Thơ ca Vương Duy là sự hòa trộn giữa hai phương diện: tâm thức phong nhã, thanh tịnh hướng về sự hòa hợp với tự nhiên, tự tính và tinh thần vô ngôn, vô thường, tư tưởng từ bi hỷ xả của đ
Trang 1Họ và tên: Trần Phượng Linh
Lớp: Cao học Văn học nước ngoài 2013 – đợt 2
BÀI TẬP CUỐI KỲ
MÔN “THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG”
Phân tích bài thơ Tân di ổ của Vương Duy dưới góc độ thi pháp học.
Nhà Phật có câu: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, tức trong cõi giới vô sinh diệt này, hữu thể hay vô thể chính là một, bất phân sai Sống chết, có không, được mất,
hư thực, những cảnh giới ấy cùng tương liên trong cái đẹp vĩnh cửu của vũ trụ Bài thơ
Tân di ổ của Vương Duy là một bức họa dung chứa tâm thức quán chiếu đất trời như thế.
Sâu thẳm trong nó, là cái nhìn Thiền tịnh bao la
Được hậu bối mệnh danh Thi Phật, Vương Duy (699 - 759) đã thực sự phả triết lý Thiền đạo vào trường sáng tạo của mình Trong hệ thống thơ ca Vương Duy, tinh thần tôn giáo luôn là điểm nhấn quan trọng Tự là Ma Cật, lấy ý từ kinh Duy ma cật sở thuyết, hay từ chính tên của cư sĩ Duy Ma Cật trong huyền thoại Phật giáo, lại có mẹ là một tín
đồ thờ Phật mấy mươi năm, Vương Duy từ bé đã thấm đẫm tư tưởng pháp đạo Vốn tài hoa, vẽ đẹp, đàn hay, văn chương xuất chúng, ông sớm tham gia con đường hoạn lộ Tuy nhiên, đó là một hành trình đầy thăng trầm, lúc thì thành tựu rực rỡ, chức cao vọng trọng, làm đến Đại Nhạc thừa, Lại bộ lang trung, Thượng thư hữu thừa, lúc lại gặp hoàn cảnh loạn lạc, bị giáng xuống làm tham quân, Cấp sự trung Dấn thân vào quan trường là thế, nhưng kỳ thực, ông dù gắn mình với triều đình nhưng vẫn ưa thích sơn thủy điền viên, cảnh quan yên tĩnh, cũng như di dưỡng thú vui tiêu dao, cầm kỳ thi họa Vì vậy, hệ thống thi phú của Vương Duy nổi bật rõ rệt về mảng thơ mang sắc thái thiên nhiên, tự nhiên Thơ ca Vương Duy là sự hòa trộn giữa hai phương diện: tâm thức phong nhã, thanh tịnh hướng về sự hòa hợp với tự nhiên, tự tính và tinh thần vô ngôn, vô thường, tư tưởng từ bi
hỷ xả của đạo Phật Ngoài việc điêu luyện thơ ca, Vương Duy còn đặc biệt am tường hội
Trang 2họa, âm nhạc, thư pháp Ba phương diện tài hoa kia đã đồng hợp và kết tinh trong phong cách sáng tạo nghệ thuật của thi nhân, làm nên lối viết độc đáo: vừa tinh tế, vừa thâm sâu, vừa uyển chuyển về nhạc điệu; như người đời truyền tụng: “thi trung hữu họa, họa trung hữu thi”
Thi phẩm Tân di ổ cũng đậm đặc Thiền tính như thế, với hơi thơ thâm trầm, uyên
áo cùng sắc thái thơ đậm đặc tinh thần hội họa
Mộc mạt phù dung hoa
Sơn trung phát hồng ngạc
Giản hộ tịch vô nhân
Phân phân khai thả lạc
Nhan đề Tân di ổ chứa đựng nhiều ẩn nghĩa Trước hết, Tân Di Ổ là tên một danh
lam thắng cảnh thuộc huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây Ngày trước, biệt thự Võng
Xuyên nơi Vương Duy sống vốn nằm gần nơi này Thực chất, bài thơ Tân di ổ cũng thuộc Võng Xuyên tập của ông, cho thấy không gian trên đã ảnh hưởng ít nhiều đến tâm
lý sáng tạo của tác giả Mặt khác, “tân di” lại là tên gọi một loài hoa – hoa phù dung, thường nở rộ vào mùa thu Phù dung, loài hoa vắn số, sớm nở tối tàn, đã trở thành cảm hứng về lẽ sắc không vô thường nơi cõi thế Thực chất, sự trộn lẫn hai tên gọi có lẽ chỉ là
sự hòa quyện giữa các sự vật phong phú đa dạng trong tự nhiên, giữa chúng sinh, giữa vũ trụ rộng lớn phức hợp Đời sống, cõi Ta bà, cũng như miền danh lam hoa cỏ ấy, tuyệt sắc, tuyệt đẹp nhưng rồi cũng sẽ hồi quy trong nỗi hư không vô cùng Ngay từ tựa đề, Vương Duy đã thể hiện khí chất vô ngôn, ngôn bất tận ý trong một cách định danh đầy ẩn súc, đa nghĩa
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh thuần thiên nhiên: những đóa phù dung ở đầu cành Như đã biết, phù dung hoa vốn nở vào thu, cho thấy mạch ngầm của không gian và thời gian nghệ thuật đã được thi nhân kín đáo phát lộ Lời ít ý nhiều, câu đầu tiên không nói gì
Trang 3nhiều ngoài một cảnh quan tự nhiên, một mỹ cảnh của đất trời ở quãng giữa nhịp vận hành vũ trụ Tuy vậy, không nói cũng là một cách nói, câu thơ như một bức họa chứa đựng vô số ẩn tình, hứng ký, đầy cảm thức khơi gợi
Tiếp theo mạch miêu tả đó là cảnh tượng đầy sắc màu: “Sơn trung phát hồng ngạc” Từ trong núi bỗng bung nở sắc hồng thắm tươi như sức sống tinh diệu của cuộc đời vẫn bừng lên rực rỡ, dù trong cảnh thu phai Thi nhân âm thầm phả vào bức họa ấy một linh hồn sống động, điểm xuyết cho nó những dấu ấn đậm đà Không gian thơ đi từ điểm tế vi của những đài hoa di chuyển đến cái mênh mông bao la của vùng sơn cước rạng ngời Từ “phát” biểu lộ sức bật mạnh mẽ Tự thân nó hiện lộ khoảnh khắc bung xòe, vươn lên mãnh liệt của vô số đài hồng trên bức tranh tinh giản Đấy là điểm khởi sinh, là
sự nở rộ và thành tựu của sự sống lắng tụ, dào dạt trong khí chất thâm trầm nơi đất trời Thời gian nghệ thuật ngầm chỉ giai đoạn vào thu cũng với hàm ý sâu xa đó Bánh xe vũ trụ luân hồi đã chuyển dịch đến chốn kết tụ, nồng đượm của bốn mùa, của vòng đời, vòng
tự nhiên, vòng duyên khởi
Quả như người đời truyền tụng, “thi trung hữu họa”, Tân di ổ là bức phong thủy
đường nét uyển chuyển, khéo léo phối màu Sắc hồng là điểm nhấn chủ đạo trong toàn thể không gian thơ, trở thành một loại ẩn nghĩa, một dấu hiệu của ý tượng Hoa phù dung đổi sắc nhiều lần trong ngày, sáng sớm mang vẻ trắng tinh khôi, chỉ đến chiều tà, khi mặt trời sắp xuống, đời hoa sắp mất thì mới chuyển sang nét hồng rực rỡ Cho nên, màu hồng rực rỡ của khoảnh khắc hiện lộ kia, thực chất, lại là điểm khởi đầu cho giây phút tàn lụi, như bắt đầu để kết thúc, như sống để mà chết, hữu cũng là vô Sức sống nó biểu đạt, là giây phút tưng bừng nhất, ngọt ngào và say đắm nhất của đời hoa, là kết tinh và đỉnh cao của tồn tại, của vạn pháp Nó mang định mệnh của những gì đẹp đẽ, những gì tài hoa nơi cõi thế, bung lên kiệt cùng như con chim với tiếng hót cuối trước thời khắc rơi rụng Nồng nàn thế, mà cũng phù du thế, phải chăng, chính là ẩn ngữ cho nỗi niềm thi nhân trước cảnh thịnh suy thăng trầm trong đời người Vương Duy thực chất luôn là người-đứng-giữa Ông đi trên những lằn ranh của tiên xứ và thực xứ, của buông xả và dấn thân, của cư sĩ và quân tử Ông, về cơ bản, vẫn là kẻ tài tử say sưa với những thú phiêu bồng,
Trang 4với phong hoa tuyết nguyệt, nhưng ông, vẫn nuôi chí hoạn lộ, cống hiến cho đời, cho hoàn cảnh thực tại Đời người cũng vậy, vinh hoa phú quý, tài hoa vui thú, thanh xuân tươi đẹp rồi cuối cùng cũng hoàn về với phù du, với hư không Sống trọn trong mọi nỗi chìm nổi được mất của đời người, thi nhân dường như đã thấu suốt lẽ vô thường Hai câu thơ đầu viên chứa trong đó cái căng tràn của sức sống, nhưng cũng là niềm dự cảm cho cảnh phôi pha về sau Tuy vậy, nó không đượm chút gì bi thiết, ưu tư mà kỳ thực đã hoàn toàn thoát tục, uyên nhiên, vô sự
Câu chuyển đưa góc nhìn sang tiêu điểm khác: “Giản hộ tịch vô nhân” Chữ “tịch” như dấu lặng ngân lên cái vô thanh của không gian yên tĩnh, hoang vắng Hoang vắng đến độ “vô nhân” – không người, không chủ thể, không động vọng Tức là, sự vắng mặt của con người đưa cảnh giới di hình đến cảm thức vô ngã, tại đó, vật ngã lưỡng vong, mọi thanh âm đã hòa quyện, vượt qua hữu thể để trở thành vô thể, vô cùng tận “Giản hộ” tức là ngôi nhà trong khe suối, vốn sẽ là biểu hiện cho sự sống, cho chuyển động, cho tha nhân nay được quan sát trong hiện hữu trống không Đó là cái rỗng rang uyên sâu của thể phách Ngôi nhà chỉ là một dạng trình diện của thể tính trong cõi đời, tự thân nó vô ngã, cũng như con người, như vạn pháp, đều xuất phát từ tính không, đã luôn ở trong và sẽ quay về tính không
Ở đây, mạch chuyển động duy nhất đều thuộc về tự nhiên, về những bông phù dung sớm nở tối tàn: “Phân phân khai thả lạc” Thể tính của hoa là nở rồi lại rụng Hoang
vu vốn là sự vắng mặt con người, vì thế, trong hoang vu hoa lại bật lên trọn vẹn thể tính, lại quán xuyến sự chảy trôi của thời gian vũ trụ Thực chất, sự quán xuyến này là vô ý, tự tại, vì thế nó chính là cái buông xả trong dòng lưu chuyển bất tận của vòng quay luân hồi
“Khai” rồi “lạc” – hai cảnh giới ấy không còn phân biệt mà đã từ muôn đời thuộc ở trong nhau, như sống chết, được mất, như chính sắc không Ngày xưa, thi nhân Shirao của Nhật cũng giao cảm với phù dung: Hôm nay ra cửa/Nhìn thấy phù dung/Giữa ngày tàn úa (Nhật Chiêu dịch) Định mệnh vắn số của loài phù dung là chất men thăng hoa cho những suy tưởng sâu xa về cõi phù thế, cho người ta bỗng tới được cơ duyên giác ngộ lẽ vô thường Có công án Thiền như sau: Tăng hỏi Vân Môn: Khi lá rụng cành khô thì thế nào?
Trang 5Vân Môn đáp: Thân bày gió thu Thân nào rồi cũng sẽ phiêu diêu, phô diễn trước gió thu
của điêu tàn, hủy diệt Đó có phải cũng là mùa thu của Tân di ổ, của những đóa phù dung
hồng rực chớm nở sắp tàn, của thời gian trong thi phẩm Dạng thời gian nghệ thuật này
đã được không gian hóa Nó chỉ âm thầm hiện lộ qua những dấu chỉ của không gian, sự vật: mùa thu, phù dung hoa, sớm nở đến chiều lại rụng Trọn một vòng sống của đời hoa
cô đúc lại trong mấy ảnh tượng ẩn súc, trong đôi chữ tinh gọn Mùa thu cũng dần đưa vòng thời gian về với tận cùng Tại đó, vạn vật rơi vào cảnh thức phai tàn, héo rụng để rồi bước sang mùa đông của tử diệt, vong thân Những phương diện của sinh tử, có không, sống chết cứ thế đồng hợp xoay chuyển trong nhau, tạo tác lẫn nhau, như quy luật chuyển hóa nơi cõi sống
Bên cạnh đó, không gian nghệ thuật của tác phẩm lại thấm đẫm tinh thần hội họa thủy mặc Tác giả sử dụng điểm nhìn “thấu thị phi điểu” để phóng chiếu ánh nhìn về vạn vật tự nhiên Tại đó, những hình ảnh hay quang cảnh xa gần (“đóa hoa”, “cành cây”, cảnh núi non, ngôi nhà bên khe) đều được bao quát, kéo lại và đan cài, chồng xếp lên nhau trong một không gian mỹ cảm đa tầng Thi phẩm mang tinh thần của một họa phẩm, ý thơ, hơi thơ được phối màu, phối cảnh trang nhã, hòa quyện trong khí sắc thoát tục của bức tranh thiên nhiên
Cho nên, cấu trúc thơ cũng chính là cấu trúc hội họa Trải dài thi phẩm là sự sắp đặt khéo léo của những sự vật, hiện tượng nối tiếp, lưu chuyển không ngừng, như sơn thủy cảnh quan, như hoa nở hoa tàn, tuyệt nhiên vắng bóng con người Vấn đề này còn gắn liền với khuynh hướng tỉnh lược chủ từ hoặc đại từ nhân xưng trong thi pháp thơ Đường bấy giờ Đặt điểm nhìn bên ngoài không gian để phóng chiếu toàn bộ đại cảnh, soi tỏ từng điểm nhấn sâu xa nhưng không hề lộ diện, cho nên kết cấu thơ cũng là một bức tranh trâm sâu, ẩn súc Phong cách này vừa tương giao với quan niệm phi ngã từ xa xưa trong văn hóa Trung Hoa, vừa đồng hợp với tinh thần vô ngã của Phật giáo Ý tại ngôn ngoại, đó là khả năng khai mở nên vô số trường diễn giải và trường cộng cảm khi toàn bộ tư tưởng uyên áo được cô đặc lại trong mấy chữ vàng tinh giản Vừa lặng lẽ diễn
Trang 6giải cái rỗng không vô cùng tận của thể tính hiện hữu, vừa âm thầm mời gọi tri âm, đấy là sức mạnh của một cấu trúc phi chủ thể
Về mặt thanh luật, bài thơ là thuộc dạng thức ngũ ngôn tứ tuyệt, mỗi câu đều ngắt 2/3 vừa vặn Ngôn ngữ hàm súc, tinh vi được kết nối uyển chuyển trong thanh điệu đều đặn của lời thơ Dường như, đó cũng là cái uyên nguyên, nhịp nhàng của giai âm chuyển hóa trong vũ trụ, của vòng quay sinh tử, hữu vô, của “đáy dĩa mùa đi nhịp hải hà”
(Nguyễn Xuân Sanh) Ngũ tuyệt là thể thơ sở trường của Vương Duy, và Tân di ổ là một
trong số những thi phẩm đặc sắc trong hệ thống đó
Một điểm độc đáo khác của Tân di ổ là tính bất tuân luật bằng trắc, niêm nhị của
nó Hai câu chuyển và kết hoàn toàn ngược với quy luật thanh điệu, cũng như toàn bài được gieo vần trắc ở chữ “ngạc”, chữ “lạc” Đây là sự chuyển hoán không khí thơ thông thường để gợi nên những trường cảm nhận mới Thi nhân gieo vào hơi thơ niềm tịch lặng của những dấu kết chùng xuống, của cái âm trầm, thâm u về một mùa thu trong đời người, của cái thiết tha sau chót của những đời hoa cháy hết mình cho sự sống Bởi vậy, tác phẩm lay động lòng người không phải ở mối cảm động mãnh liệt, hay chất mỹ cảm rạng ngời, mà lặng lẽ vang lên những giai điệu vô thanh, tĩnh mặc Đó là cái vô ngôn của khoảnh khắc giác ngộ Khoảnh khắc ấy chỉ là một sát na chớp nhoáng, ngắn ngủi, nhưng
đã thâu trọn trong đó mọi lí lẽ trùng điệp trong cõi đời Câu kết: “Phân phân khai thả lạc”
đã hiện lộ trọn vẹn giây phút viên mãn ấy Từ “khai” đến “lạc” chỉ vỏn vẹn trong một sát
na thời đoạn mà đã đủ ngôn linh để phô bày cái bất khả diễn tả của cảm thức giác ngộ vô thường
Có thể nói, Tân di ổ đã được viết nên bằng một thứ thi pháp của khoảng trống, một
loại lối viết từ hư không Dung chứa trong toàn bài đều là sự sát hợp của những cụm từ miêu tả sự vật hiện tượng, tình ý thì ẩn khuất sâu xa, trùng trùng lớp lớp Sự tồn tại của bài thơ, thực chất, vốn nằm ngoài những câu chữ hiện hữu bề mặt mà lưu chuyển mênh mông giữa những vùng trống trong biểu đạt Vạn pháp cũng vậy, tất thảy đều vô thường,
vô ngã, đều khởi sinh và vận động dưới sự quán chiếu của tính không toàn diện Đại đạo
Trang 7vốn không thể dùng lời để diễn giải, bởi vậy, để nhập thần trọn vẹn vào sát na của giác ngộ, không gì hơn là phải thả mình nương theo dòng chảy tự nhiên của ngôn ngữ, của
vạn vật với tất cả những gì sinh diệt, ly hợp, hữu vô trong thế tính của nó Tân di ổ dường
như là một công án Thiền bằng thơ âm thầm quán chiếu lẽ sắc không trong thế giới nghệ thuật tự thân nó
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nhật Chiêu (2007), Ba ngàn thế giới thơm, NXB Văn Nghệ.
2 Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (1996), Về thi pháp thơ Đường, NXB Đà Nẵng.
3 Nguyễn Đình Phức (2013), Thi pháp thơ Đường, NXB ĐHQG Tp.HCM.
4 Daisetz Teitaro Suzuki – Tuệ Sỹ dịch (2011), Thiền luận, NXB Tổng hợp
Tp.HCM