1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc trưng của văn hóa nhà nước – dân tộc Việt Nam và các giải pháp đảm bảo chủ quyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa

15 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 318,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM ĐỀ BÀI: Đề bài số 9: “Đặc trưng của văn hóa nhà nước – dân tộc Việt Nam và các giải pháp đảm bảo chủ

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM

ĐỀ BÀI:

Đề bài số 9: “Đặc trưng của văn hóa nhà nước – dân tộc Việt Nam và các giải pháp đảm bảo chủ quyền dân tộc trong bối

cảnh toàn cầu hóa”.

Tên sinh viên: Vương Đức Khảm

Mã sinh viên: 451302 Lớp: N02- TL2

Trang 2

MỤC LỤC

Contents

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 3

I ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA NHÀ NƯỚC – DÂN TỘC VIỆT NAM 3

1 Khái niệm nhà nước – dân tộc 3

2 Đặc trưng văn hóa nhà nước - dân tộc ở Việt Nam 6

3 Chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam 7

II GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHỦ QUYỀN DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA 8

1 Chủ quyền dân tộc, toàn cầu hóa 8

2 Giải pháp đảm bảo chủ quyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa 8

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

MỞ ĐẦU

Bản sắc văn hóa của một quốc gia được thể hiện thông qua các yếu tố cấu thành nên nó một trong số đó là văn hóa nhà nước – dân tộc Khi hiểu được những giá trị của những yếu tố cấu thành nên bản sắc văn hóa đó ta có thể đưa ra được những giải pháp nhằm đảm bảo chủ quyền dân tộc của một quốc gia trong bối cảnh

toàn cầu hóa Để hiểu hơn về vấn đề này em xin chọn phân tích đề bài số 9: “Đặc trưng của văn hóa nhà nước – dân tộc Việt Nam và các giải pháp đảm bảo chủ quyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa”

Dưới đây là phần trình bày của em, bài làm còn nhiều thiếu sót mong nhận được sự góp ý từ thầy cô để hoàn thiện hơn và rút kinh nghiệm cho những bài tập lần sau Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA NHÀ NƯỚC – DÂN TỘC VIỆT NAM 1

1 Khái niệm nhà nước – dân tộc

1.1 Ở các nước phương Tây

Nhà nước – dân tộc là thuật ngữ riêng của nền chính trị phương Tây dùng để chỉ nhà nước hậu trung cổ ở châu Âu, được lấy theo mốc ước định là Hòa ước Westphalia (1648), từ thời điểm đó quyền lực nhà nước được tách ra khỏi quyền lực Giáo hội và có được tính tối cao so với tất cả các nguồn quyền lực khác trong phạm vi lãnh thổ mà nó quản lý Mô hình nhà nước – dân tộc được phân biệt với các mô hình nhà nước đã từng tồn tại trong lịch sử bởi tính chất, quy mô cộng đồng

mà nó quản lý

Van hóa – Thông tin

Trang 4

Giá trị nền tảng của mô hình nhà nước – dân tộc gồm bốn yếu tố đó là: quan niệm về lãnh thổ, về xã hội công dân, về tổ chức chính quyền và về chủ quyền

+ Lãnh thổ quốc gia là ranh giới tuyệt đối để phân định với môi trường bên trong với môi trường vô chính phủ bên ngoài Dấu hiệu này cho thấy nhà nước – dân tộc như một đơn tử

+ Ý niệm về xã hội công dân và công bằng được xác định

+ Có chính quyền trung ương riêng ở khuôn khổ mỗi quốc gia

+ Trong không gian của quốc gia ấy quyền lực của chính quyền trung ương

là tối cao

Xét từ góc độ lịch sử khái niệm nhà nước – dân tộc và chủ quyền quốc gia là khái niệm riêng có của nền văn minh phương Tây Chúng mới chỉ được chia sẻ đến các dân tộc khác đầu thế kỉ XX, được gắn liền với phong trào đấu tranh giải phong dân tộc Ngày nay hầu như tất cả các nhà nước trên thế giới đều tổ chức theo mô hình này

1.2 Ở các nước phương Đông

Trong lịch sử, quá trình hình thành và tổ chức nhà nước ở phương Đông khác hẳn các nước phương Tây

+ Đối với các nhà nước phương Đông ý nghĩa của việc phân định lãnh thổ là không lớn – do lãnh thổ thường xuyên được tách ra, cắt xẻ và sáp nhập trong các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau

+ Ở phương Đông cổ đại và cận đại không có ý niệm xã hội công dân mà là

xã hội thần dân

Trang 5

+ Ở các nước phương Đông được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền.

+ Ý niệm về chủ quyền quốc gia, dân tộc thường rất mờ nhạt ở các nước phương Đông, hầu như chỉ tồn tại mối quan hệ giữa “Thiên triều” và các nước

“Chư hầu”

Nếu dựa vào nội dung khái niệm nhà nước – dân tộc thì có thể khẳng định rằng không tồn tại mô hình nhà nước – dân tộc ở phương Đông trong thời kì lịch sử

cổ đại, trung đại, cận đại Bởi vậy không thể nghiên cứu nhà nước – dân tộc ở phương Đông Tuy nhiên tính phổ quát của lịch sử không loại trừ những đặc thù và biệt lệ Nhiều bằng chứng lịch sử chỉ ra rằng, một số ít nhà nước ở phương Đông đã đạt được những tiêu chí nhất định để xác định như nhà nước – dân tộc Và Việt Nam là một trong ít số đó

Trước tiên chúng ta cùng làm rõ đặc trưng riêng của nhà nước ở phương Đông để từ đó thấy được cái đặc trưng của văn hóa nhà nước – dân tộc Việt Nam

Ở Trung Quốc trong thời kì cổ đại, trung đại và cận đại đây là một nhà nước

đế chế phong kiến tiêu biểu ở phương Đông Trong quan niệm của người Trung Quốc:

+ Lãnh thổ đất nước là đất phong dưới quyền sở hữu của người cầm đầu theo thứ tự lớn nhỏ Đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà vua Vua là “thiên tử” con của trời nên những thứ gì tồn tại trong lãnh thổ đó thậm chí các nước nhỏ hơn xung quanh đều là của vua Họ coi mình là “Thiên triều” và các nước láng giếng lân bang họ là “Chư hầu” hàng năm phải “triều cống” lễ vật và những người đứng đầu những nước láng giềng chỉ được xưng “vương”

+ Trong khuôn khổ đó con người là “thần dân” của vua

Trang 6

+ Tổ chức chính quyền theo nguyên tắc quân chủ chuyên chế xoay quanh vị quân vương xưng là “Hoàng đế”

2 Đặc trưng văn hóa nhà nước - dân tộc ở Việt Nam

Ý niệm về “nước”, về “lãnh thổ”, về “dân tộc”, về “chủ quyền” của người Việt đã ra đời từ rất sớm và thường xuyên được hun đúc trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm Những yếu tố đó đã hình thành nên một truyền thống văn hóa nhà nước và dân tộc riêng có của Việt Nam

+ Ở Việt Nam, đất nước không phải của vua hay bất cứ dòng họ nào mà là đất nước của nhân Các vùng đất khác nhau được cai quản bởi các phìa tạo, không theo chế độ cha truyền con nối Khi có quân xâm lược các phìa tạo hợp với nhau để cùng chống giặc đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi Vì vậy ông vua Việt Nam chỉ là một thủ lĩnh mang tính chất danh nghĩa, không có quyền cai trị đất đai ngoài vùng của mình

+ Thái độ của người Việt Nam đối với đất nước khác hoàn toàn so với người Trung Quốc hay châu Âu: các vị vua của Việt Nam không thể cắt đất của làng xã

để phong cho hầu cho những kẻ có công Vì người Việt Nam sống ở vùng đất trẻ, nhiều đồi núi, đầm lầy, kênh rạch, sông ngòi họ phải tiến hành khai hoang trị thủy

Do đó đất đai lãnh thổ không phải cái có sẵn một cách tự nhiện, thâm chí phải đấu tranh “tạo ra” mới có được

+ Người Việt Nam trung với nước là trung với vùng đất mà họ sinh sồng chứ không phải một dòng tộc nào cả Lịch sử Việt Nam đã chứng minh hễ ai có thể lãnh đạo các tộc người trong nước chống được ngoại xâm thì người đó được tôn vinh làm vua bất luận người đó xuất thân như nào

Trang 7

Qua những đặc điểm đó ta có thể kết luận văn hóa nhà nước – dân tộc ở Việt Nam có những đặc trưng riêng biệt khác các nước trong khu vực và trên thế giới

Và để tạo nên sự khác đó chính là nhờ vào chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam

3 Chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam

Chủ nghĩa yêu nước là sức mạnh là “chất keo kết dính” các tộc người để tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vượt qua những thời khắc khó khăn của đất nước Chủ nghĩa yêu nước không phải chỉ có ở người Việt Nam nhưng sự khác biệt so với các dân tộc khác chính là ở những sức mạnh cấu thành chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam:

+ Sức mạnh Phật giáo

Để có thể chống lại sức mạnh đồng hóa của một nền văn hóa phát triền cao như Trung Quốc, người Việt Nam đã viện đến một nền văn hóa có một tầm vóc kì

vĩ không kém đó là Ấn Độ mà cụ thể trong trường hợp này là Phật giáo Tính bình đẳng, nhân từ, dung chấp của Phật giáo dễ dàng len lỏi, thâm nhập vào tiềm thưc người Việt bằng con đường hòa bình để rồi chuyển hóa tâm thức của dân tộc này

Hiện tượng Thiền tông trở thành dòng Phật giáo thống trị ở Việt Nam, trong khi các nước cận kề thiên về tiểu thừa Để cho ta thấy người Việt Nam cần một thứ tôn giáo bình dân nhập thế, có tác dụng thiết thực trong công cuộn dựng nước và giữ nước

+ Sức mạnh của truyền thuyết “Cha rồng mẹ Tiên – truyện 100 trừng” tưng ứng với tộc người Bách Việt

Trang 8

+ Áp lực từ hoàn cảnh tự nhiên và điều kiện địa lý đối với đời sống các dân tộc cư trú trên lãnh thổ Việt Nam

+ Sức mạnh về ý thức chủ quyền quốc gia ở người Việt Nam Người Việt Nam ý thức chủ quyền quốc gia rất sớm, có thể nói là vào loại sớm nhất trong lịch

sử nhân loại Điều này được chứng minh qua các tài liệu văn kiện lịch sử dân tộc như: “ Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt; “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn và đặc biệt “Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi

II GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHỦ QUYỀN DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH

TOÀN CẦU HÓA

1 Chủ quyền dân tộc, toàn cầu hóa

+ Chủ quyền dân tộc là quyền làm chủ vận mệnh, quyền độc lập, tự quyết tuyệt đối mọi vấn đề của một dân tộc trong khuôn khổ lãnh thổ của chính mình, đây

là quyền tối cao, thiêng liêng bất khả xâm phạm của một dân tộc

+ Toàn cầu hóa là một hệ quả quan trọng của cuộc cách mạng khóa học kĩ thuật từ đầu nhưng năm 80 của thể kỉ XX Xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới2

Toàn cầu hóa là một xu thế phát triển khách quan, đối với các nước đang phát triển đây vừa là cơ hội vừa là thách thức để phát triển và thách thức lớn nhất

mà xu thế toàn cầu hóa ảnh hưởng đến một dân tộc, một quốc gia chính là chủ quyền, nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và xâm phạm nền độc lập tự chủ Và từ

đó chúng ta phải có giải pháp để đảm bảo chủ quyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa

Trang 9

2 Giải pháp đảm bảo chủ quyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa

Sự lãnh đạo của nhà nước: ở mỗi quốc gia, dân tộc đều có một tổ chức đứng

ra lãnh đạo và quản lí xã hội đó chính là nhà nước, nhà nước cần nhận thức rõ được tầm quan trọng của chủ quyền dân tộc Khi bước vào xu thế toàn cầu hóa, không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các quốc gia, các dân tộc trên thế giới đều cố gắng thực hiện khẩu hiệu “Hòa nhập chứ không hòa tan” tức là chúng ta sẽ tiếp nhận những cái văn minh, tiến bộ, phát triển những vẫn đảm bảo giữ vững được cái riêng, cái vốn có

Phát huy tốt hơn nữa chủ nghĩa yêu nước: Việt Nam là một quốc gia, dân tộc

trải qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Dân tộc ta có một truyền thống yêu nước mạnh mẽ và một lòng nồng nàn yêu nước Phải khơi dậy lòng yêu nước không chỉ trong thời kì đất nước lâm nguy mà ngay cả trong thời bình, chủ nghĩa yêu nước cũng phải phát huy được như xây dựng phát triển kinh tế đất nước cũng là yêu nước, ra sức học tâp, rèn luyện phát triển cũng là yêu nước

Phát triển kinh tế song hành phát triển phát triển văn hóa dân tộc: trong bối

cảnh toàn cầu hóa các dân tộc trên thế giới lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm, sự giao lưu mở rộng của các nền kinh tế trên giới sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến chính nền văn hóa của dân tộc đó Và quy luật của tự nhiên là những nền văn hóa lớn sẽ có sức mạnh “đồng hóa” những nền văn hóa nhỏ, yếu hơn Và khi một dân tộc, quốc gia đánh mất bản sắc văn hóa của chính mình là một điều vô cùng nguy hiểm Khi phát triển kinh tế đến một giai đoạn nhất định các quốc gia, dân tộc trên thế giới sẽ cạnh tranh về văn hóa lúc đó sức mạnh về văn hóa sẽ có sức quyết định rất lớn

Trang 10

Cần phát huy năng lực nội tại: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ

ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”3 trong thời chiến tranh hay thời bình cũng cần phải phát huy được các năng lực nội tại của chính mình từ chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội để không bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào các dân tộc, các quốc gia lớn hơn Việt Nam có lợi thế là một dân tộc, quốc gia đa

số người dân có chung nguồn gốc cả về tự nhiên và văn hóa nên các chính sách của nhà nước dễ dàng đi sâu thâm nhập vào đời sống nhân dân

KẾT LUẬN

Đặc trưng của văn hóa nhà nước – dân tộc và các giải pháp đảm bảo chủ quyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa là một vấn hết sức nóng bỏng, không chỉ

ở Việt Nam mà còn là vấn đế quan trong của các dân tộc, quốc gia trên thế giới Các quốc gia, dân tộc cần nhận thực rõ hơn vấn đề này để phát triền toàn diện hơn nữa

Trang 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đại cương về văn hóa Việt Nam, TS Phạm Việt Thái (Chủ biên), TS.

Đào Ngọc Tuấn, Nhà xuất bản Van hóa – Thông tin

2 Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12, NXB Giáo dục Việt Nam.

3 “Bài nói chuyện tại hội nghị chiến tranh du kích” ngày 13 tháng 7 năm

1952 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 10/02/2022, 16:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w