Vào thời Hùng Vương, trong 15 bộ thuộc cương vực nước Văn Lang, ta thấy có bộ tộc Việt Thường (có thể đến lúc này, các vua Hùng đã đủ mạnh, thu phục được 15 bộ tộc vào quốc gia của mình[r]
Trang 1THỬ LÝ GIẢI GIẤC MƠ CỦA VUA LÊ
THÁNH TÔNG
Posted by vietsuky on 28/09/2012
NHÌN LẠI LỊCH SỬ *
THỬ LÝ GIẢI GIẤC MƠ CỦA VUA LÊ THÁNH
TÔNG
KS PHAN DUY KHA
Lê Thánh Tông (1460-1497) là một vị minh quân trong lịch sử Việt Nam Không chỉ thế, ông còn là người có tài văn học và đứng đầu Tao đàn nhị thập bát tú Nhà vua để lại nhiều tác phẩm thơ vần cho đời, trong đó có tập Thánh Tông di thảo, gồm 20 truyện ký Đặc biệt trong Thánh Tông di thảo, ta gặp một câu chuyện lạ Đó là câu chuyện nhà vua ghi lại giấc mơ của mình (Mộng Ký)
Một lần, vua Lê Thánh Tông đi chơi, gặp mưa, nghỉ đêm bên hồ Trúc Bạch, mộng thấy
có hai người con gái thời Lý Cao Tông (khoảng năm 1176 – 1210) hiện lên, dâng thư bày
tỏ nỗi oan ức gồm một bài thơ bằng chữ Hán và một tờ tâu bằng chữ bản địa có 71 chữ ngoằn ngoèo Vua không đọc được Trải ba năm, cả triều đình không một ai đọc được tờ tâu đó Thế rồi, Lê Thánh Tông lại nằm mộng có người hiện lên giảng giải cho vua rõ thêm về bài thơ chữ Hán Vua hỏi âm, nghĩa của 71 chữ kèm theo thì người đó nói: “Chữ
ấy là lối chữ cổ của nước Nam Nay Mường Mán ở núi rừng có người còn đọc được, nhà vua vời họ đến thì tự khắc sẽ biết”
35 chữ cái chữ Mường cổ (trích trong cuốn “Việt Nam cổ văn học sử” của Nguyễn Đổng Chi)
Trang 2Hãy phân tích hai giấc mộng của vua Lê Thánh Tông Giấc mộng thứ nhất: nhà vua đi chơi và ngủ đêm ở ngoài Hoàng thành, vì vậy nằm mơ thấy hai người con gái thời Lý Cao Tông (một triều đại trước đấy 300 năm) Trước hết, tác giả đẩy giấc mơ ra phía ngoài Hoàng thành, để câu chuyện gần đời sống người bình dân, chứ không phải trong cung cấm Chúng ta đặt vấn đề nghi vấn: đã là giấc mộng (không thật) thì làm sao có tờ tâu gồm 71 chữ ngoằn ngoèo (vật có thật) cho cả triều đình xem? Không lẽ Lê Thánh Tông sau khi thức dậy, cố nhớ ra để viết lại? Điều đó không thể thực hiện được đối với một loại văn tự mà ta không hiểu nghĩa: vậy có thể nói rằng giấc mộng này là do nhà vua hư cấu Nhà vua bịa ra giấc mộng? Điều đó tưởng như khó tin nhưng lại là sự thực:
Giấc mộng nói lên điều day dứt, trăn trở của vua Lê Thánh Tông rằng phải chăng ở nước
ta từng tồn tại chữ viết bản địa trước khi có chữ Hán xâm nhập vào?
Không phải ngẫu nhiên Lê Thánh Tông đặt vấn đề như vậy Chúng ta còn gặp nhiều đoạn trong thư tịch nước ngoài ghi về sự tồn tại của chữ Việt cổ Đó là lối chữ khoa đẩu, ngoằn ngoèo như con nòng nọc Sách Thông giám cương mục do Chu Hi đời Tống soạn, chép:
“Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ 5 (2353 trước Công nguyên -TCN) có Nam di Việt Thường thị đến chầu, hiện con rùa lớn” Cũng sự kiện này, sách Thông chí do Trịnh Tiêu đời Tống soạn, chép rõ hơn: ,lĐời Đào Đường, Nam di có Việt Thương thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần Rùa được nghìn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa (quy lịch)”
Việt Thường thị (họ Việt Thường) là một tộc người làm ăn sinh sống trên vùng đất thuộc địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ, mà trung tâm ở vào khoảng núi Hồng Lĩnh, vùng đất núi Hồng sông Lam ngày nay (Núi Hương Tích nằm trong dãy Hồng Lĩnh, trên đỉnh núi
có thành đá Trong thành có 99 cái nền bằng đá, tục gọi là đài Trang Vương Phải chăng đây là lị sở của bộ tộc Việt Thường xưa?) Không phải ngẫu nhiên mà cả hai cuốn sử của Trung Hoa đều chép sự kiện này (về bộ tộc Việt Thường, thư tịch còn chép ở một số tài
liệu khác) Sử ký của Tư Mã Thiên cũng chép: “Đất Giao Châu ở phía Nam có Việt
Thường thị, qua nhiều lần thông dịch, đến hiến một con chim trĩ trắng” Như vậy, tộc Việt Thường ngang với đời Đường Nghiêu bên Trung Quốc Còn các vua Hùng xuất hiện muộn hơn nhiều, vào đời vua Trang Vương nhà Chu, vào khoảng thế kỷ thứ VII TCN Đại Việt sử ký ghi: “Đời vua Trang Vương nhà Chu (696-682 TCN) ở bộ Gia Ninh có người dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương”
Như vậy, trước các vua Hùng rất lâu, đã từng xuất hiện bộ tộc Việt Thường có trình độ văn minh cao: có chữ viết, có trình độ khoa học để làm được “quy lịch”, có kiến thức cao
về địa lý (có như thế thì mới có thể vượt qua bao núi sông cách trở hàng vạn dặm để đến được kinh đô Trung Hoa!) Các nhà sử học của ta xưa chắc đã nhầm, đặt Việt Thường thị vào thời Hùng Vương, nên đã kéo dài thời Hùng Vương đến 2.622 năm khi lập ngọc phả đền Hùng Vì thấy số năm lớn quá, họ cho rằng mỗi một đời vua Hùng (trong 18 đời Hùng) là một triều đại Theo chúng tôi, cả 18 đời vua Hùng chỉ nằm trong một triều đại là triều Hùng mà thôi Việc 18 đời vua kéo dài khoảng 400 năm (từ thế kỷ VII đến thế kỷ III TCN), trung bình mỗi đời vua kéo dài khoảng hơn 20 năm là hoàn toàn hợp lý Nên nhớ
Trang 3rằng: hồi ấy vua tôi đồng lòng, trên dưới hòa hợp chứ không có tình trạng cướp ngôi, thoán đoạt như ở các chế độ phong kiến sau này “
Vào thời Hùng Vương, trong 15 bộ thuộc cương vực nước Văn Lang, ta thấy có bộ tộc Việt Thường (có thể đến lúc này, các vua Hùng đã đủ mạnh, thu phục được 15 bộ tộc vào quốc gia của mình, bộ tộc Việt Thường cũng nằm trong số đó) Thế nhưng, có điều làm chúng ta thắc mắc là tại sao các vua Hùng thu phục được bộ lạc Việt Thường mà không
kế thừa nền văn minh chữ viết của bộ tộc này để phát triển thành chữ viết của cả quốc gia? Trong các truyền thuyết về thời Hùng Vương không hề thấy nói đến chữ viết Các thư tịch Trung Hoa ghi lại thời kỳ này của ta cũng không thấy nói đến văn tự Điều đó chỉ
có thể giải thích là các cư dân bộ tộc Việt Thường đã giấu bí mật chữ viết của mình và di
cư sang một địa bàn khác Khả năng đó cũng có thể xảy ra Lịch sử thời phong kiến Việt Nam cũng đã xảy ra sự kiện tương tự như thế Các triều đại phong kiến Đại Việt đã thôn tính dần Chiêm Thành, nhưng không hề kế thừa, sử dụng đến nền văn minh chữ viết của vương quốc này Điều này càng minh chứng cho luận cứ trên Như vậy, điều nghi vấn của
Lê Thánh Tông là hoàn toàn có căn cứ
Giấc mơ thứ hai của vua Lê Thánh Tông biểu hiện rằng lối chữ khoa đẩu là lối chữ cổ của nước ta mà một số người Mường Mán ở miền núi còn đọc được Đây lại là điều nghi vấn thứ hai của Lê Thánh Tông về sự tồn tại chữ cổ của dân tộc hiện còn ở một số tộc người miền núi Điều nghi vấn của Lê Thánh Tông không phải không có căn cứ Trong cuốn Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi,” tác giả còn sưu tầm được 35 chữ cái của dân tộc Mường tỉnh Thanh Hoa, lối chữ ngoằn ngoèo như con nòng nọc
Phải chăng đó là lối chữ khoa đẩu của bộ tộc Việt Thường xưa mà cư dân mang theo lên miền núi? Vào khoảng những năm 1970, các nhà khảo cổ học phát hiện được một chiếc trống đồng ở Lũng Cú (Hà Tuyên), trên mặt trống cũng có những đường cong lạ mà các nhà nghiên cứu đặt vấn đề nghi vấn có thể là chữ viết Lê Thánh Tông là một ông vua rất chú trọng sưu tầm văn hóa dân tộc và di sản văn hóa của cha ông” Có thể trong thời kỳ
ấy, từng xuất hiện những văn bản cổ đã đến tay nhà vua Ông và triều đình không thể lý giải được nên đã “hư cấu” thành câu chuyện một giấc mộng, nhằm gửi gắm điều nghi vấn của mình cho hậu thế
Theo các nhà ngôn ngữ học thì ngôn ngữ địa phương vùng Nghệ Tĩnh ngày nay còn giữ lại nhiều từ Việt cổ (như nước = nác, cây = cơn, lửa = lả, lúa = ló…) và có nhiều nét tương đồng với ngôn ngữ dân tộc Mường Phải chăng đồng bào Mường ngày nay chính là hậu duệ của cư dân bộ tộc Việt Thường ngày xưa?
Tổng hợp tất cả các điều phân tích trên, chúng ta có thể suy đoán như sau: vào trước thời
kỳ Hùng Vương, ở vùng Nghệ Tĩnh cũ đã xuất hiện một bộ tộc Việt Thường có trình độ văn minh cao, đã có chữ viết Vào khoảng thế kỷ VII TCN, các vua Hùng đã thu nạp đất đai của bộ tộc này vào Văn Lang Phần lớn cư dân của bộ tộc vì một lý do nào đó, đã di
cư lên miền núi, mang theo những bí mật về chữ viết của mình – đó là tổ tiên của dân tộc Mường ngày nay Lối chữ khoa đẩu mà cư dân bộ tộc Việt Thường phát minh – được nhắc tới trong thư tịch cổ Trung Hoa – phải chăng là nguồn gốc xa xôi của chữ Mường
cổ, chữ Phạn cổ (trên bia đá Võ Cạnh Khánh Hòa, thế kỷ II – III), chữ khắc trên đá ở di
Trang 4chỉ Óc Eo (An Giang, thế kỷ II – VII) trên địa bàn Việt Nam mà chúng ta đã được biết tới?
Nghiên cứu nền văn minh chữ viết của dân tộc Việt Nam là một công việc vô cùng khó khăn Phạm vi bài viết này chỉ nêu một số nét có tính chất phác thảo Điều mà Lê Thánh Tông nêu ra cách đây 500 năm, đến thời đại chúng ta vẫn còn rất nhiều bí ẩn Giấc mơ của vua Lê Thánh Tông – niềm day dứt trăn trở của ông, cũng chính là niềm day dứt trăn trở của chúng ta!
—
* Nguồn:NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác
giả: KS PHAN DUY KHA – TS LÃ DUY LAN – TS ĐINH CÔNG VĨ.