1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN HỌC CÁC TRƯỜNG PHÁI NGHIÊN CỨU TRUYỆN CỔ TÍCH TRÊN THẾ GIỚI

7 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 23,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VĂN HỌC CÁC TRƯỜNG PHÁI NGHIÊN CỨU TRUYỆN CỔ TÍCH TRÊN THẾ GIỚI VĂN HỌC CÁC TRƯỜNG PHÁI NGHIÊN CỨU TRUYỆN CỔ TÍCH TRÊN THẾ GIỚI VĂN HỌC CÁC TRƯỜNG PHÁI NGHIÊN CỨU TRUYỆN CỔ TÍCH TRÊN THẾ GIỚI VĂN HỌC CÁC TRƯỜNG PHÁI NGHIÊN CỨU TRUYỆN CỔ TÍCH TRÊN THẾ GIỚI VĂN HỌC CÁC TRƯỜNG PHÁI NGHIÊN CỨU TRUYỆN CỔ TÍCH TRÊN THẾ GIỚI

Trang 1

Các trường phái nghiên cứu truyện cổ tích trên thế giới

( http://hoangman.blogspot.com/2009/10/

vai-net-so-sanh-mot-am-cuoi-va-vo-nhat.html )

08:35 Được đăng bởi Hoàng Thị Mận Chuyên mục: Văn học dân gian

Trong nền văn học của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, bộ phận văn học dân gian luôn là bộ phận văn học chiếm vị trí quan trọng, đó là “nguồn sữa trong mát , ngọt lành nuôi dưỡng cho văn học viết phát triển”(M.Gorki).Cuối thế kỷ XIX, khoa học nghiên cứu văn học dân gian bắt đầu hình thành với sự ra đời của thuật ngữ Folklore ( 1846 ) Kể từ đó trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng với nhiều phát hiện mới mẻ Riêng trong lĩnh vực truyện cổ tích ta không thể không nhắc đến tên tuổi của những tác giả như V.I.Propp và Anti Aarne, Stith Thompson Họ là đại diện cho hai trường phái nghiên cứu truyện cổ tích, đó là trường phái lý thuyết chức năng của nhân vật hành động và trường phái địa lý – lịch sử Phần Lan

V.I.Propp (1895-1970) vốn là giáo sư khoa ngữ văn trường Đại học tổng hợp Xanhpetecbua Trong quá trình nghiên cứu Folklore của mình Propp đã đặc biệt chú ý đến thể loại truyện cổ tích Năm

1928 ông đã cho ra đời cuốn sách “Hình thái học truyện cổ tích” – một công trình nghiên cứu có ý nghĩa quốc tế Trong cuốn sách đó, Propp đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu dựa vào văn bản để khảo sát và phân tích Ông đã bắt đầu bằng việc nghiên cứu truyện cổ tích thần kỳ Nga, xoay quanh hạt nhân trung tâm là hành động của nhân vật chức năng Theo Propp, các nhân vật của truyện cổ tích thường chỉ xuất hiện để thực hiện một chức năng nào đó, và vì thế “trong câu chuyện được kể lại, chỉ hiện diện những nhân vật nào có vai trò của mình trong sự phát triển của hành động” Ông cho rằng truyện cổ tích được xây dựng dựa trên những yếu tố bất biến và những yếu tố khả biến Yếu tố bất biến chính là hành động hay còn gọi là chức năng của nhân vật Yếu tố khả biến chính là biện pháp thực hiện hành động chức năng của nhân vật đó Ông cũng chỉ ra 31 chức năng của truyện cổ tích thần kỳ, đó là một số lượng có hạn và được sắp xếp theo một trình tự, một kết cấu giống nhau giữa tất cả các truyện 31 chức năng đó được propp phát hiện và sắp xêp như sau :

1> Sự đi vắng

2> Sự cấm đoán

3> Sự cấm đoán bị vi phạm

Trang 2

4> Đối thủ dò la

5> Sự bộc lộ

6> Đối thủ tìm cách lừa nạn nhân

7> Sự tiếp tay

8> Việc làm hại

9> Tai họa được truyền báo

10> Sự chống đối bắt đầu

11> Nhân vật chính rời nhà

12> Thử thách

13> Phản ứng của nhân vật chính

14> Có được phương tiện thần kỳ

15> Cuộc phiêu lưu

16> Cuộc giao tranh

17> Sự đánh dấu

18> Đối thủ bị đánh bại

19> Sự khắc phục tai họa

20> Nhân vật chính trở về

21> Nhân vật chính bị truy nã

22> Nhân vật thoát thân

Trang 3

23> Nhân vật chính trở về nhà nhưng không ai nhận ra

24> Những yêu sách vô căn cứ

25> Nhiệm vụ khó khăn

26> Nhiệm vụ được giải quyết

27> Nhân vật chính được nhận ra

28> Sự vạch mặt

29> Giả mạo

30> Sự trừng phạt

31> Sự kết hôn

Với việc phát hiện ra 31 chức năng trên, Propp đã phân tích cụ thể được mô hình cấu trúc bên trong của một truyện cổ tích thần kỳ Nó cũng giúp cho ông chỉ ra sự giống nhau kỳ lạ giữa các truyện cổ tích trên thế giới Lý thuyết chức năng của Propp từ khi ra đời đã thể hiện được tính ứng dụng rộng rãi và thiết thực của nó Bởi lẽ, vận dụng lý thuyết này, người nghiên cứu sẽ xác định được cơ cấu nội tại của một truyện cổ tích Đó là nền tảng để có thể chỉ ra đặc trưng cơ bản nhất của truyện cổ tích thần kỳ cũng như phân loại chúng Việc đối chiếu so sánh chức năng của một truyện cổ tích bất

kỳ với 31 chức năng nêu trên sẽ giúp ta tìm ra sự giống nhau cũng như sự “vênh lệch” giữa các truyện cổ tích trên thế giới Căn cứ vào sự vênh lệch đó, người nghiên cứu cũng sẽ lý giải được những đặc trưng về dân tộc về địa phương của truyện cổ tích Chẳng hạn khi phân tích truyện cổ tích

“Tấm Cám” của Việt Nam theo lý thuyết hình thái học của Propp ta sẽ nhận ra 19/31 chức năng được nhân vật thực hiện Như vậy những chức năng không xuất hiện sẽ là nét riêng của truyện cổ tích

“Tấm Cám” Nó thể hiện phạm vi không gian hoạt động của nhân vật là tương đối hẹp, yếu tố phiêu lưu không nhiều, yếu tố bay bổng kỳ diệu không mạnh, yếu tố dân tộc xuất hiện rõ nét Như vậy, lý thuyết chức năng của Propp đã đưa ra một phương pháp phân tích truyện cổ tích thần kỳ một cách hữu hiệu

Tuy nhiên, trên thế giới ngoài công trình nghiên cứu về lý thuyết chức năng của Propp còn có rất nhiều công trình công trình nghiên cứu khác mà tiêu biểu là công trình của Anti Aarne ” và Stith Thompson với cuốn “ Từ điển A-T” Phương pháp nghiên cứu trên được gọi là phương pháp địa lý lịch

sử còn gọi là trường phái Phần Lan Trường phái này được khởi xướng bởi Fredick krohn và con ông

Trang 4

là Kaarle Krohn Sau đó Anti Aarne (1867-1925) đã tiếp tục phát triển phương pháp nghiên cứu này với cuốn “ Danh mục các thể loại truyện cổ tích” (1910) Sau đó, năm 1928 Stith Thompson (1885-1976) đã kế thừa và phát triển lý thuyết đó để lập nên cuốn “Từ điển A-T”

Xét về phương pháp nghiên cứu, nếu như trường phái lý thuyết chức năng của Propp tiến hành mô tả cấu tạo truyện cổ tích thần kỳ để nhận diện một truyện cổ tích nhất định thì trường phái địa lý - lịch

sử Phần Lan lại tiến hành sưu tầm nghiên cứu hàng loạt các dị bản truyện cổ tích, đặt tên chung cho từng nhóm, xếp vào từng bảng tra cứu theo type và motif Theo tác giả Nguyễn Tấn Đắc “ type và motif là những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian” Type được Thomson định nghĩa là những cốt kể ( Narative) có thể tồn tại độc lập trong kho truyện truyền miệng Còn motif là “ thuật ngữ chỉ bất kỳ một phần nào mà ở một tiết(Item) của Folklore có thể phân tích ra được … Bản thân một motif cũng có thể đã là một mẩu kể ngắn và đơn giản, một sự việc đủ gây ấn tượng hoặc làm ưa thích cho người nghe” Như vậy, type được hiều là cốt truyện còn motif là những chi tiết cấu thành nên cốt truyện Giữa motif và type có mối quan hệ yếu tố - hệ thống

Về bảng mục lục tra cứu type truyện kể dân gian, Aarne và Thomson đã tiến hành khảo sát hàng loạt những bản kể khác nhau Những truyện có nhiều chỗ giống nhau rõ rệt thì được tác giả xếp vào thành một loại gọi là type truyện Với bảng tra cứu này, các nhà nghiên cứu sẽ làm công việc phục nguyên lịch sử, so sánh để tìm ra bản cổ nhất, trên cơ sở đó xác định nơi phát tích một truyện, con đường địa lý của sự lưu truyền Tuy nhiên, do bảng tra cứu type này chủ yếu chỉ bao gồm những truyện kể Châu Âu nên nó khó có thể ứng dụng rộng rãi ở các khu vực khác trên thế giới Từ những hạn chế đó, Thomson đã đặt ra vấn đề lập một bảng tra cứu motif bởi theo ông “ sự tương đồng ở cấp độ cả một câu chuyện phức hợp, hoàn chỉnh không thường xuyên bằng sự tương đồng ở cấp độ motif ” Mặt khác ở rất nhiều cốt truyện đơn giản chỉ có một motif thì lúc này type và motif là tương đồng với nhau Với công trình lập nên bảng nghiên cứu motif, Thomson đã “ sắp xếp những yếu tố làm nên văn học tự sự truyền thống trong một bảng phân loại logic những motif đơn nhất Những truyện kể này đã tạo nên từng phần của truyện kể truyền thống, dù là văn học viết hay văn học truyền miệng thì đều tìm thấy chỗ trong bảng phân loại này” Từ đó ông đã sắp xếp các motif truyện

kể với 23 chương như sau:

A- Sự sáng tạo và bản chất thế giới

B- Súc vật thần thoại

C- Điều cấm kị

D- Ma thuật

Trang 5

E- Cái chết

F- Điều kỳ diệu

G- Yêu tinh

H- Thử thách

I- Khôn ngoan và ngốc nghếch

J- Lừa dối

K- Sự đảo ngược của vận mệnh\

L- Việc phán truyền tương lai

M- May rủi và số phận

N- Xã hội

O- Thưởng và phạt

P- Bắt giữ và bỏ chốn

Q- Sự độc ác trái tự nhiên

R- Giới tính

S- Bản chất đời sống

T- Tôn giáo

U- Tính cách nhân vật

V- Hài hước

W- Nhóm hỗn hợp các motif

Trang 6

Như vậy, với những công trình nghiên cứu của Aarne và Thompson, việc phân loại kho tàng truyện cổ tích thế giới đã trở nên rõ ràng, cụ thể hơn Nhờ đó, ý nghĩa ứng dụng của lý thuyết này cũng trở nên đặc biệt quan trọng

Dựa vào lý thuyết này, mỗi dân tộc có thể tự khảo sát, thống kê và lập ra bảng phân loại riêng cho dân tộc mình Điều này đã được thực hiện ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Thụy Điển…vv Các bảng tra cứu về type và motif chính là định hướng giúp cho người nghiên cứu không phải “dò dẫm tìm đường đi, người ta có thể gọi tên theo bảng tra sẵn mà không phải tự đặt tên” Khi dùng tên chung đó, ta sẽ dễ dàng nhận ra sự tương đồng cũng như sự khác biệt giữa các dân tộc trên thế giới Mặt khác, mỗi motif truyện đều là một biểu tượng mang hàm nghĩa văn hóa cho nên việc nghiên cứu truyện cổ tích đứng từ góc độ type và motif sẽ giúp người nghiên cứu lý giải

và phát hiện các vấn đề thuộc về văn hóa, tín ngưỡng, nghi lễ…vv Trong truyện cổ tích “Thạch Sanh”, tác giả dân gian nói Lý Thông làm nghề bán rượu Như vậy, motif này cho thấy rằng yếu tố thương nghiệp đã xuất hiện và kẻ xấu chính là những kẻ xung đột với tập quán nông nghiệp Đó là cách giải thích hàm nghĩa của một motif Ngoài ra, khi xem xét, khảo sát một nhóm các dị bản văn học dân gian các nước trong sự đối chiếu so sánh, người nghiên cứu sẽ căn cứ vào sự vênh lệch của các motif , type để truy tìm nguồn gốc của từng truyện, chỉ ra thứ tự ra đời của từng truyện

Trong công trình nghiên cứu “Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif”, tác giả Nguyễn Tấn Đắc

đã có vận dụng thành công lý thuyết nghiên cứu của trường phái địa lý- lịch sử Phần Lan

Bài viết “ Từ truyện “ Quả bầu Lào” đến “Huyền thoại lụt”” đã chỉ rõ những motif khác nhau của cùng một type truyện

Trong type truyện “Quả bầu Lào” có motif quả bầu – mẹ, quả bầu - môi giới (Quả bầu Lào”), có motif quả bầu - con, motif quả bầu – thuyền, motif anh trai - em gái sống sót kết hợp thành vợ chồng, motif con vật báo tin lụt…vv (Huyền thoại lụt)

Qua quá trình phân tích, so sánh, lý giải hàm nghĩa văn hóa của các motif, tác giả Nguyễn Tấn Đắc cho rằng motif quả bầu mẹ chính là motif gốc Những truyện có motif quả bầu mẹ là những truyện sơ khai nhất.Theo ông, truyện quả bầu thực chất bao gồm 2 type huyền thoại hoàn toàn khác nhau Huyền thoại “ Qủa bầu mẹ” giải thích nguồn gốc ban đầu của loài người còn huyền thoại lụt giải thích

sự hủy diệt và tái tạo của loài người sau trận lụt cũng như nguồn gốc của các dân tộc ngày nay Trong bài viết , tác giả cũng đi vào tìm hiểu, lí giải các cơ tầng văn hóa hàm ẩn trong biểu tượng quả bầu, trong các motif về hôn nhân trái thường giữa anh trai, em gái hay motif con vật báo tin Từ đó, Nguyễn Tấn Đắc khẳng định truyện quả bầu ra đời gắn liền với thời kỳ sản xuất nông nghiệp nguyên thủy của con người , khi cây lúa vẫn chưa xuất hiện.Còn huyền thoại lụt lại ra đời trong thời kỳ con

Trang 7

người vừa rời bỏ hình thức gia đình huyết tộc.

Vận dụng lý thuyết về type và motif của trường phái Phần Lan, Nguyễn Tấn Đắc tiếp tục tiến hành phân tích để “ Đọc lại truyện Sơn Tinh Thủy Tinh” Motif của truyện được ông trình bày như sau:

A: 1 Công chúa kén chồng

2.1 Điều kiện 1: thi tài – hai người tài ngang nhau

2 2 Điều kiện 2 : đến trước Sơn Tinh đến trước lấy được công chúa

3 Đánh nhau giành công chúa Thủy Tinh đánh để giành lại nhưng không được

B: Lời giải thích về trận lụt hàng năm

Từ đó, tác giả xếp truyện “ Sơn Tinh Thủy Tinh” vào type truyện công chúa kén chồng bằng thi tài hoặc type truyện cuộc thi tài của các chàng trai để lấy công chúa Và hạt nhân trung tâm của cả câu chuyện sẽ là cuộc đấu tranh để cướp đoạt đàn bà Khi tiến hành phân tích theo con đường này, ông

đã lý giải và chứng minh rằng: “ Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh chủ yếu nói về một hiện tượng xã hội hơn là thiên nhiên, và những trận lụt hằng năm chỉ là hiện tượng tự nhiên hóa của một hiện tượng xã hội có thật trong thời cổ: những cuộc đánh nhau để cướp đoạt tranh giành và sau đó cùng với đàn

bà đã xuất hiện yếu tố quyền lực”

Cũng với phương pháp nghiên cứu trên, Nguyễn Tấn Đắc tiếp tục có những kiến giải hợp lý ở các bài viết như:” Thử tìm hiểu nguồn gốc truyện U Thền của người Thái ở Việt Nam “, hay “ Đọc lại truyện “ Tấm Cám” ở Đông Nam Á” Điều đó là minh chứng cho ý nghĩa ứng dụng rộng rãi và thiết thực của trường phái địa lý lịch sử Phần Lan trong quá trình nghiên cứu, đọc hiểu truyện cổ tích Việt Nam

Trên đây là những tổng kết sơ bộ của tôi về lý thuyết cũng như về ứng dụng của hai trường phái nghiên cứu truyện cổ tích trên thế giới Theo tôi, đó là hai trường phái nghiên cứu có tầm ảnh hưởng sâu rộng và hứa hẹn nhiều kết quả khả quan trong việc phát hiện, kiếm tìm giá trị đích thực của các tác phẩm văn học dân gian

Ngày đăng: 09/06/2021, 10:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w