1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch bền vững thành phố cần thơ đến năm 2020

183 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài (15)
    • 1.2 Những khoảng trống trong nghiên cứu liên quan đến luận án (0)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG20 (26)
    • 2.1 Du lịch và vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội (26)
    • 2.2 Phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững (32)
    • 2.3 Đặc điểm và vai trò của phát triển du lịch bền vững (36)
    • 2.4 Những tiêu chí nhận biết phát triển du lịch bền vững (0)
    • 2.5 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững (0)
    • 2.6 Quan điểm về phát triển du lịch bền vững (53)
    • 2.7 Kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững và những bài học (58)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ (70)
    • 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thành phố Cần Thơ (70)
    • 3.2 Tài nguyên phát triển du lịch của thành phố Cần Thơ (74)
    • 3.3 Thực trạng phát triển du lịch bền vững thành phố Cần Thơ (76)
    • 3.4. Đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững thành phố Cần Thơ (100)
  • CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN (117)
    • 4.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển du lịch bền vững Thành phố Cần Thơ đến năm 2020 (117)
    • 4.2 Lựa chọn các chiến lược để thực hiện phát triển du lịch bền vững thành phố Cần Thơ đến năm 2020 (0)
    • 4.3 Một số giải pháp cơ bản cho phát triển du lịch bền vững thành phố Cần Thơ đến năm 2020 (137)
    • 4.4. Kiến nghị (153)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (159)
  • PHỤ LỤC (165)

Nội dung

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Các nghiên cứu trong nước

Ngày nay, du lịch đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, trở thành nhu cầu thiết yếu khi mức sống và thu nhập của người dân tăng cao Tại Việt Nam, phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) đã thu hút sự quan tâm của các tổ chức và nhà khoa học, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Nghiên cứu PTDLBV tại Việt Nam dựa trên lý luận và kinh nghiệm quốc tế, đồng thời điều chỉnh phù hợp với bối cảnh cụ thể của đất nước.

Phạm Trung Lương (2002) đã thực hiện nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước với đề tài “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam”, đánh dấu công trình khoa học đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống về phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) ở quy mô quốc gia Nghiên cứu này đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến PTDLBV, phân tích thực trạng phát triển du lịch tại Việt Nam từ năm 1992 đến 2002, đồng thời xem xét việc khai thác tài nguyên và tình hình môi trường du lịch Công trình cũng tham khảo kinh nghiệm quốc tế về PTDLBV và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo PTDLBV trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam.

Tăng Thị Duyên Hồng (2010) trong nghiên cứu về "Du lịch bền vững dựa vào cộng đồng" đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) dựa vào sự tham gia của cộng đồng Nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao chủ đề du lịch cộng đồng, đồng thời khẳng định rằng du lịch bền vững dựa vào cộng đồng đang dần trở thành thương hiệu du lịch đặc trưng của ĐBSCL Loại hình du lịch này không chỉ góp phần bảo tồn văn hóa địa phương mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong khu vực.

10 thiết thực vào sự phát triển của cộng đồng dân cư địa phương và đang được quan tâm hiện nay

Công trình nghiên cứu của Hà Văn Siêu và Hoàng Đạo Cầm (2010) đã chỉ ra những khó khăn và thách thức trong phát triển du lịch Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2020, bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, nhận thức hạn chế, nguồn nhân lực chưa đủ và chất lượng thấp, cùng với sự trùng lắp trong sản phẩm du lịch Mặc dù Hiệp hội du lịch ĐBSCL đã được thành lập nhằm thúc đẩy phát triển du lịch, nhưng vẫn chưa phát huy hiệu quả do nhiều hạn chế Nghiên cứu đề xuất các định hướng phát triển du lịch bền vững, bao gồm du lịch sinh thái miệt vườn, cảnh quan sông nước, du lịch văn hóa lễ hội và làng nghề truyền thống, cùng với du lịch biển đảo chất lượng cao Các giải pháp cụ thể cho từng loại hình du lịch cũng được đưa ra để tránh trùng lặp sản phẩm, bao gồm định hướng thị trường khách, phát triển nhân lực, đầu tư và xúc tiến quảng bá Những ý kiến trong nghiên cứu này là nguồn tham khảo quý giá cho sự phát triển du lịch của vùng ĐBSCL và TP Cần Thơ.

Phú Văn Hẳn (2011) đã nghiên cứu về phát triển du lịch văn hóa dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ ra thực trạng yếu kém về chất lượng trong lĩnh vực này.

CSHT như đường xá, điện, giao thông công cộng chưa phát triển, môi trường tự

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường và sự phát triển dịch vụ hỗn loạn, gây khó chịu cho du khách và người dân Để phát triển du lịch bền vững, ĐBSCL cần lựa chọn giữa du lịch cứng và du lịch mềm, tránh sao chép các mô hình du lịch từ nước ngoài, mà nên khai thác nguồn tài nguyên địa phương và xây dựng chính sách dài hạn phù hợp Việc thu hút du khách đòi hỏi nguồn kinh phí đáng kể để bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống độc đáo, bao gồm các sản phẩm văn hóa và hoạt động nghệ thuật như nhạc Ngũ Âm, sân khấu Dù Kê, lễ hội Ok Om Bok, đua ghe ngo, và biểu diễn trống Bana, đờn ca tài tử.

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Huỳnh Thị Thúy Loan,

Nghiên cứu năm 2012 về "Phát triển du lịch lễ hội tại đồng bằng Sông Cửu Long" đã chỉ ra rằng vùng ĐBSCL có 1.237 lễ hội, trong đó có 854 lễ hội dân gian và 262 lễ hội tôn giáo thu hút đông đảo du khách Mặc dù thời gian diễn ra lễ hội ngắn và phạm vi ảnh hưởng hạn chế, nhưng sức hấp dẫn của các lễ hội này vẫn rất lớn Công trình nghiên cứu đã phân tích thực trạng phát triển du lịch lễ hội và những vướng mắc trong tổ chức, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề cản trở sự phát triển du lịch văn hóa, bao gồm nội dung lễ hội, công tác tổ chức, liên kết và nguồn nhân lực Các vấn đề trọng tâm bao gồm bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, phát triển hoạt động trong phần hội, khôi phục trò chơi dân gian, giới thiệu sản phẩm thủ công mỹ nghệ và ẩm thực địa phương, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho du khách.

Để nâng cao trải nghiệm du lịch, cần đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm và an ninh trật tự cho du khách Đầu tư vào cơ sở hạ tầng như đường sá và di tích liên quan đến lễ hội là cần thiết, cùng với việc xây dựng các công trình phụ trợ phục vụ hoạt động vui chơi và mua sắm Cần có kế hoạch dài hạn để phát triển du lịch lễ hội, tránh sự đáp ứng ngắn hạn Việc quảng bá du lịch lễ hội cần được thực hiện thường xuyên và hiệu quả qua nhiều hình thức, nhằm thu hút du khách cả trong và ngoài nước Tham khảo ý kiến từ các cơ quan địa phương để lựa chọn các lễ hội phù hợp với từng đối tượng du khách sẽ tạo sự nhất quán trong tổ chức Cuối cùng, đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch lễ hội là rất quan trọng để họ có thể truyền tải đầy đủ ý nghĩa và nội dung của lễ hội đến du khách, đặc biệt là khách quốc tế.

Lương Thanh Hải (2013) trong bài viết “Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên: Hướng dẫn phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Kiên Giang và cụ thể cho khu vực Hà Tiên - Đông Hồ” chỉ ra rằng sự gia tăng lượng du khách đến Kiên Giang phản ánh sức hấp dẫn của thiên nhiên và văn hóa nơi đây Các đảo, bãi biển, di tích lịch sử và khu vực tự nhiên là những tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch Tuy nhiên, yếu tố con người là then chốt, vì sự hỗ trợ, đầu tư và cam kết của họ quyết định sự phát triển bền vững của ngành du lịch Chính phủ đã nhận thức được tiềm năng du lịch của Kiên Giang và đang nỗ lực biến nơi đây thành một điểm đến du lịch trọng điểm ở phía Nam.

Chính phủ đã cấp kinh phí để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, đồng thời các nhà đầu tư lớn cũng đang xây dựng khách sạn và nhà nghỉ cần thiết Tuy nhiên, sự thành công của du lịch phụ thuộc vào các hoạt động cụ thể nhằm giới thiệu đặc sản địa phương, điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của doanh nghiệp và cộng đồng địa phương Dù vậy, các cam kết về chính sách và đầu tư vẫn chưa theo kịp với tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch.

Bài viết phân tích bối cảnh quy hoạch du lịch tại Kiên Giang, nhấn mạnh sự cần thiết phải quảng bá sự đa dạng các tài nguyên du lịch (TNDL) nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững Hiện tại, các điểm du lịch đang đối mặt với tình trạng quá tải và xuống cấp, thiếu các dịch vụ lưu trú và ẩm thực chất lượng, dẫn đến lợi nhuận từ du lịch không đạt tối đa Đề tài chỉ ra các nhiệm vụ và nguyên tắc quy hoạch, đồng thời phân tích các nguồn lực và cơ hội du lịch của tỉnh Từ đó, đề xuất các chiến lược cụ thể như bảo vệ tài nguyên tự nhiên và văn hóa, phát triển cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường, tái phát triển các điểm du lịch theo chủ đề mới và quảng bá giá trị của Khu Dự trữ sinh quyển.

Một số công trình nghiên cứu trong nước tiêu biểu khác liên quan đến PTDLBV mà tác giả tiếp cận được như:

Trần Tiến Dũng (2007), “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ

Luận án tiến sỹ về phát triển du lịch bền vững (DLBV) tại Phong Nha - Kẻ Bàng phân tích các quan niệm và hệ thống đánh giá liên quan đến DLBV, đồng thời nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch bền vững trong khu vực Tác giả đề xuất giải pháp cho DLBV, nhấn mạnh tính đặc trưng của vùng du lịch này so với các địa phương khác với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khác nhau Tuy nhiên, luận án chưa đi sâu vào việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững và các quy trình liên quan, như xác định mục tiêu và tổ chức thực hiện Hơn nữa, phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa vào phân tích định tính, thiếu sự phân tích định lượng cần thiết.

Nghiên cứu của Hồ Kỳ Minh (2011) về "Phát triển bền vững ngành du lịch tại Đà Nẵng" tập trung vào việc phát triển du lịch bền vững, đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch Đà Nẵng trong những năm qua, cũng như phân tích cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế Bài nghiên cứu cũng phân tích và dự báo nguồn khách du lịch đến Đà Nẵng, xác lập quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch bền vững, xây dựng mô hình phát triển du lịch bền vững cho thành phố, và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch bền vững đến năm 2030.

Năm 2020, nghiên cứu về kinh tế, văn hóa - xã hội và tài nguyên - môi trường đã đưa ra các kiến nghị cho các cơ quan quản lý nhà nước Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn số liệu, đề tài chỉ dừng lại ở việc phân tích và dự báo theo phương pháp định tính Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào phát triển du lịch tại TP Đà Nẵng, trong khi các tỉnh, địa phương khác có điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và tự nhiên khác nhau, do đó có nhiều điểm chưa thực sự phù hợp.

Tổng cục Du lịch (2016), “Hội thảo xây dựng Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” Hội thảo đề cập đến

Việt Nam đang phát triển hệ thống sản phẩm du lịch bền vững với 4 sản phẩm chủ đạo: du lịch biển đảo, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và du lịch đô thị Hệ thống sản phẩm này được phân chia theo 7 vùng, bao gồm Trung du và miền núi Bắc bộ, Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Bắc Trung bộ, duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, ĐBSCL và Đông Nam bộ, nhằm tạo ra sự độc đáo và đa dạng hóa trải nghiệm du lịch Hội thảo đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác giữa hàng không và du lịch, vai trò của doanh nghiệp, cũng như việc thu hút và đào tạo nguồn nhân lực Đồng thời, cần phát triển du lịch có trách nhiệm và bảo vệ môi trường.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG20

Du lịch và vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Ngành du lịch như một lĩnh vực kinh tế thực sự bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX, khi Thomas Cook tổ chức chuyến đi đầu tiên vào năm 1841, đánh dấu sự ra đời của tổ chức kinh doanh du lịch Đến những năm 1880, các quốc gia như Pháp, Thụy Sỹ và Áo đã phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn hiện đại Đặc biệt, từ những năm 1950, du lịch trở thành nhu cầu phổ biến trong xã hội, gắn liền với cuộc sống hiện đại, khi thu nhập tăng, thời gian nghỉ ngơi kéo dài và công nghệ thông tin phát triển Ngành du lịch hiện nay được xem là một trong những nền tảng kinh tế quan trọng của các quốc gia phát triển.

Kể từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO vào năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch đã được thảo luận với nhiều quan niệm khác nhau Du lịch ban đầu được hiểu là việc di chuyển của cá nhân hoặc nhóm người rời khỏi nơi ở trong thời gian ngắn để nghỉ ngơi, giải trí hoặc chữa bệnh Hiện nay, du lịch được coi là tất cả các hoạt động di chuyển của con người trong và ngoài nước, ngoại trừ những trường hợp như cư trú chính trị, tìm việc làm và xâm lược.

Theo nhà kinh tế học Kalfiostic, du lịch được định nghĩa là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hoặc tập thể từ nơi cư trú đến địa điểm khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần và đạo đức, từ đó tạo ra các hoạt động kinh tế.

Michael M Coltman nhấn mạnh rằng du lịch là một mối quan hệ tương tác giữa bốn nhóm: du khách, các cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền và cộng đồng địa phương tại các điểm đến du lịch.

Du lịch được định nghĩa bởi các giáo sư Thụy Sĩ Hunziker và Krapf là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh từ việc di chuyển và lưu trú tạm thời của con người, trong đó địa điểm lưu lại không phải là nơi ở thường xuyên hoặc nơi làm việc.

Theo IUOTO (Liên minh Quốc tế về Tổ chức Du lịch), du lịch được định nghĩa là hoạt động di chuyển đến một địa điểm khác không phải nơi cư trú của mình, với mục đích không phải để kiếm sống hay thực hiện công việc có tính chất thương mại.

Theo I.I Pirôgiơnic, 1985: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hoá thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh tế và văn hoá”

Du lịch được định nghĩa khác nhau bởi các học giả tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, nhưng không phải tất cả các định nghĩa đều hoàn chỉnh Theo hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch tại Roma (1963), du lịch là quy trình bao gồm tất cả hoạt động của du khách từ khi dự trù chuyến đi đến khi trở về nhà, phản ánh nhu cầu và mục đích của họ Tương tự, hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa (1991) định nghĩa du lịch là các hoạt động của con người đến nơi ngoài môi trường thường xuyên trong thời gian ngắn, không nhằm mục đích kiếm tiền Tại Việt Nam, khái niệm du lịch cũng đã được xác định trong Luật Du lịch 2005, phù hợp với sự phát triển của ngành này.

Du lịch là những hoạt động liên quan đến việc di chuyển của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên để đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

Du lịch được định nghĩa là một ngành kinh doanh tổng hợp, bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch, và sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ từ các tổ chức, xí nghiệp đặc biệt Ngành này nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch về đi lại, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác.

2.1.2 Vai trò của ngành du lịch đối với việc phát triển kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Vai trò của ngành du lịch đối với việc phát triển kinh tế

Du lịch là một trong những ngành kinh doanh hiệu quả nhất, với tỷ suất lợi nhuận cao, vốn đầu tư thấp và thời gian thu hồi vốn nhanh Ngành du lịch đóng vai trò quan trọng trong kinh tế đối ngoại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

Xuất khẩu tại chỗ mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn và hiệu quả cao, đồng thời phát triển ngành du lịch còn thúc đẩy nhiều ngành kinh tế - xã hội khác Sự phát triển này không chỉ làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của các vùng có tuyến, điểm du lịch mà còn tạo việc làm cho lực lượng lao động và cải thiện đời sống cho người dân.

Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu cho thấy tỷ trọng khu vực I trong GDP giảm dần, trong khi tỷ trọng khu vực II và III tăng lên Các dịch vụ như tài chính, tín dụng, pháp lý, bưu chính, viễn thông, tư vấn, kiểm toán, du lịch, bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe đang phát triển mạnh mẽ Thực trạng này phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành du lịch, trong nền kinh tế - xã hội.

Du lịch được xem là ngành công nghiệp không khói toàn cầu, tạo ra nhiều việc làm và mang lại thu nhập cao, đồng thời đóng góp quan trọng cho ngân sách các quốc gia Ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, thu nhập từ du lịch bao gồm cả chi phí vận chuyển tại Indonesia.

23 và Philipine chiếm từ 8-15% GDP, của Malaysia và Thailand chiếm từ 19-21% GDP, của Singapore và Hồng Kông đều chiếm trên 21% GDP

Mặc dù du lịch mang lại nhiều lợi ích kinh tế và xã hội, nhưng cũng cần chú ý đến việc phòng ngừa và khắc phục những tác động tiêu cực như ô nhiễm môi trường, suy thoái văn hóa, và sự lây lan của dịch bệnh như HIV/AIDS Hơn nữa, một số cá nhân còn lợi dụng hoạt động du lịch để thực hiện các hành vi phi pháp như buôn lậu, buôn hàng cấm và nhập cảnh trái phép, gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho xã hội.

Phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững

2.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững

Phát triển là quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật và văn hóa, phản ánh xu hướng tự nhiên của thế giới vật chất và xã hội loài người Phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) nâng cao điều kiện sống vật chất và tinh thần của con người thông qua việc phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và các giá trị văn hóa cộng đồng Sự chuyển đổi từ xã hội công xã nguyên thủy đến chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến và cuối cùng là xã hội tư bản được xem là một quá trình phát triển liên tục.

Khái niệm bền vững đề cập đến việc sử dụng tài nguyên với tỷ lệ không vượt quá khả năng tái tạo của chúng Sử dụng bền vững xảy ra khi nhu cầu về tài nguyên thấp hơn mức cung cấp mới, hoặc khi việc phân phối và tiêu dùng tài nguyên được duy trì ở mức thấp hơn sản lượng bền vững tối đa.

Lý thuyết phát triển bền vững (PTBV) bắt đầu hình thành vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN), PTBV cần xem xét việc khai thác nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, cũng như các điều kiện thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn một cách đồng bộ.

Mặc dù có nhiều tranh luận về khái niệm phát triển bền vững (PTBV) từ các góc độ khác nhau, khái niệm được Uỷ ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (WCED), hay còn gọi là Ủy ban Brundtlant, đưa ra vào năm 1987 vẫn được sử dụng rộng rãi như một chuẩn mực để so sánh các hoạt động có trách nhiệm với môi trường sống của con người.

Theo định nghĩa của Brundtland, phát triển bền vững là quá trình phát triển kinh tế nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Phát triển bền vững liên quan đến việc cân bằng giữa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.

Phát triển bền vững (PTBV) được định nghĩa là việc sử dụng tài nguyên một cách dài hạn và khả năng bảo tồn nguồn tài nguyên, chủ yếu xoay quanh phát triển kinh tế Tại Hội nghị về Môi trường toàn cầu RIO-92 và RIO-92+5, các nhà khoa học đã bổ sung quan niệm về PTBV, nhấn mạnh rằng phát triển bền vững được hình thành từ sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp của ba hệ thống tương tác: hệ môi trường, hệ kinh tế và hệ xã hội.

Hình 2.1 Quan niệm về phát triển bền vững

Theo quan điểm phát triển của Jacob và Sadler (1992), phát triển bền vững (PTBV) là kết quả của sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa ba hệ thống, và không cho phép ưu tiên phát triển một hệ thống gây suy thoái cho các hệ thống khác PTBV cần phải đạt được sự dung hòa và thoả hiệp giữa các hệ thống này để đề ra các mục tiêu cụ thể hơn, nhằm hướng tới sự phát triển bền vững.

- Sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng vào những quyết định mang tính chất chính trị

Khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững mà không gây tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên có thể đạt được thông qua việc áp dụng những tiến bộ mới trong khoa học và công nghệ.

- Giải quyết các xung đột trong xã hội do phát triển không công bằng

Tại Việt Nam, các nhà khoa học và lý luận đã tích cực nghiên cứu về phát triển bền vững (PTBV) trong thời gian gần đây, dựa trên việc tiếp thu các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế, đồng thời đối chiếu với bối cảnh cụ thể của đất nước.

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh chiến lược phát triển bền vững trong 20 năm tới, bao gồm phát triển kinh tế nhanh chóng, hiệu quả, kết hợp với phát triển văn hóa và cải thiện đời sống nhân dân Đồng thời, cần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý Điều này cho thấy sự nhận thức rõ ràng của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vững trên các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2.2.2 Phát triển du lịch bền vững

Vấn đề phát triển bền vững (PTBV) ở Việt Nam đang nhận được sự quan tâm lớn từ Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền Mục tiêu là khai thác hiệu quả và bền vững các tiềm năng to lớn về tài nguyên và môi trường, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng một Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa Qua đó, đời sống người dân sẽ được cải thiện liên tục, đồng thời giữ gìn và phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Từ thập kỷ 1980, nhận thức về nguy cơ suy thoái môi trường và mất cân bằng xã hội trong phát triển kinh tế đã dẫn đến khái niệm "phát triển bền vững" do Hội nghị ủy ban thế giới về phát triển và môi trường (WCED) đưa ra Dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững, Hội đồng Lữ hành Du lịch thế giới (WTTC) đã có những hành động cụ thể để thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững.

Du lịch thế giới (UNWTO) và Hội đồng Trái đất (Earth Council) đã phát triển Chương trình Nghị sự 21 với 10 nguyên tắc nhằm hướng tới "phát triển bền vững du lịch" Phát triển bền vững du lịch được định nghĩa là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch.

Các lợi ích kinh tế dài hạn cần được quan tâm trong khi vẫn bảo tồn tài nguyên du lịch và duy trì văn hóa Điều này không chỉ giúp phát triển du lịch bền vững mà còn bảo vệ môi trường và nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương.

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, đòi hỏi sự phát triển bền vững (PTBV) của xã hội Khái niệm du lịch bền vững chỉ mới xuất hiện gần đây và được định nghĩa bởi Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc ở Rio de Janeiro vào năm 1992.

Đặc điểm và vai trò của phát triển du lịch bền vững

2.3.1 Đặc điểm của phát triển du lịch bền vững

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp với định hướng tài nguyên rõ rệt và nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) là sự kết hợp hợp lý giữa ba mặt phát triển: kinh tế, xã hội và tài nguyên môi trường Do đó, PTDLBV sở hữu những đặc điểm riêng, khác biệt so với phát triển du lịch không bền vững.

Phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) là sự phát triển kinh tế có kiểm soát, tập trung vào chất lượng tăng trưởng thay vì tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi giá PTDLBV đảm bảo sự ổn định và công bằng xã hội, đồng thời bảo vệ tài nguyên và môi trường, tránh khai thác quá mức Nguồn lực tự nhiên và nhân văn được sử dụng hợp lý, không bị cạn kiệt để phục vụ cho mục tiêu ngắn hạn Việc khai thác khách du lịch cũng được kiểm soát để không vượt quá sức tải của tài nguyên, đảm bảo chất lượng dịch vụ Trong PTDLBV, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng nguồn lực là ưu tiên hàng đầu, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế du lịch theo hướng bền vững và hiện đại hóa.

Phát triển bền vững là phương thức tối ưu nhằm đạt được sự cân bằng và hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời kết hợp giữa các mục tiêu và lợi ích ngắn hạn với dài hạn trong quá trình phát triển.

Phát triển bền vững (PTDLBV) không chỉ tập trung vào lợi nhuận mà còn cân nhắc đồng đều các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, coi đây là những trụ cột quan trọng Trong PTDLBV, các mục tiêu phát triển được hài hòa và chú trọng đến sự cân đối giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn Điều này yêu cầu sự phân bổ nguồn lực hợp lý và các giải pháp thích hợp trong quá trình thực hiện, nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững một cách hiệu quả.

Ba là, trong PTDLBV, bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường vừa là cơ sở, giải pháp, vừa là mục tiêu của sự phát triển

Tài nguyên và môi trường du lịch là yếu tố thiết yếu cho mọi phương thức phát triển du lịch, đặc biệt là phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) Trong khi du lịch không bền vững thường coi tài nguyên và môi trường là nguồn lực cần khai thác triệt để để tối đa hóa lợi ích kinh tế, PTDLBV lại yêu cầu bảo vệ và bảo tồn tài nguyên, đồng thời phát triển các nguồn tài nguyên tái sinh Mục tiêu của PTDLBV là cân bằng giữa bảo vệ tài nguyên, môi trường với các mục tiêu kinh tế và xã hội, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn, với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường là một trong ba trụ cột chính của phát triển.

Bốn là, PTDLBV đặt ra yêu cầu trách nhiệm cao và sự công bằng về lợi ích đối với các chủ thể tham gia hoạt động du lịch

Các chủ thể chính trong hoạt động du lịch bao gồm cơ sở kinh doanh du lịch, khách du lịch, cộng đồng bản địa và cơ quan quản lý nhà nước Mỗi chủ thể đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch bền vững (DLBV) Tính trách nhiệm của các chủ thể là yếu tố cần thiết để đảm bảo du lịch phát triển bền vững, cùng với yêu cầu công bằng về lợi ích Trách nhiệm này bao gồm cả kinh tế, xã hội và môi trường, trong khi mỗi chủ thể cũng có quyền hưởng lợi tương xứng Cơ sở kinh doanh du lịch được tạo điều kiện cạnh tranh công bằng, trong khi khách du lịch được trải nghiệm sản phẩm du lịch và thỏa mãn nhu cầu khám phá văn hóa, xã hội.

33 trường hợp du lịch bền vững mang lại giá trị tương xứng với chi phí đầu tư, tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng địa phương và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời giữ gìn văn hóa truyền thống Những nỗ lực này góp phần bảo vệ bản sắc, tài nguyên và môi trường du lịch Chính quyền địa phương và cơ quan quản lý nhà nước thu được nguồn thu ngân sách từ du lịch, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống tài nguyên và môi trường được bảo vệ, an ninh trật tự được đảm bảo, nhờ vào các chính sách và biện pháp quản lý cụ thể nhằm tạo điều kiện cho phát triển du lịch bền vững.

Phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) dựa trên các nguyên tắc phù hợp và được tuân thủ nghiêm ngặt trong quá trình phát triển Đặc trưng này giúp đạt được và duy trì sự phát triển du lịch bền vững, khác biệt với phát triển du lịch không bền vững, thường vi phạm các nguyên tắc phát triển PTDLBV luôn cam kết tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc đã được xác định nhằm định hướng và đảm bảo sự phát triển bền vững.

Dựa trên các nguyên tắc phát triển bền vững (PTBV) cho các ngành kinh tế và tham khảo các nghiên cứu đã công bố, tác giả đề xuất một số nguyên tắc phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) cho địa phương, được phân nhóm theo các khía cạnh của phát triển bền vững.

- Nhóm nguyên tắc phát triển du lịch bền vững về kinh tế:

Phát triển dựa trên chiến lược và quy hoạch, quy hoạch phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) cần phải phù hợp với quy hoạch tổng thể và đồng bộ với các quy hoạch bền vững khác liên quan.

Đánh giá toàn diện các tác động kinh tế trong và sau quá trình phát triển du lịch là cần thiết để đảm bảo hiệu quả kinh tế bền vững Cần ưu tiên các hình thức phát triển du lịch mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và giảm thiểu tác động tiêu cực đến sinh kế của người dân.

+ Tối đa hóa lợi ích kinh tế địa phương bằng cách tăng cường các mối liên kết và giảm thiểu sự thất thoát;

+ Tiếp thị, quảng bá du lịch có trách nhiệm, trung thực;

+ Thúc đẩy kinh doanh công bằng và cạnh tranh lành mạnh

- Nhóm nguyên tắc phát triển du lịch bền vững về xã hội:

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động phát triển du lịch là rất quan trọng Cần tôn trọng và thường xuyên trao đổi ý kiến với cộng đồng và các bên liên quan trong quá trình lập kế hoạch và ra quyết định Đồng thời, việc đánh giá tác động xã hội của du lịch ngay từ giai đoạn quy hoạch và trong suốt quá trình phát triển sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực và tối đa hóa tác động tích cực.

+ Tôn trọng và phát huy văn hóa bản địa; tôn trọng cấu trúc cộng đồng truyền thống; khuyến khích đa dạng văn hóa, xã hội;

+ Đảm bảo cộng đồng được tham gia và hưởng lợi từ du lịch; nỗ lực để đảm bảo du lịch góp phần cải thiện đời sống cộng đồng

- Nhóm nguyên tắc phát triển du lịch bền vững về môi trường:

Đánh giá tác động của du lịch đến môi trường là rất quan trọng, bao gồm cả sức ép môi trường lên sự phát triển du lịch Việc này cần được thực hiện trước và trong suốt quá trình phát triển du lịch nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đồng thời tối đa hóa các tác động tích cực.

+ Sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên, tránh lãng phí hay tiêu thụ quá mức; tôn trọng khả năng chịu tải của tài nguyên;

+ Duy trì và khuyến khích đa dạng sinh học tự nhiên;

+ Thúc đẩy giáo dục và nhận thức về PTDLBV;

+ Nâng cao năng lực cho các bên liên quan, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và mở rộng liên kết trong bảo vệ môi trường

Việc tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc đã nêu là yếu tố quyết định cho sự phát triển du lịch bền vững Tuy nhiên, việc áp dụng và thực hiện các nguyên tắc này cần được điều chỉnh phù hợp với từng địa phương.

Trong quá trình phát triển bền vững, cần có sự linh hoạt để cân bằng giữa các yếu tố cốt lõi và tính khả thi trong từng giai đoạn cụ thể.

2.3.2 Vai trò của phát triển du lịch bền vững

Quan điểm về phát triển du lịch bền vững

2.6.1 Quan điểm về phát triển du lịch bền vững trên thế giới

Năm 1996, Hội đồng Lữ hành Du lịch thế giới (WTTC), Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) và Hội đồng Trái đất (Earth Council) đã công bố “Chương trình Nghị sự 21 về Du lịch: Hướng tới phát triển bền vững về môi trường”, đưa ra 10 quan điểm chủ đạo nhằm đảm bảo phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) cho toàn ngành.

- Du lịch phải hỗ trợ nhân dân sống một cách lành mạnh, hữu ích và hài hòa với thiên nhiên

Du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, gìn giữ và phục hồi hệ sinh thái của Trái Đất Việc bảo vệ môi trường gắn liền chặt chẽ với sự phát triển bền vững của ngành du lịch.

- Du lịch phải dựa trên sự bền vững về sản xuất và tiêu dùng Phải loại bỏ hoặc hạn chế việc bảo hộ kinh doanh dịch vụ du lịch

Sự tham gia của cộng đồng địa phương và nghiên cứu kỹ lưỡng về bản sắc văn hóa là rất quan trọng trong các quyết định liên quan đến phát triển du lịch Du lịch cần tận dụng mọi cơ hội để tạo việc làm cho phụ nữ và người dân bản địa.

- PTDL phải gắn liền với việc thừa nhận và ủng hộ bản sắc văn hóa cũng như nhu cầu của người dân bản xứ

- Phải tôn trọng các điều luật quốc tế về bảo vệ môi trường

- Các nước cần thông báo cho nhau về những thiên tai có thể gây ảnh hưởng xấu cho du khách hoặc điểm du lịch

2.6.2 Quan điểm về phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam Ở nước ta, quan điểm PTDL theo hướng bền vững được thể hiện trong Luật

Du lịch Việt Nam 2005 được xác định trong các khoản mục của Điều 5 và Chiến lược phát triển du lịch tới năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2743/QĐ-TTg vào ngày 29-12-2011 Chiến lược này bao gồm nhiều điểm chính quan trọng cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch Việt Nam.

- PTDL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển KT-XH

PTDL cần được phát triển theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại, tập trung vào các trọng điểm để nâng cao chất lượng và hiệu quả Điều này sẽ giúp khẳng định thương hiệu và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

PTDL bền vững cần tuân thủ quy hoạch và kế hoạch, đảm bảo sự hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường Phát triển du lịch cần có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới du lịch văn hóa - lịch sử và du lịch sinh thái, đồng thời bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị tài nguyên du lịch.

Để bảo đảm chủ quyền quốc gia và an ninh trật tự, cần chú trọng đến lợi ích quốc gia và cộng đồng, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực du lịch Việc này cũng cần sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch.

Việc mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế không chỉ giúp quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, mà còn thúc đẩy sự phát triển của du lịch trong nước và quốc tế Điều này góp phần tăng cường thu hút ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam.

Phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) không chỉ liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc mà còn góp phần gìn giữ cảnh quan, bảo vệ môi trường, và đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Để đạt được mục tiêu này, cần đẩy mạnh xã hội hóa và huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư PTDL Đồng thời, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc, cũng như các thế mạnh đặc trưng của từng vùng miền, nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch.

Các quan điểm phát triển du lịch bền vững không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương mà còn đảm bảo lợi ích cho các bên liên quan trong hoạt động du lịch Đồng thời, chúng góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc và bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch Việc này giúp hạn chế tác động tiêu cực từ thiên nhiên đối với ngành du lịch, đồng thời đảm bảo rằng ngành du lịch có khả năng kiểm soát các nguy cơ tiềm ẩn từ hoạt động phát triển du lịch trong tương lai.

2.6.3 Quan điểm về phát triển du lịch của Đảng và chính sách Nhà nước Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đặc biệt nhấn mạnh tới đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; phải nắm vững quy luật khách quan, lấy dân làm gốc Đại hội VI tạo ra bước đột phá lớn

49 và toàn diện, đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 1991 đến 2020, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng đến phát triển du lịch (PTDL) Đại hội VIII đã triển khai quy hoạch tổng thể PTDL dựa trên tiềm năng du lịch văn hóa và sinh thái của đất nước Đại hội IX tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động du lịch, đồng thời liên kết chặt chẽ với các ngành liên quan để phát triển các khu du lịch trọng điểm Nghị quyết Đại hội X xác định PTDL là một chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích đầu tư và đa dạng hóa sản phẩm du lịch Đại hội XI đề ra xây dựng các trung tâm du lịch lớn trong nước và kết nối hiệu quả với các trung tâm du lịch trong khu vực Đại hội XII tiếp tục khẳng định rõ chủ trương phát triển du lịch.

“Có chính sách phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”; đồng thời cần

Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh việc hình thành các trung tâm dịch vụ du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế Điều này bao gồm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào du lịch với hạ tầng đồng bộ, hiện đại và sản phẩm đa dạng Cần tạo thuận lợi trong thủ tục xuất nhập cảnh, đảm bảo an toàn và an ninh cho du khách Đồng thời, cần đẩy mạnh quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam, khai thác bền vững các di sản văn hóa, thiên nhiên, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, đồng thời giữ gìn vệ sinh môi trường Phát triển các khu dịch vụ du lịch phức hợp, quy mô lớn và chất lượng cao cũng là một mục tiêu quan trọng.

Dựa trên Luật Du lịch và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, như quy định số 97/2002/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và quyết định số 194/2005/QĐ-TTg về phương hướng và giải pháp phát triển du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang triển khai các biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch trong nước.

Trong thời gian qua, 50 lịch đã ban hành gần 1.000 văn bản liên quan đến chỉ đạo và điều hành du lịch, tập trung vào xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách cho các khu, điểm du lịch trọng điểm nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước Đặc biệt, các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng du lịch và chỉnh trang đô thị được phê duyệt, cùng với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch Các tỉnh, thành phố cũng đã triển khai chiến lược quảng bá du lịch, giới thiệu thông tin đến du khách và nhà đầu tư Đồng thời, các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, quy hoạch và phát triển sản phẩm mới được chú trọng, kết hợp với cải thiện thuế, giá cả, vệ sinh môi trường và an ninh cho khách Cuối cùng, kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp du lịch cũng được xây dựng để nâng cao chất lượng dịch vụ.

2.6.4 Quan điểm về phát triển du lịch bền vững của tác giả

Kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững và những bài học

2.7.1 Kinh nghiệm về phát triển du lịch bền vững

Nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được thành công trong việc phát triển ngành du lịch, góp phần vào chính sách phát triển bền vững tại các di tích lịch sử và trung tâm văn hóa của họ.

 Kinh nghiệm của thành phố Kyoto - Nhật Bản

Kyoto, từng là thủ đô của Nhật Bản, hiện nay là thành phố thuộc tỉnh Kyoto với dân số hơn 1,5 triệu người, được chia thành 11 khu hành chính và có diện tích 827,9 km².

Vào thế kỷ thứ 8, Nhật Hoàng đã chuyển đô từ nơi bị ảnh hưởng bởi Phật giáo sang thành phố mới Heiankyo (Bình An Kinh) vào năm 794, sau này được gọi là Kyoto Kyoto trở thành thủ đô của Nhật Bản cho đến khi được dời về Edo vào năm 1868 trong thời kỳ Minh Trị Duy Tân, và Edo sau đó được đổi tên thành Tokyo (Đông Kinh), trong khi Kyoto được gọi là Tây Kinh Thành phố này vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên vẹn do không bị chiến tranh tàn phá.

Kyoto là thành phố lớn nhất của Nhật Bản vẫn còn các di tích văn hoá lịch sử, lối kiến trúc với những căn nhà cổ xưa

Kyoto, một thành phố lớn và là trung tâm văn hóa, kinh tế, thể thao và khoa học công nghệ, nổi tiếng với nhiều di sản văn hóa được UNESCO công nhận Tuy nhiên, quá trình hiện đại hóa tại Nhật Bản đang ảnh hưởng đến cảnh quan và di tích của Kyoto Chính quyền thành phố đã triển khai các chính sách và mục tiêu nhằm phát triển du lịch bền vững để bảo tồn những giá trị văn hóa và lịch sử của địa phương.

(1) Tu bổ và bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá

Kyoto, mặc dù trải qua 11 thế kỷ với chiến tranh và động đất, vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên vẹn với 2.000 ngôi đền Phật giáo và Shinto, cùng nhiều cung điện và vườn thượng uyển Đây là thành phố được bảo tồn tốt nhất Nhật Bản, với sự quan tâm đặc biệt từ chính quyền địa phương về bảo tồn di tích văn hóa Các tổ chức tư nhân và nhà hoạt động bảo tồn đang phục hồi hàng chục công trình hư hại tại trung tâm bảo tồn Minh Trị thôn, bao gồm kiến trúc cung đình, thư viện, nhà tù, nhà hát, phòng trà và xưởng nấu rượu Sake Những nỗ lực này không chỉ khôi phục công trình mà còn tái hiện các khu vườn và không gian kiến trúc theo đúng phong cách thời Minh Trị.

(2) Tổ chức các lễ hội thu hút khách du lịch

Các lễ hội ở Kyoto đóng vai trò quan trọng trong văn hóa địa phương, nổi bật nhất là Aoi Matsuri vào ngày 15 tháng 5, một trong ba lễ hội lớn nhất Tiếp theo là Gion Matsuri vào ngày 14 tháng 7, lễ hội Bon vào ngày 16 tháng 8, và lễ hội Jidai vào ngày 22 tháng 10, tất cả đều kỷ niệm lịch sử vinh quang của thành phố với sự tham gia của hơn 2.000 người trong trang phục cổ từ thời Heian đến Minh Trị Bên cạnh các lễ hội, người dân còn tổ chức các bữa tiệc, trà và liên hoan với nhiều món ăn truyền thống phong phú, cùng với các hoạt động như đấu vật và võ thuật Sumo.

Diễn kịch No đã thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước đến Kyoto trong các ngày lễ trọng đại Các trang web quảng cáo du lịch được phát tán rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, cho thấy hoạt động quảng cáo du lịch ngày càng chuyên nghiệp.

(3) Phát triển hệ thống giao thông

Hệ thống giao thông hiện đại của Kyoto bao gồm tàu điện ngầm và xe buýt, kết nối trung tâm thành phố với các đường cao tốc địa phương Du khách có thể sử dụng xe buýt công cộng, xe buýt du lịch hoặc taxi để di chuyển Mạng lưới xe buýt phủ rộng tới những khu vực không có tàu điện ngầm Tàu cao tốc từ Kyoto kết nối với Nagoya, Tokyo, Osaka và sân bay quốc tế Kansai Ngoài ra, các tuyến tàu tư nhân cũng vận chuyển hành khách tới các thành phố lân cận trong vùng Kansai Đi xe đạp là một phương tiện giao thông phổ biến cho cả du khách và người dân, với việc tham quan bằng xe đạp và đi bộ trở thành biểu tượng văn hóa của cố đô Kyoto.

Ngành du lịch đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Kyoto, thu hút du khách đến với cảnh đẹp và di sản văn hóa, từ đó tạo ra nguồn thu lớn cho thành phố Chính quyền Kyoto không khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp nặng do lo ngại về ô nhiễm môi trường, mà chỉ cho phép phát triển công nghiệp điện tử Tuy nhiên, do sự tăng trưởng chậm của các ngành công nghiệp công nghệ cao, chính quyền ưu tiên phát triển nghề truyền thống và doanh nghiệp nhỏ, như sản xuất áo Kimono xuất khẩu, điêu khắc và chế tác kim loại chạm khảm.

Mối quan hệ giữa các trường đại học và doanh nghiệp tại Kyoto đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thành phố này sở hữu 37 trường đại học và viện nghiên cứu, trong đó có ba trường đại học danh tiếng của Nhật Bản, nổi bật là đại học Doshisha.

Đại học Kyoto, được coi là trường đại học hàng đầu Nhật Bản, đã sản sinh ra sáu nhà khoa học đoạt giải Nobel và nhiều thành tựu khoa học quan trọng trong lĩnh vực điện tử và y sinh học Đặc biệt, các nghiên cứu về xử lý hình ảnh giữa đại học Kyoto và tập đoàn Canon đã giúp giảm chi phí chăm sóc sức khỏe cho người già mắc bệnh hiểm nghèo.

 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan, nằm ở Đông Nam Á với diện tích khoảng 513 km² và dân số trên 66 triệu người, có khoảng 30 dân tộc, trong đó người Thái chiếm hơn 80% Tổ chức Du lịch Thái Lan được thành lập vào năm 1960 với mục tiêu marketing và tổ chức các lễ hội văn hóa, hoạt động hiệu quả Đến năm 1973, ngành du lịch Thái Lan đã thu hút 1 triệu du khách, và năm 1976, kế hoạch phát triển du lịch đầu tiên được xây dựng với sự hỗ trợ của Hội đồng phát triển KT-XH quốc gia và Viện tư vấn Phát triển Du lịch Hà Lan Tổ chức du lịch Thái Lan sau đó được nâng cấp thành Cơ quan Du lịch Thái Lan, nhưng sự tăng trưởng thực sự về lượng khách du lịch bắt đầu từ năm 1987, khi nước này tổ chức kỷ niệm 60 năm ngày sinh của Nhà vua với chiến dịch Năm Du lịch Thái Lan, một mô hình marketing thành công, nâng cao vị thế du lịch Thái Lan trên trường quốc tế.

Kể từ năm 1987, Thái Lan đã khẳng định vị thế là một trong hai quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút khách du lịch quốc tế Chính phủ Thái Lan xem du lịch là ngành kinh tế chủ chốt và đã đầu tư nhiều nguồn lực để phát triển lĩnh vực này Nhờ đó, Thái Lan đã trở thành một điểm đến du lịch phát triển mạnh mẽ trong khu vực, với chất lượng dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Kinh nghiệm PTDL ở Thái Lan được thể hiện ở những mặt sau đây:

Chính sách quốc gia của Thái Lan tạo lợi thế cạnh tranh về giá sản phẩm du lịch trong bối cảnh hội nhập, với việc chính phủ áp dụng chính sách hàng không giá rẻ nhằm thu hút khách du lịch Ngành hàng không hỗ trợ ngành du lịch bằng cách giảm giá vé, góp phần làm cho các tour du lịch đến Thái Lan trở nên hợp lý và thu hút khách quốc tế, mang lại nguồn thu khổng lồ cho đất nước và hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế khác Thái Lan cũng chú trọng vào chiến lược quảng bá du lịch, với Tổng cục Du lịch đầu tư từ 80 triệu đến 150 triệu USD hàng năm cho các chiến dịch marketing Các doanh nghiệp lữ hành đóng góp 1 USD cho mỗi du khách để hỗ trợ hoạt động của Tổng cục Du lịch, với 36 văn phòng trong nước và 21 đại diện ở nước ngoài tích cực xúc tiến du lịch Thái Lan.

Xây dựng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển du lịch tại Thái Lan Tổng cục Du lịch đang nỗ lực phát triển sản phẩm du lịch nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ

ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

Ngày đăng: 29/05/2021, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quế Anh (2016), Phát triển bền vững du lịch vùng Duyên hải Đông Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững du lịch vùng Duyên hải Đông Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tác giả: Phạm Quế Anh
Năm: 2016
2. Lê Huy Bá(2005), Du lịch sinh thái, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
3.Lê Huy Bá(2002), Độc hại môi trường, NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc hại môi trường
Tác giả: Lê Huy Bá
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
4. Chính phủ (2011), Quyết định số 247/2011/QĐ-TTg ngày 20/12/2011 củaThủ Tướng Chính Phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 247/2011/QĐ-TTg ngày 20/12/2011 củaThủ Tướng Chính Phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
5. Chính phủ (2013), Quyết định số 201/2013/QĐ-TTg ngày 27/11/2013 củaThủ Tướng Chính Phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 201/2013/QĐ-TTg ngày 27/11/2013 củaThủ Tướng Chính Phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
6. Dương Tấn Diệp (2001), Kinh tế vĩ mô phần lý thuyết, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô phần lý thuyết
Tác giả: Dương Tấn Diệp
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
7.Trần Ngọc Dũng (2004), Phát triển du lịch làng nghề, Báo Nhân Dân, ngày 10/03/2004,tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch làng nghề
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Năm: 2004
8. Trần Tiến Dũng (2007), Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng, Luận án tiến sĩ, ĐH Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng
Tác giả: Trần Tiến Dũng
Năm: 2007
9. Đoàn Liên Diễm (2003), Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững Tp Hồ Chí Minh đến năm 2010, LA Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững Tp Hồ Chí Minh đến năm 2010
Tác giả: Đoàn Liên Diễm
Năm: 2003
10. Bùi Anh Dũng (1998), Định chế quốc tế và Việt Nam về bảo vệ môi trường, NXB Thống kê – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định chế quốc tế và Việt Nam về bảo vệ môi trường
Tác giả: Bùi Anh Dũng
Nhà XB: NXB Thống kê – Hà Nội
Năm: 1998
11. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
12. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
13. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
14. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
15. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
16. Phạm Trương Hoàng(1998),Quản lý hệ thống thông tin trong du lịch và khách sạn, NXB Thống kê – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hệ thống thông tin trong du lịch và khách sạn
Tác giả: Phạm Trương Hoàng
Nhà XB: NXB Thống kê – Hà Nội
Năm: 1998
17. Lê Thị Hường (1999), Kinh tế môi trường, NXB Thống kê – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế môi trường
Tác giả: Lê Thị Hường
Nhà XB: NXB Thống kê – Hà Nội
Năm: 1999
18. Nguyễn Hồng Giáp (2002), Kinh tế du lịch, NXB Trẻ Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Hồng Giáp
Nhà XB: NXB Trẻ Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2002
19. Hồ Đức Hùng, Quản Trị và nghiên cứu Marketing, NXB Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản Trị và nghiên cứu Marketing
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh
20. Nguyễn Ngọc Hồ, Kinh tế vĩ mô, NXB Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
Nhà XB: NXB Tp Hồ Chí Minh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w