Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan chấtlượng chữ viết vẫn chưa đạt như mong muốn, cuối năm vẫn còn nhiều học sinh kĩ năng viết còn chậm, thậm chí còn có những học sin
Trang 11 Mở đầu 2
2.2 Thực trạng trong việc tổ chức dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 tại
trường Tiểu học&THCS Lộc Thịnh – Ngọc Lặc trước khi áp dụng
2.3 Các giải pháp đã sử dụng giúp học sinh lớp 1 viết đúng các chữ số
và chữ viết thường tại trường Tiểu học&THCS Lộc Thịnh – Ngọc Lặc.
7
2.3.1 Giải pháp thứ nhất: Giáo viên cần chuẩn bị tốt các điều kiện,
phương tiện hỗ trợ cho việc dạy chữ viết lớp 1 đạt hiệu quả.
7
2.3.2 Giải pháp thứ hai: Giáo viên cần nắm vững các yêu cầu về dạy chữ
viết cho học sinh lớp 1.
8
2.3.3 Giải pháp thứ ba: Phát hiện một số các lỗi thường gặp trong việc
thực hành viết các chữ số và chữ viết thường; cách hướng dẫn học sinh
lớp 1 ghi nhớ cách viết các chữ số và chữ viết thường một cách hiệu quả.
9
2.3.4 Giải pháp thứ tư: Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học trong việc rèn kĩ năng viết đúng các chữ số và chữ viết
thường cho học sinh lớp 1.
11
2.3.5 Giải pháp thứ năm: Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học
sinh trong việc rèn kĩ năng viết cho học sinh lớp 1.
15
2.3.6 Giải pháp thứ sáu: Lấy ý kiến đóng góp của tổ chuyên môn về kinh
nghiệm dạy học sinh lớp 1 viết đúng các chữ số và chữ viết thường đạt
hiệu quả.
17
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Trang 21 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng,
là nơi ươm mầm cho thế hệ lãnh đạo, nhà tư tưởng và nhà đổi mới tiếp theo Đây
là bậc học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, thời gian hình thành nhâncách và năng lực (trí tuệ và thể chất) Mục tiêu của chương trình giáo dục Tiểuhọc theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới “giúp học sinh hình thành vàphát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thểchất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giátrị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong họctập và sinh hoạt.” [1] Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, mụctiêu của giáo dục Tiểu học “giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩnăng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở” [2] Trong Chương trìnhGiáo dục phổ thông mới, mục tiêu giáo dục Tiểu học không chỉ chú ý chuẩn bịcho học sinh những cơ sở ban đầu “cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạođức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục họcTrung học cơ sở” mà còn chú ý yêu cầu “phát triển phẩm chất và năng lực; địnhhướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thóiquen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt”
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một trong những môn học giữ
vị trí quan trọng hàng đầu trong trường Tiểu học Một trong những mục tiêu cơbản của Tiếng Việt là giúp học sinh sử dụng thành thạo các kĩ năng: nghe, nói,đọc, viết Việc rèn luyện cho học sinh thực hiện tốt bốn kĩ năng trên là hếtsức quan trọng Trong đó kĩ năng viết chiếm vị trí quan trọng trong mônTiếng Việt lớp 1
Qua thực tế nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 1 tôi thấy: Hầu hết Bangiám hiệu các nhà trường đã quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giảng dạycác lớp đầu cấp, lựa chọn được đội ngũ giáo viên có nhiều kinh nghiệm trực tiếpgiảng dạy lớp 1 Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan chấtlượng chữ viết vẫn chưa đạt như mong muốn, cuối năm vẫn còn nhiều học sinh
kĩ năng viết còn chậm, thậm chí còn có những học sinh chưa nhận biết hết cáccon chữ và số dẫn đến chữ viết chưa đúng mẫu, đúng cỡ, khoảng cách giữa cáccon chữ không đều, quá dày hoặc quá thưa, hoặc giữa các con chữ trong mộtchữ không nối liền nhau còn thiếu nét, nguệch ngoạc, Bên cạnh đó vẫn cònnhiều giáo viên còn lúng túng trong việc vận dụng đổi mới các phương pháp dạyhọc, đặc biệt trong 2 năm gần đây, do việc thay đổi nội dung chương trình dạyhọc theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 vẫn còn có những giáo viênchưa tiếp cận tốt về chương trình dạy học dẫn đến chất lượng dạy học còn hạnchế Vậy làm thế nào để sau khi học xong lớp 1 tất cả học sinh đều viết đúng tất
[1]: Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục Đào tạo ngày 26/12/2018; [2]: Trích từ “Điều 23 - Luật Giáo dục Tiểu học” số 38/2005/QH11 ngày 14/6/2005;
Trang 3cả các chữ số và chữ viết thường ? Làm thế nào để khích lệ sự mạnh dạn, tự tincủa học sinh trong các tiết học ? Đó cũng là câu hỏi mà bản thân tôi luôn quan
tâm, trăn trở Chính vì vậy bản thân đã mạnh dạn lựa chọn, nghiên cứu “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 viết đúng các chữ số và chữ viết thường tại trường Tiểu học và THCS Lộc Thịnh – Ngọc Lặc” để nghiên cứu, thử nghiệm
và vận dụng vào quá trình dạy và học tại đơn vị trường Tiểu học và THCS LộcThịnh - Ngọc Lặc nơi bản thân đang công tác trong năm học này
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu để đề ra các giải pháp trong việc giúp học sinh lớp 1 viếtđúng các chữ số và chữ viết thường, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạymôn Tiếng Việt theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu các giải pháp giúp học sinh lớp 1 viết đúng các chữ số và chữviết thường tại trường Tiểu học và THCS Lộc Thịnh – Ngọc Lặc
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong sáng kiến này tôi đã lựa chọn và vận dụng một số phương phápnghiên cứu như sau:
- Phương pháp thứ nhất:
Nghiên cứu tài liệu giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 1, các kĩ thuật dạy họcsinh nắm vững quy trình viết và tra cứu qua mạng Internet để tìm hiểu và xâydựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thứ hai: Quan sát, tìm hiểu thực tế kết quả của việc họcsinh lớp 1 thực hiện cách viết các các chữ số và chữ viết thường nhiều năm ởtrường
- Phương pháp thứ ba:
Điều tra khảo sát thực tế học sinh lớp 1 thực hiện các yêu cầu cần đạt, đểxác định thực trạng trong việc viết các chữ số và chữ viết thường đối với lớp bảnthân trực tiếp giảng dạy trong năm học 2021 - 2022
- Phương pháp thứ tư:
Thống kê, xử lý số liệu để phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và raquyết định đề ra các giải pháp dạy học phù hợp, nhằm đạt được kết quả caotrong quá trình dạy học sinh cách viết đúng các chữ số và chữ viết thường
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết, trong chương trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 1,sau khi học xong học sinh phải đạt được một số yêu cầu về kĩ thuật viết như:
“Biết ngồi viết đúng tư thế; cầm bút bằng ba ngón tay; đặt vở và xê dịch vở hợp
lí khi viết; viết đúng chữ thường cỡ vừa, cỡ nhỏ và viết đúng chữ in hoa, viếtliền mạch các chữ cái trong vần và tiếng, viết đúng chữ số (từ 0 đến 9) cỡ lớn và
cỡ vừa, viết đúng quy tắc các chữ có tiếng mở đầu bằng c, k, q, g, gh, ng, ngh;viết đúng chính tả đoạn thơ, đoạn văn có độ dài khoảng 30 – 35 chữ theo cáchình thức nhìn – viết (tập chép), nghe – viết, tốc độ viết khoảng 30 – 35 chữ/15phút, không mắc quá 5 lỗi; yêu cầu về viết đoạn văn ngắn: Bước đầu biết trả lờinhững câu hỏi như: “Viết về ai, sự việc gì?”; “Những sự việc đó diễn ra ở đâu,
Trang 4vào lúc nào?” trước khi viết; biết điền phần thông tin còn trống, trả lời câu hỏihoặc viết một vài câu dưới tranh để kể lại câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe; biếtđiền phần thông tin còn trống, trả lời câu hỏi hoặc viết lời dưới tranh để nói vềngoại hình nhân vật trong câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe; biết điền phần thôngtin còn trống, trả lời câu hỏi hoặc viết lại lời đã nói để giới thiệu bản thân; biếtđặt tên cho một bức tranh” [3].
Mục tiêu của môn Tiếng Việt lớp 1 ngoài giúp học sinh hình thành vàphát triển những phẩm chất chủ yếu, bước đầu hình thành các năng lựcchung, phát triển các năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng ở mức độ cănbản
Để dạy được cho học sinh cách viết đúng các chữ số và chữ viết thườngcần dạy cho học sinh nắm vững những khái niệm cơ bản về đường kẻ, dòng kẻ,hình dáng, tên gọi các nét, độ cao, cỡ chữ, cấu tạo chữ cái, vị trí dấu thanh, dấuphụ, các khái niệm liên kết nét hoặc liên kết chữ cái, Từ đó hình thành ở các
em về hình dáng, độ cao, sự cân đối, tính thẩm mĩ của chữ viết
Bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 1 nhiều năm, tôi nhậnthấy rằng, dạy cho học sinh nắm vững được kĩ thuật viết, viết đúng các con chữ,
cỡ chữ là rất quan trọng, tạo tiền đề cho các em phát triển về các năng lực và các
kĩ năng cơ bản để các em học tốt lên lớp trên Chính vì vậy bản thân đã nghiêncứu và tìm ra các giải pháp thiết thực, hiệu quả trong việc dạy học sinh cách viếtđúng các chữ số và chữ viết thường nhằm nâng cao chất lượng dạy học mônTiếng Việt ở lớp 1 nơi bản thân đang công tác
2.2 Thực trạng trong việc tổ chức dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 tại trường Tiểu học&THCS Lộc Thịnh – Ngọc Lặc trước khi áp dụng sáng kiến
2.2.1 Thuận lợi:
Có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường trong côngtác chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học các môn học, đặc biệt là dạy học mônTiếng Việt
Cơ sở vật chất của Nhà trường đầy đủ, đảm bảo cho việc dạy học và nângcao chất lượng môn học Có đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học: Bộ chữ mẫu củagiáo viên, các bảng chữ mẫu (với nhiều kiểu chữ) cho học sinh quan sát; có đủcác phương tiện phục vụ cho việc soạn giảng của giáo viên bằng giáo án điện tử Giáo viên nhiệt tình, có kinh nghiệm và có sáng tạo trong việc dạy chohọc sinh các kĩ thuật viết Chữ viết của giáo viên đẹp, chuẩn mực để HS học tậptheo chữ viết của cô
Đa số phụ huynh đã quan tâm đến việc học của học sinh, chuẩn bị tốt chocác em có đầy đủ sách vở, các tài liệu, đồ dùng học tập Phụ huynh đã biết kiểmtra bài học của học sinh ở nhà, trao đổi thường xuyên với giáo viên chủ nhiệm
về việc vận dụng các kĩ năng cơ bản vào bài học khi thực hiện các yêu cầu vềviết các chữ số và chữ viết thường
[3]: Sách giáo viên Tiếng Việt 1 tập 1 – xuất bản năm 2018.
Trang 5Nhiều học sinh chăm ngoan, tích cực trong học tập và rèn luyện, các em
đã có sự yêu thích học môn Tiếng Việt
2.2.2 Khó khăn:
Giáo viên ở xa trường, điều kiện địa lý đi lại khó khăn, thời gian dành choviệc nghiên cứu các tài liệu giảng dạy chưa nhiều, thiếu bề dày kinh nghiệmtrong vận dụng các phương pháp dạy học môn Tiếng Việt
Do điều kiện kinh tế của địa phương xã Lộc Thịnh còn gặp nhiều khókhăn – là vùng xa của trung tâm huyện, hầu hết phụ huynh đi làm ăn xa, con cái
ở nhà với ông bà, sự quan tâm, đôn đốc, nhắc nhở chưa thường xuyên Vì vậyphần nào ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dạy học
Một số học sinh khả năng tiếp thu bài còn chậm, kĩ năng giao tiếp còn hạnchế, chưa thật sự tự tin Đầu năm học khi nhận lớp, vẫn còn nhiều em chưa biếtcầm bút, có em biết viết nhưng không viết mà chỉ cầm bút ngồi nhìn các bạn viếthoặc ngồi nghịch và nói chuyện với bạn bên cạnh
2.2.3 Thực trạng của vấn đề:
Để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 1, tôi đã trình bàynội dung nghiên cứu với Ban Giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn, giáo viênchủ nhiệm khối 1 và tiến hành khảo sát thực tế học sinh khối 1 để so sánh, đốichứng cách vận dụng sáng kiến:
* Nội dung khảo sát:
Khảo sát việc vận dụng các kiến thức đã học môn Tiếng Việt vào thực tếthông qua bài kiểm tra
- Đối tượng khảo sát: Học sinh khối lớp 1 trường Tiểu học&THCS LộcThịnh - Ngọc Lặc (Tổng số 52 học sinh)
- Thời gian khảo sát: Tháng 10 năm 2021
- Kết quả điều tra, khảo sát:
Số HS được khảo sát
Kết quả khảo sát Hoàn
thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
Trang 62.2.4 Nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có thể kể một sốnguyên nhân sau:
* Về phía giáo viên:
Giáo viên chưa quan tâm nhiều đến đối tượng học sinh; chưa tích cựcnghiên cứu, tìm các giải pháp thiết thực để dạy học sinh nắm vững cách viết cácchữ số và chữ viết thường; chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh trong các giờhọc Tiếng Việt, dẫn đến còn nhiều học sinh kĩ năng viết còn hạn chế
* Về phía học sinh:
Trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều Một số học sinh do tiếpthu chậm, kĩ năng viết còn hạn chế, chưa nắm được cấu tạo nét, điểm đặt bút,dừng bút của các nét cơ bản, các chữ số và các con chữ, chưa nắm được quytrình viết hay viết ngược chữ và số Bên cạnh đó thiếu sự quan tâm, sát sao củagiáo viên dạy, sự quan tâm, chăm sóc của gia đình dẫn đến gặp khó khăn trongviệc thực hành quy trình viết các chữ số và chữ viết thường
* Về phía phụ huynh:
Đa số phụ huynh làm nghề nông, lao động tự do, đi làm công ti xa nhànên việc dành thời gian luyện viết thêm cho con ở nhà là rất ít, chỉ một số giađình mua vở về cho các con tập tô còn lại phụ huynh chưa thật sự quan tâm đếnviệc học tập của con em Ngoài ra, còn có nhiều phụ huynh chỉ chú trọng dạy vềtoán học, chưa quan tâm đến việc học môn Tiếng Việt của con em
Xác định được các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, bản thân tôi đãtìm tòi, nghiên cứu và tìm ra được một số giải pháp thiết thực, hiệu quả giúp họcsinh lớp 1 viết đúng các chữ số và chữ viết thường
2.3 Các giải pháp đã sử dụng giúp học sinh lớp 1 viết đúng các chữ số
và chữ viết thường tại trường Tiểu học&THCS Lộc Thịnh – Ngọc Lặc.
Bản thân tôi đã nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 1, năm học 2021 - 2022tôi được phân công chủ nhiệm lớp 1B, với kinh nghiệm thực tế giảng dạy trongnhiều năm về dạy học sinh cách viết các chữ số và chữ viết thường đúng, đẹp,bản thân xin đưa ra một số giải pháp dạy học cụ thể như sau:
2.3.1 Giải pháp thứ nhất: Giáo viên cần chuẩn bị tốt các điều kiện, phương tiện hỗ trợ cho việc dạy chữ viết lớp 1 đạt hiệu quả.
Ngay từ khi bước vào lớp 1 các em được làm quen với việc viết chữthường, chữ số theo kiểu chữ viết đứng, nét đều là chủ yếu Trong quá trình tổchức dạy học sinh viết các chữ số và chữ viết thường, giáo viên cần lưu ý chuẩn
bị tốt các điều kiện cơ sở vật chất trong lớp học, cụ thể:
+ Ánh sáng phòng học: Phòng học phải có đủ ánh sáng cho mọi học sinhngồi học theo quy định của vệ sinh học đường Quy định của Bộ Giáo dục &Đào tạo: Độ chiếu sáng trong không gian lớp học từ 200 – 500 lux (lux: đơn vị
đo độ chiếu sáng Quốc tế)
+ Bảng lớp: Bảng lớp được treo ở độ cao vừa phải, cạnh dưới của bảngngang tầm đầu của học sinh ngồi trong lớp
+ Bàn ghế học sinh: Kích thước bàn ghế phải phù hợp với độ cao trungbình của từng đối tượng học sinh
Trang 7+ Bảng viết của học sinh (Bảng con): Cần chú ý những điều kiện tối thiểu
về việc chuẩn bị bảng con của học sinh Bảng làm bằng chất liệu mica màu trắnghoặc nhựa, dụng cụ viết bằng bút dạ học sinh sẽ không chủ động khi viết chữ
+ Phấn viết, khăn lau bảng và bút viết: Không cho học sinh dùng phấncứng quá hoặc phấn kém phẩm chất Khăn lau bảng cần sạch sẽ, có độ ẩm, đượcgấp lại nhiều lần, độ dày thích hợp Giai đoạn đầu của lớp Một học sinh dùngbút chì đến tuần 8 mới dùng bút kim mực
+ Vở tập viết: Vở tập viết là phương tiện luyện tập thực hành quan trọngcủa học sinh Vở tập viết đã in sẵn chữ mẫu thể hiện nội dung và yêu cầu của bàitập viết Giáo viên cần nắm vững yêu cầu và đặc điểm của từng bài để hướngdẫn cách viết thích hợp
2.3.2 Giải pháp thứ hai: Giáo viên cần nắm vững các yêu cầu về dạy chữ viết cho học sinh lớp 1.
Việc dạy chữ viết cho học sinh được thực hiện ở hai giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Hình thành và xây dựng biểu tượng về chữ viết, giúp các
em hiểu và ghi nhớ được hình dáng, kích thước, quy định viết từng chữ cái
* Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn củng cố, hoàn thiện biểu tượng về chữ
viết thông qua các hình thức luyện tập viết chữ
Yêu cầu cần đạt sau khi hoàn thiện việc dạy chữ viết cho học sinh: Chữviết dễ đọc, dễ biết; Cần đảm bảo phân biệt được giữa chữ này với chữ khác;Cần đảm bảo tính thẩm mĩ; Tạo điều kiện cho việc viết liền mạch để tăng tốc độkhi viết
Để dạy học sinh cách viết đúng các chữ số và các chữ viết thường trướchết cần dạy cho học sinh nắm vững được cấu tạo của các chữ số và chữ viếtthường, cụ thể:
+ Các chữ cái: b, g, h, k, l, y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị; Tức bằng
2 lần rưỡi chiều cao chữ cái ghi nguyên âm
+ Chữ cái: t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị
+ Các chữ cái: r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị
+ Chữ cái: d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị
+ Các chữ cái còn lại: o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, c, n, m, v, x được viết vớichiều cao 1 đơn vị
+ Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị.+ Các chữ số đều có chiều cao là 2 đơn vị
Trong quá trình dạy học sinh thực hành viết, giáo viên cần lưu ý học sinhthực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Tư thế ngồi viết: Tư thế lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi,mắt cách vở 25 – 30 cm; nên cầm bút tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở đểtrang viết không bị xê dịch; hai chân để song song, thoải mái
+ Cách cầm bút: Học sinh cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ vàngón giữa) với độ chắc vừa phải (không cầm bút chặt quá hay lỏng quá): khiviết, dùng ba ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng, từ trái sang phải, cán bútnghiêng về bên phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo, mềm mại,thoải mái
Trang 82.3.3 Giải pháp thứ ba: Phát hiện một số các lỗi thường gặp trong việc thực hành viết các chữ số và chữ viết thường; cách hướng dẫn học sinh lớp 1 ghi nhớ cách viết các chữ số và chữ viết thường một cách hiệu quả
Từ khi bước vào lớp 1 học sinh được làm quen với khái niệm về đường kẻ,dòng kẻ, cấu tạo của các nét cơ bản, cấu tạo của các chữ cái, độ cao, độ rộng,của từng con chữ, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng, cách viết các chữ thường,dấu thanh và các chữ số Trước đó, ở mẫu giáo học sinh mới được làm quen vớiđọc và tô các chữ cái và chữ số
Qua thực tế giảng dạy ở lớp chủ nhiệm vẫn còn đến 10 học sinh khả năngghi nhớ kém, chưa nhận diện hết được cách viết các chữ số và chữ cái trongTiếng Việt Ví dụ: Về chữ số: Em Thanh số 3 không nhận diện được, còn viếtngược số; Em Dũng số 5 không nhận diện được, còn viết ngược số; Em Vy số 4không nhận diện được, còn viết ngược số; Em Giao số 3 không nhận diện được,còn viết ngược số; Em Khánh Trung số 7 không nhận diện được, còn viết ngượcsố; Về chữ cái: em Huy, em Hằng, em Hiền, em Thanh âm “d” còn lẫn lộn với
âm “b”, khi viết còn viết chữ in thường, không đúng với chiều cao của chữ viết;
Em Khang, em Dũng âm “q” còn lẫn lộn với âm “p”, khi viết còn viết chữ inthường, không đúng với chiều cao của chữ viết; Em Thái âm “m” không nhậndiện được, khi viết còn viết chữ in thường, không đúng với chiều cao của chữviết; Em Vy, em Phong âm “g” không nhận diện được, khi viết còn viết chữ inthường, không đúng với chiều cao của chữ viết
Trước thực tế đó tôi đã rất lo lắng và trăn trở Tôi đã trao đổi, đề xuất với
tổ chuyên môn về những băn khoăn, lo lắng của cá nhân, từ đó tìm ra được cáchkhắc phục những tồn tại, hạn chế học sinh thường gặp trong việc viết các chữ số
và chữ viết thường như sau:
* Về dạy viết chữ thường:
Ngay từ tuần học làm quen, GV cần hướng dẫn HS nắm vững các nét cơbản: nét ngang, nét sổ, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc trên, nét móc dưới,nét móc hai đầu (là kết hợp của nét móc trên và nét móc dưới), nét cong hở phải,nét cong hở trái, nét cong khép kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt, nétkhuyết đôi; độ cao độ rộng của từng nét Đồng thời hướng dẫn học sinh nhận rahướng viết của từng nét chữ Hướng dẫn học sinh nắm được các thuật ngữ dòngkẻ: “Dòng kẻ ngang 1, ngang 2, ngang 3, ngang 4, ngang 5; ô li 1, ô li 2, ô li 3, ô
li 4, ô li 5; Đường kẻ ngang trên, ngang dưới của một ô li; Dòng kẻ dọc 1, dòng
kẻ dọc 2, dòng kẻ dọc 3, dòng kẻ dọc 4, dòng kẻ dọc 5” trong vở ô li, vở Tậpviết, trên bảng con, bảng lớp
Dạy Tiếng việt phần âm và dấu thanh, phần vần thì việc hướng dẫn họcsinh luyện viết đều qua 2 bước chính sau:
+ Bước 1: Viết dấu, con chữ, vần đứng riêng: Ở bước này giáo viên cho họcsinh nhận diện các nét có trong dấu, con chữ ( Qua bộ chữ mẫu theo quy địnhcủa Bộ giáo dục) Sau đó giáo viên viết mẫu, học sinh tô trên không trung để cóbiểu tượng con chữ, đến viết vào bảng con thành thạo và cuối cùng cho HS viếtvào vở
Trang 9+ Bước 2: Viết tiếng kết hợp: Khi hướng dẫn học sinh viết tiếng kết hợp cầncho học sinh tìm ra điểm nối nét giữa các con chữ để thực hiện lia phấn, lia bútphù hợp Đặc biệt phần này cần hướng dẫn HS nắm rõ khoảng cách giữa các conchữ để HS nối nét con chữ khác đều nhau.Tương tự viết từ cần cho HS tìm hiểu
rõ khoảng cách viết giữa chữ với chữ
Khi viết tiếng kết hợp có dấu thanh ngay từ những bài đầu giáo viên cầncho HS biết rõ yêu cầu viết dấu thanh đúng vị trí quy định theo từng trường hợp.Trong suốt quá trình dạy hết phần âm, vần thì chốt lại cho HS rõ quy tắc: Tiếngchỉ có âm đầu và một nguyên âm (a, ă ,â, o, ô, ơ, e, ê, i, u, ư) thì viết vào nguyên
âm Tiếng có âm đầu và vần thì viết vào âm chính của vần Tiếng không có âmđầu có vần là hai nguyên âm thì viết vào nguyên âm đứng sau
Để thuận tiện cho việc ghi nhớ các chữ viết, giáo viên chia 29 chữ cáithành ba nhóm:
+ Nhóm 1: Gồm các chữ: m, n, u, ư, i, t, v,r, p
+ Nhóm 2: Gồm các chữ: b, l, h, k, y
+ Nhóm 3: Gồm các chữ: o, ô, ơ, a, ă, â, c, x, d, đ, q, g, e, ê, s
Ở nhóm 1: Học sinh thường hay viết chưa đúng nét nối giữa các nét, nétmóc thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường bị choãi chân ra không đúng
Ở nhóm 2: Học sinh thường hay viết chưa đúng ở các nét khuyết trên vàkhuyết dưới
Ở nhóm 3: Học sinh thường hay viết chưa đúng chữ o chiều ngang quárộng hoặc quá hẹp, nét chữ không tròn đều đầu to, đầu bé, chữ o méo
Cách khắc phục: Cho học sinh luyện viết nét thành thạo, sau đó mới choghép các nét thành chữ Đối với các nét có chữ o cần cho học sinh chấm 4 góc,sau đó kéo lại chữ sẽ đúng và đẹp Khi ghép chữ luôn nhắc học sinh chú ý điểmđặt bút, điểm dừng bút, độ cao, độ rộng của mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp
Đối với những học sinh tiếp thu nhanh, giáo viên hướng dẫn một lần làcác em đã nắm được cách viết Riêng đối với những học sinh tiếp thu chậm, cònlẫn lộn giữa cách viết chữ viết thường và chữ in giáo viên cần phải kiên trì, quantâm đến các em nhiều hơn trong các tiết học Tôi đã lọc ra nhóm các đối tượngchậm tiến để kèm cặp, phụ đạo thêm ngoài giờ học (3 buổi chiều/tuần)
Ngoài ra, cuối mỗi tuần tôi đều ra thêm một bộ đề về luyện viết các chữthường, những học sinh như: Em Văn Trung, Khánh Trung, Hằng, Thái, Phong,
Vy, Dũng, Hiền, Khang, Thái được giao riêng phần luyện viết – chỉ bao gồm cácchữ hay viết sai, lẫn lộn
* Về dạy viết các chữ số:
Để giúp học sinh ghi nhớ và thực hiện tốt phần dạy viết các chữ số từ 0
-9 ở lớp 1, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện qua các bước: quan sát kĩ
số mẫu, nhận ra các nét có ở từng số, giáo viên viết mẫu, HS tô trên không trung
để nhận ra biểu tượng, hướng viết nét ở các số, sau đó cho HS luyện viết nhiềulần vào bảng con và cuối cùng thực hiện viết vào vở Viết số có 1 chữ số chữ cầnlưu ý học sinh viết theo quy định tất cả các chữ số đều cao 2 li và rộng 1 li (riêng
số 1 rộng nửa li)
Qua thực tế dạy trên lớp vẫn còn một số học sinh hay viết nhầm số 3, số
Trang 104, số 5 và số 7 vì trong bốn số này số 3 và số 7 có nét cong tròn hở trái, mả họcsinh thường thuận viết nét cong tròn hở phải Để khắc phục lỗi này GV phải cho
HS quan sát kĩ lại số mẫu để ghi nhớ và cho học sinh luyện viết nhiều lần vàobảng con, đồng thời trong các tiết học Toán giáo viên cần nhắc những HS nàylưu ý để không bị nhầm Riêng đối với số 4 và số 7 học sinh vì chưa nắm đượcquy trình viết nên còn viết sai Để khắc phục lỗi sai về cách viết chữ số 4 và chữ
số 7, mỗi khi viết bảng giáo viên nhắc lại quy trình viết để học sinh nắm lại: Số
4 gồm 1 nét xiên trái, 1 nét ngang, 1 nét sổ thẳng; số 7 gồm 1 nét ngang và 1 nétxiên, nếu vẫn còn học sinh viết sai, giáo viên yêu cầu học sinh nêu lại cách viếtnhiều lần và thực hành theo các bước đã nêu
Ngoài ra, cuối mỗi tuần tôi đều ra thêm một bài luyện viết về các chữ sốcho học sinh nhằm củng cố và khắc sâu cách viết
Ngoài việc dạy cho học sinh cách viết đúng các chữ số và chữ viếtthường, giáo viên cần quan tâm thường xuyên đến tư thế ngồi viết của học sinh,cách cầm bút của từng em, nhắc nhở các em thường xuyên thực hiện đúng cả khiviết ở trường cũng như ở nhà để phòng tránh các bệnh về cong vẹo cột sống, tạocho các em thói quen để các em tiếp tục thực hiện tốt khi lên các lớp học trên.Giáo viên phải thường xuyên chú ý học sinh cách cầm bút (tránh tình trạng họcsinh viết bằng tay trái, cầm bút bằng bốn ngón tay,…)
2.3.4 Giải pháp thứ tư: Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong việc rèn kĩ năng viết đúng các chữ số và chữ viết thường cho học sinh lớp 1.
Đề nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh trong các giờ học Tiếng Việt,tôi đã sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực sau:
2.3.4.1 Phương pháp trực quan:
Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ viết và số cho các em bằng nhiềucon đường: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập Điều này giúp các em chủđộng phân tích hình dáng, kích thước và cấu tạo theo mẫu chữ, tìm sự giốngnhau và khác nhau của chữ cái đã học trước đó trong cùng một nhóm bằng thaotác so sánh tương đồng
Ví dụ khi dạy bài Âm h, l hoặc các chữ số từ 0 - 9, tôi đã sử dụng mẫu
chữ viết theo Quyết định 31/2002/QĐ-BGDĐT ngày 14 tháng 6 năm 2002 để
hướng dẫn học sinh cách viết chữ h, l Trong khi cho học sinh quan sát mẫu chữ
viết thường, tôi kết hợp nêu quy trình viết ; học sinh xác định độ cao, độ rộng,
cấu tạo nét của chữ h, l, các chữ số từ 0 – 9; học sinh quan sát chữ mẫu và chữ
viết của giáo viên trên bảng để ghi nhớ được cỡ chữ, cách viết chữ, vị trí vàkhoảng cách giữa các chữ và số
Chữ mẫu của giáo viên viết trên bảng sẽ giúp học sinh nắm được thứ tựcác nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong 1 chữ nhằm đảm bảoyêu cầu viết liền mạch, viết nhanh
Ngoài ra, chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được quan sátnhư một loại chữ mẫu, vì thế giáo viên cần ý thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõràng để học sinh học tập
2.3.4.2 Phương pháp đàm thoại gợi mở: