1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN DU LỊCH núi bà ĐEN tây NINH

72 741 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói đây cũng là một ấp ủ nhỏ của tôi được tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về du lịch tỉnh nhà cũng như góp phần nhỏ bé của mình vào việc quảng bá hình ảnh Núi Bà Đen nói riêng và du

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

  

Để thực hiện đề tài luận văn của mình tôi rất biết ơn sự giúp đỡ của mọi người

dành cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trước tiên, tôi xin được cảm ơn trường Đại học Cần Thơ, khoa Khoa học xã hội và nhân văn, bộ môn Lịch sử - Địa lý - Du lịch và hơn hết là những người thầy, người cô

đáng kính đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội được thực hiện đề tài “Phát triển du lịch núi Bà Đen Tây Ninh” Có thể nói đây cũng là một ấp ủ nhỏ của tôi được tìm hiểu,

nghiên cứu sâu hơn về du lịch tỉnh nhà cũng như góp phần nhỏ bé của mình vào việc quảng bá hình ảnh Núi Bà Đen nói riêng và du lịch tỉnh Tây Ninh nói chung

Kế đến, tôi xin được dành lời cảm ơn và yêu thương đến gia đình, những người thân đã ủng hộ cũng như hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài Tôi thực sự rất yêu gia đình và biết ơn những người đã cho tôi tổ ấm hạnh phúc cũng như một cuộc sống và tương lai như ngày hôm nay

Và lời cảm ơn chân thành tôi xin dành cho thầy Huỳnh Tương Ái, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi không kể thời gian để tôi hoàn thành tốt đề tài của mình Thầy là người tôi vô cùng kính trọng, yêu quý và ngưỡng mộ Thầy đã dạy dỗ tôi một

số môn học rất bổ ích cho cuộc sống và tương lai và giờ lại tận tình chỉ bảo và sữa cho tôi từng lỗi nhỏ, từng câu từng chữ trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này

Tiếp nữa, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người làm tại Phòng Du lịch - Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh cùng Ban quản lý núi Bà Đen Tây Ninh vì sự giúp đỡ nhiệt tình cung cấp những thông tin, số liệu và hình ảnh rất bổ ích cho đề tài tôi đang thực hiện

Ngoài ra, tôi xin gửi lời cảm ơn đến cô Cố vấn học tập cùng tất cả bạn bè và những người đã giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu luận văn này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, tháng 11 năm 2012 Sinh viên thực hiện

Hà Thị Thoa

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN (Association of Southeast Asian

Nations)

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

UNESCO (United Nations Educational

Scientific and Cultural Organization)

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

của Liên hiệp quốc

Trang 4

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG SỐ LIỆU

1 DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Bản đồ hành chính tỉnh Tây Ninh 19 Hình 2: Bản đồ vị trí núi Bà Đen 36 Hình 3: Biểu đồ thể hiện lượng khách tham quan du lịch núi Bà Đen giai đoạn

46

Bảng 3.2: Dự báo khách du lịch đến núi Bà Đen Tây Ninh giai đoạn 2015 – 2020

54

Trang 5

MỤC LỤC

  

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 7

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 8

5.1 Quan điểm hệ thống: 8

5.1.1 Hệ thống lãnh thổ: 8

5.1.2 Hệ thống tâm linh: 9

5.2 Quan điểm lịch sử: 9

5.3 Quan điểm viễn cảnh: 9

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

6.1 Phương pháp tìm, phân tích, sắp xếp, tổng hợp thông tin: 9

6.2 Phương pháp xử lý số liệu: 9

6.3 Phương pháp khảo sát thực địa: 9

6.4 Phương pháp bản đồ: 10

Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH 11

1.1.1 Tài nguyên 11

1.1.2 Tài nguyên du lịch 11

1.2 PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI NGUYÊN DU LỊCH 11

1.2.2 Phân loại 11

1.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên: 11

1.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn: 14

1.2.1 Vai trò của tài nguyên du lịch 17

1.2.1.1 Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch 17 1.2.1.2 Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch 17

1.2.1.3 Tài nguyên du lịch là một bộ phận quan trọng trong tổ chức lãnh thổ du lịch 17

Chương II KHÁI QUÁT VỀ TÂY NINH VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN 2.1 KHÁI QUÁT TÂY NINH 19

Trang 6

2.1.1 Tổng quan về Tây Ninh 19

2.1.1.1 Vị Trí địa lý 19

2.1.1.2 Lịch sử hình thành 21

2.1.1.3 Điều kiện tự nhiên 22

2.1.1.4 Văn hóa ẩm thực 23

2.1.2 Một số điểm đến của du lịch Tây Ninh 25

2.1.2.1 Một số điểm du lịch tự nhiên 25

2.1.2.2 Một số điểm du lịch nhân văn 29

2.1.3 Thực trạng đầu tư phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh 30

2.1.3.1 Một số dự án đầu tư phát triển du lịch 30

2.1.3.2 Một số dự án kêu gọi đầu tư phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh: 31

2.1.4 Đánh giá chung về du lịch Tây Ninh 31

2.1.4.1 Hiện trạng kinh tế: 31

2.1.4.2 Hiện trạng Cơ sở hạ tầng, vật chất - kỹ thuật: 32

2.1.4.3 Hiện trạng khách du lịch: 33

2.2 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN TÂY NINH 35

2.2.1 Tổng quan núi Bà Đen 36

2.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên Núi Bà Đen 37

2.2.2.1 Vị trí khu du lịch Núi Bà Đen trong tổng thể du lịch Tây Ninh 37

2.2.2.2 Điều kiện tự nhiên núi Bà Đen 38

2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn núi Bà Đen 41

Chương III THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHO SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN TÂY NINH 3.1 THỰC TRẠNG 46

3.1.1 Thực Trạng Phát Triển Du Lịch Núi Bà Đen Tây Ninh 46

3.1.2 Cơ Sở Hạ Tầng, vật chất - kỹ thuật 47

3.1.3 Hiện trạng khai thác du lịch núi Bà Đen 48

3.1.3.1 Sản phẩm du lịch: 48

3.1.3.2 Các điểm du lịch đang khai thác: 48

3.1.3.3 Mạng lưới các tuyến du lịch: 48

3.1.4 Đánh giá tác động môi trường của khu du lịch núi Bà Đen 49

- Đa dạng sinh học 49

- Cảnh quan sinh thái 50

- Môi trường 50

- Văn hóa lịch sử 51

- Cơ sở hạ tầng 51

- Phân bố dân cư 51

- Lao động 51

Trang 7

- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề 51

- Giáo dục 52

-Y tế 52

- An ninh trật tự 52

3.1.5 Những khó khăn của hoạt động du lịch khu du lịch núi Bà Đen 52

3.2 CHỈ TIÊU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN TÂY NINH 53

3.2.1 Chỉ tiêu 53

3.2.2 Giải pháp đầu tư phát triển du lịch ở Khu du lịch núi Bà Đen 55

3.2.2.1 Giải pháp đầu tư phát triển du lịch ở Khu du lịch núi Bà Đen 55

3.2.2.2 Giải pháp phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật: 56

3.2.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm - dịch vụ du lịch 56

3.2.2.4 Giải pháp bảo vệ, tôn tạo, phát triển tài nguyên du lịch và môi trường 57

3.2.2.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực và giáo dục cộng đồng 58

3.2.2.6 Giải pháp mở rộng và phát triển thị trường du lịch 59

3.2.2.7 Giải pháp quảng bá và xúc tiến du lịch 60

KẾT LUẬN 1 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

2 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 63

PHỤ LỤC 1 TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Tài liệu 64

Internet 65

2 HÌNH ẢNH 66

Trang 8

tư du lịch Tây Ninh và các tỉnh Đông Nam bộ được tổ chức tại Tây Ninh vào cuối năm

2011, Tiến sĩ Hà Văn Siêu - Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển du lịch, nhận định

về ngành du lịch Tây Ninh hiện nay là “còn đơn sơ, chưa bứt phá vươn lên xứng tầm”,

và Núi Bà Đen cũng trong số đó

Mặc dù đã có một số tranh luận và chính sách đầu tư phát triển du lịch đúng hướng nhưng việc triển khai vẫn chưa tốt, chưa đạt được hiệu quả cao, chưa khuyến khích được người dân chung tay vào việc phát triển du lịch của tỉnh nhà

Là một người con của Tây Ninh, đồng thời cũng là một sinh viên chuyên ngành

du lịch, tôi muốn được góp phần nhỏ bé của mình để xây dựng nền kinh tế của tỉnh nói chung và du lịch Núi Bà Đen, Tây Ninh nói riêng ngày càng phát triển hơn, thu hút lượng du khách ngày càng nhiều và đưa ngành dịch vụ du lịch trở thành ngành mũi nhọn của Tây Ninh Thông qua đề tài luận văn này, tôi muốn quảng bá hình ảnh của tỉnh nhà đến với mọi người, đưa nét đẹp du lịch Tây Ninh đến với du khách gần xa Đặc biệt là Núi Bà Đen, nơi mà người ta không thể bỏ qua mỗi khi đến với Tây Ninh,

và đây cũng đang là một trong những dự án quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh được

bộ Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh cũng như Tổng cục Du Lịch chú ý đến

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Từ việc nghiên cứu đề tài này có thể giúp mọi người tìm ra những hạn chế, bất cập còn găp phải của những chính sách đầu tư, quy hoạch nhằm đưa ra hướng khắc phục cụ thể để có những định hướng phát triển tốt hơn cho du lịch Tây Ninh nói chung

và du lịch Núi Bà Đen nói riêng

Đồng thời, qua đây tôi muốn đóng góp ý kiến nhằm hướng đến một Núi Bà Đen Tây Ninh phát triển đúng với tiềm năng sẵn có của mình Đưa du lịch Tây Ninh phát triển hơn

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu về những tiềm năng sẵn có và thực trạng khai thác

du lịch cùng những hoạt động du lịch tại Núi Bà Đen, Tỉnh Tây Ninh, qua đó tìm ra hướng phát triển tốt hơn cho du lịch Núi Bà Đen, Tây Ninh

Trang 9

4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trước khi làm đề tài tôi tìm hiểu và xác định có một số tác giả cũng đã viết về

du lịch Tây Ninh nói chung và du lịch núi Bà Đen nói riêng Trong đó:

“Non nước Việt Nam” - người biên tập Vũ Thế Bình; Nhà xuất bản Tổng cục du

lịch, Trung tâm công nghệ thông tin du lịch 2002, thiên về giới thiệu tổng quan về địa

lý Tây Ninh

“Việt Nam - Văn hóa du lịch” - Soạn giả Trần Mạnh Thường, nguyễn Minh

Tiến hiệu đính; Nhà xuất bản Thông Tấn

“Cẩm nang hướng dẫn du lịch” - nhóm biên soạn Nguyễn Bích San, Nguyễn

Cường Hiền, Nguyễn Thị Lâm, Lương Chi Lan; Nhà xuất bản văn hóa thông tin, cũng

đã nhắc đến du lịch Tây Ninh và núi Bà Đen, tuy nhiên vẫn chưa sâu sắc mà chỉ giới thiệu một các rất tổng quát

“Tây Ninh xưa và nay” - tác giả Huỳnh Minh; Nhà xuất bản Thanh niên 1972,

thì có phần giới thiệu sâu sắc hơn nhưng chủ yếu vẫn là khái quát chung về Tây Ninh, núi Bà Đen cũng được nhắc đến song vẫn còn khá mờ nhạt, chưa thể hiện rõ được tình hình phát triển du lịch núi Bà Đen

Một số báo chí cũng nói về Tây Ninh và du lịch Tây Ninh cũng như tình hình khai thác du lịch tại khu du lịch núi Bà Đen nhưng chỉ là một khía cạnh nào đó như: hiện trạng khai thác du lịch núi Bà Đen, một số khó khăn, một số quan điểm, một số ý kiến nhận định của ngành du lịch ở đây, …

Ngoài ra, một nhóm sinh viên thực tập tại Sở Văn hóa - thể thao - du lịch cũng

đã có nghiên cứu và báo cáo thực tập về du lịch Tây Ninh và du lịch núi Bà Đen Song với đề tài luận văn của mình tôi nghiên cứu, tổng hợp nhiều nguồn tư liệu kể cả thông tin trên sách báo, phương tiện truyền thông, internet,…và cả từ các báo cáo thực tập của nhóm sinh viên và nguồn tài liệu của Sở Văn hóa - thể thao - du lịch để từ đó chọn lọc, xử lý thông tin, tìm ra nguồn tài liệu phù hợp để đưa ra một nghiên cứu hoàn chỉnh hơn

Nhìn chung, có khá nhiều các tác phẩm nghiên cứu về du lịch Tây Ninh nói chung và núi Bà Đen nói riêng nhưng vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu đề tài phát triển

du lịch núi Bà Đen Tây Ninh, do vậy tôi quyết định thực hiện đề tài để du lịch núi Bà Đen được nhìn nhận, đánh giá đúng đắn hơn Đồng thời luận văn cũng chính là tâm huyết đối với quê hương Tây Ninh thương yêu của tôi

5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU

5.1 Quan điểm hệ thống:

5.1.1 Hệ thống lãnh thổ:

Là một hệ thống mở, gồm các thành phần tự nhiên, kinh tế, xã hội có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản Khi nghiên cứu về phát triển du lịch núi Bà Đen Tây Ninh không thể tách rời hệ thống kinh tế, xã hội của

Trang 10

việc nghiên cứu phải gắn liền với sự phát triển chung của tỉnh Sự phát triển du lịch núi Bà Đen là một phần trong quá trình phát triển của du lịch cả nước

5.1.2 Hệ thống tâm linh:

Hiện tượng du lịch hồi hương (lễ hội Vía Bà - tín ngưỡng thờ Mẫu) núi Bà Đen

là hiện tượng nằm trong hệ thống tổng quan tâm linh của người Việt Nó đã có từ lâu đời theo tư tưởng của người xưa và chỉ khi thay đổi hệ thống tư duy mới làm thay đổi, hoặc khi thay đổi chính trị mới có sự thay đổi hệ thống tâm linh này

Nói chung, quan điểm hệ thống giúp ta có cái nhìn tổng thể, khái quát toàn bộ

hệ thống du lịch và quan điểm được áp dụng trong suốt quá trình thực hiện luận văn

5.2 Quan điểm lịch sử:

Mọi vật đều có quá trình phát sinh, phát triển Khi thực hiện đề tài luận văn về

du lịch núi Bà Đen tôi đã tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử hình thành nơi đây để thấy được những bước phát triển của du lịch núi Bà Đen qua các thời kỳ, trong không gian

và thời gian không giống nhau

Hiện tượng tâm linh ở núi Bà Đen là tích lũy nhân văn của cộng đồng người Việt, là nét văn hóa bản địa cần được trân trọng Qua việc nghiên cứu đề tài tôi thấy được những nét văn hóa đặc sắc cần được bảo vệ, bảo tồn và góp phần vào phát triển văn hóa, du lịch theo dòng chảy của thời gian

5.3 Quan điểm viễn cảnh:

Vận dụng quan điểm này giúp tôi có một tầm nhìn để nhìn nhận và đánh giá được giá trị của du lịch núi Bà Đen Tây Ninh ở hiện tại và trong tương lai Từ quan điểm này có thể giúp dự đoán tình hình phát triển du lịch của núi Bà Đen trong tương lai, để xác định và đề ra phương hướng, kế hoạch khai thác, bảo tồn hợp lý nhằm phục

vụ cho sự phát triển và hoạt động du lịch bền vững

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp tìm, phân tích, sắp xếp, tổng hợp thông tin:

- Thu thập tài liệu, thông tin từ trên mạng internet, sách, báo, đài, tạp chí,…

- Thu thập một số chính sách đầu tư, quy hoạch của tỉnh

- Phân tích và sắp xếp thông tin cho phù hợp

- Xử lý, tổng hợp các thông tin để phuc vụ cho đề tài

6.2 Phương pháp xử lý số liệu:

Từ nguồn tài liệu thực tế về lượng khách cũng như doanh thu du lịch, lựa chọn,

xử lý và làm lại thành dạng biểu đồ thống kê

6.3 Phương pháp khảo sát thực địa:

Bằng cách đến trực tiếp địa bàn nghiên cứu để khảo sát thực tế, chụp ảnh tư liệu,… nhận định bổ sung nguồn tư liệu đã có, kiểm chứng lại kết quả xử lý dữ liệu, tìm ra nguồn dữ liệu phù hợp nhất

Trang 12

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH

1.1.1 Tài nguyên

Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn vật chất, năng lượng

và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục

vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình

Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân

tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố con người và xã hội

1.1.2 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch Pháp Lệnh Du Lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”

Luật du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, yếu

tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”

Như vậy, tài nguyên du lịch luôn được coi là tiền đề, là điều kiện đặc biệt quan trọng để phát triển du lịch Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn du lịch càng cao bấy nhiêu Bản thân tài nguyên du lịch cũng có tính lịch sử và có xu hướng ngày càng mở rộng do nhu cầu phát triển du lịch

Có thể hiểu rằng: Tài nguyên du lịch là những yếu tố tự nhiên hoặc nhân tạo có khả năng khai thác và sử dụng để thỏa mãn nhu cầu du lịch

1.2 PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA TÀI NGUYÊN

DU LỊCH

1.2.1 Phân loại

Tài nguyên du lịch có thể chia thành hai nhóm:

1.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên:

Bao gồm các yếu tố tự nhiên và cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn du khách

Là các đối tượng, hiện tượng trong tự nhiên xung quanh chúng ta được lôi cuốn vào việc phục vụ mục đích du lịch

Tài nguyên du lịch tự nhiên được phân thành:

Trang 13

- Địa hình: là những đặc điểm bên ngoài của bề mặt đất Địa hình biểu hiện bằng những yếu tố như độ cao, độ dốc, trạng thái,… Người ta thường chia tổng quát địa hình thành 3 dạng: miền núi, đồng bằng, biển và bờ biển

Địa hình miền núi thường rất đa dạng và có nhiều khả năng thu hút khách du lịch Có rất nhiều loại hình du lịch ở miền núi: du lịch thám hiểm, du lịch săn bắn, du lịch sinh thái, leo núi và thể thao, du lịch mạo hiểm… Địa hình núi thường có rừng, thác nước và hang động… Vì vậy, miền núi có nhiều hướng phát triển du lịch Tuy nhiên, hạn chế của du lịch ở miền núi là giao thông khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển…

Địa hình biển và bờ biển có khả năng khai thác du lịch khá thuận lợi, nhất là du lịch biển: tắm biển, nghỉ biển, du thuyền ra đảo, lặn biển và các loại hình du lịch thể thao Ngoài ra, biển có nhiều đảo nên khả năng khai thác rất đa dạng

Địa hình đồng bằng thường đơn điệu nên ít có khả năng trực tiếp phát triển du lịch Tuy nhiên, đồng bằng thường là nơi dân cư tập trung sinh sống nên cũng có khả năng phát triển du lịch

Địa hình là nhân tố tự nhiên góp phần lớn vào phát triển du lịch, tạo nên các sản phẩm du lịch hấp dẫn Địa hình có nhiều loại, mỗi loại địa hình lại mang lại một cảnh quan và sắc thái khác nhau góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Các dạng địa hình như: đồi núi, sông ngòi, bờ biển bãi biển, hang động, kartơ…, và một số dạng địa hình đặc biệt

Địa hình Việt Nam cũng không ngoại lệ, là một yếu tố cực kỳ quan trọng tạo nên các sản phẩm du lịch hấp dẫn thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước

Lãnh thổ Việt Nam bao gồm ba phần tư là đồi núi nhưng đa số là đồi núi thấp, hai đồng bằng lớn, nhiều sông ngòi và có đường bờ biển dài Địa hình có núi, có sông,

có rừng, có biển, có đồng bằng và cả cao nguyên Núi non đã tạo nên những vùng cao

có khí hậu rất gần với ôn đới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều điểm nghỉ dưỡng và danh lam thắng cảnh

- Khí hậu: có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người, trước hết trạng thái của cơ thể con người gắn liền với khí hậu, nhất là nhiệt độ và độ ẩm Những nơi có khí hậu thích hợp thì thuận lợi để phát triển du lịch nghỉ dưỡng Ví dụ ở Việt Nam có Sapa,

Đà Lạt là hai điểm du lịch rất nổi tiếng

Khí hậu còn tạo ra nhịp điệu mùa của du lịch Thường thì mùa hè là mùa du lịch của các vùng bãi biển nhiệt đới Mùa đông lại là mùa của các điểm du lịch thể thao ở các vùng ôn đới… Nhịp điệu mùa du lịch cũng có thể gián tiếp hình thành do mùa sinh hoạt của con người Ví dụ, người Việt Nam có câu “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”

Khí hậu là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến phát triển du lịch Du lịch co tính chất theo mùa vụ cũng chính do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu Điều kiện khí hậu khác nhau ở mỗi khu vực, vùng, miền và các kiểu khí hậu đặc biệt góp phần thu

Trang 14

hút du khách rất lớn Khí hậu Việt Nam là nhân tố góp phần thu hút lượng du khách cho sự phát triển du lịch cả trong nước và quốc tế

Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới nữa bán cầu Bắc, thiên về chí tuyến hơn là xích đạo Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam nền nhiệt cao Nhiệt độ trung bình năm từ 220C đến 270C Hàng năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa từ 1.500 mm đến 2.000 mm Độ ẩm không khí trên dưới tám mươi phần trăm Số giờ nắng khoảng 1.500 đến 2.000 giờ, nhiệt bức xạ trung bình năm 100kcal/cm2 Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm của thiên nhiên Việt Nam thay đổi Nhìn chung, khí hậu Việt Nam có một mùa nóng, mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh, ít mưa Trên nền nhiệt chung đó, khí hậu ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam (từ đèo Hải Vân trở ra) thay đổi theo bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Khí hậu miền Nam thì có một mùa mưa và một mùa khô

Việt Nam chịu sự tác động mạnh mẻ của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ trung bình thấp hơn nhiệt độ trung bình của các nước khác cùng vĩ độ ở Châu Á, do vậy mùa đông Việt Nam thường lạnh hơn và mùa hạ ít nóng hơn các nước này, đó cũng là thuận lợi để hấp dẫn du khách từ các quốc gia này đến nghĩ ngơi, giải trí Bên cạnh đó, Việt Nam có nền nhiệt cao và tương đối ổn định thu hút rất đông du khách từ các nước khu vực ôn đới đến du lịch sưởi nắng, tránh đông, …

Do ảnh hưởng của gió mùa, hơn nữa sự phức tạp về địa hình nên khí hậu Việt Nam luôn luôn thay đổi trong năm, từ năm này qua năm khác, từ giữa nơi này với nơi khác (theo Bắc - Nam, theo độ cao) Sự thay đổi này ảnh hưởng không ít đến du lịch, song đó cũng là yếu tố góp phần thu hút khách du lịch như đến với các vùng núi cao, nền nhiệt thấp để nghỉ dưỡng chữa bệnh (Ba Vì, Tam Đảo, Bà Nà, Đà Lạt)…

- Nguồn nước: có vai trò rất quan trọng đối với con người Du lịch đòi hỏi phải đảm bảo cung cấp nước cho du khách Nước còn là môi trường cho nhiều loại hình hoạt động du lịch: tắm, bơi, lặn, du thuyền, lướt ván, câu cá, tham quan đáy biển…

Nguồn nước gồm có nước trên bề mặt và nước ngầm Nguồn nước phục vụ cho các sinh hoạt trong du lịch và cũng là yếu tố góp phần tạo thêm sự đa dạng cho sản phẩm du lịch, tạo điều kiện cho du lịch phát triển như: sông, suối, hồ, kênh, rạch, thác nước, …

Nguồn nước khoáng còn là tiềm năng để hình thành các khu du lịch nghỉ dưỡng Trên thế giới có nhiều điểm du lịch nổi tiếng về nước khoáng

- Sinh vật: Tài nguyên sinh vật cũng có giá trị du lịch rất to lớn Các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên… là những nơi còn tồn tại nhiều loài động - thực vật nguyên sinh rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan nghiên cứu…

Các tài nguyên sinh vật còn có thể được tổ chức thành các điểm tham quan sinh vật hoang dã hoạc nhân tạo Ví dụ các vườn thú, bảo tàng sinh vật, điểm nuôi các động vật hoang dã…

Trang 15

Tài nguyên sinh vật còn phục vụ cho loại hình du lịch săn bắn, câu cá…

- Các hiện tượng tự nhiên đặc biệt: có nhiều hiện tượng trong thiên nhiên độc đáo và đặc sắc tạo nên sự thu hút du khách Ví dụ, hiện tượng nhật thực, tuyết rơi, đêm trắng, Bắc cực…

1.2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn:

Là ngững yếu tố do con người tạo nên và những nguồn tài nguyên nhân văn phi vật thể như tài nguyên văn hóa để hấp dẫn khách du lịch

Nói một cách ngắn gọn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong

suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch

Tài nguyên du lịch nhân văn được phân thành:

- Các di tích lịch sử, văn hóa: Di tích lịch sử, văn hóa là những gì mà quá khứ

để lại Di tích được chia thành 4 nhóm chủ yếu như sau:

+ Di tích khảo cổ: là những di tích liên quan đến các nền văn hóa cổ của loài người trên thế giới Thường bao gồm những loại hình là di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng

+ Di tích lịch sử: liên quan đến các giai đoạn lịch sử khác nhau Các di tích lịch

sử thường là các nơi xảy ra các sự kiện lịch sử quan trọng như những trận đánh lớn, những kinh đô cổ, những địa điểm liên quan đến các nhân vật lịch sử…

+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: là các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao tiêu biểu cho những thời kỳ lịch sử nhất định Ví dụ như: đền, tháp, đình, chùa, miếu, nhà thờ…

+ Danh lam thắng cảnh: đây là loại di tích đặc sắc trong đó có sự kết hợp yếu tố nhân tạo với tự nhiên Các danh lam thắng cảnh thường thể hiện sự tinh tế và sự tô điểm của con người vào thắng cảnh thiên nhiên làm cho nó trở thành tuyệt tác Ví dụ như: núi Bài Thơ (Quảng Ninh), chùa Hương (Hà Tây)…

- Các lễ hội: Là những hình thức sinh hoạt cộng đồng của dân cư Lễ hội có nhiều dạng nhưng thông thường đều bao gồm hai phần có liên quan chặt chẽ với nhau

là phần lễ và phần hội Phần “Lễ” mang tính lễ nghi, trang trọng nhằm tưởng niệm, hoặc cầu chúc… Phần “Hội” mang tính sinh hoạt, vui chơi của cộng đồng Đương nhiên có thể sự phân chia này cũng mang tính tương đối Có thể lễ hội hòa quyện cả hai phần thành một, có lễ hội thì phần lễ là chính hoặc có lễ hội lại chỉ có phần hội

Lễ hội có sức hấp dẫn rất cao Người ta thường ví nó như những “bảo tàng sống” về văn hóa của cộng đồng Khách du lịch không chỉ tham quan, tìm hiểu lễ hội

mà còn có thể tham gia vào các hoạt động lễ hội

Lễ hội là một loại tài nguyên đặc sắc trong du lịch Trên thế giới có nhiều lễ hội

và hầu như các lễ hội đều rất thu hút du khách Việt Nam cũng có nhiều lễ hội cả truyền thống và hiện đại hấp dẫn lượng khách du lịch lớn, mang lại nguồn lợi cho du lịch cả nước như: lễ hội chọi trâu (Đồ Sơn), lễ hội Vía Bà Chúa Xứ (An Giang), lễ hội

Trang 16

- Các đặc trưng văn hóa dân tộc: thể hiện ở nhiều mặt như trang phục, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội, hoạt động kinh tế, văn hóa nghệ thuật… Vì vậy, khả năng khai thác du lịch cũng rất đa dạng và đặc sắc

Tôn giáo tín ngưỡng: Trên thế giới có nhiều loại tôn giáo khác nhau, chính nhờ vậy mà loại hình du lịch tâm linh rất phát triển Những người mộ đạo, sùng đạo, vì tín ngưỡng họ sẵn sàng đi hành hương cho tôn giáo của mình, họ có thể kết hợp du lịch hành hương, tâm linh với tham quan, ngắm cảnh và nhiều loại hình du lịch khác Nhờ vậy mà du lịch có thêm nguồn doanh thu lớn

Việt Nam có rất nhiều các tôn giáo khác nhau cả bản địa và du nhập từ các nước trên thế giới như: đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Thiên Chúa, đạo Hòa Hảo,… Mỗi tôn giáo đều có số lượng lớn các tín đồ, chính nhờ vậy mà du lịch tôn giáo, tâm linh ở Việt Nam cũng rất phát triển, hệ thống các chùa chiền, am, động, đền, miếu, nhà thờ… được xây dựng và tôn tạo phục vụ du lịch ngày càng nhiều

Du lịch tôn giáo ở Việt Nam phải kể đến Phật giáo, đây cũng là tôn giáo có tín

đồ rất lớn, trong đó tín ngưỡng thờ Mẫu là một nét văn hóa đặc trưng của người Việt

Tín ngưỡng thờ Mẫu: Trong tín ngưỡng của người Việt và của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờ nữ thần, thờ mẫu thần, thờ mẫu tam phủ tứ phủ là hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến

Thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội Còn rất nhiều tranh cãi xoay quanh tín ngưỡng này bởi đã từng có thời kì và thậm chí cả hiện nay, nó bị đồng nhất với các hoạt động mê tín dị đoan Song giá trị của tín ngưỡng này trong kho tàng văn hóa Việt Nam là không thể phủ nhận

Nguồn gốc và phát triển: Tín ngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc lâu đời, trở nên có

hệ thống và phát triển mạnh vào thời hậu Lê Nó có chiều hướng phát triển trong xã hội hiện nay, ở cả nông thôn, đô thị và miền núi, tạo nên một nét khá nổi bật trong bức tranh chung vốn hết sức đa dạng và phong phú của tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được hình thành và phát triển trên cái nền thờ

Nữ thần và Mẫu thần bản địa, rồi tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa

để đạt đến đỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam phủ Tứ phủ Tới thế kỷ 17-18, khi mẫu Tam

Trang 17

phủ Tứ phủ đã được hình thành và phát triển thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hóa tục thờ

Nữ thần, Mẫu thần

Đạo Mẫu theo chân người Việt di cư vào phương nam trong quá trình Nam tiến Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã giao thoa, tiếp biến với các tục thờ Mẫu của người Chăm, người Khmer từ đó tạo nên các dạng thức địa phương của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam ở ba miền Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ

Thờ Mẫu ở Bắc bộ: Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỳ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Ỷ Lan nguyên phi, Mẹ Thánh Gióng, Tứ

vị Thánh nương Từ khoảng thế kỷ 15 trở đi, hình thức thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo

Thờ Mẫu ở Trung bộ: Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực Nam Trung

bộ, đặc trưng cơ bản của dạng thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của Mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần Hình thức thờ Nữ thần như thờ Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Mẫu thần như thờ Thiên Y A Na, Po Inư Nagar

Thờ Mẫu ở Nam bộ: So với ở Bắc bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì

ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như: Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô, và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc,

Bà Thiên Hậu,

Thờ Mẫu không chỉ là một tín ngưỡng tôn giáo, đó còn là văn hóa Thông qua nghi lễ lên đồng, qua lễ hội, phong tục gắn liền với nó, nó trở thành là một bảo tàng sống của văn hóa Việt Nam Ở đó, chúng ta nhận thấy một lối sống, quan niệm, cung cách sinh hoạt, những ước vọng của không chỉ con người xa xưa, mà cả con người hiện đại

- Làng nghề cổ truyền: Nghề thủ công truyền thống là những loại hình hoạt động kinh tế - xã hôi phong phú Nghề thủ công trên thế giới rất đa dạng có tính độc đáo nên có nhiều giá trị thu hút du lịch Mặt khác, các sản phẩm thủ công cũng mang nhiều giá trị nghệ thuật nên đã trở thành những mặt hàng lưu niện đối với du khách

Trang 18

Có rất nhiều yếu tố thuộc nhóm này như: các hội chợ triển lãm, các cuộc thi đấu thể thao, liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thi hoa hậu…

Ngoài ra còn có một số loại tài nguyên khác: bảo tàng, công trình và sản phẩm kinh tế, giá trị văn hóa nghệ thuật và ẩm thực…

1.2.2 Vai trò của tài nguyên du lịch

1.2.2.1 Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố, song trước hết phải kể đến tài nguyên du lịch Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch được tạo ra do

sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên

du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”

Như vậy, việc đầu tư về phương tiện vật chất và dịch vụ để biến tài nguyên du lịch thành sản phẩm du lịch là một nghệ thuật kinh doanh trong lĩnh vực du lịch Khách du lịch bị thu hút bởi vịnh Hạ Long, Cố đô Huế hay Nha Trang, Đà Lạt… trước hết bởi giá trị của tài nguyên du lịch ở đây Chính sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng về sản phẩm du lịch Tài nguên du lịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm du lịch càng cao Có thể coi tài nguyên du lịch là một trong những nhân tố quyết định đối với sự phát triển du lịch

1.2.2.2 Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch

Trong quá trình phát triển du lịch, để không ngừng đáp ứng các nhu cầu du lịch ngày càng đa dạng của du khách, các loại hình du lịch mới xuất hiện và phát triển không ngừng

Tài nguyên du lịch cũng là một cơ sở đặc biệt quan trọng cho việc phát triển các loại hình du lịch Chúng ta luôn dễ dàng nhận thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa các loại tài nguyên du lịch với các loại hình du lịch Không có các hang động bí hiểm, các đỉnh núi cao hùng vĩ và hiểm trở, các khu rừng nguyên sinh âm u huyền bí thì không thể có các loại hình du lịch thám hiểm Các loại hình du lịch văn hóa lại luôn gắn liền với các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội và nghề cổ truyền…

Tuy nhiên, không nên hiểu đơn giản rằng mỗi loại tài nguyên chỉ có thể phát triển một loại hình du lịch Trên thực tế, tài nguyên du lịch chỉ là tiền đề, còn việc phát triển các loại hình du lịch nào lại thuộc về chiến lược và nghệ thuật kinh doanh du lịch

Ví dụ, tài nguyên du lịch biển đảo có thể phát triển du lịch tắm biển, lặn biển, tham quan đáy biển bằng tàu đáy kính, du thuyền trên biển, thể thao trên biển…

1.2.2.3 Tài nguyên du lịch là một bộ phận quan trọng trong tổ chức lãnh thổ

du lịch

Luật du lịch Việt Nam có nêu: “ Tài nguyên du lịch … là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” Điều đó có thể hiểu rằng tài nguên du lịch chính là cơ sở để tổ chức lãnh thổ du lịch Hệ thống lãnh thổ du

Trang 19

lịch thể hiện mối quan hệ không gian của các yếu tố trong hoạt động du lịch Các yếu

tố đó là khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, đội ngủ cán bộ nhân viên và hệ thống điều hành quản lý du lịch

Trong hệ thống lãnh thổ du lịch, tài nguyên du lịch được coi là yếu tố quyết định Sự phân bố tài nguên du lịch đã tạo nên các khu du lịch, điểm du lịch, cụm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch và vùng du lịch - tức là những biểu hiện của việc tổ chức hoạt động du lịch theo lãnh thổ Có thể nói rằng: mọi quá trình tổ chức lãnh thổ

du lịch đều bắt đầu và kết thúc bằng tài nguyên du lịch

Trang 20

Chương II KHÁI QUÁT VỀ TÂY NINH VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN

DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN 2.1 KHÁI QUÁT TÂY NINH

2.1.1 Tổng quan về Tây Ninh

2.1.1.1 Vị Trí địa lý

Nguồn:TAY NINH MAP General information - Geographic location : The province is investinvietnam.vn

Hình 1: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH TÂY NINH

Trang 21

Tây Ninh là một tỉnh ở Đông Nam Bộ, Việt Nam Phía Tây và Tây Bắc giáp với Vương quốc Campuchia, phía Đông giáp với tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An

Tọa độ: 11022’04” B

106007’08” Đ Diện Tích: 4.039,7 km2

Dân số năm 2011: 1.080.700 người

Mật độ: 268 người/km2

Dân tộc: Việt, Chăm, Khmer, Hoa

Hành chính: gồm 1 thị xã và 8 huyện

+ Thị xã Tây Ninh: 5 phường, 5 xã

+ Huyện Tân Biên: 1 thị trấn và 9 xã

+ Huyện Tân Châu: 1 thị trấn và 11 xã

+ Huyện Dương Minh Châu: 1 thị trấn và 10 xã

để phát triển ngành du lịch, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 đã được chính phủ phê duyệt

Du lịch Tây Ninh nổi tiếng với những phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ Núi Bà Đen cao 986m là nơi có nhiều truyền thuyết nổi tiếng và thu hút rất đông khách du lịch hành hương mỗi năm Tây Ninh là thánh địa của đạo Cao Đài với Tòa Thánh Tây Ninh nguy nga, tráng lệ Ngoài ra còn có đạo Phật, đạo Kitô và nhiều đạo khác Tây Ninh còn là thủ đô kháng chiến, nơi đóng Trung ương cục Miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, giành độc lập dân tộc Đây còn là nơi có hồ thủy lợi nhân tạo từng lớn nhất khu vực Đông Nam Á - hồ Dầu Tiếng, hay khu vực cửa khẩu Mộc Bài,

Xa Mát với siêu thị miễn thuế, casino,…

Tây Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trung tâm kinh

tế năng động và phát triển mạnh của Việt Nam So với các tỉnh trong vùng trọng điểm, Tây Ninh có những lợi thế so sánh nhất định để phát triển dịch vụ du lịch

Trang 22

Tây Ninh cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100 km, là thị trường có nhu cầu lớn về nghỉ ngơi giải trí, du lịch sinh thái Ngoài ra, vị trí tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tại Tây Ninh có thể sử dụng các công trình kỹ thuật hạ tầng như cảng biển, sân bay… hiện có của thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời, Tây Ninh giáp với Tây nguyên, Duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long những vùng năng động về du lịch nên rất thuận lợi cho liên kết và phát triển du lịch tỉnh

Tây Ninh có lợi thế rất lớn trong việc thông thương và kết nối tour tuyến du lịch với Campuchia và các nước ASEAN khác Tây Ninh có đường biên giới quốc gia dài

240 km, giáp ba tỉnh của Campuchia với 14 cửa khẩu (bao gồm hai cửa khẩu quốc tế, bốn cửa khẩu chính và mười cửa khẩu phụ) thông sang Campuchia Trong đó hai cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài ở phía Nam và Xa Mát ở phía Bắc tỉnh là những nguồn cung cấp khách du lịch quốc tế cho Tây Ninh Đặc biệt, với hai cửa khẩu quốc tế này, Tây Ninh có hai cửa ngõ thuận lợi nhất khu vực để kết nối với Campuchia, Thái Lan và xa hơn có thể kết nối với Ấn Độ Cửa khẩu Mộc Bài là cửa khẩu thuận lợi nhất để đến thủ

đô Pnôm Pênh chỉ cách khoảng 175 km, còn từ cửa khẩu Xa Mát đến khu di tích đền Angkor - di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận - chỉ khoảng 400 km Như vậy, hai cửa khẩu này có thể giúp khách du lịch từ Tây Ninh đi lại một cách thuận lợi theo đường bộ đến thủ đô Pnôm Pênh, khu di tích Angkor, biển hồ Tonlesap và xa hơn đến Thái Lan và Ấn Độ Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch caravan - loại hình du lịch đang được ưa chuộng hiện nay Trong tương lai, Tây Ninh

sẽ trở thành một trong những cửa ngõ quan trọng trong việc phát triển các mối quan hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN, cũng như các nước vùng Trung Á thông qua tuyến đường bộ xuyên Á

2.1.1.2 Lịch sử hình thành

Công cuộc khẩn hoang và khai thác vùng đất Tây Ninh của người dân Việt Nam thuộc các thành phần dân tộc khác nhau đã diễn ra liên tục suốt 300 năm, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau trong điều kiện chính trị, xã hội khác nhau Mỗi giai đoạn lịch sử, bộ máy chính quyền đều có những biện pháp để đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang

Tuy nhiên, trong suốt lịch sử khẩn hoang và khai thác nông nghiệp tại Tây Ninh

từ đầu tới cuối thời thuộc Pháp vẫn chưa có một cách thức hay biện pháp nào thay thế được sức lao động của người nông dân Mặc dù vậy, nhờ công khai phá của người dân nên diện tích canh tác, khối lượng nông sản ở Tây Ninh cũng không ngừng gia tăng Tuy không phải là độc canh cây lúa, nhưng sản lượng lúa ở Tây Ninh năm 1944 đã lên đến 37.600 tấn, bình quân đầu người đạt 256 kg Thế nhưng trong thực tế người dân Tây Ninh trước đây thường lâm vào cảnh túng đói, đặc biệt là đời sống của công nhân cao su, vì lợi lộc làm ra phần lớn đều lọt vào tay giới chủ Cho nên nhiều cuộc đấu tranh tự phát của công nhân đã nổ ra

Trang 23

Do có vị trí quan trọng (biên giới dài với Campuchia, có rừng rộng, núi cao, đường sông đường bộ thuận tiện, là cửa ngõ vào thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đường liên lạc ra vào thuận tiện) nên trong quá trình hình thành và phát triển của tỉnh cũng là đối đầu quyết liệt chống ngoại xâm Thời kỳ đầu thành lập tỉnh, nhiều nhà yêu nước đã đến Tây Ninh cùng dân chúng địa phương, kiên quyết chống ngoại xâm Khi quân Pháp tiến chiếm đất Tây Ninh, không chấp nhận hiệp ước đầu hàng của triều đình Huế, dân chúng địa phương đã cùng với Khâm Tấn Tường, Trương Quyền, PuKămpô, Lãnh Binh Tòng, Lãnh Binh Két, kháng chiến chống Pháp

Sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thành công, cùng với thắng lợi chung của cả nước, quân dân Tây Ninh cũng

đã giành được chính quyền vào đêm 25 tháng 8 năm 1945 Nhưng sau đó không bao lâu thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh tái chiếm Việt Nam Ngày 8 tháng 11 năm 1945 tại Suối Sâu (huyện Trảng Bàng) đã vang lên những tiếng súng mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp và chống Mỹ trên đất Tây Ninh

Sau năm 1975, nhân dân Tây Ninh bắt tay xây dựng cuộc sống mới

2.1.1.3 Điều kiện tự nhiên

- Địa hình

Tây Ninh nối giữa cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có hình dáng, sắc thái của vùng đồng bằng Trên địa bàn vùng cao phía Bắc nổi lên núi Bà Đen cao nhất Nam Bộ (986 m)

Toàn tỉnh mang đặc điểm địa hình một vùng đồng bằng dạng đồi thoải xâm thực, tích tụ với các núi sót bóc mòn Đứt gãy dọc theo sông Vàm Cỏ Đông là ranh giới để phâm chia một cách tương đối giữa hai khu vực chính:

+ Phía Tây Nam sông Vàm Cỏ Đông là vùng đồng bằng thấp với các dạng địa hình tích tụ là chủ yếu

+ Phía Đông Bắc sông Vàm Cỏ Đông là đồng bằng cao với các núi sót bóc mòn như núi Bà Đen, Trại Bí, Đồi 82

- Khí hậu

Khí hậu Tây Ninh tương đối ôn hòa, chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 - 2000 mm, độ ẩm trung bình trong năm vào khoảng 70 - 80 % Tây Ninh chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chủ yếu là gió Tây - Tây Nam vào mùa mưa và gió Đông - Đông Bắc vào mùa khô Tốc độ gió 1,7m/s và thổi điều hòa trong năm Nhiệt độ trung bình năm của Tây Ninh là 27,40C, lượng ánh sáng quanh năm dồi dào, mỗi ngày trung bình có 6 giờ nắng Mặt khác, Tây Ninh nằm sâu trong lục địa, có địa hình cao núp sau dãy Trường Sơn, ít chịu ảnh hưởng của bão và những yếu tố bất lợi khác là những điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp đa dạng, đặc biệt là các loại cây công nghiệp, ăn quả, dược liệu và chăn nuôi gia súc gia cầm trên quy mô lớn và đó cũng là điều kiện thuận lợi phát triển

Trang 24

- Thủy văn

Tây Ninh có lượng mưa khá lớn, đó là nguồn nước khá dồi dào nuôi dưỡng hệ thống sông ngòi trong tỉnh Với tổng chiều dài sông suối 460 km, Tây Ninh có mật độ mạng lưới sông ngòi vào loại thấp so với nơi khác

Hai con sông lớn nhất của tỉnh là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn, hai con sông này chịu ảnh hưởng của thủy triều biển đông với chế độ bán nhật triều Thượng lưu sông Sài Sòn là hồ nhân tạo Dầu Tiếng - hồ lớn nhất khu vực

- Thực vật

Trên nền đất xám với khí hậu nóng ẩm của miền nhiệt đới, Tây Ninh được thiên nhiên ưu đãi có một lớp phủ thực vật phong phú, phục vụ cho nhu cầu đa dạng của con người Thực vật tự nhiên chủ yếu là rừng

Rừng ở Tây Ninh có vị trí vô cùng quan trọng và chức năng là phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ biên giới, rừng cảnh quan môi trường, di tích lịch sử, văn hóa, bảo tồn thiên nhiên Những loại rừng này chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, tổng diện tích đất có rừng của Tây Ninh là 69.786 ha, chiếm 17,32 % tổng diện tích tự nhiên Rừng ở Tây Ninh mang nhiều đặc tính của rừng nhiệt đới miền Đông Nam Bộ, với nhiều bộ thực vật đa dạng nhiều chủng loại Trong đó, đặc biệt là vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát thuộc huyện Tân Biên, được thành lập theo quyết định số 91/2002/QĐ - TTG ngày 12/7/2002 của thủ tướng chính phủ

Đặc trưng cảnh quan nổi bật của vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát mang tính đặc trưng của các sinh cảnh chuyển tiếp giữa Tây Nguyên và Đồng Bằng Sông Cửu Long

Ở đây có quần thể cây cọ dầu đặc trưng của miền Đông Nam Bộ, rừng khộp của Tây Nguyên, quần thể tràm và sinh cảnh ngập nước của Đồng bằng sông Cửu Long; là nơi

cư trú của hơn 130 loài chim nước, tiêu biểu là loài cò quắm cánh xanh, cò quắm lớn,…đặc biệt có 6 loài chim quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam Ngoài ra còn

có một số loại thân gỗ quý hiếm như: trai, gián hương, cẩm lai, căm xe, xoay…hiện nay Tây Ninh đang tiến hành quy hoạch để phát triển sinh thái

- Động vật

Giới động vật hoang dã trước đây ở Tây Ninh vô cùng phong phú như: nai, mễn, chồn, cheo, thỏ, heo rừng, gấu, cọp, trâu rừng, bò rừng, khỉ… nhưng trong những năm chiến tranh kéo dài và bị tàn phá bởi bom đạn, mìn, chất độc hóa học, cộng với sự khai thác bừa bãi vô ý của con người, nên nhiều thú lớn không còn, chỉ còn vài loài thông thường như chuột, dơi, rắn và các loài bò sát Tính đa dạng sinh học ở Tây Ninh

đã và đang bị đe dọa trước sự khai thác vô ý của con người Diện tích rừng ngày càng

bị thu hẹp một cách đáng kể, với nhiều nguồn gen động, thực vật đang đứng trước nguy cơ bị diệt vong

2.1.1.4 Văn hóa ẩm thực

Ẩm thực Tây Ninh nổi tiếng với các loại đặc sản:

Trang 25

- Bánh tráng phơi sương: Lọai đặc sản này ngày nay đã được sản xuất ở nhiều địa phương trong tỉnh và được sản xuất công nghiệp, nhưng nó vẫn gắn liền với địa danh Trảng Bàng Trước năm 1980, bánh tráng Trảng Bàng được sản xuất từ củ sắn (khoai mì), nhưng ngày nay thì chỉ được sản xuất từ lúa gạo Để làm ra bánh tráng phơi sương phải qua nhiều công đoạn khá công phu và cầu kỳ Ngày 3/8/2012, tại Trảng Bàng, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tây Ninh trao giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm bánh tráng phơi sương Trảng Bàng

Bánh tráng phơi sương Trảng Bàng là món ăn không thể không nhắc đến khi đến với Tây Ninh Những chiếc bánh sau khi đã được tráng, trong đêm khuya người ta đem phơi sương khoảng mười lăm đến ba mươi phút để đạt độ mềm nhất định Dường như những chiếc bánh tráng sau khi hấp thụ sương đêm trở nên ngon ngọt hơn, và chỉ

có bánh tráng xứ Trảng mới có được hương vị ấy

Bánh tráng phơi sương cuốn kèm với rau sống, thịt luộc, đồ chua chấm với nước mắm trở thành món ăn dân dã nhưng không kém phần hấp dẫn Góp phần làm nên hương vị riêng ấy không thể bỏ quên công trạng dĩa rau sống Ngoài những thứ rau trồng thì các loại rau hái dưới sông mới là thành phần quan trọng góp phần làm nên thương hiệu bánh canh Trảng Bàng và bánh tráng phơi sương cuốn thịt luộc Trảng Bàng Rau sông gồm các loại như trâm ổi, trâm sắn, rau mặt trăng, bứa,… mỗi thứ mang hương vị khác nhau như chua, chát và cả chát lẫn chua nhưng lại rất ngon

- Bánh Canh Trảng Bàng: là một lọai thức ăn nổi tiếng của Tây Ninh có từ rất lâu đời Nó đã trở thành một sản phẩm du lịch, một điểm dừng chân thân thuộc đối với khách du lịch Mỗi lò làm bánh đều thu hút du khách bằng bí quyết riêng của mình qua từng con bánh, từng loại gia vị và cách pha chế gia truyền của mỗi lò Để có được món bánh canh ngon phải qua nhiều giai đoạn rất công phu: bánh canh phải được làm từ loại gạo ngon như Nàng thơm, gạo phải được ngâm thật kỹ qua một đêm để hạt gạo đạt đủ độ mềm cần thiết Sau đó gạo được xay nhuyễn để lấy tinh bột Cuối cùng thì đem bột này hấp chín và ép thành những con bánh canh trắng muốt

Mỗi tô bánh canh khi được bày lên bàn cho thực khách phải đảm bảo cả về chất lượng và mỹ thuật Tô bánh canh bốc khói với vị cay của ớt, tiêu và hương thơm ngào ngạt cùng vị ngon đặc biệt chắc chắn sẽ để lại ấn tượng khó quên trong lòng du khách

Ngày nay, phố nghề, làng nghề truyền thống bánh canh Trảng Bàng đang là điểm đến lý thú với nhiều du khách nước ngoài muốn tìm hiểu văn hóa ẩm thực Việt Nam và sự khác nhau của ẩm thực ba miền Bắc Trung Nam Bánh canh Trảng Bàng đã trở thành điểm dừng chân quen thuộc của xe du lịch khi đến quốc lộ 22

Vú nàng Dốc Lết, gỏi ốc Bình Châu, chem chép Bình Đại, nem Thủ Đức, bánh canh Trảng Bàng,… không chỉ là những món ăn thông thường mà còn là những sản phẩm du lịch có giá trị và mang đậm sắc thái văn hóa Việt Nam (Ảnh 1 phụ lục)

Trang 26

- Muối tôm: là một đặc sản rất nổi tiếng của Tây Ninh Muối được chế biến từ nhiều phụ liệu mang lại hương vị thơm, ngon đặc biệt mà chỉ muối tôm Tây Ninh mới

- Mãng cầu Bà Đen (trái na): được trồng tại khu vực gần núi Bà Đen của Tây Ninh Cùng với việc chọn thời vụ canh tác, xử lý ra hoa vào các tháng khác nhau mà trái mãng cầu có quanh năm Tỉnh Tây Ninh đã tiến hành đăng ký với Cục Sở hữu trí tuệ về bảo hộ địa danh dưới hình thức chỉ dẫn địa lý “Bà Đen” cho sản phẩm mãng cầu được trồng ở khu vực núi Bà Đen và vùng phụ cận núi Bà Mãng cầu núi Bà Đen có độ dai, vị ngọt và hương vị thơm ngon không giống như mãng cầu khác do được trồng tại khu vực chân núi với đất và điều kiện khí hậu riêng nơi đây Nhiều khách thập phương thường ghé mua mãng cầu núi Bà Đen về làm quà cho bạn bè và người than

- Ốc núi, thằn lằn núi là những đặc sản lạ mà du khách muốn được thưởng thức khi đến với Núi Bà Đen Tây Ninh

2.1.2 Một số điểm đến của du lịch Tây Ninh

2.1.2.1Một số điểm du lịch tự nhiên

- Núi Bà Đen

Núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất miền Đông Nam bộ (986 m), là di tích lịch sử văn hóa thu hút lượng lớn du khách mỗi năm

- Suối Trúc Tây Ninh

Từ Khu du lịch lòng hồ Dầu Tiếng, khách lữ hành vượt qua 5 km tỉnh lộ 751 đường tráng nhựa, xuyên rừng cao su bạt ngàn là đến Suối Trúc

Suối Trúc nằm vắt mình trên một ngọn núi cao nhất trong cụm núi Cậu gồm 12 nhóm lớn nhỏ Cụm núi Cậu được xem là đoạn cuối của dãy Trường Sơn hùng vĩ và những ngọn núi này chỉ được gọi một cái tên chung là núi Cậu Có lẽ do ngọn suối len mình giữa bạt ngàn rừng trúc thiên nhiên nên cư dân địa phương đặt tên là Suối Trúc Cũng có người gọi là Suối Tre hoặc Suối Tiên Để thưởng ngoạn cảnh đẹp hoang sơ của Suối Trúc, du khách phải bắt đầu từ ngọn suối đi ngược lên thượng nguồn

Đặt chân lên núi, du khách sẽ phải len qua một lối mòn giữa rừng trúc để tiến vào ngọn suối Quang cảnh đầu tiên sẽ là những ghềnh đá bằng phẳng, vuông cạnh, được thiên nhiên sắp đặt thành những bậc thang dành cho “người khổng lồ” Theo truyền thuyết, nơi đây là chốn trú ngụ của “người khổng lồ”

Vừa qua khỏi những bậc thang của “người khổng lồ” du khách sẽ được thưởng lãm những bãi đá “bát quái trận đồ” Hàng triệu hòn đá lớn nhỏ được thiên nhiên xếp thành những bàn ăn thiên nhiên lý tưởng Du khách tiến sâu hơn về phía thượng nguồn

và tiếp tục thưởng ngoạn một bãi đá bằng phẳng bị nước mưa xâm thực tạo thành từng làn sóng đá mà người dân địa phương cho rằng, đó là “chiếc giường” của “người khổng lồ” Do suy nghĩ nhiều về vợ nên “người khổng lồ” lăn lộn, trằn trọc nhiều đêm làm cho “chiếc giường” đá nhăn nheo, bèo nhèo Điều lạ là những nếp nhăn của đá nằm song song nhau theo một chiều tạo thành những gợn sóng đẹp mắt “Giường đá”

Trang 27

thường được những nhóm du lịch dã ngoại chọn làm nơi hạ trại Chiếc giường này rộng hơn 3 km2 nên có thể chứa khoảng 300 chiếc lều dã chiến

Qua khỏi “giường đá”, một đoạn suối ngắn sẽ dẫn du khách vào một quang cảnh rất nên thơ được gọi là “Hồ Than Thở” và “Thác Bậc Thang” Một số du khách chọn nơi đây là nơi dừng chân để “tắm tiên” và bắt cá Ở nơi đây, vào những ngày sau mưa, những ngọn thác hùng vĩ sẽ hình thành do lượng nước từ thượng nguồn ào ạt đổ

về tạo nên cảnh quang rất hoành tráng Sau khi “tắm tiên”, bạn hãy chọn một nơi trên bãi đá bằng phẳng để ăn uống theo kiểu dã ngoại, nghỉ ngơi rồi trở về trước khi trời tối

Suối Trúc thật sự là điểm tham quan kỳ thú và còn nhiều điều bí ẩn về câu chuyện của “người khổng lồ” năm xưa, như đang chờ đón sự khám phá của du khách

- Khu du lịch sinh thái Ma Thiên Lãnh

Ma Thiên Lãnh: Cao nguyên thơ mộng giữa đồng bằng

Từ chân núi, men theo con đường nhựa trải dài uốn lượn trên một sườn đồi thơ mộng với một bên là núi và một bên là cheo leo vực thẳm, văng vẳng bên tai đâu đó là tiếng chim kêu, vượn hú, tiếng suối róc rách giữa đại ngàn bao la cùng một bầu không khí trong lành đến tuyệt vời

Người ta cứ ngỡ Sapa hay cao nguyên Đà Lạt Không! Đấy chỉ là buổi hoàng hôn của một Ma Thiên Lãnh hoang sơ nằm ẩn mình ở độ cao trên 50 m giữa đồng bằng rộng lớn Nằm cách thị xã Tây Ninh chưa đầy 30 phút ôtô, được che mình bởi núi Lớn (hay còn gọi là núi Bà), núi Phụng và núi Heo, Ma Thiên Lãnh hiện ra như một quần thể địa danh được kiến tạo bởi hang Ông Hổ, Suối Vàng, Hầm đá

Bắt đầu từ chân núi vào, ngồi trên xe bạn có thể thưởng ngoạn khung cảnh tuyệt vời như của Đà Lạt bởi hai bên là sườn đồi và thung lũng Du khách men theo những bậc đá quanh co cạnh con suối vàng thơ mộng để bước tiếp lên hang Ông Hổ Mặc dù

có nhiều truyền thuyết tương truyền về sự ra đời của hang này nhưng là gì đi nữa, nơi đây cũng ghi nhận sự thành kính của nhiều người dân địa phương tin vào một đức tin thần bí Từ trên cao nhìn xuống, du khách có thể nhận ra ngay cây đại thụ bồ đề đang mọc lên từ trên những phiến đá to nhẵn nhụi

Từ trên đỉnh cao nhất của ngọn núi cao nhất đồng bằng, du khách có thể phóng tầm mắt quan sát khắp các vùng lận cận Băng qua hố Bảy Ngày sâu hun hút và khi đã vượt qua những con dốc dựng đứng cùng rừng tre già, một làn hơi nước mát lạnh từ trong các hốc đá sẽ làm du khách cảm thấy sảng khoái vô cùng, lên cao đến đỉnh là những sương là đà trông thật huyền ảo và lãng mạn Buổi chiều đến, du khách lại được ngắm vẻ hoang sơ và tĩnh lặng của nơi này và có thể nghỉ lại ban đêm ở những dãy nhà trọ cao cấp được dựng lên trong quần thể Ma Thiên Lãnh

Trở lại con đường vào chân núi, một khu vực trường bắn hiện đại và tầm cỡ sẽ được mở ra để giúp du khách tha hồ giải trí với trò săn bắn Con đường hình vòng

Trang 28

chinh phục từ chân núi phía đông lên đỉnh Điện Bà và quần thể chùa, am, điện Ma Thiên Lãnh, bằng những ưu đãi mà thiên nhiên đã ban tặng từ điều kiện khí hậu đến sinh thái, chính quyền và người dân Tây Ninh đang bắt nhịp đầu tư, quyết biến nơi đây thành một khu du lịch có sức hút riêng và mạnh mẽ, góp phần nâng cao chất lượng và sản phẩm ngành du lịch

- Khu du lịch Long Điền Sơn

Long Điền Sơn là một khu du lịch mới đi vào hoạt động phục vụ du khách đến với Tây Ninh Nằm trong phong cảnh hữu tình, nhà đầu tư đã xây dựng nên khu du lịch đậm nét truyền thống và bản sắc của làng quê và văn hóa Việt

Long Điền Sơn tọa lạc tại ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, cách thị xã Tây Ninh khoảng 5 km Mới đưa vào hoạt động, khu du lịch đã được nhiều người biết đến và đã xuất hiện trong nhiều chương trình các tour đến Tây Ninh

Hai bên lối vào khu du lịch Long Điền Sơn là tượng 12 con giáp Trên dãy phân cách lối đi, có đặt 2 con rồng nằm phun nước tạo ra không gian dịu mát giữa cái nắng của vùng đất cao này Nhà đầu tư đã làm nên vườn cây lớn và những trảng cỏ rộng đảm bảo màu xanh phủ khắp nội viên Đá tự nhiên và các công trình kiến trúc được xếp đặt hài hòa bên cạnh những tán cây lớn, hồ nước

Trung tâm của khu du lịch là một cái hồ rộng lớn, nước màu vàng đỏ đặc trưng của đất bazan vùng này Giữa hồ có quán cà phê để khách có thể ngồi ngắm cảnh, cà phê được bán trong hang động hình đầu rồng được gọi là đảo Long Ẩn Giữa đất liền

và đảo được nối bằng chiếc cầu dài mang dáng dấp Chùa Cầu ở Hội An - Quảng Nam Bên trong đầu rồng được thiết kế kiểu hang động mát lạnh Thiết kế nội thất dạng quán bar, nhạc không lời nhẹ nhàng thích hợp cho du khách thư giãn Bên ngoài nhiều ghế ngồi được bố trí dọc bờ hồ, nhà nổi Nếu đi lên trên hang động, khách sẽ ngắm được toàn cảnh Long Điền Sơn cả bốn phía

Ngoài đảo Long Ẩn, du khách có thể đi dạo quanh hồ dưới những tán cây cổ thụ mát rượi Bên bờ hồ là những rặng liễu rũ mơ màng, những cây thuộc họ gừa và si với những hình thù kỳ quái lạ mắt Trong khu vực còn có nhà hàng với ba mái ngói theo phong cách nhà xứ Huế Nhà hàng thiết kế theo lối không gian mở, 3 gian nhà nằm lệch nhau và cùng quay mặt ra hồ nước rộng, trông rất thơ mộng Khu vực này vừa là nhà hàng kết hợp trung tâm hội nghị, tổ chức sự kiện và tách biệt với các khu vui chơi khác nhưng không gian vẫn liên kết thành một chỉnh thể thống nhất Ngồi ở đây, một bên là nước, một bên là cây xanh, du khách cảm nhận được sự thoải mái vô cùng

Nếu muốn tham quan hết khu du lịch cần nhiều thời gian Khuôn viên Long Điền Sơn rộng khoảng 27 ha với nhiều sản phẩm du lịch phong phú phục vụ du khách

cả ngày lẫn đêm Không hoành tráng như Đầm Sen, Suối Tiên (thành phố Hồ Chí Minh) nhưng Long Điền Sơn có một không gian thiên nhiên tươi đẹp và hữu tình Du khách có thể đến đây vui chơi thưởng ngoạn vào nhiều thời gian khác nhau Nhiều

Trang 29

người thích đến đây vào lúc hoàng hôn và chơi tới khuya Khi đó, thời tiết đã dịu mát,

cả khu vực được dát lên những ánh đèn đầy màu sắc tạo cho Long Điền Sơn một không gian lung linh, huyền ảo

Long Điền Sơn cũng rất thích hợp cho khách đi theo nhóm sinh hoạt lửa trại, ngồi trên những trảng cỏ rộng lớn, khách tha hồ trò chuyện, vui những trò chơi tập thể

mà không sợ làm phiền người khác Vào dịp cuối tuần, ngày lễ, Long Điền Sơn luôn

có những chương trình văn nghệ, tiệc buffet trên bờ, buffet chợ nổi

Khu du lịch Long Điền Sơn tiếp tục đầu tư xây dựng công viên nước và vườn bách thú Nơi đây hứa hẹn là điểm du lịch độc đáo của vùng biên Tây Ninh Long Điền Sơn còn là một điểm đến hài hòa trong chuỗi tour du lịch Địa đạo Củ Chi, siêu thị miễn thuế Mộc Bài, Tòa Thánh Cao Đài, núi Bà Đen, Trung ương cục miền Nam (Ảnh 2 phụ lục)

- Khu du lịch sinh thái Hồ Dầu Tiếng (hồ nhân tạo)

Ai ơi về với Tây Ninh Ghé hồ Dầu Tiếng quê mình chia vui Nước trong soi bóng mây trời Công trình thủy lợi giúp đời ấm no

Cách thị xã Tây Ninh 20 km về phía đông bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 70

km về phía bắc Là công trình thủy lợi, là một trong những hồ lớn nhất nước ta, với diện tích mặt nước 27.000 ha, sức chứa 1,5 tỷ m3 Hồ Dầu Tiếng đủ khả năng cung cấp nước tưới cho 172.000 ha đất nông nghiệp của Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, Long An và Bình Dương

Giữa hồ là những đảo với rừng cây xanh soi bóng mát Không khí trong lành, thoáng mát, tạo cho không khí thoải mái mỗi lần được di chuyển du ngoạn trên hồ Du khách còn có thể thưởng thức các món đặc sản Tây Ninh ở đây (Ảnh 3 phụ lục)

- Vườn quốc gia Lò Gò - Xa mát

Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát thuộc ba xã: Tân Lập, Tân Bình và Hòa Hiệp (huyện Tân Biên), cách thị xã Tây Ninh khoảng 30 km về phía Tây Bắc Đây là vùng đệm giữa miền Đông Nam Bộ với Tây Nguyên, đồng bằng Sông Cửu Long và là vùng giáp ranh biên giới Việt Nam - Campuchia Đây cũng là địa danh nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược, nơi lập căn cứ cách mạng của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam

Rừng quốc gia Lò Gò - Xa Mát thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới với những trảng cây họ dầu rụng lá vào mùa khô, ngập nước trong mùa mưa Các trảng cỏ trong mùa mưa, theo định kỳ từng thời gian chứa đựng sự phong phú đa dạng của các loài thủy sinh vật và thích hợp cho các loài chim vốn ở các đầm lầy đến định cư Theo sự điều tra của Tổ chức Đời sống các loài chim (Birdlife) Việt Nam cho biết, đây là nơi

cư trú của hơn 130 loài chim quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam

Trang 30

Nhờ những giá trị sinh thái và lịch sử, vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát trở thành nơi tham quan, học tập nghiên cứu và là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn

2.1.2.2 Một số điểm du lịch nhân văn

- Tôn giáo đạo Cao Đài, Tòa Thánh Tây Ninh

Ðạo Cao Ðài xuất hiện ở Tây Ninh bắt đầu từ năm 1926 Trong đó phải kể đến Tòa Thánh Tây Ninh - một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng Toà Thánh Tây Ninh được xây dựng tại huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách trung tâm thị xã Tây Ninh 5 km về phía Đông Nam Biểu tượng của đạo Cao Ðài là Thiên Nhãn Ngoài việc thờ Thiên Nhãn, đạo Cao Ðài còn thờ nhiều vị khác

Toà Thánh tọa lạc trong một khuôn viên rộng Nổi bật trong quần thể kiến trúc

là Đền Thánh, với những đặc trưng tiêu biểu cho kiến trúc đền, chùa của tôn giáo Cao Đài Công trình thể hiện sự hài hoà giữa mỹ thuật kiến trúc Á Đông và Phương Tây Với các vòm mái và hoa văn trang trí khéo léo, tinh xảo thể hiện tinh thần Tam giáo

Tại đây còn có một số kiến trúc khác nằm trong quần thể như cổng Chánh môn, các tháp mộ, đền thờ Phật Mẫu Ðặc biệt là Bá Huê Viên với nhiều cây cảnh, nhiều loại hoa và cỏ lạ Lễ hội lớn nhất hàng năm diễn ra nơi đây là vía Ðức Chí Tôn (ngày 9 tháng giêng âm lịch) Lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc và cuốn hút hàng vạn du khách từ mọi miền đất nước hội tụ Du khách có dịp đi chợ Long Hoa, ngôi chợ lớn nhất Tây Ninh và miền Đông Nam Bộ, do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc - vị lãnh đạo tối cao của đạo Cao Đài xây dựng năm 1947 dùng làm nơi buôn bán cho tín đồ Cao Đài, tại đây có bán đủ các thực phẩm chay phong phú, đa dạng (Ảnh 4 phụ lục)

- Phật Giáo

Vốn có từ lâu đời ở Tây Ninh với đầy đủ các hệ phái Cơ bản là Nam Tông và Bắc Tông Các Chùa nổi tiếng như: Chùa Phước Thành, Chùa Núi Cậu, Chùa Bà (Núi Bà), Chùa Cẩm Phong, Chùa Bửu Sơn Hệ Ni giới cũng phát triển khá mạnh ở Tây Ninh với các thiền viện Nổi tiếng nhất trong cả nước là Chùa Am, một hệ phái tu tập

do người Tây Ninh sáng lập

- Ki-tô giáo

Ki-tô giáo bao gồm Công giáo và Tin lành phát triển mạnh ở Tây Ninh Ở đây

có các nhà thờ nổi tiếng như Nhà thờ Tha La (Trảng Bàng), nhà thờ Phong Cốc (Châu Thành)

- Trung ương cục miền Nam

Trung ương cục miền Nam - nơi từng được gọi là “Thủ đô kháng chiến” của miền Nam Nơi đây những kỳ tích vang bóng một thời trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Cách thị xã Tây Ninh, xuôi quốc lộ 22B, chừng khoảng 60 km là đến Rùm Đuôn, nơi từng đóng cơ quan đầu não kháng chiến Trung ương cục miền Nam Nơi đây cách biên giới Campuchia chừng 1 km theo đường chim bay, cách cửa khẩu Xa

Trang 31

Mát chừng khoảng 4 km Vùng biên Tân Lập chào đón khách phương xa bằng không khí đặc thù của một vùng rừng nhiệt đới đặc trưng và cái nắng khô hanh đến gai người

Căn cứ Trung ương cục miền Nam là di tích lịch sử đã được nhà nước công nhận năm 1989 Đây là căn cứ địa của Cách mạng miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Căn cứ đã được phục hồi nguyên trạng Đây là nơi ở và làm việc của các vị lãnh đạo Cách mạng miền Nam như Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh… Căn cứ Trung ương cục miền Nam là nhân chứng, là biểu tượng sáng ngời của trí thông minh, tài thao lược và tinh thần quả cảm của nhân dân miền Nam

Hằng năm, vùng căn cứ địa cách mạng đón rất nhiều du khách vì đó không những là nhu cầu của đông đảo cựu chiến binh, các chiến sĩ cách mạng mà còn là mong muốn của nhiều thế hệ trẻ hôm nay để được về nguồn, tưởng nhớ và biết ơn những người đi trước

- Cửa khẩu Mộc Bài (siêu thị miễn thuế)

Đây là Khu kinh tế cửa khẩu với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và hai cửa khẩu phụ Phước Chỉ và Long Thuận phục vụ cho các hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa và quan hệ chính trị, ngoại giao giữa Việt Nam, Campuchia và một số nước trong khối ASEAN; là trung tâm thương mại, du lịch và đầu mối giao thông trong nước và quốc tế; trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật quan trọng của tỉnh Tây Ninh và vùng Đông Nam Bộ; và có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng

Cửa khẩu Mộc Bài được chia thành nhiều khu, đặc biệt có các khu góp phần lớn vào việc thu hút khách du lịch nội địa và quốc tế, phát triển du lịch chung của tỉnh cũng như cả nước: khu thương mại và dịch vụ, khu siêu thị miễn thuế, khu sân golf, khu du lịch sinh thái…

2.1.3 Thực trạng đầu tư phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh

2.1.3.1 Một số dự án đầu tư phát triển du lịch

- Khu di tích lịch sử và danh thắng núi Bà Đen Tây Ninh đã được quy hoạch tổng thể và chi tiết giai đoạn 1998 - 2010 và hiện nay đã được các công ty cổ phần du lịch - thương mại, công ty cổ phần cáp treo đầu tư phát triển

- Khu du lịch Ma Thiên Lãnh nằm phía Tây Nam của Núi Bà Đen đã được công

ty cổ phần đầu tư và xây dựng An Thịnh, thành phố Hồ Chí Minh đầu tư với diện tích

96 ha, với tổng vốn đầu tư 215 tỷ, là khu du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí trên thung lũng và suối vàng

- Khu du lịch Long Điền Sơn được công ty trách nhiệm hữu hạn Trúc Lâm Tây Ninh đầu tư khu du lịch sinh thái tổng hợp với diện tích 23 ha với các loại hình sản phẩm: du lịch sinh thái vườn cây nam bộ, các dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí, khách sạn… được đưa vào hoạt động năm 2008

- Khu du lịch sinh thái Mộc Bài với diện tích 600 ha, đang được công ty cổ

Trang 32

được tiến hành đầu tư dự án khu nhà nghỉ - khách sạn - bãi tắm, dự án khu biệt thự phục vụ du lịch

Ngoài ra, khu cửa khẩu Mộc Bài, các doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống siêu thị, chợ đường biên (bảy siêu thị, một chợ đường biên) phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt khách Campuchia

- Các khu du lịch sinh thái hồ Dầu Tiếng, vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát đã được quy hoạch và kêu gọi đầu tư Hiện nay, Ủy ban nhân dân tỉnh đã cho chủ trương tập đoàn dầu khí Việt Nam đầu tư vào khu Đảo Nhím với diện tích là 340 ha

- Khu du lịch sinh thái rạch Trảng Chừa, Bến Trường Đổi, khu vui chơi giải trí Bàu Cà Na đang được quy hoạch và kêu gọi đầu tư

- Khu du lịch Bàu Cà Na được công ty trách nhiệm hữu hạn xuất nhập khẩu Thương mại Công nghệ vân chuyển đầu tư với diện tích đất sử dụng là 4,9 ha, tổng vốn đầu tư 123 tỷ đồng

Các doanh nghiệp trong tỉnh đầu tư các khách sạn từ 1 - 2 sao và các nhà nghỉ

du lịch, trên địa bàn hiện nay chưa có khách sạn từ 3 - 5 sao, chưa có các trung tâm hội nghị lớn của tỉnh

2.1.3.2 Một số dự án kêu gọi đầu tư phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh

- Dự án quy hoạch đầu tư phát triển du lịch sinh thái hồ Dầu Tiếng:

- Dự án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia Lò Gò -

Xa Mát

- Dự án phát triển các tuyến du lịch sinh thái

- Dự án khu du lịch núi Bà Đen

- Khu du lịch sinh thái Trảng Bàng (Trảng Chừa)

- Dự án đầu tư phát triển du lịch sinh thái khu vực sông Vàm Cỏ Đông

- Dự án khu du lịch Mộc Bài

- Dự án trung tâm thương mại dịch vụ cửa khẩu Xa Mát

- Các trạm dừng chân trên các tuyến du lịch:

+ Đường xuyên Á: An Tịnh - Trảng Bàng

+ Gò Dầu - Dương Minh Châu: Phước Đông - Bàu Đồn

+ Trên sông Gò Dầu - Bến Kéo: Bến Kéo

+ Thị xã - Tân Biên: vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát

+ Thị xã - khu du lịch Núi Bà: Ninh Thạnh

2.1.4 Đánh giá chung về du lịch Tây Ninh

Trang 33

tăng nhanh giao lưu hàng hóa phát triển mậu dịch biên giới giữa Tây Ninh và Campuchia

Trên cơ sở mở rộng mạng lưới thương mại, đẩy mạnh các hoạt động du lịch và từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành du lịch, kêu gọi đầu tư, liên kết để phát triển các khu, điểm du lịch…

Bảng 2.1: Hiện trạng GDP tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2002 - 2006

xây dựng 1.655 1.831 2.001 2.140 2.329 2.562 2.773 Thương mại -

dịch vụ 1.103 1.240 1.370 1.623 1.986 2.458 3.100

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh

2.1.4.2 Hiện trạng Cơ sở hạ tầng, vật chất - kỹ thuật:

+ Cơ sở lưu trú:

Các cơ sở lưu trú của Tây Ninh được phân thành hai loại chính: Cở sở lưu trú đạt hạng sao và các cơ sở lưu trú khác (chủ yếu là nhà trọ) Đa số các cơ sở lưu trú trên địa bàn chưa được phân loại và xếp hạng sao

Cơ sở lưu trú được xếp hạng sao đến năm 2009 là 5 cơ sở: 2 khách sạn đạt chuẩn 2 sao, 3 khách sạn đạt chuẩn 1 sao

Các cơ sở lưu trú khác chủ yếu theo mô hình nhà nghỉ, nhà trọ kinh doanh theo mùa vụ, các cơ sở này thực chất là nhà ở kết hợp khai thác kinh doanh lưu trú trong dịp lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ trọ của khách tham quan

Bảng 2.2: Hiện trạng cơ sở kinh doanh và lưu trú du lịch Tây Ninh

Trang 34

Có thể nói, tỷ lệ các cơ sở lưu trú được xếp hạng của Tây Ninh còn rất nhỏ bé

so với các cơ sở lưu trú khác

Hiện 100% các xã thuộc tỉnh đã có điện lưới quốc gia

+ Hệ thống giao thông:

Đường bộ: Do mật độ sông ngòi không lớn, địa hình cao, ít có lũ lụt nên hệ thống giao thông của Tây Ninh khá thuận lợi cho việc di chuyển của du khách Tổng chiều dài đường bộ trong tỉnh là 2.976 km Mạng lưới giao thông đường bộ hình thành tương đối rộng khắp và hợp lý, mật độ 0,74 km/km2 và 25,4 m2/người dân Có hai quốc lộ chạy qua địa bàn của tỉnh:

Quốc lộ 22 nối từ thành phố Hồ Chí Minh qua địa bàn tỉnh Tây Ninh 28 km sang Cmpuchia qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài nằm trong tuyến đường xuyên Á

Quốc lộ 22B chạy dài từ huyện Gò Dầu sang Campuchia qua cửa khẩu quốc tế

Đường hàng không: Hiện nay, Tây Ninh chưa có sân bay Song có khả năng phát triển đường giao thông hàng không từ cơ sở vật chất còn lại của sân bay quân sự tại xã Thái Bình huyện Châu Thành với khả năng xây dựng thành sân bay cấp 4 - 5 đường băng dài 600 - 1.000 m, rộng 24 - 30 m để đón nhận các loại máy bay 40 - 70 chỗ ngồi cũng như xây dựng bãi đáp trực thăng trên đỉnh núi Bà Đen phục vụ du lịch

Đường sắt: Trên địa bàn tỉnh không có tuyến đường sắt chạy qua Tuy nhiên trong tương lai, dự án đường sắt xuyên Á được xây dựng chạy song song với đường bộ xuyên Á sang Campuchia, nối với tuyến đường sắt Bắc - Nam của Việt Nam

2.1.4.3 Hiện trạng khách du lịch:

Khách du lịch Tây Ninh được phân thành ba bộ phận cấu thành chính với những đặc điểm cơ bản khác biệt nhau bao gồm: khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa (không tính khách đến tham quan khu du lịch sinh thái núi Bà Đen) và khách tham quan khu du lịch sinh thái núi Bà Đen

Trang 35

Trong cơ cấu khách du lịch Tây Ninh khách quốc tế chiếm tỷ lệ rất nhỏ không đáng kể, năm 2009 đạt khoảng 1,27% tổng số khách Khách tham quan khu du lịch núi

Bà Đen là bộ phận chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số khách, năm 2009 đạt 75.09%

Bảng 2.3: Hiện trạng khách du lịch Tây Ninh giai đoạn 2005 - 2009

khu du lịch Núi Bà 1.421.406 1.563.797 1.644.269 1.803.064 1.864.116 + Khách Hội Xuân

Núi Bà 931.066 987.764 1.070.072 1.181.132 1.192.092 + Khách đi cáp

treo máng trượt 729,832 851,191 797,382 961,004

Nguồn: Sở Văn hóa thể thao và du lịch Tây Ninh

Bảng 2.4: Doanh thu du lịch Tây Ninh giai đoạn 2005 - 2009

Nguồn: Sở Văn hóa thể thao và du lịch Tây Ninh

Trong tổng doanh thu từ du lịch của Tây Ninh thì doanh thu ăn uống và bán hàng chiếm tỷ trọng lớn, chiếm đến 80%, còn doanh thu lưu trú chỉ chiếm khoảng 20% Do đó tỉnh cần tập trung đầu tư cho cơ sơ lưu trú phục vụ du lịch để khai thác hiệu quả hơn nguồn thu này

Nói tóm lại, “Tây Ninh là một địa phương giàu tiềm năng du lịch Tuy nhiên làm thế nào để tiềm năng ấy không cứ mãi mãi chỉ là tiềm năng cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi khó Có thể ví von: du lịch Tây Ninh nhiều năm qua vẫn như chim cánh cụt - loài chim có cánh nhưng chỉ biết đi mà không biết bay Vậy làm gì để du lịch Tây Ninh cất cánh?” Đó cũng chính là chủ đề của cuộc họp bàn giữa các vị lãnh đạo Bộ

Trang 36

Văn hoá - Thể thao và du lịch, Tổng cục du lịch và UBND (Ủy ban nhân dân) tỉnh Tây Ninh

Phát biểu tại buổi làm việc với Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Thứ trưởng Bộ Văn hoá - Thể thao và du lịch cho rằng: “muốn bộ mặt du lịch Tây Ninh thật sự thay đổi, cần phải đầu tư cho ngành này theo chiều sâu Đó là việc phát triển chất lượng dịch vụ du lịch, điều mà du lịch Tây Ninh đang thiếu” Theo đại diện của Tổng cục du lịch, về cơ bản Tây Ninh đã có chiến lược phát triển du lịch đúng hướng, tuy nhiên mỗi địa danh của tỉnh như núi Bà Đen, hồ Dầu Tiếng… cần phải phát triển thành thương hiệu Mà muốn có thương hiệu thì ở mỗi nơi phải có những sản phẩm du lịch cụ thể để phục vụ du khách Nói khác đi, cần phải tăng chất lượng công nghiệp du lịch, phát triển dịch vụ chứ không thể chỉ khai thác những cái đã

có sẵn (Theo Báo Tây Ninh Online số ra ngày 21/05/2011)

Xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, thời gian qua Tây Ninh đã thực hiện xã hội hoá du lịch đạt hiệu quả tương đối cao, tạo điều kiện cho người dân và các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch, dịch vụ du lịch Bằng những chính sách ưu đãi, tạo môi trường thông thoáng đã huy động được các nguồn lực trong xã hội đầu tư phát triển ngành du lịch, đẩy mạnh công tác tôn tạo các

di tích lịch sử - văn hoá, xây dựng các khu, điểm, tour, tuyến du lịch, phát triển các làng nghề truyền thống gắn với hoạt động du lịch…

Tây Ninh đã có nhiều các dự án Quy hoạch đầu tư phát triển du lịch song vẫn chưa đạt hiệu quả cao Công tác quản lý và kết quả thực hiện trong thời gian qua: mục tiêu và những chỉ tiêu đề ra trong quy hoạch còn chưa sát thực tế Các định hướng phát triển trong quy hoạch chưa hoạch định lộ trình, giải pháp, các bước đi, các chính sách,

kế hoạch hành động còn chung chung trong khi nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa qua đào tạo Dù Tây Ninh đã tích cực làm quy hoạch du lịch “nhưng việc thực hiện quy hoạch thì hầu như chưa triển khai được mấy, hầu như các hoạt động du lịch diễn ra như tự nó vận động” Sự tác động của cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch trong việc định hướng phát triển dựa trên quy hoạch còn mờ nhạt Các điều kiện cần và đủ cho việc thực hiện quy hoạch như các chính sách khuyến khích, các chương trình, dự án hỗ trợ của Nhà nước về phát triển hạ tầng, xúc tiến quảng bá, khai thông thị trường còn hạn chế, chưa tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển du lịch

Tây Ninh cần kết hợp với văn hóa Đông Nam Bộ để tạo thêm sự mới mẻ Thu hút thêm số lượng khách hành hương như khách tín ngưỡng viếng thăm núi Bà Đen và Tòa thánh Tây Ninh Tạo ra cảnh quan sinh thái hấp dẫn, tổ chức dịch vụ chu đáo nhằm tăng thêm số lượng khách quốc tế

Nhìn chung, ngành du lịch Tây Ninh còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, cần có những giải pháp và định hướng cụ thể để du lịch Tây Ninh phát triển xứng tầm với tiềm năng và lợi thế sẵn có

2.2 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN TÂY NINH

Ngày đăng: 12/06/2021, 00:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm