Gần nửa thế kỉ sáng tác, ông đã để lại cho nền vănhọc Việt Nam nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng một gia tàigiàu có với rất nhiều những sáng tác ở các thể loại như thơ, truyệnngắn
Trang 1
ph¹m thÞ minh phóc
thÕ giíi trÎ th¬
trong truyÖn viÕt cho thiÕu nhi
cña vâ qu¶ng
LuËn v¨n th¹c sÜ ng÷ v¨n
Vinh - 2011
Trang 2ph¹m thÞ minh phóc
thÕ giíi trÎ th¬
trong truyÖn viÕt cho thiÕu nhi
cña vâ qu¶ng
Chuyªn ngµnh: v¨n häc ViÖt Nam
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong chuyên ngành Ngữ văn của trường Đại học Vinh và bạn bè Qua đây, tôi xin gửi tới quý thầy cô giáo và các bạn lời cảm ơn chân thành nhất
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo – TS Hoàng Mạnh Hùng, người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên tôi hoàn thành
đề tài này Với sự nhiệt tình giúp đỡ và cách làm việc khoa học, thầy giáo Hoàng Mạnh Hùng đã cho tôi những cơ sở quan trọng để hoàn thành luận văn này.
Vinh, tháng 12 năm 2011
Học viên
Phạm Thị Minh Phúc
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi khảo sát 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp mới của luận văn 6
6 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 SÁNG TÁC CỦA VÕ QUẢNG TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm văn học thiếu nhi 8
1.2 Nhìn chung về bộ phận văn học thiếu nhi trong nền văn học Việt Nam hiện đại 11
1.3 Nhìn chung về sự nghiệp văn học của Võ Quảng và truyện viết cho thiếu nhi của ông 15
1.3.1 Võ Quảng – vài nét về tiểu sử và hành trình sáng tạo văn học 15
1.3.2 Vị trí của Quê nội và Tảng sáng trong đời văn Võ Quảng 19
1.3.3 Truyện đồng thoại của Võ Quảng 24
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI TRẺ THƠ TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ QUẢNG 28
2.1 Đặc điểm hệ thống nhân vật trong sáng tác của Võ Quảng 28
2.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 28
2.1.2.1 Nhân vật là những đứa trẻ (trong Quê nội và Tảng sáng) 30
2.1.2.2 Nhân vật là những con vật, đồ vật và cỏ cây hoa lá (trong truyện đồng thoại) 37
2.2 Đặc điểm không gian và thời gian nghệ thuật trong sáng tác Võ Quảng .45 2.2.1 Không gian trong sáng tácVõ Quảng 45
2.2.2 Đặc điểm thời gian trong sáng tác Võ Quảng 50
Trang 5Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG THẾ GIỚI TRẺ THƠ
TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ QUẢNG 57
3.1 Nghệ thuật kết cấu 57
3.1.1 Tổ chức điểm nhìn trần thuật 57
3.1.2 Tổ chức cốt truyện 59
3.1.2.1 Sự phong phú về cốt truyện trong sáng tác của Võ Quảng .59 3.1.2.2 “Đời sống hóa” cốt truyện trên cơ sở chất liệu văn học dân gian 64
3.1.2.3 “Phiêu lưu hóa” cốt truyện 68
3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu 72
3.2.1 Ngôn ngữ 72
3.2.1.1 Ngôn ngữ sống động, giàu chất thơ 72
3.2.1.2 Ngôn ngữ đậm chất bình dị của làng quê 75
3.2.2 Giọng điệu 78
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6Nxb: Nhà xuất bản
Cách chú thích tài liệu trích dẫn: Gồm thứ tự tài liệu trong thư
mục Tài liệu tham khảo và số thứ tự trang chứa trích dẫn Ví dụ: kí hiệu [10,45] tức là số thứ tự của tài liệu trong thư mục Tài liệu tham
khảo là 10, nhận định được trích dẫn nằm ở trang 45 của tài liệu này.
Còn kí hiệu [20] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong thư mục Tài
liệu tham khảo.
Trang 7(1920-2007)
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cuộc đời con người ai cũng có một tuổi thơ với những
tiếng ru ầu ơ của bà, của mẹ Lớn thêm chút nữa là những bàiđồng dao, rồi những câu chuyện về cổ tích về các loài vật, về sựtích vì sao lại thế này mà không phải là thế kia… Tuổi thơ là giaiđoạn đẹp đẽ và nên thơ nhất của cuộc đời một con người Và từnhững bài đồng dao, từ những câu chuyện cổ tích đó đã nuôidưỡng tâm hồn chúng ta lớn lên và trưởng thành Thật đáng quýbiết bao khi có một nhà văn đã dâng hiến trọn cuộc đời mình chỉ
để dành cho thiếu nhi, viết cho thiếu nhi, vun đắp và nuôi dưỡngnhững tâm hồn ngây thơ trong sáng Người đó là nhà văn VõQuảng – tác giả của rất nhiều những tác phẩm hay viết cho thế hệtrẻ, tương lai của đất nước chúng ta
1.2 Võ Quảng đến với văn học có thể nói là khá muộn, ba
bảy tuổi mới bắt đầu sự nghiệp sáng tác, thế nhưng, như ai đó đã nói,ông đã đến là ở lại luôn Ông sáng tác miệt mài và chăm chỉ như chúong thợ cần mẫn Gần nửa thế kỉ sáng tác, ông đã để lại cho nền vănhọc Việt Nam nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng một gia tàigiàu có với rất nhiều những sáng tác ở các thể loại như thơ, truyệnngắn, truyện dài, thơ đồng dao và kịch Những sáng tác của ôngkhông chỉ được các bạn nhỏ rất yêu thích và đón đợi mà cả nhữngbạn đọc đã lớn tuổi vẫn rất yêu chuộng Những trang văn của VõQuảng được coi như là một công trình sư phạm thực thụ, một côngtrình sư phạm mang đậm chất Võ Quảng với lời văn ngắn gọn, súc
Trang 9tích, giàu tính triết lý và tình yêu thương con trẻ Võ Quảng viết chotrẻ em bằng niềm say mê và sự hứng thú của người ông rất mực hiền
từ và nhân hậu, với giọng kể ấm áp, pha chút hóm hỉnh, có lúc lại rủ
rỉ tâm tình kể cho các em những câu chuyện về loài vật, về nhữngbài học tốt, về sự tích vì sao trên lưng hổ lại có vằn, mắt cá Giếc lại
đỏ hoe… Những câu chuyện tưởng như nhỏ bé ấy lại mang trong nómột tình cảm yêu thương thật lớn lao Chính những câu chuyện ấy đãhun đúc tâm hồn non trẻ của các em sau này trưởng thành sẽ trởthành những con người sống nhân hậu, biết yêu thương chăm sócngười khác Với những cống hiến của ông, nhà thơ Hữu Thỉnh - chủtịch Hội Nhà văn khẳng định, Võ Quảng là người có công lao to lớntrong việc phát triển nền văn học thiếu nhi Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ lâu, cái tên Võ Quảng đã trở thành thân thiết với bạn đọc ởnhiều lứa tuổi khác nhau Theo tìm hiểu của chúng tôi, về truyệnthiếu nhi Võ Quảng đã có khá nhiều công trình, bài viết bàn đến Sauđây là những ý kiến tiêu biểu
Tác giả Bùi Văn Tiếng với Đôi điều về đồng thoại Võ Quảng
đã cho rằng: “Sẽ là thiệt thòi biết mấy cho văn chương nước nhà,trước hết cho trẻ em Việt Nam nếu như ngày ấy Võ Quảng của chúng
ta vẫn tiếp tục tham gia chính sự tham dự chính trường mà không trởthành một người chuyên sáng tác văn học và nhất là chuyên sáng tácvăn học thiếu nhi Và cũng sẽ thiệt thòi biết mấy cho văn chươngnước nhà, trước hết cho trẻ em Việt Nam nếu như trong những gì VõQuảng viết cho thiếu nhi mà không có những đồng thoại thấm đẫm
Trang 10chất dân gian như Bài học tốt, Sự tích những cái vằn, Mắt Giếc đỏ
hoe, Cười, Thêm sức chiến đấu” [55, 2].
Nguyễn Huy Thắng trong bài viết Người dành trọn tâm huyết
cho văn học thiếu nhi ngay từ đầu đã khẳng định: “Hơn 50 năm hoạt
động trong lĩnh vực văn học là chừng đó thời gian ông dành trọn tâm
huyết cho văn học thiếu nhi Những tập thơ Gà mái hoa, truyện Quê
nội… đã khắc ghi tên ông - nhà văn Võ Quảng - vào lòng độc giả
thiếu nhi nhiều thế hệ” Sau đó ông giới thiệu qua về nhà văn vàhành trình sáng tác của ông [56, 1]
Tác giả Hà Linh có bài viết Võ Quảng – người hết mình và
trọn đời cho thiếu nhi Đây là bài viết đã tập hợp các nhận định của
một số tác giả về nhà văn Võ Quảng Đó là ý kiến của các tác giả:nhà nghiên cứu Phong Lê, ông Nguyễn Huy Thắng – phó giám đốcNhà xuất bản Kim Đồng, nhà thơ Hữu Thỉnh, họa sĩ Ngô Mạnh Lân,nhà văn Nguyễn Kiên Nhìn chung, Võ Quảng được đánh giá rất cao
về mặt viết truyện cho thiếu nhi Tác giả bài viết cũng khẳng định:
“Truyện của ông, với sự quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả chi
tiết, hóm hỉnh, đã làm bật nổi một thế giới tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên, trong trẻo” [28, 3]
Với bài viết Võ Quảng – nhà văn của thiếu nhi tác giả Phong
Lê đánh giá Quê nội và Tảng sáng là hai tập trong một bộ sách được
xem là hay nhất của văn học thiếu nhi thế kỉ XX Ông khẳng định:
“Gắn bó với tuổi thơ, Võ Quảng cũng đã dành hết tâm hồn và tàinăng cho những thiên đồng thoại nhỏ nhắn và xinh xắn, hồn nhiên vàđậm đà sự sống vui, làm gắn bó được nhu cầu ham hiểu biết vàhướng về điều thiện của các lứa tuổi trẻ” Ông còn nhận xét: “Những
Trang 11trang Võ Quảng, cả văn và thơ đều chan chứa một tình yêu thiênnhiên với cây cỏ, hoa trái, chim muông nơi cảnh sống quanh ta; cùng
là chan chứa một tình yêu quê, nơi những người thân yêu cùng sống,nơi chứa đầy những kỷ niệm thời thơ ấu, nơi ghi nhận từng bước sựtrưởng thành của đời người Vườn văn thiếu nhi của ta hôm nay quả
có không ít người, thậm chí còn rất đông người Nhưng nhìn vào tất
cả họ lại thấy không có ai chuyên như ông Họ còn làm nhiều việckhác Có người chỉ viết bằng tay trái Còn ông, suốt ngót 50 nămqua, ông chỉ viết cho thiếu nhi” [27, 2]
Bài viết của tác giả Lê Nhật Kí: Đặc điểm truyện ngắn đồng
thoại của Võ Quảng đã trình bày một số các đặc điểm chính của
truyên ngắn đồng thoại Võ Quảng Đó là các đặc điểm như: Truyệnđồng thoại Võ Quảng mang đậm chất dân gian, mở rộng chức năngphản ánh hiện thực, mang dáng dấp truyện ngụ ngôn, truyện đồngthoại Võ Quảng ngắn gọn, ngôn ngữ giàu hình ảnh Và tác giả triểnkhái một cách khái quát các đặc điểm vừa nêu [20, 3]
Ở bài viết Nhà văn Võ Quảng – người bạn lớn của tuổi thơ,
nhà phê bình Nguyên An đã nhận định: “Giữa những năm 1980 ấycuộc sống thật khó khăn, có nhà, có nơi gần như mòn mỏi và bế tắcbởi sinh kế mỗi ngày và hướng đi cho mai sau, thế mà đọc văn thơ
Võ Quảng ta đã quên đi thực tại khó khăn đó Quên đi, và thấy tinmến, mà tự nhóm lên trong mình một nguồn sống” Tiếp đó, tác giả
có kể về một số kỉ niệm với nhà văn và một số quan điểm sáng táccủa ông, chẳng hạn như: ông say sưa: “Thơ có nhiệm vụ phải ghi sâuvào tâm hồn các em tất cả bức tranh đậm đà của đất nước, từ những
sự kiện to lớn nhất, cho đến những việc nhỏ nhất, bóng dáng một
Trang 12cánh cò bay, hình ảnh sóng lúa rợp rờn, cây đa, bến nước, tất cả vẻđẹp của núi sông, đó là lớp phù sa mỡ màng, trên đó mọc lên xanhtươi tình yêu Tổ quốc” [1, 2].
Ở bài viết: Võ Quảng – những điều kì lạ thú vị, tác giả Sương
Mai đã khẳng định: “Võ Quảng lại dành phần lớn tâm huyết, tài năng
và trái tim cho thơ văn thiếu nhi và chỉ thỉnh thoảng ông mới viếtcho người lớn Đó cũng là sự lạ độc đáo khác đời lắm nơi ông” và
“Võ Quảng coi việc làm thơ cho trẻ là công việc giản dị Một việc
bé nhỏ thôi nhưng cần thiết, làm thơ cho con trẻ là định vị cái đẹpthơ ca trong hồn trẻ, tạo nên tình yêu cái đẹp nơi con trẻ, góp phầnhoàn thiện tâm hồn cho các em, giúp các em lớn lên và hoàn thiệnchính mình” [31, 2]
Cho đến nay, đã có rất nhiều những bài viết về Võ Quảng,
về các tác phẩm của ông và sau này chắc chắn sẽ còn nhiều hơn nữa
Ở đây, do khuôn khổ của luận văn, chúng tôi mới chỉ đề cập đượcmột phần nhỏ Nhìn chung, các bài viết về Võ Quảng khá phong phú,
ít nhiều chứa đựng những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong việcthực hiện đề tài này
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thế giới trẻ thơ trong truyện viết cho thiếu nhi của Võ Quảng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra các vấn đề nghiên cứu sau:
Trang 13- Tìm hiểu những nét chính về sự nghiệp văn học Võ Quảng và
vị trí truyện viết cho thiếu nhi của ông trong nền văn học Việt Namhiện đại
- Tìm hiểu đặc điểm của thế giới nhân vật trẻ thơ trong sángtác của Võ Quảng
- Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện thể giới trẻ thơ trong sáng táccủa Võ Quảng
3.3 Phạm vi văn bản khảo sát
- Tác phẩm Quê nội và Tảng sáng.
- Tuyển tập Võ Quảng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu, trong đó có các phương pháp chính:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
5 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu và xác định đặc điểm trong nhữngsáng tác văn xuôi của Võ Quảng viết cho thiếu nhi Kết quả của luậnvăn có thể là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về sáng tác của
Võ Quảng, về văn học viết cho thiếu nhi
Trang 146 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Sáng tác của Võ Quảng trong bức tranh chung của
văn học thiếu nhi Việt Nam
Chương 2 Thế giới trẻ thơ trong sáng tác của Võ Quảng.
Chương 3 Nghệ thuật thể hiện thế giới trẻ thơ trong sáng tác
của Võ Quảng
Trang 15Chương 1
SÁNG TÁC CỦA VÕ QUẢNG TRONG BỨC TRANH CHUNG
CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM
1.1 Khái niệm văn học thiếu nhi
Có thể nói rằng, trong kho tàng văn học nhân loại từ bướcsang thế kỉ XIX đã có những sáng tác dành cho một lớp đối tượngriêng, đó là thiếu nhi Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta mặc địnhcho nó như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã thừa nhận và minh chứngrạch ròi về vấn đề này Trong một bài viết của mình, Nhã Thuyên đãnhận định: "Không kể đến nguồn truyện dân gian, huyền thoại,truyền thuyết, cổ tích… vốn gắn với thời thơ ấu của loài người và do
đó dễ dàng được lựa chọn cho trẻ em và được trẻ em yêu thích nhưnguồn văn học đầu tiên, văn học thiếu nhi với “địa chỉ đơn” (singleaddress) là thiếu nhi chỉ được hình thành, theo các nhà nghiên cứu,
từ đầu thế kỉ XX, mà “điềm báo” là cuốn sách nổi tiếng của
Carroll: Alice’s Adventures in Wonderland (1865) (Alice ở xứ sở diệu
kì)” Tuy nhiên, về khái niệm “văn học thiếu nhi”, cho đến nay vẫn
còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa thống nhất trong giới nghiên cứu.Cũng chính Nhã Thuyên đã đặt ra vấn đề này: "Tôi muốn bắt đầubằng một câu hỏi, đơn giản mà không dễ trả lời gọn gàng, nhưng có
lẽ cần thiết với người viết Việt Nam hôm nay: Thế nào là văn họcthiếu nhi? Những cuốn sách viết cho trẻ em hoặc bởi trẻ em? Nhữngcuốn sách cho trẻ em được đọc, thậm chí chỉ được đọc bởi người lớn
Trang 16hoặc những cuốn sách cho người lớn vẫn được trẻ em say mê tiếpnhận có là văn học thiếu nhi?" [57, 3].
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không cónhững quan niệm cụ thể Ở Việt Nam cũng dù văn học thiếu nhikhông sớm được nghiên cứu chuyên biệt như những loại hình vănhọc khác nhưng cũng đã được các nhà nghiên cứu xác lập cho nó mộtchỗ đứng nhất định với một khái niệm cụ thể
Theo Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán chủ biên, nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000, văn học thiếu nhi đượcđịnh nghĩa như sau: “Theo nghĩa hẹp, văn học thiếu nhi gồm nhữngtác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi.Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm mộtphạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người
lớn) đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi, như Đôn Kihôtê của M Xecvantecx, Rôbinxơn Cruxô của Đêphô, Gulivơ du ký của Gi.Xuypt, Xpactac của R.Gôvahihôli, Túp lều bác Tôm của Bichơ
Xtâu, v.v ” [9, 353]
Từ lâu đã có một bộ phận sáng tác dành riêng cho thiếu nhi.Những cuốn sách đầu tiên thuộc loại này là những cuốn sách có nộidung giáo khoa, sách về các quy tắc ứng xử trong xã hội, xuấthiện ở Châu Âu ở các thế kỷ XIV – XVI và đặc biệt phát triển ở thờiKhai sáng Tính giáo huấn được người ta coi là những đặc điểm quantrọng của văn học thiếu nhi Bởi vậy, cho đến giữa thế kỷ XIX,những tác phẩm viết dành riêng cho thiếu nhi vẫn nằm ngoài phạm vicủa văn học Trong khi đó, những tác phẩm văn học viết cho ngườilớn lại đi vào phạm vi đọc của trẻ em, nhất là các loại truyện viết
Trang 17theo môtíp phônclo, loại cổ tích và một số tiểu thuyết và truyệnthuộc thể loại phiêu lưu.
Ở thế kỷ XX, văn học thiếu nhi phát triển khá đa dạng và phatạp Ở nhiều nước phát triển nó ít nhiều còn bị chi phối bởi xu hướngthương mại, bị pha trộn với sự bành trướng của văn học đại chúng ỞViệt Nam, hầu như đến thế kỷ XX mới xuất hiện văn học thiếu nhi.Đến nay đã có sự phát triển phân nhánh của thơ cho thiếu nhi (bêncạnh thơ cho người lớn), hoặc trong văn xuôi cho thiếu nhi đã hìnhthành các loại truyện: truyện có chủ đề gắn với những sinh hoạt đờithường, truyện cổ tích hiện đại (sáng tác hiện đại theo thi pháp cổtích cổ tích), truyện về các loài vật, truyện liên quan đến những sựkiện, những nhân vật lịch sử, v.v
Nhìn chung, hiện nay chúng ta có nhiều cách tiếp cận khácnhau nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về loại hình văn họcthiếu nhi Từ việc tham khảo, tổng hợp các ý kiến từ các nguồn tàiliệu đã dẫn ở trên, chúng tôi đi đến cách hiểu về khái niệm “văn họcthiếu nhi” như sau: Văn học thiếu nhi là một bộ phận của văn họcnhưng được sáng tác dành riêng cho một lớp đối tượng cụ thể đó
là lứa tuổi thiếu nhi, mảng đề tài tương đối rộng, từ những câuchuyện gần gũi với cuộc sống con người đến những chuyện hoangđường viến tưởng để thoả mãn những sở thích khám phá của trẻ thơ.Như vậy, văn học thiếu nhi hướng tới một loại đối tượng độc giả nhấtđịnh, có tính đặc thù Tương ứng với đối tượng ấy, mục đích sángtác, nội dung, đề tài cũng như hình thức thể hiện của bộ phận vănhọc này cũng có tính đặc thù
Trang 181.2 Nhìn chung về bộ phận văn học thiếu nhi trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Chúng ta biết rằng, văn học Việt Nam khi bước vào thế kỉ XXvốn dĩ đã có một khối lượng tương đối đồ sộ với rất nhiều mảng đềtài, với sự xuất hiện một vài tác phẩm đã đề cập đến những vấn đề cóliên quan đến trẻ thơ, trong đó hoặc là nhân vật hoặc là những sựkiện những biến cố ít nhiều xuất hiện dấu ấn trẻ thơ Thế nhưng đểnói về một mảng văn học chuyên biệt viết riêng cho lớp đối tượng làthiếu nhi thì còn khó để gọi tên, vì rằng đề tài vẫn đang rất chungchung với các dạng đề tài của văn học nói chung, là phản ánh hiệnthực đời sống Dù là gần gũi nhưng người sáng tác vẫn chưa ý thứclựa chọn đề tài để hướng đến đối tượng
Thế nên, có thể nói rằng, trước Cách mạng tháng Tám 1945
ở Việt Nam đã có sách viết cho thiếu nhi nhưng hiện tượng đóchưa đủ rạch ròi để khẳng định có một dòng văn học cho thiếunhi Sau Cách mạng tháng Tám, nền văn học đã có những hướng đi
cụ thể, đội ngũ sáng tác đã bắt đầu khai thác những mảng đề tài hướng đến đối tượng thiếu nhi đích thực Từ đó, nhiều tác phẩm viết
để dành cho đối tượng độc giả là thiếu nhi xuất hiện ngày một nhiềuvới các sáng tác của một thế hệ nhà văn như: Tô Hoài, Sơn Nam,Trần Hoài Dương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Hoành Sơn Đến thời điểmnhững nhà văn này xuất hiện và sáng tác những tác phẩm dành riêngcho trẻ thơ thì chúng ta có thể nói rằng văn học Việt Nam đã có mộtdòng văn học chuyên biệt với các đề tài độc đáo dành riêng cho thiếunhi
Trang 19Tháng 6 năm 1957 nhà xuất bản Kim Đồng, nhà xuất bảnchuyên cho thiếu nhi được thành lập Sự ra đời của Nhà xuất bảnKim Đồng đã mở ra một giai đoạn mới của văn học thiếu nhi Từ naylớp bạn đọc thiếu nhi đã có một nhà xuất bản chuyên cho mình vớinhiều thể loại, đáp ứng cho nhu cầu của nhiều lứa tuổi Và cho đếnnay, nhà xuất bản Kim Đồng vẫn giữ một vai trò quan trọng trong sựphát triển của nền văn học thiếu nhi Việt Nam.
Sự hình thành và phát triển của nền văn học thiếu nhi ViệtNam 50 năm qua không thể tách rời với sự quan tâm của Đảng
và Chính phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy rất bận nhưng hàng nămvẫn có thư hoặc thơ viết gửi cho các em vào dịp Tết Trung thu hay
Tết nguyên đán Làm theo lời Bác Hồ dạy là tập hợp những bài thơ
và những bức thư đó Năm 1982, nhà xuất bản Kim Đồng đã cho inmột tuyển tập truyện cổ tích và 12 cuốn khác theo khổ nhỏ
về những truyện cổ tích hay trong nước và ngoài nước Nàng tiên
nhỏ thành ốc, Chuyện hoa chuyện quả của Phạm Hổ cũng được các
em ưa thích
Rõ ràng, truyện cổ tích là nhu cầu không thể thiếu được đốivới các em Vì ở lĩnh vực này, văn học thiếu nhi có cả một khotàng vô tận cho đề tài, cho sự tưởng tượng, cho sự sáng tạo Khía cạnh đáng quan tâm hiện nay là sử dụng kho tàng ấy như thế nào
để từ thế giới cổ tích mà người viết dựng nên những chiếc cầu kìdiệu và vững chắc, kể cả những cầu vồng bẩy sắc để đưa các emvào thế giới hiện tại
Đề tài nổi bật trong sáng tác viết cho thiếu nhi vẫn là đề tài
chiến tranh và cách mạng như Hồi đó ở Sa Kỳ của Bùi Minh Quốc,
Trang 20Cát cháy của Thanh Quế, Quê nội, Tảng sáng của Võ Quảng Có
điều khác trước là đất nước đã thống nhất Đã đến lúc người viết cảm
thấy cần cho các em biết kĩ hơn sự tàn khốc của chiến tranh Hồi đó
ở Sa Kỳ, Cát cháy cho thấy hình ảnh cuộc chiến đấu sống còn ở một
vùng địch ta xen kẽ, có chết chóc, có mất mát ,có cả sự phản bộinữa Nhưng bao trùm lên tất cả vẫn là tinh thần đấu tranh củanhân dân, trong đó có các em Hình ảnh thằng Mỹ trong những tácphẩm này được mô tả rất chân thực, qua cái mẽ hào hoa, lịch sự
bề ngoài nhưng vô cùng thâm độc, tàn ác Những tác phẩm như:
Hồi đó ở Sa Kỳ, Cát cháy, Quê nội, Tảng sáng cũng như Đất rừng phương Nam, Đội thiếu niên du kích Đình Bảng đều là những tác
phẩm có đóng góp xứng đáng vào kho tàng văn học thiếu nhi thếgiới nói chung Nó góp phần tố cáo tội ác của bọn đế quốc Pháp
Mỹ đã reo rắc trên đất nước Việt Nam, gây thảm họa cho biết baothế hệ thiếu nhi Việt Nam
Nhiệm vụ chăm nom, vun đắp cho các mầm non của đất nướctrở thành nhiệm vụ của toàn dân Trong các phương tiện được sửdụng, văn học nghệ thuật quả là có khả năng mạnh mẽ in vào tâmhồn trong trắng của các em những nét sống tốt đẹp của dân tộc, củanhân dân, của cách mạng, ngay từ thuở ấu thơ, và gắn bó với các emsuốt quá trình trưởng thành Trong những ngày đầu Cách mạng thángTám và trong kháng chiến chống Pháp , lực lượng viết cho các emmới chỉ có một số nhà văn chuyên nghiệp thỉnh thoảng có sách chothiếu nhi như nhà văn: Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân,Nguyên Hồng, Nguyễn Xuân Sanh…
Trang 21Từ sau 1954, trên miền Bắc, đội ngũ viết cho thiếu nhi càngphát triển nhanh, bên cạnh lớp nhà văn trên, đã có thêm Võ Quảng,Phạm Hổ, Đoàn Giỏi, Thi Ngọc, Trần Thanh Địch, Hoàng AnhĐường, Vũ Ngọc Bình, Vũ Tú Nam, Đào Vũ, Lê Minh, Văn Linh,Viết Linh, Bắc Thôn, Hà Ân, Hải Hồ, Xuân Sách…
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, đội ngũ viết cho thiếu nhi càng phát triển nhanh với những cây bút mới:Xuân Quỳnh, Trần Hoài Dương, Vân Hồng , Nguyễn Thắng Vu,Quang Huy, Định Hải, Phong Thu, Trần Bình Trọng, NguyễnThị Vân Anh, Lê Phương Liên, Lê Vân…và cây bút thiếu nhi xuấtsắc Trần Đăng Khoa
Trong đội ngũ viết cho thiếu nhi đã bước đầu có hiện tượngchuyên môn hóa theo lứa tuổi, theo thể loại, hoặc theo đề tài.Thế nhưng, không phải lúc nào đội ngũ viết cho các em cũng đôngvui, cũng phát triển Từ sau 1975, đất nước thống nhất, đội ngũ viếtcho thiếu nhi mỗi ngày một mỏng Do những khó khăn trong tìnhhình mới của cách mạng, nhất là khi cuộc sống chuyển sang nền kinh
tế thị trường, chỉ còn riêng loại truyện cổ tích và truyện tranh là còn
có khả năng tồn tại được
Cuối những năm 1980, đội ngũ viết cho các em mới dần dầnkhởi sắc với sự xuất hiện của những cây bút mới và trẻ đã trưởngthành qua những Trại sáng tác cho thiếu nhi hoặc qua những cuộc thiviết cho các em như Nguyễn Hoàng Sơn, Dương Thuấn, Mai VănHai, Phùng Ngọc Hùng, Nguyễn Nhật Ánh, Trần Thiên Hương,Hoàng Tá, Lê Ngọc Ký
Trang 22Trong gần 60 năm qua, trong bối cảnh chiến tranh và xây dựng
xã hội mới, dưới sự quan tâm chăm sóc của Đảng và Nhà nước, mộtnền văn học thiếu nhi Việt Nam hoàn chỉnh, phong phú về đề tài, vềthể loại, về phong cách viết, viết cho mọi lứa tuổi đã góp phần tíchcực vào việc thỏa mãn các nhu cầu tinh thần và giáo dục, bồi dưỡng
về đạo đức, về lý tưởng cho nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam
1.3 Nhìn chung về sự nghiệp văn học của Võ Quảng và truyện viết cho thiếu nhi của ông
1.3.1 Võ Quảng – vài nét về tiểu sử và hành trình sáng tạo văn học
Võ Quảng (1920 - 2007) lớn lên trong một gia đình nông dân
ở xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, bên dòng sông Thu Bồn, tỉnh QuảngNam, Đà Nẵng Cha của ông là một nhà Nho hay ngâm vịnh Ông đãtruyền cho con trai mình ngay từ lúc còn nhỏ lòng yêu thơ văn Quêhương Đại Hòa có con sông xanh, có những bãi dâu bạt ngàn vớinghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa và mía đường đã gieo vào lòng cậu
bé Võ Quảng một tình yêu thiết tha đối với thiên nhiên, cây cỏ
Học xong trường tổng, năm 16 tuổi, Võ Quảng ra học trườngKhải Định ở Huế Với tư chất ham mê đọc sách, hoạt động trong
tổ chức Thanh niên cộng sản của Đảng Năm 17 tuổi ông bắt đầutham gia cách mạng Năm 21 tuổi ông bị thực dân Pháp bắt bỏ tù, lầnlượt bị giam ở các nhà lao Phủ Thừa (Huế), nhà lao Hội An, nhà laoVĩnh Điện (Quảng Nam – Đà Nẵng) Sau đó, ông bị đưa về quản chế
ở Đại Hòa cho đến lúc cách mạng tháng Tám bùng nổ Chính cuộcsống tù tội đó đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách nhìn, cách cảm
Trang 23nghĩ của ông, với tư cách là nhà văn Sau này không chỉ trong một
vài truyện ngắn viết cho đối tượng người lớn, như truyện Cái lỗ cửa
kể chuyện có thật của tù nhân nổi lên la hét phá cửa nhà tù vì bị ngạtthở, mà cuộc sống đó còn ảnh hưởng trong nhiều sáng tác của ôngdành cho thiếu nhi
Võ Quảng đã cùng chung số phận với những người bị giamhãm cùng một cảnh ngộ với nhân dân bị áp bức, do đó ta cũng
dễ hiểu được niềm vui lớn của Võ Quảng khi cách mạng tháng Támthành công Truyện viết cho thiếu nhi của Võ Quảng thường khaithác những chủ đề về sự nảy nở hồi sinh của con người sau bão tápcách mạng; của loài vật, cỏ cây khi mùa xuân về
Cách mạng tháng Tám thành công Ông được giao phụ tráchchính quyền Đà Nẵng, rồi phụ trách công tác luật pháp ở các tòa ánquân sự miền Nam Trung Bộ và tòa án nhân dân Liên khu 5 Khi tậpkết ra Bắc, được sự động viên của các bạn bè từng biết anh có làmthơ, viết văn, ông xin thôi công tác chính quyền, chuyển sang hoạtđộng văn học và sau đó ông đi vào văn học thiếu nhi Con đường đivào thế giới các em rất khó khăn và mới lạ, nhưng nhà văn đã làmviệc không mệt mỏi và kết quả của sự lao động nghiêm túc đó đãmang lại nhiều kết quả tốt và đáng tự hào Trong 25 năm qua, ngoàinhững sáng tác thơ văn ông còn đóng góp nhiều bài lý luận, nhiềuphát biểu về văn học cho thiếu nhi Bằng việc viết sách và dựngphim cho thiếu nhi (Ông từng phụ trách Nhà xuất bản Kim Đồng vàXưởng phim hoạt hình), ông cũng là người góp phần đắc lực vào sựhình thành và phát triển nền văn học thiếu nhi Việt Nam
Trang 24Truyện ngắn đầu tay của Võ Quảng có tên là Cái lỗ cửa viết
năm 1955 là truyện ông viết từ chính những trải nghiệm của ông– những năm ông bị tù ở nhà lao Thừa Phủ Đó là một câu chuyệnvừa nghiêm chỉnh vừa vui hóm, rất hồn nhiên, tự nhiên mà lại gợicho người đọc những ý tưởng rất sâu xa về những ứng xử và tâm thếcon người gắn với hành trang, kinh lịch và tính cách của họ
Từ truyện ngắn này đến trích truyện dài Kinh tuyến – vĩ tuyến
ra đời năm 1993 là một đường dẫn cho ta thấy bút danh Võ Quảngrất có thể sẽ là một cây truyện không xoàng, không mờ nhạt nếukhông muốn nói là quan trọng, là đặc sắc của văn học hiện đại ViệtNam Thế nhưng rồi Võ Quảng lại trở thành một người viết chỉchuyên cho thiếu nhi và gần như không viết gì ngoài viết cho thiếunhi Trong khi những nguời viết cùng thế hệ, hoặc ở cùng vị trí khaisáng như ông gồm những nhà văn như Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài,Phạm Hổ, Đoàn Giỏi,…đều viết rộng ra nhiều khu vực khác và chonhiều đối tượng khác
Võ Quảng đã đóng góp cho nền văn học thiếu nhi Việt Nammột gia tài rất to lớn gồm những sáng tác thơ và văn chỉ viết chothiếu nhi Chủ đề của các sáng tác của ông thường rất trong sáng,
vì như Võ Quảng quan niệm thơ văn viết cho thiếu nhi khôngnhằm mục đích nào ngoài giáo dục cho các em Võ Quảng cũng cóphát biểu thêm: “Giáo dục các em cần thông qua nghệ thuật, vàmột sáng tác chân chính cho thiếu nhi luôn luôn phải mang tínhchất nghệ thuật” Trong những năm qua, qua việc tìm hiểu một số
dư luận báo chí, dư luận người lớn, và không ít độc giả thiếu nhithì chúng tôi thấy nhiều sáng tác, đặc biệt là phần văn của Võ
Trang 25Quảng đã cuốn hút các em, và người lớn cũng cảm thấy bị đam mêbởi những tác phẩm ấy
Võ Quảng làm thơ và viết truyện Ở ông có một sự hài hòa, cảthơ và truyện đều có một cái dáng riêng, rất dễ nhận Với thơ, ôngchỉ chuyên viết cho lứa tuổi nhỏ Qua những bài thơ xinh xắn, nhẹnhàng, ông khai thác nhiều chủ đề, nhưng phần trọng yếu ông muốntruyền đến cho các em lòng yêu thương thế giới cỏ cây loài vật, sựbừng tỉnh của những mầm non chồi biếc, để từ đó hướng tới một mụctiêu rộng hơn, lòng yêu điều thiện, yêu cái đẹp Đặc biệt, thơ của VõQuảng rất giàu nhạc điệu Chính nhạc điệu đó làm cho người đọc dễcảm xúc, nhờ đó phát huy được chủ đề tư tưởng Cũng nhờ nhạc điệu
đó cho nên thơ của ông, các em có thể vừa hát vừa chơi
Khác với thơ, truyện của Võ Quảng viết cho nhiều lứa tuổi
Với lứa tuổi nhỏ, ông viết truyện đồng thoại như: Cái mai, Bài học
tốt Những chiếc áo ấm… Nhưng phần giàu có nhất cũng là phần tâm
huyết nhất là những truyện ông viết cho lứa tuổi thiếu niên Phảichăng với lứa tuổi sắp bước vào đời, lứa tuổi có nhiều hoài bão ước
mơ, ông muốn nói với các em đầy đủ hơn, và chỉ loại truyện mới cóthể đáp ứng được yêu cầu đó Bên những truyện ngắn, truyện vừa
như: Cái thăng, Chỗ cây đa làng, hai truyện dài Quê nội và Tảng
sáng cho đến hôm nay, có thể nói đó là niềm tự hào của Võ Quảng và
là niềm vui thích của các em
Trang 261.3.2 Vị trí của Quê nội và Tảng sáng trong đời văn Võ Quảng
Nói đến Võ Quảng là người đọc biết đến ông trước hết với
tư cách là tác giả của hai tập truyện Quê nội (1973) và Tảng sáng
(1978) – hai tập trong cùng một bộ sách theo chúng tôi là hay nhất
trong vườn văn thiếu nhi Việt Nam thế kỉ XX Tảng sáng ra đời sau khi Quê nội được bốn tuổi, nhưng để viết nên hai tác phẩm đó
– vốn là một truyện, nhà văn đã phải chuẩn bị trên 10 năm Và cái
vốn để viết nên Quê nội và Tảng sáng đó là tất cả tuổi thơ của Võ
Quảng, và khi tuổi thơ ấy luôn luôn sống động, luôn luôn đượclưu giữ gần như nguyên vẹn trong kí ức thì cũng có thể xem như là
cả cuộc đời ông
Với Quê nội và Tảng sáng, Võ Quảng đưa chúng ta vào trong
cuộc sống sinh hoạt của một làng quê có tên là Hòa Phước, ven consông Thu Bồn, giữa những ngày sôi nổi trong và sau cách mạngtháng Tám năm 1945 Đằm thắm trong một tình yêu, một nỗi nhớthương vừa vời vợi, vừa sâu thẳm, truyện của Võ Quảng dường nhưkhông chú ý, hay nói đúng hơn, không nhằm lạm dụng cái lạ, cáiriêng của dấu ấn từng vùng Hòa Phước là quê của tác giả, của một người con của vùng quê Ngũ Hành Sơn, sông Thu Bồn, Cửa Hàn,Cửa Đại… nhưng cũng là của anh, của tôi, của tất cả chúng ta Nghechuyện Hòa Phước của tác giả cũng như là nghe kể về quê hương củachính mình Rõ ràng, khi Võ Quảng viết “hết mình” trong một tìnhyêu “quê nội” thì cũng là khi Võ Quảng đã gặp tất cả chúng ta –những người hẳn ai cũng khao khát một tình yêu quê hương, và tìnhyêu quê hương, như xưa nay vẫn vậy là một tình yêu không biên
Trang 27giới Yêu quê mình và yêu quê bạn Yêu nơi mình sinh ra và yêu nơimình ghé đến Rồi chính do sự hòa nhập, sự đổi trao, sự bổ sung đó
mà biết nâng tình yêu quê hương cụ thể lên tình yêu Tổ quốc
Những trang Võ Quảng chan chứa một tình yêu quê và cũng
là chan chứa một tình yêu Tổ quốc Nếu nói có một hàm lượng trữtình và một chất thơ nồng đậm ở Võ Quảng thì theo tôi chính là đượckhơi từ đó Nhưng nói tình yêu quê hương là nói một cái gì rất rộng
Võ Quảng biết chọn cho mình một khía cạnh riêng biệt Ông cho các
em thấy tình yêu quê hương gắn bó với tình yêu cách mạng Quê nội
nói lên một chân lý: Người dân đã mất nước thì không còn có quê
hương Nước mất thì nhà tan Trong Quê nội, ông Hai Tuân bắt buộc
phải bỏ vợ con làng xóm ra đi phiêu bạt tận ngoài Cù Lao Chàm.Ông Bảy Hóa bỏ làng ra đi để kiếm miếng ăn Ông Biện Doãn bỏlàng ra đi vì không chịu nổi áp bức, mưu toan làm giặc Ông TùngSơn bỏ làng lên núi ở vì không chịu nổi những chướng tai gai mắt.Trong làng loáng thoáng còn có bóng dáng chồng chị Bảy Cọ đi thaphương cầu thực Bà Kiến bỏ làng di ăn xin Không ai được quyền cóquê hương cả Nhưng Cách mạng tháng Tám thành công, “Cơn lốc
dữ dội đã quét tan mây mù ở quê Đất lành chim đã bay về đậu” nhưlời anh Bốn Linh trong truyện đã nói
Nội dung Quê nội ca ngợi công lao to lớn của cách mạng Cách
mạng đã trả lại quê hương cho người dân lao động Khi cách mạngtháng Tám thành công, ông Hai Tuấn chợt thấy một điều lạ Đó là hảiđảo không ngăn cách với đất liền, quê Hòa Phước và Cù Lao Chàmbỗng nhiên kéo sát lại Ông Hai Tuân và em bé Cù Lao về lại làng
cũ Bà con làng xóm mừng rỡ đón họ vào lòng Trong họ tổ chức
Trang 28cúng mừng Cù Lao được tắm trong tình yêu thương của bà conchòm xóm, được tham gia xây dựng cuộc đời mới Xứ quê đã làmcho tầm mắt của Cù Lao rộng ra, bổ sung cho Cù Lao bao nhiêu kiếnthức Cái vui được trở lại quê hương đó không chỉ dành cho cha conông Hai Tuân mà còn đến với con trai ông Biện Doãn khi tìm lạiđược quê cha đất tổ: “Thế là trên nguồn dưới bể cùng một quê cha,đất tổ, nhờ cách mạng tất cả lại sum họp, không còn gì chia cắt vànối lại được tất cả mối dây tình cảm yêu thương”.
Quê nội có chiều sâu về tâm lý Hai nhân vật Cù Lao và Cục
được tác giả khắc họa khá rõ nét Cá tính của mỗi nhân vật được bộc
lộ ở thế luôn luôn biến động Cù Lao lúc mới về bị bọn trẻ trong làngcho là mọi biển, nhưng dần dần cá tính của em được bộc lộ làm bọntrẻ phải ngạc nhiên Té ra Cù Lao không phải là mọi biển mà là mộttay khá khỏe, khá dũng cảm và thật thà, biết rất nhiều cái lạ ở làng.Cục có vẻ đàn anh, hay cậy thế và tỏ ra ta đây Nhưng cả hai đều trànngập những ước mơ tuy có lúc còn không tưởng, ngây thơ và điều dễyêu là bỗng nhiên hai chú bé đã trở thành người lính vô cùng trungthành, sẵn sàng hi sinh cho cách mạng Cách mạng có chiếc gậy thầnlàm biến đổi không chỉ hai chú bé mà còn làm biến đổi tất cả làng.Ông thầy cúng Bảy Hóa đốt bàn thờ có tranh thập điện vẽ toàn cảnhrùng rợn dưới âm ty, ông cạo râu dài muốn xin gia nhập bạch đầuquân vì “xưa kia ông như chiếc liềm, bị vùi sâu dưới đất nay phảimài lại cho sáng” Chị Ba, chị Bốn, chị Bảy cắt tóc ngắn để “cắt đứtvới cái đế quốc phong kiến”, bỏ ăn trầu, mặc áo ngắn, muốn luyện
võ nghệ, tập dân quân, nói những chuyện cách mạng Chú Năm Mùi
bỏ việc hô bài chòi vì đã là chỉ huy tự vệ thì không thể làm việc tầm
Trang 29thường đó Không có nhân vật nào trong Quê nội lại không chịu sự
biến đổi đó Ngay cả chòm đa Lý, đại bản doanh của bọn quỷ BạchThố, Năm Nanh đã gây bao nhiêu rùng rợn chết chóc – trong tưởngtượng của bọn trẻ - cũng đành chịu để cho dân phá miếu lập trườnghọc
Quê nội là một bài ca về công ơn của cách mạng và phát hiện
được những biến đổi sâu sắc về tâm lý, tình cảm của những conngười ở một vùng quê Trung Trung Bộ Riêng về Cù lao, có một điềurất lạ Cù Lao sinh ra và lớn lên tận ngoài biển Đông, chưa hề vềlàng, thế mà mọi việc ở làng em đều biết hết Em biết rõ nghề làmtằm, nghề làm đường mía, nói được cả những tiếng lóng của nhữngnghề đó, chỉ đúng vị trí những tên làng ở bên kia sông, biết được ởtrên cây sung ở đầu làng có một cái hốc thật lớn, biết được trên nóccủa miếu làng có chạm hổ phù, biết rõ những trận đánh giành đất xưakia với làng bên cạnh, tả lại rất tỉ mỉ những cuộc phát chẩn cho kẻđói xưa kia ở chợ Những cái đó bọn trẻ sống ngay ở làng dều mù tịt
Em còn biết cả điều rất bí mật là trên mông của ông Bảy Hóa có mộtvết sẹo to tướng mà ngay cả làng cũng không thể biết Vì sao thế? Vìchú Hai Tuân, bố Cù Lao lúc nhớ nhà, tình quê lai láng, đem trút chocon nghe những chuyện ở quê, kể đã mấy chục lần vẫn cứ kể đi kểlại, làm Cù Lao thuộc hết mọi việc Cách thể hiện đó của tác giả nóilên được sự day dứt, xót thương của người nhớ quê
Quê nội và Tảng sáng là những trang hiện thực, đầy chất thơ
ca ngợi sự đổi đời của Hòa Phước, quê của tác giả Tuy là hai, nhưng
thực ra Quê nội và Tảng sáng là một câu chuyện nối liền nhau, trong
đó tác giả chọn bốn nhân vật với cá tính khác nhau, hiện thân cho
Trang 30bốn tai họa chính mà toàn dân tộc ta, trong thời mất nước người ít kẻnhiều, đều phải chịu đựng Đó là nạn áp bức của thống trị, là nạnngèo đói, là nạn dốt nát, là nạn mê tín dị đoan Cách mạng bùng nổ,bốn người cùng khổ đó đã sống lại cùng các tầng lớp thanh thiếuniên vùng dậy Câu chuyện được dẫn dắt bằng các tình tiết luôn luôn
ở thế động, cho đến lúc những con người đó biến thành những chiến
sĩ gan dạ, dám quên mình cho Tổ quốc Nội dung câu chuyện chothấy một khi con người đã nắm được chân lý, đã biết tin yêu thì sẽsống lại, sẽ làm chủ được vận mệnh của mình rồi bộc lộ được những
khả năng vô tận của mình Quê nội và Tảng sáng là một bài ca về
con người, về đất nước, về núi sông Cả thiên nhiên, bến nuớc, cây
đa, đình chùa, miếu mạo cũng vâng theo con người cũng tái sinh,
cũng biến đổi Một số người lớn cho rằng Quê nội và Tảng sáng là
câu chuyện của một vùng, nhưng đồng thời cũng là câu chuyện của
cả nước, là câu chuyện của một gia đình, nhưng cũng là câu chuyệncủa con người, của lịch sử Nhận xét đó đúng nhưng cái chính đã làmcho các em và cả người lớn yêu thích, đó không chỉ là những bứcảnh chụp, mà nó mang được đầy đủ tính nghệ thuật Tác giả đã tạo rađược một giọng nói chân thật, hồn nhiên, có hơi thở và có sự sốngcủa chính mình
Với lòng yêu quê hương da diết, Võ Quảng mới có thể làmsống lại qua hai tác phẩm này, hình ảnh những ngày đầu cách mạng
và kháng chiến chống Pháp của một vùng quê miền Trung một cách
rõ ràng như vậy Có thể nói Quê nội mặn mà về những kí ức Truyện
có phảng phất một nỗi buồn, dầu những trang vui chiếm không ít
Trang 31Tảng sáng dồi dào các sự kiện, toát lên cảnh hồ hởi, phấn chấn của
buổi đầu cách mạng, của những ngày đầu kháng chiến chống Pháp
Những trang kể lại quãng đời đau khổ, cơ cực trước cách mạngcủa ông Hai Tuân, ông Bảy Hóa, ông Hai Dĩ và bà Kiến với nhữngchi tiết, tuy rất bình thường, ví như trước hôm bỏ làng ra đi, ông HaiTuân lặng lẽ sửa lại vành nôi cho đứa con còn bú mẹ, cột lại tấmphên đứt, đã khiến nhiều người đọc xúc động Nhưng người viếtkhông “nhấm nháp” trong nỗi buồn đó, để tiếp ngay là những trangvui Vui trong cảnh đoàn tụ Vui trong cảnh học bình dân ban đầu.Vui trong cảnh thầy Lê Tảo, viết hộ thư cho người vợ gửi chồng đi
xa Nhà văn biết so sánh giữa các cảnh ngộ, các số phận Chính sự sosánh cái mới cái cũ đó làm nổi bật lên cảm hứng ngợi ca cách mạng,
nó như sợi chỉ quán xuyến cả Quê nội và Tảng sáng
Cái hấp dẫn của Quê nội và Tảng sáng là bên cạnh những trangviết về hiện thực của Hòa Phước thỉnh thoảng xen vào những trangbay bổng kể về những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết
mà tác giả thuộc và biết cách làm chúng sống lại Với khả năng đótác giả đã nối được dĩ vãng với hiện tại
Với những gì đã làm được cho nền văn học thiếu nhi còn nontrẻ, ông xứng đáng nhận được sự quý trọng của tất cả chúng ta,
và nhận được sự yêu thích, sự ngưỡng mộ của các thế hệ trẻ đã đọcông ngày hôm nay, và còn đọc ông nhiều hơn nữa sau này
1.3.3 Truyện đồng thoại của Võ Quảng
Khái niệm truyện đồng thoại trong văn học Việt Nam vốn vaymượn từ Trung Hoa Nhưng trong quá trình sử dụng, nó đã được
Trang 32quy ước lại, thể hiện cách hiểu riêng của nền văn học Việt Nam.Khác với Trung Hoa, chúng ta dùng khái niệm truyện đồng thoại
để chỉ một thể loại tự sự hiện đại dành cho trẻ em, sử dụng hìnhthức nhân cách hóa loài vật, kể chuyện vật mà gợi chuyện ngườinhằm đưa đến cho các em những bài học giáo dục về nhận thức
và thẩm mĩ Chúng ta cũng không đồng nhất truyện đồng thoạivới truyện cổ tích, mà xem đó là hai thể loại hiện đại, có quan hệ
họ hàng nhưng trước sau vẫn là hai thực thể độc lập, mang những
tố chất thẩm mĩ riêng Từ Trung Hoa vào Việt Nam, khái niệmtruyện đồng thoại đã trải qua một độ khúc xạ và do đó có những
độ chênh thuật ngữ nhất định
Truyện đồng thoại cũng giống như truyện cổ tích và truyệnngụ ngôn, được sáng tác theo một quy luật khác với truyện tả thực.Trong các truyện tả thực, người viết cũng phải vận dụng yếu tốtưởng tượng để khái quát cuộc sống Nhưng trong truyện đồng thoại,sức tưởng tượng đó càng bay bổng có lúc đến mức tung hoành.Trong một số truyện đồng thoại, thực tế cuộc sống có lúc bị đẩy lùi
về phía sau đến mức khó nhận thấy Nhưng mặt khác, cũng nhờ sứctưởng tượng tung hoành ấy mà thực tế hiện lên rõ hơn, lộng lẫy hơn
và có sức khái quát cao hơn
Trong những sáng tác của Võ Quãng, chúng ta không khó để
nhận ra những truyện: Bài học tốt, Sự tích những cái vằn, Cái mai…
có thể xếp vào loại tác phẩm được sáng tác theo kiểu đồng thoại Ở
đó, chúng ta thấy những nhân vật như chú rùa, con hổ, hay cái mai
là lớp nhân vật được trước hết là những con vật nhưng được nhâncách hoá, đẩy lên một bậc cao hơn Vốn là để nói chuyện người, từ
Trang 33những câu chuyện đó làm cho các em thấy được những thế giới bênngoài cuộc sống con người nhưng cốt lõi cũng là để nhận thức vềchính cuộc sống của chúng ta với vô vàn những điều thú vị, thânquen và đang chờ được khám phá.
Khi thực tế đã được khái quát cao, dễ mang ý nghĩa tượngtrưng, mang một triết lý sâu xa Cũng nhờ sức tưởng tượng nên mọitình tiết trong câu chuyện hiện lên sắc nét và rực rỡ Những chân lýhiện lên phía sau câu chuyện cũng trở nên đầy đủ hơn, tác độngmạnh mẽ hơn Đặc biệt với các lứa tuổi thiếu nhi, truyện đồng thoại
là một loại hình văn học rất phù hợp, vì thiếu nhi vốn rất dễ tưởngtượng, vì truyện đồng thoại dễ nhập vào tâm hồn làm các em dễ hiểu,
dễ xúc động
Truyện đồng thoại nếu có xu hướng đi sâu vào thực tế, đi gầnvào các chi tiết cuộc sống thì cũng không thể hòa tan vào các loạivăn viết theo phương pháp hiện thực Vì tưởng tượng vốn là thuộctính của thể loại truyện đó Hiện nay các em hiểu biết sớm và cónhiều ước mơ, các em càng muốn đi vào những vấn đề có tính kháiquát hơn, hoặc mở ra những chân lý mới và truyện đồng thoại đápứng được những nhu cầu đó
Trong truyện đồng thoại có thể là câu truyện về người, về vậthay là về cỏ cây hoa lá thì người đọc vẫn thấy trong đó hơi thở, tâmhồn của tác giả Tác giả đã tìm thấy chính mình trong những câuchuyện đó Nhờ vậy mà người đọc thấy hay, thấy xúc động Sự xúcđộng đó nói lên giá trị của những tác phẩm văn học Vì từ những xúcđộng đó mà tư tưởng chủ đề được phát huy mạnh mẽ Những sáng tác
đó không hề có tình tiết gán ghép giả tạo, cốt để minh họa cho chủ đề,
Trang 34làm cho ý đồ của tác giả không phù hợp với ngôn ngữ biểu hiện Chính
sự gán ghép đó đã làm phá vỡ chủ đề Lúc đó câu chuyện chỉ còn làmột cái xác, chưa có sự sống và linh hồn Đọc xong chỉ còn lại một sốtín hiệu và những lời răn dạy khô khan Người đọc thờ ơ Những tìnhcảm tốt đẹp mang tính chân lý không được thắp lên vì thiếu sự tác độngcủa nghệ thuật Những sáng tác tốt về đồng thoại, cũng như mọi sángtác tốt về văn học luôn luôn được tác giả nối liền khoảng cách giữa ý
đồ với phương pháp biểu hiện
Trong bức tranh chung của văn học thiếu nhi nước nhà, VõQuảng đã định hình cho mình một vị trí vững chắc trong lòng nhiềuthế hệ độc giả, đặc biệt là độc giả nhỏ tuổi Những nhân vật như Cục,
Cù Lao; những con vật đáng yêu trong truyện đồng thoại… luôn làhành trang không thể thiếu trong cuộc sống tinh thần của tuổi thầntiên Nhận định của nhà nghiên cứu Phong Lê có thể xem là lời tri ânđối với nhà văn Võ Quảng – nhà văn của thiếu nhi : “Võ Quảng ra đitrong lặng lẽ đã ba năm, sau khi đã để lại cho đời một tình yêu contrẻ hết mình và trọn đời; và với tình yêu đó, ông đã để lại cho nhiềuthế hệ trẻ bao hành lý tinh thần quý giá, nó làm giàu có cho tâm hồnmỗi con người Võ Quảng đã chăm chút biết bao nhiêu cho cáiphần sống bên trong ấy của con người ngay từ tuổi thơ Và ôngcòn nhắc nhở khi đã đi qua tuổi thơ, càng cần biết chăm chút hơn,nhân hậu hơn, với tất cả những gì thân thiết, cả những gì còn xa lạ,hoặc ngang trái trong vận hành đầy vất vả của cuộc đời, cả trong
sự tự quên mình đi vì niềm vui và hạnh phúc của người khác” [27,3]
Trang 35Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI TRẺ THƠ TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ QUẢNG
2.1 Đặc điểm hệ thống nhân vật trong sáng tác của Võ
Quảng
2.1.1 Khái niệm nhân vật văn học
Nhân vật văn học là con người cụ thế được miêu tả trong tácphẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng như: Tấm, Cám,chị Dậu, anh Pha, v.v Cũng có thể không có tên riêng như: “thằng
bán tơ”, “một mụ nào” trong tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào
Nguyễn Du Nhân vật văn học có thể là con người (có tên hoặckhông có tên), con vật trong các câu truyện ngụ ngôn, có thể là đồvật hay một loài cây nào đó Điểm chung là các đối tượng đó đượccoi như là một phương tiện để chuyển tải những quan niệm, nhữngsuy nghĩ về con người Trong truyện cổ tích, ngụ ngôn, đồng thoại,thần được đưa ra để nói chuyện con người Khái niệm nhân vật vănhọc có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụthể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm.Chẳng hạn có thể nói: nhân dân là nhân vật chính trong tác phẩm
Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc, đồng tiền là nhân vật
chính trong tác phẩm Ơgiêni Grăngđê của nhà văn Bandăc Nhân vật
văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồngnhất nó với con người có thật trong đời sống
Trang 36Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cáchcủa con người Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử, nênchức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học cũng mang tínhlịch sử Trong thời cổ đại xa xưa, nhân vật văn học của thần thoại,truyền thuyết thường khái quát năng lực và sức mạnh của con người.
Ví dụ như: Nữ Oa đội đá vá trời, Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra
trăm trứng, các ông Tát bể, ông Kể sao, ông Đào sông… Ứng với xã
hội phân chia giai cấp, nhân vật của truyện cổ tích lại khái quát cácchuẩn mực giá trị đối kháng trong quan hệ giữa người và người nhưthiện với ác, trung với nịnh, thông minh với ngu đần… Vì tính cách
là kết tinh của môi trường, nên nhân vật văn học là người dẫndắt độc giả vào các thế giới khác nhau của đời sống Nhân vật vănhọc còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhàvăn về con người Vì thế nhân vật luôn luôn gắn chặt với chủ đề củatác phẩm
Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâuthuẫn và mọi chi tiết các loại Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật,mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vậtnày với tuyến nhân vật khác Cho nên nhân vật luôn luôn gắn liềnvới cốt truyện Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâu thuẫn nên khácvới hình tượng hội họa và điêu khắc, nhân vật văn học là một chỉnhthể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, mangtính chất quá trình Nhân vật là một đơn vị nghệ thuật mang tính ước
lệ, không bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xâydựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhânvật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con
Trang 37người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy
nhà văn đã được bà Alice Kahn, nhà phê bình từng dịch Quê Nội
sang tiếng Pháp thì so sánh Cục Cù Lao với đôi bạn Tom Sawyer Hucklebery Finn của Mark Twain và tỏ ý thích Cục - Cù Lao hơn.Quả đúng là như thế, xuyên suốt hai tác phẩm là hai em bé Cục và
-Cù Lao với những hành động và những suy nghĩ rất ngây thơ trongsáng nhưng cũng đầy sự tinh nghịch biểu hiện trong cuộc sốngthường ngày
Quê nội hấp dẫn bạn đọc chủ yếu là ở dòng văn xuôi tự sự,
sống động, giàu có về hình tượng và phong phú về giọng điệu Dựavào góc nhìn và tâm lý của chú bé Cục – nhân vật dẫn truyện - tácgiả đã khéo léo chắp nối, móc xích các chi tiết, các sự kiện khiến chomạch truyện chảy tự nhiên và đầy bất ngờ Thủ pháp tác giả thườngdùng là khai thác sự mới lạ như khi miêu tả về tiếng gáy khác nhaucủa những con gà trong xóm:
“Tôi nằm đang nhớ lại từng động tác luyện tập của đội nữ tự vệ, chợtcon gà trống ở phía bếp nổi gáy Tiếng nó lanh lảnh Tôi biết đó là
Trang 38con gà của anh Bốn Linh Con gà này có bộ lông mã tía, cổ bạnh,mào hạt đậu Tiếng nó dõng dạc nhất xóm… sau gà anh Bốn Linh, gàcủa ông Bảy Hóa gáy theo Tiếng của nó nghe khàn khàn làm tôi nhớđến tiếng rao của ông thợ hàn nồi khi đi qua xóm… Sau gà ông BảyHóa, gà bà Kiến nổi gáy theo, nó phóng ra ba tiếng không đều nhau
éc e e… Gà ông Kiểm Sành, gà chị Bảy Cọ cũng thi nhau gáy Gàtrong làng nổi gáy loạn xị”[61, 5] Khác lạ trong sự miêu tả còn thểhiện ở những dòng văn miêu tả về ngoại hình của nhân vật Cù Laokhi ở Cù Lao Chàm về Ông miêu tả ngừoi nó đen nhẻm, đội chiếc
mũ nồi có nhiều khoanh xanh đỏ Và theo bọn trẻ kháo nhau: “nó làthằng mọi biển, đít có đuôi và nó biết uống nước bằng lỗ mũi”
Hai nhân vật chính đi suốt Quê nội, Tảng sáng, tham gia vào
tất cả các sự cố, gắn nối các mảng khối hành động - đó là hai cậu bé
có tên Cục và Cù Lao Cả hai dường như có hao hao hình bóng tácgiả Giá trị lớn của bộ truyện mà Võ Quảng đã dồn hết mọi tâm lực,cùng kỷ niệm cả một thời trẻ sống hết mình với quê hương, khaokhát đến với cách mạng, chính là ở sự sống của hai nhân vật này.Trong hình ảnh Cục và Cù Lao có sự hiện diện, sự hoá thân, sự sốngđộng trở lại của tất cả tuổi thơ chúng ta, mỗi người có thể có mộtkhuôn mặt riêng không giống nhau; nhưng ai lại chẳng có ít nhiềucái ngộ nghĩnh ấy, cái tinh nghịch ấy, cái ham say chơi đùa ấy, cáikhôn ranh hoặc vụng dại ấy Ai trong chúng ta lại chẳng có một tuổithơ tuy thiếu nghèo hoặc no đủ về vật chất và tinh thần có khác nhau,nhưng đều có cùng một khao khát muốn làm việc tốt, muốn đượckhẳng định về nhân cách, muốn vươn lên những việc quá sức mình,muốn nhanh chóng thành người lớn, muốn được giao những việc
Trang 39quan trọng Ở Cục và Cù Lao quả Võ Quảng đã phát hiện được mộtcái gì thật nghiêm trang và hệ trọng, và cũng thật là điển hình cho cảmột thế hệ trẻ thơ, trong cái vẻ riêng ngộ nghĩnh, không lặp lại củanó.
Nhà văn Tô Hoài, nhiều năm liền phụ trách mảng văn chương
cho thiếu nhi đã so sánh Quê nội với những tác phẩm hay viết về thời niên thiếu như Chiếc cánh xanh của Lưu Trọng Lư, Phấn thông
vàng của Xuân Diệu rồi kết luận: Quê nội có một vẻ đẹp cao rộng
hơn Chia sẻ về những kỉ niệm khi viết tác phẩm này, nhà văn
Võ Quảng đã nói: “Đầu tiên là mình ghi những tên người, tên đất đãtừng quen, rồi cố nhớ lại, ôn lại, vẽ lên những hình tượng về họ, cốgắng vẽ cho thật rõ từng sợi râu, nếp áo Mình ngẫm nghĩ về nỗi khổcực, những phẩm chất tốt đẹp cũng như những tật xấu mà họ mắcphải " Trang 117, sổ tay sáng tác của ông vẽ một mặt trời vàng,giữa ghi dòng chữ đỏ: Bừng lên một làng Chung quanh mặt trời lànhiều vòng tròn nhỏ ghi tên các nhân vật Ông bảo: "Bừng lên mộtlàng là chủ đề, các nhân vật phải xoay quanh chủ đề đó như các hànhtinh xoay quanh mặt trời" Vì vậy hơn 20 nhân vật ông từng ấp ủ, táihiện đã phải bỏ đi để làm bật chủ đề và hợp với bạn đọc nhỏ
Võ Quảng viết Quê Nội năm 1961, phải mất 15 năm mới hoàn
thành 400 trang sách Ông không thành công một cách dễ dàng Cácnhân vật, các ấn tượng không ùa vào trong sách ông như các tác giảtrẻ có ưu thế về vốn sống trực tiếp, về năng khiếu Rõ ràng ông phảivật lộn với từng chi tiết Xin lấy một thí dụ: Chú Hai Quân vì hamcoi hát bội sao lãng việc làng, nên bị lý trưởng nọc ra đánh Uất ứcchú bỏ làng ra đảo Ở cù lao Chàm đêm đêm chú kể chuyện làng cho
Trang 40con nghe Nghe nhiều đến nỗi, thằng Cù Lao thuộc lòng chuyện làng:
từ chuyện nuôi tằm, dệt thao, nấu đường, đến chuyện bà Kiến khócmướn, ông Bảy Hóa có sẹo sau mông, cây sung có hốc trên ngọn Những chi tiết này không bày ra một lúc mà cứ dần dà theo nhịptruyện, lúc này, lúc khác, đến lúc ấn tượng đã sâu đã đầy; tác giả mớicho biết đó là lòng thương nhớ quê nhà của chú Hai Quân
Nhà văn Đoàn Giỏi từng viết: "Không phải chỉ có tấm lòng
mà bằng kiên trì lao động không mệt mỏi, đã khiến anh thêm giàdặn, có bản lĩnh và trở thành một tài năng Nói như Kinh Thánh:
"sung sướng thay kẻ khát" thì Võ Quảng là một người sung sướng.Bởi anh không lúc nào tự bằng lòng với mình, không tự mãn, lúc nàocũng thấy chưa đủ, cần vươn tới" Những trang Võ Quảng chanchứa một tình yêu quê, và cùng là chan chứa một tình yêu Tổ quốc.Nếu nói có một hàm lượng trữ tình và một chất thơ nồng đậm
ở Võ Quảng thì theo tôi chính là được khơi lên từ đó
Hai nhân vật chính đi suốt Quê nội, Tảng sáng, tham gia vào
tất cả các sự cố, gắn nối các mảng khối hành động - đó là hai cậu bé
có tên Cục và Cù Lao Cả hai dường như có hao hao hình bóng tácgiả Giá trị lớn của bộ truyện mà Võ Quảng đã dồn hết mọi tâm lực,cùng kỷ niệm cả một thời trẻ sống hết mình với quê hương, khaokhát đến với cách mạng, chính là ở sự sống của hai nhân vật này.Trong hình ảnh Cục và Cù Lao có sự hiện diện, sự hoá thân, sự sốngđộng trở lại của tất cả tuổi thơ chúng ta, mỗi người có thể có mộtkhuôn mặt riêng không giống nhau; nhưng ai lại chẳng có ít nhiềucái ngộ nghĩnh ấy, cái tinh nghịch ấy, cái ham say chơi đùa ấy, cáikhôn ranh hoặc vụng dại ấy