi thiện chí của khách hàng trong tương lai; Cơ hội bán được hàng, tiền lời
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
bị mất do bán ít hoặc thiện chí khách hàng giảm gây mất tiềm năng bán hàng trong tương lai
1.1.3 Quy trình quản lý hàng tồn kho
1.1.3.1 Mục tiêu quản lý hàng tồn kho
Mục tiêu chung của quản lý hàng tồn kho là đáp ứng nhu cầu với chi phí nhỏ nhất Cũng như các hoạt động khác trong doanh nghiệp, hoạt động quản lý hàng tồn kho cũng góp phần tạo nên sự phát triển của toàn bộ tổ chức, mục tiêu của quản lý hàng tồn kho trong việc hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tối ưu hóa ở 3 khía cạnh: phục vụ khách hàng, chi phí tồn kho, chi phí vận hành Ở khía cạnh đầu tiên, phục vụ khách hàng, quản lý hàng tồn kho phải đảm bảo sự sẵn có của hàng hóa để đáp ứng được những nhu cầu bất thường của khách hàng, giao cho khách hàng đúng thời điểm mà họ có nhu cầu Thứ hai, chi phí tồn kho phải là tối thiểu Chi phí quản lý hàng tồn kho bao gồm chi phí kho bãi, chi phí quản lý, chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho,… khi cất trữ hàng tồn kho doanh nghiệp cần đảm bảo hoạt động quản lý là tối ưu để giảm thiểu tối đa các chi phí trên Thứ ba, chi phí vận hành đã trở thành một vấn đề trung tâm của quản lý hàng tồn kho, chi phí này liên quan đến các vận hành của nhà máy, kiểm soát hàng tồn kho, mua bán, chi phí hậu cần, chi phí phân phối liên quan hàng tồn kho và các dịch vụ liên quan khác, quản lý hàng tồn kho phải đảm bảo các chi phí này là tối thiểu
1.1.3.2 Quy trình quản lý hàng tồn kho
Hàng tồn kho trong các doanh nghiệp sản xuất, chế tạo xuất hiện ở mọi công đoạn sản xuất, biểu hiện của nó chính là các kho nguyên vật liệu, kho công cụ, dụng
cụ, kho thành phẩm và kho bán thành phẩm Vì vậy, quản lý hàng tồn kho cũng liên quan đến quản lý dòng di chuyển vật chất trong hệ thống sản xuất kinh doanh Đối với những doanh nghiệp khác nhau, tại những thời điểm khác nhau thì có mức tồn kho không giống nhau Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý hàng tồn kho bao gồm: loại hình doanh nghiệp, tính chất của quy trình sản xuất, mối liên hệ giữa chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho, các rủi ro trong quan hệ cung cầu, các cơ hội bất thường, tính dễ thay đổi trong các điều kiện sản xuất kinh doanh, lạm phát,…Quản
lý hàng tồn kho hiệu quả là việc tính toán lượng tồn kho tối ưu sao cho chi phí tồn kho là nhỏ nhất Hoạt động quản lý hàng tồn kho được đặt trên cơ sở 4 câu hỏi:
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
lượng tồn kho cần thiết là bao nhiêu tại thời điểm quy định, thời điểm nào tiến hành đặt hàng, loại hàng tồn kho nào cần được chú ý, và có thể thay đổi chi phí tồn kho hay không Quản lý hàng tồn kho được tiến hành qua các bước sau:
Hình 1.1: Quy trình quản lý hàng tồn kho
Nhận hàng: Trong quá trình nhận hàng, nhân viên được yêu cầu phải kiểm tra
chứng từ liên quan, nhận hàng từ người vận chuyển, kiểm tra chất lượng hàng hóa
để đảm bảo nguồn nguyên vật liệu có chất lượng trong quá trình sản xuất
Sắp xếp: Sau khi nhận hàng, doanh nghiệp bắt đầu phân loại, đánh kí hiệu, mã
hàng hóa để bố trí, sắp xếp vào các vị trí trong kho sao cho quá trình kiểm kê, lấy hàng được thuận tiện
Quản lý kho: Hàng hóa cất trữ trong kho phải được bảo quản cả về mặt chất
lượng và số lượng, công tác kiểm kê, đánh giá phải được tiến hành định kì, thường xuyên, để đảm bảo hàng không bị cất giữ quá lâu trong kho hoặc hàng hóa bị hư hỏng cần thanh lý hoặc giải quyết kịp thời
Kiểm soát mức dự trữ: Ghi chép, đánh giá thường xuyên, quản lý việc xuất
nhập dữ liệu tồn trữ trong kho để có những quyết định dự trữ hiệu quả
1.1.4 Các biện pháp quản lý hàng tồn kho
1.1.4.1 Phương pháp phân tích ABC
Đặt hàngNhận hàngSắp xếpQuản lý khoKiểm soát
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Phương pháp ABC dùng để phân nhóm hàng tồn kho căn cứ vào mối quan hệ giữa giá trị và số lượng chủng loại hàng hóa tồn kho hàng năm Phương pháp ABC phân loại toàn bộ hàng tồn kho thành 3 nhóm: Nhóm A, Nhóm B, Nhóm C
Nhóm A: bao gồm những loại hàng hóa tồn kho có giá trị hàng năm cao nhất,
từ 70-80% so với tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về mặt số lượng chúng chỉ chiếm 15% tổng số loại hàng tồn kho
Nhóm B: bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm ở mức trung bình, từ 15-25% so với tổng giá trị hàng tồn kho, nhưng về số lượng chúng chiếm khoảng 30% tổng số loại hàng tồn kho
Nhóm C: bao gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ, khoảng 5% giá trị các loại hàng tồn kho, nhưng số lượng lại chiếm đến 55% so tổng số loại hàng tồn kho
Hình 1.2: Phân loại nhóm hàng tồn kho theo phương pháp ABC
Nguồn: Trương Đức Lực, Nguyễn Đình Trung, 2013
Trong điều kiện công nghệ thông tin ngày càng phát triển, việc sử dụng phương pháp ABC đã được thực hiện dễ dàng hơn bằng máy tính Việc sử dụng phương pháp ABC trong quản lý hàng tồn kho giúp phân loại hàng tồn kho thành những nhóm có mức dự trữ khác nhau, vai trò khác nhau để có cơ sở đầu tư quản lý thích hợp Phương pháp ABC giúp đem lại những kết quả dự báo tốt hơn, kiểm soát, đảm bảo tính khả thi của nguồn cung ứng và tối ưu hóa hàng tồn kho
1.1.4.2 Quản lý hàng tồn kho với mô hình lượng đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ)
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Mô hình EOQ được đề xuất năm 1915, áp dụng cho bên mua trong trường hợp nhận hàng cùng một lúc (hàng hóa trong một đơn hàng nhận cùng một lúc) nhằm khắc phục tình trạng tồn kho thừa hoặc thiếu, góp phần làm giảm chi phí, đảm bảo đáp ứng nhu cầu khách hàng Các giả thiết để xây dựng được mô hình EOQ trong quản lý hàng tồn kho:
Nhu cầu sử dụng hàng hóa sử dụng trong một giai đoạn phải biết trước và không đổi theo thời gian
Khoảng thời gian từ lúc đặt hàng đến khi nhận hàng biết trước và không đổi
Chỉ xét đến hai loại chi phí liên quan là chi phí đặt hàng và chi phí lưu trữ
Lượng hàng trong 1 đơn hàng được thực hiện trong 1 lần và ở một thời điểm định trước
Giá cả hàng hóa không thay đổi theo quy mô đơn hàng
Chi phí mỗi lần đặt hàng không phụ thuộc lượng hàng trong mỗi đơn hàng
Chi phí lưu kho đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với giá mua đơn vị hàng hóa đó
Không có sự thiếu hụt dự trữ xảy ra nếu như đơn hàng được thực hiện đúng Mục tiêu của mô hình EOQ là tìm quy mô đặt hàng tối ưu, tức là tìm mức đặt hàng mà tại đó cho phép tối thiểu hóa tổng chi phí dự trữ, gồm chi phí lưu kho, chi phí đặt hàng, còn chi phí mua hàng thì không đổi Tuy nhiên mô hình EOQ có hạn chế là được xây dựng trên quá nhiều giả thiết khó thực hiện trong thực tế, vì vậy tính khả dụng chưa cao
1.1.4.3 Hệ thống tồn kho định kì
Trong quản lý hệ thống tồn kho định kì, lượng hàng hóa tồn kho hiện có được tính toán bằng cách kiểm kê tại một thời điểm xác định trước, sau một khoảng thời gian nhất định như tuần, tháng, quý Kết quả có được là cơ sở để đưa ra quyết định đặt hàng cho hoạt động trong kì kinh doanh tiếp theo Hệ thống tồn kho định kì còn được gọi là “hệ thống lượng đặt hàng cách quãng – FOIS” hay hệ thống đặt hàng kinh tế cách quãng – EOI”
Ưu điểm của hệ thống này là ghi chép, kiểm kê đơn giản, tuy nhiên chính điều này cũng tạo nên nhược điểm là hệ thống quản lý không kiểm soát liên tục, dẫn đến lượng hàng đặt thường lớn hơn so với thực tế vì phải dự phòng những nhu cầu bất thường
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2 Mô hình Just In Time
1.2.1 Giới thiệu về mô hình Just In Time
1.2.1.1 Khái niệm về Just In Time
“Just In Time là một bộ nguyên tắc, công cụ và kỹ thuật cho phép một công ty sản xuất và phân phối sản phẩm theo từng lô nhỏ trong thời gian ngắn, đáp ứng những nhu cầu cụ thể của khách hàng Nói một cách đơn giản, JIT là giao đúng sản phẩm vào đúng thời gian và với đúng số lượng Thế mạnh của JIT là nó cho phép đáp ứng được việc chuyển hàng từng ngày theo yêu cầu của khách hàng” (Jeffrey K.Liker, 2006) “Trong sản xuất hay dịch vụ, mỗi công đoạn của quy trình sản xuất
sẽ tạo ra một số lượng đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất tiếp theo cần tới Nói cách khác, Just In Time là hệ thống sản xuất trong đó nguồn nguyên vật liệu, hàng hóa và sản phẩm cần đến trong quá trình sản xuất và phân phối được lập kế hoạch một cách chi tiết sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiện ngay khi quy trình hiện thời kết thúc Do vậy, không có hạng mục nào rơi vào tình trạng để không, chờ xử lý Bất kỳ sự chậm trễ không cần thiết hay tồn kho trong quá trình sản xuất là lãng phí, vì vậy lượng tồn kho được giữ ở mức tối thiểu” (Trương Đức Lực, Nguyễn Đình Trung, 2013)
1.2.1.2 Mục tiêu của Just In Time
Mục tiêu của mô hình Just In Time khi ứng dụng vào quy trình sản xuất là nhằm cắt giảm các hoạt động không đem lại sự gia tăng giá trị, giảm thời gian sản xuất, thời gian vận chuyển, đồng thời sử dụng các thiết bị, công cụ, dụng cụ một cách có hiệu quả, yêu cầu sử dụng không gian nhỏ hơn, tỷ lệ sản phẩm khuyết tật, sai hỏng ít hơn, từ đó hướng đến giảm chi phí sản xuất và nâng cao lợi nhuận cho
doanh nghiệp
1.2.1.3 Lịch sử ra đời của mô hình Just In Time
Vào những năm 1930, hãng ô tô Ford lần đầu tiên áp dụng hệ thống dây chuyền để lắp ráp xe, đây được xem là một dạng sơ khai của phương pháp Just In Time Tuy nhiên Ohno Taiichi, một kỹ sư của Toyota mới được xem là cha đẻ của Just In Time Năm 1954 khi ông Toyota đọc được một bài báo về phương pháp sản xuất của một hãng sản xuất máy bay ở Mỹ, ngay lập tức ông đã tìm hiểu về tâm lý của người mua và người bán Người mua chỉ cần mua đủ số lượng mình cần, còn
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
người bán phải có đủ số lượng hàng để thỏa mãn nhu cầu người mua ngay tại thời điểm đó Sau đó, đến sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi Ohno Taiichi được cử sang
Mỹ để tìm hiểu về mô hình sản xuất của nước này, ông đã phát triển những ý tưởng
sơ khai đó thành một hệ thống được thiết kế để xử lý đa năng hay những lô hàng nhỏ với nhiều bộ phận đa dạng Ohno và cộng sự của mình đã nghiên cứu hệ thống kéo từ hệ thống siêu thị của Mỹ, nơi mà khách hàng lấy các mặt hàng từ kệ để lấp đầy giỏ hàng của mình, và tạo ra khoảng trống trên kệ Khoảng trống này là một dấu hiệu cho người quản lý kho hàng thay thế và lấp đầy chỗ hàng hóa bị lấy đi đó Nếu hàng hóa không được mua trong ngày hôm đó thì nó không cần phải bổ sung hay thay thế Khi số lượng hàng hóa bị giảm, đó là dấu hiệu để người quản lý đặt thêm hàng từ những nhà cung cấp Khách hàng chỉ lấy những thứ họ cần bởi họ biết rằng hàng hóa luôn có sẵn khi họ có nhu cầu trong lần tiếp theo Để áp dụng điều này vào sản xuất, Ohno đã phát minh ra một hệ thống trong đó việc sử dụng các bộ phận được xác định bởi tốc độ sản xuất Vật liệu được kéo qua các nhà máy bởi việc sử dụng hoặc tiêu thụ của các bộ phận lắp ráp cuối cùng Để có được kết quả tối đa, Ohno đã quyết định di chuyển các máy gần nhau hơn và hình thành các ô (cell) sản xuất Hệ thống Just In Time tiếp tục phát triển, với trung tâm là việc loại bỏ các lãng phí Hệ thống Ohno đã trở thành một hệ thống hoàn toàn linh hoạt trong đó tỷ lệ sản xuất được xác định bởi người dùng cuối chứ không phải là người sản xuất Sau này
mô hình Just In Time tiếp tục được hai chuyên gia Deming và Juran phát triển ở Bắc Mỹ và ngày nay nó đã lan rộng khắp thế giới
1.2.1.4 Nội dung của mô hình Just In time
Trong nội dung của mô hình Just In Time có hai khái niệm cơ bản cần phải phân biệt là sản xuất đại trà và sản xuất tinh xảo “Sản xuất đại trà được hiểu là phương thức sản xuất sử dụng công nhân có tay nghề cơ bản, vận hành những máy móc, thiết bị đơn năng, sản xuất ra những sản phẩm được tiêu chuẩn hóa với số lượng lớn Trong phương thức sản xuất này, các doanh nghiệp luôn cố gắng duy trì các tiêu chuẩn thiết kế sản phẩm càng lâu càng tốt bởi chi phí thay thế máy móc và tái thiết kế rất tốn kém Còn sản xuất tinh xảo được hiểu là phương pháp sản xuất sử dụng lực lượng lao động lành nghề, sử dụng những công cụ đơn giản nhưng linh hoạt, tạo ra từng sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, đây là hình thức sản xuất
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phổ biến đối với các ngành nghề thủ công, chất lượng sản phẩm đảm bảo tuy nhiên giá thành cao là yếu tố làm cho thị trường tiêu thụ bị thu hẹp” (Trương Đức Lực, Nguyễn Đình Trung, 2013) Công ty Toyota đã kết hợp hai phương thức sản xuất trên để tạo ra một phương thức sản xuất mới với đội ngũ công nhân có tay nghề cao, được trang bị máy móc hiện đại, đa năng, sản xuất được ở nhiều mức công suất Phương thức này đem lại hiệu quả trong việc giảm nhân lực, giảm diện tích, tạo ra ít phế phẩm hơn và năng suất cao hơn
Chìa khóa thành công của mô hình Just In Time là phải giảm lượng tồn kho tại nhiều công đoạn khác nhau của dây chuyền sản xuất tới mức tối thiểu Do đó các khâu trong quá trình sản xuất cần liên kết chặt chẽ với nhau Trong mô hình Just In Time, hệ thống sản xuất được thiết lập, bố trí sao cho nguồn nguyên vật liệu đầu vào được vận hành thông suốt, không bị cản trở, giảm bớt thời gian chờ đợi giữa các công đoạn Dù khả năng làm việc giữa các công đoạn là khác nhau nhưng nguyên vật liệu đi qua luôn được đảm bảo tương ứng và cân bằng một cách chính xác nên tình trạng ứ động trong dây chuyền sẽ bị loại bỏ
Điểm quan trọng trong mô hình Just In Time là mô hình sử dụng hệ thống kéo
để di chuyển hàng tồn kho trong quy trình sản xuất Với hệ thống này những nhu cầu của công đoạn sau sẽ được điều chỉnh bởi công đoạn trước đó Hay nói cách khác, hệ thống sản xuất với dự báo nhu cầu từ phía khách hàng làm đầu tàu kéo theo các công đoạn sau được thực hiện
1.2.2 Đặc điểm mô hình Just In Time
JIT nhấn mạnh việc loại bỏ sự lãng phí và kém hiệu quả khỏi quá trình sản xuất Bản chất của JIT là một dòng sản phẩm đều đặn đi qua hệ thống với lượng tồn kho nhỏ nhất JIT có các đặc điểm sau đây:
a Mức độ sản xuất đều và cố định
Hệ thống sản xuất JIT đòi hỏi một dòng sản phẩm khi đi qua hệ thống thì các hoạt động khác nhau sẽ thích ứng với nhau để nguyên liệu và sản phẩm có thể chuyển từ nhà cung cấp đến đầu ra cuối cùng Mỗi thao tác được phối hợp cẩn thận bởi hệ thống chặt chẽ, do đó lịch trình sản xuất phải được cố định trong một khoảng thời gian để thiết lập lịch mua hàng và sản xuất Điều này góp phần hạn chế những
áp lực như phải có dự báo tốt, phải xây dựng được lịch trình thực tế
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
b Tồn kho thấp
Lượng tồn kho bao gồm các chi tiết, nguyên vật liệu được mua, sản phẩm dở dang và thành phẩm chưa tiêu thụ Tồn kho luôn là mối quan tâm của các doanh nghiệp, nếu dự báo không tốt, tồn kho cao dẫn đến tốn kém về chi phí như chi phí lưu kho, lưu bãi, hàng giảm giá, giảm chất lượng,…Tồn kho thấp mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như tiết kiệm không gian, chi phí do không phải ứ động vốn; Tạo động lực cho các nhà quản lý khắc phục những sự cố trong sản xuất Hệ thống sản xuất JIT giảm lượng tồn kho đến mức thấp nhất có thể, từ đó hướng đến một hệ thống lý tưởng không có hàng tồn kho
c Kích thước lô hàng nhỏ
Đặc điểm của hệ thống JIT là kích thước lô hàng nhỏ được áp dụng trong cả hai quá trình sản xuất và phân phối Kích thước lô hàng nhỏ có những lợi ích sau đây:
Lô hàng có kích thước nhỏ thì lượng hàng tồn kho sản phẩm dở dang sẽ ít hơn so với lô hàng lớn, giảm chi phí lưu kho và diện tích kho bãi
Lô hàng có kích thước nhỏ dễ kiểm tra chất lượng hơn, do đó có thể sửa chữa ngay khi phát hiện sai sót, giảm chi phí, đồng thời nâng cao trách nhiệm của công nhân đối với mỗi lô hàng
d Lắp đặt nhanh với chi phí thấp
Hệ thống JIT sử dụng các chương trình làm giảm thời gian và chi phí lắp đặt, huấn luyện công nhân để có thể tự lắp đặt theo yêu cầu công việc của họ, các công
cụ và thiết bị phải đơn giản và được tiêu chuẩn hóa, đồng thời tận dụng sự giống nhau trong những thao tác có tính lặp lại
e Bố trí mặt bằng hợp lý
Thay vì bố trí mặt bằng dựa trên nhu cầu xử lý gia công như trước đây, hệ thống JIT áp dụng bố trí mặt bằng dựa trên nhu cầu sản phẩm Thiết bị được sắp xếp điều khiển những dòng sản phẩm giống nhau hay xử lý giống nhau Để giảm thời gian chờ đợi và lượng sản phẩm dở dang, những lô hàng nhỏ được chuyển từ trung tâm làm việc này đến trung tâm làm việc khác thay vì những lô hàng lớn Máy móc được sắp đặt gần nhau hơn, tối thiểu thời gian di chuyển của công nhân, giảm thời gian di chuyển thừa, từ đó giảm thời gian chờ đợi giữa các khâu sản xuất
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
f Công nhân đa năng
Công nhân không chỉ chuyên trách một nhiệm vụ nào đó mà được huấn luyện
để điều khiển tất cả các công việc từ việc điều khiển quy trình sản xuất, vận hành máy, đến bảo trì, sửa chữa…Từ đó họ không chỉ có trách nhiệm kiểm tra chất lượng công việc của mình mà còn có thể kiểm tra chất lượng và giúp những công nhân ở khâu trước đó Tuy nhiên vì công nhân được đào tạo đa năng nên không tránh khỏi hạn chế về thời gian và chi phí đào tạo
g Sửa chữa và bảo trì định kì
Vì JIT nhấn mạnh hệ thống một dây chuyền sản xuất ổn định, liên tục, nên việc duy trì thiết bị điều khiển là yêu cầu bắt buộc Hệ thống cần được bảo trì định
kì, duy trì thiết bị trong điều kiện hoạt động tốt nhất, đảm bảo thay thế những cụm chi tiết có dấu hiệu hỏng trước khi xảy ra sự cố; Huấn luyện công nhân tự bảo trì máy móc của mình, và luôn chuẩn bị cho những hỏng hóc và có khả năng sửa chữa nhanh chóng
h Đảm bảo chất lượng cao
Để đảm bảo hệ thống sản xuất liên tục, tránh những trục trặc phá vỡ dòng chảy
hệ thống do chất lượng kém gây ra, hệ thống JIT giải quyết vấn đề chất lượng bằng cách:
Thiết kế chất lượng và tiêu chuẩn hóa cho sản phẩm và quá trình sản xuất: Nếu sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hóa thì dẫn đến phương pháp làm việc cũng sẽ được tiêu chuẩn hóa, công nhân khi đã quen thuộc với công việc của mình, sử dụng các công cụ, thiết bị tiêu chuẩn sẽ có thể đóng góp nâng cao chất lượng sản phẩm ở các khâu trong quá trình sản xuất
Yêu cầu nhà cung cấp giao nguyên liệu có chất lượng để giảm thời gian và chi phí do những trục trặc hàng hóa gây ra
Làm cho công nhân có trách nhiệm sản xuất những hàng hóa có chất lượng cao
i Sử dụng người bán hàng tin cậy và đề cao tinh thần hợp tác
Người bán được yêu cầu giao hàng có chất lượng, các lô hàng nhỏ và thời điểm giao hàng chính xác Thay vì người mua phải kiểm tra hàng hóa khi được đưa đến, người bán được yêu cầu làm việc này, điều này giúp người mua loại bỏ những
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
chi phí không cần thiết như thời gian trả lời hàng, chi phí kiểm tra,…Mục tiêu cơ bản của người mua là có thể công nhận người bán như một nhà sản xuất hàng hóa chất lượng cao, do vậy không cần có sự kiểm tra của người mua Ngoài ra, hệ thống JIT đòi hỏi tinh thần hợp tác giữa công nhân, quản lý và người cung cấp để đạt được
sự hoạt động thật sự hiệu quả
j Sử dụng hệ thống kéo trong di chuyển hàng hóa
Hệ thống JIT sử dụng phương pháp kéo để kiểm soát công việc, mỗi công việc
sẽ gắn đầu ra với nhu cầu của khâu kế tiếp Trong hệ thống kéo, việc kiểm soát sự chuyển dời của công việc tùy thuộc hoạt động đi kèm theo, đầu ra sau cùng được kéo bởi nhu cầu khách hàng hoặc bởi lịch trình sản xuất Thông tin trong hệ thống kéo có sự di chuyển ngược từ khâu này sang khâu khác, do đó công việc được di chuyển đúng lúc, các dòng được nối tiếp nhau, tích lũy tồn kho giữa các giai đoạn
sẽ được giảm tối thiểu
k Giải quyết sự cố nhanh chóng
Giải quyết nhanh chóng sự cố làm giảm thời gian và chi phí do những trục trặc làm cản trở dòng công việc của hệ thống Để xử lý nhanh những sự cố này, nhiều doanh nghiệp sử dụng đèn báo hiệu, cho phép phát hiện sự cố xảy ra tại khâu nào trong hệ thống và để công nhân, quản đốc có thể sửa chữa kịp thời
1.2.3 Điều kiện áp dụng mô hình Just In Time trong doanh nghiệp
1.2.3.1 Điều kiện môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô là nền tảng cơ bản của bất kỳ ngành công nghiệp nào, để áp dụng được mô hình Just In Time vào hoạt động của doanh nghiệp thì môi trường vĩ mô cần có những điều kiện sau:
Thứ nhất là sự phát triển của nền sản xuất trong nước Bên cạnh tiềm lực bên trong mà mỗi doanh nghiệp khi áp dụng mô hình Just In Time đều cần phải có thì một nền sản xuất phát triển với khoa học công nghệ cao, trình độ quản lý, hiểu biết sâu rộng là điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình thành công
Thứ hai, nhà nước phải có một chế tài phù hợp, sự nghiêm khắc và nhất quán trong việc quản lý và giám sát các hoạt động nhằm tạo ra một nền tảng pháp lý cho các doanh nghiệp làm cơ sở để thực hiện các hoạt động một cách có kỉ luật và nghiêm túc, cải tiến nhưng không trái pháp luật và gây hại cho xã hội Đồng thời
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cũng phải có những cơ chế để giúp doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư, mở rộng giao lưu, và học hỏi được nhiều hơn kinh nghiệm từ các nước trên thế giới
1.2.3.2 Điều kiện doanh nghiệp
Bên cạnh các yếu tố môi trường vĩ mô, thì doanh nghiệp muốn áp dụng được
mô hình Just In Time cũng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất doanh nghiệp phải có quy trình sản xuất lặp lại
Sản xuất lặp lại là sản xuất các mặt hàng rời rạc trong cùng một dây chuyền sản xuất với lộ trình cố định Các mặt hàng có thể là một sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm Sản phẩm này là tiêu chuẩn hoặc làm từ các mô-đun tiêu chuẩn Các môi trường sản xuất là làm theo đơn đặt hàng (MTO), lắp ráp theo đơn đặt hàng (ATO) Các dây chuyền sản xuất bao gồm các máy trạm nằm gần nhau và theo thứ tự Nguyên vật liệu đi từ một trạm đến trạm kế tiếp với tốc độ tương đối ổn định Hệ thống vận chuyển nguyên vật liệu thường được sử dụng để di chuyển nguyên vật liệu giữa các tiến trình trong dây chuyền sản xuất Thông thường, công suất của dây chuyền sản xuất được giữ ổn định Việc sản xuất lặp đi lặp lại được dựa trên một dòng chảy liên tục của nguyên vật liệu
Thứ hai doanh nghiệp phải xây dựng được mối quan hệ với nhà cung ứng
Để thiết lập một dòng chảy của nguyên vật liệu vào nhà máy, mối quan hệ gần gũi và đáng tin cậy với các nhà cung cấp là rất quan trọng Quan hệ với đối tác, nhà cung cấp là thiết lập một mối quan hệ làm việc với một nhà cung cấp mà trong đó hai tổ chức hoạt động như một Mối quan hệ với các nhà cung cấp phải dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, hợp tác và cam kết lâu dài
Thứ ba doanh nghiệp phải có sự kiên nhẫn trong quá trình thực hiện
Mô hình Just In Time không phải là mô hình có thể mang lại hiệu quả rõ ràng, nhìn thấy được trong một thời gian ngắn, nó đòi hỏi một quá trình nghiêm túc thực hiện lâu dài, nhiều công đoạn vì vậy doanh nghiệp cần chuẩn bị tâm lý, có sự kiên trì nhẫn nại để theo đuổi và xây dựng mô hình Trong quá trình triển khai thực tế chắc hẳn sẽ gặp phải những sự cố ngoài ý muốn và dự tính, ban lãnh đạo và lực lượng lao động trong công ty phải luôn có sự tin tưởng, kiên nhẫn để xử lý và tìm ra cách giải quyết phù hợp
Thứ tư, doanh nghiệp cần có sự chủ động, nhanh nhạy khi thực hiện
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Just In Time là một mô hình phát triển từ lâu trên thế giới, song ở Việt Nam
nó còn tương đối mới mẻ Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam bên cạnh sự giúp đỡ
từ các chuyên gia, cần phải chủ động và nhanh nhạy trong quá trình tiếp thu và áp dụng, tránh để bị lệ thuộc quá nhiều các yếu tố từ bên ngoài
1.2.4 Lợi ích và hạn chế của mô hình Just In Time
1.2.4.1 Lợi ích
Giảm chi phí sản xuất
Ứng dụng mô hình JIT làm giảm mức tồn kho, điều đó có nghĩa là chi phí đầu
tư cho hàng tồn kho thấp hơn Hệ thống chỉ yêu cầu một số lượng nhỏ các nguyên liệu cần thiết sử dụng ngay lập tức, điều này làm giảm đáng kể mức tồn kho chung Với kích thước lô hàng nhỏ, lượng hàng tồn kho sản phẩm dở dang sẽ giảm, doanh nghiệp tiết kiệm chi phí lưu kho và diện tích kho bãi Lô hàng nhỏ giúp việc kiểm tra chất lượng sẽ dễ dàng hơn, do đó kiểm soát được sản phẩm tốt hơn, nếu có sai sót có thể kịp thời sửa chữa mà không để lại hậu quả nặng nề như đối với những
lô hàng lớn
Trong hệ thống JIT, mặt bằng sản xuất được bố trí hợp lý, do đó doanh nghiệp
có thể tiết kiệm chi phí thuê, mua mặt bằng, xây dựng nhà máy mà vẫn đảm bảo được quy trình, dây chuyền sản xuất
Đội ngũ công nhân được đào tạo có tay nghề, năng suất làm việc cao, sản xuất được nhiều sản phẩm chất lượng hơn, ít phế phẩm hơn
Nâng cao chất lượng sản phẩm
Với giải pháp đảm bảo chất lượng cao, sử dụng người bán hàng tin cậy, hệ thống JIT giúp doanh nghiệp kiểm soát được chất lượng sản phẩm từ đầu vào nguyên vật liệu cho đến đầu ra là thành phẩm, phế phẩm và các thành phẩm khuyết tật giảm, mang đến sự tiết kiệm về chí phí và thời gian, đồng thời tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp
Lợi ích khác
Nâng cao năng suất làm việc do hệ thống hoạt động dựa trên một dòng chảy thống nhất và ổn định, các hoạt động khác nhau sẽ thích ứng với nhau để nguyên liệu và sản phẩm có thể chuyển từ nhà cung cấp đến đầu ra cuối cùng Đồng thời do
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
có sự thông tin ngược từ khâu này sang khâu khác mà công việc được kết nối nhịp nhàng
Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi công nhân Chỉ cần một khâu có trục trặc sẽ dẫn đến sự gián đoạn của hệ thống, do đó hệ thống luôn duy trì áp lực đòi hỏi trách nhiệm cao của mỗi công nhân, công nhân được đào tạo đa năng, không chỉ hoàn thành nhiệm vụ vủa mình mà còn có thể giúp đỡ những người công nhân khác
Xây dựng mối quan hệ mật thiết, gắn bó với các nhà cung cấp
Just In Time đòi hỏi nguồn nhân lực phải trình độ cao, có ý thức kỷ luật, chi phí đào tạo công nhân đa năng lớn
Công nhân là những người trực tiếp vận hành, có liên quan mật thiết đến các công đoạn của quá trình sản xuất, vì vậy để mô hình áp dụng được trong hệ thống, lực lượng lao động phải là những người đầu tiên cần được đào tạo, nâng cao tay nghề và kỉ luật để đáp ứng được yêu cầu của mô hình mới Trong mô hình Just In Time công nhân là những người được đào tạo đa năng, có thể sản xuất ở nhiều vị trí nên cần phải có tinh thần học hỏi, trí sáng tạo cao
Sản xuất trong mô hình Just In Time phụ thuộc vào nhà cung cấp
Giữa người sản xuất và nhà cung cấp phải có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau bởi trong mô hình này, nhà cung cấp được xem là những nhà cung ứng tin cậy, đảm bảo nguồn hàng có chất lượng, thường xuyên và kịp thời cho những nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp Vì vậy, nếu nhà cung cấp không tuân thủ những
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cam kết đã kí với doanh nghiệp sản xuất có thể gây nên sự trì trệ, thậm chí là những hậu quả nghiêm trọng cho toàn bộ quá trình sản xuất
Rủi ro cao trong việc không đáp ứng đủ nguyên vật liệu khi có sự cố bất thường xảy ra
Theo mô hình Just In Time, mức tồn kho có xu hướng giảm đến không, trong sản xuất mỗi công đoạn của quy trình sản xuất tạo ra một số lượng hàng hóa đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất sau yêu cầu Các quy trình không tạo ra giá trị gia tăng sẽ bị loại bỏ Tuy nhiên điều này cũng mang đến những rủi ro khi doanh nghiệp không kịp cung cấp đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất do không có lượng hàng tồn sẵn trong kho, ảnh hưởng đến toàn bộ quy trình sản xuất
Tóm lại, nếu trước đây hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường cạnh tranh nhau bằng giá, chất lượng, chủng loại, các dịch vụ sau bán hàng,…thì hiện nay đó chỉ còn là những điều kiện tiên quyết cần phải có của bất kì doanh nghiệp nào Các doanh nghiệp muốn tồn tại được trong môi trường kinh tế thị trường khốc liệt đều phải chào bán những sản phẩm có chất lượng, giá cả phải chăng và dịch vụ tốt Khi các yếu tố khác đã trở nên cân bằng, doanh nghiệp nào đáp ứng nhanh những đòi hỏi của khách hàng hơn thì doanh nghiệp đó sẽ có nhiều lợi nhuận hơn Năng suất sản xuất cao là mục tiêu chung của tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Trong một hệ thống có năng suất sản xuất cao, máy móc, con người, tài chính, nguyên vật liệu,… tất cả đều được vận hành một cách trôi chảy Mô hình sản xuất Just In Time là một trong những mô hình phù hợp đáp ứng những yêu cầu đó, mặc dù còn một số hạn chế đòi hỏi phải được đáp ứng khi
áp dụng mô hình vào quy trình sản xuất của doanh nghiệp nhưng những hiệu quả
mà mô hình mang lại là không hề nhỏ, trong mô hình này các yếu tố của quá trình sản xuất được vận hành liên tục và trôi chảy, hàng tồn kho vì thế chỉ cần phải lưu tại kho trong một thời gian ngắn, và ngay lập tức được di chuyển đến địa điểm khác sau đó
1.3 Mô hình Just In Time trong hoạt động quản lý hàng tồn kho
1.3.1 Một số công cụ hỗ trợ trong quản lý hàng tồn kho theo mô hình Just In Time
1.3.1.1 Công cụ 5S
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
5S là công cụ có nguồn gốc từ Nhật Bản với mục đích là tạo ra và duy trì một môi trường làm việc thuận tiện, nhanh chóng, hiệu quả tại mọi vị trí làm việc trong nhà máy, xí nghiệp 5S đòi hỏi sự tham gia của tất cả các thành viên trong công ty
để cải tiến môi trường làm việc và nâng cao năng suất lao động, 5S bao gồm:
Sàng lọc (Seiri): sàng lọc những vật dụng không cần thiết và loại bỏ ra khỏi quy trình
Sắp xếp (Seiton): Sắp xếp mọi thứ ngăn nắp, theo một trật tự nhất định nhằm mang lại sự thuận tiện khi sử dụng
Sạch sẽ (Seiso): Vệ sinh mọi chỗ sao cho nơi làm việc không có rác hay bụi bẩn
Săn sóc (Seiketsu): Săn sóc, giữ gìn nơi làm việc sạch sẽ, thuận tiện bằng cách duy trì các hoạt động sàng lọc, sắp xếp, sạch sẽ
Sẵn sàng (Shitsuke): Tạo thành nề nếp và thói quen tự giác làm cho môi trường làm việc luôn thuận tiện
Trong quản lý hàng tồn kho 5S là công cụ hữu hiệu để bố trí, sắp xếp lại mặt bằng, hàng hóa trong kho nhằm tạo ra một môi trường thông thoáng, sạch sẽ để làm nơi chứa hàng Đây cũng có thể xem là bước đầu tiên căn bản trong việc thay đổi những thói quen quản lý không có khoa học trước đây, thay vào đó hàng hóa được sắp xếp phân chia theo nhóm, đặt ở các vị trí thuận tiện khi lấy hàng, vận chuyển cũng như kiểm kê
1.3.1.2 Kanban
Phương pháp Kanban được M.Ohno phát triển ở Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Sau một thời gian quan sát các xưởng sản xuất, M.Ohno nhận thấy rằng những người lao động thường có xu hướng tăng năng suất, sản xuất quá nhiều,
vì vậy ông đã nghiên cứu và tìm ra một phương tiện cho phép chỉ sản xuất những sản phẩm theo yêu cầu Theo phương pháp này quy trình phía trên chỉ sản xuất khi quy trình phía dưới yêu cầu, và quy trình phía dưới chỉ sản xuất khi khách hàng yêu cầu, đây là cách truyền tin ngược so với hệ thống sản xuất cũ Hệ thống thông tin được truyền từ công đoạn cuối về công đoạn đầu này gọi là phương pháp Kanban
Hệ thống này sử dụng thẻ Kanban để kiểm soát dòng sản xuất, giảm thời gian sản xuất và trong quá trình sản xuất Hệ thống Kanban cho phép xác định sản xuất cái
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
gì, khi nào sản xuất và sản xuất như thế nào Kanban duy trì mức tồn kho cần thiết bằng việc gửi đi những tín hiệu hình ảnh cho việc sản xuất và vận chuyển nguyên liệu của lô hàng mới được tiêu thụ Kan ban được áp dụng theo 2 hình thức: Thẻ rút (Withdrawal Kanban): chi tiết, chủng loại, số lượng quy trình sau nhận từ quy trình trước; Thẻ đặt (Production-Ordering): chi tiết, chủng loại, số lượng quy trình sau phải thực hiện
Phân loại: thẻ Kanban có 5 loại chính
Kanban vận chuyển (Transport Kanban): thẻ kanban được dùng báo cho công đoạn trước cần chuyển chi tiết cho công đoạn sau
Kanban sản xuất (Production Kanban): loại thẻ báo cáo cho dây chuyền sản xuất cần sản xuất chi tiết lượng hàng hóa bù vào lượng hàng hóa đã xuất
Kanban cung ứng (Supplier Kanban): Loại thẻ báo cho nhà cung cấp cung ứng nguyên vật liệu
Kanban tạm thời (Temporaly Kanban) Kanban được ban hành có thời hạn trong trường hợp thiếu hàng
Kanban tín hiệu (Signal Kanban): loại dùng thông báo kế hoạch cho các công đoạn sản xuất theo lô
Hệ thống Kanban sẽ giúp cho tồn kho trên dây chuyền được quản lý rõ ràng, chính xác, hạn chế sự lãng phí, tồn động hàng hóa tại các vị trí giữa các khâu trong quy trình nhờ hệ thống thẻ thông tin cụ thể thời gian, số lượng hàng hóa cần thiết
1.3.1.3 Hệ thống kéo (Hệ thống Pull)
Cùng với Kanban, hệ thống Pull là chìa khóa quan trọng của mô hình Just In Time, luồng sản xuất nhà máy được điều tiết từ công đoạn cuối về công đoạn đầu, chỉ khi có tín hiệu báo có nhu cầu ở công đoạn sau thì công đoạn trước mới tiến hành sản xuất
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hình 1.3: Dòng thông tin và dòng vật chất trong hệ thống Pull
Nguồn: Hiroyuki Hirano, JIT Implementation Manufacturing – Volume 1
Khi một đơn hàng được nhận từ khách hàng và thông tin cho hệ thống sản xuất, lệnh sản xuất được đưa từ công đoạn cuối, trên hình là bước chuẩn bị vật chất (các nguyên liệu, vật liệu, chi tiết…), sau đó vật chất được chuyển tiếp sang khâu sản xuất, từ khâu sản xuất sang khâu lắp ráp, từ khâu lắp ráp chuyển đến khâu lắp ráp hoàn thiện và ra sản phẩm hoàn chỉnh Như vậy trong hệ thống Pull tồn kho giữa các công đoạn được giảm bớt do thông tin xuất phát từ nhu cầu của khách hàng Hệ thống sản xuất Pull có một số loại chính như sau:
Hệ thống Pull cấp đầy (Replenishment Pull System): Trong hệ thống này, công ty cố ý duy trì một lượng tồn kho thành phẩm cho từng chủng loại, hay nhóm sản phẩm Khi tồn kho của một loại sản phẩm thấp hơn mức xác định thì một lệnh làm đầy kho được ban hành, yêu cầu sản xuất thêm sản phẩm
Hệ thống Pull sản xuất theo đơn hàng (Sequential Pull System): Trong hệ thống này, các lệnh sản xuất chỉ được gửi đến xưởng sản xuất khi khách hàng yêu cầu Tất cả sản phẩm được làm theo đơn đặt hàng
Hệ thống Pull phức hợp (Mixed Pull System): Trong hệ thống này một số thành phần của hệ thống được cấp đầy, và sản xuất theo đơn hàng được sử dụng hỗ trợ lẫn nhau Ví dụ một công ty có thể sản xuất một số sản phẩm trên cơ sở lấp đầy tồn kho trong khi sản xuất một số sản phẩm khác với hệ thống làm theo đơn đặt hàng
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hệ thống Pull không chỉ kiểm soát hàng tồn kho thành phẩm dựa trên dự báo nhu cầu đầu ra mà còn giúp cho quá trình cung ứng nguyên vật liệu, công cụ, dụng
cụ được đảm bảo đủ, không quá thừa hay quá thiếu nhờ dòng thông tin ngược từ đầu công đoạn sau đến công đoạn trước, xuất phát từ nhu cầu của khách hàng
1.3.2 Mô hình Just In Time trong hoạt động quản lý hàng tồn kho
Mô hình Just In Time trong hoạt động quản lý hàng tồn kho là hệ thống trong
đó hàng hóa được dự trữ đúng thời điểm, đúng số lượng Lượng tồn kho đúng thời điểm là lượng tồn kho tối thiểu cần thiết giữ cho hệ thống sản xuất hoạt động bình thường Với mô hình Just In Time, doanh nghiệp xác định chính xác số lượng của từng hàng hóa cần dự trữ trong từng thời điểm để đảm bảo hàng được đưa đến nơi
có nhu cầu đúng lúc và đúng số lượng, sao cho các hoạt động ở bất kỳ công đoạn nào cũng được duy trì liên tục, thông suốt và đúng thời gian yêu cầu
Hình 1.4: Xây dựng mô hình Just In Time trong quản lý hàng tồn kho
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Từ việc tìm hiểu về mô hình Just In Time, các vấn đề của quản lý hàng tồn kho, nhận thấy sự phù hợp của mô hình JIT trong việc loại bỏ những dư thừa, lãng phí trong hoạt động quản lý hàng tồn kho của doanh nghiêp, dựa trên mô hình Just
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
In Time trong quy trình sản xuất của Hiroyuki Hirano có thể xây dựng mô hình cơ bản để triển khai Just In Time trong quản lý hàng tồn kho qua 4 bước như sau:
Bước 1: Tìm hiểu về mô hình Just In Time
Để xây dựng được một mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả, trước hết cần phải nghiên cứu và hiểu rõ về mô hình đó, đánh giá mức độ phù hợp của mô hình với tình hình sản xuất và tổ chức hoạt động của hệ thống Tất cả những cải tiến phải được bắt đầu từ nhận thức Cách mạng nhận thức phải được bắt đầu từ những người lãnh đạo công ty Khi những người lãnh đạo ý thức được nhu cầu cấp bách cần phải thay đổi, điều này sau đó sẽ nhanh chóng lan rộng xuống các cấp quản lý trung gian
và toàn thể công nhân trong công ty Nó tạo nên động lực thúc đẩy sự thay đổi, cải tiến
Bước 2: Thực hiện 5S và Kaizen (cải tiến liên tục) là những viên gạch cơ bản
để xây dựng nền móng của mô hình quản lý tồn kho theo Just In Time
Bước 3: Ứng dụng thẻ Kanban và hệ thống Pull để quản lý hàng hóa hiệu quả, triển khai các công cụ hỗ trợ khác để xác định kích thước lô hàng, chất lượng
từ khâu sản xuất đến thành phẩm
Bước 4: Xây dựng hệ thống đánh giá toàn bộ hệ thống để kịp thời phát hiện những sai sót, đồng thời phát huy những hiệu quả từ mô hình đem lại Đồng thời bước này cũng là bước thiết lập tiêu chuẩn hoạt động đồng bộ trên toàn hệ thống ở tất cả các quy trình
Trong quá trình xây dựng hệ thống mô hình Just In Time, ở mỗi giai đoạn, mỗi tiến trình cần có sự xem xét, đánh giá liên tục để kịp thời phát hiện những điểm chưa phù hợp, áp dụng chưa đúng để sửa chữa, bổ sung, thay thế Đồng thời khuyến khích phát triển tư duy, cải tiến liên tục nhằm xây dựng một hệ thống quản lý hàng tồn kho hiệu quả Trong quy trình quản lý hàng tồn kho mô hình Just In Time cần được triển khai đồng bộ và có hệ thống xuyên suốt các giai đoạn Từ khâu đặt hàng đến lúc thành phẩm được xuất ra khỏi kho thành phẩm
1.4 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả mô hình Just In Time trong quản lý hàng tồn kho
1.4.1 Đánh giá dựa trên tính khả thi của phương pháp
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Mô hình Just In Time có thể là một mô hình phù hợp để áp dụng vào hoạt động quản lý tồn kho của doanh nghiệp, tuy nhiên mô hình có thực sự phù hợp và mang lại hiệu quả trong thực tế hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện doanh nghiệp, cơ sở lý thuyết, có xây dựng được quy trình áp dụng phù hợp không…Các mức đánh giá khả năng áp dụng là phương pháp có khả năng áp dụng hay phương pháp chưa có khả năng áp dụng Để đánh giá khả năng đó doanh nghiệp có thể mời tư vấn của những chuyên gia trong nghề, chuyên gia về Just In
Time, học hỏi kinh nghiệm của những doanh nghiệp khác trong và ngoài nước
1.4.2 Đánh giá dựa trên tính bền vững theo chiều sâu của doanh nghiệp
Mô hình Just In Time bao gồm sự kết hợp của rất nhiều yếu tố và công cụ có mối quan hệ gắn bó với nhau Để đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của mô hình cần tiến hành đánh giá hiệu quả của mỗi nhân tố tại các công đoạn khác nhau của toàn bộ quy trình Các mức đánh giá tính bền vững theo chiều sâu của doanh nghiệp
là phương pháp có tính bền vững theo chiều sâu của doanh nghiệp và phương pháp chỉ mang tính chất bộ phận
1.4.3 Đánh giá dựa trên tiêu chí khả năng đo lường
Hàng tồn kho của doanh nghiệp luôn chiếm tỷ lệ cao, vì vậy để đánh giá mô hình JIT có đem lại hiệu quả hay không cần đánh giá kết quả nó mang lại đối với hoạt động quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp, có 2 mức để đánh giá khả năng
đo lường là khả năng đo lường được giá trị tồn kho của toàn hệ thống và đo lường giá trị tồn kho tại bộ phận Đối với doanh nghiệp, có một số tiêu chí để đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho như hệ số vòng quay hàng tồn kho, thời gian tồn kho bình quân,…
Số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị tồn kho, là số lần hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Số vòng quay tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân giá trị hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/Bình quân hàng tồn kho
Trong đó:
Bình quân hàng tồn kho=(Hàng tồn kho năm nay+Hàng tồn kho năm trước)/2
Số vòng quay hàng tồn kho là chỉ số được sử dụng thường xuyên để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quả như thế nào, chỉ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp Có nghĩa là doanh nghiệp
sẽ ít rủi ro hơn nếu nhìn thấy trong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên chỉ số này quá cao cũng không tốt vì nó cho thấy lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, doanh nghiệp sẽ bị động nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột, có khả năng bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Thêm nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến cho dây chuyền bị ngưng trệ Vì vậy chỉ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được nhu cầu khách hàng Số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp Tuy nhiên, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu Vì vậy khi đánh giá các chỉ số này cần gắn nó với mỗi ngành nghề cụ thể
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = 365/Số vòng quay hàng tồn kho
Tỷ số này cho biết để hàng tồn kho luân chuyển được một vòng thì mất bao nhiêu thời gian Tỷ số này càng thấp thì hiệu quả quản lý hàng tồn kho càng cao và ngược lại
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu khái quát về ngành Dệt may Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành
Ngành Dệt may Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời, là ngành hàng mũi nhọn của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, liên quan đến sản xuất sợi, dệt, nhuộm, vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và phân phối đến tay người tiêu dùng Các hoạt động dệt may truyền thống thủ công ở Việt Nam
đã có từ lâu đời với sự tồn tại của các làng nghề truyền thống như Vạn Phúc (Hà Đông – Hà Nội), Triều Khúc (Thanh Trì – Hà Nội),…Năm 1897 nhà máy liên hợp dệt Nam Định ra đời đánh dấu sự hình thành của ngành Dệt may Việt Nam với vai trò là một ngành công nghiệp Năm 1976, các sản phẩm dệt may Việt Nam bắt đầu được xuất khẩu, đầu tiên là các nước thuộc khối hợp đồng tương trợ kinh tế, mà chủ yếu là xuất khẩu qua Liên Xô thông qua các hợp đồng gia công Giai đoạn 1987-
1990, ngành Dệt may Việt Nam phát triển nhanh chóng, các xí nghiệp dệt may được thành lập khắp cả nước Sang thế kỉ 20, ngành Dệt may Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới với sự hội nhập sâu rộng với quốc tế, đánh dấu bởi hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam với cộng đồng Châu Âu vào ngày 15/12/1992 Kể từ đó đến nay, ngành Dệt may Việt Nam liên tục phát triển, thị trường được mở rộng, đặc biệt là khi Việt Nam chính thức gia thập thị trường rộng lớn với việc ký kết hiệp định tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007 Ngành Dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt; là một ngành đem lại thặng dư xuất khẩu cho nền kinh tế, góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao phúc lợi xã hội
2.1.2 Tổng quan ngành Dệt may Việt Nam
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 2.1: Tổng quan ngành Dệt may Việt Nam
Chỉ tiêu Đơn vị Giá trị
Số lượng công ty Công ty > 6000
Quy mô doanh nghiệp Người SME 200-500+ chiếm tỷ trọng lớn
Cơ cấu công ty theo hình
Vùng phân bố công ty Miền Bắc (30%), Miền trung và cao
nguyên (8%), miền Nam (62%)
Số lượng lao động (năm
2013) Người 2,5 triệu
Thu nhập bình quân công
nhân (năm 2013) VND 4,5 triệu
Số ngày làm việc/tuần Ngày 6
Số giờ làm việc/tuần Giờ 48
Giá trị xuất khẩu dệt may
2014 (không tính xơ sợi) USD 20,9 tỷ
Giá trị nhập khẩu dệt may
Thời gian thực hiện đơn
hàng (lead time) Ngày 90-100
Nguồn: Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Theo thống kê hiện cả nước có trên 6000 doanh nghiệp Dệt may, thu hút hơn 2,5 triệu lao động, chiếm khoảng 25% lao động khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam Theo số liệu VITAS, mỗi 1 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may có thể tạo ra việc làm cho 150-200 nghìn lao động tại các doanh nghiệp Dệt may và các doanh nghiệp
hỗ trợ khác Phần lớn doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân (84%), tập trung
ở Đông Nam Bộ (60%) và đồng bằng sông Hồng Các doanh nghiệp may chiếm khoảng 70% tổng số doanh nghiệp trong ngành với hình thức xuất khẩu chủ yếu là CMT (85%)
So với các quốc gia khác, năng suất lao động khu vực sản xuất của Việt Nam rất thấp, năng suất lao động mặc dù được cải thiện trong những năm gần đây nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực Năng suất lao động trung bình trong ngành bằng 1/3 so với Hồng Kông, 1/4 so với Trung Quốc, 1/8 so với Hàn Quốc, tính riêng ngành dệt chỉ bằng 90% của Trung Quốc, 85% của Thái Lan, điều này ảnh hưởng đến giá thành và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Đây là một trong những điểm yếu lớn nhất của Dệt may nói riêng và các ngành công nghiệp sản xuất thâm dụng lao động nói chung
2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh ngành Dệt may Việt Nam
2.1.3.1 Tình hình xuất khẩu
Ngành Dệt may Việt Nam với tỷ lệ tăng trưởng bình quân 15%/năm, là một trong những ngành kinh tế hàng đầu của cả nước, đóng góp từ 10%-15% GDP hàng năm Việt Nam là một trong 5 nhà xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới với thị phần 4%-5% Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam bao gồm Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc (chiếm trên 75% kim ngạch xuất khẩu hàng năm) với các sản phẩm may mặc chủ yếu là các sản phẩm từ sợi bông, sợi tổng hợp ở các thị trường cấp trung và thấp Năm 2014, ngành Dệt may Việt Nam xuất khẩu trên 24 tỷ USD, tăng xấp xỉ 19% so với năm 2013, trong đó mặt hàng may mặc đạt khoảng 21 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ, còn lại là xuất khẩu xơ sợi dệt khoảng 3 tỷ USD
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 2.2: Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam (Đơn vị: tỷ USD)
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 Kim ngạch XK dệt may 11,210 15,831 17,018 21,092 24,629
% tăng trưởng so với năm
có kim ngạch xuất khẩu lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Trong đó hàng dệt may (không bao gồm xơ sợi) có kim ngạch xuất khẩu cao (20,9 tỷ USD), chỉ đứng thứ 2 sau mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện (23,6 tỷ USD), đặc biệt trong tất cả các tháng năm 2014, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đều đạt giá trị trên 1 tỷ USD Theo số liệu của VITAS, dệt may và
xơ sợi là những ngành đạt mức tăng trưởng khá Năm 2014 mặt hàng dệt may đạt 20,9 tỷ USD, tăng 16,73%; Mặt hàng xơ sợi các loại đạt 2,5 tỷ USD, tăng 18,33%
so với cùng kỳ năm 2013
Về thị trường xuất khẩu, trong những năm qua thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang ngày càng được mở rộng, bên cạnh những thị trường truyền thống, các doanh nghiệp đã xuất khẩu sang các thị trường lớn và tiềm năng, trong số đó Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc là những thị trường xuất khẩu chính của ngành Dệt may Việt Nam
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bảng 2.3: Thị trường và tổng kim ngạch xuất khẩu Dệt may Việt Nam (Đơn vị: Tỷ USD)
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 %2014/2013 Hoa Kỳ 6,118 6,872 7,477 8,612 9,841 114,27%
2014, tăng 14,27% so với cùng kì năm 2013, so với các quốc gia cạnh tranh khác trên thị trường Mỹ, Việt Nam tiếp tục đạt mức tăng trưởng ở hai con số (so với Trung Quốc tăng nhẹ 1%, Ấn Độ tăng khoảng 6%, Indonexia, Bangladesh, Campuchia, Pakistan tăng trưởng âm) Tiếp theo là thị trường Châu Âu với 3,39 tỷ USD năm 2014, tăng 24,22% so với cùng kỳ năm ngoái Năm 2013 thị phần hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường EU là 1,1%, sang năm 2014, thị phần này tăng lên 1,98% Tiếp đến là thị trường Nhật Bản đạt 2,61 tỷ USD, tăng 9,78% so với cùng kì năm 2013 Năm 2014, xuất khẩu dệt may sang thị trường Hàn Quốc đạt 2,26 tỷ USD, tăng 37,78% so với cùng kì năm trước
2.1.3.2 Tình hình nhập khẩu
Ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam hiện nay chỉ tham gia vào phần thứ ba trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu là cắt và may, sản xuất theo phương thức gia công đơn giản, thiếu khả năng cung cấp trọn gói nên giá trị gia tăng còn thấp Thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào là một trong những hạn chế lớn của ngành Dệt may Việt Nam, khi mà gần 70% nguồn nguyên phụ liệu vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc là những thị trường chính Tính đến nay
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ngành Dệt may mới chỉ nội địa hóa được khoảng 48% nguồn nguyên phụ liệu nên giá trị thặng dư khó được cải thiện Cụ thể ngành mới chỉ đáp ứng được 2% nhu cầu bông, 1/8 nhu cầu vải, tuy nhiên chất lượng chưa cao
Biểu đồ 2.1: Kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu ngành Dệt may Việt Nam (Đơn vị: Tỷ USD)
Nguồn: VITAS
Giá trị nhập khẩu nguyên liệu cho ngành Dệt may tăng qua các năm Năm
2013 giá trị nhập khẩu nguyên liệu là 13,5 tỷ USD; tăng 2,1 tỷ USD so với năm
2012, tương ứng với mức tăng 18,42% so với năm 2012 Sang đến năm 2014, kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu ngành Dệt may tăng lên 15,5 tỷ USD, tăng 2 tỷ USD, tương đương với mức tăng khoảng 14% so với năm 2013 Theo Tổng cục Hải quan, trong 10 mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam, mặt hàng vải các loại xếp vị trí thứ 3 với kim ngạch nhập khẩu Kim ngạch nhập khẩu vải các loại trong tháng 12 năm 2014 đạt 825 triệu USD Tính đến hết năm 2014 kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 9,4 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2013 Các thị trường cung cấp vải chủ yếu cho Việt Nam trong năm 2014 là Trung Quốc đạt kim ngạch 4,66 tỷ USD, tăng 20,4% so với năm 2013; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc, đạt kim ngạch 1,84
tỷ USD, tăng 8,6% so với 2013 Đứng thứ 3 là thị trường Nhật Bản với kim ngạch gần 533 triệu USD, giảm 0,7% so với năm 2013
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam (Đơn vị: Tỷ USD)
Nguồn: Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT
Trong cơ cấu kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam, vải luôn chiếm tỷ trọng nhập khẩu chủ yếu, với giá trị nhập khẩu năm 2013 là 8,397 tỷ USD, chiếm 62% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam Năm 2014, kim ngạch nhập khẩu vải tăng lên 9,428 tỷ USD, tăng gần 13% so với cùng kỳ năm 2013 Xếp sau là các mặt hàng như bông, xơ sợi và nguyên phụ liệu khác Kim ngạch nhập khẩu bông năm
2013 là 1,171 tỷ USD, đến năm 2014 là 1,443 tỷ USD, tăng 23,22% so với cùng kỳ năm 2013 Nhập khẩu xơ sợi các loại năm 2013 đạt 1,520 tỷ USD, đến năm 2014 con số này tăng lên mức 1,559 tỷ USD, tăng 2,56% so với cùng kỳ năm 2013 Nhập khẩu nguyên phụ liệu khác năm 2013 ở mức 2,459 tỷ USD, đến năm 2014 con số này tăng lên 3,031 tỷ USD, tăng 23,26% so với cùng kỳ năm 2013
2.2 Thực trạng quản lý hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
2.2.1 Tình hình hàng tồn kho tại các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Tồn kho là một trong những gánh nặng của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, chế tạo Ngành Dệt may với đặc điểm sản xuất phục vụ nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng thì vấn đề tồn kho luôn là một vấn đề thường trực, do nhu cầu thị trường và người tiêu dùng thay đổi theo thời gian Theo Tổng cục Thống kê,
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tính đến 1/12/2014, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,4% so với tháng trước, tăng 10% so với thời điểm năm 2013 (cùng thời điểm năm
2012 là 20,1% và năm 2013 là 10,2%) Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 12 tháng năm 2014 là 73,8% Trong đó chỉ số tồn kho ngành sản xuất trang phục tăng 27,9%, đây là mức tăng cao so với mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Bảng 2.4: Các chỉ số hàng tồn kho của hàng may mặc so với các mặt hàng khác
Nhựa – Cao
su
Dược phẩm Điện Thép
Gas/
Dầu
Thực phẩm
Hàng may mặc
Nguồn:Báo cáo ngành dệt may Việt Nam, VietinBank Sc
So với các lĩnh vực khác thì tình hình tồn kho hàng may mặc có khả quan hơn Trong năm 2013, hàng may mặc mất trung bình khoảng 14-15 ngày để giải phóng lượng hàng tồn kho, đây là thời gian tồn kho tương đối thấp so với sản phẩm của các lĩnh vực khác, ví dụ như ở lĩnh vực bất động sản mất trung bình 29 ngày để giải phóng hàng tồn kho, phân bón, hóa học mất 41 ngày, thậm chí dược phẩm là 72-73 ngày Ở một chỉ số khác là vòng quay hàng tồn kho, so với các lĩnh vực còn lại, hàng may mặc có vòng quay hàng tồn kho khá cao 25,07 trong khi cao su là 5,58; thép là 8,14; thực phẩm là 6,25;…điều này cho thấy tốc độ tiêu thụ của mặt hàng may mặc nhanh hơn và tình trạng tồn kho ứ động ít hơn