1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO sát và ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG dạy bộ PHẬN văn học THẾ giới TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn THCS

41 470 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát và Định hướng Giảng dạy Bộ Phận Văn học Thế giới trong Chương trình Ngữ Văn THCS
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Khảo sát
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 360 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát định hướng giảng dạy thơ (đặc biệt là thơ Đường), kịch và truyện của nền văn học Thế giới trong chương trình Ngữ Văn cấp THCS có phân tích một số bài tiêu biểu để chứng minh

Trang 1

KHẢO SÁT VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY BỘ PHẬN VĂN HỌC THẾ GiỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCSCHƯƠNG 1: KHẢO SÁT HỆ THỐNG VĂN BẢN THUỘC BỘ PHẬN VĂN HỌC THẾ GIỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS 1.1 Tổng quan về bộ phận văn học thế giới trong chương trình Ngữ văn THCS

Mây và sóng

Tĩnh

dạ tứ + Hồi hương ngẫu thư Mao

ốc vị thu phong

sở phá ca Thời

lượng

1 tiết

1 tiết KỊCH Tác

phẩm

Ông Jourdain mặc lễ phục Thời

Buổi học cuối cùng

Cô bé bán diêm

Cố hương

Bố của Simon Đánh Những Con chó

Trang 2

nhau với cối xay gió

đứa trẻ Buck

Chiếc

lá cuối cùng

Ông lão đánh

cá và

con

cá vàng

Hai cây phong Thời

lượng 2 tiết 2 tiết 2 tiết 2 tiết 2 tiết

2 tiết

2 tiết

2 tiết BÚT KÝ

lượng

2 tiết 2 tiết 2 tiết

1.2 Một số nhận xét chung

1.2.1 Về sự phân bố hệ thống văn bản và mục tiêu giảng dạy

- Hệ thống văn học thế giới phân bố tương đối hợp lý

- Các bài thơ Đường tập trung vào khối lớp 7 sẽ rất nặng nề đối với các em Tuy nhiên dụng ý của các nhà xuất bản là định hướng cho các em chuẩn bị

tư tưởng ngay từ đầu để có thể có hướng tiếp cận tốt hơn

Trang 3

- Những tác phẩm văn học thế giới được lựa chọn đều là những tác phẩm mang tính giáo dục cao, ảnh hưởng tích cực đến nhân cách học sinh.

- Có một điều rất thú vị khi khảo sát các bài thơ Đường được đưa vào

chương trình Ngữ văn 7- THCS hiện hành đó là trong số năm bài thơ được đưa vào chương trình thì có đến bốn bài là thể tuyệt cú- dù đây không phải là thể thơ tiêu biểu của Đường thi Có thể người biên soạn đã quan tâm tới hứng thú tiếp nhận của học sinh phổ thông Chúng thích những bài thơ ngắn mà lại kết tinh những giá trị độc đáo của thơ ca cổ Vẫn khơi gợi được

những rung cảm tinh tế, những khoảnh khắc thăng hoa của hồn người, vẫn thỏa mãn nhu cầu thưởng thức văn chương mà lại phù hợp với nhịp sống khẩn trương của thời hiện đại

1.2.2 Về phần hướng dẫn tìm hiểu văn bản

- Mỗi tác phẩm đều có những cái hay riêng vì thế cần tiếp cận mỗi văn bản theo những cách khác nhau

- Tuy nhiên, việc lựa chọn cách tiếp cận văn bản theo hướng thể loại sẽ giúp các em nắm vững thể loại và tạo tâm thế trong học tập hơn

- Trong thực tế giảng dạy và học tập, cả giáo viên và học sinh đều bị ám ảnhbởi “thơ Đường khó” đúng là có nguyên do của nó: Thơ Đường cách xachúng ta cả về không gian, thời gian và tư duy nghệ thuật Vả lại, tâm lí tuổitrẻ ngày nay rất nôn nóng khó có thể tĩnh tâm để cảm nhận được những rungđộng tế vi của tâm hồn như cảm xúc trước một ánh tà dương, một cánh hoarơi chẳng hạn Chưa kể đến rào cản về văn hóa, về sự trải nghiệm cuộc sống

đủ cho tâm hồn có sự phong phú để cảm nhận sự hàm súc, tinh túy của thơĐường Tuy nhiên không phải không có cách để hiểu bài thơ

CHƯƠNG 2: ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY BỘ PHẬN VĂN HỌC THẾ GIỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS

2.1 Định hướng giảng dạy thơ

2.1.1 Định hướng chung

Khi tiếp cận thơ ta nên tiếp cận theo hướng thể loại để học sinh có thể dễ dàng tiếp cận tác phẩm Trong văn học thế giới THCS đa số đều là các tác phẩm thơ Đường Vì vậy, tổ 4 sẽ đi sâu vào trình bày định hướng thơ Đườngtrong chương trình THCS:

VÀI NÉT VỀ THƠ ĐƯỜNG

Về vị trí

- Thơ Đường là thơ sinh ra trong thời đại nhà Đường (618-917) Thơ Đườnglà đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và của nhân loại Có thể nói trong vănchương nói chung và thơ ca nói riêng thể loại thơ Đường có sức sống mãnhliệt nhất Một trong những lý do làm nên sức sống mãnh liệt đó là sự tinh

Trang 4

diệu trong nghệ thuật Nguyên do khác là tư duy Trung Quốc ở thời đạihoàng kim của xã hội phong kiến (nhà Đường) có sự hội nhập của ba dòng

tư tưởng, ba kiểu tư duy tiêu biểu của phương Đông là Nho, Phật, Lão Sựhội nhập này là một quá trình biện chứng Nó dung hội ưu điểm của ba dòng

tư tưởng: tính thực tiễn và duy lý của Nho gia, tính chất huyền diệu, vô vicủa Đạo gia, tính chất từ bi và siêu thế của Phật giáo; đồng thời nó cũng chếước lẫn nhau, không có một kiểu tư duy nào độc chiếm ưu thế (mặc dù Nhođược ủng hộ bởi triều đình), khiến cho tư duy Trung Quốc thời này đã đạtđược một sự quân bình Nó hướng tới cái cao siêu nhưng không hề viểnvông, nó hợp lý và thực tiễn nhưng không dung tục tầm thường; Nó tìmđược sự dung hoà trong những quan hệ thống nhất, tương giao để đạt đến sựhoà diệu

- Vì thế Thơ Đường với những kết tinh ưu tú về cả hình thức, nội dung, tưduy nghệ thuật đã vượt thời gian để tồn tại và chắc chắn còn tiến xa hơn nữa

về tương lai

Đặc điểm nội dung

Nội dung của thơ Đường rất phong phú khó có thể trình bày đầy đủtrong một bài giới thiệu ngắn Tuy nhiên ta cũng có thể khái quát nội dungđó trên một số phương diện:

- Các sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn tích cực (các sáng tác của LíBạch là tiêu biểu)

- Các sáng tác theo khuynh hướng hiện thực sâu sắc (Đỗ Phủ là người mởđầu)

- Các sáng tác theo khuynh hướng sơn thủy điền viên (Vương Bột, MạnhHạo Nhiên đã đưa thơ sơn thủy TQ lên đến đỉnh cao của tình yêu thiênnhiên, khát vọng hòa hợp với thiên nhiên.)

- Các sáng tác của phái biên tái (Cao Thích, Sầm Tham) phản đối chiếntranh, khát vọng hòa bình

Đặc điểm hình thức

Các nhà thơ Đường sử dụng hai thể thơ chính là cổ thể (gồm cổphong và nhạc phủ) , cận thể (thơ luật và tuyệt cú) Ở nước ta, thơ cận thểđược gọi là thơ Đường và đương nhiên nói đến thơ Đường ai cũng mặcnhiên hiểu là thơ Đường luật Thơ cổ thể không hạn định số câu số chữ,không phải tuân thủ niêm luật, đối ngẫu, cách gieo vần, do đó có khả năngbiểu hiện được nhiều sắc thái tình cảm phong phú , mạnh mẽ cũng như phản

Trang 5

ánh được hiện thực đầy biến động (Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ

Phủ thuộc dạng này) Thơ Đường luật gồm thơ luật (bài thơ 8 câu) và tuyệt

cú (bài thơ 4 câu) trong đó thơ luật là thể tiêu biểu

a- Kết cấu:

Kết cấu của một bài thơ Đường luật gồm nhiều yếu tố quan hệ chặt

chẽ với nhau theo nguyên lí cân bằng âm dương Biểu hiện hình thức của

nó là sự tuân thủ chặt chẽ niêm, luật, vần, đối

* Niêm (dán): Sự gắn kết theo tuyến dọc Mỗi cặp câu chắn- lẻ liền kề

tạo thành một liên thơ, chúng gắn kết với nhau về nghĩa và phải đối lập nhau

về âm thanh Các liên thơ được dán với nhau ở vị trí của tiếng 2, 4, 6 và liênhoàn giữa các câu 2- 3, 4-5, 6-7, 8-1 Nghĩa là các cặp câu này cùng thanhđiệu

* Luật: Sự gắn kết theo tuyến ngang Trong một dòng thơ chữ thứ 4

bao giờ cũng khác thanh điệu với chữ thứ 2 và thứ 6 – “nhị, tứ, lục phânminh” (Nguyên tắc phối thanh này cũng là một biểu hiện của sự cân bằng

âm dương) Trong một bài thơ số lượng thanh bằng và thanh trắc bao giờcũng bằng nhau; cứ cách 3 câu vị trí bằng trắc lại được lặp lại hoàn toàn tạosự luân hồi của bằng- trắc và nhất là yêu cầu câu cuối phải “niêm” dính vớicâu đầu (về phương diện phối thanh câu 8 giống hệt câu 1) khiến bài thơđược dán lại thành một vòng tròn khép kín

* Vần: Được gieo ở tiếng thứ 7 của các dòng 1, 2, 4, 6, 8 và thường

gieo vần bằng

Phù bình (thanh ngang)- cảm xúc vui

Trầm bình (thanh huyền) – cảm xúc buồn

* Đối: Là sự khác biệt giữa các yếu tố trong cùng hệ thống nhưng

đảm bảo nguyên tắc khác hình thể nhưng thống nhất về mục đích ý nghĩa Vìvậy mà chính đối(ý nghĩa của hai câu tương hợp) hay phản đối (ý nghĩa của

2 câu tương phản) thì chúng đều thể hiện đắc lực cho sự tương giao giữangoại cảnh và nội tâm Trong bài luật thi đối bắt buộc ở liên 2 và liên 3

Trang 6

(Đối) 4 - + - VầnLiên III

Cũng vì vậy mà bài tuyệt cú có những đặc điểm riêng dù vẫn tuân thủvần luật của luật thi

b-Ngôn ngữ thơ hàm súc, câu thơ tỉnh lược tối đa.

- Vì số lượng chữ trong một bài thơ Đường rất ít nên việc lựa chọn từngữ thơ rất cẩn thận Nó khái quát, cô đọng, hàm xúc, tinh luyện đến mứcgiản dị (Do vậy khi phân tích thơ Đường đừng vì thấy sự giản dị cuả ngônngữ mà xem thường rồi bỏ qua Sự độc đáo của thơ Đường chính là ở sựgiản dị đến mức gần như trong suốt ấy) Câu trong thơ Đường cũng đượctỉnh lược tối đa, kết cấu lỏng lẻo để gợi trường liên tưởng mạnh mẽ theokiểu ý tại ngôn ngoại

VD: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

(Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời

Khách nằm ngủ trước cảnh buồn của đèn chài và lùm cây phong bênsông)

(PHONG KIỀU DẠ BẠC - Trương Kế)

- Những hình ảnh rời rạc: trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời, cây phong bên sông, ánh lửa thuyền chài nhưng âm vận, thanh điệu, đối một cách tề

chỉnh làm chúng lại ôm lấy nhau và các hình ảnh rời rạc một cách có quyluật tạo một trường liên tưởng Sương phủ đất trời tăm tối, trăng chiếu nhạtnhòa cùng ngọn lửa thuyền chài leo lét, muôn vật đang say giấc triền miên,khách trằn trọc một nỗi niềm Ta cảm giác những chữ như có ma lực gợidẫn đến một thế giới mông lung của cảm thức, tạo một không khí liêu trailành lạnh, một không gian đêm cô liêu, quạnh quẽ với những trạng huốngtang thương

Trang 7

c- Nghệ thuật thể hiện

Các nhà thơ Đường không chạy thẳng vào sự vật hiện tượng mà dựnglên các mối quan hệ Chính các mối quan hệ này tạo các tứ thơ Đường Vìvậy ta có thể nói đặc điểm cơ bản của nghệ thuật thơ Đường là tư duy quanhệ

Biểu hiện của nó là: dùng cái này nói cái kia; lấy động tả tĩnh; dùngcảnh tả tình; lấy ánh sáng nói bóng tối, lấy cái hữu hạn nói cái vô cùng, lấycái vô tình nói cái hữu tình; nói con trẻ cười- để thấy người già khóc (đâycũng có thể coi là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của thơ Đường)

Các hình ảnh trong thơ Đường tuân theo quan niệm của triết học âm dương phương Đông đó là trong âm có dương, trong dương có âm; đồng thời tuân theo quan niệm mĩ học của người Trung Quốc: không vẽ chi tiết

mà chỉ chấm phá- nhưng những chấm phá này là chấm phá có quy luật chặt chẽ, có sự liên hệ phong phú với bên ngoài để tạo nên những gợi ý sâu xa (cái gợi giống như khoảng lưu bạch trong bức tranh thủy mặc)

VD : Vẫn hai câu trên của Trương Kế Nhà thơ chọn lọc, sắp xếp các hìnhảnh một cách có quy luật tạo các mối quan hệ, dùng cái này nói cái kia:

+ Nhìn thấy trăng tà, nghe thấy quạ kêu, cảm thấy sương lạnh lấy quá

trình của cảm giác thể hiện quá trình của thời gian: đúng là nửa đêm.

+ Lấy hình ảnh giang phong (cây phong bên sông)- ngư hỏa (đốm

lửa thuyền chài): một tĩnh- một động; một mờ mờ khối bóng im lìm- một

chập chờn leo lét để gợi cảm giác về cái tối sâu thẳm, nặng nề của bóng

đêm

+ Lấy tiếng quạ kêu (động)- một âm thanh thống thiết để tạo ấn

tượng về sự tĩnh lặng, tang tóc, rờn rợn của không gian đêm vô cùng

+ Lấy cái rất nhiều của cảnh vật đối với một nỗi sầu trong lòng

người

=> tất cả gợi một thế giới mông lung, hỗn độn, tăm tối, tang thương

Nói chung đặc trưng này làm người đọc không thể tiếp nhận thơ Đường một cách thụ động mà phải tham dự vào việc tìm ra các mối quan hệ mới phát hiện được những điều kì thú tác giả gửi gắm

NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ TIẾP CẬN THƠ ĐƯỜNG

Để hiểu một bài thơ Đường có nhiều cách Sau đây tổ 4 xin đưa ranhững căn cứ dựa trên các yếu tố hình thức của bài thơ Tất cả các yếu tốhình thức của thơ Đường đều có khả năng tạo nghĩa: Nhan đề, từ, câu, cấu

Trang 8

trúc, niêm, luật vần, đối Ở đây chỉ hệ thống 4 căn cứ mà tổ 4 cho là cơ bảnvà dễ tiếp nhận nhất với học sinh lớp 7 (Đây là vấn đề không mới )

1 Nhan đề bài thơ: Nhan đề của bất cứ tác phẩm nào cũng quan trọng, nhan

đề của một bài thơ Đường càng quan trọng Nó thường là một gợi ý để xâmnhập vào thế giới nghệ thuật của bài thơ VD: Nhan đề HỒI HƯƠNGNGẪU THƯ- trong bài thơ của Hạ Tri Trương “Ngẫu” cho thấy ôngkhông hề có ý định làm thơ, nhưng rồi lại ngẫu nhiên cất bút Nhưng đằngsau cái ngẫu nhiên ấy là một nguyên cớ tất yếu đó là tình quê trong ông lúcnào cũng căng như sợi dây đàn, chỉ chạm khẽ vào cũng đủ ngân nga, chínhnó đã bật nảy tứ thơ khi gặp tình huống cảm xúc Vì vậy chữ “ngẫu” cànglàm tăng sức nặng của tình quê trong lòng tác giả Nhan đề cho thấy bao tâmtình Hạ Tri Trương gửi hết cả vào việc hồi hương chứ không hề nhắc tới hơn

50 năm vinh hiển nơi kinh thành Xu hướng tiếp cận bài thơ là khám phátrạng huống biểu hiện của tình quê hương

Tuy nhiên không phải bất bài thơ nào nhan đề cũng có ý nghĩa

2 Các mối quan hệ (khai thác nghệ thuật thể hiện): Vì các nhà thơ Đường

ít khi nói hết, nói thẳng ra những cảm xúc, suy nghĩ mà thường tạo dựng cácmối quan hệ để gợi ý Cái này nó phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ thể loạiđó là tinh giản, nói ít gợi nhiều Trong thơ Đường người ta sử dụng nhiềunhất là các mqh đối lập: VD tả chòm mây trôi nhẹ(động) gợi ra một khungtrời yên ả (tĩnh), tả cánh buồm lẻ loi là gợi một không gian vô cùng, nói lũtrẻ cười thế nào cũng gợi người già khóc (Lưu ý: đối cũng là một biểuhiện của tư duy quan hệ) Phát hiện được các mối quan hệ trong bài thơ đồngnghĩa với việc phát hiện được ý tình tác giả mã hóa trong thi phẩm Việc nàygiống như chúng ta giải đố để mở từng mảnh ghép của một bức tranh đang

bị phong kín Muốn khám phá phải dành thời gian suy nghĩ và tưởng tượng,liên tưởng Việc này khó nhưng có cái thú của trò chơi ngôn ngữ trí tuệ, pháthiện được tài hoa vượt lên trên sự gò bó của luật thơ

3 Từ (nhãn tự) : Không phải bài thơ nào cũng có nhãn tự, nhưng nếu có

phải dành sự quan tâm thích đáng Nhiều khi chỉ một từ làm bật lên cả thầnthái của bài thơ

4 Câu: Vì câu trong thơ Đường kết cấu lỏng lẻo nên sức gợi rất lớn

VD: Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương

Trang 9

Câu không có chủ ngữ, không chỉ một đối tượng cụ thể nào nên từcảm xúc rất riêng của Lí Bạch trở thành cảm xúc chung của bất cứ ai tronghoàn cảnh tha hương

5 Phần kết: Nói chung, bài luật thi là một cấu trúc chỉnh thể, một hệ thống

tuần hoàn khép kín, hệ thống đó được cấu trúc một cách có quy luật vớinhững quan hệ nội tại chặt chẽ, đồng thời có mối liên hệ phong phú với thếgiới bên ngoài tạo nên sự gợi ý sâu xa mà ta quen gọi là ý tại ngôn ngoại.Quan hệ nội tại của một bài luật thi được thể hiện ở niêm,luật, vần, đối, tiếtđiệu và bố cục Đó là sự phối hợp có quy luật cua thanh âm(bằng trắc), ngắtnhịp(chẵn lẻ), vần và không vần, đối và không đối Sự vận hành của xuhướng trữ tình là đi từ xa đến gần, từ ngoại cảnh đến nội tâm, và khi trữđược tình rồi thì thì bài thơ kết thúc, đóng lại để mở ra những ý cảnh mớitrong tâm trí người đọc Do vậy bài luật thi bao giờ cũng gieo nặng ý nghĩa ởphần kết, phần kết tập trung chủ đề của bài thơ Vì vậy khi phân tích khámphá, phần kết được coi như hạt nhân quy tụ để gợi liên tưởng của người đọc,đồng thời nó cũng như một tiền đề để hiểu các hình ảnh thơ trước đó Cũng

vì lẽ đó mà có người cho rằng làm một bài thơ Đường luật phải bắt đầu bằngcâu cuối Và người ta quan niệm một kêt hay thường là cái kết bỏ lửng hoặcbất ngờ

VD kết trong bài PHONG KIỀU DẠ BẠC của Trương Kế là một cáikết bất ngờ

Phiên âm

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bài thơ 4 câu Hai câu trước thật hay chỉ 14 chữ mà lột tả hết những gìcảm nhận được nơi xóm bến, cả nỗi “sầu miên” của lữ khách Câu 3 như một

“thoái triều” để câu 4 bất ngờ xuất hiện độc tôn một tiếng chuông

Nửa đêm tiếng chuông văng vẳng vọng đến thuyền khách Tiếngchuông thong thả buông trong đêm tĩnh mịch, tiếng chuông chùa phổ độchúng sinh tìm đến bầu bạn với người lữ khách cô đơn Tiếng chuông phổ

độ này đã đưa toàn bộ thế giới mông lung, tăm tối, hỗn độn trong hai câutrước đó sang “bỉ ngạn” (bờ kia), chỉ còn lại sự nhẹ nhõm giống như một sựđốn ngộ

Trang 10

Tác giả đã lại dùng động tả tĩnh, mượn âm thanh để truyền hình ảnh.Tiếng chuông chùa như một sinh thể sống đến để khai thông bế tắc, hoànchỉnh thế giới nghệ thuật của bài thơ, nâng bài thơ lên một tầm cao Mở ramột trường liên tưởng mới trong lòng người đọc về sự phổ độ của đạo Phậtcho những khổ não và dục vọng của con người.

2.1.2 Định hướng giảng dạy văn bản cụ thể

ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY BÀI “TĨNH DẠ TỨ” (CẢM NGHĨ

TRONG ĐÊM THANH TĨNH” – LÝ BẠCH

Phiên âm:

Sàng tiền minh nguyệt quangNghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hươngDịch nghĩa

Ánh trăng sáng đầu giườngNgỡ là sương trên mặt đấtNgẩng đầu ngắm vầng trăng sángCúi đầu nhớ quê cũ

Dịch thơ

Đầu giường ánh trăng rọiNgỡ mặt đất phủ sươngNgẩng đầu nhìn trăng sángCúi đầu nhớ cố hương(Tương Như dịch, trong Thơ Đường, tập II, NXB Văn học 1987)

1- Nhan đề: TĨNH DẠ TỨ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)

- Tĩnh: im lặng, yên tĩnh, dạ: đêm, tứ: cảm nghĩ, suy nghĩ Nhan đề hé

lộ một không gian tĩnh nhưng tình người thì động

2- Các mối quan hệ:

+ Ánh trăng sáng đầu giường, vào tận phòng  đêm đã sâu

+ Nhận thấy trăng sáng đầu giường  rõ ràng người không ngủ+ Ngỡ ánh sáng là sương  ánh trăng sáng trắng và lạnh

+ Ngỡ  trạng thái của chủ thể trữ tình mơ màng, chập chờn

 Đêm sâu Tĩnh Vắng Người thao thức

Lấy cảm nhận về thị giác diễn tả cảm thức về thời gian, không gian Đêm đã khuya, trăng sáng, khí trời đã trở lạnh Thi nhân trong trạng

Trang 11

thái mơ màng, chập chờn, muốn ngủ mà không ngủ được, tỉnh mà chưa tỉnhhẳn

+ Cái sáng, cái lạnh lay tỉnh khiến nhà thơ:

Cử đầu vọng minh nguyệt

bất giác ngẩng đầu ngắm trăng Trên đường lữ thứ, mọi cảnh vật, con

người đều lạ, chỉ có vầng trăng là luôn quen thuộc, ở quê nhà hay đêm thahương cũng chỉ vầng trăng ấy Gặp trăng như gặp lại người quen, thấy trăng

mà sinh ra nỗi nhớ Đó là tâm tình hết sức tự nhiên Tác giả đã dùng từ vọng

- nhìn bằng tâm tưởng, dõi vầng trăng mà hình dung những điều thân thuộc

Vì tình quê luôn thường trực nên chỉ cần một ánh trăng gợi vô vàn kỉ niệm.Với Lí Bạch, một người tài nhưng lận đận công danh, một tâm hồn phóngkhoáng lãng mạn, một thời hoa niên múa kiếm dưới trăng trên núi Nga Miquê nhà thì vầng trăng càng có một dấu ấn đặc biệt

- Một khoảnh khắc bất ngờ gặp lại vầng trăng, trăng cứ nói đến đãsáng cứ gì trăng tròn, trăng viên mãn mà người xa cách, ánh trăng làm xót xalòng người, không nỡ lòng nào mà ngắm nữa Tình quê trĩu nặng khiến mái

đầu cúi xuống Thế nên câu kết tất phải là: “Cúi đầu nhớ cố hương.”

Nhà thơ đã lấy cái vô tình để nói cái hữu tình, lấy cái vô ý tả ý

Cái ngẩng đầu ở câu trên là một phản ứng tự nhiên, vô tình gần như

vô thức- trăng sáng quá bất giác ngắm trăng (nhà thơ không cố ý) Ngắmtrăng thì dậy lên nỗi nhớ quê đau đáu Trăng làm người xót xa, sầu não, tình

quê day dứt, tái tê làm trĩu nặng mái đầu (còn ngẩng thế nào được) Cái cúi

đầu ở câu cuối là phản ứng dây chuyền tất yếu và cũng là vô thức Sự vậnđộng tâm lí của chủ thể trữ tình thu lại kết đọng trong một hình tượng chân

thực: cúi đầu nhớ cố hương Tình ý trong bài thơ hết sức chân thật, tự

nhiên mà sâu sắc.

+ Nửa sau hai câu thơ đối chỉnh: vọng minh nguyệt/ tư cố hương diễn tả một phản ứng tâm lý dây chuyền bắt buộc hai từ trước đó phải là ngẩng đầu/cúi đầu.

3- Từ ngữ, câu

- Toàn bài chữ nào cũng rõ ràng, dễ hiểu, giản dị đến trong suốt mà ý

tứ vẫn rất sâu đậm, cảm xúc vẫn rất tha thiết Chữ nào cũng đầy hàm ý

- Câu: Kết cấu lỏng lẻo đem lại sự phổ biến, đồng cảm của rất nhiềungười cùng cảnh

4- Nhãn tự

Trang 12

-“Cử đầu-đê đầu” ( ngẩng đầu-cúi đầu): chỉ trong khoảnh khắc đã động mốitình quê Ánh mắt Lý Bạch chuyển từ trong ra ngoài, từ mặt đất lên bầu trời.

Từ chỗ chỉ nhìn thấy ánh trăng đến chỗ thấy được cả vầng trăng xa Và khi

đã thấy vầng trăng-cũng đơn côi, lạnh lẽo như mình- lập tức nhà thơ lại cúiđầu, không phải để nhìn sương, nhìn ánh trăng một lần nữa, mà để nhớ veeffquê hương, nghĩ về quê xa Trước khi ngẩng đầu đã có cúi đầu Có cúi đầumới ngỡ ánh trăng như sương trên mặt đất Cúi đầu- ngẩng đầu-cúi đầu, cáchành động nối tiếp nhau thấm đẫm cảm xúc của chủ thể trữ tình

5- Kết bỏ lửng, gợi vô vàn dư ba.

Chủ đề của bài là “tư hương” nhưng bài thơ dành đến ba câu tả trăng.Tuy tả trăng mà nỗi nhớ cũng đã ẩn bên trong thao thức, chập chờn Đến khinói được điều tâm niệm “tư cố hương” thì bài thơ liền dừng lại Còn nhớ thếnào, nhớ những gì không cần nói nữa Đấy là chỗ dành cho độc giả tự tưởngtượng và chiêm nghiệm vì ai mà chẳng từng nhớ quê

(nhiều người khi phân tích bài thơ đã tách hai câu đầu, hai câu cuối nhưng thiết nghĩ từ việc khám phá trên ta thấy bài thơ là một chuỗi hoạt động tâm lí dây chuyền của chủ thể trữ tình, cảm xúc nhất khí từ đầu đến cuối bài nên không nên tách bạch 2 phần)

ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY BÀI “HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ” – HẠ

Cười hỏi: Khách ở nơi nào đến?

Dịch thơ:

Khi đi trẻ, lúc về già

Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao

Trẻ con nhìn lạ không chàoHỏi rằng khách ở chốn nào lại chơi?

Trang 13

(Phạm Sĩ Vĩ dịch, trong Thơ Đường, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1987)

1- Nhan đề: HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ

“Ngẫu” (như trên đã nói) cho thấy nhà thơ không hề có ý định làm thơ, cũng không nhắc gì đến 50 năm vinh hiển chốn cung đình, đủ biết toàn

bộ tâm tình gửi gắm trong cái đích hồi hương

2- Các mối quan hệ

Đọc bài thơ cảm giác câu chữ rất thường như tự sự, chẳng có gì Nhưng các mối quan hệ đã làm bật lên cái nồng đậm của cảm xúc Biểu hiệnđộc đáo nhất của bài thơ là hàng loạt các tiểu đối (đối trong một dòng thơ)

Câu đầu như lời tự sự:

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi

+ Câu thơ 7 chữ nhắc tới hai mốc trong cuộc đời: thiếu tiểu- lão đại(tuổi trẻ- tuổi già); tạo dựng hai sự đối lập: li – hồi (xa nhà- trở về nhà).Thoạt nhìn thì đơn giản không luyện chữ khắc ý, lời lẽ kể tự nhiên nhưngcấu trúc đó đã có sự sắp xếp nó khái quát cuộc đời của cả một con người.Câu thơ giản dị như vô tâm nhưng hàm chứa cái nhìn chiêm nghiệm cả mộtquãng đường từ thiếu tiểu li gia đến lão đại hồi Con người ấy tuổi trẻ tang

bồng hồ thỉ trả hết nợ công danh, già mới bước chân trở về quê cũ Vui đấy

nhưng cũng ngậm ngùi biết bao.

Câu thứ hai tiếp tục tạo lập một ý đối:

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

Giọng quê và tóc mai

+ Mối quan hệ giữa một cái đổi- một cái không đổi, cái bất biến- cáivạn biến, cái là linh hồn- cái là thể xác , cái có thể kiếm soát- cái không thểkiểm soát toát lên điều cảm động: mặc cho bể dâu thế sự, mặc cho sự nghiệtngã của thời gian làm rụng tóc mai ta vẫn là đứa con của quê hương, baotâm tình thương mến và cả tâm hồn vẫn dành trọn cho quê, minh chứng làhương âm vô cải (giọng quê vẫn thế), tình quê vẫn vẹn nguyên ta nhớ quê

hương nhiều lắm- Quê hương còn nhớ ta chăng? Cái vui mừng nhưng

cũng đầy hồi hộp, bồi hồi.

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

+ Nhi đồng tương kiến- nửa đầu câu thơ báo hiệu sự vui mừng, náo nức Sau hơn 50 năm trở về, người gặp đầu tiên là lũ trẻ, vui lắm vì trẻ thơ trong suốt, hồn nhiên Nhưng bất tương thức- nửa sau câu thơ lại đem đến

Trang 14

sự hụt hẫng Cụ già thì háo hức, mừng vui, vồ vập nhưng lũ trẻ thì không

quen biết Thật mừng vui đấy nhưng tủi lòng biết bao.

Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?

+ Mối quan hệ đối lập: đối lập giữa mong ước của người trở về vớithực tế hiện hữu Người về với bao hồi hộp, vồ vập nhớ thương, bao hìnhdung trông đợi những cảnh tình thân thiết Nhưng va đập đầu tiên của nhà

thơ sau bao háo hức là câu hỏi trong trẻo mà đầy xa lạ của lũ trẻ: Khách tòng hà xứ lai? Một chữ “khách” đã biến người về thành kẻ bơ vơ Sau

tiếng cười, hồn nhiên ấy ta thấy ẩn giấu nỗi buồn thấm thía của cụ già Ta

xa quê lâu quá, giờ trở thành khách lạ trên chính quê hương Lấy tiếng cười

của lũ trẻ diễn tả nỗi đau đắng lòng của người hồi hương.

3- Nhãn tự

“Ngẫu nhiên viết ” vì tác giả vốn không chủ định làm thơ ngay khi mới đặtchân đến quê nhà Thế mà nhà thơ lại viết, mà thơ lại hay, lại xúc động.Chính vì tình huống xảy ra đột ngột thể hiện ở câu cuối bài mà nhà thơ phảiviết, không thể không viết Đó chính là duyên cớ ngẫu nhiên thôi thúc tácgiả viết bài tứ tuyệt này Hoàn cảnh sáng tác bài thơ, quả thật có tính chấtngẫu nhiên, tình cờ, không chủ định trước Nhưng đằng sau cái duyên cớtưởng chừng như vớ vẫn, không đâu ấy là một nhân tố, một điều kiện có tínhtất yếu Đó là tình cảm quê hương sâu nặng, thường trực và bất cứ lúc nàocũng cần và có thể bộc lộ của nhà thơ Tóm lại từ “ngẫu” không nhữngkhông làm giảm ý nghĩa của tác phẩm mà ngược lại còn nâng ý nghĩa đó lênbội lần

4- Câu kết

(Trong vốn văn hóa của người phương Đông, quê hương có một vị trí đặc biệt Đi đâu cũng là lữ thứ tha hương, ở đất khách là người ngụ cư chỉ nơi chôn rau cắt rốn và được nuôi dưỡng trưởng thành mới là quê hương Càng

về già người ta càng khao khát được trở về “lá rụng về cội” Tâm tình của

Hạ Tri Trương cũng không nằm ngoài quy luật ấy)

Suốt cả ba câu mạch thơ đi nhanh lấp đầy tâm trạng buồn vui lẫn lộn,tủi tủi mừng mừng, náo nức hồi hộp của một người mà cái khao khát hồihương ấp ủ suốt một đời người giờ được trở về quê Đến câu cuối nhịp thơsững lại như phanh gấp Cái háo hức bồi hồi tan biến chỉ còn sự buồn tủi đếnnghẹn lời Câu thơ cuối ngừng lại bỏ lửng một khoảng trống đầy ám ảnh nhưkhoảng lưu bạch trong bức tranh thủy mặc gợi nhều suy ngẫm, liên tưởng

Trang 15

+ Cái háo hức bồi hồi, mừng mừng tủi tủi trước đó hay cái đắng lòngngậm ngùi sau này tựu chung lại cũng là biểu hiện của tình quê tha thiết Vì

vậy mà sgk Văn 7 trong mục ghi nhớ viết: Bài thơ biểu hiện một cách chân thực mà sâu sắc , hóm hỉnh mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống xa quê lâu ngày trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ

Nhưng kết nối những điều vừa khám phá ta còn có những liên tưởngkhác

+ Tình quê không đổi, nhưng con người thì khác rồi Nhà thơ bắt đầucảm nhận được quy luật cuộc đời: vạn vật luôn biến dịch trước sự vần xoay của đất trời Quê hương mà ngày đêm ta ấp ủ niềm vui ngày trở về, quê hương mà lúc nào nơi đất khách ta cũng canh cánh nỗi nhớ giờ đây thành xa

lạ Người trở về bỗng lạc lõng ngay trên chính quê mình Ta nghĩ đến sự đồng cảm, đồng điệu của bài thơ này với một bài thơ khác của Chế Lan Viên

Trở lại An Nhơn tuổi lớn rồi

Bạn chơi ngày nhỏ chẳng còn ai

Nền nhà nay dựng cơ quan mới

Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người.

Tại sao lại có cảnh huống chua chát đó? Có lẽ để xảy ra cảnh ngộnày là vì từ lâu lắm rồi, từ cái buổi “li gia” thi nhân đã không một lần trở về

quê hương, ta xa quê lâu quá mà theo lẽ thường thì: Năng mưa thì giếng năng đầy/ Anh năng đi lại me thầy năng thương (ca dao) Phải chăng đây là

lời tạ lỗi của đứa con với người mẹ quê hương?

+ Trong suốt 50 năm đời người, ta đau đáu nỗi nhớ quê, coi kinh kì làđất khách Giờ về quê, quê trở thành xa lạ, ta trở thành khách trên chính quêhương mình Quay đầu lại thì đất khách là quê hay đất cũ là quê?

Quê của Basho là thành Ueno Nhà thơ đã lên Êđô tu Thiền và gắn bó với thành Êđô mười năm trời Trong mười năm ấy, chắc chắn tác giả không thể không nhớ và khao khát được về thăm quê nhưng khi bước chân về, quay đầu lại thì bỗng thấy chính Êđô mới là cố hương của mình Điều ngỡ như nghịch lí ấy lại phản ánh đúng một quy luật trong đời sống tinh thần con

người: Tâm hồn mỗi con người bao giờ cũng có hai đặc điểm - Lãng quên

những gì đang có trong thực tại và tiếc nuối, lưu luyến những gì đã qua.

Cũng như nhà thơ khi ở Êđô thì nhớ quê cũ đến khi về quê cũ rồi thì bỗng thấy chính Êđô mới là cố hương Điều đó sâu xa mà cũng thật giản dị biết bao

Trang 16

Qua tìm hiểu về thơ Đường luật học sinh phải hiểu được nét đặc trưng chính của thơ Đường luật là tả cảnh vật, vịnh cảnh vật để bộc lộ tình cảm, cảm xúccủa con người hay ký thác một tâm sự, một nỗi niềm của con người.

Trên đây là một số suy nghĩ của bản thân tôi được đúc rút từ sự trải nghiệm thực tế của bản thân và của đồng nghiệp trong những năm đã dạy về thơ Đường luật về những vấn đề cần lưu ý để nâng cao hiệu quả trong khi giảngdạy một bài thơ Đường luật dù còn nhiều thiếu sót song cũng phần nào khắc phục được hạn chế trong việc giảng dạy thơ Đường luật hiện nay Tuy nhiên không phải khi dạy bất cứ một bài thơ Đường luật nào chúng ta cũng phải đưa vào khai thác tất cả các nội dung trên như vậy nó hơi cứng nhắc mà trước hết giáo viên cần nắm vững kiến thức để lựa chọn cách khai thác sao cho phù hợp với nội dung bài học để mang lại hiệu quả cao

ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY BÀI “VỌNG LƯ SƠN BỘC BỐ” (XA

NGẮM THÁC NÚI LƯ)

1- Nhan đề

Qua hai từ “vọng” và “dao” ta được biết Lý Bạch đã đứng từ xa, có thể là từchân núi để quan sát và miêu tả thác Hương Lô Vị trí này không cho phépkhắc học cảnh vật một cách chi tiết, cụ thể, tỉ mỉ nhưng lại có lợi thế là dểphát hiện được vẻ đẹp toàn cảnh Để làm nổi bật sắc thái hùng vĩ của thácnước, cách chọn điểm nhìn đó là tối ưu- và cũng chỉ có thể tả ở vị trí ấy, bởiđến sát chân thác hoặc leo lên đỉnh thác đâu phải dễ dàng!

Câu hỏi:

Câu 1 Nhà thơ đứng ở đâu để tả thác núi Lư?

Câu 2 Những từ nào cho ta biết rõ điều đó?

Câu 3 Vị trí này có thuận lời gì trong việc miêu tả?

2- Các mối quan hệ

- Mối quan hệ giữa thật và ảo: Lý Bạch đem tới cho ve đẹp của núi Hương

Lô là tả nó dưới những tia nắng mặt trời, làn hơi nước, phản quang ánh sángmặt trời, chuyển thành màu tím tía vừa rực rỡ vừa kì ảo Sự thật là hơi khói

đã có từ trước và thường xuyên, song dưới ngòi bút của Lý Bạch, với động

từ “sinh” thì ánh sáng mặt trời xuất hiện như chủ thể làm cho mọi vật sinhsôi nảy nở, sống động và huyền ảo gợi lên cuộc đời thật thật ảo ảo

- Mối quan hệ giữa xa-gần, cao-thấp: Ba câu tiếp theo miêu tả cụ thể vẻ đẹpcủa thác nước với những dáng vẻ khác nhau Câu thứ hai tả cảnh thác nước

từ trên đỉnh núi cao tuôn trào, đổ ầm ầm xuống núi thấp, đã biến thành dảilụa trắng rủ xuống yên lặng và bất động được treo giữa khoảng vách núi vàdòng sông Nhìn từ xa, thấy đỉnh núi khói tía mịt mù, chân núi dòng sôngtuôn chảy, khoảng cách giữa là thác nước treo lơ lững cao như dải lụa

Trang 17

3- Nhãn tự

- “Phi” (bay), “trực” (thẳng đứng), câu thơ miêu tả đang từ thế tỉnh lạichuyển sang thế động Tả thác nước trực tiếp nhưng đồng thời lại giúp ngườiđọc hình dung được thế núi cao và sườn núi dốc đứng Nũi thấp, sườn thoảithì không thể “phi lưu, trực há” được

- “Nghi” (ngỡ là) nghĩa là sự thật không phải vậy Làm sao có thể vừa thấycả mặt trời, cả dòng sông Ngân? Vậy mà vẫn cứ tin là có thể

- “Lạc” (rơi xuống) cũng rất hay vì dòng Ngân Hà vốn nằm theo chiềungang vắt qua bầu trời, còn dòng thác lại đổ theo chiều thẳng đứng So sánhvà liên tưởng có phần quá đáng, vô lí, nhưng đặt trong văn cảnh, trong mạchcảm hứng của bài, người đọc vẫn thấy chân thật, tự nhiên Vì sự xuất hiệncủa hình ảnh dải Ngân Hà ở cuối bài đã được chuẩn bị từ hai câu đầu

4- Câu kết

Câu thơ cuối được coi là danh cú (thần cú) vì nó đã kết hợp tài tình cái chânthật và cái huyền ảo, cái hình và cái thần, tả được cảm giác kì diệu do hìnhảnh thác nước gợi lên trong tâm hồn lãng mạn của nhà thơ và để lại biết bao

dư vị đậm đà trong lòng người đọc Qua câu thơ cuối và cả bài thơ, ngườiđọc phần nào cảm nhận được tính cách và tâm hồn của Lý Bạch: đó là tìnhyêu thiên nhiên say đắm, tha thiết, là tính cách phóng khoáng, mạnh mẽ cuảmột tiên thơ lãng mạn bậc nhất trong các nhà thơ Đường

ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY BÀI “MAO ỐC VỊ THU PHONG SỞ PHÁ CA” (BÀI CA NHA TRANH BỊ GIÓ THU PHÁ) – ĐỖ PHỦ

1- Nhan đề

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá”: Năm 760Đỗ Phủ nhờ bạn bè và người thân giúp đỡ mới dựng được một căn nhàtranh tre bên cạnh khe Cán Hoa, phía tây Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên.Nhưng ở chưa được bao lâu thì căn nhà đã bị gió, mưa thu phá nát ĐỗPhủ buồn rầu, xúc cảm viết thành bài thơ

Câu hỏi:

Câu 1 Tác giả sáng tác bài thơ này trong hoàn cảnh nào?

Câu 2 Hoàn cảnh đó có gì đặc biệt?

2- Các mối quan hệ

- Mối quan hệ giữa cơn gió cuồn nộ và cụ già yếu ớt: Nhà thơ vữa kể,vừa tả; kể-tả kết hợp Qua cách kể, tả, ta có thể hình dung trận gió thuthổi rất mạnh, trong phút chốc cuốn, bốc bay tung cả ba lớp mái tranhngôi nhà mới dựng của nhà thơ nghèo Cảnh tranh bay tung tóe, mảnhcao, mảnh thấp, mảnh xa, mảnh gần, rải khắp bờ, treo tót ngọn rừng,quay lộn vào mương không chỉ chứng tỏ sức gió thật dữ dội mà như

Trang 18

thấy được sự bất ngờ, tiếc nuối của ông già Đỗ Phủ trước thiên nhiên

vô tình Đã bao năm tháng bôn ba xuôi ngược, chạy loạn, mưu sinh,mãi đến gần đó, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và người thân, Đỗ Phủmới dựng được ngôi nhà tranh nho nhỏ ở phia tây Thành Đô Vậy mà,giờ đây, ông trời tai ác nào có buông tha người nghệ sĩ áo vải

- Mối quan hệ giữa cụ già bất lực với bon tre cướp tranh: Thật là trớtrêu, cười ra nước mắt! Trong khổ thơ thứ hai, tác giả kể chuyện lũ trẻxóm nam nghịch ngợm, thừa gió bẻ măng, xô vào cướp giật, mangtranh đi mất Nhà thơ già, yếu, chân chậm, mắt kém làm sao đuổiđược, gào thét đòi mãi đến môi khô, miệng cháy cũng chẳng xong,đành lọc cọc chống gậy trở về ngôi nhà tuềnh hoang mà lòng đau xót,ấm ức khôn nguôi Đó cũng là thực tế thời đại Trung Hoa lúc bấy giờ,giặc loạn, nạn đói, trẻ em thất học lan tràn…

- Mối quan hệ giữa lều nát và nhà rộng muôn ngàn gian: Nếu ở hai khổthơ trên, chỉ mới có gió nổi lên, nhà tranh tốc mái, trẻ con cướp tranhlàm tác giả ấm ức thì bây giờ, đến đêm, mưa thu dầm dề, dai dẳng kéodài suốt đêm, lạnh càng thêm lạnh Ông trằn trọc suốt đêm trong mệt,đói, lo lắng, buồn rầu, thương con, thương mình,… Cái khổ về vậtchất và tinh thần của Đỗ Phủ cũng là cái khổ chung của nhân dân laođộng, của các nhà nho, trí thức Trung Quốc đời trung Đường vì chiếntranh, giặc loạn liên miên

 Mối quan hệ đối lập giữa hiện thực và mộng ảo

3- Đoạn kết

Đoạn thơ cuối cùng đã gây bất ngờ cho người đọc Vì nếu theo mạch cảmxúc từ đầu đến cuối, bài thơ phải kết thúc bằng một tiếng thở dài buông xuôihoặc oán vọng đất trời,… nhưng ở đây lại là một ước mơ: mơ ước thật đẹp,thật cao cả, thật vị tha Nhà mình thì dột nát, khi nghĩ tới tương lai, lại khôngnghĩ cho bản thân mình mà nghĩ có một ngôi nhà chung to cao, rộng rãi,vững chắc dành cho muôn nghìn dân đen vẫn còn đang rét mướt, riêng ôngchịu rét cóng cũng được Quả là tấm lòng của một bậc thánh nhân!

ĐỊNH HƯỚNG GIẢNG DẠY BÀI “MÂY VÀ SÓNG” - TAGO

1 Nêu xuất xứ của bài thơ?

2 Bài thơ được viết bằng thể thơ nào?

3 Bài thơ là lời của ai nói với ai?(Lời của con nói với mẹ)

4 Lời nói của em bé có điều gì đặc biệt?

5 Những người sống trên mây, sóng đã nói gì với em bé?

6 Tác giả đã sử dụng BPNT nào trong đoạn thơ?

7 Thế giới mà họ vẽ ra trước mắt em bé là 1 thế giới như thế nào?

Trang 19

8 Trắc nghiệm : Hình ảnh “Mây và sóng” biểu tượng cho điều gì?

a Vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên

b Những tặng vật đẹp đẽ của trời đất

c Những gì không có thực trên đời

d Những thú vui lôi cuốn, hấp dẫn của cuộc sống thực tại

9 Em bé đã từ chối lời mời gọi của họ như thế nào?

10.Lý do nào khiến em từ chối?

11.Em đã tưởng tượng ra những trò chơi khác ntn? Những trò chơi ấy đã được miêu tả ra sao?

12.Em có nhận xét gì về những hình ảnh trong trò chơi của em bé?

13.Trắc nghiệm : Nhận xét nào đúng về hình ảnh thiên nhiên trong đoạn

thơ?

a Lung linh, kỳ ảo mà chân thực, sinh động

b Được thể hiện qua các phép so sánh, ẩn dụ độc dáo

c Mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc

d Cả 3 nội dung trên

14.Qua đó, em có cảm nhận gì về những trò chơi do em bé tự nghĩ ra?

15.Trắc nghiệm : Cách hiểu nào đúng nhất về câu thơ “Và không có ai

trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào?

a Tình mẫu tử có ở khắp nơi chứ không chỉ riêng ở một nơi nào

b Có một không gian riêng của tình mẫu tử mà không ai ngoài mẹcon ta biết được

c Thế giới của tình mẫu tử là một thế giới huyền bí mà không ai nhận biết hết được

d Tình mẫu tử là một tình cảm thiêng liêng, vĩnh hằng, bất diệt, aicũng biết nhưng chẳng thể nào biết hết được

16.Bài thơ được thể hiện bằng hình thức ngôn ngữ nào?

17.Em cảm nhận gì về nội dung bài thơ?

2.2 Định hướng giảng dạy kịch

Trang 20

Song nói đến kịch là phải đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viênbằng hành động, cử chỉ, điệu bộ, lời nói ( Riêng kịch câm thì không diễntả bằng lời).

Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẫn lịch sử, xã hộihoặc những xung đột muôn thưở mang tính nhân loại ( như giữa thiện và

ác, cao cả và thấp hèn, ước mơ và hiện thực ) Những xung đột ấy đượcthể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành động của cácnhân vật và theo những quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch Trong kịchthường chứa đựng nhiều kịch tính, tức là những sự căng thẳng do tìnhhuống tạo ra đối với nhân vật

Phần lớn kịch đươc xây dựng trên hành đồng bên ngoài với nhữngdiễn biến của chúng và theo những nguyên tắc có sự đấu tranh chống lạicủa các nhân vật Tuy nhiên, cũng có hành động bên trong, qua đó nhânvật chủ yếu là suy ngẫm và chịu đựng một tình huống xung đột bên tronghết sức căng thẳng

Trong kịch, những lời phát biều của các nhân vật ( Trong đối thoạihoặc độc thoại) nói lên hành động, ý chí và sự tự khám phá tích cực của

họ có một ý nghĩa quyết định Còn những lời trần thuật ( Câu chuyện kểcủa nhân vật về những điều đã qua, sự thông báo của người dẫn truyện,những lời chỉ dẫn của tác giả trong kịch bản) chỉ đóng vai thứ yếu vànhiều khi không cần đến

* Về mặt kết cấu:

Vở kịch thường chia thành nhiều hồi, cảnh, nhằm tạo ra sự trùngkhớp giữa thời gian, địa điểm và hành động kịch đồng thời làm cho cáiđược trình diễn mang màu sắc xác thực của đời sống Qua các thế kỷ khácnhau, mối quan hệ giữa ba yếu tố: Thời gian, địa điểm, hành động trongkết cấu của kịch không ngừng thay đổi tuỳ theo quan niệm của người sángtạo và quy mô, tầm vóc của những sự kiện biến cố được phản ánh

Trên cấp độ loại hình, kịch bao gồm nhiều thể loại: Bi kịch, hàikịch, chính kịch, cùng nhiều tiểu loại và biến thể khác nhau

* Ở cấp độ thể loại:

Là một khái niệm kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học-sânkhấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này, kịchcũng gọi là chính kịch (hoặc kịch dram) Cũng giống như hài kịch, kịchtái hiện cuộc sống riêng của con người bình thường nhưng mục đíchchính không phải là cười nhạo, chế diễu các thói hư tật xấu mà là mô tả cánhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tính đối với xã hội Và cũng

Ngày đăng: 26/06/2014, 19:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w