Với đề tài nghiên cứu Du lịch tâm linh tại tỉnh Tây Ninh nghiên cứu trường hợp khu du lịch núi Bà Đen và Tòa Thánh Tây Ninh, tác giả mong muốn đưa ra những phân tích sâu sắc và toàn di
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN THỊ HỒNG THOA
DU LỊCH TÂM LINH TẠI TỈNH TÂY NINH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP KHU DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN VÀ
TÒA THÁNH TÂY NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGÔ THANH LOAN
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tự tôi tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tế địa phương Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TP HCM, ngày 10 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ HỒNG THOA
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn TP HCM và các cán bộ Khoa Việt Nam Học đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn đến Tiến sĩ Ngô Thanh Loan, người hướng dẫn khoa học đã tận tình, chu đáo và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh, Ban quản lý khu du lịch quốc gia núi Bà Đen, Ban quản lý Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, cùng gia đình, bạn bè đã góp ý, động viên giúp đỡ tôi cả trong quá trình thực hiện đề tài
Tác giả luận văn
TRẦN THỊ HỒNG THOA
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 9
6.1 Ý nghĩa khoa học 9
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 9
7 Bố cục của luận văn 9
CHƯƠNG 1 11
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 11
1.1 CÁC KHÁI NIỆM 11
1.1.1 Tâm linh 11
1.1.2 Văn hóa tâm linh 12
1.1.3 Tín ngưỡng 13
1.1.4 Tôn giáo 16
1.1.5 Hành hương 18
Trang 61.1.6 Du lịch 18
1.1.7 Du lịch văn hóa 20
1.1.8 Du lịch văn hóa tâm linh 21
1.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 22
1.2.1 Lý thuyết chức năng 22
1.2.2 Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa 23
1.3 TỔNG QUAN VỀ TỈNH TÂY NINH 24
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên 24
1.3.2 Đặc điểm dân cư 26
1.3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 27
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2 31
TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA CỦA TỈNH TÂY NINH 31
2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa của tỉnh Tây Ninh 31
2.1.1 Tài nguyên văn hóa vật thể 31
2.1.2 Tài nguyên văn hóa phi vật thể 38
2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh tại Núi Bà Đen 41
2.2.1 Vị trí và nguồn gốc tên gọi núi Bà Đen 41
2.2.2 Hoạt động hành hương viếng các cơ sở thờ tự 45
2.2.3 Hoạt động lễ hội gắn với văn hóa tâm linh 48
2.3 Tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh tại Tòa Thánh Tây Ninh 51
2.3.1 Tổng quan về đạo Cao Đài 51
2.3.2 Các lễ hội tôn giáo Cao Đài tại Tòa Thánh Tây Ninh 53
Trang 72.4 Tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Tây Ninh 57
Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3 62
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH TẠI TỈNH TÂY NINH 62
3.1 Các hoạt động du lịch tại tỉnh Tây Ninh 62
3.1.1 Du lịch văn hóa tâm linh 62
3.1.2 Du lịch sinh thái 65
3.1.3 Du lịch về nguồn 67
3.1.4 Du lịch làng nghề 69
3.1.5 Du lịch mua sắm 70
3.1.6 Du lịch homestay 70
3.2 Tiềm năng đẩy mạnh khai thác du lịch văn hóa tâm linh tại Tây Ninh 71
3.2.1 Điều kiện về khách du lịch 71
3.2.2 Chính sách đầu tư phát triển du lịch 73
3.2.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 75
3.3 Định hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Tây Ninh 80
3.3.1 Tác động của hoạt động du lịch đến kinh tế xã hội của địa phương 80
3.3.2 Đánh giá tiềm năng phát triển 83
3.3.3 Khả năng liên kết phát triển du lịch 86
Tiểu kết chương 3 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Tây Ninh 25
Hình 2.1 Tòa Thánh Tây Ninh hình chụp từ flycam 35
Hình 2.2 Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh 36
Hình 2.3 Núi Bà Đen 42
Hình 2.4: Linh Sơn Phước Trung Tự 46
Hình 2.5 Chùa Linh Sơn Tiên Thạch 46
Hình 2.6 Du khách đang cúng bái trước điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu 48
Hình 2.7 Lễ khai mạc Hội Xuân núi Bà 2018 49
Hình 2.8 Du khách tham gia Hội Xuân Núi Bà 2018 50
Hình 2.9 Bảng chào mừng Đại Lễ Đức Vía Chí Tôn 2018 54
Hình 2.10 Múa rồng nhang trong Hội Yến Diêu Trì Cung 2018 55
Hình 2.11 Cổng vào Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát 58
Hình 2.12 Hồ Dầu Tiếng 60
DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang Bảng 3.1: Thống kê lượng khách du lịch Tây Ninh, doanh thu 71
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Công ty TNHH: Công ty trách nhiệm hữu hạn
TP HCM: thành phố Hồ Chí Minh
TP Tây Ninh: thành phố Tây Ninh
UBND: Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
UB MTTTQVN: Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
VH – TT – DL: Văn hóa – Thể thao – Du lịch
ĐHQG: Đại học quốc gia
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch tâm linh là một loại hình du lịch đã và đang trỗi dậy như một xu hướng mang tính cách mạng trong ngành du lịch thế giới, với điểm tựa là nhu cầu thỏa mãn đời sống tinh thần bằng yếu tố tâm linh của con người Du lịch tâm linh được nhìn nhận rộng rãi như một hình thức đối ngoại và trao đổi văn hóa vừa có chiều rộng vừa có chiều sâu Phát triển loại hình du lịch tâm linh có ý nghĩa trong việc phát huy các giá trị văn hóa và
tự nhiên, mang lại cơ hội việc làm và tạo nguồn thu nhập cho cộng đồng cư dân địa phương, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại
Việt Nam là một quốc gia sở hữu tiềm năng thúc đẩy du lịch tâm linh không hề thua kém các nước trong khu vực với sự phát triển lâu dài của các tôn giáo từ Phật Giáo, Lão Giáo đến Công Giáo Văn hóa tâm linh của Việt Nam đã hội tụ được tinh hoa qua sự giao lưu, mở mang hội nhập với những nền văn hóa khác như Ấn Độ, Trung Hoa và cả các nước Âu, Mỹ… từ đó càng tôn vinh vẻ đẹp thuần khiết của bản sắc văn các dân tộc Việt Nam Hầu hết các địa phương từ Bắc đến Nam đều có những điểm du lịch tâm linh nổi tiếng với thế mạnh về tài nguyên văn hóa bản địa của mỗi địa phương như: đền Hùng
ở Phú Thọ, chùa Hương ở Hà Nội, chùa Bái Đính và nhà thờ đá Phát Diệm ở Ninh Bình, chùa Thiên Mụ ở Thừa Thiên - Huế, miếu Bà Chúa Xứ ở An Giang… Trong đó, tỉnh Tây Ninh được xem là địa phương phát triển mạnh loại hình du lịch tâm linh của vùng Nam
Bộ với hai điểm du lịch nổi tiếng và đặc trưng là khu du lịch núi Bà Đen và Tòa Thánh Tây Ninh
Tỉnh Tây Ninh thuộc vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
có các trục giao thông quan trọng như đường Xuyên Á, quốc lộ 22B và cùng với các dự
án giao thông quan trọng đi qua tỉnh đã được khởi động Tây Ninh đang trở thành giao điểm của trục hành lang kinh tế quốc tế, kết nối vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với các nước ASEAN và đường bộ cấp quốc gia kết nối Tây Nguyên với Tây Nam Bộ và
Trang 11hành lang kinh tế nối Việt Nam với các nước tiều vùng sông Mêkong… Lợi thế về địa lý
và hạ tầng giao thông kết nối cùng những tiềm năng sẵn có, tỉnh Tây Ninh đang có cơ hội rất lớn để đưa ngành du lịch phát triển lên tầm cao mới
Với hướng đi chọn du lịch là ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế, Tây Ninh xác định du lịch tâm linh là sản phẩm chính để thu hút các nhà đầu tư, đồng thời là động lực chính thúc đẩy du lịch Tây Ninh phát triển nhanh và mạnh hơn nữa Hoạt động du lịch tâm linh tại tỉnh Tây Ninh thu hút hàng triệu lượt khách viếng thăm hàng năm, đặc biệt vào các dịp lễ hội lớn
Tuy được xác định là sản phẩm chủ lực và là động lực chính thúc đẩy ngành du lịch tỉnh phát triển nhưng loại hình du lịch tâm linh tại Tây Ninh chưa được định hướng
rõ ràng và chưa thực sự được đầu tư tương xứng với tiềm năng vốn có Đây chính là bài toán thách thức cho chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần có giải pháp về định hướng đúng đắn để có thể phát triển đồng bộ và chuyên nghiệp các đặc sản tâm linh thành một loại hình du lịch đặc trưng của tỉnh, thu hút ngày càng nhiều lượng khách du lịch trong và ngoài nước
Với đề tài nghiên cứu Du lịch tâm linh tại tỉnh Tây Ninh (nghiên cứu trường hợp
khu du lịch núi Bà Đen và Tòa Thánh Tây Ninh), tác giả mong muốn đưa ra những phân
tích sâu sắc và toàn diện về tiềm năng du lịch và hiện trạng khai thác các hoạt động của loại hình du lịch tâm linh tại Tây Ninh, từ đó có thể góp phần đưa ra các giải pháp phát triển xứng đáng với tiềm năng của địa phương, nơi sở hữu nhiều thế mạnh về nguồn tài nguyên để phát triển ngành kinh tế du lịch, đặc biệt là các hoạt động du lịch tâm linh
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả hướng tới giải quyết các mục tiêu như sau:
- Tìm hiểu, phân tích cơ sở lý luận liên quan đến nội dung nghiên cứu về tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng, hành hương, du lịch…
Trang 12- Phân tích hiện trạng các loại hình du lịch hiện có tại tỉnh Tây Ninh, đặc biệt chú trọng phân tích loại hình du lịch tâm linh và các tác động như thế nào đến các lĩnh vực liên quan đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội của địa phương
- Từ việc tìm hiểu và phân tích, đưa ra những nhận xét, đánh giá về tiềm năng phát triển du lịch tâm linh, đề xuất giải pháp cho định hướng phát triển loại hình du lịch tâm linh vừa là thế mạnh vừa là tiềm năng của địa phương để phát triển nền kinh tế
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch tâm linh là một vấn đề không quá mới trong nghiên cứu hiện nay, đặc biệt khi gắn liền với một địa phương, khu vực hay quốc gia cụ thể Đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch tâm linh tại các tỉnh ở nước ta, trong đó ở khu vực Nam Bộ có các công trình nghiên cứu về du lịch tâm linh có thể kể đến như tại An Giang, Côn Đảo… Đối với đề tài nghiên cứu của tác giả về du lịch tâm linh tại tỉnh Tây Ninh, xét trên nhiều gốc độ, có thể chia ra thành các nhóm công trình liên quan như sau:
a Nghiên cứu về văn hóa và con người tỉnh Tây Ninh
Trong Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập 5, Các tỉnh thành phố cực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ (Lê Thông, 2006), Tây Ninh được giới thiệu đầy đủ và phân
tích chi tiết về vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ, điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm dân cư, điều kiện kinh tế… Dù một vài số liệu trong tác phẩm đã lỗi thời do thời gian được biên soạn cách nay khá lâu, tuy nhiên với nội dung được đề cập cũng là một phần cơ sở thông tin, dữ liệu tiền đề giúp tác giả phân tích được tổng quan về địa bàn nghiên cứu trong nội dung đề tài của mình
Còn trong Đông Nam Bộ - vùng đất, con người (2010), các tác giả nhắc đến Tây
Ninh qua các di tích lịch sử, danh thắng, phong tục lễ hội, làng nghề truyền thống, văn hóa ẩm thực… một cách đầy đủ và chi tiết, thể hiện đặc trưng của vùng đất và con người nơi đây Trong đó, các tác giả có các phần giới thiệu, miêu tả về núi Bà Đen Tây Ninh, Tòa Thánh Tây Ninh, lễ hội núi Bà Đen Tây Ninh, lễ hội của Đạo Cao Đài Tây Ninh một cách cụ thể, giúp người đọc hình dung ra được cơ bản các đặc điểm của địa danh và hình
Trang 13thức tổ chức lễ hội Vì các tác giả chỉ đi vào miêu tả là chính mà chưa có những phân tích sâu về ý nghĩa và các giá trị văn hóa thể hiện bên trong các hoạt động lễ hội nơi đây, nên trên cơ sở đó, tác giả vừa kế thừa thông tin vừa chỉ ra những giá trị văn hóa đặc trưng trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài của mình
Bên cạnh đó, nghiên cứu về văn hóa, tôn giáo, tâm linh có các đề tài nghiên cứu về đạo Cao Đài và tín ngưỡng thờ Mẫu như:
+ Góp phần tìm hiểu sự ra đời của đạo Cao Đài, luận văn thạc sĩ ngành Lịch sử
Việt Nam của tác giả Ngô Chơn Tuệ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2008) Nội dung chính của luận văn tác giả tìm hiểu, phân tích nguyên nhân dẫn đến sự hình thành tôn giáo Cao Đài
+ Lễ hội Cao Đài nhìn từ gốc độ văn hóa, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa
học của tác giả Nguyễn Mạnh Tiến, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2006) Nội dung luận văn tác giả nhìn nhìn những đóng góp tích cực của tôn giáo Cao Đài từ gốc độ văn hóa Bên cạnh đó, tác giả phân tích các hoạt động lễ hội để thấy rõ
sự đa dạng các hoạt động tổ chức của tôn giáo này
+ Nghi lễ đạo Cao Đài ở khu vực Nam Bộ, luận văn thạc sĩ ngành Tôn giáo học
của tác giả Lê Thị Ngọc Mai, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2014) Đề tài nghiên cứu tổng quan về đạo Cao Đài, trong đó tác giả đi sâu vào phân tích đặc điểm các nghi lễ của đạo và xu hướng biến đổi trong đời sống của tín đồ ở khu vực Nam Bộ, từ đó nhấn mạnh vai trò của các hình thức lễ nghi trong đời sống cộng đồng và duy trì tôn giáo
+ Đời sống tôn giáo của tín đồ đạo Cao Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ, luận
án tiến sỹ ngành Lịch sử của tác giả Huỳnh Ngọc Thu trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn TP HCM (2008) Tác giả đã có những nghiên cứu đi sâu vào đời sống của cộng đồng khu vực Nam Bộ, tầm quan trọng và ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống các tín đồ địa phương Đề tài góp phần tạo nên cái nhìn toàn diện và sâu sắc về tôn giáo bản địa được hình thành và phát triên ngay trong lòng khu vực Nam Bộ
Trang 14+ Tín ngưỡng thờ Mẫu và nữ thần của người Việt ở Nam Bộ, luận văn thạc sĩ
ngành Dân tộc học của tác giả Trần Thị Thảo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2008) Nội dung luận văn tác giả khảo sát tín ngưỡng thờ Mẫu trong các
cơ sở tín ngưỡng tôn giáo ở Nam Bộ, trong đó có tín ngưỡng thờ Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen
Trong các công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả đã đi sâu tìm hiểu, phân tích các đặc điểm đặc trưng về tôn giáo Cao Đài và những ảnh hưởng của Đạo đến đời sống văn hóa xã hội của người dân địa phương Đây cũng là cơ sở, nguồn tài liệu tham khảo có
ý nghĩa và giá trị to lớn giúp ích cho tác giả trong bước đầu tiếp cận thông tin để thực hiện đề tài nghiên cứu Tín ngưỡng thờ Mẫu tại núi Bà Đen cũng đã được nghiên cứu, phân tích trong bối cảnh tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ, tuy chưa sâu nhưng sẽ là nền tảng để tác giả kế thừa và nghiên cứu các nét đặc trưng hơn trong luận văn của mình
b Nghiên cứu về các hoạt động du lịch tại tỉnh Tây Ninh
Tây Ninh được biết đến là nơi có nhiều hoạt động văn hóa, tinh thần gắn liền với
hệ thống di tích lịch sử, di tích khảo cổ, công trình kiến trúc, phong tục tập quán, lễ hội nhiều về số lượng, đa dạng về tính chất, phong phú về hình thức Trong đó, du lịch tâm linh là loại hình du lịch được chính quyền địa phương quan tâm phát triển và định hướng
là sản phẩm chủ lực của ngành công nghiệp không khói này Với hai điểm nổi tiếng về văn hóa tâm linh của tỉnh là Tòa Thánh Tây Ninh với đạo Cao Đài hình thành từ bản địa
và khu du lịch núi Bà Đen cùng với tín ngưỡng thờ Mẫu địa phương đã thu hút hàng nghìn lượt khách tham quan, hành hương hàng năm, đặc biệt vào các dịp lễ hội tôn giáo lớn
Các đề tài nghiên cứu về hoạt động khai thác và phát triển du lịch tỉnh dựa vào phân tích nguồn lực và đưa ra các đánh giá định hướng chung, trong đó cũng có những đề tài nghiên cứu dựa vào một hoạt động văn hóa thực tiễn để phân tích có thể liệt kê một số nghiên cứu sau:
Trang 15+ Đánh giá nguồn lực và định hướng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2007-2015, luận văn thạc sĩ ngành Địa lý của tác giả Nguyễn Ngọc Hiền trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2008)
+ Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kỳ hội nhập, luận văn thạc sĩ ngành Địa lý
học của tác giả Nguyễn Trọng Hiếu trường Đại học Sư phạm TP HCM (2011)
+ Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế, luận văn thạc sĩ ngành Du lịch của tác giả Phạm Thị Sương trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân Văn, ĐHQG Hà Nội (2011)
+ Lễ hội của đạo Cao Đài Tây Ninh với việc phát triển du lịch địa phương, luận
văn thạc sĩ ngành Dân tộc học của tác giả Trương Thanh Quỳnh Thư trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2012)
+ Lễ hội núi Bà Đen trong hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh, luận văn thạc
sĩ ngành Việt Nam học của tác giả Du Quốc Đạo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2017)
Với nhóm các công trình này, các tác giả nghiên cứu chủ yếu về các hoạt động phát triển du lịch tại địa phương gắn với một địa điểm du lịch cụ thể hoặc nghiên cứu đánh giá chung về ngành du lịch của tỉnh, với loại hình du lịch tâm linh chưa được nhắc đến nhiều và nghiên cứu sâu Dựa vào các nghiên cứu chung về hoạt động du lịch tại tỉnh Tây Ninh, tác giả sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo, từ đó làm nền tảng để phát triển thêm cho việc phân tích đánh giá hoạt động của loại hình du lịch tâm linh tại đây trong đề tài nghiên cứu của mình
c Nghiên cứu về du lịch tâm linh ở Nam Bộ
Về các nghiên cứu hoạt động du lịch tại vùng Nam Bộ như đã nhắc đến lúc đầu, có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
+ Du lịch văn hóa tâm linh tại huyện Côn Đảo, luận văn thạc sĩ ngành Việt Nam
Học của tác giả Nguyễn Thành Nam trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2015) Nội dung luận văn bên cạnh giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu, tác
Trang 16giả phân tích các hoạt động du lịch tại địa phương, từ đó phân tích về hoạt động du lịch tâm linh dưới gốc độ của du khách
+ Du lịch tâm linh ở An Giang – tiềm năng và thách thức, bài viết của tác giả Bùi
Thị Phương Mai trong Hội thảo khoa học quốc tế về Các loại hình du lịch hiện đại (2016) Tác giả đã phân tích một số đặc điểm của du lịch tâm linh cũng như đánh giá tiềm năng du lịch tâm linh ở An Giang và đi sâu phân tích về những thách thức tồn tại đối với phát triển du lịch tâm linh tại đây
Với hai công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả sẽ sử dụng như là một tài liệu tham khảo quý báu trong quá trình thực hiện luận văn của mình vừa mang tính kế thừa, vừa phát triển phù hợp với nội dung luận văn mình đang nghiên cứu
Tóm lại, trong khi du lịch tâm linh đang được định hướng phát triển là sản phẩm chủ đạo khai thác du lịch tỉnh nhằm tạo thúc đẩy thương hiệu du lịch Tây Ninh đang dần dần đi vào tiềm thức điểm đến của khách du lịch, việc nghiên cứu với điểm nguồn tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh quan trọng nhất của tỉnh sẽ giúp việc định hình lựa chọn hình ảnh điểm đến một cách gần gũi với tiềm thức của khách du lịch và phù hợp với
thương hiệu du lịch Việt Nam Vì vậy với nội dung đề tài Du lịch tâm linh tại tỉnh Tây Ninh (nghiên cứu trường hợp khu du lịch núi Bà Đen và Tòa Thánh Tây Ninh) tác giả
mong muốn có những đóng góp thiết thực cho công trình nghiên cứu về văn hóa và du lịch của địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài luận văn thuộc chuyên ngành Việt Nam học, đối tượng nghiên cứu chính là đất nước, con người và văn hóa Việt Nam Chính vì vậy, nội dung luận văn của tác giả tập trung nghiên cứu về vùng đất, con người tại tỉnh Tây Ninh
Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu các hoạt động du lịch nói chung và du lịch tâm linh nói riêng đang được khai thác tại tỉnh Tây Ninh
Trang 174.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn thực hiện nghiên cứu các đối tượng diễn ra trong khoảng
thời gian từ 2014 đến nay
- Về không gian: Địa bàn nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi tỉnh Tây Ninh,
trong đó có hai địa điểm nghiên cứu chính là khu du lịch núi Bà Đen và Tòa Thánh Tây Ninh, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa và du lịch tâm linh - đối tượng nghiên cứu chính của nội dung luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp quan sát tham dự: trong phương pháp này, tác giả đã tham gia trực
tiếp vào các hoạt động văn hóa, du lịch tại địa bàn mà mình nghiên cứu Kết hợp với việc quan sát, ghi chép để ghi nhận những thông tin có liên quan đến đề tài và xử lý các thông tin đó phục vụ cho nội dung luận văn Với tư cách là khách du lịch, tác giả đã có những cuộc khảo sát cụ thể vào các dịp lễ hội như: Hội xuân núi Bà Đen, lễ vía Bà tại khu du lịch núi Bà Đen, Đại lễ vía Đức Chí Tôn và Hội Yến Diêu Trì Cung Tòa Thánh Tây Ninh Đây là phương pháp hỗ trợ hiệu quả giúp tác giả có cái nhìn toàn diện và phổ quát liên quan đến vấn đề mình đang nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tổng hợp và phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp
chí, internet, các báo cáo tổng kết của các ban ngành liên quan, các quy hoạch phát triển
du lịch địa phương đã được phê duyệt Với phương pháp này, tác giả có thể tìm hiểu, nghiên cứu, phân loại các nguồn tài liệu có liên quan và phù hợp với nội dung luận văn của mình để kết quả nghiên cứu được đầy đủ và phong phú hơn
- Phương pháp phỏng vấn nhanh: tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn tại hai
địa điểm nghiên cứu đó là khu du lịch núi Bà Đen và Tòa Thánh Tây Ninh, tiến hành phỏng vấn các đối tượng ngẫu nhiên tại đây với nội dung xoay quanh nội dung đề tài nghiên cứu, từ đó có thể nhận thấy được niềm tin tôn giáo, ý thức về các hoạt động tâm linh của các đối tượng đối với hoạt động du lịch tại địa bàn nghiên cứu
Trang 186 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Nội dung luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu có nội dung liên quan đến văn hóa tâm linh, du lịch văn hóa tâm linh; đồng thời là tài liệu tham khảo cho các công ty du lịch trong và ngoài tỉnh Tây Ninh trong việc xây dựng sản phẩm du lịch, tour du lịch liên quan đến địa phương
Bên cạnh đó, nội dung luận văn còn được sử dụng làm tiền đề cơ sở lý luận cho các dự án nghiên cứu phát triển các hoạt động du lịch tại tỉnh Tây Ninh, đặc biệt về phát triển loại hình du lịch tâm linh một cách hệ thống mang tính khoa học
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần tìm hiểu, phân tích chuyên môn về các văn hóa và tâm linh tại tỉnh Tây Ninh được khai thác trong giai đoạn hiện nay, từ đó có những đánh giá đóng góp đối với những ảnh hưởng của những hoạt động này tới đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của địa phương
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Nội dung trình bày những nội dung khái niệm có liên quan làm tiền đề lý luận cho việc nghiên cứu đề tài như tâm linh, văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo, các định nghĩa về du lịch, hành hương, du lịch văn hóa tâm linh, tín ngưỡng thờ Mẫu Bên cạnh là giới thiệu và miêu tả chung về địa bàn nghiên cứu với các yếu tố về đặc điểm địa lý, dân
cư, kinh tế xã hội
CHƯƠNG 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA CỦA TỈNH TÂY NINH
Nội dung chương trình bày phân loại các nguồn tài nguyên du lịch văn hóa của địa phương, bao gồm tài nguyên văn hóa vật thể và tài nguyên văn hóa phi vật thể Trong đó
Trang 19nhấn mạnh phân tích về tài nguyên du lịch tại hai trường hợp nghiên cứu của đề tài à khu du lịch núi Bà Đen và Tòa Thánh Tây Ninh
CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TÂM LINH TẠI TỈNH TÂY NINH
Nội dung phân tích hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Tây Ninh trong môi liên hệ kết hợp với một số loại hình du lịch khác như du lịch sinh thái, du lịch về nguồn,
du lịch mua sắm… Phân tích chi tiết về cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch cũng như các điều kiện thực tiễn để phát triển loại hình du lịch tâm linh tại Tây Ninh Từ đó có những đánh giá tổng quan về tiềm năng du lịch và đưa ra những gợi ý giải pháp phát triển loại
hình du lịch đầy tiềm năng tại Tây Ninh trong thời gian sắp tới
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1 Tâm linh
Trong đời sống hiện nay, tâm linh là một vấn đề được xã hội quan tâm và đề cập đến rất nhiều trong các hoạt động thực tế cũng như các vấn đề lý luận Có nhiều thuật ngữ gắn liền với nó như đời sống tâm linh, thế giới tâm linh, văn hóa tâm linh,
du lịch văn hóa tâm linh… Như vậy tâm linh là gì? Tâm linh có ý nghĩa như thế nào hay giữ vai trò gì trong đời sống xã hội hiện đại của con người?
Khi đời sống vật chất được cải thiện và nâng cao, con người ngày càng chú ý đến việc phát triển đời sống nội tâm được cân bằng và hài hòa Vì thế, tâm linh trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học của giới chuyên môn nhằm đề ra các giải pháp phát triển tâm linh bằng những thể nghiệm, những thực nghiệm về nó nhằm tạo được sự hài hòa giữa hai mặt của đời sống và thúc đẩy cùng nhau phát triển
Thuật ngữ “tâm linh” có nhiều cách hiểu khác nhau dựa vào nhiều hướng tiếp cận ở các góc độ khác nhau của các nhà nghiên cứu Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tâm linh hiện nay như: hoặc thiên về lĩnh vực tôn giáo, hoặc thiên về
sự giao tiếp với cõi âm, hoặc thiên về lĩnh vực bí ẩn siêu việt, hoặc tất cả các lĩnh vực nêu trên Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn, tác giả thiên về phân tích thuật ngữ tâm linh trong lĩnh vực tôn giáo là chủ yếu
Theo Nguyễn Đăng Duy (1996, tr.14): “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại những biểu tượng hình ảnh, ý niệm”
Tương tự Vũ Tự Lập (1994, tr.10) cũng viết: “Tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, mà ở đó chỉ có cái gì cao cả, lương thiện và đẹp đẽ mới có thể vươn
tới Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở của cái thiêng liêng đó”
Như vậy, bản chất của tâm linh là linh thiêng hóa cái huyền bí thế giới vật chất - con người và niềm tin về cái thiêng liêng siêu nhiên đó Mở rộng khái niệm
Trang 21tâm linh, nó là toàn bộ ý thức gồm có hữu thức, vô thức, siêu thức cả cấp độ tình yêu, mơ ước, niềm tin, lý tưởng… Theo đó, bản chất tâm linh theo nghĩa rộng là đời sống tinh thần hướng thiện, cao cả, tốt đẹp và linh thiêng
Tâm linh đóng vai trò quan trọng và mang nhiều ý nghĩa thực tiễn trong đời sống tinh thần của con người Đó là khả năng cố kết cộng đồng với nhau trong các hoạt động thực tiễn và tinh thần của cuộc sống đời thường, từ đó lưu giữ giá trị truyền thống tốt đẹp của cộng đồng xã hội và giáo dục con người hướng tới các giá trị chân thiện mỹ
1.1.2 Văn hóa tâm linh
Văn hóa tâm linh là thái độ ứng xử văn hoá của con người đối với các lực lượng siêu nhiên, thần linh, với những người đã khuất Biểu hiện của văn hoá tâm linh rất đa dạng qua các hình thức: thờ cúng thần linh, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thành hoàng…
Trong đời sống hằng ngày, hầu như đối với mọi cá nhân trong cuộc đời tồn tại của mình ai cũng có một đời sống tâm linh, cũng có ý niệm và tham gia vào một hoạt động tâm linh nào đó Đời sống tâm linh không ở đâu xa lạ mà ở trong niềm tin thiêng liêng của mỗi con người Đời sống tâm linh không phải lúc nào cũng bộc lộ Đời sống tâm linh chỉ biểu hiện cụ thể rõ ràng khi gặp thời gian thiêng liêng, không gian thiêng liêng
Bên cạnh đó, tâm linh còn thể hiện trong sáng tác văn học nghệ thuật, đó là những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng được thể hiện trong các tác phẩm, làm khời dậy những cảm xúc cao quý của con người
Văn hóa tâm linh có những mặt tích cực không thể phủ nhận trong đời sống cộng đồng Đó là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữ truyền thống, giáo dục lòng nhân ái, vị tha, ý thức hướng thượng, hướng thiện
Văn hóa tâm linh là chỗ dựa về mặt tinh thần, xoa dịu những đau thương mất mát, đem lại niềm tin vào những điều tốt đẹp, cao cả, thiêng liêng, giúp con người chiến thắng nỗi sợ hãi trước cái chết, đem lại sự thanh thản, cân bằng cho tâm hồn
Trang 221.1.3 Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một phương diện quan trọng của đời sống tinh thần con người, đồng thời là một hiện tượng văn hóa độc đáo, phản ánh niềm tin, ước vọng của con người từ xưa đến nay Tín ngưỡng không tồn tại một cách đơn lẻ mà còn là một tích hợp với nhiều hình thức văn hóa khác nhau để thể hiện niềm tin của con người bằng các hành vi cụ thể như lễ hội, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật
Hiện nay, tín ngưỡng nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở nhiều chuyên ngành khác nhau dưới những góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau Có hai nhóm quan điểm khác nhau về khái niệm tín ngưỡng: nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng tín ngưỡng là trạng thái tâm lý của con người đối với thế lực linh thiêng, là cơ
sở hình thành nên tôn giáo, là một bộ phận của tôn giáo và không thể tách rời khỏi tôn giáo nhóm quan điểm thứ hai nhấn mạnh đến tín ngưỡng hoàn toàn khác và độc lập với tôn giáo Trong nội dung nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả sẽ dựa vào khái niệm tín ngưỡng từ đặc điểm văn hóa Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam theo quan điểm thứ hai là không đồng nhất tín ngưỡng và tôn giáo với nhau, tín ngưỡng hoàn toàn khác với tôn giáo và có mối quan hệ với trình
độ nhận thức, kinh tế, xã hội của con người trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, tín ngưỡng khi phát triển đến mức độ nào đó mới thành tôn giáo
Trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Thêm dưới góc
nhìn của Văn hóa học đã xếp tín ngưỡng thuộc về văn hóa tổ chức đời sống cá nhân
và đồng thời nhấn mạnh rằng: “Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh mà họ tưởng tượng ra Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường - tín
ngưỡng thành tôn giáo.” (Trần Ngọc Thêm, 2011, tr.233)
Theo Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo của nhà nước Việt Nam: “hoạt động
tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị
tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.” (tr.8-9)
Trang 23Theo tác giả Dương Hoàng Lộc trong bài viết Tìm hiểu khái niệm tín ngưỡng
từ góc nhìn văn hóa Việt Nam, trong bối cảnh văn hóa truyền thống Việt Nam, tín
ngưỡng hoàn toàn khác với tôn giáo và bản thân có nhiều nội hàm riêng, vốn xuất phát từ các đặc điểm đặc trưng của văn hóa dân tộc, gồm có các nội dung sau:
- Tín ngưỡng là một hình thức văn hóa phi vật thể mang tính độc đáo và biểu hiện khá rõ được đời sống vật chất và tinh thần của con người
- Tín ngưỡng còn là hệ thống những niềm tin và cách thức thể hiện những niềm tin ấy bằng những hành động cụ thể của con người đối với một hiện tượng siêu nhiên, xã hội, thậm chí là một sự vật nào đó, hoặc cá nhân có liên quan đến cuộc sống thực tại của họ đã được thiêng hóa để cầu mong sự che chở, giúp đỡ
- Tín ngưỡng phụ thuộc vào những bối cảnh lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa,
xã hội cũng như trình độ nhận thức của chủ thể sáng tạo ra các nền văn hóa có tính độc đáo riêng
- Tín ngưỡng không tồn tại một cách đơn lẻ mà còn là một tích hợp với nhiều hình thức văn hóa khác nhau để thể hiện niềm tin của con người bằng các hành vi
cụ thể
- Tín ngưỡng và tôn giáo còn có sự khác biệt ở các yếu tố thuộc về tôn giáo như: Giáo chủ, giáo lý, giáo qui và giáo hội mà tín ngưỡng không có Ngoài ra, tín ngưỡng và tôn giáo còn có sự giao thoa lẫn nhau, do đặc tính dung hợp - một đặc điểm truyền thống của văn hóa dân tộc
- Nghiên cứu tín ngưỡng thì cần chú ý đến hình thức tín ngưỡng bản địa và tín ngưỡng ngoại nhập do sự giao lưu và hội nhập với nhiều nền văn hóa trên thế giới
là một đặc trưng quan trọng của văn hóa Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử
Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng là một khái niệm liên quan được đề cập và phân
tích trong nội dung đề tài luận văn này, cụ thể là tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ Vậy tín ngưỡng thờ Mẫu là gì và có vai trò như thế nào trong đời sống của con người tại Nam Bộ?
Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt, việc tôn thờ nữ thần, thờ Mẫu là một hiện tượng khá phổ biến Từ việc thờ nữ thần đến tục thờ Mẫu có quan hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên chúng không đồng nhất Các Mẫu đều là nữ thần nhưng
Trang 24không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu mà chỉ một số nữ thần được người đời tôn vinh là Mẫu Mẫu nghĩa là mẹ, người mẹ có công lao vô cùng to lớn đối với sự hoài thai một hình hài, nhân cách con người Người mẹ mang nặng đẻ đau, sinh ra, nuôi dưỡng và che chở cho con Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hình tượng người mẹ còn là những khát vọng, mong muốn về cuộc sống bình yên, mùa màng tươi tốt, thoát khỏi thiên tai địch họa của con người
Từ xưa đến nay, vị trí và vai trò của người mẹ trong mỗi gia đình, cộng đồng luôn được tôn vinh, ca ngợi Mẹ là chỗ dựa vật chất và tinh thần, tình cảm Chính vì vậy mà hình tượng người mẹ được gắn liền với các hiện tượng tự nhiên như: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thủy, Mẫu Thượng Ngàn…mang lại cho con người nguồn sống để sinh tồn Dân gian thờ Mẫu với niềm tin mãnh liệt vào quyền lực linh thiêng và khát vọng cầu mong sự an lành, bình yên, tốt đẹp
Về cội nguồn và bản chất thì việc thờ nữ thần và Mẫu thần đều thuộc tín ngưỡng thờ thần của người Việt Nam Tín ngưỡng thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng dân gian bước đầu đã chứa đựng những nhân tố về một hệ thống vũ trụ luận nguyên sơ, một vũ trụ thống nhất chia thành bốn miền do bốn vị thánh Mẫu cai quản Một tín ngưỡng bước đầu thể hiện được ý thức nhân sinh, ý thức cội nguồn, dân tộc, lòng yêu nước, một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được linh thiêng hóa mà mẫu chính là biểu tượng cao nhất Một tín ngưỡng dân gian đã được bước đầu hình thành một hệ thống thờ cúng trong các đền phủ, những nghi lễ đã được chuẩn hóa, trong đó hầu bóng và lễ hội là một điển hình
Tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển khá sâu rộng và phổ biến ở hầu khắp mọi địa phương trong cả nước Mỗi vùng, miền có sắc thái văn hóa khác nhau nên cũng có
sự ảnh hưởng và chi phối để tạo nên diện mạo đa sắc màu của tín ngưỡng thờ mẫu Cùng với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần, Phật thì tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại cùng với một vị trí có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tín ngưỡng Việt Nam
Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện từ thế kỷ XV ở miền Bắc với một
bề dày lịch sử gắn liền với văn hóa tâm linh của người Việt bằng hình thức “Tam tòa, Tứ phủ” Trong quá trình khai hoang khẩn đất, người Việt xuôi về phương
Trang 25Nam, họ không chỉ mang theo tên làng, tên xã của mình mà còn mang theo cả trong tâm tín ngưỡng thờ Mẫu Tuy nhiên, trên con đường Nam tiến trong tâm thức thờ Mẫu hệ thống “Tam tòa Tứ phủ” xa dần và lược giản hóa, kết hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu thần của cư dân bản địa, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã ít nhiều thay đổi Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ là sự kế thừa những giá trị văn hóa dân
gian của lưu dân trên đường khai mở đất phương Nam (Theo bài viết Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ của tác giả Trần Hoàng Bảo trong Kỷ yếu Hội thảo Tín ngưỡng
thờ Mẫu ở Nam Bộ - Bản sắc và giá trị, tr.93)
Tín ngưỡng ở Nam Bộ còn là sản phẩm của quá trình giao lưu văn hóa cộng đồng cư dân sống cộng cư và cận cư Vì vậy có thể thấy các thành tố trong tín ngưỡng từng tộc người cư trú ở Nam Bộ như Kinh, Hoa, Chăm, Khmer… đều có một ảnh hưởng nhất định trong việc định hình thể loại, diện mạo của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ
Như vậy, hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu trên miền đất Nam Bộ không phát triển tuần tự như ở miền Bắc mà yếu tố giao lưu ảnh hưởng giữa các tộc người cùng chung sống giữ vai trò quan trọng, tạo nên sự khác biệt và khiến cho hình thức tín ngưỡng văn hóa này trở nên đa dạng và phong phú hơn
Tục thờ mẫu Nam Bộ bộc lộ nét tinh thần phong phú của cư dân vùng đất mới, mang nhiều ý nghĩa xã hội và thể hiện tính nhân văn sâu sắc Trong tín ngưỡng thờ mẫu Nam Bộ thì yếu tố sông nước được đưa lên vị trí tối cao của mẫu Thoải, vì Nam Bộ là vùng sông nước Thờ mẫu ở Nam Bộ vừa mang tính chung nhất vừa thể hiện nét đặc thù riêng Vì vậy, có thể nói rằng, thờ mẫu ở Nam Bộ đã góp phần minh chứng cho quy luật thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa đa sắc màu Việt Nam
1.1.4 Tôn giáo
Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn (2005, tr.25-28):
“Thuật ngữ tôn giáo - religion xuất phát từ tiếng Latinh là legere, relegere
có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên Sau khi đạo Kitô xuất hiện, thuật ngữ “religion” được dùng để chỉ riêng cho đạo Kitô Đến thế kỷ XVI, cùng với sự
Trang 26ra đời và phát triển của đạo Tin Lành thì trên diễn đàn khoa học và thần học châu
Âu, thuật ngữ “religion” mới trở thành một thuật ngữ chung dùng để chỉ hai tôn giáo là Công giáo và Tin lành Về sau, với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra ngoài châu Âu, thuật ngữ “religion” được dùng để chỉ cho mọi hình thức tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới.”
Tôn giáo được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu như tâm lý học,
xã hội học, thần học, thậm chí trong một vài trường hợp, cả ngành sinh học Mỗi ngành có mối quan tâm và phương pháp tiếp cận riêng Trong đó ngành nhân học có thể được hiểu một cách tốt nhất như là một ngành khoa học về sự đa dạng của con người, trong văn hóa, xã hội, ứng xử của họ Vì vậy nhân học tôn giáo là sự khám phá khoa học về tính đa dạng tôn giáo của con người Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo Để có khái niệm đầy đủ về tôn giáo cần phải chú ý:
- Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và
Như vậy, tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách
hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin
đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý
- văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau
Trang 271.1.5 Hành hương
Hành hương là một hiện tượng tôn giáo đã có một lịch sử lâu đời, được hiểu
là đi kính viếng một nơi thánh tích nào đó vì mục tôn giáo Trong lịch sử Kitô giáo, vào thời Trung cổ, bên Âu châu, các cuộc hành hương thường mang tính cách đền tội, do những vất vả nhọc nhằn gây ra bởi đường sá xa xôi cũng như do những nguy hiểm dọc đường Vào thời đó, các cuộc hành hương thường được thực hiện bằng việc đi bộ, trừ khi nào sang sông vượt biển thì mới dùng thuyền hoặc tàu
Mục tiêu chính của hành hương là đi viếng nơi thánh, nhưng con người đi hành hương cũng muốn thỏa mãn tính tò mò, muốn biết những chỗ mới, thư giãn, gặp gỡ bạn bè
Ngày nay, với sự phát triển của hệ thống giao thông và nhu cầu tâm linh, các địa điểm hành hương vẫn thu hút số lượng lớn tín đồ Điều khác biệt là người đi hành hương ngày nay trở thành du khách trong những kỳ nghỉ Ngành du lịch đã biến hành hương thành chuyến đi vừa để tìm lại cội nguồn đức tin, vừa để thỏa mãn một nhu cầu phản kháng lại những vấn đề xung đột của thời hiện đại Xét về những tương đồng trong hành vi, có thể nói người hành hương có một phần giống khách
du lịch và ngược lại du khách cũng có một phần giống người hành hương Do đó, có thể hiểu du lịch hành hương là loại hình du lịch mà cá nhân hoặc nhóm tín đồ theo một tôn giáo thực hiện chuyến đi đến các điểm có ý nghĩa quan trọng trong tôn giáo với mục đích hành hương, có kết hợp với hoạt động tham quan nghỉ dưỡng (Ngô Thanh Loan, Trần Duy Minh, Hồ Tiểu Bảo, 2018)
Du lịch hành hương cũng có thể được xem là một bộ phận của du lịch tâm linh Tuy nhiên, nếu du lịch tâm linh hướng tới việc tìm hiểu, trải nghiệm kể cả cho người không cùng niềm tin tôn giáo hay khách du lịch đại chúng thì đối với du lịch hành hương thực hành tín ngưỡng là hoạt động quan trọng của chuyến đi
1.1.6 Du lịch
Du lịch là một khái niệm khá phổ biến và gần gũi với tất cả mọi người trong
sự phát triển của xã hội hiện nay từ thực tiễn đến các khía cạnh nghiên cứu học thuật Trong nghiên cứu học thuật thì du lịch là một thuật ngữ còn nhiều tranh cãi và
Trang 28chưa thống nhất tùy vào góc độ và quan điểm tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu
Du lịch là một hoạt động thường xuyên của con người khi có thời gian nhàn rỗi, có vật lực và nhu cầu khám phá thế giới tự nhiên và văn hóa ngoài cộng đồng
mà mình đang sống nhầm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của chính những người tham gia vào hoạt động du lịch
Định nghĩa theo Luật Du lịch 2017: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác
Theo Phan Huy Xu & Võ Văn Thành (2018) cho rằng: hiện nay trên thế giới, nghiên cứu về du lịch phát triển theo hai hướng: một hướng lấy khách du lịch làm trung tâm (touristology) và một hướng khác lấy sản phẩm du lịch làm trung tâm (tourismology)
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ chọn khuynh hướng nghiên cứu phát triển du lịch trong đó lấy khách du lịch làm đối tượng trung tâm của mọi hoạt động, từ đó phân tích các nhu cầu hoạt động tinh thần của con người
khi đời sống vật chất phát triển, đặc biệt là nhu cầu về tâm linh
Việc phân loại các loại hình du lịch có ý nghĩa quan trọng, góp phần đánh giá tiềm năng du lịch của một địa phương, từ đó có phương án khai thác đầu tư và phát triển phù hợp và hiệu quả Có nhiều cách phân loại khác nhau như phân loại theo môi trường - tài nguyên, mục đích chuyến đi, lãnh thổ hoạt động, đặc điểm địa lý của điểm du lịch, phương tiện giao thông, loại hình lưu trú, lứa tuổi, độ dài chuyến
Trang 29Dựa vào cách phân loại này, tương ứng với hai loại tài nguyên du lịch đó là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa Theo Luật Du lịch 2017, tài nguyên du lịch được định nghĩa là cảnh quan thiên thiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa
chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch
- Tài nguyên du lịch văn hóa: bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách
mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và
các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử
dụng cho mục đích du lịch
1.1.7 Du lịch văn hóa
Trên thế giới, hầu như các quốc gia khi đầu tư phát triển về ngành du lịch đều chú trọng đầu tiên đến loại hình du lịch văn hóa Theo định nghĩa của Luật Du lịch 2017: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại
Du lịch văn hóa có thể được hiểu là sự di chuyển của con người đến vùng đất mới xa nơi thường trú của họ với mục đích chính là nâng cao hiểu biết cá nhân, hay tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, kinh tế, chế độ xã hội, cuộc sống và phong tục tập quán của địa phương, đất nước họ đến du lịch hoặc kết hợp với những mục đích khác nữa
Khi nói đến du lịch văn hóa tức tiếp cận văn hóa từ du lịch, thông qua du lịch, thực chất là việc khai thác và biến sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, thuộc sản phẩm du lịch Là một sản phẩm kinh doanh nên đó là sản phẩm hàng hóa hay gọi đúng hơn là sản phẩm hàng hóa văn hóa, một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt, qua tiêu thụ không hề mất đi như những sản phẩm hàng hóa thông thường khác
mà còn được nhân lên về mặt giá trị tinh thần và hiệu quả xã hội
Trang 301.1.8 Du lịch văn hóa tâm linh
Du lịch văn hóa tâm linh hay còn gọi là du lịch tâm linh (Spiritual tourism) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất Tuy nhiên, xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng
và những giá trị tinh thần đặc biệt khác Du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc
và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch
Theo tác giả Lưu Thị Thanh Mai (2016): “Du lịch tâm linh được trân trọng bởi những chiều sâu văn hóa, tâm linh, bởi những hoạt động tinh thần mà loại hình
du lịch này đem lại Du lịch tâm linh không chỉ là du lịch mà còn là những khóa tu hành, những khóa thiền, những cuộc hành hương kết nối con người thời hiện đại với những hiện tượng văn hóa đã làm nên đời sống tinh thần nhân loại trong suốt hàng ngàn năm.”
Du lịch tâm linh gắn với niềm tin, nâng cao đức tin, nâng cấp đời sống tâm linh của mỗi cá nhân theo hướng chân, thiện, mỹ Du lịch tâm linh đến các thánh tích sẽ giúp con người tháo gỡ được các cảm xúc khổ đau, tài bồi tâm trí và tinh thần minh tiết Du lịch tâm linh rất cần thiết trong xã hội hiện đại với nhiều bức xúc,
ưu tư, trầm cảm, mất niềm tin, cảm thấy lạc lõng trong cuộc sống Thông qua các hoạt động du lịch tâm linh như tham quan, tìm hiểu văn hóa lịch sử, triết giáo, cầu nguyện, cúng tế, chiêm bái, tham gia lễ hội con người sẽ cảm nhận được những giá trị trải nghiệm và giải thoát tâm hồn, cần bằng và củng cố đức tin, hướng tới những điều tốt đẹp và nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 311.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.2.1 Lý thuyết chức năng
Lý thuyết chức năng (Functionalism): là lý thuyết nhấn mạnh vào tính liên
kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể, mỗi một bộ phận có một chức năng nhất định, đóng góp sự tồn tại của chỉnh thể đó, với tư cách là cấu trúc tương đối ổn định Thuyết chức năng xuất hiện nửa đầu thế kỷ XX, gắn bó với tên tuổi của Bronislaw Malinowski và sau đó là Arthur Reginald, Radcliffe Brown và những nhà nghiên cứu khác
Thuyết này gồm có hai chức năng là chức năng tâm lý (theo quan điểm của
B Malinowski) và chức năng xã hội (quan điểm của Emile Durkheim và được triển khai thêm trong những công trình của Radcliffe Brown)
Theo quan điểm của Malinowski, văn hóa là phương tiện để thỏa mãn các nhu cầu của các cá nhân riêng biệt và cộng đồng nói chung Do đó, mọi vật thể văn hóa (hữu hình hay vô hình) đều có ý nghĩa và chức năng cụ thể nhằm phục vụ cho các cá nhân riêng lẻ hay xã hội nói chung Bất kỳ văn hóa nào trong tiến trình phát triển của nó đều tạo ra một hệ thống cân bằng, ổn định, trong đó mỗi bộ phận của chỉnh thể đều thực hiện chức năng của nó Nếu triệt tiêu một yếu tố nào đó trong văn hóa thì toàn bộ hệ thống văn hóa tộc người sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và hủy hoại
Radcliffe Brown chịu ảnh hưởng và kiên trì quan điểm của E Durkheim, coi văn hóa và xã hội như một cơ thể sống, trong đó mọi bộ phận đều có quan hệ hữu
cơ với nhau để tạo ra một cơ chế cân bằng và thống nhất Quan điểm này nhấn mạnh rằng nếu văn hóa và xã hội tồn tại như tổng thể các chức năng, thì nhà nghiên cứu cần làm rõ mối quan hệ giữa các thành tố mang chức năng cụ thể trong chỉnh thể, đồng thời cũng cần làm rõ cấu trúc chung của chỉnh thể với tư cách là một thực thể chứa đựng tổng thể các chức năng
Trong nội dung đề tài luận văn, dựa vào lý thuyết chức năng tác giả phân tích vai trò của các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong nhu cầu sinh hoạt tinh thần của
Trang 32cộng đồng cư dân, từ đó thúc đẩy những tiềm năng phát triển liên quan đến văn hóa
và kinh tế - xã hội của địa phương
1.2.2 Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa
Theo Giáo trình nhân học đại cương của Khoa Nhân học trường Đại học
Khoa học Xã hội & Nhân văn TP HCM:
Giao lưu tiếp biến văn hóa (acculturation): là quá trình các tộc người “gặp
nhau”, tiếp xúc với nhau trên cơ sở đó “tiếp nhận” những giá trị văn hóa là động lực làm cho nhiều yếu tố văn hóa truyền thống luôn được điều chỉnh và biến đổi cho phù hợp Đó là hiện tượng xảy ra khi những nhóm (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc
cả hai nhóm Giao lưu tiếp biến văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng
Giao lưu tiếp biến văn hóa là khái niệm do các nhà nhân học người Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau Sự giao lưu và tiếp xúc văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục Các hình mẫu nguyên thủy của một cộng đồng hoặc cả hai cộng đồng có thể bị biến đổi thông qua tiếp xúc này (Redfiel, Linton, Herskovits, 1936) Các thành tố của nền văn hóa biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa có thể diễn ra một cách cưỡng bức thông qua sự thống trị về quân sự, hoặc diễn ra bằng con đường hòa bình hơn thông qua các cơ chế, buôn bán, truyền đạo Tuy nhiên bằng ngay cả con đường hòa bình nếu không đủ bản lĩnh, quá quá trình tiếp xúc giao lưu giữa hai nền văn hóa thì xã hội yếu hơn sẽ bị xã hội mạnh tác động thay đổi Trong thực tế, quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa có thể dẫn đến sự đánh mất mấy bản sắc của một nền văn
Anglo-hóa ngay cả khi dân tộc đó đang tồn tại
Để lý giải cho những nét đặc trưng tổng hợp, đa dạng của đạo Cao Đài dựa trên sự dung hỗn giữa các nền văn hóa chủ yếu của đạo Phật, Nho giáo và Đạo giáo tác giả đã vận dụng lý thuyết này trong luận văn Bên cạnh đó, nội dung lý thuyết còn giúp phân tích rõ nét quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa trong tín ngưỡng thờ
Trang 33Mẫu ở Nam Bộ điển hình là việc thờ Linh Sơn Thánh Mẫu tại khu du lịch núi Bà Đen
1.3 TỔNG QUAN VỀ TỈNH TÂY NINH
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý: Tây Ninh thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm ở vị trí cầu nối giữa
TP HCM và thủ đô Phnôm Pênh, Vương quốc Campuchia Phía Bắc Tây Ninh giáp vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 240km, có hai cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát cùng hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước với ranh giới tự nhiên là sông Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng có tổng chiều dài hơn 66km Phía Nam giáp TP HCM và tỉnh Long An
Diện tích Tây Ninh là 4.041,3km2
, gồm TP Tây Ninh và 8 huyện: Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Gò Dầu và Trảng Bàng TP Tây Ninh là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của tỉnh, cách TP HCM 99km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 22 (Cục thống kê tỉnh Tây Ninh, 2018)
Địa hình: Tây Ninh là bản lề giữa Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu
Long, thuộc miền đất cao của Nam Bộ, vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của một vùng đồng bằng
Địa hình Tây Ninh tương đối bằng phẳng Phía Bắc, từ TP Tây Ninh trở lên, nhiều rừng núi, trong đó núi Bà Đen cao 986m, là đỉnh núi cao nhất Nam Bộ Phía Nam, đất khá bằng phẳng, gần như là đồng bằng
Toàn tỉnh mang đặc điểm địa hình một vùng đồng bằng dạng đồi thoải xâm thực, tích tụ với các núi sót bào mòn nghiêng dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Đứt gãy dọc theo sông Vàm Cỏ Đông là ranh giới để phân chia giữa hai khu vực chính:
- Phía Tây Nam sông Vàm Cỏ Đông là vùng đồng bằng thấp với các dạng địa hình tích tụ là chủ yếu
- Phía Đông Bắc sông Vàm Cỏ Đông là đồng bằng cao với các núi sót bào mòn như núi Bà Đen, Trại Bí, Đồi 82…
Trang 35Khí hậu: Khí hậu của Tây Ninh mang tính đặc trưng của vùng nhiệt đới gió
mùa, với hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch và mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 dương lịch năm sau
Tây Ninh có chế độ nhiệt cao và ổn định, nhiệt độ trung bình năm là 28,10C, thích hợp để phát triển cây trồng, đặc biệt là các cây công nghiệp và cây có củ Lượng mưa ở Tây Ninh khá lớn, trung bình 2.139,6mm, phân bố không đều trong năm, đây là một trở ngại lớn cho đời sống và sản xuất Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 80%
Tây Ninh chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu là gió Tây – Tây Nam vào mùa mưa và gió Bắc – Đông Bắc vào mùa khô Do nằm sâu trong lục địa nên Tây Ninh ít chịu ảnh hưởng của bão và các yếu tố bất lợi khác (Cục thống kê tỉnh Tây Ninh, 2018)
Nhìn chung, khí hậu ở Tây Ninh tương đối ôn hòa thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi gia súc, gia cầm…
Với điều kiện về vị trí địa lý cũng như địa hình, khí hậu nêu trên tại tỉnh Tây Ninh, đã góp phần phát triển thuận lợi các hoạt động du lịch tại địa phương Cụ thể
là du lịch tỉnh Tây Ninh tiếp cận được nguồn khách lớn đầy tiềm năng từ TP HCM,
có điều kiện đi lại thuận tiện cho khách du lịch và khai thác các hoạt động tham quan du lịch quanh năm không bị hạn chế theo mùa khí hậu
1.3.2 Đặc điểm dân cư
Tây Ninh là tỉnh có số dân khá đông so với các tỉnh khác của vùng Đông Nam Bộ Dân số Tây Ninh xếp hàng thứ ba sau TP HCM và tỉnh Đồng Nai Theo
số liệu điều tra vào năm 2017, dân số Tây Ninh là 1.126.179 người Mật độ dân số
là 278,7 người/km2
(Cục thống kê tỉnh Tây Ninh, 2018)
Về phân bố dân cư theo đơn vị hành chính, tại TP Tây Ninh và ba huyện phía Nam là Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng dân cư tập trung đông đúc và thưa thớt hơn tại các huyện còn lại, vùng núi sát biên giới như Bến Cầu, Châu Thành, Tân Châu, Tân Biên, Dương Minh Châu
Trang 36Thành phần dân tộc Tây Ninh đa dạng, bao gồm 26 dân tộc anh em cùng sinh sống, điển hình là Kinh, Khmer, Hoa, Chăm trong đó người Kinh chiếm tỉ lệ đông nhất, địa bàn cư trú chủ yếu tập trung ở các xã, thị trấn và các tụ điểm văn hóa, kinh tế của tỉnh Người Khmer ở xen kẻ với người Kinh, chủ yếu theo đạo Phật dòng Tiểu Thừa Người Hoa cư trú tập trung nhất ở TP Tây Ninh và thị trấn
Gò Dầu, hoạt động kinh tế chủ yếu là thương mại Người Chăm cư trú chủ yếu ở xóm Chăm TP Tây Ninh và xã Tân Hưng huyện Tân Châu, lối sống của họ còn ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ (Cục thống kê tỉnh Tây Ninh, 2018)
Mỗi dân tộc tuy có những phong tục, tập quán sinh hoạt khác nhau nhưng đều có truyền thống chung là sống đoàn kết với cộng đồng, lao động cần cù, tạo nên cho Tây Ninh một nền văn hoá đa dạng, phong phú và đầy bản sắc dân tộc, yếu tố quan trọng để phát triển các hoạt động văn hóa mang dấu ấn riêng của con người Tây Ninh trong xây dựng nền kinh tế phát triển du lịch
1.3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tây Ninh là một trong những cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng giữa Việt Nam và các nước láng giềng Campuchia, Thái Lan… Tuyến đường Xuyên Á đi qua các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu tới cửa khẩu Mộc Bài dài 73km làm cho Tây Ninh giữ vị trí nối TP HCM với thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia và trở thành vị trí chiến lược phát triển kinh tế, thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa giữa Việt Nam với Campuchia và các nước ASEAN Tây Ninh cũng là tỉnh có vị trí quan trọng trong mối giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Trong những năm gần đây, nền kinh tế của tỉnh phát triển tương đối toàn diện và liên tục, đã đạt được những thành tựu và đáng khích lệ
Theo thống kê, ước tính 6 tháng đầu năm 2018 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,73%, trong đó ngành công nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất với tỉ lệ 40.34%; tiếp đến là ngành dịch vụ đạt 33,77%; còn lại là các ngành nông – lâm – thủy sản (Cục thống kê tỉnh Tây Ninh, 2018)
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Tây Ninh ngày càng phát triển vững chắc và đã xây dựng được hệ thống các nhà máy chế biến nông sản
Trang 37tại các vùng chuyên canh như các nhà máy đường, các nhà máy chế biến bột củ mì, các nhà máy chế biến mủ cao su, từng bước xây dựng các khu công nghiệp trong tỉnh Hạt nhân công nghiệp của tỉnh là các khu công nghiệp tập trung, trong đó khu công nghiệp Trảng Bàng đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước
Trong ngành nông nghiệp, đi đôi với phát triển trồng trọt, ngành chăn nuôi
có bước phát triển khá, đã tạo nhiều giống vật nuôi có năng suất cao đưa vào sản xuất đại trà, từng bước đưa ngành chăn nuôi chiếm một tỷ lệ tương xứng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của Tây Ninh
Trong lĩnh vực thương mại và du lịch, Tây Ninh đã triển khai các dự án thuộc khu thương mại trong nước và khu thương mại quốc tế tạo điều kiện cho cư dân biên giới hai nước trao đổi, buôn bán hàng hóa, tập trung phát triển khu kinh tế cửa khẩu Mộc bài, các trung tâm thương mại nội địa, các chợ đầu mối, chợ biên giới đồng thời xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Xa Mát, tiến tới xây dựng các khu công nghiệp và thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp Bên cạnh đó tỉnh cũng chủ trương tiếp tục mở rộng giao lưu buôn bán, tăng cường trao đổi thông tin với Campuchia và Thái Lan bằng nhiều hình thức như tham quan, hội đàm, đẩy mạnh việc nghiên cứu xúc tiến đầu tư, xây dựng các khu kinh tế thành một đầu mối xuất nhập khẩu hàng hóa, kể cả hàng chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất và hàng hóa quá cảnh Trên cơ sở mở rộng mạng lưới thương mại, đẩy mạnh các hoạt động du lịch
và từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho ngành du lịch – dịch vụ, tỉnh đã tạo liên kết phát triển các điểm du lịch núi Bà Đen, Ma Thiên Lãnh, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, hồ Dầu Tiếng, Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát…đây là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và phát triển các hoạt động du lịch của tỉnh Tây Ninh
Trong những năm trở lại đây, điều kiện văn hóa xã hội Tây Ninh có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống người dân được quan tâm cải thiện đáng kể, cụ thể:
- Về văn hóa – giáo dục, nhiều trường học được đầu tư xây dựng với cơ sở vật chất khang trang và đạt chuẩn quốc gia Số lượng giáo viên, học sinh ngày một tăng cao cả về chất lượng cũng được nâng cao Tuy nhiên, tại một số địa phương vùng biên giới xa xôi, điều kiện về cơ sở vật chất chưa được đảm bảo hoàn toàn
Trang 38- Chương trình giải quyết việc làm được đẩy mạnh, góp phần phát triển các ngành kinh tế Các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch tiếp tục được phát triển Chương trình xóa đói giảm nghèo luôn được quan tâm và mang lại hiệu quả thiết thực, có các chương trình xây dựng nhà đoàn kết, nhà tình nghĩa cho các hộ gia đình
có điều kiện khó khăn
- Công tác dân tộc được chỉ đạo thường xuyên, tạo điều kiện bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số Công tác quản lý đối với các hoạt động tôn giáo có nhiều tiến bộ, theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng
và nhà nước
- Về tôn giáo, ở Tây Ninh có đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Công giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi và một số tôn giáo khác Tây Ninh là vùng đất thánh của đạo Cao Đài với Tòa Thánh Tây Ninh là nơi hành hương của dân cư các vùng lân cận, cũng như núi Bà Đen là nơi phát triển mạnh các hoạt động du lịch tâm linh của các tín đồ Phật tử
Như vậy với điều kiện về văn hóa xã hội ngày càng được quan tâm xây dựng, nâng cao chất lượng, tạo cơ hội cho các hoạt động liên quan đến du lịch được phát triển thuận lợi, thu hút được du khách quan tâm lựa chọn, tạo doanh thu cho ngành kinh tế du lịch của địa phương
Tiểu kết chương 1
Tây Ninh là vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, trong đó ngành du lịch có thế mạnh vượt trội và trở thành xu hướng đầu tư phát triển ưu tiên của nền kinh tế địa phương Thuộc vùng đất mới Nam Bộ, có sự cộng cư của nhiều tộc người khác nhau, Tây Ninh đã hình thành và phát triển một nền văn hóa bản địa đặc sắc và đa dạng mang màu sắc tín ngưỡng tôn giáo đậm nét
và đặc trưng riêng của vùng
Vận dụng cơ sở lý thuyết về chức năng giúp tác giả phân tích vai trò của tín ngưỡng tôn giáo gắn liền với tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương Khi cuộc sống gặp nhiều khó khăn thì niềm tin cư dân gửi gắm qua những tôn giáo mới như đạo Cao Đài hay tín ngưỡng thờ Mẫu cụ thể là Bà Đen - Linh Sơn Thánh
Trang 39Mẫu Bên cạnh đó lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa giúp tác giả phân tích được sự giao thoa tiếp biến văn hóa của các tộc người ở đây trong quá trình định
cư và phát triển lâu dài tại đây giữa các tộc người Khmer, Chăm, Việt Điều này tạo cho Tây Ninh có nhiều sắc thái văn hóa hỗn dung, trong đó có yếu tố tín ngưỡng tôn giáo
Với những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, văn hóa xã hội kết hợp với sự đa dạng nguồn tài nguyên du lịch là yếu tố thuận lợi góp phần xây dựng và phát triển ngành du lịch tỉnh Tây Ninh
Trang 40CHƯƠNG 2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA CỦA TỈNH TÂY NINH
2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa của tỉnh Tây Ninh
Tây Ninh là địa phương được đánh giá có nguồn tài nguyên du lịch đa dạng
và đầy tiềm năng, bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Mỗi tài nguyên phù hợp để phát triển các loại hình du lịch khác nhau, trong đó chủ yếu tập trung gồm có du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch về nguồn… Tài nguyên du lịch tự nhiên có thể kể đến: khu du lịch núi Bà Đen, thung lũng Ma Thiên Lãnh, hồ Dầu Tiếng, vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát… đây cũng là những điểm du lịch chính, nổi bật của tỉnh Tây Ninh đang được khai thác trong các hoạt động du lịch, thu hút nhiều khách tham quan hiện nay
Đặc biệt, tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Tây Ninh được đánh giá đa dạng, bao gồm các di tích lịch sử cách mạng, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật,
lễ hội, làng nghề truyền thống, nghệ thuật ẩm thực…
2.1.1 Tài nguyên văn hóa vật thể
2.1.1.1 Di tích lịch sử - cách mạng
- Di tích lịch sử - văn hóa chiến thắng Tua Hai: nằm trên quốc lộ 22B thuộc
ấp Tua Hai, xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nằm về hướng Bắc cách thị xã Tây Ninh 7km Nơi diễn ra trận đánh mở màn phong trào đồng khởi vũ trang toàn miền Nam đã đi vào lịch sử và trở thành một di tích lịch sử cách mạng Địa điểm chiến thắng Tua Hai được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch
sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số: 937/QĐ-BT ngày 23- 7-1993
- Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam: đã
được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 839/QĐ ngày 31-8-1990 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin; được Thủ tướng Chính phủ công nhận là di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10-05- 2012 Di tích nằm trong khu vực Chàng Riệc, cạnh suối Tiên Cô, thuộc
xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, cách thị xã Tây Ninh khoảng 64km về hướng Bắc theo quốc lộ 22B Trong những năm tháng diễn ra cuộc chiến tranh