1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN học NGƯỜI LÍNH NGHỆ sĩ TRONG THƠ TRẦN THẾ TUYỂN

130 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 798,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên các ý kiến, nhận xét, đánh giá vẫn còn tản mát, chưaphân tích sâu và cấu thành hệ thống một cách khái quát, cũng như mang tính luậnđề.Và trong hai tuyển tập gần đây nhất Dấu ấn

Trang 1

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Chiến tranh đã lùi xa mấy mươi năm, hay nói đúng hơn chiến tranh chỉ còn làquá khứ Nhưng hai từ “chiến tranh” luôn gợi cho ta những hình ảnh về sự hủy diệt,tàn phá, chết chóc, đau thương, máu và nước mắt Đất nước ta ngày càng pháttriển, đổi mới, nhưng những thế hệ đã từng sống trong thời khói lửa, và đặc biệt lànhững người từng trực tiếp cầm súng vẫn luôn mang một nỗi “ám ảnh” của quá khứvọng về trong tiềm thức Và khi ta tha thiết muốn nói về quá khứ nghĩa là có điều gì

đó đang thôi thúc con tim Phải chăng đó chính là khát vọng ngàn đời của dân tộc ta– khát vọng hòa bình

Tố Hữu từng viết: “Văn học thực chất là cuộc đời Văn học sẽ không là gì cả, nếu không vì cuộc đời mà có”, văn học gắn liền với hiện thực của cuộc sống –

“Văn học và đời sống là hai vòng đồng tâm và tâm điểm của nó là con người”

(Nguyễn Minh Châu) Chính lẽ đó, đề tài chiến tranh cũng có thể nói là mảnh đấtmàu mỡ cho giới văn nghệ sĩ đồng hành và “canh tác”, một số lượng lớn tác giả vàtác phẩm viết về chiến tranh rất đồ sộ cả về chất lẫn lượng với giá trị sống mãi cùngthời gian Viết về đề tài chiến tranh và người lính giai đoạn 1945 - 1975, như đã nóitrên luôn có một lực lượng sáng tác hùng hậu, tiêu biểu như các nhà thơ: Tố Hữu,Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Hữu Loan, Lê Anh Xuân,Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Thu Bồn, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Khoa Điềm, HữuThỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, XuânQuỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Mạnh Hảo

Như là viên gạch tiếp nối các thế hệ đàn anh, nhà thơ - nhà báo Trần ThếTuyển – một thanh niên, chiến sĩ được trui rèn và trưởng thành bởi bão lửa củachiến tranh Ông đã trải qua hai cuộc chiến tranh: chống Mỹ và biên giới Tây Nam,điều đó đã để lại trong ông nhiều ký ức, thậm chí nó trở thành nỗi ám ảnh theo ông

cả cuộc đời – “tôi vẫn nợ đồng đội tôi nhiều lắm” [35; 95] Chính món nợ ân tình

Trang 2

đó đã thôi thúc tác giả tiếp tục vác ba lô lên đường, trở lại những “dấu chân” – nơitừng in dấu chân của mình và đồng đội Đó không chỉ là sự trở lại đơn thuần – vềnơi chiến trường xưa, mà còn là sự trở lại trong nhận thức về những giá trị tinh thầnquý báu Sự trở về này, cho tác giả bắt gặp lại những “dấu chân” của đồng đội,

những dấu ấn của một thời – “dấu chân ta gặp lại dấu chân mình” Tất cả đã “đánh

thức” và “đồng hiện” những kỷ niệm ẩn sâu trong quá vãng và trở thành mạchnguồn trong sáng tác của Trần Thế Tuyển:

Tôi nhớ mãi các anh Suốt một đời không nghỉ Suốt cuộc đời chiến sĩ

Áo xanh như trời xanh

(Đồi không tên)

Hay: Tôi tìm dấu tôi giữa cuộc đời

Ký ức nặng đầy năm tháng vơi Còn không, gác cũ em che chở Căn hầm mẹ giấu dưới gầm nôi?

(Dấu tôi)

Trần Thế Tuyển cầm súng trước khi cầm bút viết báo, làm thơ, và gia tài vănchương của ông tính đến nay cũng thật phong phú, đa dạng, với mỗi thể loại (thơ,bút ký ) ông đều có những thành tựu nhất định Nhưng người viết biết đến tác giảtrong một dịp khá tình cờ, không phải qua những bài thơ của ông, mà khi nghe ca sĩ

Trang Nhung hát bài Trò chuyện với dòng sông, do nhạc sĩ Quỳnh Hợp phổ nhạc.

Sự du dương của giai điệu, chất sâu lắng trong ca từ đã khơi gợi cho tôi tìm hiểu vềbài thơ được phổ nhạc này nói riêng, cũng như về thơ của nhà thơ Trần Thế Tuyểnnói chung

Bản thân tôi, khi mới tiếp cận đề tài này, tôi rất bỡ ngỡ Nhưng từ khi đi sâuvào việc tìm hiểu thơ ông, tôi càng cảm nhận được sự chân tình của một người línhluôn hướng trái tim mình về quê hương - đồng đội - mẹ - em bằng bút pháp lãngmạn của người nghệ sĩ, tạo cho tôi một sự cuốn hút muốn tìm tòi, khám phá sự hàm

Trang 3

ẩn trong sâu thẳm từ các bài thơ của ông Đặc biệt, tôi có dịp may mắn được gặp vàtrò chuyện trực tiếp với tác giả về hình tượng người lính trong các tác phẩm củaông Chính nhà thơ đã cho tôi – thế hệ 9X có cái nhìn đúng đắn hơn, chân thực hơn

về hình tượng người lính trong các sáng tác của ông Hơn nữa, tác phẩm của TrầnThế Tuyển thuộc mảng văn học đương đại vốn còn nhiều phức tạp, có nhiều ý kiếntrái chiều và dường như phần lớn mọi người ngại tiếp cận lĩnh vực này Qua đó, tôinhận thấy đây là một đề tài hay có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, có một ý nghĩagiáo dục đối với thế hệ trẻ trong cuộc sống hôm nay Vì những lý do trên, tôi quyếttâm thực hiện khóa luận của mình về thơ Trần Thế Tuyển

Trong thơ Trần Thế Tuyển, ông viết nhiều về người lính với vẻ đẹp hào hùng,hiên ngang, sự hy sinh, mất mát, lòng yêu tổ quốc, yêu quê hương, tình đồng chí,đồng đội, tình mẫu tử thiêng liêng, tình yêu lứa đôi nhưng được thể hiện bằngnhững nét tài hoa, lãng mạn mang tính nghệ sĩ Tóm lại, nội dung cốt lõi trung tâmtrong thơ ông chính là người lính, nhưng cách thể hiện là của một nghệ sĩ Hai yếu

tố này đan xen, hòa quyện vào nhau làm nên phong cách thơ của Trần Thế Tuyển

Vì thế, người viết đã chọn và đặt tên cho khóa luận này: “Người lính - nghệ sĩ trong thơ Trần Thế Tuyển” làm khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Ngữ Văn

Trang 4

cách nhanh nhất Tuy nhiên các ý kiến, nhận xét, đánh giá vẫn còn tản mát, chưaphân tích sâu và cấu thành hệ thống một cách khái quát, cũng như mang tính luậnđề.

Và trong hai tuyển tập gần đây nhất (Dấu ấn và Tiếng vọng), tác giả Trần Thế

Tuyển cũng đã dụng công, sưu tầm và tập hợp những bài viết, những bài cảm nhận,bài giới thiệu trên vào tập sách như là một thư mục tham khảo, để người đọc có cáinhìn sâu sắc hơn về các thi phẩm của ông

Theo thống kê của riêng tôi thì những bài giới thiệu, cảm nghĩ, phỏng vấn

trong tuyển tập Dấu ấn có 21 bài và Tiếng vọng có 19 bài Trong Tiếng vọng có 12 bài viết đã được đề cập trong Dấu ấn và 4 bài cảm nhận, phê bình của tác giả Trần Thế Tuyển đối với các nhà thơ khác Như vậy Tiếng vọng, chỉ có 3 bài viết mới Sau

đây là thư mục các bài viết trong hai tuyển tập trên:

1 Dấu chân của mẹ một tiếng lòng nhân hậu – TRỊNH YÊN.

2 Chân dung người lính (nhân đọc tập truyện Hai mươi năm sau của

Trần Thế Tuyển) – HỒ SƠN ĐÀI.

3 Nhà thơ - nhà báo quân đội Trần Thế Tuyển

“Tôi vẫn nợ đồng đội nhiều lắm” – DIỄM CHI.

4 Một trái tim lang thang và một con người lặng yên suy tưởng

– HOÀNG THIỆU KHANG

5 Ngực đá – ký ức của khoảng đời đầu – NGUYỄN TRƯỜNG.

6 Ngực đá – một nét mới của Trần Thế Tuyển – XUÂN HOÀ.

7 Câu hỏi đời người của Trần Thế Tuyển – HỒ SƠN ĐÀI.

8 “Còn mãi ngôi sao không tắt” – LÊ HOÀNG ANH.

9 Trần Thế Tuyển và câu hỏi đời người… – PHAN TÙNG SƠN.

10 Cái tình trong Quê hương và đồng đội – ĐINH PHONG.

11 Phỏng vấn Phó cục trưởng cục Báo chí, Bộ Văn Hóa – Thông Tin

“Cuộc sống chiến đấu của người lính ở chiến trường thôi thúc tôi phải viết” – VIỆT NGA.

12 Nhà báo Trần Thế Tuyển chất lính và chất thơ – HỒNG VÂN.

13 Giao tình thơ nhạc nên xuân – KHÁNH CHI.

14 Tuổi thơ tôi căng tràn sức sống sáng tạo – VŨ HOÀNG.

15 Quê hương, tình yêu và đồng đội trong thơ Trần Thế Tuyển

– LÊ HOÀI NAM

16 Tìm em giữa cao nguyên – BÍCH LIÊN.

17 Ngàn năm mây trắng núi hồng sự tịnh trong một bài thơ buồn

– NGUYỄN ĐỨC THIỆN.

Trang 5

18 Viết về đồng đội sẽ theo suốt hành trình thơ – HOÀI HƯƠNG.

19 “Con về, còn em con đâu?” điệp khúc của Trần Thế Tuyển

23 Trần Thế Tuyển sau cơn say – VŨ LỤC BÌNH.

24 Trần Thế Tuyển, ngày ấy … bây giờ – TRÌNH QUANG PHÚ.

Qua thư mục trên, tôi có bảng thống kê sau đây:

Khi tập thơ thứ hai là Dấu chân của Mẹ (1992) ra đời thì nhà thơ được công

chúng biết đến nhiều hơn Bởi tính hiện thực từ hơi thở của cuộc sống, thấm đượm

và nồng ấm tình người qua từng trang thơ của ông Nhà báo Trịnh Yên có nhận xét

như sau: “Cuộc sống trang trải trong thơ Trần Thế Tuyển Thơ anh nồng ấm tình người, nhân hậu, thủy chung Tập thơ Dấu chân của Mẹ là một khắc họa khá đẹp

mà tác giả trân trọng tặng cho đời, cho chúng ta ” [35; 92]

Nhà nghiên cứu mỹ học Hoàng Thiệu Khang đã nói về thơ tình Trần ThếTuyển như sau:

Trang 6

Trong thơ tình của Trần Thế Tuyển có một trái tim đang lang thang và một con người ngồi lặng yên suy tưởng Thơ ngay cả thơ tình, cũng là cái chất trữ tình tràn đầy cảm xúc và cái chiều sâu lắng đọng trí tuệ triết học:

Tất cả không gian, thời gian để lại trong tôi Chiều ánh sáng – mảnh xương sườn và mùi dạ lý Như một giấc mơ, chung quanh ta huyền bí

Em và tôi đâu là đất đâu là trời?

(Trời cao - đất dày) [37; 7]

Còn Nguyễn Trường, trên Báo Văn Nghệ Long An có đoạn viết về tập thơ Ngực đá:

Mới đây, Trần Thế Tuyển xuất bản tập thơ Ngực đá gồm 47 bài, như là

số tuổi đời của anh Người mà anh gọi bằng “em” để nhớ thương, để giãi bày tâm ấy là quê hương, là ký ức tuổi thơ Khoảng đời đầu đáng yêu ấy lại là sức mạnh để nhà thơ thả hồn vào đó mà mộng tưởng, mà gởi trao… [35; 101] Cũng nói về tập thơ Ngực đá, nhà thơ Xuân Hòa trên báo Quân khu 7 (tháng 2

– 2003) lại có một nhận định tinh tế:

Có người bảo tình yêu của lính “chai cứng như đá” – không phải như vậy, những người lính của Cụ Hồ với tình yêu quê hương đất nước, bằng sự hy sinh xương máu và cả tuổi thanh xuân, cả cuộc đời của mình dạt dào tình cảm Còn với tình yêu một người con gái cũng thật đẹp, thật tế nhị và cũng mạnh mẽ như những lớp sóng xô bờ, như ngọn lửa bốc cháy rừng rực ( ).

Trang 7

Có thể nói sau hai tập thơ Dấu chân của Mẹ và Ngực đá thì tập thơ Câu hỏi đời người “như là sự cô đọng lại của một chặng đường đi, sự giữ lại những gì

đã thuộc về phía sau lưng Và cái trải nghiệm, trớ trêu thay, lại mâu thuẫn với tâm hồn muốn trẻ mãi Đọc thơ anh, người ta còn thấy điều gì đó tựa hồ như một cảm giác thảng thốt sợ sự trôi đi của thời gian, “áo cứ xanh mà tóc bạc mất rồi” (Thoáng chốc) [35; 107]

Hoặc giả nói về những bài thơ được phổ nhạc của Trần Thế Tuyển, nhạc sĩ VũHoàng có đoạn cảm nhận:

Qua 18 ca khúc phổ thơ, cho thấy nhà thơ Trần Thế Tuyển rất có duyên với âm nhạc Anh đã tạo cảm hứng cho các nhạc sĩ trong và ngoài quân đội viết về “Người lính bộ đội Cụ Hồ và chiến tranh cách mạng” ( )Mỗi bài thơ căng tràn sức sống sáng tạo của anh viết từ những trăn trở sâu nặng, những khát khao bỏng cháy, những ký ức về đồng đội, đồng chí được các nhạc sĩ chắp cánh là cuộc “hôn phối” mặn nồng giữa đại dương mênh mông của thơ

và nhạc” [35; 123]

Trên báo Văn nghệ, số 39 ngày 26 - 9 - 2009, Nhà văn Hoàng Đình Quang đã

có bài nhận định về tập thơ Dấu ấn – mới được xuất bản của Trần Thế Tuyển:

Tuyển viết như không, như tự nhiên phải viết về đồng đội, những bạn bè Bạn bè có người đã hy sinh từ ngày ấy, có người đã khuất sau chiến tranh, và

có người còn đây, thành đạt hay trớ trêu, may hay rủi đều không ra ngoài cái cảm nghĩ, cái đa đoan, cái đau đáu của nhà thơ Có khi cụ thể bằng tên

họ, quê quán, bằng kỷ vật Mà có khi chỉ là những phút cô đơn - thi sĩ” [35;

135]

Hay nói về tâm hồn thi sĩ của Trần Thế Tuyển thì nhà văn viết: “là người lính mấy chục năm, ai chả nghĩ anh khô khan, bộc trực Là một nhà quản lý, lại càng cứng nhắc, đơn điệu Nhưng đọc thơ Tuyển tôi mới nhận ra cái phẩm chất thi sĩ, nó

ẩn náu đây đó trong mỗi câu thơ bắt gặp” [35; 136]

Nhận xét về nhân vật trữ tình trong thơ Trần Thế Tuyển thì Hồ Thi Ca viết:

“Nhân vật trữ tình trong thơ Trần Thế Tuyển có đa dạng hơn nhân vật trong truyện

Trang 8

của anh Nổi bật hơn cả là hình ảnh người mẹ Việt Nam chịu thương chịu khó, nhẫn nhục hy sinh: Để sau lưng, hành quân / Trở về căn nhà nhỏ bé / Và hơi ấm của mẹ / Chúng con như trẻ lên ba… (Căn nhà của mẹ)” [51]

Thạc sỹ Đặng Kim Thanh đã nhận định về bài thơ Lục bát ngàn năm như sau: Những điều khối óc và trái tim muốn nói cùng nhau, nhà thơ đã thể hiện bằng sự tinh tế, đắm say Lịch sử ngàn năm Thăng Long - Hà Nội với những

sự kiện đặc thù, những nét ca dao chân chất, tinh khôi, những nhân vật lịch sử đậm màu huyền thoại đã được lục bát chắp cánh Có lẽ phải yêu Hà Nội và yêu những câu lục bát say đắm vô cùng, nhà thơ mới chọn Lục bát để gởi hồn

thơ Và “Lục bát ngàn năm” đã uyển chuyển hòa quyện Vẻ đẹp của Lục bát cùng chất Sử thi vào nguồn mạch cảm xúc của những câu thơ lục bát say

lòng người [39; 428]

Từ những điều đã diện dẫn ở trên, người viết thiển nghĩ rằng: chủ thể của cácbài viết về Trần Thế Tuyển và tác phẩm của ông đều là những nhà báo, những đồngđội, giới văn nghệ thân quen với tác giả Nội dung, là những bài cảm nhận, bài giớithiệu về các tập thơ của tác giả, hay những cảm nhận về một bài thơ hay trong mộttập thơ, kèm với đó là những bài phỏng vấn về cuộc đời, văn nghệ của Trần ThếTuyển Ta thấy, phần lớn là sự phê bình của báo giới, chưa có một công trình nghiêncứu nào nói về thơ của Trần Thế Tuyển một cách có hệ thống, hoàn chỉnh và chuyênsâu Song, những ý kiến, nhận định trên cũng là những nền tảng giúp người viết tìm

hiểu và khảo sát đề tài Do đó, tôi mạnh dạn thực hiện khóa luận về: “Người lính nghệ sĩ trong thơ Trần Thế Tuyển”

-3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài luận văn là “Hình tượng người lính - nghệ sĩ trong thơ Trần Thế Tuyển” Như vậy đối tượng khảo sát chủ yếu là thơ Trần Thế Tuyển trên nền toàn

bộ những sáng tác của ông Bởi vì tác giả không chỉ được biết đến với tư cách lànhà thơ mà còn là một nhà văn, nhà báo Tất cả chủ đề xuyên suốt trong toàn bộ tácphẩm của ông chủ yếu là người lính, quê hương - đất nước - đồng đội - mẹ - em

Trang 9

Một tác phẩm văn học là một chỉnh thể nhưng toàn bộ các sáng tác của tác giả lại làmột chỉnh thể rộng lớn hơn Đối tượng nghiên cứu chính của tôi là thơ của Trần ThếTuyển, tuy nhiên tôi cũng đặt nó trong toàn bộ sáng tác của tác giả, chính vì thế, tôicũng tìm hiểu một cách khái lược những sáng tác của ông ở thể loại truyện ngắn, ký

và tác phẩm báo chí Thiết nghĩ việc làm đó là một sự cần thiết để làm cơ sở cho sựkhẳng định tính thống nhất trong tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ

Có nhiều con đường để đi đến việc tiếp cận chân lý khoa học và mỗi ngườichọn cho mình một đường đi riêng Với yêu cầu của một khóa luận tốt nghiệp, cũngnhư nhận thấy khả năng còn hạn chế của mình, cho nên chúng tôi chỉ nghiên cứu ởmột phạm vi nhất định – cái khung giới hạn nội dung khảo sát của đề tài là các tậpthơ tiêu biểu nhất của tác giả:

- Dấu chân của mẹ

- Câu hỏi đời người

- Ngực đá

- Tuổi thơ tôi

- Dấu ấn

- Tiếng vọng

Trong tương lai, nếu có điều kiện, chúng tôi sẽ nghiên cứu đề tài này trong

một phạm vi rộng và sâu hơn: Hình tượng người lính - nghệ sĩ trong sáng tác của Trần Thế Tuyển.

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp và thao tácnghiên cứu như sau

4.1 Phương pháp nghiên cứu tác giả bằng cách đi từ quê hương, lịch

sử xã hội, gia đình, bản thân, bạn bè của nhà thơ để chỉ ra những ảnh hưởng đến hồnthơ Trần Thế Tuyển

4.2 Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Trần Thế Tuyển là một

người lính và tác phẩm của ông gắn với lịch sử của dân tộc, do vậy nắm bắt những

Trang 10

yếu về thời đại sống của tác giả và tác phẩm của ông trong một hoàn cảnh lịch sửnhất định là một việc làm cần thiết.

4.3 Phương pháp so sánh: khóa luận sẽ so sánh lịch đại và đồng đại

trong các sáng tác của Trần Thế Tuyển với một số tác giả khác để có được nhữngkết luận khách quan về con người cũng như sự nghiệp văn học, và nét riêng trongtiếng thơ của ông

4.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp: được vận dụng để đi tìm hiểu,

khám phá nội dung và nghệ thuật sáng tác của Trần Thế Tuyển làm nổi bật chủ đề

chính trong luận văn là “Hình tượng người lính - nghệ sĩ trong thơ Trần Thế Tuyển”.

4.5 Phương pháp xếp chồng văn bản: “sử dụng những tác phẩm khác

nhau của cùng một tác giả, hoặc “chồng” các văn bản cùng thể loại của một số tác giả khác nhau được nghiên cứu để tìm những đường nét của huyền thoại tập thể, từ

đó cũng làm phát hiện huyền thoại cá nhân của mỗi tác giả” [29; 7] Cụ thể ở đây,

dùng phương pháp xếp chồng các tập thơ của Trần Thế Tuyển để tìm ra nét chung,

độc đáo trong tiếng thơ của ông là: Sự hòa quyện của phẩm chất người lính và tâm hồn nghệ sĩ

4.6 Thao tác thống kê: nhằm thống kê toàn bộ thơ của tác giả (trong

phạm vi nghiên cứu) từ đó, có cái nhìn bao quát nhất về thể thơ, thể tài, cảm hứng

và nghệ thuật trong thơ của Trần Thế Tuyển

4.7 Thao tác phỏng vấn tác giả: tôi mong muốn trong luận văn của

mình, cái tôi hiểu sẽ phần nào đi đúng mạch cảm xúc và tư tưởng của tác giả

Trang 11

đất nước, và phần nào hiểu được những tình cảm mà tác giả Trần Thế Tuyển gửigắm trong thơ Từ đó, thế hệ trẻ có thể tự hào và tiếp bước cha anh trong việc gìngiữ, bảo vệ độc lập dân tộc, hiểu được giá trị của nền độc lập - tự do, qua đó, thế hệtrẻ có thể yêu hơn quê hương - đất nước mình Các thế hệ trẻ phần nào sẽ có cáinhìn đúng, thiện cảm và trân trọng về những nhà thơ chuyên viết về đề tài bộ đội Cụ

6 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì khóa luận đượctrình bày theo ba chương mục như sau:

- Hình tượng thơ và hình tượng người lính - nghệ sĩ

- Cảm hứng chủ đạo về mẹ - em - tình đồng đội - khát vọng hiến dâng và tìnhyêu quê hương đất nước của người lính trong thơ Trần Thế Tuyển

- Sự hòa quyện của phẩm chất người lính và tâm hồn nghệ sĩ

CHƯƠNG III: NÉT RIÊNG CỦA TIẾNG THƠ TRẦN THẾ TUYỂN

- Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Trần Thế Tuyển

- Dòng ký ức ngát xanh hay tiếng nói trái tim người lính

Trang 12

-Vài nét về nghệ thuật biểu hiện: Hình ảnh thơ; Giọng điệu thơ và tính nhạc

trong thơ; Nét riêng của lục bát; Thời gian và không gian nghệ thuật; Chất nhà báo

trong thơ của Trần Thế Tuyển

- Đóng góp của tác giả

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: TÁC GIẢ - TÁC PHẨM1.1 Thời đại văn học

Nền văn học như một tấm gương tinh thần của cuộc sống, nó có chung vậnmệnh và đồng hành cùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử Sau năm 1975,nền văn học Việt Nam từng bước trưởng thành và chuyển mình thành một nền vănhọc thống nhất, vận động và phát triển trong không khí hòa bình Văn học trở lại với

sự vận động, phát triển bình thường của nó, tức thể hiện tinh thần thời đại thông quanhững biểu hiện phong phú, đa dạng của cuộc sống, đặc biệt chú ý đến cái bìnhthường hằng ngày Tập trung sự chú ý vào hiện tại, trong hoàn cảnh cụ thể của ViệtNam, từ hiện tại văn học có nhu cầu nhìn nhận, đánh giá lại nhiều hiện tượng đãqua, trong chiến tranh cũng như trong xây dựng cuộc sống mới trên miền Bắc từ saunăm 1954 Tinh thần của công cuộc Đổi mới được đề ra từ năm 1986, rồi sự sụp đổcủa một số nước xã hội chủ nghĩa từ năm 1989 cũng tác động cực kỳ mạnh mẽ đếnvăn học Việt Nam giai đoạn này (Theo Nguyễn Văn Hạnh) [44]

Trang 13

Văn học Việt Nam từ 1975 đến nay (2012), có thể chia thành 2 giai đoạnchính: Giai đoạn 1 (1975 - 1985): là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học trongchiến tranh sang văn học của thời kỳ hậu chiến Giai đoạn 2 (từ 1986 đến nay): vănhọc phát triển mạnh mẽ và đổi mới toàn diện

Văn học không chỉ là tiếng nói chung của dân tộc, cộng đồng, thời đại mà còn

là tiếng nói riêng của mỗi cá nhân Bởi vậy sau năm 1975, đặc biệt là từ sau Đại hội

VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam thì đời sống văn học có những bướcchuyển mạnh mẽ bên cạnh sự chuyển mình của đất nước, của xã hội Sự ra đời củanhiều tác phẩm gây xôn xao dư luận, sự nở rộ của nhiều tài năng văn nghệ đã chothấy sự đổi mới thực sự của văn học trên nhiều bình diện Trước hết là sự mở rộng

đề tài phản ánh của văn học Bởi lẽ cả thời kỳ dài 30 năm (1945 – 1975), nền vănhọc chúng ta phục vụ cho nhiệm vụ trọng đại nhất của dân tộc lúc bấy giờ là tuyêntruyền, vận động và cổ vũ cho cuộc kháng chiến vệ quốc Đề tài ưu tiên số một lúcbấy giờ là cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân chống kẻ thù Vì thế,những tiếng nói cá nhân, những tâm tư nguyện vọng cá nhân được bỏ qua, thậm chí

bị “bóp nghẹt” Nhưng trong thời đại văn học mới này, những đề tài lớn, những vấn

đề tầm cỡ phải nhường chỗ cho tiếng nói cá nhân – văn học bắt đầu “trở dạ” (từdùng của Nguyên Ngọc)

Quan niệm về hiện thực không chỉ được hiểu nôm na: chiến tranh dân tộc vàcách mạng nhân dân mà được mở rộng và mang tính toàn diện Hiện thực đời sốnghàng ngày, với các mối quan hệ vốn dĩ đa đoan, đa sự, phức tạp, chằng chịt “đandệt” nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống, rồi đến những vấn đề riêng

tư, số phận nhân cách, khát vọng, hạnh phúc và bi kịch Giọng điệu chủ yếu là cangợi, với sắc thái hào hùng tráng lệ, trữ tình ngọt ngào thắm thiết Tinh thần nhânbản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân là nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo, baotrùm giai đoạn văn học này Cảm hứng chủ đạo là chủ nghĩa yêu nước, khát vọngđộc lập, tự do và lý tưởng xã hội chủ nghĩa Con người văn học hôm nay, được nhìnnhận ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều với mọi mối quan hệ xã hội, con ngườivới lịch sử, con người với gia đình, với gia tộc, con người với phong tục, tập quán,

Trang 14

con người với thiên nhiên, với những người khác và với chính mình Trong các tácphẩm văn học thời kỳ này con người không còn là nhất phiến đơn trị mà luôn đadiện, đa trị, lưỡng phân, có sự thông cảm thấu hiểu và nâng đỡ con người, nhưngđồng thời cũng đòi hỏi con người luôn chú ý thức tỉnh, sự tự ý thức để hướng tới:

Chân - Thiện - Mỹ Chính vì lẽ đó “con người được đưa vào văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát” [20; 16]

Trong đề tài “Văn học Việt Nam sau 1975 – nhìn từ phương diện thể loại”

(PGS - TS Tôn Phương Lan và PGS - TS Vũ Văn Sỹ đồng chủ nhiệm), đã đưa ranhững luận giải và chứng minh: Văn học Việt Nam sau 1975 thực sự đã chuyểnmình sang một giai đoạn văn học đổi mới Cả truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ đều có

sự vận động và phát triển đặc biệt mạnh mẽ trong hệ thống cấu trúc có sự thâm nhậplẫn nhau Những ý thức về nghệ thuật, hệ thống đặc điểm về thi pháp và ngôn ngữsáng tạo, đồng thời đã nhìn nhận sự vận động của các thể loại văn học nêu trên như

là một quá trình tất yếu, là sản phẩm của quá trình dân chủ hoá đang diễn ra trongbối cảnh đời sống văn học nghệ thuật nói riêng và đời sống tinh thần xã hội nóichung, nguyên tắc của sự lựa chọn nghệ thuật sáng tác văn học hiện thực xã hội chủnghĩa… [56]

Như vậy, văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, đã có bước đổi mới tích cực cả

về nội dung, đề tài, quan niệm nghệ thuật, đến phương thức phản ánh và thể loại tácphẩm, mang tính đa dạng và phong phú Tuy nhiên, sự đa dạng đó đi liền với sựphức tạp và không ổn định, nhiều khuynh hướng tìm tòi chỉ rộ lên trong một khoảngthời gian ngắn ngủi rồi lịm tắt, thị hiếu công chúng không đồng nhất và luôn biếnđộng, các thể loại cũng đã thay đổi bất thường Do cơ chế thị trường, nên văn họctất yếu trở thành một sản phẩm hàng hóa, và tác giả thành nhà “sản xuất”, điều này

có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của văn học

Trang 15

1.2 Tác giả 1.2.1 Vài nét về tiểu sử

Tác giả tên thật là Trần Thế Tuyển sinh

năm Nhâm Thìn nhưng hầu hết các hồ sơ lí

lịch của ông ghi sinh tháng 12 năm 1951, quê

quán thuộc xã Hải Phương, huyện Hải Hậu,

tỉnh Nam Định Trần Thế Tuyển sinh trưởng

từ một vùng quê ở ven biển giàu truyền thống

cách mạng và hiếu học, nổi danh với văn

chương, báo chí Ngay từ lúc nhỏ, ông đã say

mê văn chương với những bài thơ về quê

hương, về mẹ, về tình yêu… đó là nền tảng

hun đúc nên con người ông sau này Nhà thơ Trần Thế Tuyển

Ngoài ra ông còn có các bút danh khác là: Trần Nguyên Trang và Trần BảoTrân – tên của hai cô con gái ông Vợ ông quê quán ở Ba Tơ - Quảng Ngãi, cháuruột của một du kích Ba tơ

Ông đã trưởng thành từ phong trào Đoàn Thanh niên tại trường cấp III miềnquê Hải Hậu Năm 1970, ông chưa tròn 18 tuổi nhưng đã viết đơn tình nguyện vào

bộ đội phục vụ chiến trường miền Nam Tác giả kể lại: “Cuối tháng 4 năm 1970, chỉ còn ít ngày nữa thi tốt nghiệp cấp ba, theo câu hát đâu có giặc là ta cứ đi, tôi cùng bạn bè tạm gác bút nghiên lên đường nhập ngũ” [45] Trong kháng chiến

chống Mỹ, tác giả với vai trò là người lính đã trực tiếp cầm súng chiến đấu và bảo

vệ quê hương một cách kiên cường và anh dũng, trong 5 năm (1971 -1975) Nhữngnăm tháng vượt Trường Sơn với bao vất vả khó khăn, rồi những cơn sốt rét rừngrụng tóc, rồi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương Nhưng tất cả đã không ngăn nổi bướcchân của ông tiến vào Sài Gòn trong đoàn quân chiến thắng…

Năm 1973, Trần Thế Tuyển là sĩ quan quân giải phóng, thuộc Trung đoàn 174,

Sư đoàn 5 miền Đông Nam Bộ Sau ngày non sông thống nhất (30- 4 -1975) và

Trang 16

trong chiến tranh biên giới Tây Nam, Trần Thế Tuyển làm phóng viên báo Quân khu 7, rồi báo Quân đội nhân dân thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh Sau đó,

ông tốt nghiệp xuất sắc khoa Văn - Đại học Tổng hợp (nay là Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh) Năm 1989, ông về công tác tại báo Quân độiNhân dân với nhiệm vụ Phó rồi Trưởng cơ quan đại diện báo Quân đội Nhân dânphía Nam, mang quân hàm đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam

Năm 2006, Trần Thế Tuyển làm Phó Cục trưởng Cục Báo Chí phụ trách phíaNam kiêm Bí thư Đảng Ủy cơ sở Bộ Văn hóa - Thông tin; Ủy viên Hội Đồng LýLuận Phê Bình Văn Học Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh

Từ 2008 đến nay, ông giữ chức Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng(SGGP) 1; Phó Bí thư Đảng ủy cơ quan Báo SGGP; Ủy viên Thường vụ, Trưởngban Kiểm tra Hội Nhà báo Thành phố Hồ Chí Minh Ngày 31 tháng 3 năm 2012,Trần Thế Tuyển chính thức thôi giữ chức Tổng Biên tập Báo SGGP và nghỉ hưutheo chế độ

Không chỉ được biết đến trên cương vị lãnh đạo một cơ quan đoàn thể, mà ôngđược biết đến với tư cách là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và nhà nhiếp ảnh Hiện ông

là hội viên của nhiều tổ chức như: Hội Nhà báo Việt Nam, Hội Nhà văn TP.Hồ Chí Minh, Hội Nhiếp ảnh nghệ thuật, CLB nhiếp ảnh chiến sĩ.

1.2.2 Người lính - nghệ sĩ Trần Thế Tuyển

Một người lính với tấm lòng nhân hậu

Con người Trần Thế Tuyển chân chất như chính thơ văn của ông Ấp ủ trongtrái tim bé nhỏ của mình là một tình yêu bao la với quê hương, đồng đội, cha mẹ vàgia đình nhỏ của mình…

Làng quê nghèo ven biển Hải Hậu nơi chôn nhau cắt rốn của tác giả đã tạo nênmột tuổi thơ đẹp trong lòng thi sĩ, để rồi đây, khi xa quê thì nỗi nhớ quê nhà lại nhưkhắc khoải trong ông về bãi biển, dòng sông, cánh đồng, con đê làng… Ký ức về

1 Kể từ đây về sau trong khóa luận này, người viết xin viết tắt Sài Gòn Giải Phóng là SGGP

Trang 17

những năm tháng ở quê hương như những đợt sóng vỗ về trái tim người lính, tạonên một thứ tình cảm kỳ diệu Cho nên những dòng thơ ông như âm vang của

“tiếng sáo diều, đêm hạ” vang vọng trong ký ức tạo thành những dòng xúc cảm đầy

dư âm: “Dẫu chân ta đi đầu non, cuối bể / Vẫn nhớ hoài kỷ niệm đẹp, quê ơi”

(Trăng quê)

Sống ở miền Nam nắng gió, nhưng Trần Thế Tuyển vẫn luôn nhớ về phương

Bắc xa xôi, nơi vùng chân sóng – Hải Hậu, nơi mái “trường xưa ta học”, nơi có căn nhà nhỏ liêu xiêu của mẹ, nơi có “dáng mẹ - cánh cò” trên cánh đồng làng với nỗi

“khắc khoải” chờ mong mẹ về, nơi mà “cái thời mang tên Ớt” mơ về hình dáng của

cô gái mặc áo sĩ lâm, nơi của những “lễ hội sắc màu”, của những làn điệu dân ca

quan họ… để rồi hồn âm hưởng dân ca trữ tình, ngọt ngào lại đi vào thơ ông mộtcách thấm đượm và uyển chuyển

Chính từ lòng yêu quê hương tha thiết trong ông đã nâng lên thành tình yêu

nước, biến một cậu bé nhút nhát trở thành thanh niên với khát vọng hiến dâng, trở

thành người lính cầm súng chiến đấu nơi chiến trường ác nghiệt: “Để cậu bé chăn trâu suốt ngày rầu rĩ / Dám gác bút nghiên, cầm súng lên đường / Để tôi trở thành người của chiến trường / Coi cái chết, nhẹ như bong bóng / Để chúng tôi không phải Thánh Gióng / Mà cưỡi trên ngựa sắt giữ quê hương” (Tuổi thơ tôi).

Đối với tác giả, mẹ là tình yêu lớn – nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ca của

ông Khi được phỏng vấn, Trần Thế Tuyển đã tâm sự rằng:

Với người lính, tôi nghĩ ai cũng dành cho mẹ một vị trí đặc biệt quan trọng trong trái tim của mình Riêng tôi – mẹ bao gồm mẹ sinh thành ra mình và cả những bà

mẹ đã chở che, nuôi dưỡng mình suốt chặng đường đánh giặc, thiêng liêng lắm Vì thế trong hầu hết các sáng tác của tôi, hình ảnh mẹ vẫn đậm nét nhất Đó là nguồn cảm hứng vô tận Mẹ tôi cũng như bao bà mẹ chiến sĩ khác đã tần tảo nuôi con khôn lớn và khi đất nước có chiến tranh thì mẹ sẵn sàng động viên các con ra trận (…) Kết thúc chiến tranh, mẹ tôi hỏi: “Con về, còn em con đâu?” Câu hỏi ấy làm tôi bàng hoàng, tạo nguồn cảm hứng cho tôi viết tập thơ “Câu hỏi đời người” –

Trang 18

“Câu hỏi đời người, mẹ cứ hỏi mãi con / Con về rồi sao không cho em con vềvới…” [39; 408]

Một trái tim luôn hướng về đồng đội: “Tắc kè kêu gợi nhớ rừng sâu / Cả

tiếng hát ai vang lên trước ngõ / Như tiếng cô văn công trên điểm chốt đầu cầu”

(Vẫn tươi nguyên) Chỉ một âm thanh nho nhỏ nhưng xao động cả không gian, đưatác giả trở về núi rừng xưa Ta thấy nỗi nhớ của Trần Thế Tuyển về đồng đội đến

mức ám ảnh: “Thực sự là một ám ảnh Dù nay, không còn được mặc áo lính nữa, nhưng hình ảnh người lính bộ đội cụ Hồ rất gần gũi, thân thuộc đối với tôi Dường như sáng tác nào của tôi, không ít thì nhiều đều có bóng dáng của đồng đội” và

“viết về đồng đội sẽ theo suốt hành trình thơ” của ông [35; 130]

Hơn thế nữa, khi vừa xuất bản hai tuyển tập mới, nhà thơ Trần Thế Tuyển đã

gửi tặng bộ đội Trường Sa - Nhà giàn DK1 150 cuốn sách: Thơ văn Tiếng vọng và tác phẩm báo chí chọn lọc Ký ức xanh – một món quà tâm tình dành cho người lính

biển Trên cương vị Tổng biên tập Báo SGGP, ông đã phối hợp cùng Hội Nhà Văn

Việt Nam tổ chức cuộc thi viết ký văn học “Chân dung người đương thời” và

thành lập quỹ hỗ trợ sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng, lực lượng vũ trang,thu hút khá đông số lượng bài viết tham gia

Nhân kỷ niệm 50 năm đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh, Trần Thế Tuyển đã

dấy lên phong trào bạn đọc cả nước hướng về Nghĩa Tình Trường Sơn Ở giai

đoạn 1 nhiều công trình có ý nghĩa lịch sử xã hội to lớn được thực hiện như: gần

700 căn nhà tình nghĩa, xây dựng nhiều bệnh xá, trao tặng 1.330 suất học bổng; cứutrợ bão lụt và tặng quà tết đồng bào miền Trung, Tây Nguyên; xây dựng cầu nôngthôn, xây dựng 2 đền tưởng niệm liệt sĩ Trường Sơn ở hai trọng điểm là bến PhàLong Đại (Quảng Bình) và Bến Tắt (vượt sông Bến Hải) - Quảng Trị; xây dựnglàng Ho – di tích lịch sử, căn cứ đầu tiên của bộ đội Trường Sơn năm 1959 – trởthành làng văn hóa dân tộc Vân Kiều trên Trường Sơn; trạm xá quân dân y kết hợptại Hương Khê, Hà Tĩnh… (theo số liệu Báo SGGP) [54] Bởi ông tâm niệm rằng:

“Biết bao xương máu đồng đội, đồng bào, đồng chí đổ xuống để có độc lập tự do

Trang 19

và cuộc sống bình yên như ngày hôm nay Món nợ này của những người sống lớn lắm Món nợ tình ấy không bao giờ trả hết” [36; 10] Tuy nhiên sau khi về hưu và

sự của chương trình Nghĩa tình Trường Sơn giai đoạn 1, ông đã nhận lời mời củaBan biên tập làm cố vấn ở giai đoạn 2 Ông lại bắt tay vào những dự án mới vớinhiều hoài bão hơn vì nghĩa tình đồng đội

Trần Thế Tuyển còn là người chồng, người cha yêu thương vợ con tha thiết.

Đối với ông một gia đình đầm ấm, hạnh phúc như bao gia đình khác chỉ là ước mơ,

vì thân thể không khỏe mạnh của một người lính trở về sau hai cuộc chiến: “Anh lính xa nhà sốt rét rừng điên dại / Hai cẳng chân như hai cọc cắm đồng / Đôi mắt giếng khơi nặng trĩu nỗi lòng” (Nói với con) Cho nên, khi “Hai cô con gái từ cuộc đời bố bước ra”, nhà thơ phải thốt lên là: “Thần tiên; huyền thoại”, “Một bảo vật không thể nào nói khác” mà cuộc đời dành tặng cho ông.

Ông yêu thương vợ con tha thiết bởi ông còn nghĩ đến những đồng đội đã

khuất, nghĩ đến những gia đình kém may mắn hơn ông: “Có lẽ tôi là một trong số ít những người lính may mắn trở về, có nghề nghiệp, có cuộc sống ổn định, cũng có những tác phẩm được giải thưởng và in sách Bên cạnh là người vợ đảm đang và hai cô con gái ngoan, học giỏi…” [35; 118]

Trần Thế Tuyển – người lính - Tổng biên tập

Trong 4 năm trên cương vị Tổng biên tập, Trần Thế Tuyển đã đề xuất, thammưu cho Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định 1085 và kết luận 425 về

Đề án xây dựng Báo SGGP đến năm 2015, tầm nhìn 2020 Đó là bước ngoặt lịch

sử, đưa một tờ báo Đảng bộ của thành phố Hồ Chí Minh dần trở thành tờ báo lớncủa cả nước và trong khu vực, hòa nhập vào mạng lưới báo chí quốc tế Hơn nữa,Trần Thế Tuyển – vị thuyền trưởng tài ba đã lèo lái “con tàu” Sài Gòn Giải Phóngvượt qua những khó khăn, từng bước xây dựng và phát triển vững mạnh tờ báo theothế ba chân kiềng: thông tin tuyên truyền - kinh tế báo chí - hoạt động xã hội Tờbáo ngày càng phát triển phong phú, đa dạng, thêm nhiều mục mới gần gũi với cuộc

sống hơn như: SGGP Đầu tư - Tài chính, SGGP Điện tử, Tuần san thứ bảy, Thể

Trang 20

thao, SGGP bản Hoa văn … vă lă tờ bâo Đảng bộ địa phương có số lượng phât

hănh lớn nhất cả nước Bâo SGGP cũng thực hiện nhiều chương trình xê hội như:

Nghĩa tình Trường Sơn, trao quỹ học bổng Nguyễn Văn Hưởng dănh cho sinh viín ngănh y vượt khó, giải thưởng Tôn Đức Thắng trao cho công nhđn tiíu biểu, giải thưởng văn hay chữ tốt; Quả cầu văng dănh cho câc cầu thủ xuất sắc, có đạo

đức tốt trong môn bóng đâ trong một năm…

Trần Thế Tuyển không chỉ cần mẫn trong công việc, đắn đo từng trang bảnthảo, tỉnh tâo đưa ra quyết định cuối cùng trong việc đưa tin băi đến độc giả… mẵng còn đn cần, thđn mật gần gũi với câc nhđn viín trong tòa soạn, xđy dựng đoănthể vững mạnh Có thể nói, trong quêng thời gian ông ngồi trín chiếc ghế Tổng biíntập của Bâo SGGP ông luôn trong tđm thế của một người lính cụ Hồ

Trần Thế Tuyển – người lính - nghệ sĩ

Trần Thế Tuyển với chđn dung một người lính quả thật quâ rõ răng, hơn 33năm ông vẫn mặc âo lính Nhưng nếu gọi ông lă một người nghệ sĩ theo đúng nghĩathì quả thật có gì đó băn khoăn chăng? Bởi bản thđn của tâc giả cũng không dâmnhận danh hiệu “nghệ sĩ” năy Ông cho rằng, mình hoạt động trong lĩnh vực nghệthuật đơn giản lă vì trâi tim thôi thúc, vì ký ức ngât xanh thời quâ khứ, vì bản tínhham đi, ham viết, ham ghi chĩp vă ham chụp ảnh của một phóng viín chiến trường.Bình dị, khiím tốn lă thế, nhưng qua những tâc phẩm của ông, người ta vẫn cảmnhận được tố chất của một người nghệ sĩ ở tâc giả Trần Thế Tuyển

Chính tđm hồn lêng mạn của một kẻ lêng du đê đưa ông gần hơn với tính nghệ

sĩ Những băi thơ, bút ký, tùy bút của ông không đơn giản lă những điều ghi chĩp,những lời tường thuật về chiến tranh, về người lính, về cuộc sống của những conngười sau chiến tranh, về câc nhđn vật anh hùng mă được nđng lín bởi sự lêng mạncủa một tđm hồn “nghệ sĩ”:

Đó lă con đường ngập trăn hoa nắng Tuổi hai mươi em gửi lại

Đó lă mảnh vườn ngập trăn hoa trắng Bông sứ năo vẫn khắc khoải đợi ai?

Trang 21

Đó là nơi đêm đêm anh mê mải viết bài Những câu thơ từ trái tim nóng bỏng Những bài ký dạt dào sức sống Đồng đội mình ở biên giới xa xôi (…)

(Mưa hoa)Trần Thế Tuyển ham đi đây đó, và chụp ảnh, những bức ảnh của ông khôngchỉ đậm chất bình dị của cuộc sống, chụp lại những khoảnh khắc lịch sử mà còn lànhững bức ảnh đầy nghệ thuật 2

Do đó, chất nghệ sĩ của Trần Thế Tuyển rất thầm lặng, không thật sự nổi bật

nhưng nó chính là yếu tố tiên quyết làm nên hình tượng người lính - nghệ sĩ trong

thơ ông mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau Xin mượn lời của nhà báo Phạm

Quốc Toàn để có thể đúc kết về con người của Trần Thế Tuyển:

Quê hương - Mẹ - đồng đội và một gia đình hạnh phúc đã nuôi dưỡng trí tuệ và tôm hồn, tạo cho Trần Thế Tuyển một nền tảng nhân văn, yêu thương - nhưng đúng sai phải trái phân định rõ ràng; một Trần Thế Tuyển bản lĩnh, quyết liệt, quyết đoán khi cần thiết, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm khi ở cương vị quản lý báo chí cũng như khi

là Tổng biên tập một tờ nhật báo có uy tín – sự vững vàng của một thuyền trưởng trên con đường rẽ sóng đại dương Báo chí và văn chương, với hàng trăm tác phẩm – nhiều tác phẩm đoạt giải báo chí và văn thơ trong các cuộc thi cấp quốc gia và thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định một Trần Thế Tuyển – con người của công việc, trách nhiệm

và đam mê, thủy chung và nghĩa tình trọn vẹn [36; 8]

1.3 Tác phẩm

Sau giải phóng, một số tác phẩm của Trần Thế Tuyển đã được đăng rải rác trên

các báo: Quân đội Nhân dân, SGGP, Phụ Nữ Sài Gòn, Văn Nghệ, Tuổi Trẻ… đài

phát thanh và các báo địa phương ở Nam bộ Tính đến nay, tác giả đã cho ra đời 12

2 Xin xem thêm phần phụ lục: Ảnh của Trần Thế Tuyển

Trang 22

tập sách, nhưng do khuôn khổ có hạn, chúng tôi chỉ xin điểm qua và giới thiệu sơlược những tập thơ tiêu biểu của ông – những tập thơ mà chúng tôi dùng làm đốitượng nghiên cứu của mình.

Tập thơ Dấu chân của Mẹ là tập thơ thứ 2 của tác giả, sách do Quân đội

Nhân dân xuất bản năm 1992 Tác phẩm gồm 33 bài thơ, viết khoảng từ năm 1978 đến năm 1991 Trong đó, Dấu chân của Mẹ là bài thơ được tác giả ấp ủ trong thời

gian dài nhất, từ 1982 - 1991 Tập thơ ghi lại những kỷ niệm của tác giả về cuộcchiến tranh đã qua và những cảm xúc yêu thương cuộc sống: về mẹ, về đồng đội, về

tình yêu, về con gái Nhà báo Trịnh Yên có lời nhận xét: “Dấu chân của Mẹ - một

tiếng lòng nhân hậu” [35; 91] Hình ảnh người mẹ hiện lên rất đậm nét qua các bài thơ: Sớm mai con lên đường, Tấm lưng còng của mẹ, Nếu có lúc nào con bất chợt lãng quên, Mẹ tôi và hoa hậu, Dấu chân của Mẹ…

Ngực đá là một tập thơ tình Tập thơ do nhà xuất bản Văn Nghệ phát hành,

gồm 47 bài – vừa vặn với số tuổi đời của nhà thơ Nó nhận được nhiều lời ca ngợi

từ khi được xuất bản (1997) Có người gọi đó là “ký ức của khoảng đời đầu” của tác giả, có người thì nói đó là “một nét mới Trần Thế Tuyển” Ngực đá như là kết quả của một thời “anh đánh giặc làm thơ” Qua Ngực đá, Trần Thế Tuyển thể hiện

tình yêu của người lính với nhiều cung bậc, nhiều âm sắc khác nhau nhưng vẫnmang những giai điệu vui tươi, nồng say của tình yêu trai gái thông thường, chứkhông chai cứng, khô khan như mọi người thường nghĩ về một người lính Nhà báo

Xuân Hòa đã viết: “Cái ngực đá trong anh đâu phải là một trái tim chai đá, mà là một trái tim nối dòng sông ào ào cuộn chảy – yêu thương đến cháy ruột cháy lòng” [35; 103] Và Ngực đá, có lẽ là bài thơ tác giả gửi gắm tâm sự mình nhiều nhất nên nhà thơ mới lấy tên Ngực đá cho cả tập thơ.

“Đời tôi đi mãi chữ tôi tròn vành vạnh / Cảm nhận nỗi đau và suy tưởng bình yên” (Cảm nhận và suy tưởng) Phải chăng cuộc hành quân đã qua, tuổi trẻ đã mất,

tóc đã điểm sợi bạc, Trần Thế Tuyển trở nên suy tư hơn, hay đã “ngộ” ra được điều

gì từ cuộc đời? Chính từ những cảm nhận ấy mà năm 2002, tác giả cho xuất bản tập

Trang 23

thơ Câu hỏi đời người – sự trăn trở của nhà thơ về quá khứ - hiện tại Có lẽ “người

trẻ hay nói về tương lai và người già hay nói về quá khứ” là thế! Và Câu hỏi đời người, dường như đó là một câu hỏi của “cả” đời người Đó là câu hỏi trước nỗi đau

dai dẳng của kiếp người, một sự mất mát do chiến tranh để lại

Câu hỏi đời người gồm 3 phần, giống như 3 tập thơ nhỏ: Dấu tôi, Bức phù

điêu và Trái tim Dấu tôi chính là những bài thơ tác giả viết về những nơi mà tác giả

đã đi qua và để lại trong lòng mình những “dấu ấn” cá nhân về làng xóm, về chiếntrường, trận địa, về đồng chí, đồng đội, về cảnh vật quê hương… để mà bây giờ bộc

bạch thành thơ Còn Bức phù điêu là những bài thơ tình về một quá vãng nào đó

trong ký ức: hình ảnh cô gái quan họ má lúm luyến đồng tiền, với áo tứ thân, vớinón ba tầm, trong làn điệu dân ca ngọt ngào hòa quyện với tiếng sóng vỗ mạnthuyền, hay giọng hò của cô gái An Phú Đông… giờ đây, tất cả đọng lại thành bức

phù điêu – một giá trị, nét đẹp tinh thần trong lòng tác giả Trái tim là những bài thơ

ghi lại những cảm xúc bất chợt nào đó trong tâm thức của nhà thơ khi bắt gặp một

hình ảnh nào đấy Các bài thơ trong Trái tim được làm theo lối tứ tuyệt.

Tuổi thơ tôi là một ấn phẩm đặc biệt mà Trần Thế Tuyển dành tặng bạn đọc,

đó là tuyển tập 18 bài thơ do 15 nhạc sĩ phổ nhạc 18 bài này là sự chắt lọc gần 60bài thơ của Trần Thế Tuyển đã được các nhạc sĩ phổ nhạc Ta bắt gặp các bài hát rất

quen thuộc như: Ấm mãi vùng chân sóng, Trò chuyện với dòng sông, Người ấy bây giờ đang ở đâu?, Tuổi thơ tôi, Câu hỏi đời người, Vẫn tươi nguyên… và cả bài hát thiếu nhi vui tươi Cả nhà là bộ đội.

Mối lương duyên giữa nhạc sĩ và nhà thơ chính là mối duyên nợ giữa thơ và

nhạc Nói như nhạc sĩ Vũ Hoàng: “Mỗi bài thơ căng tràn sức sống sáng tạo của anh viết từ những trăn trở sâu nặng, những khát khao bỏng cháy, những ký ức về đồng đội, đồng chí được các nhạc sĩ chắp cánh là cuộc “hôn phối” mặn nồng giữa đại dương mênh mông của thơ và nhạc” [35; 123]

Năm 2009, Dấu ấn – tập sách thứ 9 của Trần Thế Tuyển ra đời, nó như một sự

sơ kết về một chặng đường thơ của tác giả Tập thơ gồm có 3 phần: phần I: Đất

Trang 24

nước và đồng đội với hình tượng quen thuộc trong thơ anh là người lính - bộ đội Cụ

Hồ Phần II: tác giả nói về Mẹ và em – hiện hình cho quê hương Do đó, có thể nói

tuy có sự tách biệt ở phần I và II nhưng chính là sự tổng hòa về hình tượng đất nước

- quê hương trong thơ Trần Thế Tuyển Phần III: Sự xuất hiện 22 tác giả với các bàiviết, phỏng vấn nhà thơ Trần Thế Tuyển Tỷ lệ trang viết của phần này cũng tươngđương với hai phần trên và làm nên một khối lượng tư liệu đáng quý về thưởng thức

và nghiên cứu văn chương, nghệ thuật của ông Đó là những bài viết khá đa dạng về

nhà thơ, nhà báo, nhà văn Trần Thế Tuyển Có thể nói: “Dấu ấn là tên một bài thơ, tên một tập thơ và mối tình lớn của Trần Thế Tuyển với đất nước, quê hương, đồng đội và văn chương” (Vũ Ân Thy) [48]

Tiếng vọng – tập thơ mới nhất của tác giả (2012) - tập văn thơ hợp tuyển bao

gồm ba phần Phần đầu là: gồm 13 bài văn chọn lọc, phần giữa là 99 bài thơ vàphần còn lại là những bài viết về tác giả - tác phẩm của bạn bè, đồng nghiệp, nhànghiên cứu… về Trần Thế Tuyển và những bài cảm nhận của ông về: “nhà thơ”Hoàng Quang Thuận, nhà thơ Đồng Đức Thành, nhà thơ Gia Dũng… Ta còn thấy ở

Tiếng vọng là sự đọng lại của một tiếng nói đầy chân tình với tấm lòng hồn hậu,

nhân nghĩa của một cây bút trên từng chặng đường bảo vệ và xây dựng quê hương,đất nước Hơn thế, nó còn là sự tổng kết chặng đường văn - thơ của ông

Trong sự nghiệp cầm bút của mình, tác giả Trần Thế Tuyển đã đạt nhiều giảithưởng như sau:

1 Giải thơ Hội Văn nghệ TP Hồ Chí Minh (1980 - 1986)

2 Giải truyện ngắn báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh (1985)

3 Giải ký Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (1986)

4 Giải ký Đài Tiếng nói Việt Nam (1987)

5 Giải Báo chí Hội nhà báo TP Hồ Chí Minh (1985)

6 Giải Báo chí Hội nhà báo TP Hồ Chí Minh (1991)

7 Giải Báo chí Hội nhà báo TP Hồ Chí Minh (1995)

8 Giải Báo chí Quốc gia (2010)

Trang 25

Có thể nói, 12 tập sách xuất bản và một số giải thưởng đã đạt được là một giatài đối với Trần Thế Tuyển, nó có thể nhiều hoặc ít hơn các tác giả khác, nhưng nómang đậm dấu ấn trong nghiệp cầm bút của tác giả Nó là sự kết tinh của nhữngnăm tháng tác giả cầm súng bảo vệ đất nước, từ gian khổ, hiểm nguy của chiếntranh, và về một thời đẹp nhất của mình Tác giả như con tằm, ngày ngày cần mẫnchiêm nghiệm, “gặm nhấm” ký ức của một thời, cái vốn sống của mình để rồi âmthầm rút ruột nhả tơ Những tác phẩm ấy thấm đượm tình người, tình đồng đội, mặn

mà, sâu sắc nhưng lại đơn sơ, mộc mạc Sự chân tình, nghĩa khí hiện lên từng conchữ, từng trang viết của nhà thơ, hòa theo dòng chảy thời gian

CHƯƠNG II

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH – NGHỆ SĨ TRONG THƠ TRẦN THẾ TUYỂN

2.1 Khái niệm hình tượng người lính - nghệ sĩ 2.1.1 Hình tượng thơ

Hình tượng thơ là một bộ phận của hình tượng nghệ thuật và có điểm xuấtphát là hình ảnh thơ 3, đôi khi hình tượng thơ chứa một phần, hay chính là toàn bộ

hình ảnh thơ Hình tượng thơ là: “Bức tranh tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ vần điệu với tư tưởng sáng tạo về cách đánh giá của nhà nghệ sĩ” [5; 44] Và theo Pauxtopxki thì: “Cái mặt trời chói lọi kia của tôi tưởng tượng chỉ có thể cháy sáng khi cọ sát với mặt đất Nó không thể cháy trong khoảng trống rỗng, trong khoảng trống nó tắt, nó được nuôi sống bằng thực tế… và đem lại sự phồn vinh vàng bạc đến cho thơ văn” [30; 73]

Trí tưởng tượng chắp thêm đôi cánh cho thơ bay đến cái đẹp nghệ thuật từ hiện thựccuộc sống Ta có thể kết luận về hình tượng thơ như sau:

Hình tượng thơ chính là mối quan hệ giữa các bộ phận của câu thơ, của đoạn thơ trong cách tổ chức những câu thơ, đoạn thơ để phản ánh đối tượng với những rung động tình cảm và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ theo cách riêng của họ Xem xét mối quan hệ đó, ta phải đặc biệt chú ý đến khả năng

3 Xem thêm mục hình ảnh thơ (mục 3.3.1, chương 3)

Trang 26

phát hiện, khả năng sáng tạo của người làm thơ trong việc tìm tòi những cấu trúc mới trên con đường phản ánh hiện thực, đặc biệt là cần chú ý khả năng tiềm tàng và khả năng hiện thực của ngôn ngữ [5; 114]

Hình tượng người lính trong thơ kháng chiến chống Pháp đó là bước tiếp nốivới hình tượng sĩ phu yêu nước trong quá khứ và là hình tượng mở đầu cho hìnhtượng anh giải phóng quân kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng miêu tả anh Vệ quốc quân như sau:

Những người lính trẻ với gương mặt rất tươi sáng nhiều khi cũng lấm lem buồn đất Họ đi lại với tinh thần xông pha hăng hái, thỉnh thoảng trên gương mặt lại nhoẻn ra một nụ cười Tôi liên tưởng hình ảnh đẹp đó với hình ảnh đất nước Đất nước đang trải qua những cơn thử thách và hình ảnh của đất nước vượt lên từ than bụi lầy bùn và rạng rỡ ánh sáng mới:

Nước Việt Nam từ trong máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa [43]

Lịch sử đã sang trang, hình tượng người lính trong kháng chiến chống Mỹcũng có nét thay đổi Họ là nhân vật trung tâm trong văn học chống Mỹ Nhân vậtngười lính – anh bộ đội Cụ Hồ hiện lên trong văn học giai đoạn chống Mỹ là sựsáng ngời về phẩm chất mới mẻ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Văn học thờichống Mỹ mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn hướng vào vẻ đẹp tâmhồn của người lính:

Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn Tây (Phạm Tiến Duật)

Trang 27

Trần Thế Tuyển là một người lính trong giai đoạn những năm cuối chiến tranhchống Mỹ, cho nên thơ ông cũng mang cảm hứng lãng mạn của thời đại văn họcnày Chính vì lẽ đó, dù ít dù nhiều không khí và cảm hứng thời đại đã ngấm vào con

người có tâm hồn nhạy cảm như ông và làm nên một hình tượng người lính - nghệ

sĩ trong thơ ông Vậy hình tượng người lính - nghệ sĩ là gì?

Trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm “nghệ sĩ”, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (1992) thì “nghệ sĩ là người chuyên hoạt động (sáng tác hoặc biểu diễn) trong một bộ môn nghệ thuật” [42; 671]

Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học thì thuật ngữ “nghệ sĩ” dùng để gọi

những người hoạt động trong lĩnh vực

sáng tạo hay biểu diễn nghệ thuật Nghệ sĩ là cách gọi chung, ngoài

ra, nghệ sĩ hoạt động ở mỗi loại hình nghệ thuật còn có tên gọi riêng như nhà văn hay văn sĩ, nhà thơ hay thi sĩ (văn học), họa sĩ (hội họa), nhạc sĩ, ca

sĩ (âm nhạc)… Tài năng nghệ thuật, phương thức hoạt động đặc thù là điều kiện quan trọng nhất để trở thành nghệ sĩ [14; 37 - 38]

Người có tâm hồn nghệ sĩ là người có trái tim nhạy cảm, tâm hồn lãng mạn

hơn những người bình thường Và chúng ta cần hiểu rằng, hình tượng người lính nghệ sĩ trong thơ Trần Thế Tuyển là hình tượng người lính mang tâm hồn và phẩm

-chất của người nghệ sĩ, chứ không phải là người lính làm nghệ sĩ! Hình tượng trênchính là sự ảnh hưởng từ cảm hứng lãng mạn của người lính trong văn học chống

Mỹ với tâm hồn “nghệ sĩ” của người lính - nhà thơ Trần Thế Tuyển Chính cái chấtnghệ sĩ trong người lính đã giúp họ thêm sự tự tin, sức mạnh để luôn có cái nhìn lạcquan, yêu đời làm vượt qua những khốn khó, ác nghiệt của chiến trường để màvững chặt tay súng, lý tưởng phục vụ cho Tổ quốc

Vậy hình tượng người lính - nghệ sĩ trong thơ Trần Thế Tuyển được thể hiện

như thế nào?

2.2 Hình tượng người lính - nghệ sĩ trong thơ Trần Thế Tuyển 2.2.1 Cảm hứng chủ đạo

Trang 28

Theo Đại từ điển tiếng Việt nếu xét ở góc độ động từ, thì thuật ngữ “cảm hứng” là sự “dâng trào những cảm xúc, thúc đẩy óc tưởng tượng, sáng tạo, hoạt động có hiệu quả” Còn xét ở góc độ danh từ thì “cảm hứng” là “một trạng thái tâm lý: trạng thái cảm hứng” [10; 244]

Còn theo Từ điển thuật ngữ văn học thì:

Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm Bêlinxki coi cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với

tư tưởng thành tình yêu đối với tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”.[Nguồn, trang?]

Thuật ngữ cảm hứng chủ đạo lúc đầu chỉ là yếu tố nhiệt tình say sưa diễn thuyết, sau chỉ trạng thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ Về sau lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm của người nghệ sĩ đối với thế giới mô tả Theo nghĩa này, cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố nội dung, tác phẩm Đây là cái căng thẳng cảm xúc mà nhờ đó nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm .[Nguồn, trang?]

Trong nghiên cứu văn học hiện đại, có người phân loại cảm hứng chủ đạo: bi kịch, chính kịch, anh hùng, cảm thương, lãng mạn, trữ tình, trào lộng, châm biếm Có thể gọi tắt là cảm hứng chủ đạo là “cảm hứng” Ví dụ: cảm hứng anh hùng, cảm hứng trào lộng… nhưng cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm cụ thể là một hiện tượng độc đáo, không lặp lại, gắn với tư tưởng và tình cảm của tác giả [14; 32]

Trang 29

Đọc tác phẩm chúng ta thường tìm hiểu cảm hứng của tác giả, và khi tìm hiểu

về thơ của Trần Thế Tuyển, chúng tôi cũng thử tìm hiểu những cảm hứng chủ đạotrong thơ ông Nhưng để làm được điều đó, chúng tôi sử dụng thao tác thống kê,nhằm bắt được những tần số thường xuất hiện trong các tác phẩm của ông

Sau khi khảo sát 360 bài thơ trong 6 tập thơ, chúng tôi xin thể hiện kết quả quabiểu đồ sau:

Từ những kết quả thu được, người viết xin đi vào các nội dung về những cảmhứng chủ đạo trong thơ của Trần Thế Tuyển

2.2.2 Hình tượng người lính - nghệ sĩ

 Hình tượng “Mẹ” trong lòng người lính

“Mẹ thương con con có hay chăng, thương từ khi thai nghén trong lòng Chín tháng so chín năm kháng chiến gian khó tính khôn cùng à a à ơi ” (Mẹ yêu con

vả, sự thầm lặng chịu đựng, lòng hy sinh nhưng rất đỗi kiên cường Mẹ là niềm vui,niềm an ủi, là linh hồn, nguồn sức mạnh cho những đứa con ra trận Mẹ là nơi hội tụ

Trang 30

những phẩm chất tốt đẹp, biểu tượng cho sức sống và tâm hồn của cả dân tộc Có lẽchính từ tình yêu và lòng kính phục ấy đã khơi dòng cảm xúc trong lòng người línhvới những giai điệu, những vần thơ, những câu chuyện về mẹ đến vô tận và ngạn

ngữ từng nói rằng: “Không có hoa hồng, không có tình yêu / không có Mẹ, không

có anh hùng” Trần Thế Tuyển đã viết về mẹ mình nói riêng và những người mẹ

Việt Nam nói chung bằng những cảm xúc thật của một người con, cũng như củamột người lính

Chiến tranh nổ ra, các chàng trai ra mặt trận Đêm cuối, được ở nhà với mẹ, ai

mà không lưu luyến khi “sớm mai con lên đường” Mẹ “không ngủ”, nằm “thao thức suốt năm canh”, mẹ không nói một lời, chỉ lặng lẽ bằng hành động:

Mẹ buộc lại ba lô cho con

Và đưa cả tấm khăn ngày ấy Tấm khăn cha con đi xa để lại Thời gian bạc trắng màu khăn.

Biên giới mùa này, đêm ngủ phải có chăn Đường hành quân mùa khô hiếm nước

Mẹ gửi con cả chiếc bi - đông ngày trước

Mà ba con thường mang đi hành quân.

(Sớm mai con lên đường)

Mẹ lo lắng cho con bằng sự trằn trọc, thao thức suốt đêm, chăm sóc bằngnhững hành động rất ân cần Mẹ không nói, chỉ âm thầm gói ghém đồ đạc chongười lính trẻ lên đường, trong đó còn là những kỉ vật thiêng liêng mà người chồng

để lại, bà cũng gửi cả cho con, như Tố Hữu từng “hát” rằng: “Lớp cha trước, lớp con sau / Đã thành đồng chí chung câu quân hành” Khi đất nước còn bị quân thù giày xéo, mẹ âm thầm tiễn con ra trận thầm mong “mùa xuân” sẽ trở về với non

sông Từng phút, từng giây, dòng thời gian như cứ dài ra đối với lòng người mẹ, baonhiêu lo lắng, bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu nỗi đau… nhưng không có gì có thểdiễn tả được nỗi lòng của mẹ Nỗi lòng của mẹ thao thức, trải dài cùng với đêm dài

Trang 31

Sự âm thầm chịu đựng, hy sinh của mẹ là thế và tất cả gói vào nỗi nhớ của ngườilính Hình tượng mẹ đã trở thành trung tâm của mọi suy nghĩ, hành động của những

chiến sĩ: “Hành quân đuổi giặc nơi đâu / Trong con dáng mẹ như sao sáng ngời”

(Dấu chân của mẹ)

Với những người lính trong tâm thức của họ, tình cảm thường trực là nỗi nhớ

mẹ da diết Ra trận, hình ảnh mẹ tảo tần, lo toan cuộc sống, chịu nhiều đắng cay,khó nhọc được họ thấu hiểu sâu sắc:

Vẫn là cái bóng nhớ thương Theo con năm tháng trên đường hành quân

Con đi đánh giặc mười năm Làm sao quên được dấu chân mẹ già Dấu chân như thể cánh hoa

In trên đồng đất quê ta bốn mùa Dấu chân như thể con đò Đưa con cập những bến bờ niềm vui

(Dấu chân của mẹ)Tình cảm của người mẹ là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho mỗi chiến sĩ trênđường ra mặt trận Hình ảnh của mẹ như là bóng dáng của dãy Trường Sơn ngútngàn che chở cho đời con Tác giả không trực tiếp nói đến mẹ mà chỉ dùng hình ảnh

tượng trưng – “dấu chân”, sự so sánh, liên tưởng ấy đã phác họa lên một hình ảnh

đẹp về mẹ, nó còn là một sự nhắc nhớ trong lòng người lính – những người đã từngđược mẹ yêu thương, đùm bọc, chở che

Nói đến mẹ, không chỉ là những dấu chân lam lũ trên cánh đồng làng mà còn

Trang 32

Bão táp thời gian đã làm cho tóc mẹ bạc, lưng mẹ còng, da mặt chi chít vếtchân chim, đó là quy luật muôn đời của tạo hóa Nhưng với nhà thơ, hình ảnh ấy là

sự dạt dào của lòng mẹ, sự hy sinh vô bờ bến, là tình yêu tha thiết của mẹ dành chocon

Ta từng quen thuộc với “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của nhà

thơ Nguyễn Khoa Điềm, với hình ảnh nổi bật là hình ảnh người mẹ Tà Ôi – rất mựcthương con nhưng cũng vô cùng yêu nước – biểu tượng về người mẹ Việt Nam anhhùng Dường như nhiệm vụ chính của mẹ là nuôi đứa con yêu quý, mong con maulớn, khỏe mạnh, nên người đi đánh giặc giải phóng quê hương Nhưng hình ảnhngười mẹ trong thơ Trần Thể Tuyển không chỉ thể hiện tình yêu đó qua lời ru mà

mẹ còn trực tiếp tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc Mẹ không chỉ tiễn chồng,con ra trận mà mẹ đào hầm - mẹ tiếp tế - mẹ chở che cho bộ đội:

Cái đêm giặc bủa giặc vây Mái chèo của mẹ lắt lay giữa dòng

Mẹ đưa bộ đội sang sông Mặc cho đạn réo rực hồng trên vai

(Nhớ mẹ An Phú Đông)

Hình ảnh mẹ lái đò chở du kích, bộ đội sang sông, có thể nói là một trongnhững hình ảnh vừa chân thực, vừa đẹp như một huyền thoại về Mẹ Việt Nam anh

hùng Đó là mẹ Suốt, mẹ Tơm trong thơ Tố Hữu trên những dòng sông ở miền

Trung máu lửa, là hình ảnh người mẹ An Phú Đông trong thơ Trần Thế Tuyển dọcngang ở miền Nam anh dũng Mẹ hiên ngang, dũng cảm giữa vòng vây của giặc,giữa làn tên, lửa đạn mái chèo của mẹ vẫn đều đều, mạnh mẽ đưa các con sang sông

an toàn Trong “Gửi bạn làm thơ ở Long An”, tác giả viết: “những bà mẹ tuổi tác già nua / tay chèo vững vàng kì lạ” Sức mạnh của người phụ nữ phải chăng xuất

phát từ lòng yêu con, muốn che chở, bảo vệ con – dù đây không phải là núm ruộtcủa mình sinh ra mà xuất phát từ một điểm chung: con mình cũng là du kích, cũng

là bộ đội Tình yêu của mẹ dành những người làm cách mạng như chính tình yêu

Trang 33

bất tận của mẹ dành cho con Tình yêu như một phép màu làm cho những gì cách xanhất trở nên gần gũi nhất, làm cho những gì không máu mủ trở nên thân thiết, ruộtrà.

Trong thơ Trần Thế Tuyển có rất nhiều mùi hương khác nhau nhưng có lẽ vị

“say say” của hương trầu chính là mùi hương đặc trưng, gợi nhớ về mẹ:

Hương trầu đâu đó thoảng lan Cay cay đuôi mắt con đang dõi tìm Vườn trầu mẹ giấu căn hầm Trái tim con ở mỗi lần giặc vây ( ) Từ trong sâu thẳm xa vời Cái hương trầu với những lời mẹ ru Theo con đi suốt mùa thu Suốt mùa đông để bây giờ sang xuân

(Hương trầu)Một hình tượng tiêu biểu về bà mẹ miền Nam trong kháng chiến mà cụ thểhơn chính là bà mẹ Hóc Môn – mười tám thôn vườn trầu nổi danh trong lịch sử.Hình ảnh căn hầm xưa dưới giàn trầu được tác giả nhắc đi nhắc lại rất nhiều trong

các sáng tác của ông: Dáng mẹ ngày xưa, Sau cơn say, Hương trầu, Nếu có lúc nào con bất chợt lãng quên, Mãi mãi, Dấu tôi, Đi giữa vùng mơ, Mây Nếu vị cay cay,

say nồng của trầu làm cho mẹ “ghiền” thì cũng hương trầu ấy làm cho người línhnhớ đến mẹ và nhắc để nhớ về cái thời mẹ đùm bọc, chở che cho bộ đội

Ngày đất nước thống nhất, non sông thâu về một mối, trên vòng nguyệt quếcủa vinh quang còn có vị đắng cay của những giọt nước mắt, khi các con của mẹkhông về Mẹ gánh trên vai cả “năm tháng chiến tranh dài” và rồi, mẹ đã mất những

người thân yêu trong cuộc chiến giành độc lập, tự do cho dân tộc –“Con mẹ lên đường đi chiến đấu / Không trở về nằm lại với núi non” (Câu hỏi đời người) Gia

tài còn lại của mẹ chỉ là những hoài niệm về hình ảnh những đứa con ra đi khônghẹn ngày về Những người mẹ bình dị, chân chất hiến dâng cả cuộc đời cho chồng

Trang 34

con, cho đất nước, một mình gánh chịu bao đau đớn Sau chiến tranh, các mẹ đã đi

tới tận cùng của hy sinh và chịu đựng, ai có thể trả lời câu hỏi của các mẹ: “Con về, còn em con đâu?”, “Anh về, sao không cho con tôi về với / Bây giờ nó đang ở đâu?” ai? ai có thể trả lời “Câu hỏi bình thường mà như mũi dao / Cứa vào da thịt tôi ngày chiến thắng” (Con về, còn em con đâu?) Đáp án đã có, nhưng câu hỏi

vẫn cứ đau đáu trong lòng không thể thành lời vì người hỏi cũng đã hiểu vì sao conmình mãi không về Câu hỏi ấy không chỉ là của một người mẹ mà của triệu bà MẹViệt Nam, nó không chỉ là câu hỏi trong khoảnh khắc đời người mà nó còn là câuhỏi của “cả một đời người”

Không gì đong đếm được tình yêu của mẹ, không có gì diễn tả được nỗi đaucủa mẹ, sự mất mát, đau thương tột cùng của mẹ chẳng gì có thể bù đắp được và mẹchỉ biết nén đau thương vào tim để mà tiếp tục sống Nhưng có khi nỗi đau đớn quálớn, mất đi tất cả người thân yêu, mất đi tất cả niềm hy vọng, mẹ trở nên điên dại,

như nhà thơ Nguyễn Duy viết: “Mười lăm năm kiệt khô lá héo / Chợ bờ sông mụ hành khất điên cười / Con chết trẻ làm thần liệt sĩ / Mẹ sống già làm ma giữa đời”

(Ám ảnh cát) Trần Thế Tuyển không miêu tả hiện thực đau đớn thời hậu chiến mộtcách trần trụi, táo bạo như Nguyễn Duy, bút pháp của ông nhẹ nhàng, tinh tế hơn,

âm thầm mà đau thấu tận tâm can: “Thoáng gặp ai, khoác ba lô qua vội / Cũng làm tim mẹ nhói đau” (Con về, còn em con đâu?) Cái bóng hình “hao hao” thoáng đi

qua trong mắt mẹ, mà như một lưỡi dao khứa vào tim mẹ

Do đó, tiếng thơ Trần Thế Tuyển còn là lời thỏ thẻ tâm tình, lời tâm sự, lòngcảm kích trước sự hy sinh đối với mẹ của một người lính

Hòa bình về chúng con vẫn nguyên lành Còn mẹ mất đứa con trai duy nhất Con trai mẹ nghỉ yên trong lòng đất Như đời mẹ âm thầm có tính toán gì đâu

(Sau cơn say)

Trang 35

Trong thơ người lính Trần Thế Tuyển còn là nỗi hoài niệm, sự nhớ nhung vềhình ảnh của mẹ người trong kháng chiến và nó luôn canh cánh trên từng câu thơ:

Đêm thao thức bâng khuâng Con nghĩ về màu sương trên tóc mẹ.

(Sớm mai con lên đường)

Trở về nơi ấy khởi đầu Bâng khuâng nhớ mẹ, bên cầu nước trôi.

(Dáng mẹ ngày xưa)

Để tìm lại nỗi niềm khao khát

Từ tấm lưng còng của mẹ, mẹ ơi

(Tấm lưng còng của mẹ)

Đó là những câu kết ở mỗi bài thơ, lời thơ mang âm hưởng du dương của lànđiệu ca dao, và hình dáng mẹ trong quá khứ cứ hiện về trong nỗi nhớ của người lính

- thi sĩ này Hình ảnh về mẹ không chỉ là những vẻ đẹp mà còn là sự tàn phai của

năm tháng – “tấm lưng còng của mẹ” Một nét bình dị, đời thường thế nhưng làm

lòng chiến sĩ khắc khoải nhớ mong Bởi ai đã từng đi qua cuộc chiến, ai đã từng

được mẹ cưu mang, che chở, ai từng được mẹ dành tình yêu dẫu không phải “hòn máu cắt” (ý thơ Chế Lan Viên) thì mới có thể hiểu được dấu ấn của mẹ sâu đậm đến

dường nào trong lòng chiến sĩ Đứng trước mẹ, họ luôn coi mình là một đứa trẻ luôn

Trang 36

muốn sà vào lòng mẹ dù là một anh chiến sĩ hay thậm chí bây giờ là một tướng vẫn

thế: “Khóc trước linh hồn của mẹ / Tướng nơi đâu, giờ anh là đứa trẻ” (Chuyện

nghĩa tình)

Đó còn là niềm khao khát của người lính khi muốn trở về bên mẹ, trở về cănnhà xưa – nơi kỷ niệm tuổi thơ – nơi mà nhà mẹ làm căn cứ cho cuộc kháng chiến,

là căn hầm bảo vệ “chúng con”: “Để lại sau lưng, hành quân / Trở về căn nhà nhỏ

bé / Và hơi ấm của mẹ / Chúng con như trẻ lên ba” (Căn nhà của mẹ) Người lính

hiểu rằng, cả cuộc đời mẹ đã quá vất vả, cả cuộc đời mẹ đã hy sinh quá nhiều chođất nước này và có thể nói, cả dân tộc Việt Nam, chịu sự hàm ơn của mẹ rất lớn Do

đó, chúng ta bắt gặp trong tiếng thơ của Trần Thế Tuyển là tiếng reo vui, niềm hânhoan, hạnh phúc, sự vội vã, lật đật của người lính già về dựng nhà cho mẹ:

Cả cuộc đời hành quân Tóc bạc về dựng nhà cho mẹ Căn nhà đơn sơ, vườn nhỏ bé Nơi chúng con khóc chào đời ( ) Làm nhà cho mẹ

Thỏa khát khao nguồn cơn Cho cả người nằm xuống Xoa dịu vết thương năm tháng Đêm dài mẹ mỏi mắt trông

(Căn nhà của mẹ)Người lính như nắm bắt được tâm tình của mẹ, họ đã trở về dựng lại căn nhà

xưa đã “úa năm tháng”, căn nhà ấy không phải nhà của người lính Trần Thế Tuyển,

hay một người lính cụ thể nào, mà là nhà của tình thương, sự nghĩa tình, đền ơn đápnghĩa mà những người lính dành cho những mẹ liệt sĩ Đó là nguồn khát khao bỏngcháy trong lòng họ, tất cả vì muốn làm dịu đi vết thương lòng của mẹ

Có thể nói, tình Mẹ! – là sự chở che, cưu mang, bao dung, độ lượng…; là sự

hy sinh thầm lặng; là tình cảm ngọt ngào thiêng liêng; là cội rễ của mọi tình cảm ở

Trang 37

đời như: tình yêu quê hương, tình yêu đất nước, tình yêu đồng bào, tình yêu conngười… Và hình ảnh mẹ chính là sự hóa thân của đất nước:

Dáng mẹ như dáng nước non Dấu chân của mẹ sắt son lời thề.

(Dấu chân của mẹ)

Sự so sánh của Trần Thế Tuyển vừa thật độc đáo, giàu sức gợi hình, vừa mangtính triết luận Hình ảnh người mẹ kiên cường trong kháng chiến, hình ảnh của sự

hy sinh thầm lặng của mẹ, sự héo hon chờ chồng, mòn mỏi đợi con trong “ngày trởvề” đã khắc hoạ nên một hòn vọng phu – tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng bất tử

lòng dân tộc “Người Mẹ biểu tượng cho Đất Nước Nhân Dân, còn Người Lính Người Con là tất cả niềm yêu thương, hy vọng, tự hào và đau khổ của Người Mẹ”

-(Thanh Thảo) [49] Người mẹ Việt Nam – người phụ nữ quả cảm, dâng cả đứa conthân yêu – kết tinh của xương trắng, máu đào của chính mình cho quê hương yên ổn

và đất nước thanh bình dẫu biết rằng đó là sự mất mát quá to lớn, bao nhiêu ngườicon thân yêu ra đi, mấy người trở về với mẹ? Bao người vĩnh viễn nằm xuống, máuthịt họ thấm vào đất đai, vào sông núi – Mẹ đã hoá thân vào hồn thiêng đất nước,vào hồn thiêng Tổ quốc

Từ hình ảnh người mẹ riêng của các chiến sĩ đã hòa nhập làm một và trở thànhngười mẹ chung: Mẹ Việt Nam – ôi ba tiếng thiêng liêng! Mọi ý nghĩ, tình cảm củaTrần Thế Tuyền đều xuất phát từ mẹ để rồi từ đó chiếu rọi lên tất cả tâm tình củanhà thơ và trang trải qua từng vần thơ nhịp điệu Mẹ – “vầng thái dương” trong tâmhồn đầy nhạy cảm của nhà thơ, và tâm hồn ấy luôn trăn trở với những nỗi đau củanhững người mẹ: mẹ sinh thành, người mẹ mười tám thôn vườn trầu, mẹ An PhúĐông, hay một người mẹ mà ông vô tình nhìn thấy trong cuộc sống trước nỗi đaucủa thiên tai, của sự mất mát, sự đau đáu về những đứa con và trái tim ông đã runglên thành những vần điệu đầy chân tình Viết về những người mẹ trong cuộc khángchiến tranh giành độc lập và thời hậu chiến, thơ của người lính Trần Thế Tuyển đãdành trọn lời ngợi ca, sự tri ân, cảm thông, sẻ chia thấu hiểu, và đau với từng nỗi

Trang 38

đau của mẹ Và đâu đó vang lên câu hát trong bài “Đất nước” của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, phổ thơ Tạ Hữu Yên về bà mẹ Việt Nam: “Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ Các anh không về, mình mẹ lặng im”.

Trong tùy bút “Dấu chân của mẹ” Trần Thế Tuyển viết:

Sống trên cõi đời này, ai cũng có ít nhất một bà mẹ để yêu thương, kính trọng Ngoài bà mẹ đã mang nặng đẻ đau, dục dưỡng mình thành người, nhiều người trong chúng ta còn có thêm những bà mẹ nữa Ấy là những bà mẹ không trực tiếp sinh thành ra ta, nhưng có công dạy dỗ, nuôi dưỡng, che chở, làm chỗ dựa tinh thần cho ta trong cả quá trình hoàn thiện mình để trở thành một con người chân chính Trong số các bà mẹ ấy, trước hết phải kể đến những bà mẹ chiến sĩ, những bà mẹ Việt Nam anh hùng đã hiến dâng cho đất nước những đứa con ruột thịt và những người thân yêu nhất [46]

Trong thơ Trần Thế Tuyển cảm hứng về em và tình yêu của người lính đượcnhắc đến rất nồng say

 Cảm hứng về “Em” và tình yêu của người lính

Thần thoại Hi Lạp kể rằng, Thượng đế đã lấy vẻ đầy đặn của mặt trăng, đường uốn cong của loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa, nét mềm mại của loài lau cói, màu rực rỡ của nhị hoa, điệu nhẹ nhàng của chiếc lá, cảm giác tinh vi của vòi voi, cái nhìn đăm chiêu của mắt hươu, cái xúm xít của đàn ong, ánh rực rỡ của mặt trời, nỗi xót xa của tầng mây, luồng biến động của cơn gió, tính nhút nhát của con hươu rừng, sắc lộng lẫy của con chim công, hình nhuần nhuyễn của con chim yểng, chất cứng rắn của ngọc kim cương, vị ngon ngọt của đường mật, khí lạnh lẽo của băng tuyết, đức trung trinh của chim uyên ương, đem mọi thứ ấy hỗn hợp lại, nặn thành người phụ nữ Quả thật, phụ nữ như là linh hồn của cuộc sống muôn loài [57]

Phụ nữ chiếm một nửa thế giới, do đó hình tượng hay cảm hứng về “em” làmột trong những đề tài lớn và quen thuộc, có sức hấp dẫn đối với nền văn học củanhân loại, bất kể là nhà văn hay nhà thơ nào, bất kể thời nào, trong không gian nào

Trang 39

thì “em” cũng có thể xuất hiện trên trong cảm hứng sáng tác của họ Và “em” cũngchính là nguồn cảm hứng bất tận của nhà thơ - người lính Trần Thế Tuyển Hìnhtượng em trong thơ tác giả rất đa dạng nhưng cũng đầy sâu lắng thi vị với những nétmang dấu ấn cá nhân của nhà thơ.

Hình tượng em ở đây, chính là hình tượng ám ảnh nhà thơ, nó là hình bóng vềmột thiếu nữ, hay Ngọc nữ, cô Tấm nào đấy trong tâm hồn người thi sĩ này Hìnhảnh về người con gái ấy với đôi má lúng liếng, với vạt áo tứ thân xúm xít, cái khăn

mỏ quạ duyên dáng, với câu quan họ ngọt ngào… hay người con gái mang “màu áo

sĩ lâm” thời cắp sách đến trường, tất cả làm đầu óc chàng thi sĩ cứ vơ vẩn bónghình… để rồi mùi hương cỏ mật, sắc áo, giọng ca trở thành những hình ảnh bấtbiến, một nét đẹp về người con gái trong mộng để nhà thơ rồi tha thẩn đi tìm em –tìm bóng dáng người con gái trong kỷ niệm tuổi thơ:

Ta đi tìm em Trong ca dao cổ tích

Cô Tấm trong câu hát Ngọc nữ chùa Dâu (…) Ta tìm em Một thời cỏ mật Một thời sĩ lâm

(Trong lễ hội sắc màu)

Như cô Tấm bước ra từ quả thị Phảng phất đâu đây mùi dạ hương Như giấc mơ tìm nơi ý nghĩ

Em đến từ đâu những nẻo đường.

(Dấu ấn)Hình tượng về em còn là hình bóng của cô lái đò năm nao mà bây giờ em đã

“sang ngang”: “Chẳng còn đò mà cứ đợi, cứ trông / Anh hóa đá như trong truyền thuyết / Chỉ có dòng sông đêm nay mới biết / Vẫn hồng hào ngực đá một trái tim”

Trang 40

(Ngực đá) Hình ảnh đứng ở bờ sông đợi đò là một hình ảnh quen thuộc trong thơ

ca Nhưng hình ảnh về một chàng thi sĩ – “Một gã gàn, ngớ ngẩn làm thơ / Tặng bến đò và dòng sông ký ức” có lẽ là một hình ảnh lạ Không gian mênh mang của

bến đò, dòng sông đã trải ra trong cõi lòng tác giả về một ký ức xa xôi… mà âmhưởng gọi đò của quá khứ như vang vọng cả bến sông của hôm nay, như đục khoét,xoáy sâu vào tâm hồn tác giả để mà cõi lòng phải “thổn thức” Âm thanh ba chiều

với hình ảnh trái tim “hồng hào” của một người “hóa đá như trong truyền thuyết”,

cho ta thấy trạng thái tĩnh lặng của bến sông, của cõi lòng kẻ đợi con đò xưa, tất cả

sự động đậy chỉ là dòng chảy nhẹ trôi của quá khứ hiện về, của dòng sông ký ức.Câu thơ là sự tĩnh lặng của dòng sông, bến nước nhưng là sự thổn thức của miền ký

ức trong tâm hồn Phút cô đơn thi sĩ với một khoảng lặng về hình ảnh “Người lái

đò suốt cuộc đời cực nhọc” Đó còn là sự thủy chung, giữ trọn lời thề với bến nước, con đò, với người đưa đò… là nỗi khao khát của tuổi thơ – “Dù năm tháng đi qua, không đổi khác / Cứ ngóng đò bến cũ yêu thương” (Ngực đá).

Và hình ảnh nhà thơ nhớ nhung nhiều nhất chính là “đôi mắt” của em Đôi mắt em trong thơ Trần Thế Tuyển là “đôi mắt quá khứ” mông lung, nó dường như

là một hình ảnh có sức ám ảnh mãnh liệt Tác giả ví von đôi mắt – “ngôi sao” (Bài thơ tình số 1) – “mùa xuân” (Đôi mắt mùa xuân) – “đôi mắt của Người” (Chúa và tôi) – “là của anh” (Dẫu rằng) – “đôi mắt dịu dàng trời xanh” (Nói thêm về đôi mắt) – “ngọn lửa nào rực cháy” (Lặng im) – “Đôi mắt em, ngọn lửa bén trong ta” (Thơ say)… Đôi mắt, ánh mắt của “em” để lại ánh nhìn xuyên suốt không gian - thời gian Thời gian qua đi, mọi thứ thay đổi: “Căn hầm xưa, đất giấu rồi / Chỉ còn ánh mắt em cười trao duyên” Vẻ đẹp của đôi mắt như là ngọn lửa, như là mạch than ngầm thúc đẩy sức sống âm ỉ trong tâm hồn lãng mạn của nhà thơ: “Ta đang sống những ngày cháy bỏng / Lửa yêu thương rực mãi trong lòng” (Thơ say); đôi

mắt là nỗi nhớ không bao giờ quên, là ánh mắt không có tuổi, mãi đi theo trong tâm

trí của người lính: “Cái nhìn đốt cháy thời gian” (Tự tình II), chứng tỏ sức mạnh

ghê gớm và sựám ảnh của nó với kẻ đang yêu, với người thi sĩ

Ngày đăng: 09/06/2021, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w