1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh bắc ninh

36 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 779,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, căn cứ vào thực trạng tình hình thực tế việc khai thác sản phẩm du lịch đã cho thấy việc đầu tư phát triển du lịch văn hóa tại Bắc Ninh chưa đúng mức, còn nhỏ lẻ, chưa có tính đ

Trang 1

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh

Bắc Ninh

Lê Trung Thu

Trường Đại học KHXH&NV Luận văn ThS Chuyên ngành: Du lịch học; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng

Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Hệ thống hóa giá trị tài nguyên du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh Qua khảo sát thực tế về

hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh từ đó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch văn hóa tỉnh

Bắc Ninh

Keywords: Du lịch; Du lịch văn hóa; Bắc Ninh

Content:

Trang 2

3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU………

1 Lý do chọn đề tài……… 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 10

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.……… 10

5 Phương pháp nghiên cứu……… 11

6 Cấu trúc của luận văn……… 11

7 Đóng góp của luận văn……… 11

Chương 1: ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH……….…… 12

1.1 Tài nguyên du lịch……… 12

1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên… 12

1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn……… 18

1.1.2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể……… 18

1.1.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể……… 23

1.2 Điều kiện về hạ tầng xã hội……….……… 29

1.2.1 Giao thông……… 29

1.2.2 Hệ thống điện……… 31

1.2.3 Hệ thống cấp, thoát nước……… 32

1.2.4 Hệ thống thông tin liên lạc……… 33

1.3 Điều kiện cơ chế, chính sách phát triển về phát triển du lịch 33

1.4 Đánh giá chung ……… 38

1.4.1 Thuận lợi……… ……… 38

1.4.2 Khó khăn……… ……… 40

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1……… ……… 41

Trang 3

4

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC

NINH……… 42

2.1 Thực trạng về thị trường khách du lịch Bắc Ninh……… 42

2.1.1 Lượng khách du lịch……… 42

2.1.1.1 Khách quốc tế……… 44

2.1.1.2 Khách nội địa……… 46

2.1.2 Phân tích đặc điểm nguồn khách đến với Bắc Ninh……… 47

2.1.2.1 Thành phần, độ tuổi, giới tính……… 47

2.1.2.2 Quốc tịch……… 48

2.1.2.3 Mức độ chi tiêu……… 49

2.1.2.4 Thời gian lưu trú……… 50

2.1.3 Phân tích nhu cầu của khách……… 50

2.1.3.1 Du lịch tín ngưỡng tâm linh……… 50

2.1.3.2 Tham quan……… 52

2.1.3.3 Nghỉ dưỡng……… 53

2.1.3.4 Thưởng thức nghệ thuật……… 54

2.2 Thực trạng về khai thác các giá trị văn hóa phục vụ du lịch… 55

2.2.1 Khai thác quan họ phục vụ du lịch….……… 55

2.2.2 Khai thác làng nghề truyền thống phục vụ du lịch……… 62

2.2.3 Khai thác các giá trị của lễ hội truyền thống phục vụ du lịch…… 72

2.2.4 Khai thác giá trị các di tích lịch sử và những ngôi chùa cổ phục vụ du lịch văn hóa, du lịch hành hương và du lịch tâm linh tại Bắc Ninh……… 77

2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch văn hóa tỉnh…… 78

2.3.1 Hệ thống lưu trú ……… ……… 79

2.3.2 Hệ thống các dịch vụ khác (vui chơi giải trí, mua sắm…)…… 81

2.4 Nhân lực phục vụ cho du lịch văn hóa tỉnh……… 81

Trang 4

5

2.5 Tổ chức, quản lý và quy hoạch du lịch văn hóa tỉnh……… 83

2.5.1 Hiện trạng đầu tư phát triển khu, điểm du lịch……… 83

2.5.2 Các dự án đầu tư khác liên quan đến du lịch……… 87

2.6 Tuyên truyền, quảng bá cho du lịch văn hóa tỉnh……… 87

2.7 Tác động của du lịch đến các di sản văn hóa……… 90

2.7.1 Tác động tích cực……… 90

2.7.2 Tác động tiêu cực……… 93

2.8 Đánh giá chung hiện trạng phát triển du lịch văn hóa………… 102

2.8.1 Ưu điểm……… 102

2.8.2 Tồn tại, hạn chế……… 103

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……… 105

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH……… ……… ……… 106

3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp……… 106

3.1.1 Định hướng phát triển theo ngành……… 106

3.1.1.1 Định hướng phát triển thị trường……… 106

3.1.1.2 Định hướng phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù……… 106

3.1.2 Định hướng phát triển theo không gian, lãnh thổ……… 108

3.2 Những giải pháp phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh…… 110

3.2.1 Giải pháp cho thị trường du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh………… 110

3.2.1.1 Thị trường khách du lịch quốc tế……… 111

3.2.1.2 Thị trường khách du lịch nội địa……… 133

3.2.2 Giải pháp về xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch đặc thù……… 114

3.2.3 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa… 119 3.2.2.1 Về cơ sở lưu trú……… 120

3.2.2.2 Cơ sở vui chơi giải trí du lịch……… 121

Trang 5

6

3.2.4 Giải pháp về phát triển nhân lực trong du lịch văn hóa………… 121

3.2.5 Giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa……… 122

3.2.5.1 Các cơ quan quản lý nhà nước về phát triển du lịch văn hóa…… 122

3.2.5.2 Các cơ sở, đơn vị du lịch……… 126

3.2.5.3 Chính quyền địa phương……… 127

3.2.6 Giải pháp về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa……… 128

3.2.7 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa và tài nguyên du lịch văn hóa……… 130

3.2.7.1 Giải pháp vĩ mô… ……… 130

3.2.7.2 Giải pháp vi mô……….……… 131

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3……… ……… 132

KẾT LUẬN……… … 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………… 136

Trang 6

Trong những năm gần đây, thị trường châu Á đã và đang trở thành một thị trường hấp dẫn thu hút các quốc gia của các châu lục khác Đây là vùng đất còn nhiều điều cần được khám phá, đặc biệt là yếu tố văn hóa Trong dòng chảy này, Việt Nam với những di sản văn hóa có một vai trò hết sức quan trọng

Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dạng trong thống nhất Ở đó có sự giao lưu

và tiếp biến giữa các nền văn hóa, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á với nền văn minh lúa nước Điều này được thể hiện rất rõ qua những yếu tố văn hóa bản địa và ngoại lai Có được đặc điểm này một phần là nhờ vào vị trí của đất nước ta – cửa ngõ Đông Nam Á, gần với Trung Quốc, phần khác phụ thuộc vào yếu tố con người thông minh, sáng tạo và sẵn sàng đón nhận những yếu tố văn hóa khác

Trước sự đa dạng độc đáo trong văn hóa Việt Nam, một loại hình du lịch mới đã ra đời, gắn liền với đời sống cư dân Việt và giải quyết được nhu cầu khám phá, tìm hiểu của khách nước ngoài nói riêng và khách du lịch nói chung, đó là loại hình du lịch văn hóa Đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, du lịch văn hóa được xem như là sản phẩm đặc thù, có thế mạnh và tiềm năng phát triển lớn, thu hút nhiều khách du lịch, đặc biệt

là du khách quốc tế

Bắc Ninh là một vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, có tài nguyên du lịch nhân văn phong phú Với mật độ các di tích lịch sử dày đặc, các làng nghề truyền thống, di sản văn hóa thế giới – quan họ… du lịch văn hóa Bắc Ninh đã tạo nên nhiều sản phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn du khách Bên cạnh đó, sự thuận lợi về vị trí địa lý, cơ sở vật chất, công tác tổ chức quản lý được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của du lịch văn hóa Bắc Ninh, khiến đó trở thành thế mạnh du lịch của tỉnh nhà Tuy vậy, căn cứ vào thực trạng tình hình thực tế việc khai thác sản phẩm du lịch đã cho thấy việc đầu tư phát triển du lịch văn hóa tại Bắc Ninh chưa đúng mức, còn nhỏ lẻ, chưa có tính đồng bộ cao, các sản phẩm còn đơn điệu, nghèo nàn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có để làm hài lòng, thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch dẫn đến việc chưa thu hút được lượng lớn khách du lịch đến với Bắc Ninh

Căn cứ vào thực trạng và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh” nhằm tìm ra những định hướng và giải pháp

để nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh trong thời gian tới

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ rất sớm, đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Hà Bắc nói riêng và văn hóa Bắc Ninh nói chung với rất nhiều góc nhìn và nhằm mục đích khác nhau Về phương diện lý luận liên quan trực tiếp đến văn hóa truyền thống Bắc Ninh xưa (Hà Bắc) có các nhà nghiên cứu tiêu biểu

Tuy nhiên các công trình đó chỉ tập trung vào vấn đề sưu tầm và bảo tồn các giá trị văn hóa hoặc có chăng chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó của văn hóa để phục vụ phát triển du lịch còn việc nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa của tỉnh Bắc Ninh nhằm bảo

Trang 7

5

tồn và phục vụ phát triển du lịch thì chưa có một công trình nào được công bố Chính vì lẽ

đó, tác giả đã chọn đề tài của mình theo hướng nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa ở Bắc Ninh nhằm phục vụ phát triển du lịch

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

● Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh

● Nhiệm vụ nghiên cứu

Đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa, cũng như bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch của Tỉnh

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

● Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn các điều kiện phát triển du lịch văn hóa;hiện trạng

hoạt động du lịch văn hóa; Các tổ chức, quản lý, cơ sở vật chất, sản phẩm du lịch văn hóa

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

- Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh

- Phương pháp khảo sát thực địa

6 Bố cục luận văn

Luận văn gồm 133 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm ba chương chính:

Chương 1: Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch văn hóa

tỉnh Bắc Ninh

7 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa giá trị tài nguyên du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh

- Qua khảo sát thực tế về hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh từ đó đánh giá điểm

mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh

- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch văn hóa tỉnh

Bắc Ninh

Trang 8

6

Chương 1: ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH

1.1 Tài nguyên du lịch

1.1.1 Tài nguyên du lịch

Vị trí địa lý: Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ

Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời

Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh của cả nước, tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Là cửa ngõ phía Đông Bắc và là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long

và có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng

Với vị trí địa kinh tế thuận lợi sẽ là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bắc Ninh Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô thị và các điểm dân cư của tỉnh thì các đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một hệ thống hoà nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội và có vị trí tương tác nhất định với hệ thống

đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Điều kiện tự nhiên:

Địa hình: Địa hình đồi núi ở Bắc Ninh mặc dù chiếm tỷ lệ rất nhỏ và không tạo nên

được những cảnh quan đặc sắc nhưng cũng làm giảm đi sự đơn điệu của địa hình đồng bằng Bên cạnh đó, một số khu vực có địa hình này còn là nơi hình thành các di tích lịch sử có giá trị như các chùa, đền mang ý nghĩa tâm linh quan trọng đối với người dân nơi đây Địa hình còn có điều kiện thuận lợi để hình thành nên các khu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng cuối tuần phục vụ khách du lịch nội địa từ thủ đô và các tỉnh thành lân cận

Khí hậu: Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt

độ trung bình năm 23,30C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,90C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,80C (tháng 1) Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất

và tháng thấp nhất là 13,10

C

Mặc dù không có những hiện tượng thời tiết đặc biệt, có giá trị hấp dẫn khách du lịch, đóng vai trò như tài nguyên du lịch nhưng khí hậu, thời tiết ở Bắc Ninh đã bổ trợ cho các yếu tố khác để làm nên nét hấp dẫn của Bắc Ninh đối với khách du lịch Điển hình là khí hậu 4 mùa tạo nên cảnh sắc làng quê thay đổi theo thời gian của năm: mờ ảo trong mưa phùn nhưng náo nức không khí lễ hội vào mùa xuân; rộn ràng thu hoạch mùa màng trong mùa hạ; êm ả, thanh bình trong sắc màu không gian rõ nét của mùa thu và tĩnh lặng, trầm mặc trong mùa đông lạnh giá

Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu của Bắc Ninh thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động du lịch Khoảng thời gian có bão và mùa mưa phùn có ảnh hưởng đến một số hoạt động du lịch nhưng ảnh hưởng không lớn vì tính khắc nghiệt của các hiện tượng thời tiết này đã giảm bớt rất nhiều ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong đó có Bắc Ninh

Sông ngòi: Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc Trên địa bàn tỉnh có

3 hệ thống sông chính chảy qua gồm: sông Thái Bình, sông Cầu và sông Đuống

Sông Thái Bình có tổng chiều dài 93km, trong đó có đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh dài 17km

Trang 9

7

Sông Cầu có tổng chiều dài 290km, trong đó có đoạn chảy qua địa phận Bắc Ninh dài 70km Đây là con sông có ý nghĩa quan trọng nhất trong phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Ninh

Sông Đuống có tổng chiều dài 65km, trong đó đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh dài 42km

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh còn có một số con sông nhỏ chảy qua như sông

Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cẩm Giàng, sông Dâu, sông Đông Côi…và nhiều ngòi lạch

Sông ngòi ở Bắc Ninh có vai trò là nguồn cung cấp nước và tiêu úng cho sản xuất nông nghiệp còn là tuyến giao thông đường thủy quan trọng của địa phương và các tỉnh lân cận

Bên cạnh đó, các sông này, đặc biệt là sông Thái Bình, sông Cầu và sông Đuống là sông chảy qua những làng mạc trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời Hay nói cách khác, làng mạc, các khu quần cư của người Việt trên địa bàn Bắc Ninh đã hình thành dọc bờ các con sông này, cư dân nơi đây dựa vào sông và gắn bó với sông không chỉ qua các hoạt động phát triển kinh tế mà còn trong đời sống tinh thần Các di tích lịch sử văn hóa có giá trị ở Bắc Ninh hình thành cùng làng mạc dọc sông; các truyền thuyết dân gian, những làn điệu dân ca trữ tình hình thành nơi đây…tất cả tạo nên một bức tranh sinh động về làng quê Việt,

là nguồn tài nguyên có giá trị khai thác hình thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước như sản phẩm du lịch làng quê, sản phẩm du lịch sông nước

Tài nguyên du lịch tự nhiên của Bắc Ninh không nhiều do đặc điểm tự nhiên của tỉnh là địa hình đơn điệu, không có biển, không có rừng Các điều kiện tự nhiên ở đây có giá trị gắn kết với các giá trị văn hóa để tạo nên sức hấp dẫn riêng đối với du khách, ít có khả năng khai thác một cách độc lập để hình thành nên các sản phẩm du lịch riêng

Ngoài tài nguyên du lịch sông nước dựa vào hệ thống sông ngòi đã đề cập ở trên, trên địa bàn tỉnh còn có cụm đồi thấp thuộc huyện Gia Bình có điều kiện thuận lợi để đầu tư khu vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần

Hệ động, thực vật:Nếu nhưViệt Nam được biết đến như là một trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú thì Bắc Ninh cũng đóng góp nhiều hệ sinh thái động, thực vật khá đa dạng Tuy là một tỉnh có diện tích nhỏ của cả nước song Bắc Ninh cũng có một hệ sinh thái rừng, với tổng diện tích khoảng hơn 660 ha, phân

bố chủ yếu ở các huyện Quế Võ, Tiên Du Tổng trữ lượng gỗ khoảng hơn 3.200m3, bao gồm rừng phòng hộ hơn 360m3, rừng đặc dụng gần 2.920m3 Đặc biệt có nhiều khu vực có các hệ sinh thái tự nhiên như các hệ thống đầm, ao, hồ, sông ngòi khá dày đặc có vai trò cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời còn tạo ra các mặt thoáng có tác dụng điều hòa không khí

Mặc dù được cho là có nhiều loài quý hiếm cần bảo vệ nhưng Bắc Ninh hệ động thực vật so với các vùng khác vẫn được đánh giá là ít tài nguyên và các biện pháp bảo tồn đang không có hiệu quả như đã nói ở trên Ngoài ra Bắc Ninh là một tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, chính vì thế diện tích đất cho công tác bảo tồn này càng ngày bị thu hẹp dần, nếu không có phương án cụ thể trong tương lai gần Bắc Ninh sẽ trở thành một tỉnh nghèo tài nguyên về hệ động thực vật

1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

1.2.2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể của tỉnh Bắc Ninh

Di tích lịch sử văn hóa: Với đặc điểm nổi bật là một trong những địa phương mang

đặc trưng của nền văn minh lúa nước vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Ninh có hệ thống tài nguyên nhân văn rất đa dạng và phong phú Trong đó, có giá trị nhất về mặt văn hóa, lịch sử

Trang 10

8

và phát triển du lịch phải kể đến hệ thống di tích lịch sử, văn hóa mà tiêu biểu là các đình,

chùa

Toàn tỉnh có khoảng 1.259 điểm di tích Trong đó, tính đến 31/12/2011, có 428 điểm

di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng (gồm 191 di tích được công nhận là di tích cấp quốc gia và 237 di tích được công nhận di tích cấp địa phương)

(Xem bảng 1.1: Phân bố di tích được công nhận cấp quốc gia và địa phương trên địa bàn tỉnh)

Trong tổng số 482 di tích được xếp hạng thì đình, chùa, đền là những loại hình chiếm

số lượng đại đa số

Di sản văn hóa Tranh Đông Hồ: Tranh Đông Hồ hay tên đầy đủ là tranh in từ bản

khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông

Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới

1.1.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể của tỉnh Bắc Ninh

Di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Quan họ Bắc Ninh”: Dân ca quan họ Bắc Ninh

là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, nguồn gốc ở vùng văn hóa Bắc Ninh Loại hình dân ca này chủ yếu phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài quan họ đều có một giai điệu riêng Cho đến nay, có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký

âm Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá Kho ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan

họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc

Giang

Ngày 30 tháng 09 năm 2009, tại kỳ họp thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 02 tháng 10 năm 2009), Dân ca Quan họ Bắc Ninh cùng với Ca trù được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp sau Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên

Lễ hội truyền thống tiêu biểu: Lễ hội truyền thống là đối tượng du lịch văn hóa tiêu

biểu của tỉnh Bắc Ninh Tính đến nay, trong số hơn 600 lễ hội lớn nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng hơn 40 lễ hội quan trọng, được duy trì tổ chức hàng năm

Nhiều di tích lịch sử văn hóa trên đia bàn tỉnh Bắc Ninh, trong đó phần lớn là các đình, đền là nơi thờ các vị danh nhân tiền bối có công với đất nước, với địa phương, các vị trạng nguyên khoa bảng đã làm rạng danh quê hương, đất nước, tạo dựng truyền thống học tập cho quê hương ngày nay Các lễ hội tổ chức tại các đền, đình này hàng năm cũng là dịp

để tưởng nhớ và tôn vinh các vị danh nhân này Các đối tượng này nếu khai thác tốt sẽ trở thành những sản phẩm du lịch giáo dục lịch sử và truyền thống hấp dẫn, có hiệu quả cao

Các làng nghề thủ công truyền thống: Bắc Ninh từ xa xưa đã nổi tiếng là nơi có

nhiều nghề thủ công với hơn 60 làng nghề khác nhau như làng nghề làm tranh, làm giấy rèn, đúc đồng, khảm trai, chạm khắc, dệt, sơn mài… Các nghề này không những làm giàu cho người dân Kinh Bắc mà còn góp phần quan trọng hình thành nên hình ảnh của những người

“con gái Kinh Bắc” mà khi nhắc đến là người ta hình dung ra những người con gái xinh đẹp,

đảm đang, tháo vát, khéo léo và hát hay

Trên thực tế, những nghề có thể khai thác phục vụ khách du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh không còn làng nghề mà chỉ còn một đến một vài gia đình giữ được nghề Vì vậy rất khó khăn để xây dựng các sản phẩm du lịch phục vụ du khách Hiện nay, một số gia đình còn giữ được nghề truyền thống như nghề tranh ở Đông Hồ, nghề làm gốm ở Phù Lãng,

Trang 11

9

mặc dù quy mô nhỏ nhưng do tính chất độc đáo của nghề và sản phẩm nên vẫn tạo dựng được thương hiệu với khách du lịch Nếu các nghề này được khôi phục thành làng như khởi thủy thì giá trị đối với du lịch sẽ rất lớn Công nghệ in tranh bằng bản khắc gỗ như tranh Đông Hồ chỉ còn một loại tranh Hàng Trống – Hà Nội nhưng mẫu mã và phương thức, nguyên liệu khác biệt nên về cơ bản, làng tranh Đông Hồ không có sự trùng lặp về sản phẩm Nghề làm gốm ở Phù Lãng có khó khăn hơn do có nét tương đồng về sản phẩm với làng gốm Bát Tràng ở Hà Nội và làng gốm Đông Triều ở Quảng Ninh, thêm vào đó, 3 làng gốm này đều nằm trên hoặc gần trục đường quan trọng đón khách du lịch nên có sự cạnh tranh trong khai thác hoặc phục vụ du lịch Tuy nhiên, nếu có định hướng rõ ràng để phát huy những nét độc đáo, khác biệt của sản phẩm gốm thì sẽ tiếp tục khẳng định tên tuổi trong lĩnh vực du lịch và mang lại hiệu quả cao cho người làm nghề

Nhìn chung, tài nguyên du lịch của Bắc Ninh khá phong phú và có giá trị, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn với 7 nét đặc trưng văn hóa tiêu biểu là: quê hương của dân ca Quan họ - Di sản văn hóa thế giới; văn hóa tâm linh; lịch sử văn hiến; lễ hội; khoa bảng; làng nghề và kiến trúc Đây là những giá trị nền tảng cho du lịch Bắc Ninh phát triển

Văn hóa ẩm thực: Mảnh đất Bắc Ninh là cái nôi văn hoá xứ Kinh Bắc với những

làng Việt cổ, những lễ hội truyền thống và những làn điệu dân ca quan họ Ẩm thực nơi đây cũng vì thế mà mang phong vị riêng đậm đà, hấp dẫn và quyến rũ như chính cái duyên của người Quan họ Chính vì thế khi nói đến văn hóa ẩm thực món ăn không chỉ đơn thuần là nói đến các món ăn đặc sản nổi tiếng như: bánh phu thê Đình Bảng, bánh khúc làng Diềm hay gà Đông Cảo hoặc món gà Hồ ngon nổi tiếng mà khi nói đến văn hóa ẩm thực Bắc Ninh nhất thiết phải đề cập đến không gian của làng quê Kinh Bắc với phong tục cổ của người Việt Trong mỗi bữa tiệc liên hoan hay những hội hè, đình đám đều không thể thiếu những

liền anh liền chị, trong chiếc áo mớ ba mớ bảy ngân nga làn điệu quan họ “Miếng trầu là đầu câu chuyện” Làn điệu mời trầu của anh hai, chị ba quan họ đón chào bạn ngay khi bạn

tham gia các buổi tiệc tại đây Ngoài ra, trong các lễ hội văn hóa dày đặc của miền quê Kinh Bắc không thể thiếu được các món ăn truyền thống để phục vụ người tham dự như một món quà thể hiện sự hiếu khách khi bạn đến với vùng quê giàu truyền thống này

1.2 Điều kiện về hạ tầng xã hội

Cơ sở hạ tầng là đòn bẩy thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Đối với ngành du lịch, cơ sở hạ tầng là yếu tố cơ sở nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch Trong kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật quan trọng nhất là mạng lưới phương tiện giao thông vận tải, hệ thống cung cấp điện năng, cấp

thoát nước và thông tin liên lạc trong đó có mạng lưới giao thông được đặt lên hàng đầu

cửa khẩu đường bộ ở các tỉnh bạn

Nhìn tổng thể, hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Ninh có một số đặc điểm cơ bản sau:

Về mạng lưới: Được hình thành từ nhiều năm trước đây nhưng cơ bản là khá hợp lý

về quy hoạch mạng lưới chung, đảm bảo cho xe ô tô đi từ tỉnh đến các xã, các thôn trong toàn tỉnh và liên hoàn với mạng lưới giao thông quốc gia Liên hệ với đường sắt và đường sông cũng có các tuyến đường bộ được nối với các cảng, ga và bến bãi ven sông

Về tình trạng kỹ thuật đường bộ: Trừ các tuyến quốc lộ, còn lại các tuyến đường

địa phương nhìn chung chưa tốt, nền đường, mặt đường hẹp Tỉnh lộ chủ yếu mới đạt tiêu

Trang 12

10

chuẩn đường cấp 5 đồng bằng (nền rộng 6,5m, mặt rộng 3,5m), còn các tuyến đường xã, đường trong thôn xóm chỉ đạt cấp B, cấp A nông thôn (nền rộng 4-5m, mặt rộng 3m) Hiện tại chỉ có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và một số tuyến đường huyện được trải nhựa, còn lại đa

số vẫn là đường đất hoặc cấp phối các loại, tuy nhiên hầu hết các tuyến đường nội thôn, xóm hầu như đã được gạch hóa hoặc bê tông hóa Các tuyến đường nội khu công nghiệp đến nay cơ bản được xây dựng đảm bảo quy hoạch và tải trọng cao

Về đường sông: Bắc Ninh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu dài 70km, sông

Đuống dài 42km và sông Thái Bình dài 17km Cả 3 con sông này đều có khả năng cho các phương tiện thủy có tải trọng 200 – 400 tấn đi qua, riêng sông Cầu còn 10km thượng nguồn vào mùa khô chỉ có khả năng cho thuyền 50 tấn đi qua

Trên mạng lưới đường sông của Bắc Ninh hiện tại có 3 cảng lớn là:

Cảng Đáp Cầu (do Cục đường sông quản lý): có bãi chứa 2ha, trước đây lượng hàng lưu

thông qua là 200.000 tấn/năm, nay chỉ còn 100.000 tấn/năm chủ yếu là vật liệu xây dựng

Cảng chuyên dùng nhà máy kính Đáp Cầu: có công suất trên 30.000 tấn/năm

Cảng chuyên dùng nhà máy kính nổi Quế Võ tại Đáp Cầu: có công suất 35.000 tấn/năm

Ngoài 3 cảng này còn có nhiều bãi xếp dỡ vật liệu khai thác cát chưa được đầu

tư xây dựng như: Hồ, Đông Xuyên, Kênh Vàng… hàng năm xếp dỡ một lượng hàng lớn, chủ yếu là vật liệu xây dựng

Về đường sắt: Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn chạy qua dài gần

20km với 4 ga, chất lượng đường và ga đều đã xuống cấp, khả năng sử dụng khai thác hạn chế, các ga chủ yếu tiếp nhận một số hàng vật liệu xây dựng, phân bón và hàng tiêu dùng, lượng hành khách qua lại ngày càng có xu hướng giảm Hiện nay, Bắc Ninh đang xây dựng tuyến đường sắt Yên Viên – Hạ Long, đoạn qua Bắc Ninh dài 18km với 2 ga là Nam Sơn và Châu Cầu

Về đường hàng không: Bắc Ninh không có cảng hàng không nhưng cảng hàng

không quốc tế Nội Bài chỉ cách thành phố Bắc Ninh khoảng 40km (tương đương khoảng cách đến trung tâm thành phố Hà Nội) về phía Tây và cách thị xã Từ Sơn 25km với tuyến đường cao tốc Nội Bài – Bắc Ninh hiện đại và thuận lợi cho du khách đến Bắc Ninh bằng đường không

1.2.2 Hệ thống điện

Bắc Ninh có hệ thống điện lưới từ tỉnh về đến huyện, xã và từng thôn xóm được xây dựng đáp ứng nhu cầu điện sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên trước đây mạng lưới điện không đồng bộ, chất lượng kém, không đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế,

xã hội, trong đó có du lịch Thời gian qua, ngành điện của tỉnh đã đầu tư 400 tỷ đồng để xây dựng cải tạo hệ thống điện Đến nay toàn tỉnh có 173,4km đường dây 110KV, 465,3km đường dây 35KV, 65,2km đường dây 6 – 10 – 22KV và 2.117km đường dây 0,8KV Nhìn chung hệ thống điện đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt

của nhân dân

1.2.3 Hệ thống cấp, thoát nước

Cấp nước: Nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trước đây khá phong phú

với trữ lượng đạt hơn 235 ngàn mét khối một ngày đêm Bên cạnh đó, với mạng lưới sông ngòi dày đặc, Bắc Ninh có trữ lượng nước mặt lớn với hàm lượng khoáng chất đảm bảo khai thác cấp nước sinh hoạt Tuy nhiên thời gian gần đây do việc khai thác nước ngầm phục vụ công nghiệp và đô thị còn thiếu kiểm soát nên ảnh hưởng nhiều đến trữ lượng nước ngầm,

đặc biệt vào mùa khô

Thoát nước: Hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt

1.2.4 Hệ thống thông tin liên lạc

Trang 13

11

Cùng chung đặc điểm như phần lớn các địa phương khách trên cả nước, Bắc Ninh có dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển mạnh, đảm bảo liên lạc thông suốt Không những thế, hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh vẫn tiếp tục được hiện đại hóa, đã đầu tư thêm 1 tổng đài, 17 trạm truyền dẫn cáp quang đến tất cả các huyện thị, 99 điểm bưu điện văn hóa

xã và 149 điểm bưu điện văn hóa thôn, rút ngắn bán kính phục vụ xuống dưới 1km/điểm phục vụ, thấp hơn mức bình quân cả nước Bắc Ninh cũng là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước xây dựng và đưa vào sử dụng cổng giao tiếp điện tử, bán điện tử phục vụ cho

công tác quản lý và hiện đại hóa dịch vụ thông tin

Nhìn chung, cơ sở hạ tầng ở Bắc Ninh có nhiêu thuận lợi nhưng bên cạnh đó không tránh khỏi những hạn chế Vì vậy trong thời gian tới cần đầu tư cho thành phần này để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của du lịch của tỉnh

1.3 Điều kiện cơ chế, chính sách về phát triển du lịch

Có thể kể đến một số văn bản pháp quy về phát triển du lịch như: nghị quyết số

45/CP ngày 22/6/1993 của thủ tướng chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển du lịch, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010, luật du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam…Và năm 2011, tổng

cục du lịch Việt Nam đã hoàn thiện Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2011 –

Trong tương lai, Bắc Ninh có tiềm năng để phát triển du lịch đường sông, đặc biệt là

du lịch sông Đuống Vì vậy, việc nghiên cứu quy hoạch, đầu tư và quản lý phát triển sản phẩm du lịch này cần được triển khai trong tương lai gần

1.4.2 Khó khăn

Hạn chế cơ bản về nguồn lực cho phát triển du lịch Bắc Ninh là:

- Các điều kiện về tự nhiên không phong phú dẫn đến nghèo nàn tài nguyên du lịch tự nhiên;

- Đây là vùng đất phát triển lâu đời nên phần lớn diện tích đất có sự tập trung dân cư với mật độ cao, quỹ đất dành cho phát triển các dịch vụ công ích và công trình dịch vụ du lịch không còn nhiều, ở một số điểm tài nguyên có giá trị thì rất hạn chế về không gian để mở rộng dịch vụ

- Các tài nguyên nhân văn (trừ thưởng thức quan họ và nghiên cứu tìm hiểu các di tích lịch sử) chủ yếu phù hợp với khách nội địa, ít phù hợp nhu cầu của khách quốc tế;

- Nằm trên trục đường nối trung tâm gửi khách lớn nhất miền Bắc với kỳ quan thiên nhiên thế giới hấp dẫn du khách nhất Việt Nam nhưng lại quá gần trung tâm thành phố đã có sự phát triển về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nên khó khai thác dịch vụ lưu trú

Trang 14

12

Từ những nhận định hạn chế này, tỉnh Bắc Ninh cần nghiên cứu và áp dụng những giải pháp phù hợp, đầu tư hợp lý thì mới khai thác có hiệu quả những nguồn lực của tỉnh và khắc phục được những hạn chế nêu trên

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Bắc Ninh - mảnh đất cổ kính, một làng quê văn hiến với những con người siêng năng, cần cù, chịu khó, thủy chung trong cuộc sống, tinh tế lịch lãm trong ứng xử, thông minh tài ba trong học hành Những con người ấy đang hàng ngày, hàng giờ miệt mài cống hiến dựng xây kiến thiết cho quê hương ngày một thêm giàu đẹp Bên cạnh đó, với tấm lòng yêu say các sinh hoạt văn hóa truyền thống, họ đã góp phần tạo ra cho mảnh đất nơi đây một kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng mà không phải bất cứ làng quê nào cũng có được Sự phong phú, đa dạng đó còn được thiết lập qua cả một chiều dài lịch sử và sẽ ngày càng phát triển hơn nữa bởi vì những con người nơi đây luôn biết giữ gìn, hòa mình vào các tài nguyên văn hóa đó Trải qua bao năm tháng, Bắc Ninh vẫn luôn tự hào là mảnh đất chứa đựng nhiều dấu ấn văn hóa nhất Chính những dấu ấn văn hóa đó là những điều kiện tiên quyết cho việc phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh

Bên cạnh đó, những điều kiện về kinh tế xã hội, những cơ chế chính sách của Đảng, nhà nước và của ngành du lịch cũng có tác động mạnh mẽ thúc đẩy phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng Với những điều kiện đó, đáng lẽ ra du lịch văn hóa Bắc Ninh phải phát triển ngang tầm với các địa phương khác trong khu vực Tuy nhiên, hoạt động du lịch ở mảnh đất tươi đẹp, giàu tài nguyên này vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng của tỉnh Các thực trạng hoạt động du lịch đó sẽ được tác giả thống kê, phân tích ở chương sau

Trang 15

Là một tỉnh có tiềm năng phát triển du lịch văn hóa, trong những năm qua, Bắc Ninh

đã và đang trở thành một điểm du lịch thu hút đông đảo khách du lịch tới tham quan Theo

số liệu thống kê về nguồn khách du lịch cho thấy, trong giai đoạn 2001 – 2011, lượng khách

du lịch đến Bắc Ninh có xu hướng ngày càng tăng (tính trên cả phương diện khách du lịch nội địa và quốc tế), từ 38.000 lượt khách năm 2001 đến năm 2011 đã tăng lên 237.191 lượt khách, mức tăng trưởng bình quân đạt 20% Đặc biệt, số lượng khách du lịch đến Bắc Ninh tăng khá đồng đều và có sự tăng trưởng mạnh từ sau năm 2006 đến 2011 (từ 73.615 lượt khách năm 2006 tăng lên 103.254 lượt trong năm 2007, những năm tiếp theo cũng tăng từ 20.000 đến 30.000 lượt khách trong một năm) Mặc dù năm 2008 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế và thị trường du lịch của Việt Nam nhưng số lượng khách tham quan Bắc Ninh vẫn có sự tăng trưởng Trong đó, khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh từ 36.500 (năm 2001) lên 227.408 lượt khách (năm 2011) và lượt khách quốc tế đến Bắc Ninh cũng tăng từ 1.500 lượt lên 9.783 lượt Điều này đã khẳng định sự đầu tư và phát triển đúng cách các tiềm năng du lịch văn hóa của tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây

(Xem bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến Bắc Ninh giai đoạn 2001 - 2011)

2.1.1.1 Khách quốc tế

Xem bảng 2.2: Khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh (2001 – 2011), ta có thể thấy số

lượng khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh trong những năm vừa qua (2001 – 2011) có sự tăng trung bình hàng năm 20,7% Bảng thống kê cũng cho thấy thị trường khách quốc tế trọng điểm đến với Bắc Ninh là Bắc Mỹ, Đông Nam Á Trong đó chủ yếu là các nước Mỹ, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan Mục đích chính của họ là tham quan và tìm hiểu di tích lịch sử, nghiên

cứu giá trị văn hóa tại các di tích tiêu biểu, nổi tiếng như đền Đô, chùa Dâu, tranh Đông Hồ…

Chiếm thành phần chủ đạo trong số lượng khách du lịch quốc tế tới Bắc Ninh phải

kể đến nguồn khách đến từ trong khu vực Đông Nam Á, thường chiếm 60% trong tổng số khách quốc tế đến Bắc Ninh Có được điều này là do nền văn hóa của thị trường khách Đông Nam Á có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Việt Nam nên có sức hút hơn cả

Mặc dù vậy sự tăng trưởng trên diễn ra khá đồng đều song không có sự đột biến và tăng mạnh Trung bình hằng năm lượng khách quốc tế đến với Bắc Ninh tăng thêm khoảng

1000 lượt khách và chiếm một tỷ lệ khá thấp trong tổng lượt khách du lịch tới Bắc Ninh

Cũng lý do giống với khách du lịch nội địa, tỷ lệ khách du lịch quốc tế vãng lai đến Bắc Ninh cũng đạt 70% cho đến 50% trong thời kỳ 2001 – 2011 Điều này đã phần nào nói lên mục đích du lịch của khách quốc tế đến với Bắc Ninh chủ yếu là tham quan, tìm hiểu di tích lịch sử, nghiên cứu giá trị văn hóa tại các di tích tiêu biểu trên địa bàn (chiếm 45 – 46% lượng khách phân theo mục đích chuyến đi) Vài năm gần đây đối tượng khách này đang có

xu hướng tìm hiểu và thưởng thức di sản dân ca Quan họ

Trên đây là những con số đáng khích lệ đối với tỉnh song nó cũng đặt ra cho tỉnh bài toán về thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế Đây là cơ hội để Bắc Ninh có thể giới thiệu tới bạn bè trong nước cũng như quốc tế hiểu rõ hơn về mảnh đất giàu truyền

Trang 16

Hà Nội (chiếm 45%) và các tỉnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (chiếm 20%), thường tập trung vào thời điểm đầu năm

(Xem Bảng 2.5: Khách du lịch nội địa đến Bắc Ninh (Giai đoạn 2001 – 2011)) 2.1.2 Phân tích đặc điểm nguồn khách đến với Bắc Ninh

2.1.2.1 Thành phần, độ tuổi, giới tính

Theo những đánh giá về lượng khách được trình bày ở phần trên, chúng ta có thể phân tích thành phần, độ tuổi và giới tính của khách du lịch đến với tỉnh Bắc Ninh Là một trong những cái nôi về văn hóa - nơi phát tích của Phật giáo Việt Nam, tỉnh Bắc Ninh đã để lại rất nhiều dấu ấn thông qua các di tích lịch sử Chính vì lẽ đó, lượng khách đến với Bắc Ninh chủ yếu là khách du lịch tín ngưỡng, tham quan các di tích lịch sử và thưởng thức nghệ thuật Điều này được thể hiện rất rõ vào thời điểm mùa xuân đầu năm khi lượng khách đến với Bắc Ninh thường bị quá tải, nhất là vào những ngày diễn ra hội Lim Tương ứng với mục đích của chuyến đi, thành phần khách tới Bắc Ninh cũng rất độc đáo, đó chủ yếu là những người làm ăn, buôn bán luôn coi trọng sự ảnh hưởng của yếu tố tâm linh trong cuộc sống Do đó, độ tuổi tương ứng với thành phần khách du lịch này thường là những người trung tuổi và tập trung chủ yếu vào đối tượng khách là phụ nữ Ngoài ra, một thành phần cũng đáng được chú ý khi họ chọn Bắc Ninh để đi du lịch, đó là những người muốn tham quan, tìm hiểu kiến trúc của các di tích lịch sử hay thưởng thức loại hình nghệ thuật đặc trưng của tỉnh như Quan họ Bên cạnh một lượng rất lớn khách du lịch nội địa, những loại hình du lịch này còn thu hút một số lượng không nhỏ khách du lịch quốc tế Đối tượng khách du lịch này thường là những người am hiểu và quan tâm tới những thành tựu văn hóa đặc sắc của tỉnh Chính vì vậy họ thường thuộc tầng lớp tri thức trong xã hội hay là những người có niềm đam mê khám phá văn hóa truyền thống

2.1.2.2 Quốc tịch

Mặc dù số lượng khách đến Bắc Ninh chủ yếu là khách nội địa (chiếm gần 90% trước năm 2006), song lượng khách quốc tế đến với tỉnh trong những năm gần đây đã có sự tăng trưởng Điều này đã chứng tỏ Bắc Ninh đã phần nào giới thiệu thành công nền văn hóa của tỉnh mình tới bạn bè quốc tế thông qua du lịch Tuy nhiên, trong thời gian tới, tỉnh sẽ phải cố gắng nhiều hơn để kích cầu lượng khách quốc tế tới tham quan Bắc Ninh nhiều hơn

2.1.2.3 Mức độ chi tiêu

Theo kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch do Tổng cục Thống kê và Tổng cục

du lịch tiến hành năm 2005 tại một số điểm danh lam thắng cảnh và khách sạn trên địa bàn Bắc Ninh, bình quân chi tiêu của khách du lịch:

- Khách du lịch quốc tế là 1,05 triệu VND/ngày/người trong đó khách quốc tế chi 300.000 VND cho dịch vụ lưu trú, 250.000 VND cho ăn uống 150.000 VND cho vận chuyển đi lại, 120.000 VND cho hoạt động tham quan…

- Khách du lịch nội địa chi 304.000 VND/ngày/người trong đó chi trung bình 178.000 VND cho dịch vụ lưu trú, 100.000 VND cho dịch vụ ăn uống, còn lại là cho các hoạt động khác

Mặc dù vậy theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh thì năm 2011 mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế đạt 80 USD (khoảng 1,6 triệu

Trang 17

15

đồng) và của khách du lịch nội địa đạt 25 USD (khoảng 550.000 đồng), cao hơn con số thống kê năm 2005 của Tổng cục Thống kê Rõ ràng đây là mức chi tiêu khá cao so với các địa phương khác trong trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận

2.1.2.4 Thời gian lưu trú

Số lượng ngày khách quốc tế và khách nội địa lưu trú tại các khách sạn ở Bắc Ninh tương đối ngắn, trung bình chỉ khoảng 0,9 – 1,4 ngày… Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do Bắc Ninh tương đối gần với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh nên điều kiện đi lại cũng không khó khăn Do đó khách đi từ Hà Nội thường chỉ đến tham quan các điểm di tích sau

đó quay trở về Hà Nội hoặc đến các tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh để nghỉ chứ không nghỉ tại Bắc Ninh Một mặt khác là cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du lịch của tỉnh chưa cao, ít có các dịch vụ giải trí bổ sung trong khi đó Bắc Ninh lại tiếp giáp với các khu du lịch nổi tiếng của cả nước như Hà Nội, Hạ Long, điều này cũng tạo ra những bất lợi cho tỉnh

2.1.3 Phân tích nhu cầu của khách

2.1.3.1 Du lịch tín ngưỡng tâm linh

Là loại hình du lịch mà khách thường tìm đến các di tích đình, chùa, các công trình tôn giáo để vãn cảnh, cúng bái, cầu nguyện Du khách sẽ hòa vào dòng tín đồ để cảm nhận

vẻ yên bình, thanh thản của các di tích tôn giáo nổi tiếng

Từ những nhu cầu trên Bắc Ninh lại là một mảnh đất còn lưu giữ rất nhiều các giá trị truyền thống văn hóa, đặc biệt là các di tích tôn giáo, tín ngưỡng như đình, chùa Chính điều này đã làm nên sức hút cho loại hình du lịch tín ngưỡng tâm linh, là điểm đến cho rất nhiều các du khách vào mỗi dịp đầu năm Theo các chuyên gia đánh giá, số lượng khách du lịch đến Bắc Ninh đông nhất là vào những thời điểm đầu năm và mục đích du lịch chủ yếu của các du khách tới đây là du lịch tín ngưỡng tâm linh

Đây sẽ là một lợi thế mà có lẽ trong những năm tiếp theo, Bắc Ninh sẽ phải tiếp tục phát huy và quảng bá sâu rộng hơn nữa để thu hút bạn bè trong và ngoài nước Tuy nhiên, đây cũng là một thách thức mà tỉnh cần phải đầu tư nhiều hơn nữa để làm đa dạng các loại hình du lịch, khiến cho du khách đến với Bắc Ninh nhiều hơn

2.1.3.2 Tham quan

Đây là một loại hình du lịch khá phổ biến ở Việt Nam Tuy nhiên, đối với Bắc Ninh, loại hình du lịch này chỉ thu hút được một số đối tượng khách du lịch nhất định, đặc biệt là khách quốc tế Nếu như khách nội địa đến với tỉnh tập trung đông vào thời điểm đầu năm theo mục đích tín ngưỡng tâm linh là chính, có thể kết hợp luôn với tham quan (yếu tố này được xem nhẹ hơn) thì khách du lịch quốc tế lại chọn tham quan các công trình di tích lịch

sử, tôn giáo là chính và thường tập trung rải rác vào các thời điểm trong năm Điều này cũng

dễ hiểu bởi tâm lý của khách du lịch quốc tế thường muốn khám phá, hiểu biết nhiều hơn về đất nước mà họ đi du lịch, họ muốn tìm hiểu về những thứ được coi là vật chất, cái mà được gọi là thực thể khách quan nhiều hơn là yếu tố tinh thần Mà Bắc Ninh là một trong những cái nôi của văn hóa, là nơi phát tích của Phật giáo và có vị trí hết sức thuận lợi, cho nên đây cũng là một điểm dừng chân hấp dẫn đối với các du khách nước ngoài

2.1.3.3 Nghỉ dưỡng

Nghỉ dưỡng là loại hình du lịch khá quen thuộc trong du lịch Việt Nam những năm gần đây Tên gọi của loại hình này xuất phát từ mục đích của khách khi đi du lịch, đó là vừa kết hợp tham quan đồng thời vừa nghỉ ngơi, thư giãn Loại hình này chủ yếu dành cho những người làm những công việc căng thẳng hay những người chữa bệnh Nói chung, khi khách du lịch lựa chọn hình thức này tức là họ mong muốn được nghỉ ngơi nhiều hơn trong khi đi du lịch và thời gian đi

du lịch theo mục đích này cũng tương đối dài Nắm bắt được tâm lý này, ngành du lịch đã định hướng trong việc đầu tư cho loại hình này thông qua việc xây dựng các khu resort, các khu dưỡng

Trang 18

2.1.3.4 Thưởng thức nghệ thuật

Thưởng thức nghệ thuật trong những năm gần đây đã trở thành một loại hình du lịch quen thuộc Mục đích của loại hình này là thưởng thức các sản phẩm du lịch mang tính nghệ thuật cao, thiên về các sản phẩm tinh thần nhiều hơn Nói cách khác, thưởng thức nghệ thuật chính là loại hình du lịch được cấu thành từ văn hóa Tuy nhiên, đây chỉ là một hoạt động đan xen với các loại hình du lịch khác Nhưng để loại hình du lịch này hoạt động và phát triển thì

không phải bất cứ tỉnh nào cũng làm được, nó còn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của chính tỉnh đó

Tuy nhiên Bắc Ninh được xem là một tỉnh trong những tỉnh may mắn khi có lợi thế trong loại hình du lịch này Năm 2009, Bắc Ninh vinh dự đón nhận bằng công nhận Quan họ là di sản văn hóa phi vật thể thế giới bởi UNESCO Điều này không chỉ đem lại tự hào cho tỉnh mà cho toàn đất nước Từ đó, khách du lịch trong và ngoài nước biết đến Bắc Ninh nhiều hơn và nhu cầu thưởng thức di sản văn hóa thế giới tăng cao Loại hình thưởng thức nghệ thuật cũng nhanh chóng trở thành một trong những hoạt động du lịch trọng tâm của tỉnh cũng như đối với cả vùng đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, thực tế cho thấy loại hình này vẫn chưa thu hút được đông đảo khách tham quan, đặc biệt là khách nội địa Họ chỉ tham gia vào loại hình này khi kết hợp cùng với mục đích tín ngưỡng, lễ hội Đồng thời, công tác hoạt động của loại hình này còn chưa phổ biến, tính thương mại hóa đã làm thay đổi một phần trong giá trị văn hóa của nó Cho nên, để làm tốt công tác này, tỉnh Bắc Ninh càng phải chú trọng và quan tâm đúng mức với loại hình mang màu sắc rất riêng của tỉnh

Kết hợp với thưởng thức làn điệu dân ca Quan họ Bắc Ninh, khách du lịch đến Bắc Ninh còn rất quan tâm vào việc tham gia các hoạt động trong lễ hội và thưởng thức các giá trị văn hóa tinh thần trong lễ hội đó Loại hình này phổ biến vào thời điểm đầu năm bởi đây mới là mùa ra đời của các lễ hội trong đời sống người Việt Thời gian này, khách du lịch thường kết hợp với du lịch tín ngưỡng tâm linh với loại hình này Đây cũng là cơ hội để tỉnh Bắc Ninh quảng bá, giới thiệu tới các du khách về hoạt động của du lịch văn hóa tỉnh nhiều hơn

2.2 Thực trạng khai thác các giá trị văn hóa phục vụ du lịch

Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng đến năm 2030, tỉnh Bắc Ninh đã xác định phát triển du lịch văn hóa là chủ yếu bởi nguồn tài nguyên nhân văn phong phú và các yếu tố nuôi dưỡng tài nguyên văn hóa dồi dào Vì vậy, tỉnh đã xây dựng và khai thác một số thành tố văn hóa tiêu biểu nhằm phục vụ

du lịch dựa trên cả hai nguồn tài nguyên: vật thể và phi vật thể

2.2.1 Khai thác quan họ phục vụ du lịch

Trước khi quan họ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, quan họ đã thu hút khá nhiều sự tìm hiểu và thưởng thức của du khách trong và ngoài nước qua những lễ hội truyền thống của Bắc Ninh, những cuộc thi hát quan họ… Du khách biết đến và yêu thích quan họ bởi cái hay, cái đẹp vốn có của nó Đặc biệt, Bắc Ninh hàng năm có rât nhiều du khách tới lễ hội để được được đắm chìm trong không khí thấm đượm tình qun họ, duyên quan họ Không phải ngẫu nhiên người ta bảo Hội Lim (Tiên Du) là lễ hội đặc sắc vùng quan họ Không biết bởi duyên trời hay tình người quan họ đằm thắm mà giã bạn rồi, du khách thập phương cứ vương vấn mãi câu hát “Người ở đừng về” … Và vì thế, cứ 12, 13 tháng Giêng hàng năm, không hẹn mà gặp, người người nô nức kéo về vùng Lim trẩy hội

Ngày đăng: 17/05/2021, 08:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN