Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về NLCT để vận dụng nghiên cứu thực trạng NLCT của ĐĐDL; đề xuất các tiêu chí đánh giá thực trạng NLCT của ĐĐDL; phân tích các nhân tố ảnh hưởng và t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Thanh Thủy
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN,
TỈNH TÂY NINH
Chuyên ngành : Địa lí học
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KIM HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thanh Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đến Quý Thầy, cô khoa Địa lí, phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và quý Thầy, Cô khoa Địa lí Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Với tất cả tình cảm của mình, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất
tới PGS.TS Nguyễn Kim Hồng, người đã rất tận tình, tâm huyết và trách nhiệm
giúp đỡ tôi những phương pháp nghiên cứu, nội dung và kiến thức quý báu để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND tỉnh Tây Ninh; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Quản lý KDL núi Bà Đen, Phòng thống kê phường núi Sam thành phố Châu Đốc tỉnh An Giang, các cá nhân và tổ chức liên quan đến
du lịch đã nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp các tài liệu và trả lời phỏng vấn, điều tra Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những đồng nghiệp
và các bạn học viên Địa lí học K28 yêu quý đã tận tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2019
Tác giả
Phạm Thị Thanh Thủy
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các hình
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các biểu đồ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Du lịch và điểm đến du lịch 11
1.1.2 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 14
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 22
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến
du lịch 25
1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch 28
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số điểm đến du lịch ở Đông Nam Á 28
1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số điểm đến du lịch ở Việt Nam 32
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 35
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN, TỈNH TÂY NINH 39
Trang 62.1 Khái quát thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh 39
2.1.1 Khái quát về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh 39
2.1.2 Một số kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2018 43
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 44
2.2.1 Vị trí điểm đến du lịch núi Bà Đen 44
2.2.2 Kinh tế - xã hội 45
2.2.3 Quảng bá, xúc tiến du lịch 46
2.2.4 Giá cả 46
2.2.5 Quy hoạch và chính sách phát triển du lịch của điểm đến 47
2.2.6 An ninh trật tự và môi trường 47
2.2.7 Sự thuận tiện tiếp cận điểm đến du lịch núi Bà Đen 48
2.2.8 Điểm đến du lịch cạnh tranh hiện tại 49
2.2.9 Đánh giá chung về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 49
2.3 Thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 50
2.3.1 Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch 50
2.3.2 Nguồn nhân lực du lịch 60
2.3.3 Cơ sở hạ tầng 63
2.3.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 67
2.3.5 Sản phẩm và dịch vụ du lịch 71
2.3.6 Đầu tư du lịch 76
2.3.7 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch 78
2.4 Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 88
2.4.1 So sánh với điểm đến du lịch núi Sam (tỉnh An Giang) 88 2.4.2 Kết quả điều tra sự hài lòng của du khách đối với điểm đến du lịch
Trang 7núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 93
2.4.3 Kết quả phỏng vấn chuyên gia về điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 102
2.4.4 Đánh giá tổng quát về thực trạng năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 103
Tiểu kết chương 2 110
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH NÚI BÀ ĐEN, TỈNH TÂY NINH ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 111
3.1 Quan điểm, mục tiêu, dự báo và phân tích ma trận SWOT đối với nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 111
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch núi Bà Đen 111
3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch núi Bà Đen 112
3.1.3 Dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch 113
3.1.4 Phân tích ma trận SWOT 118
3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 121
3.2.1 Đầu tư nâng cao chất lượng điểm đến du lịch 121
3.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch 127
3.2.3 Đẩy mạnh thu hút thị trường, xúc tiến quảng bá sản phẩm du lịch 128
3.2.4 Đẩy mạnh quản lý chất lượng điểm đến du lịch 132
Tiểu kết chương 3 134
KẾT LUẬN 135
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
OECD Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế
UNWTO Tổ chức du lịch thế giới của Liên hiệp quốc
USNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc VISA Thị thực (thị thực nhập cảnh)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người 18
Bảng 2.1 Một số chỉ số về khí hậu tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2018 40
Bảng 2.2 Khách du lịch và doanh thu du lịch Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2018 43
Bảng 2.3 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người tại núi Bà Đen, năm 2018 52
Bảng 2.4 Hiện trạng cơ sở lưu trú tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2018 68
Bảng 2.5 So sánh thông số kỹ thuật của hệ thống cáp treo cũ và mới 70
Bảng 2.6 Thống kê khách du lịch đến núi Bà Đen giai đoạn 2008 - 2018 79
Bảng 2.7 So sánh lượng khách du lịch của núi Bà Đen với khách du lịch có lưu trú của tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2018 83
Bảng 2.8 Tổng thu du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2018 86
Bảng 2.9 Thực trạng lao động du lịch tỉnh Tây Ninh và An Giang năm 2018 90
Bảng 2.10 Giới tính và độ tuổi của khách du lịch trong nước và quốc tế 94
Bảng 2.11 Thống kê mô tả các biến đo lường của thang đo cơ sở hạ tầng 97
Bảng 2.12 Thống kê mô tả các biến đo lường của thang đo khả năng tiếp cận 98
Bảng 2.13 Thống kê mô tả các biến đo lường của thang đo yếu tố môi trường 98
Bảng 2.14 Thống kê mô tả các biến đo lường của thang đo sức hấp dẫn 99
Bảng 2.15 Thống kê mô tả các biến đo lường của thang đo nhân viên phục vụ 100
Bảng 2.16 Thống kê mô tả các biến đo lường của thang đo giá cả hàng hóa và dịch vụ 100
Bảng 2.17 Kết quả độ tin cậy của các thang đo NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen 101
Bảng 2.18 Tổng hợp kết quả phỏng vấn chuyên gia về thực trạng năng lực cạnh tranh của điểm đến Du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 103
Bảng 3.1 Ma trận SWOT điểm đến du lịch núi Bà Đen 118
Bảng 3.2 Phát triển sản phẩm du lịch núi Bà Đen 129
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch núi Bà
Đen, tỉnh Tây Ninh 26 Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Tây Ninh 38 Hình 2.2 Lược đồ phân tích các giá trị cảnh quan Khu du lịch núi Bà Đen,
tỉnh Tây Ninh 56 Hình 2.3 Lược đồ vị trí các điểm du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 59 Hình 2.4 Lược đồ thực trạng phát triển du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
giai đoạn 2008 - 2018 109 Hình 3.1 Tuyến cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Mộc Bài (Tây Ninh) 123 Hình 3.2 Sơ đồ quy hoạch chi tiết 1/500 Khu du lịch tham quan nghỉ dưỡng
trên đỉnh núi Bà 124
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1 Lao động ngành du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2018 60
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu trình độ lao động ngành du lịch tỉnh Tây Ninh (%) 61
Biểu đồ 2.3 Số lượt khách du lịch đến núi Bà Đen và khách Hội Xuân giai đoạn 2008 - 2018 80
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu khách du lịch đến núi Bà Đen trong tổng lượt khách du lịch cả nước và khách du lịch tỉnh Tây Ninh (%) 81
Biểu đồ 2.5 Cơ cấu khách Hội Xuân của núi Bà Đen giai đoạn 2008 - 2018 82
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu khách lưu trú toàn tỉnh giai đoạn 2008 – 2018 84
Biểu đồ 2.7 Số ngày khách do các cơ sở lưu trú phục vụ và thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2008 - 2018 85
Biểu đồ 2.8 Đóng góp của du lịch vào cơ cấu GRDP tỉnh Tây Ninh (%) 87
Biểu đồ 2.9 Kết quả hoạt động kinh doanh của núi Bà Đen và núi Sam 92
Biểu đồ 2.10 Cơ cấu nghề nghiệp khách du lịch 94
Biểu đồ 2.11 Cơ cấu mục đích chuyến đi 95
Biểu đồ 2.12 Cơ cấu nhu cầu sử dụng cơ sở lưu trú (%) 96
Biểu đồ 2.13 Cơ cấu độ dài chuyến đi của du khách (%) 96
Biểu đồ 3.1 Dự báo tổng thu du lịch từ Khu du lịch núi Bà Đen đến 2030 115
Biểu đồ 3.2 Dự báo nhu cầu lao động cho núi Bà Đen đến năm 2030 116
Biểu đồ 3.3 Dự báo tổng chi phí hoạt động du lịch núi Bà Đen đến 2030 117
Biểu đồ 3.4 Dự báo nhu cầu cơ sở lưu trú khách du lịch ở núi Bà Đen đến 2030 117
Biểu đồ 3.5 Cơ cấu dự kiến phân bổ nguồn vốn đầu tư xây dựng, phát triển khu du lịch núi Bà Đen đến 2030 (%) 121
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch được xem là một ngành kinh tế “không khói” và có vị trí, vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế quốc dân của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á – Thái Bình Dương
Tại Việt Nam, trong chương 3, điều 42 của Hiến pháp năm 1992 quy định “Nhà nước và xã hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế” (Hiến pháp, 1992) Điều đó cho thấy, từ lâu Chính phủ đã nhận định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, phát triển du lịch là chiến lược quan trọng nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngày nay, Việt Nam đang trên đà hội nhập với nền kinh tế khu vực và toàn cầu, môi trường kinh doanh của các điểm đến du lịch (ĐĐDL) được mở rộng song sự cạnh tranh càng trở nên khốc liệt hơn, nan giải hơn Đó cũng là những thách thức lớn mà các ĐĐDL phải đối mặt
Thực tế cho thấy, trong hoạt động kinh doanh du lịch thì việc đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh (NLCT) của ĐĐDL hết sức quan trọng Một ĐĐDL hấp dẫn cùng với chất lượng phục vụ tốt cả về vệ sinh, môi trường, an ninh… thì ĐĐDL đó
sẽ mang lại hiệu quả cạnh tranh cao, thu hút lượng khách du lịch lớn, doanh thu du lịch tăng mạnh và ngược lại Vì vậy, việc nâng cao NLCT điểm đến để thu hút khách du lịch đang được nhiều quốc gia coi trọng trong đó có Việt Nam
Cùng với xu thế đó, gần đây ngành du lịch tỉnh Tây Ninh nói chung và núi Bà Đen nói riêng đã tăng khá mạnh, lượng khách quốc tế cũng như trong nước ngày càng tăng, ngành du lịch đã góp phần tạo công ăn việc làm, an sinh xã hội cho người dân ĐĐDL núi Bà Đen ngày càng được biết đến nhiều hơn và là biểu tượng cho mảnh đất và con người Tây Ninh
Tuy nhiên, so với các điểm đến khác trong khu vực tiểu vùng sông Mê Kông và Nam Bộ thì ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh còn nhiều hạn chế về NLCT Những hạn chế thể hiện ở chỗ: Hoạt động kinh doanh du lịch còn mang tính thời vụ cao; tiềm lực tài chính yếu, chưa thu hút được các nhà đầu tư vào núi Bà Đen; nguồn
Trang 13nhân lực du lịch còn yếu về trình độ chuyên môn, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ; cơ
sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch chưa đáp ứng nhu cầu khách tham quan…
Do đó, để núi Bà Đen có thể trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong tương lai, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao NLCT
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã chọn đề tài “Thực trạng năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh” làm luận văn thạc sĩ của mình Đề tài
này, tác giả chỉ xem xét ở khía cạnh địa lý học
Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả hi vọng được đóng góp một phần nhỏ kiến thức của mình nhằm nâng cao NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen trên thị trường quốc tế
và trong nước, đóng góp vào sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa tỉnh nhà
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần nâng cao NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về NLCT để vận dụng nghiên cứu thực trạng NLCT của ĐĐDL; đề xuất các tiêu chí đánh giá thực trạng NLCT của ĐĐDL; phân tích các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh; từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao NLCT tại điểm du lịch này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để giải quyết được mục đích nghiên cứu đề ra, tác giả sẽ giải quyết một số
nhiệm vụ chính trong luận văn của mình như sau:
Một là, hệ thống hóa những vấn đề về cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về
NLCT của ĐĐDL
Hai là, xác định các tiêu chí đánh giá NLCT của ĐĐDL, qua đó vận dụng các
tiêu chí đánh giá NLCT điểm đến phù hợp nhất
Ba là, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen
Bốn là, mô tả thực trạng, phân tích, đánh giá thực trạng NLCT của ĐĐDL núi Bà
Đen trong giai đoạn 2008 - 2018
Trang 14Năm là, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao NLCT của ĐĐDL núi Bà
Đen, tỉnh Tây Ninh đến năm 2030
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là Thực trạng năng lực cạnh tranh
điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh; (trường hợp điển cứu: So sánh ĐĐDL
núi Sam – Châu Đốc, tỉnh An Giang)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung vào nghiên cứu thực trạng NLCT của
ĐĐDL, đề xuất một số tiêu chí đánh giá, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh; từ đó đưa ra một số giải pháp
ưu tiên nhằm nâng cao NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen
Về không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu trong phạm vi khu vực núi
Bà Đen, tỉnh Tây Ninh trong mối quan hệ so sánh điển cứu với điểm đến có nét tương đồng về sinh thái và tâm linh là núi Sam – Châu Đốc (tỉnh An Giang)
Về thời gian: Số liệu thứ cấp sử dụng trong luận văn được thu thập trong
giai đoạn 2008 - 2018, riêng số liệu về Hội Xuân núi Bà được thu thập đến năm 2019; số liệu điều tra sơ cấp được thu thập trong năm 2019 Các giải pháp được đề xuất đến năm 2030
4 Lịch sử nghiên cứu
NLCT nói chung và NLCT của ĐĐDL nói riêng đã từ lâu được xác định là một trong những yếu tố đem đến thành công trong phát triển du lịch địa phương
Chủ đề này cũng đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
4.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu đề cập đến “cạnh tranh điểm đến du lịch” phần lớn nghiên cứu sự cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch thông qua các yếu tố về giá cả
Từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, ngành du lịch và những nhà nghiên cứu du lịch đã ý thức được bên cạnh lợi thế cạnh tranh, giá cả thì còn nhiều chỉ tiêu khác để
đo lường sức cạnh tranh của ĐĐDL
Trang 15Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến cạnh tranh ĐĐDL,
trong đó phải kể đến “Yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh điểm du lịch châu
Á - Thái Bình Dương: Toàn diện và phổ quát” (Michael J Enright & James
Newton., 2005) Nghiên cứu này dựa trên kết quả khảo sát và thu thập dữ liệu từ các học viên ngành du lịch tại ba điểm đến cạnh tranh chặt chẽ ở châu Á – Thái Bình Dương Đồng thời kết quả này cho thấy tầm quan trọng của cạnh tranh có thể khác nhau giữa các địa điểm, tùy thuộc vào phân khúc sản phẩm và phân khúc thị trường mục tiêu, đặc biệt đối với ngành phức tạp và nhiều hạn chế như du lịch
Tiếp đến là ấn phẩm về “Phân tích điểm đến cạnh tranh ở Đông Nam Á”
(Douglas G Pearce, 1997), tác giả phân tích, so sánh có hệ thống những thuộc tính
đa dạng của các điểm đến cạnh tranh, trong đó ĐĐDL Sarawak của Malaysia được
sử dụng để minh họa
Ngoài ra, trong “Khả năng cạnh tranh về giá của du lịch và du lịch: So sánh 19
điểm đến Quản lý du lịch” (Dwyer, L., Forsyth, P & Rao, P., 2000) Trong nghiên
cứu này, tác giả đề cập đến khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch qua yếu tố giá cả và chỉ giới hạn ở tầm vi mô, chưa thể hiện cụ thể ở tầm vĩ mô Mặc dù đối với ĐĐDL cũng như doanh nghiệp thì giá cả đóng vai trò hết sức quan trọng trong cạnh tranh
Như vậy, các nghiên cứu trên và nhiều nghiên cứu khác trên thế giới đã thể hiện khá đa dạng về NLCT của một ĐĐDL song các nghiên cứu này rất khó để áp dụng vào thực tế của nước ta đặc biệt là đối với núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về NLCT trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, du lịch
Vận dụng vào nghiên cứu NLCT của ĐĐDL đã có nhiều công trình công trình nghiên cứu khoa học ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau, trong đó một số công trình đáng chú ý là:
Luận văn “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Đà Lạt” (Dương
Ngọc Lang, 2014), đề tài này nghiên cứu theo hướng đánh giá định lượng để phân tích hiện trạng, các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến NLCT của ĐĐDL và đánh giá
Trang 16định tính bằng việc phân tích các số liệu tổng hợp từ việc thu thập ý kiến của du khách, áp dụng công cụ NPS để nhận định rõ hơn mức độ hài lòng của du khách
Luận văn “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tỉnh Tiền Giang”
(Nguyễn Thị Ngọc Thắm, 2015), đề tài này phân tích, đánh giá NLCT của ĐĐDL dựa trên lý thuyết của Metin Kozak và các chỉ số của Dwyer & Kim
Luận án “Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Việt Nam” (Nguyễn Anh
Tuấn, 2010), nghiên cứu dựa trên mô hình lý thuyết của WEF để đánh giá NLCT của ĐĐDL
Sách “Lý thuyết cạnh tranh doanh nghiệp thương mại” (Phạm Văn Công, Đinh
Việt Hòa, Đinh Văn Hiến và Nguyễn Văn Định, 2016), nội dung sách khái quát về cạnh tranh và NLCT của doanh nghiệp thương mại, thực trạng và một số giải pháp nâng cao NLCT của doanh nghiệp thương mại Việt Nam
Sách “Giáo trình kinh tế du lịch” (Vũ Mạnh Hà, 2014), nội dung khái quát về
cầu du lịch, cung du lịch, giá cả, lao động du lịch, tiêu dùng du lịch và dự báo du lịch …
4.3 Khoảng trống nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đây chủ yếu tập trung nghiên cứu vào hai khía cạnh định lượng và định tính
Trên cơ sở tiếp cận và kế thừa các luận văn, luận án của các tác giả đã nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
Vì vậy, luận văn nghiên cứu thực trạng NLCT tại ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh bằng việc đánh giá dựa trên các tiêu chí về định lượng và định tính để phân tích rõ hơn vấn đề dưới góc độ địa lí học
Và tất cả những công trình đã nghiên cứu về NLCT của ĐĐDL là nền tảng, là cơ
sở vững chắc để tác giả áp dụng và nghiên cứu về thực trạng NLCT của ĐĐDL núi
Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
Trang 175 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Do đó, cần phân tích tổng hợp các mối quan hệ trên một lãnh thổ thống nhất từ
đó nhận xét chính xác về NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
5.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Tất cả vạn vật đều có lịch sử hình thành và phát triển, vấn đề ĐĐDL cũng không ngoại lệ
Hiện trạng NLCT của ĐĐDL hiện tại là kết quả của quá trình phát triển ở giai đoạn trước đó
Vì vậy, cần dựa trên quan điểm lịch sử để nắm được sự thay đổi và giải thích được sự phát triển hiện tại cũng như dự báo về NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh trong tương lai
5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Mọi sự vật hiện tượng đều có quy luật phát triển trong môi trường nhất định, do
đó cần nghiên cứu đến môi trường, làm thế nào để có môi trường sống tốt hơn và bền vững lâu dài
Theo quan điểm này, đòi hỏi phát triển du lịch phải đảm bảo sự phát triển bền vững về tài nguyên, môi trường, chất lượng phục vụ du khách
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 18 Số liệu thứ cấp: Thông tin, số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài này được
thu thập, tổng hợp chủ yếu từ các nguồn sau:
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh gồm: Số liệu thống kê tình
hình hoạt động của ngành du lịch hàng năm trong giai đoạn 2008 - 2018 (riêng số liệu Hội Xuân núi Bà Đen đến năm 2019) với một số chỉ tiêu cụ thể: Lượt du khách, doanh thu ngành du lịch, số lượng cơ sở lưu trú, số lượng lao động trong ngành du lịch … Và các văn bản, chính sách, đề án quy hoạch có liên quan đến núi Bà Đen
Các cơ quan ban ngành, tổ chức, dự án có liên quan gồm: Tổng Cục Du
lịch, Tổng Cục Thống kê, Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hiệp quốc (UNWTO)… Sử dụng các giáo trình, sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các bài báo khoa học Ngoài ra, tác giả còn tham chiếu thêm số liệu du lịch của núi Sam - Châu Đốc (tỉnh An Giang) năm 2018
để so sánh
Số liệu sơ cấp: Đề tài này được tác giả thực hiện phân tích với nguồn số
liệu sơ cấp chủ yếu được thu thập từ:
Phỏng vấn chuyên gia: Tác giả phỏng vấn ý kiến và đánh giá của các
chuyên gia về đối tượng nghiên cứu từ đó tìm giải pháp tối ưu cho đề tài
Thiết kế bảng hỏi phỏng vấn chuyên gia: Gồm hai phần: Phần A giới thiệu về
mục tiêu của cuộc phỏng vấn Phần B là nội dung chính của cuộc phỏng vấn (Xem phụ lục 1)
Thời gian phỏng vấn: 30 phút
Điều tra sự hài lòng của khách du lịch: Nhằm xác định giá trị trung bình
của các thang đo, kiểm định độ tin cậy của các thang đo
Thiết kế bảng hỏi: Bảng hỏi được tác giả xây dựng một cách logic nhằm tạo
điều kiện cho người được hỏi thể hiện được quan điểm của mình Các tiêu chí trong bảng hỏi được xây dựng để điều tra đối tượng du khách đến với núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh (bảng hỏi được thiết kế với 2 ngôn ngữ chính là tiếng Việt và tiếng Anh nhằm phục vụ cả đối tượng là du khách quốc tế)
Thời gian khảo sát: Từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 04 năm 2019
Phương pháp chọn mẫu khảo sát về mức độ hài lòng của khách du lịch có cỡ
Trang 19mẫu là 133 du khách với hai hình thức trong cùng thời điểm Hình thức thứ nhất, tác giả khảo sát trực tiếp du khách đến núi Bà Đen và được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên từ dòng khách du lịch quốc tế và trong nước đến và nghỉ tại các cơ sở lưu trú Các cơ sở lưu trú được tiến hành trong cuộc điều tra gần khu vực núi Bà Đen và thành phố Tây Ninh được chọn theo phương pháp chọn mẫu “cân bằng rải đều” và thu được 98 mẫu đạt yêu cầu Hình thức thứ hai, cũng cùng phiếu khảo sát thực tế tác giả khảo sát bằng công cụ Google.Docs trên mạng xã hội để khảo sát và thu được 35 mẫu (Xem phụ lục 3 và 4)
Tóm lại, kết quả phỏng vấn chuyên gia được phân tích, tổng hợp cụ thể gồm
23 tiêu chí đánh giá thực trạng NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen và Sự hài lòng của du
khách là nhóm tiêu chí đo lường NLCT của ĐĐDL
5.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu
Tương ứng với mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài, tác giả sử dụng một số kỹ thuật, công cụ phân tích dữ liệu như sau:
Thứ nhất, tác giả sử dụng Excel, phần mềm SPSS.20, GIS và phần mềm
Mapinfo vào việc xử lý phân tích, số liệu để xây dựng các biểu đồ, bảng số liệu, bản
đồ, lược đồ có liên quan cũng như thể hiện kết quả nghiên cứu Đồng thời sử dụng trích dẫn, lược khảo thông tin thứ cấp để giải thích thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Thứ hai, để đánh giá thực trạng NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
Trước hết cần nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá, sau đó nghiên cứu sử
dụng thang đo Likert 5 mức độ (1 Rất không hài lòng; 2 Không hài lòng; 3 Trung
bình; 4 Hài lòng; 5 Hoàn toàn hài lòng) để đánh giá sự hài lòng của du khách
Thứ ba, trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, tác giả dựa vào các tiêu chí
cũng như số liệu thống kê để tính toán, nhận định, dự báo về tình hình NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh
5.2.3 Phương pháp dự báo
Dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai Dựa trên cơ sở phân tích các dữ liệu đã thu thập được để căn cứ vào khối lượng, nhu cầu khách du lịch, tài nguyên du lịch, sức chứa điểm tài nguyên, cơ sở
Trang 20vật chất – kỹ thuật phục vụ du lịch,… nhằm đưa ra một số dự báo về NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh trong tương lai
Phương pháp này rất cần thiết trong việc nghiên cứu kinh tế - xã hội, đặc biệt đối với địa lí học, đồng thời là cơ sở quan trọng để định hướng cũng như đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen đến năm 2030
5.2.4 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Đây là phương pháp khá quan trọng trong không gian nghiên cứu, đồng thời thể hiện mối liên hệ với các khu vực lân cận
Trong đề tài này, tác giả sử dụng phần mềm GIS để thể hiện kết quả nghiên cứu, xây dựng hệ thống bản đồ hành chính, bản đồ chuyên đề về thực trạng phát triển du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh bằng phần mềm MapInfo
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đánh giá được thực trạng NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh; phân tích được giá trị và kiểm định độ tin cậy về các thang đo sự hài lòng của du khách đối với ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
Đánh giá được những thuận lợi và hạn chế thực trạng NLCT của ĐĐDL núi
Bà Đen, tỉnh Tây Ninh để làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao NLCT của ĐĐDL này trong tương lai
Đề xuất được bốn nhóm giải pháp nhằm góp phần nâng cao NLCT của ĐĐDL
Trang 21núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh trong thời gian tới
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
Trang 22Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
Theo Hunziker và Krapf năm 1942 “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan hoạt động kiếm lời” (Nguyễn Minh Tuệ và Vũ Đình Hòa, 2017) Quan niệm này tiếp cận du lịch từ khía cạnh cung và thể hiện khá đầy đủ các hiện tượng
du lịch, song chưa làm rõ được đặc trưng và mối quan hệ du lịch
Theo UNWTO năm 1993: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao
ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm” (Nguyễn Minh Tuệ et al., 2012) Theo Luật Du lịch Việt Nam, ban hành năm 2017 tại Điều 3 chương I thì “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (Quốc hội, 2017) Khái niệm này, mặc dù có sự điều chỉnh thêm thời gian cụ thể so với luật cũ nhưng cũng đều cho thấy đây là một dạng hoạt động xuất phát từ nhu cầu cá nhân hay tập thể về việc rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng những cuộc hành trình trong ngày hoặc dài ngày với nhiều mục đích riêng biệt đến một nơi khác Hành trình của họ gắn với giải trí, nghỉ
Trang 23dưỡng, thăm thân nhân, công tác, hội nghị khách hàng, du lịch khen thưởng hoặc kinh doanh…
Qua các khái niệm cơ bản trên có thể hiểu, những nhu cầu khám phá, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng,… ở những ĐĐDL ngoài nơi cư trú thường ngày của du khách
Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm về “Du lịch” theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 để phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Theo tác giả Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Đình Hòa, “ĐĐDL là một địa điểm mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lí, đường biên giới về chính trị hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch” (Nguyễn Văn Mạnh
và Nguyễn Đình Hòa, 2009)
Từ các quan điểm trên có thể hiểu, những điểm tài nguyên du lịch nổi trội, có khả năng thu hút khách du lịch đến tham quan, đạt hiệu quả kinh doanh cao và đảm bảo phát triển bền vững…tại một ĐĐDL Và trong luận văn, tác giả dựa vào khái niệm thứ hai làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu
Phân loại điểm đến du lịch
ĐĐDL rất đa dạng với nhiều cách phân loại khác nhau Trong đề tài này tác giả muốn đề cập theo phạm vi địa lý với những cấp độ sau:
Trang 24 Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực
Việc cạnh tranh nguồn khách du lịch trên thị trường thế giới ngày càng gay gắt Thời gian qua các quốc gia trong từng khu vực khác nhau vừa hợp tác vừa cạnh tranh để thu hút nguồn khách du lịch bằng nhiều biện pháp tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, xúc tiến du lịch …
Trong sáu khu vực du lịch trên thế giới thì châu Á – Thái Bình Dương được UNWTO đánh giá cao nhất với tốc độ tăng trưởng khách du lịch hàng năm vượt trên năm khu vực khác Do đó, các nước ASEAN thường xuyên hợp tác tổ chức các
sự kiện để quảng cáo hình ảnh ASEAN như một ĐĐDL hấp dẫn, trung tâm hội nghị
và du lịch chữa bệnh của nhân loại
Điểm đến du lịch mang tính phạm vi quốc gia
Trong bối cảnh toàn cầu hóa du lịch, các quốc gia trong khu vực đi đến hợp tác để xây dựng hình ảnh ĐĐDL của khu vực, đồng thời cũng quảng bá những giá trị du lịch đặc thù để cạnh tranh và thu hút nguồn du khách đến với đất nước mình Nguồn khách quốc tế là nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước Do đó ngoài việc tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, xúc tiến du lịch thì mỗi nước cần có một bộ Luật
Du lịch nhằm tạo điều kiện cho du khách, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả
Không chỉ vậy, việc đảm bảo cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho phát triển du lịch cũng rất cần thiết Bên cạnh đó, việc miễn thị thực (visa) cũng góp phần rất lớn trong việc thu hút lượng khách du lịch quốc tế đến tham quan Nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Việt Nam đã miễn visa cho công dân trên 50 nước đến du lịch tại đây và đặc biệt công dân của các nước trong khối ASEAN đi du lịch không cần visa
Điểm đến du lịch mang tính địa phương
Trên thế giới có rất nhiều ĐĐDL không chỉ mang tính địa phương mà còn được xem là biểu tượng, là thương hiệu du lịch của quốc gia
Ví dụ: khi nhắc đến Thái Lan người ta thường liên tưởng đến xứ Chùa vàng với những ngôi đền nguy nga rực rỡ, cùng thành phố biển Pattaya - nơi được mệnh danh là Hawaii của phương Đông, đảo Phuket được xem là đại diện cho hầu hết khu
Trang 25nghỉ dưỡng biển đảo của Đông Nam Á và được ví như viên ngọc của Ấn Độ Dương
1.1.2 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Học thuyết kinh tế cho rằng, cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh
tế thị trường, nơi cung – cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản tạo nên cơ chế hoạt động thị trường Do là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh
Theo C Mark, “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà
tư bản giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch” (Phạm Văn Công, Đinh Việt Hòa, Đinh Văn Hiến và Nguyễn Văn Định, 2016)
Theo nhà kinh tế học P Samuelson, “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trường” (Phạm Văn Công et al., 2016)
Theo từ điển Bách khoa của Việt Nam, “Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi” (Phạm Văn Công et al., 2016)
Như vậy, cạnh tranh có thể được hiểu là quan hệ kinh tế mà ở đó có sự ganh đua lẫn nhau, nghiên cứu những biện pháp tối ưu nhất nhằm chiếm lĩnh thị trường, nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp và đảm bảo lợi ích tiêu dùng của khách hàng
Năng lực cạnh tranh
NLCT được hiểu là một dạng khái niệm tổng hợp được xây dựng trên cơ sở
Trang 26kết nối và tổ hợp hệ thống nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài
Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu đã xem xét theo các cấp độ cạnh tranh khác nhau như: NLCT của quốc gia, NLCT của doanh nghiệp
và NLCT của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của quốc gia
Theo Tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), NLCT quốc gia là khả năng đạt và duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao trên cơ sở chính sách, thể chế bền vững gồm: Thương mại và đầu tư; Vai trò của chính phủ; Tài chính; Công nghệ; Quản lý kinh doanh và nhân lực; Lao động; Thể chế
Theo M Porter, khái niệm có ý nghĩa lớn nhất về NLCT là năng suất lao động Như vậy, có thể hiểu rằng: “NLCT quốc gia là mức độ mà một quốc gia, trong điều kiện thị trường tự do và công bằng, sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì hay nâng cao thu nhập thực sự của dân cư”
(Phạm Văn Công et al., 2016)
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo Fafchamps, NLCT của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường Theo Markusen, một nhà sản xuất là cạnh tranh nếu có mức chi phí đơn vị sản phẩm trung bình bằng hoặc thập hơn chi phí đơn vị sản phẩm của các nhà cạnh tranh quốc tế
Như vậy có thể khái quát rằng, “NLCT của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao cho doanh nghiệp trong
môi trường cạnh tranh” (Phạm Văn Công et al., 2016)
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Có rất nhiều khái niệm về NLCT sản phẩm, tuy nhiên có thể hiểu rằng:
“NLCT của sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố chính về công dụng kinh tế của một loại sản phẩm, yếu tố về chất lượng, yếu tố về giá cả so với sản phẩm tương tự của các chủ thể khác nhau hoặc sản phẩm có khả năng thay thế; và có thể thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng cao hơn,
Trang 27được người tiêu dùng lựa chọn, chấp nhận tiêu dùng, đồng thời đem lại lợi nhuận
cho nhà sản xuất kinh doanh” (Phạm Văn Công et al., 2016)
Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Đã có rất nhiều định nghĩa về NLCT của một ĐĐDL và được các học giả đúc
kết từ những nghiên cứu sau:
- Dweyer và Kim cho rằng, “NLCT của ĐĐDL là tập hợp các yếu tố nguồn lực như tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hóa, cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch, tài chính, các chính sách, thể chế và con người của một điểm đến, tạo ra một hình ảnh
về sự phát triển du lịch bền vững, có hiệu quả; hình thành nên khả năng hấp dẫn thu hút khách du lịch và làm thỏa mãn nhu cầu của họ một cách tốt nhất” (Larry Dwyer
& Chulwon Kim Phd., 2003)
- Theo OECD, “NLCT của ĐĐDL là năng lực tối ưu hóa sự hấp dẫn đối với
khách du lịch, người dân địa phương và doanh nghiệp nhằm cung cấp chất lượng,
sự sáng tạo và hấp dẫn dịch vụ du lịch cho người tiêu dùng nhằm đạt được thị trường nội địa và toàn cầu đồng thời đảm bảo các nguồn lực sẵn có hỗ trợ du lịch được sử dụng một cách hiệu quả và bền vững” (OCED, 2013)
Từ những quan điểm trên có thể thấy, NLCT của ĐĐDL là sự thể hiện được khả năng cung cấp dịch vụ của một điểm đến nhằm thỏa mãn cao nhất cho du khách, thu hút khách du lịch đồng thời khai thác du lịch một cách hiệu quả và bền vững lâu dài
Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
Qua tổng quan tài liệu, các nhân tố cấu thành NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen phù hợp với đề tài nghiên cứu được xác định gồm bảy yếu tố sau:
Trang 28 Sức hấp dẫn của điểm đến du lịch
Sự độc đáo và đa dạng của tài nguyên
Theo các một số nhà nghiên cứu, “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch
vụ du lịch” (Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng, 1999)
Gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Theo Luật Du lịch Việt Nam, quy định tại Chương III, Điều 15: “Tài nguyên
du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khách có thể được sử dụng cho mục đích du lịch” (Quốc hội, 2017)
- Địa hình: Đối với hoạt động du lịch, cảnh quan địa hình đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút khách du lịch
Thông thường ở đồng bằng thì khá đơn điệu về ngoại cảnh nhưng lại là nơi tập trung dân cư đông nên có nhiều tài nguyên du lịch văn hóa, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hóa và là nơi hội tụ các nền văn minh của xã hội loài người
Ở địa hình đồi tạo ra một không gian thoáng đãng, nơi có những di tích khảo
cổ và tài nguyên văn hóa độc đáo Địa hình núi là nơi có ý nghĩa lớn nhất đối với việc phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, thể thao,…
- Khí hậu: Đây là một trong những nhân tố quan trọng trong việc phát triển du lịch, nó không chỉ ảnh hưởng đến các chuyến du lịch mà còn tạo nên tính mùa vụ du lịch
Nhìn chung, những điểm đến có khí hậu điều hòa thường hấp dẫn khách du lịch hơn những nơi có khí hậu khắc nghiệt
Để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người, các học giả Ấn
Độ đã đưa ra các chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với sức khỏe con người được thể hiện
ở bảng 1.1 như sau:
Trang 29Bảng 1.1 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người
trung bình năm ( o C)
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất ( o C)
Biên độ nhiệt trung bình năm ( o C)
Lượng mưa trung bình năm (mm)
“Nguồn: Nguyễn Minh Tuệ và Vũ Đình Hòa, 2017”
- Tài nguyên nước: Trong du lịch thì nguồn nước có ý nghĩa rất lớn, đặc biệt là
nguồn nước mặt, ngoài ra nước khoáng còn có giá trị du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh…
- Sinh vật: Đối với du lịch, tài nguyên sinh vật có vai trò tích cực tạo nên sản phẩm du lịch, thu hút khách du lịch, góp phần nâng cao NLCT của ĐĐDL Hiện nay các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên ngày càng hấp dẫn khách du lịch Tuy nhiên, không phải tài nguyên sinh vật nào cũng có giá trị phát triển du lịch
Tài nguyên du lịch văn hóa
Theo Điều 15 quy định tại Chương III của Luật Du lịch Việt Nam: “Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo
cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể sự dụng cho mục đích du lịch” (Quốc hội, 2017)
Trong tiêu chí này, tài nguyên du lịch văn hóa được coi là đối tượng, hiện tượng văn hóa lịch sử do con người sáng tạo ra trong đời sống Việc phát triển tài nguyên du lịch văn hóa nhằm giáo dục lòng yêu nước, tín ngưỡng tôn giáo cũng như nhận thức được trách nhiệm bảo vệ tài sản quốc gia, quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới
Tài nguyên du lịch của tỉnh liên quan tới ĐĐDL là một số điểm du lịch có
sức hấp dẫn khách du lịch tại vùng phụ cận có thể kết hợp với ĐĐDL
Trang 30 Sức chứa của điểm đến du lịch
Sức chứa thể hiện số lượt khách tối đa có thể tiếp nhận trong một ngày và quy
mô khai thác các hoạt động du lịch tại điểm tài nguyên Do đó, đòi hỏi phải có sự tính toán hợp lý trong quy hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu của một lượng khách nhất định vào thời điểm nhất định
Việc tính toán sức chứa điểm tài nguyên nhằm quản lí các hoạt động du lịch ở giới hạn cho phép, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường Sức chứa được xác định bốn mức độ cho phép là: Rất cao > 1.000 khách/ngày; Cao: 750 - 1.000 khách/ngày; Trung bình: 500 - 750 khách/ngày; Thấp: < 500 khách/ ngày (Nguyễn Minh Tuệ và Vũ Đình Hòa, 2017)
Tóm lại, có thể khẳng định, tài nguyên du lịch mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó không chỉ là tiêu chí tạo cầu, tạo cung cho một ĐĐDL mà còn mang tính quyết định trong việc tạo ra sản phẩm du lịch và có đóng góp lớn vào NLCT của một ĐĐDL
Nguồn nhân lực du lịch là đội ngũ nhân lực đang phục vụ trong ngành du
lịch, gồm nhân lực trực tiếp và gián tiếp (nhân lực trực tiếp là những người tham gia vào công tác quản lý về du lịch trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch; nhân lực gián tiếp là những người làm việc trong các ngành có liên quan đến hoạt động du lịch như văn hóa, giao thông, hải quan, xuất nhập cảnh, thương mại, bưu chính viễn thông, cộng đồng dân cư nơi có hoạt động du lịch phát triển) Thực tế, một ĐĐDL dù được ưu đãi với nguồn tài nguyên du lịch phong phú nhưng đội ngũ nhân lực kém thì khó có thể khai thác nguồn tài nguyên và tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn khách du lịch
Cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, đặc biệt là
du lịch Hệ thống đường giao thông và hệ thống đường giao thông nội bộ là “công cụ” thiết yếu để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phải đi trước một bước để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và phát triển ĐĐDL
Hệ thống cung cấp điện, nước cũng là một trong những tiêu chí quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi của du khách Hệ thống thông tin liên lạc là điều
Trang 31kiện cần thiết nhằm đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong và ngoài nước
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đóng một vai trò quyết định mức
độ khai thác tiềm năng du lịch cũng như thực hiện sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách gồm: Hệ thống các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển… Cơ sở lưu trú là dịch vụ cho thuê phòng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú
- Cơ sở lưu trú du lịch gồm: Khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ
du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, các cơ sở lưu trú du lịch khác (Quốc hội, 2017)
- Cơ sở ăn uống, ăn uống là một trong những nhu cầu cơ bản nhất của con người
- Cơ sở vui chơi giải trí, được xem là động cơ của hoạt động giải trí, đáp ứng nhu cầu cần thiết của con người
- Phương tiện vận chuyển: Việc du khách tiếp cận ĐĐDL dễ dàng nhờ vào mạng lưới giao thông và phương tiện di chuyển đa dạng, nhanh chóng và đảm bảo
an toàn trong suốt hành trình
Sản phẩm và dịch vụ du lịch
Sản phẩm du lịch
Trong ngành du lịch, khách du lịch đóng vai trò trung tâm còn sản phẩm đóng vai trò then chốt Sản phẩm du lịch đóng vai trò không thể thiếu trong hoạt động du lịch, nó được ví như chiếc cầu nối của nhà kinh doanh với người tiêu dùng nhằm góp phần nâng cao giá trị cho du khách và lợi nhuận cho doanh nghiệp Những sản
phẩm du lịch đó cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau như:
- Theo UNWTO, “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa các yếu tố hữu hình và
vô hình, như tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và nhân tạo, các điểm tham quan, cơ
sở, dịch vụ và hoạt động xung quanh một trung tâm quan tâm cụ thể đại diện cho cốt lõi của tiếp thị điểm đến pha trộn và tạo ra trải nghiệm khách truy cập tổng thể bao gồm các khía cạnh cảm xúc cho khách hàng tiềm năng Một sản phẩm du lịch được định giá và bán thông qua các kênh phân phối và nó có vòng đời” (WTO, 2007)
Trang 32- Theo Nguyễn Văn Đình và Trần Thị Minh Hòa, “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó” (Nguyễn Văn
Đình và Trần Thị Minh Hòa, 2006)
- Theo Michael M Coltma (1989), “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát” (Michael M Coltman, 1989)
- Theo luật Du lịch Việt Nam 2017, tại chương I, điều 2, mục 5 quy định “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” (Quốc hội, 2017)
Từ những quan niệm trên có thể hiểu, sản phẩm du lịch là những gì có khả năng khai thác được giá trị tài nguyên nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch tại nơi đến
Dịch vụ du lịch: Theo Luật du lịch năm 2005, “Dịch vụ du lịch là việc cung
cấp về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn
và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” (Quốc hội, 2005)
Đầu tư du lịch là một trong những nhân tố quan trọng trong việc thu hút
khách du lịch tại điểm đến
Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch về số lượng khách du lịch đến và
doanh thu du lịch tại điểm đến
Khách du lịch
Theo Cohen, E., “Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và sự thay đổi thu nhận được từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên” (Cohen, E., 1972) Nhà kinh tế học người Áo Josef Stander định nghĩa, “Khách du lịch là những hành khách đi lại ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế” (Nguyễn Minh
Tuệ và Vũ Đình Hòa, 2017)
Trang 33Tại Điều 3 chương I thì, Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến Trong Điều
10, Chương II quy định: Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách
du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài Cụ thể: Khách
du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi
du lịch trong lãnh thổ Việt Nam Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch Khách du lịch ra
nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam ra
nước ngoài (Quốc hội, 2017)
Như vậy, từ những quan điểm trên thì Khách du lịch có thể được hiểu là
những người rời khỏi nơi cư trú để đến một nơi nào đó tận hưởng một kỳ nghỉ dành
cho họ trong khoảng thời gian nhất định
Doanh thu du lịch
Doanh thu du lịch được hiểu là tất cả các khoản thu từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển du lịch, hàng lưu niệm, vui chơi giải trí và những dịch vụ khác do khách du lịch chi trả khi đến tham quan một quốc gia (đối với khách quốc tế) hoặc một điểm đến nào đó của địa phương (khách nội địa)
Tuy nhiên, doanh thu trong ngành du lịch hiện nay chỉ mới tính được từ các khoản thu trực tiếp, trong khi thực tế khách chi trả rất nhiều trong chuyến đi của mình (Nguyễn Minh Tuệ và Vũ Đình Hòa, 2017)
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến
du lịch
Vị trí điểm đến du lịch: Đây là nhân tố quan trọng trong việc hình thành
các đặc điểm tự nhiên của một lãnh thổ, nó có thể là điều kiện thuận lợi hoặc bất lợi cho việc nâng cao NLCT của một ĐĐDL
Kinh tế - xã hội
Kinh tế
Nhân tố kinh tế có sức ảnh hưởng lớn đến mọi tổ chức cũng như ngành du lịch
Trang 34là cơ cấu nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái
Thực tế cho thấy tình hình kinh tế nói chung ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển du lịch, trong đó thu nhập dân cư là một trong những yếu tố quyết định đến việc nảy sinh nhu cầu du lịch
Như vậy có thể nói, nếu nền kinh tế khởi sắc, tăng trưởng và ổn định, các doanh nghiệp có điều kiện tái đầu tư, đầu tư mở rộng làm phong phú các loại hình
du lịch (giải trí, ứng dụng công nghệ cao phục vụ nhu cầu du khách…) thì nhu cầu
du lịch cũng tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi nhằm nâng cao NLCT của ĐĐDL
Xã hội
Nhân tố này có thể được xem là nhân tố có sức ảnh hưởng trong việc tạo lập nên nhân cách, lối sống, thị hiếu của người tiêu dùng đồng thời là cơ sở để các doanh nghiệp du lịch lựa chọn và điều chỉnh chiến lược kinh doanh
Trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp cũng ảnh hưởng đến thái độ ứng xử với
du khách cũng như chất lượng phục vụ du khách và tạo nên sức hấp dẫn du khác Ngoài ra, mối quan hệ bạn bè cũng là một trong những nhân tố có sức ảnh hưởng tích cực đến ngành du lịch
Quảng bá, xúc tiến du lịch: Nhân tố này đóng vai trò quan trọng nhằm
thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Hoạt động này có thể thông qua cẩm nang du
lịch, thiết kế website,…
Giá cả
Giá cả là một lợi thế cạnh tranh khi có nhiều ĐĐDL tương đồng về tài nguyên,
di sản văn hóa Đối với một số quốc gia có mức thu nhập chưa cao nên khả năng chi trả cho du lịch còn thấp, do đó du khách thường quan tâm đến giá cả khi quyết định lựa chọn ĐĐDL
Thực tế cho thấy mức độ phù hợp giữa giá cả và chất lượng sản phẩm, dịch vụ
du lịch tại ĐĐDL đã trở thành một lợi thế lớn trong chiến lược nâng cao NLCT so với thị trường
Quy hoạch và chính sách phát triển du lịch của điểm đến
Quy hoạch và chính sách du lịch được xem là kim chỉ nam trong quá trình định hướng xây dựng và phát triển du lịch tại nơi đến
Trang 35Những chính sách du lịch đúng đắn, bao quát, có tầm nhìn, phù hợp với xu thế của chính quyền địa phương tạo môi trường kinh doanh lành mạnh góp phần nâng
cao NLCT của ĐĐDL đó
An ninh trật tự và môi trường
An ninh trật tự: Có đội bảo vệ, tuần tra giám sát, trực đường dây nóng, hệ
thống camera an ninh, đội cứu hộ cứu nạn
Môi trường: Có hệ thống thu gom rác thải, bố trí thùng rác công cộng
Sự thuận tiện tiếp cận điểm đến du lịch
Đây là một trong những nhân tố quan trọng trong việc thu hút khách du lịch,
có tác động lớn đến sự lựa chọn ĐĐDL của khách du lịch khi các ĐĐDL có nhiều nét tương đồng về tài nguyên du lịch cũng như sản phẩm du lịch …
Như vậy có thể thấy, một điểm đến có sức hút lớn đối với khách du lịch nhưng lại khó khăn trong việc tiếp cận ĐĐDL thì cũng đem lại không ít trở ngại cho ĐĐDL
Yêu cầu về visa
Đối với khách du lịch quốc tế thì việc đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh cũng đóng vai trò rất quan trọng, điều đó không chỉ tạo ra ấn tượng tốt đẹp về ĐĐDL mà còn đem đến cho họ sự tin tưởng vào lòng hiếu khách và chính sách phát triển kinh tế của địa phương
Tuy nhiên, hiện nay thủ tục cấp visa vào Việt Nam vẫn còn hạn chế và nhiều tiêu cực đối với khách du lịch tại các cửa khẩu
Sự dễ dàng kết hợp du lịch tới các điểm đến khác: Hiện nay, đa số khách
du lịch có xu hướng đi tới nhiều địa điểm du lịch trong một chuyến đi để có được sự trải nghiệm, khám phá phong phú hơn
Điểm đến du lịch cạnh tranh hiện tại
Việc xác định ĐĐDL cạnh tranh hiện tại rất cần thiết nhằm tìm hiểu đánh giá điểm yếu và điểm mạnh hiện tại của đối phương
Sự cạnh tranh về sản phẩm du lịch, giá cả, quảng cáo,… có thể khiến điểm đến phải chia sẻ thị trường nếu không có được các lợi thế so với đối thủ cạnh tranh để
“giành” khách du lịch
Trang 36Vì vậy, việc hiểu biết được các đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các tổ chức, các ngành kinh tế; vừa tạo ra những thách thức đồng thời cũng tạo ra động lực để nâng cao ĐĐDL của chính mình
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Trên thực tế đã có rất nhiều tiêu chí được đưa vào để đánh giá NLCT của ĐĐDL như phương pháp đánh giá theo tiêu chí định lượng và định tính của Metin Kozak; hệ thống chỉ số đánh giá năng lực điểm đến theo tiêu chí của Dwyer và Kim gồm: nguồn nhân lực thừa hưởng, nguồn nhân lực sáng tạo, nguồn nhân lực hỗ trợ, quản lý điểm đến…; bộ tiêu chí của WTTC và WEF gồm: Luật pháp, chính sách về
du lịch; Kết cấu hạ tầng và môi trường kinh doanh du lịch; Nguồn lực tự nhiên, văn hóa và nhân lực
Vì vậy, đối với đề tài nghiên cứu, để xây dựng các tiêu chí đánh giá, tác giả đã chọn lọc trên cơ sở kế thừa các bộ tiêu chí đánh giá NLCT điểm đến của các nhà nghiên cứu trên để đề xuất một số tiêu chí đánh giá phù hợp với ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh gồm 23 tiêu chí đánh giá được chia thành bảy nhóm cụ thể sau:
Nhóm tiêu chí về Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch có ba tiêu chí đánh giá:
(1) Sự đa dạng và độc đáo của tài nguyên Trong đó, việc đánh giá về tài nguyên du lịch tự nhiên chủ yếu tập trung và địa hình, khí hậu, tài nguyên nước, sinh vật; tài nguyên du lịch văn hóa tập trung về văn hóa đặc thù của điểm đến (2) Tài nguyên
du lịch có liên quan đến du lịch tỉnh, đánh giá về các tài nguyên du lịch trong tỉnh
có sức ảnh hưởng đến ĐĐDL (3) Sức chứa của ĐĐDL, đánh giá sức chứa nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững ĐĐDL
Nhóm tiêu chí về Nguồn nhân lực du lịch gồm hai tiêu chí về số lượng và
chất lượng phục vụ trong ngành du lịch
Nhóm tiêu chí về Cơ sở hạ tầng gồm bốn tiêu chí Hầu hết các nghiên cứu
đều đề cập đến các tiêu chí về hệ thống đường giao thông; khả năng cung cấp điện, nước; hệ thống thông tin liên lạc
Nhóm tiêu chí về Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch gồm bốn tiêu chí
đánh giá về cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển du khách
Trang 37Hình 1.1 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
“Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của tác giả, 2019”
Trang 39 Nhóm tiêu chí về Sản phẩm và dịch vụ gồm năm tiêu chí được xem để
đánh giá về hệ thống sản phẩm du lịch, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ vận chuyển
Nhóm tiêu chí về Đầu tư du lịch gồm hai tiêu chí đánh giá về khả năng thu
hút đầu tư tại điểm đến
Nhóm tiêu chí về Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch gồm ba tiêu chí
Nhóm tiêu chí này được thống kê và xử lý từ số liệu thứ cấp từ năm 2008 đến năm
2018 Riêng khách Hội Xuân được thống kê đến năm 2019
Bên cạnh các tiêu chí được đề xuất ở trên, tác giả còn sử dụng nhóm tiêu chí
về “Sự hài lòng của khách du lịch” với sáu nhóm tiêu chí cụ thể thông qua phiếu
điều tra để đánh giá NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh Đây được xem là tiêu chí quan trọng để đo lường NLCT của ĐĐDL núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh
Có rất nhiều định nghĩa về sự hài lòng của khách hàng Theo Mano và Oliver
(1993) cho rằng Sự hài lòng là trạng thái cảm xúc thay đổi liên tục trong quá trình
sử dụng sản phẩm và được đánh giá sau khi tiêu dùng
Trong đề tài nghiên cứu này, Sự hài lòng của khách du lịch được mã hóa
thành sáu thang đo là:
(1) Cơ sở hạ tầng gồm bốn biến quan sát: Hệ thống điện chiếu sáng, điện sinh
hoạt; Vị trí và quy mô khu vực để xe khách du lịch; Hệ thống thông tin liên lạc; Phương tiện vận chuyển
(2) Khả năng tiếp cận gồm ba biến quan sát: Mạng lưới phương tiện giao
thông vận chuyển khách đa dạng; Tiếp cận các phương tiện giao thông công cộng
dễ dàng, nhanh chóng và an toàn; Kết nối với các điểm đến khác thuận lợi
(3) Yếu tố môi trường gồm sáu biến quan sát: Chất lượng nước sạch sử dụng;
Sự bố trí và phục vụ tại các nhà vệ sinh trong KDL; Sự trong lành của môi trường không khí trong KDL; Sự kiểm soát tiếng ồn trong KDL; Sự bố trí hệ thống thùng rác và công tác thu gom rác trong KDL; An ninh, an toàn trong KDL
(4) Sản phẩm và dịch vụ du lịch gồm sáu biến quan sát: Sự đa dạng và tính độc
đáo của núi Bà Đen; Sự hấp dẫn của lễ hội, tâm linh, tín ngưỡng; Dịch vụ vui chơi, giải trí; Sự hấp dẫn của du lịch thể thao, leo núi; Dịch vụ tham quan, nghỉ dưỡng,
Trang 40khám phá, tìm hiểu các giá trị về tự nhiên, văn hóa; Đặc sản địa phương
(5) Nhân viên phục vụ gồm bốn biến quan sát: Nhân viên phục vụ vui chơi giải
trí, mua sắm; Nhân viên phục vụ vận chuyển; Hướng dẫn viên du lịch; Nhân viên phục vụ nhà hàng, khách sạn
(6) Giá dịch vụ gồm sáu biến quan sát: Giá vận chuyển tại KDL; Giá dịch vụ
vui chơi giải trí; Giá đồ ăn uống; Giá dịch vụ lưu trú; Giá vé tham quan; Giá hàng hóa và đồ lưu niệm
Ngoài ra, yếu tố “So sánh điển cứu với ĐĐDL núi Sam - Châu Đốc (tỉnh An
Giang) cũng được tác giả đưa vào để đánh giá
1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số điểm đến du lịch
ở Đông Nam Á
Du lịch được coi là ngành kinh tế quan trọng trong của các nước thành viên Đặc biệt ASEAN được đánh giá là một trong những khu vực năng động trên thế giới Trong đó Thái Lan, Singapore, Malaysia và Indonesia đã dần trở thành những điểm du lịch hấp dẫn, thu hút khách du lịch quốc tế
Theo thống kê của UNWTO, năm 2018 số khách du lịch quốc tế đến khu vực các nước Đông Nam Á cao hơn trung bình khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới Như vậy có thể thấy Đông Nam Á là khu vực thu hút số lượng du khách cao nhất
Thái Lan
Vương quốc Thái Lan nằm ở vị trí trung tâm Đông Nam Á, phía Bắc giáp Lào
và Myanmar, phía Đông giáp Lào và Campuchia, phía Nam giáp vịnh Thái Lan và Malaysia, phía Tây giáp Myanmar và biển Andaman
Tính đến 19 tháng 7 năm 2019, Thái Lan có diện tích 510.890 km2; dân số 69.312.111 người; tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2018 là 505 tỉ USD
Thủ đô Bangkok là cửa ngõ thông thương cho hầu hết khách du lịch, do đó du khách có đủ thời gian để trải nghiệm với các điểm tham quan chính như: Cung điện Lớn và Đền thờ Phật Ngọc, Wat Arun, Wat Pho (khu phức hợp đền thờ lớn nhất và lâu đời nhất Bangkok, đồng thời là ngôi nhà của Trường Y học Cổ truyền) và biệt