1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

De cuong Mon Luat Dan su

22 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 119,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 624 BLDS (2005) quy định “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của PL, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm mô[r]

Trang 1

LUẬT DÂN SỰ 2 Câu 1 Khái niệm, bản chất của hợp đồng.

* Khái niệm hợp đồng: Pháp lệnh Hợp đồng dân sự được ban hành (có hiệu lực từ

01.7.1991) thì khái niệm hợp đồng dân sự được quy định như sau: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa

thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên về

việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay,

mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà

trong đó một trong các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng"

Điều 394 BLDS 1995 và Điều 388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp đồng dân sự khái

quát, ngắn gọn như sau: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay

đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự"

Như vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng chỉ xác định là sự thỏa

thuận khi cam kết các bên thực sự phù hợp với mong muốn của họ Nguyên tắc này tồn tại trong

PL hợp đồng của các nước Hợp đồng được xác lập do bị đe dọa, lừa dối, nhầm lẫn, là không

phù hợp với ý muốn của các bên Việc xác định các bên có mong muốn thực sự khi tham gia vào

quan hệ hợp đồng trong thực tiễn hết sức khó khăn Do vậy, khi giải quyết các cơ quan có thẩm

quyền cần phải dựa vào những biểu hiện khách quan (những hành vi biểu hiện ra bên ngoài, cán

cứ khác, ) để xác định mong muốn thực sự của các bên giao kết

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, Nhà nước thừa nhận

nhiều hình thức sở hữu, nhiều chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có quyền tự do

kinh doanh theo quy định của PL nên các loại hợp đồng ngày càng đa dạng, phong phú Từ ngày

01.01.2006 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế hết hiệu lực nên các hợp đồng về kinh doanh, thương

mại đều được điều chỉnh bởi BLDS và các văn bản PL chuyên ngành

* Như đã được thể hiện trong khái niệm hợp đồng, bản chất của hợp đồng được tạo nên

bởi hai yếu tố pháp lý là sự thỏa thuận và sự ràng buộc pháp lý giữa các bên:

- Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên

Hợp đồng là một giao dịch có nhiều bên tham gia để tạo lập sự ràng buộc pháp lý với

nhau dựa trên sự cam kết, thỏa thuận Bởi vậy, mặc dù trong luật thực định và trong lý luận có

nhiều định nghĩa khác nhau về hợp đồng, nhưng chung qui lại, tất cả các định nghĩa đó đều thể

hiện một quan điểm nhất quán là luôn xem sự thỏa thuận giữa các bên là một trong các yếu tố

thể hiện bản chất của hợp đồng

Yếu tố thỏa thuận vừa là nguồn gốc, vừa là cơ sở nền tảng tạo nên hợp đồng

Không có hợp đồng nào mà không do thỏa thuận và không có hợp đồng nào được tạo ra

mà thiếu yếu tố thỏa thuận Bởi vậy, do đó tiền đề của hợp đồng là sự thỏa thuận

Trên phương diện pháp lý, để có thể hình thành nên hợp đồng, PL quy định các bên tham

gia cùng thương lượng, trao đổi, bàn bạc để đi đến sự nhất trí chung, dựa trên sự đề nghị của

một bên và sự chấp nhận hoàn toàn của bên kia Nhưng sự thỏa thuận với tư cách là một yếu tố

thể hiện bản chất của hợp đồng còn có ý nghĩa tích cực hơn, so với các khái niệm thương lượng,

bàn bạc, đồng ý Nếu khái niệm "thương lượng" hay "bàn bạc" dùng để chỉ quá trình thương

thuyết, giao dịch giữa các bên và khái niệm "đồng ý" dùng để chỉ kết quả của quá trình đó, thì

khái niệm "thỏa thuận" ở đây được hiểu là toàn bộ quá trình, từ sự thương lượng đến sự "thống

nhất ý chí" Đó là quá trình "dung hòa" giữa ý chí các bên, đi từ sự đồng ý của từng bên, đến sự

hiệp ý hay gặp gỡ ý chí của hai hay nhiều bên khác nhau, nhằm đạt được "sự nhất trí chung",

hay "sự đồng thuận" giữa hai hay nhiều bên đó Ngoài ra, thỏa thuận chỉ có thể làm phát sinh

hiệu lực ràng buộc đối với các bên nếu tuân thủ các yêu cầu do PL qui định như điều kiện về

chủ thể,điều kiện về nội dung và mục đích, điều kiện về sự tự nguyện, và điều kiện về hình thức

hợp đồng trong trường hợp PL có qui định Đây gọi là các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Tóm lại, thông qua sự thỏa thuận các bên đã làm nên hợp đồng, tức làm phát sinh, thay

đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng Vì vậy, thỏa thuận vừa là tiền đề

làm nên hợp đồng, vừa là yếu tố cơ bản cho sự tồn hợp đồng

- Hợp đồng là thỏa thuận để tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các bên

Không phải sự thỏa thuận nào đều là hợp đồng, nếu không tạo nên hiệu lực ràng buộc

giữa các bên Bởi vậy, dấu hiệu thứ hai thể hiện bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các

bên phải nhằm tạo ra một sự ràng buộc pháp lý, tức là sáng tạo ra các quyền và nghĩa vụ mới,

ngoài những quyền và nghĩa vụ luật định, hoặc làm thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ

ấy Cũng có những thỏa thuận đặt các bên vào một quan hệ nghĩa vụ luật định,chẳng hạn như

các thỏa thuận kết hôn, thỏa thuận về việc nuôi con nuôi Theo qui định của PL Việt Nam hiện

hành, các cam kết đó không phải là hợp đồng Quan điểm của các luật gia cũng thừa nhận đây

chỉ là những thỏa thuận tư nhân nhằm "thừa nhận một qui chế pháp định", chấp nhận thực hiện

các nghĩa vụ "luật định sẵn", chứ không phải là hợp đồng

Vì vậy, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng không phải sự thỏa thuận

nào của các bên cũng là hợp đồng Chỉ những thỏa thuận tạo ra một sự ràng buộc pháp lý mới

được coi là hợp đồng Bởi vậy, "sự thỏa thuận" và "sự tạo ra một ràng buộc pháp lý" là hai dấu

hiệu cơ bản tạo nên bản chất của hợp đồng Nghiên cứu bản chất hợp đồng là tiền đề lý luận để

xác định các

Điều kiện có hiệu lực (hay tính hợp pháp) của hợp đồng, nguyên tắc tự do hợp đồng, giá

trị pháp lý của hợp đồng, trình tự giao kết hợp đồng, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và các

vấn đề pháp lý quan trọng khác của chế định hợp đồng, đặc biệt là hiệu lực hợp đồng

Câu 2 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.

Theo Điều 121 BLDS thì giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương

làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

Hành vi pháp lý đơn phương chỉ thể hiện ý chí của một bên chủ thể thì hợp đồng dân sự là

sự thể hiện ý chí đa phương (ít nhất là hai bên chủ thể) thông qua sự thoả thuận, hay nói cách

khác các bên phải thông nhất ý chí với nhau để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và

nghĩa vụ

Theo quy định tại Điều 122 thì một giao dịch dân sự (gồm cả hợp đồng) được PL thừa

nhận có hiệu lực pháp lý khi đảm bảo các điều kiện sau:

Điều kiện 1: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự (khoản 1)

Thuật ngữ "người" ở đây được hiểu là các chủ thể của quan hệ PL dân sự: cá nhân, pháp

nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác Các chủ thể này phải có đủ tư cách chủ thể theo qui định của PL

dân sự

Xác định tư cách chủ thể thực chất là xác định ý chí (mong muốn) đích thực của các chủ

thể tham gia vào giao dịch dân sự, nếu không đảm bảo tư cách chủ thể thì không thể hiện hết

yếu tố ý chí nên giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu Do vậy, năng lực hành vi dân sự của

từng chủ thể được xem xét như sau:

* Đối với cá nhân: giao dịch dân sự có hiệu lực khi phù hợp với mức độ hành vi dân sự

của cá nhân bởi lẽ, bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các

chủ thể tham gia vào giao dịch đó Trong xã hội những cá nhân khác nhau có những nhận thức

khác nhau về hành vi và hậu quả của hành vi do họ thực hiện Việc nhận thức và làm chủ hành

vi của cá nhân dựa vào ý chí - lý trí - độ tuổi nghĩa là "khả năng hiểu và làm chủ của chính họ"

Như vậy, xem xét tư cách của chủ thể của cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định yếu

tố ý chí, nên BLDS qui định năng lực hành vi của cá nhân với nhiều mức độ khác nhau tương

ứng với mức độ thể hiện mong muốn của họ

+ Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên có khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi của

mình có quyền tự mình tham gia mọi giao dịch dân sự , bởi lẽ những người này khi tham gia các

giao dịch dân sự họ có khả năng tự mình thể hiện mong muốn đầy đủ, toàn diện

+ Đối với người đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền tự mình tham gia giao dịch dân

sự nhỏ phục vụ nhu cầu hàng ngày Đối với những giao dịch liên quan đến tài sản có giá trịnhỏ họ có đủ khả năng nhận thức mà không cần thông qua người đại diện như học sinh (13tuổi) mua đồ dùng học tập có thể nhận thức được giá cả, chất lượng, đối với những giao dịchdân sự có giá trị lớn thì phải thông qua người đại diện theo PL mới coi là hợp pháp, nếu khôngthì giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệu

+ Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự thìtrong một số trường hợp họ có thể thực hiện những hành vi nhưng PL không cho phép họ tựmình tham gia giao dịch dân sự mà phải thông qua người đại diện theo PL Đối với nhữngngười này do họ không có hoặc chưa có khả năng nhận thức để xác lập giao dịch dân sự, dovậy ý chí của hộ trong giao dịch dân sự chính là ý chí của người đại diện theo PL PL qui địnhngười đại diện phải có đủ tư cách mới được đại diện cho người mất năng lực hành vi dân sự,người không có năng lực hành vi dân sự trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự + Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì họ vẫn có khả năng nhận thức vàđiều khiển được hành vi nhưng khi có những căn cứ tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự và có yêu cầu thì TA tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Các giao dịch dân sự liênquan đến tài sản của người này phải được người đại diện theo PL đồng ý mới có hiệu lực PL,nếu không có sự đồng ý thì giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu Qui định của PL dân sự nhằmđảm bảo sự kiểm soát của người đại diện theo PL, hạn chế việc tẩu tán tài sản để hút sách hoặcxác lập hợp đồng trong tình trạng lên cơn nghiện nên không thể nhận thức được toàn diệnđược

Đối với trường hợp xác lập các giao dịch DS vào đúng thời điểm không thể nhận thức,điều khiển được hành vi của mình, thì có thể yêu cầu TA tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

- Trong các giao dịch dân sự có đối tượng là tài sản thuộc sở hữu chung, hợp nhất củanhiều người thì việc xác lập giao dịch dân sự ngoài đảm bảo tư cách chủ thể của mình cònphải có đủ tư cách đại diện cho các đồng sở hữu chủ khác Chẳng hạn: bán nhà thuộc sở hữuchung hợp nhất phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các chủ sở hữu, việc xác lập, thựchiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn phải được vợ,chồng bàn bạc thoả thuận (Điều 28, khoản 3 Luật HNGĐ) Trong trường hợp này nếu chỉ cómột người đứng ra xác lập thực hiện giao dịch dân sự thì phải được sự uỷ quyền hoặc đồng ýcủa các chủ đồng sở hữu khác Nếu không được sự đồng ý mà tự mình định đoạt toàn bộ tàisản chung hợp nhất thì phần giao dịch dân sự có thể vô hiệu (toàn bộ hoặc một phần)

* Đối với các chủ thể khác như pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì phải bảo đảm tưcách chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Khi tham gia giao dịch dân sự các chủ thể nàythông qua người đại diện (đại diện theo PL hoặc đại diện theo uỷ quyền) Y chí của các chủ thểnày trong giao dịch dân sự chính là ý chí của người đại diện hợp pháp phù hợp với phạm vi,mục đích hoạt động do PL qui định Trong trường hợp giao dịch dân sự do người không cóthẩm quyền xác lập, thực hiện hoặc do người đại diện xác lập vượt quá thẩm quyền thì khônglàm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện mà đây chính là trách nhiệm của

cá nhân đã xác lập, trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận Đối với hộ gia đình thìngười đại diện theo PL là chủ hộ, nhưng PL chỉ cho phép chủ hộ đại diện hợp pháp trong một

số quan hệ liên quan đến QSDĐ, SX nông-lâm- ngư nghiệp, vay vốn, còn đối với các giaodịch dân sự liên quan đến tài sản khác không coi là người đại diện theo PL

Như vậy, xác định tư cách chủ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định ý chí đíchthực của các chủ thể, đây là cơ sở xác định giá trị pháp lý của giao dịch dân sự

Điều kiện 2: Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của PL,không trái đạo đức xã hội (Khoản 2)

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà các bên mong muốn đạt tới khi xác lập giaodịch dân sự

Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản cam kết trong giao dịch, quiđịnh các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể

Trong trường hợp giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm qui định của PLdân sự nói riêng, PL nói chung hoặc trái đạo đức xã hội thì không được thừa nhận, không làmphát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên: mua bán tài sản PL cấm (mua bán đất đai, matuý), cho vay tiền để đánh bạc, đòi các khoản tiền do việc bán dâm, đánh bạc mang lại

ĐK 3: Người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện (K3)Bản chất của quan hệ dân sự mang yếu tố ý chí, đó là sự thống nhất ý chí của các chủthể tham gia Do vậy, muốn xác định các chủ thể có tự nguyện hay không cần dựa vào sựthống nhất biện chứng giữa hai yếu tố: ý chí và bày tỏ ý chí Đây là hai mặt của một vấn đề cóquan hệ khăng khít với nhau Sự tự nguyện hoàn toàn đó chính là sự thống nhất ý chí bên trong

và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài; chỉ khi sự biểu lộ ý chí ra bên ngoài phản ánh khách quan,trung thực những mong muốn bên trong của các chủ thể mới coi là tự nguyện Nếu thiếu sự tựnguyện thì trái với bản chất của giao dịch dân sự và giao dịch dân sự có thể bị coi là vô hiệutrong trường hợp sau:

+ Giao dịch dân sự giả tạo: là giao dịch dân sự nhằm che dấu một giao dịch dân sự khácthì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che dấu vẫn có hiệu lực nếu giao dịch đó tuânthủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực được qui định tại điều 121, trừ trường hợp giao dịch đókhông nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên thì cũng vô hiệu Chẳng hạn: haibên xác lập hợp đồng mua bán tài sản, nhưng thực chất là tặng cho (còn gọi là hợp đồng giảcách) thì hợp đồng tặng cho vẫn có giá trị pháp lý hoặc trường hợp để trốn tránh nghĩa vụ trả

nợ hai bên xác lập hợp động mua bán tài sản nhưng thực chất bên kia chỉ giữ hộ tài sản màkhông làm phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán (còn gọi là hợp đồng tưởngtượng) Như vậy, giả tạo còn được hiểu là không có sự thoả thuận và thống nhất ý chí của cácbên nhằm làm phát sinh một quan hệ hợp đồng thực tế mà những loại giao dịch này thườngnhằm mục đích che dấu, trốn tránh PL

+ Giao dịch dân sự được xác lập do nhầm lẫn là trường hợp các bên hình dung sai vềchủ thể hoặc nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặccho bên kia Do nhầm lẫn mà làm mất đi tính chất thoả thuận không phải là mong muốn đạttới Nhầm lẫn có thể dưới những dạng sau:

+ Giao dịch dân sự được xác lập do bị lừa dối, đe doạ Lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia nhằm làm cho bên kia hiểusai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giaodịch đó Do vậy, khác với nhầm lẫn thì lừa dối do thủ đoạn cố ý của một bên làm cho bên kiatin tưởng nên thúc đẩy việc xác lập giao dịch dân sự

Tuy nhiên, việc xác định lừa dối trong thực tiễn hết sức khó khăn, thông thường dựa vàocác căn cứ sau:

- Có sự giới thiệu và có sai lệch trong sự giới thiệu đó

- Người giới thiệu biết sự sai lệch nhưng bỏ qua sự thật

- Người nghe không biết sự sai lệch nên tin vào sự giới thiệu

- Có thiệt hại xảy ra của một bên do sự giới thiệu

Theo qui định của Luật Dân sự các nước thì phân thành lừa dối trực diện ( giao dịch vôhiệu) và lừa dối không trực diện (giao dịch có thể bị vô hiệu) (Luật dân sự Pháp)

Trang 2

Giao dịch dân sự được xác lập do bị đe doạ Đe doạ trong giao dịch dân sự là hành vi cố

ý, có ý thức của một bên làm cho bên kia sợ hãi mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh

những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những

người thân thích Giao dịch dân sự được xác lập do bị đe doạ không phù hợp với lợi ích của bên

bị đe doạ, nói cách khác thiếu sự thể hiện ý chí đích thực của các chủ thể tham gia giao dịch

Các căn cứ để xác định giao dịch DS có sự đe doạ bao gồm:

- Có sự sợ hãi ( về thể chất hoặc tinh thần)

- Có hành vi cố ý đe doạ của một bên

- Sự đe doạ là bất hợp pháp ( trái PL)

Điều kiện về hình thức chỉ là điều kiện có hiệu lực khi PL có quy định phải đảm bảo điều

kiện hình thức (khoản 4 Điều 121)

Câu 3 Hợp đồng vô hiệu và các loại hợp đồng vô hiệu.

* Hợp đồng vô hiệu do vi phạm các điều kiện được quy định tại Điều 121 BLDS Về

phương diện lý luận cũng như theo PL của một số nước khi nghiên cứu các loại giao dịch dân sự

vô hiệu có thể phân chia thành các trường hợp vô hiệu:

- Vô hiệu do vi phạm điều cấm của PL hoặc trái đạo đức xã hội;

- Vô hiệu do giả tạo;

- Vô hiệu do nhầm lẫn;

- Vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa;

- Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình;

- Vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức;

Tùy thuộc vào tính chất và mức độ của sự vô hiệu hợp đồng, hợp đồng vô hiệu có thể

phân chia thành:

- Hợp đồng vô hiệu toàn bộ;

- Hợp dồng vô hiệu từng phần;

- Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối: hợp đồng này không có hiệu lực ngay từ thời điểm giao kết

nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng Chẳng hạn giao dịch dân sự vi phạm điều cấm

của PL (mua bán đất đai)

- Hợp đồng vô hiệu tương đối: hợp đồng vô hiệu tương đối tuy có vi phạm một trong các

điều kiện có hiệu lực nhưng vẫn coi là có giá trị pháp lý nếu các bên tham gia vẫn tự nguyện

thực hiện, TA chỉ huỷ bỏ khi có yêu cầu của các bên tham gia Đối với hợp đồng vô hiệu tương

đối không đương nhiên vô hiệu mà có thể bị vô hiệu Vì vậy, không phải bất cứ hợp đồng vi

phạm các điều kiện có hiệu thì TA cũng tuyên bố vô hiệu mà tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm và

do yêu cầu của các bên mà TA sẽ tuyên bố huỷ bỏ giao dịch đó Trong trường hợp hợp đồng có

vi phạm các điều kiện có hiệu lực mà có thể sửa chữa được phần vi phạm đó cho phù hợp với

qui định của PL hoặc trong một số trường hợp bên tham gia không yêu cầu TA bảo vệ quyền lợi

của mình mặc dù biết bị thiệt hại) thì sẽ không huỷ bỏ mà chỉ xem xét quyền và nghĩa vụ của

các bên có được thoả thuận đúng với qui định của PL không; nếu PL qui định mà các bên không

sửa chữa cho phù hợp thì mới vô hiệu

* Theo qui định tại Đ410 của BLDS 2005 các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ

Đ127 đến Đ138 cũng áp dụng đối với HĐ như sau:

a Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của PL, trái đạo đức xã hội (Điều 128):

Giao dịch này vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của

các bên Các bên tham gia vào giao dịch dân sự có thể biết hoặc không biết là mình đã tham gia

vào giao dịch dân sự trái PL Tuy theo tính chất và mức độ vi phạm thì tài sản giao dịch và hoa

lợi, lợi tức thu được bị tịch thu sung công quĩ nhà nước

Trong trường hợp có thiệt hại mà các bên đều có lỗi, thì mỗi bên tự chịu phần thiệt hại

của mình; nếu chỉ một bên có lỗi, thì bên đó phải bồi thường thiệt hại cho bên kia

b Giao dịch dân sự vô hiệu do thiếu sự tự nguyện của các chủ thể

- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo: vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập, trừ giao dịch bị

che giấu vẫn tuân thủ đầy đủ các điều kiện có hiệu lực (Điều 129)

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131)

+ Khi một bên bị có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn nhầm lẫn về nội dung của giao

dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung giao dịch, nếu bên kia

không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu TA tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

+ Nếu lỗi cố ý làm cho nhầm lẫn thì xử lý như là trường hợp bị lừ dối hay đe doạ

- Gia dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối hoặc bị đe doạ (Điều 132): Bên bị lừa dối hoặc bị

đe doạ có quyền yêu cầu TA tuyên bố giao dịch đó vô hiệu

c Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện (Điều 130 BLDS)

Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì PL qui định người

đại diện theo PL xác lập thực hiện hoặc phải có sự đồng ý của người đại diện theo PL (trừ

trường hợp PL có qui định tham gia giao dịch dân sự có giá trị nhỏ) Nếu trong những trường

hợp trên mà tham gia giao dịch dân sự liên quan đến tài sản không có người đại diện theo PL thì

có thể vô hiệu

d Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức (Điều 134)

Điều 134 qui định: "Trong trường hợp PL qui định hình thức của giao dịch dân sự là điều

kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc

các bên, vô hiệu, TA, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ra quyết định buộc các bên thực

hiện qui định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện

thì giao dịch vô hiệu Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại

Như vậy, giao dịch dân sự không tuân thủ hình thức PL qui định vô hiệu trong trường hợp

quá thời hạn ấn định mà các bên không thực hiện đúng qui định hình thức do PL qui định thì vô

hiệu (chẳng hạn ấn định từ 1 đến 3 tháng)

đ Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần (Điều 135)

e Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi

của mình (Điều 133)

Câu 4 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được PL quy định như sau:

- Hậu quả pháp lý trong mối quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch

Về nguyên tắc giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các

bên từ thời điểm giao dịch dân sự được xác lập Khi giao dịch dân sự vô hiệu các bên khôi phục

lại tình trạng ban đầu nghĩa là phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi phải bồi

thường thiệt hại

Điều 137 BLDS đã qui định: "Nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả

bằng tiền" nhưng thực tế áp dụng cũng gặp không ít khó khăn

+ Đối với những giao dịch dân sự vô hiệu mà đối tượng vẫn còn thì việc hoàn trả cho

nhau một cách dễ dàng, nhưng trong một số giao dịch đối tượng đã bị tiêu huỷ hoặc không hoàn

trả được thì giải quyết như thế nào? Chẳng hạn: trong hợp đồng thuê nhà vô hiệu thì bên cho

thuê có thể trả lại số tiền thuê đã nhận, còn bên thuê thì không thể trả lại được "quyền sử dụng,

quyền ở" ngôi nhà đã thuê Do vậy, trong những trường hợp này thỉ giao dịch dân sự chấm dứt

kể từ thời điểm tuyên bố vô hiệu chứ không thể từ thời điểm xác lập

+ Đối với trường hợp đối tượng là tài sản không còn nên các bên không thể hoàn trả được

bằng hiện vật mà phải hoàn trả cho nhau bằng tiền

Tuỳ từng trường hợp xét theo tính chất của giao dịch vô hiệu, tài sản giao dịch và hoa lợi,

lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo qui định của PL

- Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 138)Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản khôngphải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ bangay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257của BLDS

Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là bất động sản hoặcđộng sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho ngườithứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tìnhnhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án quyếtđịnh của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người nàykhông phải là chủ sở hữu tài sản do quyết định, bản án bị huỷ, sửa

- Thời hiệu yêu cầu TA tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệuĐối với các giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị đe doạ, bị lừa dối hoặc người có năng lựchành vi dân sự nhưng xác lập giao dịch dân sự vào thời điểm không nhận thức được hành vicủa mình (Từ các Điều 130 đến Điều 134) là hai năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xáclập Trong trường hợp quá thời hạn trên thì không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố giaodịch vô hiệu, trừ trường hợp PL được qui định tại Điều 161 BLDS

Người có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự là chính người bị đe doạ,

bị lừa dối, bị nhầm lẫn, hoặc người đại diện theo PL đối với người chưa thành niên, ngườimất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trong thực tiễn giải quyết nhiều trường hợp người đại diện không biết được người chưathành niên, người mất năng lực hành vi dân sự đã xác lập giao dịch dân sự thì có mất quyềnkhởi kiện hay không Theo qui định của BLDS Pháp thì thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịchdân sự vô hiệu là 5 năm kể từ thời điểm khám phá ra sự nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe doạ hoặc từthời điểm chấm dứt sự hạn chế năng lực hành vi, mất năng lực hành vi dân sự Do vậy, thờihạn yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo chúng tôi nên qui định thời hạn là hai năm

kể từ thời điểm khám phá ra sự nhầm lẫn, bị lừa dối thì hợp lý hơn

Đối với các giao dịch dân sự xác lập do vi phạm điều cấm của PL, trái đạo đức xã hội,giao dịch dân sự do giả tạo (Điều 128, 129) là vô hạn

Thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo Luật dân sự của Pháp là 30năm kể từ thời điểm được xác lập

Câu 5 Nội dung và hình thức của hợp đồng?

* Nội dung của hợp đồng: Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các

bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Tùy theo từng loại hợp đồng dân sự các bên cóthể thỏa thuận những nội dung sau:

+ Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không đượclàm;

+ Số lượng, chất lượng;

+ Giá cả, phương thức thanh toán;

+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;

+ Quyền và nghĩa vụ của các bên;

+ Điều khoản thông thường: là những điều khoản PL đã quy định, nếu khi giao kết hợpđồng các bên không thỏa thuận thì những điều khoản này mặc nhiên được công nhận và thựchiện Đối với các điều khoản này các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng hoặc không thỏathuận trong hợp đồng, nhưng khi có tranh chấp xảy ra cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào cácquy định của PL để giải quyết Chẳng hạn: khoản 1 Điều 482 về hợp đồng thuê tài sản thì bêncho thuê phải sửa chữa hư hỏng, khuyết tật của tài sản cho thuê, những hư hỏng nhỏ theo tậpquán bên thuê phải tự nguyện sửa chữa

+ Điều khoản tùy nghi: xuất phát từ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuậnđược PL dân sự quy định, trong quan hệ hợp đồng PL cho phép các chủ thể giao kết hợp đồngthỏa thuận các điều khoản ngoài những điều khoản cơ bản nhưng không được trái PL và đạođức xã hội

* Hình thức của hợp đồng: Theo quy định của BLDS thì các bên tham gia hợp đồng có

thể lựa chọn những hình thức khác nhau (trừ trường hợp PL có quy định về hình thức thì phảituân theo quy định của PL)

- Hợp đồng bằng lời nói (hợp đồng miệng): các bên tham gia hợp đồng thỏa thuậnnhững nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đốivới nhau Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp các bên có độ tin tưởng lẫnnhau cao hoặc hợp đồng sau khi giao kết thực hiện chấm dứt ngay Chẳng hạn thỏa thuận chovay giá trị tài sản không lớn, mua bán tài sản có giá trị nhỏ,

- Hợp đồng bằng hành vi cụ thể như rút, chuyển tiền qua thẻ tại máy ATM, mua hàng ởsiêu thị qua máy tính tiền tự động

- Hợp đồng bằng văn bản (thường): các bên thỏa thuận những điều khoản cơ bản củahợp đồng bằng văn bản và ký vào văn bản để xác nhận quan hệ hợp đồng và nội dung của hợpđồng Hợp đồng được lập thành nhiều bản để bên có quyền và bên có nghĩa vụ giữ, thôngthường thì bên có quyền giữ bản hợp đồng đó

Hợp đồng bằng văn bản có ý nghĩa pháp lý quan trọng vì nó là căn cứ, chứng cứ để cơquan có thẩm quyền xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên khi có tranh chấp xảy ra.Hợp đồng thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông diệp, dữ liệu được xác định làhình thức hợp đồng bằng văn bản

- Hợp đồng có công chứng, chứng thực, trong trường hợp PL có quy định hoặc các bên

có thỏa thuận thì hợp đồng dân sự phải được công chứng, chứng thực Trong thực tế hiện nay,quy định của PL đã có sự phân biệt khá rõ giữa công chứng và chứng thực nhưng trong thựctiễn vẫn có sự nhầm lẫn

Câu 6 Hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng

* Hình thức của hợp đồng: Theo quy định của BLDS thì các bên tham gia hợp đồng có

thể lựa chọn những hình thức khác nhau (trừ trường hợp PL có quy định về hình thức thì phảituân theo quy định của PL)

- Hợp đồng bằng hành vi cụ thể như rút, chuyển tiền qua thẻ tại máy ATM, mua hàng ởsiêu thị qua máy tính tiền tự động

- Hợp đồng bằng văn bản (thường): các bên thỏa thuận những điều khoản cơ bản củahợp đồng bằng văn bản và ký vào văn bản để xác nhận quan hệ hợp đồng và nội dung của hợpđồng Hợp đồng được lập thành nhiều bản để bên có quyền và bên có nghĩa vụ giữ, thôngthường thì bên có quyền giữ bản hợp đồng đó

Hợp đồng bằng văn bản có ý nghĩa pháp lý quan trọng vì nó là căn cứ, chứng cứ để cơquan có thẩm quyền xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên khi có tranh chấp xảy ra.Hợp đồng thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông diệp, dữ liệu được xác định làhình thức hợp đồng bằng văn bản

Trang 3

- Hợp đồng có công chứng, chứng thực, trong trường hợp PL có quy định hoặc các bên có

thỏa thuận thì hợp đồng dân sự phải được công chứng, chứng thực Trong thực tế hiện nay, quy

định của PL đã có sự phân biệt khá rõ giữa công chứng và chứng thực nhưng trong thực tiễn vẫn

có sự nhầm lẫn

* Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng: Điều 405 BLDS quy định: "Hợp đồng có hiệu lực

kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc PL có quy định khác" Khi hợp đồng

có hiệu lực buộc các bên tham gia phải thực hiện đúng các điều khoản theo hợp đồng đã cam kết

thỏa thuận, trong các bên không được tự ý sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng Hợp đồng dân sự có thể bị

sửa đổi hoặc hủy bỏ, nếu có thỏa thuận hoặc PL có quy định

Thời điểm giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 404 - BLDS 2005 như sau:

+ Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết

hoặc khi các bên thỏa thuận xong những điều khoản chủ yếu của hợp đồng

+ Hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề

nghị vẫn im lặng, nếu có sự thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp thuận

+ Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên đã trực tiếp thỏa thuận về nội

dung của hợp đồng

+ Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là bên cùng ký vào văn bản

Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn như:

quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phát sinh kể từ khi hợp đồng có hiệu lực, một trong các bên

không có quyền tự ý thay đổi các điều khoản của hợp đồng; là căn cứ công nhận hợp đồng khi

có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ

Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với từng loại tài sản là đối tượng của hợp đồng là

khác nhau Đối với động sản thì từ khi các bên chuyển giao tài sản cho nhau; đối với BĐS hoặc

động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu (trừ trường hợp luật

chuyên ngành có quy định khác) Do vậy, sau khi hợp đồng có hiệu lực, các chủ thể còn phải

thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu

Câu 7 Biện pháp thế chấp tài sản?

* Khái niệm: Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản

thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên nhận thế

chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp Tài sản thể chấp do bên thế chấp

giữ, các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp

Bên thế chấp phải giao toàn bộ giấy tờ (bản chính) về tài sản thế chấp cho bên nhận thế

chấp như giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, GCN QSDĐ…

* Các quy định về thế chấp tài sản:

- Đối tượng của thế chấp:

+ Đối tượng của thế chấp là bất động sản và động sản (như nhà ở, công trình xây dựng

gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó, các tài sản gắn liền

với đất, ) và các tài sản khác

+ Tài sản thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp Người có nghĩa vụ không thể dùng tài sản

thuộc sở hữu của người khác để thế chấp mặc dù theo quy định của PL họ đang chiếm hữu hợp

pháp (đang thuê, mượn) hoặc tài sản thế chấp thuộc sở hữu chung của nhiều người phải có sự

đồng ý của các đồng chủ sở hữu

+ Tài sản sản thế chấp phải được phép giao dịch và không có tranh chấp

- Hình thức của thế chấp tài sản:

+ Việc thế chấp phải được lập thành văn bản gọi là hợp đồng thế chấp Hợp đồng thế chấp

có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính

Hợp đồng thế chấp phải có công chứng hoặc chứng thực nếu các bên có thỏa thuận, nếu

trong trường hợp PL quy định phải có công chứng, chứng thực thì các bên phải tuân theo Tuy

nhiên, hợp đồng chỉ bắt buộc phải công chứng, chứng thực khi các bên có thỏa thuận hoặc PL có

quy định

+ Bên thế chấp được dùng tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự khác,

nếu giá trị lớn hơn tổng giá trị được bảo đảm (nếu có thỏa thuận hoặc PL có quy định)

- Nghĩa vụ và quyền của các bên trong thế chấp tài sản

- Nội dung của thế chấp tài sản:

+ Bên thế chấp phải giao toàn bộ giấy tờ (bản chính) về tài sản thế chấp cho bên nhận thế

chấp như giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, chứng nhận QSDĐ,

+ Bên thế chấp phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết các quyền của người thứ ba đối

với tài sản thế chấp Nếu tài sản được thế chấp nhiều nghĩa vụ thì bên thế chấp phải thông báo

cho bên nhận thế chấp về việc tài sản đã đem thế chấp những lần trước đó

+ Trong trường hợp bên thế chấp vẫn giữ tài sản thế chấp thì có quyền khai thác, sử dụng

tài sản, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (trừ trường hợp có thỏa thuận khác) Bên thế chấp có

nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản không được bán tài sản (trừ trường hợp quy định tại khoản 3

và khoản 4 Điều 349 BLDS), có quyền cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp

+ Bên thế chấp được dùng tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự khác,

nếu giá trị lớn hơn tổng giá trị được bảo đảm (nếu có thỏa thuận hoặc PL có quy định)

- Xử lý tài sản thế chấp (Điều 355 BLDS): Trong trường hợp đã đến thời hạn thực hiện

nghĩa vụ mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì bên nhận thế

chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ dân sự, trừ trường hợp

có thỏa thuận khác Như vậy việc xử lý tài sản thế chấp theo hai phương thức:

+ Theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp PL cho phép các bên có quyền

thỏa thuận các biện pháp xử lý tài sản thế chấp

+ Yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá tài sản để thực hiện nghĩa vụ dân

sự thông qua trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc tổ chức có thẩm quyền khác (DN có chức năng

bán đấu giá tài sản)

Câu 8 Biện pháp cầm cố tài sản?

- Khái niệm: Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc

quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện

nghĩa vụ dân sự

- Đối tượng của cầm cố tài sản:

+ Tài sản cầm cố phải là BĐS hoặc động sản (trừ trường hợp PL có quy định khác, VD:

Luật nhà ở năm 2005 chỉ quy định thế chấp nhà ở)

+ Tài sản cầm cố phải thuộc sở hữu của bên cầm cố, được phép giao dịch và không có

tranh chấp

Việc cầm cố tài sản theo đó người có nghĩa vụ giao tài sản cho người có quyền, trong

trường hợp bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết thì tài sản

cầm cố được xử lý theo thỏa thuận hoặc theo quy định của PL Do vậy, tài sản cầm cố phải

thuộc sở hữu của bên cầm cố, nếu là sở hữu chung của nhiều người thì phải có sự đồng ý của tất

cả các đồng chủ sở hữu Việc xác định tài sản thuộc sở hữu của bên cầm cố hay không trước hết

dựa vào giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản có đăng ký như phương tiện vận tải

(ôtô, môtô, tàu biển, ) Cũng có những tài sản không có đăng ký quyền sở hữu thì được dựa

trên cơ sở suy đoán là của người đang chiếm hữu thực tế Thực tiễn nhiều trường hợp bên nhận

cầm cố bị lừa dối nên phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, do vậy việc bảo đảm trong quan hệ

nghĩa vụ không thực hiện được

- Hình thức của cầm cố tài sản: Việc cầm cố tài sản phải lập thành văn bản gọi là HĐ cầm

cố, văn bản cầm cố có thể lập riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính, trong đó phải đảm bảo các

nội dung chủ yếu sau:

+ Nghĩa vụ được bảo đảm

+ Mô tả tài sản cầm cố

+ Giá trị tài sản cầm cố (nếu các bên có thỏa thuận hoặc PL có quy định)

+ Bên giữ tài sản cầm cố

+ Quyền và nghĩa vụ của các bên

+ Các trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản cầm cố

- Xử lý tài sản cầm cố: Khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố tài sản không

thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thỏa thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theophương thức do các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ Bên nhậncầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố, sau khi trừ chi phí bảo quản, chiphí bán đấu giá tài sản

+ Trong trường hợp tài sản được dùng để cầm cố có nhiều vật thì bên nhận cầm cố đượcchọn tài sản cụ thể để xử lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Bên nhận cầm cố chỉ được xử

lý số tài sản cần thiết tương ứng với giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm; nếu xử lý quá số tàisản cần thiết và gây ra thiệt hại cho bên cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.+ Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cốsau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết có liên quan để xử lý tài sảncầm cố

- Trong trường hợp đã đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên thế chấp không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá tàisản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Như vậy việc xử

lý tài sản thế chấp theo hai phương thức:

- Theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp PL cho phép các bên có quyềnthỏa thuận các biện pháp xử lý tài sản thế chấp

- Yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bán đấu giá tài sản để thực hiện nghĩa vụdân sự thông qua trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc tổ chức có thẩm quyền khác (DN có chứcnăng bán đấu giá tài sản)

Câu 9 Biện pháp bảo lãnh (so sánh BLDS2005 với BLDS 1995)

- Khái niệm: Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có

quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi làngười được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc người bảo lãnh chỉphải thực hiện nghĩa vụ khi người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ củamình (Điều 361)

- So sánh: Bảo lãnh trong BLDS năm 2005 mang tính chất đối nhân, do đó việc xác định

bảo đảm bằng tài sản không phải quyết định

+ Chủ thể của bảo lãnh bao gồm người bảo lãnh, người được bảo lãnh và người nhậnbảo lãnh

+ Phạm vi của bảo lãnh là 1 phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự (theo như thỏa thuận)nếu các bên không thỏa thuận cụ thể thì phạm vi bảo lãnh được xác định là toàn bộ nên ngườibảo lãnh phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh như tiền nợ gốc, lãi,bồi thường thiệt hại (nếu có)

+ Đối tượng và hình thức của bảo lãnh: Đối tượng của bảo lãnh có thể là tài sản (tiền, tàisản khác) thuộc sở hữu của người bảo lãnh, nếu đối tượng của nghĩa vụ chính là tài sản Đốitượng của bảo lãnh là công việc cụ thể nếu đối tượng của nghĩa vụ chính là công việc cụ thể.Tùy theo từng loại bảo lãnh khác nhau mà đối tượng bảo lãnh có thể là tài sản hoặc công việcphải làm Chẳng hạn theo Quy chế bảo lãnh ngân hàng thì bao gồm các loại: bảo lãnh vay vốn,bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh mời thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chấtlượng sản phẩm, Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản (hợp đồng bảo lãnh)

Câu 10 Biện pháp đặt cọc?

Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặcvật có giá trị khác (gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hợp đồnghoặc thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 358)

- Trong trường hợp các bên thực hiện đúng thỏa thuận trong thời hạn (hợp đồng đượcgiao kết, thực hiện) thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ vào nghĩa vụtrả tiền theo hợp đồng Chẳng hạn ông A đặt cọc cho ông B 10 triệu đồng để xác lập hợp đồngmua bán nhà giá 90 triệu đồng Trong thời hạn thỏa thuận hợp đồng mua bán nhà được giaokết thực hiện thì số tiền trên có thể được trừ vào nghĩa vụ thanh toán do bán nhà hoặc bên bántrả lại cho bên mua

- Trong trường hợp có sự vi phạm trong giao kết, thực hiện hợp đồng thì xử lý như sau:+ Nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bênnhận đặt cọc

+ Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng, thì phải trả cho bênđặt cọc tài sản đặt cọc, đồng thời phải trả một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đặtcọc (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác)

Để có căn cứ giải quyết khi có tranh chấp xảy ra PL quy định việc đặt cọc phải được lậpthành văn bản Trong thực tiễn nhiều trường hợp các bên thỏa thuận bằng văn bản không rõràng như hợp đồng mua bán nhà (có cọc), giấy đặt cọc nhưng nội dung lại trả trước một nửatiền, hoặc để làm tin bên mua trả cho bên bán 50 triệu (cọc) Những trường hợp trên rất khóxác định đâu là tiền đặt cọc (để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng), đâu là tiền mà cácbên đã thanh toán cho nhau theo hợp đồng Do đó khi có tranh chấp xảy ra xác định là tài sảntrả trước và xử lý hậu quả pháp lý theo quy định về hợp đồng vô hiệu

Ngoài ra, quy định tại Điều 358: "Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác" Xuấtphát từ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận các bên tham gia hợp đồng có thể thỏathuận việc phạt cọc theo mức độ khác nhau nhưng không được vi phạm điều cấm của PL hoặctrái đạo đức xã hội

Câu 11 So sánh giữa cầm cố tài sản và thế chấp tài sản

Theo quy định tại Điều 342 BLDS năm 2005 thì thế chấp tài sản là việc một bên dùngtài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và khôngchuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Các bêncũng có thể thoả thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp

Tài sản thế chấp là tài sản có thực và cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ củađộng sản, bất động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp Trong tường hợp thế chấp một phần bấtđộng sản, động sản có vật phụ mà các bên không có thoả thuận về tài sản phụ đó thì tài sảnphụ đó cũng thuộc tài sản thế chấp

Việc thế chấp QSDĐ phải thực hiện theo quy định tại Đ715 đến Đ721 BLDS 2005 vàcác quy định khác của PL có liên quan

Như vậy, thế chấp tài sản khác cầm cố tài sản ở chỗ, trong trường hợp cầm cố, bên cầm

cố phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ; trong trường hợp thế chấp, bên thế chấpđược giữ tài sản thế chấp để tiếp tục khai thác, sử dụng

Trang 4

Về hình thức thế chấp tài sản: Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể

lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Trong một số trường hợp PL có quy

định văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký thì việc thế chấp tài sản

phải tuân thủ các hình thức đó (Điều 343 BLDS năm 2005)

Về thời hạn thế chấp: thời hạn thế chấp do các bên thoả thuận, nếu không có thoả thuận

thì việc thế chấp có thời hạn cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp (Điều

344 BLDS năm 2005)

Câu 12 Hãy nêu các trường hợp các bên tự thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản

cầm cố, thế chấp

Khi cầm cố tài sản, người cầm cố phải chuyển tài sản đó để cho người nhận cầm cố quản

lý và sử dụng Còn đối với thế chấp tài sản thì người thế chấp được giữ lại tài sản thế chấp, chỉ

dùng quyền sở hữu tài sản đó để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ

Đ 326 BLDS quy định "Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu

của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự K1, Đ432 quy định "Thế chấp tài

sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp"

Theo những quy định trên thì khi cầm cố tài sản, người cầm cố phải chuyển tài sản đó để

cho người nhận cầm cố quản lý và sử dụng Còn đối với thế chấp tài sản thì người thế chấp được

giữ lại tài sản thế chấp, chỉ dùng quyền sở hữu tài sản đó để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Điểm

chung của hai loại hình này theo quy định là phải được lập thành văn bản Tuy nhiên đối với thế

chấp tài sản nếu PL có quy định thì việc thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng

ký giao dịch đảm bảo

Như vậy có thể thấy cầm cố tài sản được dùng cho các giao dịch là các loại động sản

thông thường và thế chấp tài sản được áp dụng đối với những loại tài sản có giá trị lớn là các bất

động sản và động sản có đăng ký quyền sở hữu Do đó, nếu PL có quy định về việc thế chấp đối

với từng loại tài sản nhất định thì việc thế chấp đó phải được công chứng, chứng thực hoặc phải

đăng ký giao dịch đảm bảo

Trên thực tế hiện nay việc thế chấp tài sản hiện đang được sử dụng rất thông dụng trong

các giao dịch đảm bảo, nhất là trong giao dịch với các ngân hàng thương mại

- Xử lý tài sản thế chấp, cầm cố như thế nào?

Điều 336 và 355 BLDS quy định "Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà

bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thỏa thuận thì tài sản cầm

cố được xử lý theo phương thức do các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định

của PL để thực hiện nghĩa vụ Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản

cầm cố"

Nếu là động sản thông thường thì trên thực tế sẽ thuộc về người nhận cầm cố nếu đến hạn

mà người cầm cố không thực hiện nghĩa vụ Nhưng đối với thế chấp tài sản thì lại không đơn

giản, bởi tài sản thế chấp đều có đăng ký quyền sở hữu nên người nhận thế chấp không thể xác

lập quyền sở hữu đối với tài sản này Người nhận thế chấp phải yêu cần bán đấu giá tài sản để

đảm bảo nghĩa vụ dân sự được thực hiện Nhưng trên thực tế thì người nhận thế chấp phải trải

qua giai đoạn khởi kiện và thi hành bản án mới có thể bán được tài sản thế chấp Thực trạng này

làm cho người nhận thế chấp tốn nhiều thời gian và chi phí, bởi lẽ các cơ quan bán đấu giá tài

sản không dám nhận bán đấu giá các tài sản chưa có bản án và quyết định bán đấu giá của cơ

quan thi hành án

Nên chấp hành quy định PL: Điểm c, khoản 2, điều 1, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày

04/03/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản quy định tài sản bán đấu giá là "Tài sản bảo

đảm trong trường hợp PL về giao dịch bảo đảm quy định phải xử lý bằng bán đấu giá" Như vậy,

nếu việc cầm cố, thế chấp tài sản có thỏa thuận xử lý tài sản bằng cách bán đấu giá tài sản thì

vẫn được PL chấp thuận, không được yêu cầu các bên đương sự phải qua giai đoạn tố tụng và

thi hành án rồi mới được bán đấu giá tài sản Việc cầm cố, thế chấp là sự thỏa thuận của các bên,

được PL bảo vệ Do đó phải công nhận và tạo điều kiện cho các bên thực hiện sự thỏa thuận đó

Câu 13 Đăng ký thế chấp, cầm cố

Đăng ký thế chấp cầm cố tài sản (Đăng ký giao dịch đảm bảo) là việc cơ quan đăng ký

giao dịch bảo đảm ghi vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu về giao

dịch bảo đảm việc bên bảo đảm dùng tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên

nhân bảo đảm

Giấy tờ xác định tư cách pháp lý của người yêu cầu đăng ký là văn bản của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức gồm: CMND, hộ chiếu, thẻ thường trú, văn bản

cấp mã số thuế, GCN ĐKKD, quyết định thành lập, giấy phép đầu tư hoặc giấy tờ khác cấp cho

tổ chức nước ngoài theo quy định của PL nước đó

Câu 14 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm dân sự?

Trách nhiệm dân sự luôn được các luật gia Việt Nam hiện nay xem là một loại trách

nhiệm pháp lý - một vấn đề pháp lý quan trọng được nghiên cứu tổng quát trong môn lý luận

chung về nhà nước và PL Trách nhiệm pháp lý được cho là việc một chủ thể phải gánh chịu

những hậu quả bất lợi theo quy định của PL do có hành vi vi phạm PL Nghĩa vụ dân sự là một

quan hệ pháp lý giữa trái chủ và người thụ trái xác định, tại đó người thụ trái bị PL cưỡng chế

thực hiện nghĩa vụ Việc vi phạm nghĩa vụ được xem như vi phạm PL Về điểm này, BLDS

Pháp qui định "hợp đồng giao kết hợp pháp có giá trị như luật đối với các bên giao kết" (Điều

1134), tức là nghĩa vụ hợp đồng cũng có giá trị như luật Vì vậy, người vi phạm nghĩa vụ phải

gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm dân sự – một loại trách nhiệm pháp lý có các đặc điểm:

Là hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm; Luôn luôn được thực hiện trong phạm vi quan hệ giữa

Nhà nước và bên vi phạm; Được xác định bằng trình tự đặc biệt do PL quy định bởi cơ quan nhà

nước có thẩm quyền; Được thực hiện trong phạm vi văn bản đã có hiệu lực PL đối với người vi

phạm; Có thể áp dụng đối với cả pháp nhân đối với vi phạm ngoài luật hình sự

* Khái niệm trách nhiệm dân sự:

- Theo nghĩa khách quan: trách nhiệm dân sự là tổng thể các quy định của PL dân sự về

các căn cứ, các điều kiện phát sinh trách nhiệm, năng lực chịu trách nhiệm, cách thức thực hiện

trách nhiệm và hậu quả pháp lý của việc áp dụng trách nhiệm dân sự

- Theo nghĩa chủ quan: là biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với người đã có hành vi

xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp người khác, nhằm buộc người vi phạm phải thực

hiện những nghĩa vụ nhất định hoặc phải bồi thường thiệt hại nhằm bù đắp tổn thất và khôi phục

các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm

* Đặc điểm:

- Là biện pháp cưỡng chế mang tính tài sản

- Là trách nhiệm của người vi phạm trước người có quyền, lợi ích bị xâm phạm

- Được hình thành dựa trên sự thỏa thuận hợp pháp giữa các bên hoặc theo quy định của

PL

- Có thể giải quyết bằng biện pháp tự hòa giải, thương lượng hoặc khởi kiện ra cơ quan tư

pháp dựa trên nguyên tắc tự nguyện, thỏa thuận và tự định đoạt

- Nhằm đền bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm

Câu 15 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do hành

vi vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại nên phải bồi thường thiệt hại đã gây ra tương ứng

với mức độ lỗi của mình

Đặc điểm:

- Giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có quan hệ hợp đồng hợp pháp

- Nội dung của trách nhiệm phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên hoặc theo quy địnhcủa PL

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng chỉ giới hạn trong phạm vi nhữngthiệt hại thực tế và những thiệt hại có thể tiên liệu được vào thời điểm ký hợp đồng

- Lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại tronghợp đồng, nhưng không phân biệt hình thức lỗi là cố ý hay vô ý vì mức trách nhiệm bồithường không phân hóa theo hình thức lỗi như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng

- Thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng không đương nhiênlàm chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa các bên

* Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng:- Cóthiệt hại xảy ra:

- Khái niệm thiệt hại: thiệt hại là toàn bộ những tổn thất gây ra cho một bên, do việc viphạm hợp đồng của bên kia Những tổn thất này bao gồm: tổn thất phải gánh chịu và những lợiích đáng lẽ phải có từ việc thực hiện hợp đồng Những tổn thất này có thể là về vật chất haytinh thần như xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bên bị thiệt hại Thiệt hại vật chất

có thể là thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp

- Có quan hệ nhân-quả giữa hành vi trái PL do vi phạm hợp đồng với thiệt hại xảy ratrên thực tế:

+ Quan hệ nhân-quả là mối quan hệ nội tại tất yếu giữa các sự kiện, hiện tượng nối tiếpnhau trong một không gian và trong một khoảng thời gian xác định => Chỉ những thiệt hạiphát sinh do "hậu quả của việc vi phạm" và có mối quan hệ nhận quả giữa sự vi phạm thựchiện hợp đồng và thiệt hại xảy ra thì mới được công nhận bồi thường

+ Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại đã xảy ra

- Phải có lỗi của bên vi phạm:

+ Khái niệm lỗi

+ Các hình thức lỗi (đ.308)

Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là lỗi suy đoán Người gâythiệt hại tự chứng minh là mình không có lỗi => Lỗi có vai trò quan trọng trong việc xác địnhmức trách nhiệm mà người gây thiệt hại phải gánh chịu

Yếu tố lỗi trong việc xác định mức trách nhiệm mà người gây thiệt hại phải gánh chịutrách nhiệm Xác định mức độ lỗi của mỗi bên thường rất khó và một phần phụ thuộc vào cácphán quyết của Tòa án

- Phương thức thanh toán tiền bồi thường thiệt hại (điều 300 BLDS)

Câu 16 Giao kết và thực hiện hợp đồng

* Giao kết hợp đồng

- Đề nghị giao kết hợp đồng: Các chủ thể có ý định thiết lập quan hệ HĐ thì phải thểhiện ý muốn của mình bằng một hình thức nhất định Thông qua sự thể hiện đó mà bên kia biếtđược ý muốn và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết HĐ Để đối tác biết và hình dung đượchợp đồng đó như thế nào thì người đề nghị phải đưa ra những thông tin một cách tương đối cụthể, rõ ràng thông qua những hình thức khác nhau: trao đổi qua điện thoại, fax, quảng cáo,nhắn tin, treo biển, Trong trường hợp một bên đề nghị bên kia giao kết hợp đồng có nêu rõ nộidung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng vàthời hạn trả lời thì không được mời người thứ ba giao kết hợp đồng và phải chịu trách nhiệm

về đề nghị của mình (Đ.396 BLDS) Trong trường hợp này lời đề nghị chưa phải hợp đồng dân

sự nhưng có tính ràng buộc khi có các yếu tố:

+ Bên được đề nghị phải được chỉ đích danh

+ Trong lời đề nghị có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và ấn định một thời giantrả lời

- Chấp nhận giao kết hợp đồng: Là việc bên được đề nghị đồng ý tiến hành việc giao kếthợp đồng với người đề nghị Về nguyên tắc bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhậnviệc giao kết hợp đồng hay không, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời Trongtrường hợp việc trả lời được chuyển qua bưu điện thì thời điểm trả lời là ngày gửi đi theo dấucủa bưu điện

- Thay đổi, rút lại, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự

Bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng dân sự, nếu bên được

đề nghị chưa nhận được đề nghị hoặc trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ điều kiện đượcthay đổi hoặc rút lại đề nghị Trong trường hợp bên đề nghị thay đổi nội dung, điều kiện của đềnghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới

Đề nghị giao kết hợp đồng dân sự chấm dứt khi bên nhận được đề nghị trả lời khôngchấp nhận hoặc chậm trả lời chấp nhận hoặc hết thời hạn trả lời, mà không nhận được trả lờicủa bên được đề nghị giao kết Nếu bên được đề nghị đã trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng,nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì sự trả lời chấp nhận coi như đề nghị mới giaokết hợp đồng dân sự

* Thực hiện hợp đồng và trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng:

Khi các bên đã cam kết thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng thì phải thực hiệnđúng và đầy đủ các điều khoản đó và không được vi phạm, nếu vi phạm thì phải chịu tráchnhiệm dân sự K1 Đ302 BLDS quy định: "Người có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thựchiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người có quyền".Căn cứ vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ mà trách nhiệm do vi phạmnghĩa vụ theo hợp đồng gồm:

* Trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ dân sự

- Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 305)

+ Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện thì người có quyền có thể gia hạn để người

có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ nếu quá thời hạn này thì theo yêu cầu của người có quyền thìngười có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiệnkhông cần thiết đối với người có quyền nữa thì có quyền từ chối tiếp nhận và yêu cầu bồithường thiệt hại

+ Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền thì người đó phải trả lãi đối với sốtiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do NHNN công bố tương ứng với thời gian chậm trả vàothời điểm thanh toán (trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc PL có quy định khác)

- Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều 303)Khi người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì những người cóquyền được quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc

bị hư hỏng, thì phải thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại

Trong trường hợp người có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại,thì phải thanh toán giá trị của vật và phải bồi thường thiệt hại

Trang 5

* Trách nhiệm do không thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công

việc (Điều 304 BLDS)

* Trách nhiệm do thực hiện nghĩa vụ không đúng đối tượng (Điều 428, Điều 429 và Điều

430 BLDS)

* Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng (Đ307)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại áp dụng trong trường hợp các bên đã vi phạm nghĩa vụ

mà họ đã tự nguyện cam kết, có lỗi và gây ra thiệt hại Đây là một dạng chế tài dân sự được áp

dụng đối với bên vi phạm nghĩa vụ dân sự

Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục những thiệt hại về tài sản

và chỉ phát sinh khi có những điều kiện luật định:

* Có hành vi trái PL của người có nghĩa vụ: hành vi trái PL là hành vi vi phạm những

nghĩa vụ dân sự mà họ đã tự nguyện cam kết Về nguyên tắc người có nghĩa vụ mà không thực

hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì xác định là hành vi vi phạm nghĩa vụ Tuy

nhiên trong một số trường hợp hành vi vi phạm nghĩa vụ không coi là trái PL và không phải bồi

thường:

- Nếu nghĩa vụ dân sự không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người có quyền

- Do sự kiện bất khả kháng (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc PL có quy

định khác) Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước

được và không thể khắc phục được, mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết mà khả năng

cho phép

* Có thiệt hại xảy ra: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc người có nghĩa vụ bù đắp

cho bên kia những tổn thất vật chất mà mình đã gây ra do vi phạm nghĩa vụ Do vậy, về nguyên

tắc thì chỉ khi xác định được có thiệt hại thực tế xảy ra thì người vi phạm mới phải bồi thường

Thiệt hại là sự giảm bớt, mất mát, hư hỏng nhưng phải tính được thành một khoản tiền

nhất định; trong một số trường hợp có thể là một số chi phí phải bỏ ra để khắc phục những hậu

quả xấu về tài sản do người có nghĩa vụ đã không chấp hành nghĩa vụ gây ra Thiệt hại trong

trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ chủ yếu là thiệt hại tài sản bao gồm:

+ Những hư hỏng, mất mát về tài sản

+ Những chi phí phải bỏ ra (chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại)

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

BLDS không phân thành thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp, việc xác định thiệt hại

căn cứ vào các quy định của PL, phải mang tính khách quan, không được suy diễn chủ quan

* Lỗi của người vi phạm nghĩa vụ

Về nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi người gây thiệt hại có

lỗi Lỗi trong trách nhiệm dân sự là việc mà chủ thể đã làm điều mà PL cấm hoặc không làm

một việc theo thỏa thuận đã được PL thừa nhận BLDS phân thành hai loại lỗi: cố ý gây thiệt hại

và vô ý gây thiệt hại (Điều 308) Tuy nhiên việc xác định hình thức lỗi gây thiệt hại chỉ có ý

nghĩa trong một số trường hợp cần thiết (Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc trong hợp

đồng gửi giữ, vận chuyển hàng hóa, )

* Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm PL và thiệt hại xảy ra

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm PL và thiệt hại xảy ra là mối liên hệ nội tại,

tất yếu, trong đó hành vi vi phạm nghĩa vụ là nguyên nhân, thiệt hại xảy ra là kết quả Chỉ trong

trường hợp thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm PL thì người vi phạm mới

phải bồi thường thiệt hại Trong thực tiễn, nhiều trường hợp một thiệt hại xảy ra có thể do nhiều

nguyên nhân khác nhau thì cần xem xét hành vi vi phạm của họ có quan hệ như thế nào đối với

thiệt hại xảy ra Nếu không xác định chính xác mối quan hệ này thì dễ dẫn đến những sai lầm

trong việc quyết định áp dụng bồi thường thiệt hại

Câu 17 Hợp đồng mua bán tài sản?

* Khái niệm: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có

nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền

cho bên bán

* Đặc điểm: Có sự thỏa thuận của các chủ thể để chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài

sản từ bên bán sang cho bên mua

Hợp đồng mua bán là hợp đồng ưng thuận, song vụ và có đền bù

+ Sự ưng thuận được hiểu là hợp đồng có giá trị từ khi các bên thỏa thuận xong các nội

dung chủ yếu của hợp đồng dưới một hình thức tương ứng

+ Tính chất song vụ thể hiện ở việc các bên có quyền và có nghĩa vụ đối lập nhau một

cách tương xứng

+ Sự đền bù được hiểu là một các bên có sự chuyển cho nhau các lợi ích tương ứng, trong

đó một bên phải giao tài sản và quyền sở hữu tài sản, còn bên nhận được tài sản phải thanh

thanh toán giá trị của tài sản, theo phương thức Hàng – Tiền

* Các điều khoản chủ yếu của Hợp đồng mua bán tài sản

- Đối tượng: Đối tượng của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là vật thì vật phải được xác định rõ

chất lượng: Chất lượng của vật mua bán do các bên thoả thuận Trong trường hợp chất lượng

của vật đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì chất lượng

của vật được xác định theo các tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền Khi các bên không có thoả thuận và PL không có quy định về chất lượng thì

chất lượng của vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của

vật cùng loại

- Số lượng: xác định bằng trọng lượng hoặc khối lượng hoặc theo đơn vị

Quy cách bao bì đóng gói

Tình trạng của tài sản khi giao kết hợp đồng và khi giao nhận tài sản

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản thì phải có giấy tờ

hoặc các bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của bên bán

- Giá cả: Giá có thể được xác định: Do thoả thuận của các bên Trong trường hợp các bên

thoả thuận thanh toán theo giá thị trường thì giá được xác định tại địa điểm và thời điểm thanh

toán Theo khung giá do NN quy định Do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên

- Thời hạn thực hiện hợp đồng: Các bên có thoả thuận; Các bên không có thoả thuận

- Địa điểm giao tài sản: Các bên có thoả thuận; Các bên không có thoả thuận

- Phương thức thanh toán: Các bên có thoả thuận; Các bên không có thoả thuận

* Hình thức hợp đồng mua bán: Có thể được thiết lập dưới bất kỳ hình thức nào Trong

trường hợp PL có quy định hình thức thì phải tuân thủ quy định đó

* Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán:

- Bên bán có các nghĩa vụ:

+ Giao tài sản cho bên mua: giao đúng số lượng, chất lượng, chủng loại, đồng bộ, địa

điểm, phương thức, thời hạn

+ Chuyển quyền sở hữu tài sản sang cho bên mua đúng cam kết

+ Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu vật bán và đứng về phía người mua khi có người thứ

ba tranh chấp quyền sở hữu vật bán với người mua

Lưu ý: Thời điểm chuyển quyền sở hữu

Thời điểm chuyển rủi ro và ý nghĩa của quy định này

+ Nghĩa vụ cung cấp thông tin về vật bán và cách sử dụng vật bán

* Khái niệm: Hợp đồng mua bán nhà là sự thoả thuận giữa các bên mà theo đó bên bán

có nghĩa vụ giao nhà và giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu cho bên mua, còn bên mua cónghĩa vụ trả tiền cho bên bán đúng cam kết

* Đối tượng của hợp đồng là nhà ở nhưng phải đảm bảo các điều kiện (Điều 91 - Luật nhà ở):

- Có GCN quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của PL

- Không có tranh chấp về quyền sở hữu

- Không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quannhà nước có thẩm quyền

* Chủ thể trong hợp đồng:

- Bên bán nhà ở phải có các điều kiện sau: Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người đại diện theoquy định của PL; cá nhân có năng lực hành vi dân sự, tổ chức bán, cho thuê nhà ở phải có chứcnăng kinh doanh nhà ở, trừ trường hợp tổ chức bán nhà ở không nhằm mục đích kinh doanh

- Bên mua nhà ở là tổ chức, cá nhân Nếu là cá nhân trong nước thì không phụ thuộc vàonơi đăng ký HKTT và phải có năng lực hành vi dân sự Trường hợp là người VN định cư ởnước ngoài thì phải thuộc diện được sở hữu, được mua nhà ở tại VN theo quy định của PL.Nếu bên mua nhà ở là tổ chức thì không phụ thuộc vào nơi ĐKKD

* Hình thức HĐMB nhà ở và thời điểm chuyển quyền sở hữu:

- Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứngthực, trừ trường hợp PL có quy định khác

- Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp mua bán nhà ở tính từ ngàyhợp đồng mua bán nhà ở được công chứng hoặc chứng thực Trường hợp mua bán nhà ở màmột bên là tổ chức có chức năng KD nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là thờiđiểm bên bán bàn giao nhà ở cho bên mua theo thoả thuận trong hợp đồng

* Quyền và nghĩa vụ của các bên:

- Bên bán nhà ở có các nghĩa vụ sau đây:

+ Thông báo cho bên mua về các hạn chế quyền sở hữu đối với nhà mua bán, nếu có;+ Bảo quản nhà ở đã bán trong thời gian chưa giao nhà ở cho bên mua;

+ Giao nhà ở đúng tình trạng đã ghi trong hợp đồng kèm theo hồ sơ về nhà cho bênmua;

+ Thực hiện đúng các thủ tục mua bán nhà ở theo quy định của PL

- Bên bán nhà ở có các quyền sau đây:

+ Yêu cầu bên mua nhận nhà đúng thời hạn đã thoả thuận;

+ Yêu cầu bên mua trả tiền đúng thời hạn, theo phương thức đã thoả thuận;

+ Yêu cầu bên mua hoàn thành các thủ tục mua bán nhà ở trong thời hạn đã thoả thuận;+ Không giao nhà khi chưa nhận đủ tiền nhà như đã thoả thuận

- Bên mua nhà ở có các nghĩa vụ sau đây:

+ Trả đủ tiền mua nhà đúng thời hạn, theo phương thức đã thoả thuận; nếu không cóthoả thuận về thời hạn và địa điểm trả tiền thì bên mua phải trả vào thời điểm bên bán giao nhà

và tại nơi có nhà;

+ Nhận nhà và hồ sơ về nhà đúng thời hạn đã thoả thuận;

+ Trong trường hợp mua nhà đang cho thuê, phải bảo đảm quyền, lợi ích của người thuênhư thoả thuận trong hợp đồng thuê khi thời hạn thuê còn hiệu lực

- Bên mua nhà ở có các quyền sau đây:

+ Được nhận nhà kèm theo hồ sơ về nhà theo đúng tình trạng đã thoả thuận;

+ Yêu cầu bên bán hoàn thành các thủ tục mua bán nhà ở trong thời hạn đã thoả thuận;+ Yêu cầu bên bán giao nhà đúng thời hạn; nếu không giao hoặc chậm giao nhà thì phảibồi thường thiệt hại

* Các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng mua bán nhà ở:

- Phương thức thanh toán

Câu 19 Thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán?

- Là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua

và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán

- Thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng mua bán:

Quyền sở hữu đối với tài sản mua bán được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm tài sảnđược chuyển giao, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc PL có quy định khác Đốivới tài sản mua bán mà PL quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyểncho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó Nhưvậy, PL quy định cụ thể thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản trong hợp đồng mua bán, riêngđối với HĐMB nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu theo quy định của Luật nhà ở.Trong trường hợp tài sản mua bán chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tứcthì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên bán

Câu 20 Hợp đồng vay tài sản?

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản chobên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng sốlượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc PL có quy định

- Trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay nhu cầu của các chủ thể ngày càng tăngtrong lĩnh vực kinh tế, do đó hợp đồng vay tài sản đã đáp ứng vốn cho các chủ thể mở rộngSXKD tạo ra nhiều hàng hoá có chất lượng cao và tạo công ăn việc làm cho nhân dân

- Hợp đồng vay tài sản còn là hành lang pháp lý quy định các quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể, hạn chế thấp nhất việc cho vay nặng lãi mang tính chất bóc lột trong đời sống dân sự

- Hợp đồng vay tài sản còn là căn cứ để hoà giải, giải quyết các tranh chấp phát sinh kháphổ biến trong nhân dân

- Bản chất của hợp đồng là thỏa thuận để bên cho vay chuyển quyền sở hữu tài sản vaysang bên vay (Phân biệt việc chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng vay tài sản với hợp đồngmua bán, tặng cho tài sản)

- Hợp đồng vay có thể là hợp đồng thực tế hoặc hợp đồng ưng thuận; hợp đồng có đền

bù hoặc không có đền bù; hợp đồng song vụ

Câu 21 Hụi và đường lối giải quyết?

Hụi, họ, biêu, phường (họ) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sởthoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặctài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên Hình thức họ nhằmmục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của PL

Nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi

"Việc chơi hụi, họ được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 467 đến Điều 475của Bộ luật này và các văn bản PL khác có liên quan"

Chơi hụi, họ là một tập quán có từ lâu đời trong nhân dân ta, nó mang tính chất tươngtrợ, giúp đỡ lẫn nhau về kinh tế Thực chất chơi hụi, họ là một HĐVTS của một người đối vớinhiều người có tính chất luân phiên Song vào cuối những năm 80 đầu thập kỷ 90 của thế kỷ

Trang 6

XX, việc chơi hụi, họ phát triển với quy mô lớn trong phạm vi cả nước, có tính chất phức tạp

hơn Một số người lấy tiền của hụi nọ đập vào hụi kia, hoạt động như một nghề để kiếm sống

mà không chịu lao động Nhiều trường hợp đã lợi dụng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người

khác, nhiều gia đình lâm vào tình cảnh kiệt quệ về kinh tế do bị giật hụi, bể họ Tình hình này đã

gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, trật tự xã hội và đời sống của một bộ phận nhân dân

Nhà nước ta coi những hoạt động này là một dạng quan hệ dân sự trái PL, cần có biện pháp

ngăn chặn, giải quyết kịp thời Ngày 08/08/1992, TA nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân

tối cao đã ra Thông tư liên tịch số 04/TTLT hướng dẫn thống nhất đường lối giải quyết tranh

chấp nợ hụi Tuy nhiên, sau khi BLDS 1995 được ban hành, Thông tư này đã bị huỷ bỏ theo

Nghị quyết về việc thi hành BLDS của Quốc hội Trong khi đó, BLDS 1995 lại không có quy

định nào điều chỉnh về vấn đề này, nên khi có tranh chấp TA đã không có căn cứ PL để giải

quyết Trước tình hình đó, TANDTC ra công văn hướng dẫn các TA địa phương ngừng thụ lý

việc giải quyết tranh chấp hụi phát sinh từ sau ngày 1/7/1996 - thời điểm BLDS 1995 có hiệu

lực, nếu đã thụ lý, chưa giải quyết xong thì ra quyết định tạm đình chỉ Việc thiếu vắng sự điều

chỉnh của PL đối với loại quan hệ này dẫn đến nhiều khi các bên tự giải quyết tranh chấp với

nhau bằng "luật rừng", gây mất ổn định xã hội Dự thảo BLDS (sửa đổi) lần này coi các quan hệ

chơi hụi, họ như là quan hệ vay và cho vay và được điều chỉnh theo các quy định về HĐVTS và

các văn bản PL khác có liên quan là hợp lý Sau khi Dự thảo BLDS (SĐ) được thông qua và có

hiệu lực, các tranh chấp về hụi, họ sẽ được TA thụ lý giải quyết góp phần ổn định trật tự KTXH

Câu 22 Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản Ví dụ thực tế?

Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản

do Ngân hàng nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng Trong trường hợp các bên có

thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp

dụng lãi suất cơ bản do NHNN công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả

Quy định “không xác định rõ lãi suất” nghĩa là các bên thỏa thuận vay chỉ ghi có lãi

nhưng không xác định rõ lãi vay là bao nhiêu hoặc trường hợp “có tranh chấp lãi suất” nghĩa là

trong hợp đồng vay bên vay cho rằng lãi 1,5% tháng, nhưng bên cho vay cho rằng lãi 3% tháng

(HĐ vay bằng lời nói chỉ có lời khai của các bên hoặc chứng cứ viết nhưng không thống nhất)

Đối với HĐ vay có thời hạn thì thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi hết hạn vay, với HĐ

vay không có thời hạn thì thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi đòi nợ (phát sinh tranh chấp)

Chấp nhận việc nhập lãi vào nợ gốc một lần đối với trường hợp vay có thời hạn và đến

hạn trả nợ mà người vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình Trong thực tế việc trả

nợ thường thực hiện nhiều lần Mỗi lần trả nợ phải trừ nợ lãi, số tiền còn lại sau khi trừ lãi mới

trừ vào nợ gốc Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó

Lãi suất trong HĐVTS là tỷ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tài sản đã vay

trên một đơn vị thời gian, nếu các bên có thoả thuận về việc trả lãi hoặc PL quy định về việc trả

lãi Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thoả thuận hoặc PL quy

định Căn cứ vào lãi suất, số lượng tài sản vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một khoản

lãi thường là bằng tiền, nhưng cũng có trường hợp các bên thoả thuận với nhau trả lãi bằng tài

sản quy đổi, ví dụ như vay gỗ trả lãi bằng phân đạm

VD A vay B 300tr 2 bên thỏa thuận vay là 12 tháng Từ 1/2010 lãi suất 7%/ tháng nhưng

A chỉ trả cho B mới 5 tháng rồi không trả nữa tháng 2/2011 B yêu cầu tòa án buộc A phải trả lãi

đến hết tháng 12/2010 Trong trường hợp này TA sẽ giải quyết như thế nào nếu lãi suất do ngân

hàng quy định đối với lãi suất vay tương ứng la 1,7%/tháng? tính lãi suất quá hạn? (quá hạn 2

tháng)

Câu 23 Hợp đồng thuê tài sản?

* Khái niệm: Hợp đồng thuê tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê

giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải trả tiền thuê

Giá thuê tài sản do các bên thảo thuận Trong trường hợp PL có quy định về khung giá

thuê thì các bên chỉ được thỏa thuận về giá thuê trong phạm vi khung giá đó

* Đặc điểm: Có sự chuyển giao tài sản và quyền sử dụng tài sản giữa các bên trong một

thời hạn; Là hợp đồng ưng thuận, song vụ, có đền bù

* Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thuê tài sản:

- Nghĩa vụ và quyền của bên cho thuê:

+ Bên cho thuê phải giao tài sản cho bên thuê đúng số lượng, chất lượng, chủng loại, tình

trạng và đúng thời điểm, địa điểm đã thoả thuận và cung cấp những thông tin cần thiết về việc

sử dụng tài sản đó

+ Bên cho thuê phải bảo đảm giá trị sử dụng hay chất lượng vật cho thuê trong thời hạn

có hiệu lực của hợp đồng

+ Bên cho thuê đảm bảo quyền sử dụng tài sản ổn định cho bên thuê

+ Nghĩa vụ thông báo cho người thứ ba hoặc chủ nợ nhận cầm cố, thế chấp tài sản thuê

biết về việc tài sản đó được dùng để cho thuê…

- Nghĩa vụ và quyền của bên thuê:

+ Bên thuê phải bảo quản tài sản thuê như tài sản của chính mình, phải bảo dưỡng và sữa

chữa nhỏ, nếu làm mất mát, hư hỏng thì phải bồi thường

+ Bên thuê phải sử dụng tài sản thuê đúng công dụng tài sản và đúng mục đích cam kết

+ Trả tiền thuê theo đúng thời hạn đã thỏa thuận

+ Trả lại tài sản thuê đúng tình trạng của vật thuê như tình trạng tài sản trước khi ký hợp

đồng thuê tài sản hoặc tình trạng mà các bên đã cam kết

+ Nếu làm hư hỏng, mất mát, tiêu hủy, giảm sút giá trị thì phải bồi thường thiệt hại, trừ

những hao mòn tự nhiên hoặc tổn thất do rủi ro, mà hợp đồng không thỏa thuận là bên thuê phải

chịu Nếu đối tượng thuê là súc vật, mà súc vật sinh con thì người thuê phải trả cả súc vật con

được sinh ra, nhưng người cho thuê phải thanh toán chi phí hợp lý chăm sóc

+ Không được đem tài sản cho thuê lại trái với ý chí của bên cho thuê

* Nghĩa vụ bảo quản tài sản thuê:

- Bên thuê phải bảo quản tài sản thuê như tài sản của chính mình, phải bảo dưỡng và sửa

chữa nhỏ; nếu làm mất mát, hư hỏng thì phải bồi thường Bên thuê không chịu trách nhiệm về

hao mòn tự nhiên do sử dụng tài sản thuê

- Bên thuê có thể tu sửa và làm tăng giá trị tài sản thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý và

có quyền yêu cầu bên cho thuê thanh toán chi phí hợp lý

* Nghĩa vụ sử dụng tài sản thuê đúng mục đích:

- Bên thuê phải sử dụng tài sản thuê theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích đã

thoả thuận

- Trong trường hợp bên thuê sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đúng công

dụng thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện HĐ và yêu cầu bồi thường thiệt

hại

Câu 24 Hợp đồng vận chuyển hành khách?

* Khái niệm: Hợp đồng vận chuyển hành khách là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó

bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đã định theo thoả thuận, còn hành

khách phải thanh toán cước phí vận chuyển

* Hình thức hợp đồng vận chuyển hành khách: Hợp đồng VCHK có thể được lập thành

văn bản hoặc bằng lời nói Vé là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng VCHK giữa các bên

* Nghĩa vụ và quyền của các bên:

- Quyền và nghĩa vụ của bên vận chuyển:

Bên vận chuyển có các nghĩa vụ sau đây:

+ Chuyên chở hành khách từ địa điểm xuất phát đến đúng địa điểm, đến đúng giờ, vănminh, lịch sự và bằng phương tiện đã thoả thuận một cách an toàn, theo lộ trình; bảo đảm đủchỗ cho khách và không chuyên chở vượt quá trọng tải;

+ Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với hành khách theo quy định của PL;+ Bảo đảm thời gian xuất phát đã được thông báo hoặc theo thoả thuận;

+ Chuyên chở hành lý và trả lại cho hành khách hoặc người có quyền nhận hành lý tạiđịa điểm thoả thuận theo đúng thời gian, lộ trình;

+ Hoàn trả cho hành khách cước phí vận chuyển theo thoả thuận Trong trường hợp PL

có quy định thì theo quy định của PL

Bên vận chuyển có các quyền sau đây:

+ Yêu cầu hành khách trả đủ cước phí vận chuyển hành khách, cước phí vận chuyểnhành lý mang theo người vượt quá mức quy định;

+ Từ chối chuyên chở hành khách trong các trường hợp sau đây:

@ Hành khách không chấp hành quy định của bên vận chuyển hoặc có hành vi làm mấttrật tự công cộng, cản trở công việc của bên vận chuyển, đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, tàisản của người khác hoặc có những hành vi khác không bảo đảm an toàn trong hành trình;trong trường hợp này, hành khách không được trả lại cước phí vận chuyển và phải chịu phạt viphạm, nếu điều lệ vận chuyển có quy định;

@ Do tình trạng sức khoẻ của hành khách mà bên vận chuyển thấy rõ rằng việc vậnchuyển sẽ gây nguy hiểm cho chính hành khách đó hoặc những người khác trong hành trình;

@ Để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan

- Quyền và nghĩa vụ của hành khách:

Hành khách có các nghĩa vụ sau đây:

+ Trả đủ cước phí vận chuyển hành khách, cước phí vận chuyển hành lý vượt quá mứcquy định và tự bảo quản hành lý mang theo người;

+ Có mặt tại điểm xuất phát đúng thời gian đã thoả thuận;

+ Tôn trọng, chấp hành đúng các quy định của bên vận chuyển và các quy định khác vềbảo đảm an toàn giao thông

Hành khách có các quyền sau đây:

+ Yêu cầu được chuyên chở đúng bằng phương tiện vận chuyển và giá trị loại vé với lộtrình đã thoả thuận;

+ Được miễn cước phí vận chuyển đối với hành lý ký gửi và hành lý xách tay trong hạnmức theo thoả thuận hoặc theo quy định của PL;

+ Yêu cầu thanh toán chi phí phát sinh hoặc bồi thường thiệt hại, nếu bên vận chuyển cólỗi trong việc không chuyên chở đúng thời hạn, địa điểm đã thoả thuận;

+ Được nhận lại toàn bộ hoặc một phần cước phí vận chuyển trong trường hợp quy địnhtại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 530 của Bộ luật này và những trường hợp khác do PL quyđịnh hoặc theo thoả thuận;

+ Nhận hành lý tại địa điểm đã thoả thuận theo đúng thời gian, lộ trình;

+ Yêu cầu tạm dừng hành trình trong thời hạn và theo thủ tục do PL quy định

* Đặc điểm: Đối tượng trong hợp đồng là công việc; Hợp đồng vận chuyển hành khách

* Trách nhiệm của các bên trong hợp đồng:

- Trách nhiệm của bên vận chuyển

* Trách nhiệm do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ dịch vụ vậnchuyển như đã cam kết;

* Trách nhiệm đối với hành lý của hành khách;

* Trách nhiệm đối với sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ của HK

- Trách nhiệm của hành khách + Đối với phương tiện vận chuyển + Đối với người thứ ba

Câu 25 Hợp đồng bảo hiểm?

- Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phảiđóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảohiểm khi xãy ra sự kiện BH

- Hợp đồng bảo hiểm bao gồm hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tàisản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

- Hợp đồng bảo hiểm là căn cứ quan trọng quy định quyền và nghĩa vụ của DNBH vàngười tham gia bảo hiểm theo thỏa thuận của 02 bên

- Đối tượng bảo hiểm: Đối tượng bảo hiểm bao gồm con người, tài sản, trách nhiệm dân

sự và các đối tượng khác theo quy định của PL

- Hình thức HĐBH: HĐBH phải được lập thành văn bản Giấy yêu cầu BH có chữ kýcủa bên mua bảo hiểm là bộ phận không tách rời của HĐBH Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặcđơn bảo hiểm là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm

- Sự kiện bảo hiểm: Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc

PL quy định mà khi sự kiện đó xãy ra thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho bên đượcbảo hiểm, trừ trường hợp quy định tại khoản 2, điều 346 BLDS 2005

- Phí bảo hiểm:

+ Là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho bên bảo hiểm Thời hạn đóng phíbảo hiểm theo thoả thuận hoặc theo quy định của PL Phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặctheo định kỳ

+ Trong trường hợp bên mua bảo hiểm chậm đóng phí bảo hiểm theo định kỳ thì bênbảo hiểm ấn định một thời hạn để bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm; nếu hết thời hạn đó

mà bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm thì hợp đồng chấm dứt

- Các chủ thể liên quan hợp đồng: Doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, ngườiđược bảo hiểm, người thụ hưởng

- Các loại hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

+ Hợp đồng bảo hiểm con người

+ Hợp đồng bảo hiểm tài sản

+ Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Mỗi loại hợp đồng trên có đối tượng bảo hiểm và kỹ thuật nghiệp vụ khác nhau Việcchia ra làm 3 loại HĐ bảo hiểm phi nhân thọ nói trên nhằm có biện pháp quản lý phù hợp hơn

Câu 26 Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ?

* Khái niệm và các điều kiện:

- Đất đai thuộc hình thức sở hữu Nhà nước, do Chính phủ thống nhất quản lý

- QSDĐ của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và các chủ thể khác được Nhà nước giaođất, cho thuê đất, được chuyển quyền hợp pháp hoặc được công nhận thì được thực hiệnchuyển QSDĐ phù hợp với BLDS và PL đất đai

- Hợp đồng chuyển QSDĐ phải lập bằng văn bản có công chứng, chứng thực theo quyđịnh của PL

- HĐ chuyển QSDĐ có hiệu lực PL từ thời điểm đăng ký QSDĐ theo quy định của PL

Trang 7

- Giá chuyển QSDĐ do các bên thoả thuận hoặc do PL quy định.

* Nguyên tắc chuyển quyền SDĐ:

- Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác sử dụng đất được PL cho phép chuyển

QSDĐ mới có quyền chuyển QSDĐ

- Khi chuyển QSDĐ, các bên có quyền thoả thuận về nội dung của hợp đồng chuyển

QSDĐ nhưng phải phù hợp với quy định của Bộ luật này và PL về đất đai

- Bên nhận chuyển QSDĐ phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng thời hạn ghi trong giấy

chứng nhận QSDĐ và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở địa phương tại thời điểm

chuyển QSDĐ

* Các loại hợp đồng chuyển QSDĐ:

- Hợp đồng chuyển đổi QSDĐ: Là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó các bên chuyển

giao đất và chuyển quyền SDĐ cho nhau theo quy định của Bộ luật này và PL về đất đai

- Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ: Là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển

nhượng QSDĐ chuyển giao đất và QSDĐ cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển

nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và PL về đất đai

- Hợp đồng thế chấp QSDĐ: Là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên SDĐ (bên thế

chấp) dùng QSDĐ của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (bên nhận

thế chấp) Bên thế chấp được tiếp tục SDĐ trong thời hạn thế chấp

- Hợp đồng thuê QSDĐ: Là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê chuyển giao

đất cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải SDĐ đúng mục đích, trả tiền

thuê và trả lại đất khi hết thời hạn thuê theo quy định của Bộ luật này và PL về đất đai

- Hợp đồng tặng cho QSDĐ: Là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao

QSDĐ cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận

theo uy định của Bộ luật này và PL về đất đai

- Hợp đồng góp vốn bằng gái trị QSDĐ: Là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó người

SDĐ (bên góp vốn) góp phần vốn của mình bằng giá trị QSDĐ để hợp tác SXKD với cá nhân,

pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác theo quy định của Bộ luật này và PL về đất đai

Câu 27 Những quy định chung về hợp đồng chuyển QSDĐ?

- Căn cứ xác lập QSDĐ:

+ Đất đai thuộc hình thức sở hữu nhà nước, do Chính phủ thống nhất quản lý

+ QSDĐ của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước

giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ

+ QSDĐ của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác cũng được xác lập do được

người khác chuyển QSDĐ phù hợp với quy định của Bộ luật này và PL về đất đai

- Hình thức chuyển QSDĐ:

+ Việc chuyển QSDĐ được thực hiện thông qua hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại

khoản 3 Điều này

+ Hợp đồng chuyển QSDĐ phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo

quy định của PL

+ Việc thừa kế QSDĐ được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 733 đến Điều

735 của Bộ luật này

- Giá chuyển QSDĐ: Giá chuyển QSDĐ do các bên thoả thuận hoặc do PL quy định

- Nguyên tắc chuyển QSDĐ

+ Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác sử dụng đất được PL cho phép chuyển

QSDĐ mới có quyền chuyển QSDĐ

+ Khi chuyển QSDĐ, các bên có quyền thoả thuận về nội dung của hợp đồng chuyển

QSDĐ nhưng phải phù hợp với quy định của Bộ luật này và PL về đất đai

+ Bên nhận chuyển QSDĐ phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng thời hạn ghi trong giấy

chứng nhận QSDĐ và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở địa phương tại thời điểm

chuyển QSDĐ

- Hiệu lực của việc chuyển QSDĐ: Việc chuyển QSDĐ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng

ký QSDĐ theo quy định của PL về đất đai

Câu 28 Thế chấp QSDĐ?

Thế chấp là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện

nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận thế chấp Tài sản thế chấp có thể là tài sản được hình thành

trong tương lai, gồm tài sản được hình thành từ vốn vay; tài sản đang trong giai đoạn hình thành

hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm; tài sản đã hình thành

và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm

thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của PL Bên cạnh đó, theo Điều 106 Luật Đất đai

2003, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền của mình, trong đó có quyền thế chấp bằng

QSDĐ phải thỏa mãn các điều kiện sau: (1) có giấy chứng nhận QSDĐ; (2) đất không có tranh

chấp; (3) QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (4) trong thời hạn sử dụng đất

Đối chiếu với những quy định trên, QSDĐ khi chưa được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ thì

không được thế chấp

Câu 29 Phương thức, quy trình bán đấu giá tài sản?

Quy trình bán đấu giá tài sản nhà nước:

1 Lựa chọn tổ chức bán đấu giá tài sản và ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản: Tổ chức,

cá nhân có tài sản bán đấu giá lựa chọn tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, hình thức bán đấu

giá và tiến hành ký kết hợp đồng bán đấu giá Hợp đồng bán đấu giá tài sản được ký kết giữa tổ

chức bán đấu giá tài sản và người có tài sản bán đấu giá hoặc người đại diện của người đó

2 Xác định giá khởi điểm của tài sản

Việc xác định giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá được thực hiện theo quy định của PL

về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

3 Chuẩn bị bán đấu giá tài sản

- Niêm yết, thông báo công khai thời gian, địa điểm, giá khởi điểm, đặc điểm tài sản Bán

đấu giá trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Tổ chức đăng ký tham gia đấu giá tài sản Người tham gia đấu giá tài sản phải nộp phí

tham gia đấu giá và khoản tiền đặt trước

- Trưng bày, xem tài sản bán đấu giá

4 Tiến hành bán đấu giá tài sản

Tổ chức bán đấu giá tài sản có thể lựa chọn một trong các hình thức đấu giá sau đây để

tiến hành cuộc bán đấu giá tài sản:

- Đấu giá trực tiếp bằng lời nói;

- Đấu giá bằng bỏ phiếu;

- Các hình thức khác do người có tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá tài sản thỏa

thuận

5 Kết thúc việc bán đấu giá

Nếu việc bán đấu giá thành thì tiến hành ký kết hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá

được giữa tổ chức bán đấu giá tài sản và người mua được tài sản bán đấu giá Hợp đồng mua

bán tài sản bán đấu giá được lập thành ít nhất là 04 bản, trong đó tổ chức bán đấu giá tài sản giữ

một bản và gửi cho người mua được tài sản bán đấu giá, người có tài sản bán đấu giá, cơ quan

nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, mỗi nơi một bản Trong

trường hợp tài sản bán đấu giá là bất động sản thì một bản hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá

còn được gửi cho cơ quan thuế

Câu 30 Khái niệm và các điều kiện của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng?

1 Khái niệm của TNBTTH ngoài hợp đồng: Điều 604 BLDS quy định: Người nào có lỗi

cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, cácquyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhânhoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

Như vậy, cơ sở của trách nhiệm bồi thường là những quy định của PL (quy định nhữnghậu quả pháp lý ngoài mong muốn của các chủ thể) không có sự thỏa thuận trước của các bên

và chỉ phát sinh khi đảm bảo các điều kiện luật định

Đặc điểm của TNBTTH ngoài hợp đồng:

- TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, nhưng nó không phải làhình phạt như trong Luật hình sự hoặc các chế tài của Luật hành chính mà là nghĩa vụ củangười có nghĩa vụ nhằm khắc phục những thiệt hại xảy ra Luật hình sự coi bồi thường thiệthại là biện pháp tư pháp (xem Điều 42 BLHS 1999)

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng trong trường hợp giữacác bên (bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại) không có quan hệ nghĩa vụ theo hợp đồng hoặcviệc gây ra thiệt hại không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng (như hai bên

ký hợp đồng vận chuyển hành khách, nhưng gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe cho hành kháchtrên xe)

- Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì các quyền và nghĩa vụ củacác bên do PL quy định

2 Các điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

* Phải có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút những lợi ích vật chất

hoặc tinh thần được PL bảo vệ Thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng phải là thiệt hại thực tế về tài sản hoặc tổn thất về tinh thần dẫn đến thiệt hại về tài sản

+ Thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút như thu nhập bị mất do bị thiệt hại

- Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần): Đời sống tinh thần là một phạm trù rất rộng,bao gồm nhiều vấn đề và chỉ tồn tại đối với xã hội loài người như góa bụa, mồ côi, xấu hổ,

Về nguyên tắc, không thể tính được bằng tiền như trao đổi ngang giá và không thể phục hồiđược Với mục đích an ủi, động viên đối với người bị thiệt hại tinh thần, đồng thời răn đe ngănchặn đối với những người có hành vi trái PL, BLDS quy định nếu các bên không thoả thuậnđược thì TA quyết định:

- Thiệt hại về sức khoẻ thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bên thoả thuận, nếukhông thoả thuận được thì mức tối đa không được vượt quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhànước quy định vào thời điểm bồi thường

- Thiệt hại về tính mạng thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bên thoả thuận,nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không được vượt quá 60 tháng lương tối thiểu doNhà nước quay định vào thời điểm bồi thường

- Thiệt hại về danh dự, nhân phẩm thì mức bồi thường thiệt hại tinh thần do các bên thoảthuận, nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không được vượt quá 10 tháng lương tốithiểu do Nhà nước quay định vào thời điểm bồi thường

* Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái PL: Hành vi trái PL là những xử sự cụ thể cua

con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định củaPL

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hành vi gây thiệt hại phải làhành vi trái PL xâm phạm các khách thể được PL bảo vệ như tính mạng, sức khỏe, tài sản,danh dự, nhân phẩm Như vậy, hành vi trái PL có thể là vi phạm hình sự, vi phạm PL dân sựhoặc vi phạm các quy tắc quản lý hành chính, Đối với những trường hợp mặc dù gây thiệthại thực tế nhưng hành vi gây thiệt hại không trái PL thì người gây thiệt hại không phải bồithường: gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng (Điều 617, Điều 618) Khixem xét hành vi của người gây thiệt hại có trái PL hay không cần phải căn cứ vào PL nóichung và các quy định của PL dân sự nói riêng

* Người gây thiệt hại có lỗi: Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm BTTH khi họ có

lỗi Đ604 BLDS quy định: "Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại thì phải bồi thường"

Do vậy, lỗi được biểu hiện dưới hai hình thức: cố ý gây thiệt hại và vô ý gây thiệt hại

- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệthại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặccho thiệt hại xảy ra

- Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây rathiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khảnăng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

- Lỗi trong trách nhiệm dân sự trong một số trường hợp có thể được suy đoán bởi lẽhành vi gây thiệt hại trái PL nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán là có lỗi Nếu nhữngngười gây thiệt hại chứng minh được mình không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm bồithường (trừ trường hợp PL có quy định khác) Nếu người giám hộ chứng minh được mìnhkhông có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường

* Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái PL: Trách nhiệm

BTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thiệt hại xảy ra là do chính kết quả tất yếu của hành vitrái PL Đây là mối quan hệ của sự vận động nội tại và nguyên nhân luôn phải diễn ra trước kếtquả trong một thời gian nhất định Tuy nhiên, trong thực tế một thiệt hại xảy ra có thể do nhiềunguyên nhân khác nhau, nếu chưa xác định được hành vi trái PL làm nguyên nhân gây ra thiệthại thì chưa buộc người có hành vi đó phải bồi thường Khi xác định nguyên nhân gây ra thiệthại cần xác định nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, và phân biệt nguyên nhân vớiđiều kiện để làm cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường

Câu 31 Năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân?

Trong thực tế người gây thiệt hại có thể là bất kỳ cá nhân nào (người đủ 18 tuổi, ngườimắc bệnh tâm thần, người chưa đủ 18 tuổi, ) nhưng không phải người nào cũng đủ khả năngbồi thường Điều 606 của BLDS phân biệt năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựavào lứa tuổi, năng lực hành vi và khả năng kinh tế của họ như sau:

- Người từ đủ 18 tuổi có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình gây thiệt hạicho người khác thì phải tự bồi thường Người gây thiệt hạ là bị đơn dân sự, trừ khi họ mấtnăng lực hành vi dân sự

- Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộthiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêng thì phải bồithường phần còn thiếu (trừ trường hợp quy định tại Điều 621 BLDS) Trong trường hợp nàythì cha, mẹ của người gây thiệt hại là bị đơn dân sự

- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sảncủa mình, nếu tài sản của người đó không đủ thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu Trongtrường hợp này thì người gây thiệt hại là bị dân sự và cha mẹ của người gây thiệt hại là người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có cánhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân, tổ chức đó được dùng tài sản của người được giám hộ để

Trang 8

bồi thường Nếu người được giám hộ không có hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người

giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình, trừ trường hợp người giám hộ chứng minh mình

không có lỗi trong giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường Trong trường hợp

này thì cá nhân, tổ chức giám hộ là bị đơn dân sự

Câu 32 Xác định thiệt hại tinh thần và phương thức bồi thường?

Việc xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa

rất quan trọng vì đây là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định mức bồi thường

Trong trường hợp tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm phạm thì người

gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tinh thần nhằm mục đích an ủi, động

viên tạo điều kiện thêm để họ khắc phục khó khăn làm dịu bớt nỗi đau cho người thân và bản

thân người bị thiệt hại

Việc bồi thường thiệt hại tinh thần chỉ xem xét giải quyết khi có yêu cầu, trước hết Tòa án

giải thích cho các bên thương lượng, nếu không thương lượng được thì Tòa án quyết định

* Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Trong trường hợp thiệt hại do sức khỏe bị xâm

phạm thì người gây thiệt hại phải bồi thường các khoản sau:

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và các chức năng bị

mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại như: tiền viện phí, tiền thuốc, tiền giải phẫu, tiền ghép tay

giả, chân giả, tiền bồi dưỡng hợp lý trong thời gian điều trị, tiền tàu xe đi lại từ nhà đến cơ sở

điều trị và ngược lại

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại Thu nhập thực tế bị mất

nghĩa là sau khi bị thiệt hại người bị thiệt hại hoàn toàn không có thu nhập gì (mất khả năng lao

động, ) Thu nhập thực tế bị giảm sút là khoản chênh lệch giữa hai thời điểm trước khi bị thiệt

hại và sau khi bị thiệt hại.Trong trường hợp thu nhập thực tế không ổn định, không xác định

được thì áp dụng mức thu nhập bình quân của người lao động cùng loại

+ Chi phí hợp lí phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong

thời gian điều trị Nếu người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động mà cần có người

chăm sóc thường xuyên thì bồi thường chi phí hợp lí cho người chăm sóc, đồng thời phải bồi

thường một khoản tiền cho những người mà người bị thiệt hại có nghiã vụ nuôi dưỡng, cấp

dưỡng khi còn sống (nếu có)

+ Về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại cho sức khỏe bị xâm phạm thì trong trường hợp

người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường

cho đến khi chết Đối với trường hợp người bị thiệt hại không mất hoàn toàn khả năng lao động

thì được hưởng bồi thường đối với thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút trong thời gian họ bị

mất hoặc bị giảm sút thu nhập

* Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: Trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm thì phải

bồi thường các khoản sau:

+ Chi phí hợp lí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết

+ Chi phí hợp lí cho việc mai táng người chết Việc xác định chi phí nào là hợp lí cho việc

mai táng người bị thiệt hại đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn cụ thể Thực tiễn

giải quyết thì chi phí hợp lí bao gồm: Thuê xe, mua quan tài, vải liệm, vải tang, hương nến và

các chi phí chôn cất hoặc hỏa táng người bị thiệt hại Khi quyết định mức bồi thường cần cân

nhắc sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội chung và tập quán tiến bộ tại địa phương

Trong trường hợp gia đình nạn nhân yêu cầu bồi thường các khoản tiền xây lăng mộ, thuê thầy

cúng hoặc cúng bái linh đình, không được xem là các chi phí hợp lí

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn

sống Đối với khoản tiền này cũng cần xem xét thu nhập thực tế và khả năng kinh tế của người

bị thiệt hại khi còn sống để quyết định mức cấp dưỡng mà người gây thiệt hại phải bồi thường

Thời hạn hưởng cấp dưỡng thì người chưa thành niên, người đã thành thai là con của người chết

sinh và còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi (trừ trường hợp người đủ 15

tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động có thu nhập đủ nuôi sống bản thân) Đối với

người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi

chết

* Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: Trong trường hợp xâm phạm

danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người gây thiệt hại phải bồi thường: chi phí hợp lí để hạn chế

khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, Thông thường người gây thiệt hại

phải bồi thường chi phí cho việc đăng tin, bài cải chính các thông tin sai sự thật; thu nhập bị mất

bị giảm sút trong quá trình SXKD,… Ngoài ra TA còn buộc người vi phạm phải chấm dứt hành

vi vi phạm, xin lỗi hoặc cải chính công khai

- Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm chi phí cần thiết cho việc thu hồi

ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho

việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu

xe đi lại, thuê nhà trọ…

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút…

* Thiệt hại tinh thần (tổn thất tinh thần): Trong trường hợp tính mạng, sức khỏe, danh dự,

nhân phẩm uy tín bị xâm phạm thì người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền để bù

đắp tinh thần nhằm mục đích an ủi, động viên, tạo điều kiện thêm để họ khắc phục khó khăn làm

dịu bớt nỗi đau cho người thân và bản thân người bị thiệt hại

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường cho

chính người bị thiệt hại

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

Câu 33 Xác định thiệt hại tài sản và mức bồi thường?

Việc xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa

rất quan trọng vì đây là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định mức bồi thường

- Thiệt hại vật chất: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm tài sản bị mất, bị hủy hoại

hoặc bị hư hỏng; các lợi ích vật chất gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, các chi phí hợp

lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại Việc bồi thường có thể là vật cùng loại, cùng

giá trị hoặc tính ra tiền để bồi thường (vào thời điểm xét xử sơ thẩm)

- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Theo quy định của Luật TNBTCNN thì thiệt hại do

tài sản bị xâm phạm được xác định như sau: Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt

hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng,

tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản đã bị phát mại, bị mất trên thị trường tại thời

điểm giải quyết bồi thường

Trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá

thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; nếu tài sản bị

hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định như trường hợp tài sản đã bị

phát mại, bị mất nêu trên

Trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại

được xác định là thu nhập thực tế bị mất Ðối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu

nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản

có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi

thường; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được

xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước

thời điểm thiệt hại xảy ra; nếu tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người

khác quản lý thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài sản được xác

định là những thiệt hại được bồi thường

Các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan NN có thẩmquyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền đượchoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ; trường hợp khoản tiền đó là khoản vay

có lãi thì phải hoàn trả cả khoản lãi hợp pháp; trường hợp khoản tiền đó không phải là khoảnvay có lãi thì phải hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ cả khoản lãi theo lãisuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm giải quyết bồi thường.K1, Đ3 TTLT số 24/2011/TTLT-BTP-BQP quy định một trong những căn cứ để xácđịnh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự là có thiệt hạithực tế xảy ra Theo quy định tại Thông tư này thì thiệt hại thực tế là thiệt hại có thực màngười bị thiệt hại phải gánh chịu do hành vi trái PL của người thi hành công vụ gây ra theoquy định của Luật TNBTCNN và PL có liên quan

Ngoài ra, Điều 8 Thông tư liên tịch số 24/2011/TTLT-BTP-BQP cũng đã hướng dẫn cụthể về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm như sau:

- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được xác định theo Điều 45 của Luật TNBTCNN.Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm là QSDĐ, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khácgắn liền với đất thì thiệt hại được bồi thường được xác định theo quy định tại Điều 45 của LuậtTNBTCNN và các quy định của PL có liên quan

- Thời gian tính lãi đối với các khoản tiền quy định tại khoản 4 Điều 45 của LuậtTNBTCNN được tính từ ngày tiền được nộp vào ngân sách nhà nước; bị tịch thu; thi hành áncho đến ngày ban hành quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồithường hoặc cho đến ngày có bản án, quyết định có hiệu lực PL của TA

Câu 34 Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và lỗi trong trách nhiệm dân sự?

Lỗi hiểu theo góc độ luật học, từ xưa đến nay có nhiều học giả, trong đó có các luật gia

đã quan tâm nhận xét rất khác nhau trong việc xác định yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự nóichung và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói riêng Có nhiều quan điểm khác nhau trongnhận thức về yếu tố lỗi nhưng nhìn chung các học giả đều thừa nhận lỗi được biểu hiện dướihai hình thức cố ý và vô ý Các học giả còn phân biệt mức độ lỗi trong hình lỗi vô ý gồm lỗi

vô ý nặng và lỗi vô ý nhẹ

Hành vi có lỗi, theo quy định tại Điều 309 BLDS thì "Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô

ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc PL có quy định khác: Khoản 1 Điều 309 nói trên

quy định lỗi do hành vi không thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người có hành vi đó bị coi là cólỗi Theo quy định của khoản 2 Điều 309 BLDS thì nội dung của khoản này có ý nghĩa việndẫn trực tiếp trong việc xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Khoản 2 Điều 309 quy

định: "Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra".

Về mặt khách quan, quy định trên đã dự liệu trường hợp người gây thiệt hại nhận thức

rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vấn thực hiện, cho dù người đó mongmuốn hoặc không mong muốn nhưng đã có thái độ để mặc cho thiệt hại xảy ra thì người đóphải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi có lỗi cố ý của mình

Về mặt chủ quan, người gây thiệt hại khi thực hiện hành vi gây hại luôn nhằm mục đích

có thiệt hại xảy ra cho người khác và được thể hiện dưới hai mức độ: Mong muốn có thiệt hạixảy ra và không mong muốn có thiệt hại, nhưng lại để mặc cho thiệt hại xảy ra

Mức độ thể hiện ý chí- hành vi của người cố ý gây thiệt hại trong trường hợp người đónhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, thì phải chịutrách nhiệm dân sự do lỗi cố ý là nguyên nhân của thiệt hai

Theo nội dung khoản 2 điều 309 BLDS, chúng tôi thấy cần thiết phải làm rõ những quan

hệ và yếu tố có liên quan đến phạm vi lỗi của người gây thiệt hại

Một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thựchiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại đó xảy ra thì lỗi củangười gây thiệt hại là lỗi cố ý Những yếu tố liên quan đến hình thức lỗi cố ý gây thiệt hạiđược thể hiện ở những mức độ khác nhau, do biểu lộ ý chí của chủ thể đã là yếu tố quyết địnhhình thức lỗi

Khi xác định lỗi cố ý gây thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải phân biệt với những hành vigây thiệt hại khác, không thuộc hành vi do lỗi cố ý hoặc vô ý gây ra Đó là hành vi gây thiệthại được xác định là sự kiện bất ngờ Sự kiện bất ngờ được qui định tại Điều 11 BLHS củanước CHXHCNVN được dẫn chiếu vì điều luật này không những được áp dụng trong lĩnh vựcluật hình sự, mà còn có ý nghĩa trực tiếp trong việc xác định trách nhiệm dân sự do gây thiệthại ngoài hợp đồng Sự kiện bất ngờ được hiểu là sự kiện pháp lý nhưng hậu quả của nó khônglàm phát sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi tạo ra sự kiện đó Một SKPL có đủ cácyếu tố sau đây SKBN:

Mối liên hệ giữa các yếu tố trên không thể làm phát sinh TNDS ngoài hợp đồng do thiếuyếu tố lỗi của người gây thiệt hại và hành vi gây thiệt hại không phải là hành vi trái PL Không

có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái PL và thiệt hại Nói các khác, người có hành vi liênquan đến thiệt hại không phải là người gây thiệt hại do nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gâythiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, đồng thời người có hành vi đó không thể hiện ý chímong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc thiệt hại xảy ra cho người khác Như vậy,người có hành vi thuộc trường hợp bất ngờ thì hành vi của người đó không có lỗi tồn tại ở hìnhthức này hay hay hình thức kia, ở mức độ này hay mức độ khác Theo qui định của PL, thìngười có hành vi đó không chịu trách nhiệm dân sự

Khi xác định và phân tích yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự (TNDS) ngoài hợp đồng,cần thiết phải đặt yếu tố đó trong mối liên hệ với những sự kiện pháp lý khác, mà rõ nét hơn cả

là sự biến pháp lý tuyệt đối và sự biến pháp lý tương đối là những căn cứ làm phát sinh, thayđổi và chấm dứt quan hệ PL dân sự Sự biến pháp tương đối là một sự kiện pháp lý mà sựkhởi phát của nó do hành vi của con người tác động dưới hình thức lỗi vô ý, do vậy người cóhành vi tạo ra sự kiện đó phải bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệthại Trong khoa học pháp lý các nhà luật học đều thừa nhận sự biến pháp lý tương đối là sựbiến do con người tác động, còn sự thay đổi và chấm dứt của nó con người không kiểm soátđược Như vậy, hành vi tạo ra sự biến pháp lý tương đối là hành vi có lỗi và là hành vi trái PL

Theo khoản 2 Điều 309 BLDS lỗi vô ý được xác định là "trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được" Người gây thiệt hại đã không

mong muốn, không để mặc cho thiệt hại xảy ra mà là do không kiểm soát được diễn biến của

sự kiện do hành vi vô ý của mình tạo ra thì người có hành vi đó phải bồi thường

Khi xác định, phân tích sự biến pháp lý chúng tôi muốn làm rõ sự biến pháp lý tuyệt đốikhông chứa đựng yếu tố lỗi dưới bất kỳ hình thức nào Bởi vì theo nhận thức của các nhànghiên cứu luật học về mặt lý luận, thì sự biến pháp lý tuyệt đối là sự biến của một sự kiệnphát sinh, thay đổi, chấm dứt không phụ thuộc vào ý thức của con người - ý thức của conngười không kiểm soát được sự kiện đó Sự biến pháp lý tuyệt đối có ý nghĩa pháp lý đặc thù,bởi vì sự biến đó được đặt trong mối liên hệ về không gia và thời gian cụ thể, theo đó tráchnhiệm dân sự không phát sinh đối với một hoặc hai bên chủ thể của quan hệ đó Như vậy, cóthể nhận định rằng lỗi vô ý luôn tồn tại trong sự biến pháp lý tương đối, còn lỗi thuộc mọi hìnhthức không thể tồn tại trong sự biến pháp lý tuyệt đối Sự nhận thức trên có ý nghĩa về mặt lýluận trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trang 9

Đoạn cuối Điều 621 BLDS qui định trách nhiệm hỗn hợp nhưng trách nhiệm hỗn hợp

được loại trừ "nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, thì người gây thiệt

hại không phải bồi thường" Theo qui định trên, hình thức lỗi của người bị thiệt hại không cần

phải xác định, mà lỗi hiểu theo nghĩa "hoàn toàn" thuộc về người bị thiệt hại Áp dụng qui định

này trong việc giả quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phù hợp với hoàn cảnh luật

định, thì còn cần phải làm rõ những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, thì người gây thiệt hại

không phải bồi thường Lỗi của người bị thiệt hại có thể do vố ý hoặc cố ý nhưng phải xác định

được lỗi đó hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại, theo đó người gây thiệt hại phải là người hoàn

toàn không có lỗi thuộc hình thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay ở mức độ khác thì

người có đó không phải bồi thường Người gây thiệt phải chứng minh được là mình hoàn toàn

không có lỗi, mà lỗi hoàn toàn thuộc về phía người bị gây thiệt hại Mối quan hệ nhân quả giữa

hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra luôn luôn xác định được trong một thiệt hại cụ thể

Nhưng trách nhiệm pháp lý có phát sinh ở người có hành vi gây thiệt hại hay không còn tùy

thuộc vào sự kiện xảy ra hoàn toàn hay không hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại để có cơ sở

quy trách nhiệm dân sự cho người có hành vi gây thiệt hại Nếu người gây thiệt hại, thì mỗi bên

phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ lỗi của mình

Thứ hai, trong BLDS năm 1995 của nước CHXHCN Việt Nam không có điều luật nào

qui định về mức độ lỗi, mà chỉ qui định tại Điều 309 về hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý Việc

áp dụng hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý Việc áp dụng Điều 621 BLDS trong việc giải quyết

trách nhiệm dân sự hỗn hợp được dựa trên mức độ lỗi như thế nào Lỗi không tự nó có vị trí độc

lập với các yếu tố khác trong việc xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Hình thức lỗi

cũng không phải là không thể xác định Theo nguyên tắc chung của trách nhiệm dân sự ngoài

hợp đồng, thì hình thức lỗi nếu xét về người có hành vi trái PL gây thiệt hại không ảnh hưởng

tới mức độ và trách nhiệm bồi thường của người đó Người gây thiệt hại dù có lỗi cố ý hay có

lỗi vô ý khi gây thiệt hại cho người khác thì người đó cũng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do

hành vi có lỗi của mình gây ra Không vì người gây thiệt hại có lỗi vô ý hoặc cố ý trong khi gây

thiệt hại mà mức bồi thường tăng hay giảm tương ứng Tuy nhiên, trong những trường hợp cá

biệt có điều kiện luật định, thì người gây thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được miễn giảm mức

bồi thường (do Tòa án xem xét quyết định) Những trường hợp phổ biến trong việc miễn giảm

mức bồi thường cho người gây thiệt hại thường phát sinh trong các trường hợp sau đây:

- Người gây thiệt hại có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước

mắt và lâu dài của mình (Khoản 2 điều 610);

- Người gây thiệt hại và người bị thiệt hại thỏa thuận với nhau về mắc bồi thường thấp

hơn thiệt hại

Trường hợp thứ nhất, PL qui định người gây tiệt hại bồi thường thấp hơn thiệt hại do hành

vi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với điều kiện bồi thường của người gây thiệt hại Qui định

này đã loại trừ người gây thiệt hại có lỗi cố ý và PL không qui định xem xét để giảm mức bồi

thường Tuy nhiên trong trường hợp người gây thiệt hại có lỗi cố ý nhưng có sự thỏa thuận với

người bị thiệt hại về mức bồi thường thấp hơn thiệt hại, nếu thỏa thuận đó không trái PL và đạo

đức xã hội và được Tòa án thừa nhận, thì người gây thiệt hại do lỗi cố ý được miễn giảm phần

bồi thường thiệt hại do mình gây ra, thuộc về trường hợp thứ hai

Thứ ba, Điều 621 BLDS qui định về trách nhiệm hỗn hợp trong trường hợp người bị thiệt

hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại, thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường tương ứng với

mức độ lỗi của mình Trong BLDS của nước CHXHCNVN không có qui định về mức độ lỗi, di

vậy việc xác định trách nhiệm hỗn hợp trong trường hợp cả người gây thiệt hại và người bị thiệt

hại đều có lỗi gây ra thiệt hại thì mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ

lỗi của mình Mức độ lỗi trong trường hợp này được xác định dựa trên những cơ sở lý luận PL

hình sự trong việc phân biệt mức độ lỗi vô ý vì quá cẩu thả, vô ý vì quá tự tin của một người mà

gây ra thiệt hại thì tương ứng với nó mức BTTH có khác nhau Như cách đặt vấn đề ở phần đầu

bài viết này, thì lỗi phản ánh yếu tố tâm lý của con người, có tác động trực tiếp đến hành vi của

người đó và thiệt hại xảy ra do hành vi vô ý vì cẩu thả, vô ý vì quá tự tin mà gây ra thiệt hại đã

phản ánh yếu tố tâm lý chủ quan của người đó Việc xác định trách nhiệm hỗn hợp căn cứ vào

mức độ lỗi của mỗi bên đã có tính thuyết phục, bởi tính hợp lý của cách xác định đó Qua phân t

ích trên, chúng tôi đã loại trừ trường hợp cả người bị thiệt hại và người gây thiệt hại đều có lỗi

cố ý trong việc gây thiệt hại, mong muốn thiệt hại xảy ra cho nhau và cho chính bản thân mình

Khi phân tích yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng cần thiết

phải hiểu rõ quy định tại Điều 621 BLDS: "Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị

thiệt hại, thì người gây thiệt hại không phải bồi thường"

Hiểu như thế nào về trường hợp người bị thiệt hoàn toàn có lỗi, và lỗi đó là lỗi vô ý hay

cố ý Mối liên hệ giữa lỗi vô ý của người gây thiệt hại và lỗi cố ý của người bị thiệt hại có ảnh

hưởng như thế nào đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên? Giải đáp

những vấn đề nêu ra ở trên, cần tuân theo những nguyên tắc sau đây:

a Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đó là vô ý hay cố

ý, mà người gây thiệt hại hoàn toàn không có lỗi thì người gây thiệt hại không phải bồi thường

Trường hợp này phù hợp với việc gây tiệt hại trong tình huống bát ngờ

b Người gây thiệt hại có lỗi vô ý và người bị thiệt hại cũng có lỗi vô ý trong việc gây ra

thiệt hại thì trách nhiệm này là trách nhiệm hỗn hợp

c Người gây thiệt hại có lỗi vô ý, người bị thiệt hại có lôi cố ý thì người gây thiệt hại

không phải bồi thường

Như vậy, thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đó có ở hình

thức này hay hình thức khác, ở mức độ này hay mức độ khác thì người gây thiệt hại không có

trách nhiệm bồi thường

Câu 35 BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?

Theo qui định tại Điều 623 của BLDS thì nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm: phương tiện

giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động; vũ khí, chất

cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ; ngoài ra còn có các nguồn nguy hiểm cao độ khác do PL

qui định Để đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe cũng như tài sản của cá nhân, tài sản của các

tổ chức, pháp nhân đối với nguồn nguy hiểm cao độ buộc chủ sở hữu phải tuân thủ các qui định

của PL về bảo quản, trông giữ, vận chuyển và sử dụng

Các điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ

gây ra bao gồm: có thiệt hại xảy ra, có việc gây ra thiệt hại trái PL, có mối quan hệ nhân quả,

người gây thiệt hại không có lỗi vẫn phải bồi thường, trừ trường hợp sau đây:

- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại

- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết (trừ trường hợp PL có

qui định khác)

Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra về nguyên tắc chung chủ sở hữu

nguồn nguy hiểm cao độ phải BTTH; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử

dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Chủ sở hữu,

người được chủ sở hữu giao chiếm hữu không phải bồi thường thiệt hại khi nguồn nguy hiểm

cao độ bị người khác chiếm hữu, sử dụng trái PL Trong trường hợp này thiệt hại xảy ra do

người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái PL có trách nhiệm bồi thường

Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng

có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái PL cũng phải liền đới

BTTH Chẳng hạn: Lái xe A điều khiển xe tải không khóa cửa, không tắt máy nhảy xuống đưa

gói hàng cho bà B, K là cháu của A thấy vậy nhảy lên điều khiển thử gây tai nạn chết người

Trong trường hợp này A và K phải liên đới bồi thường

Câu 36 Bồi thường thiệt hại trong tố tụng hình sự và dân sự?

* Theo Điều 34 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, khi nhận được bản án,quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định thuộc trường hợp được bồi thườngtheo quy định thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồithường sau đây:

- Người bị thiệt hại do quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can của cơ quan điềutra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thì gửi đơn yêu cầu bồithường đến cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

đã ra quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can

- Người bị thiệt hại do quyết định của VKS gửi đơn yêu cầu bồi thường đến VKS đã raquyết định đó

- Người bị thiệt hại do bản án, quyết định của tòa án có thẩm quyền gửi đơn yêu cầu bồithường đến tòa án đã ra bản án, quyết định đó Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có bản

án, quyết định xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường và tài liệu, chứng cứ cóliên quan đến việc yêu cầu bồi thường

* Điều 605 BLDS quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

- Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mứcbồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc,phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp PL có quy định khác

- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hạiquá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình

- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc ngườigây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổimức bồi thường

Câu 37 Bồi thường thiệt hại trong hoạt động thi hành án?

Thi hành án (THA) là hoạt động có khả năng gây thiệt hại tương đối phổ biến Trongquá trình tổ chức THA, việc áp dụng các quyết định cũng như thực hiện hành vi của người cóthẩm quyền đều có nguy cơ gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức có liên quan Thực tế nhiềunăm qua cho thấy, các quy định về giải quyết bồi thường thiệt hại do cơ quan nhà nước nóichung, trong đó có thiệt hại do cơ quan THA gây ra đã bộc lộ nhiều bất cập Việc ban hànhLuật Bồi thường nhà nước (BTNN) nhằm giải quyết thực trạng này là cần thiết Tuy nhiên, đểđạt được các mục tiêu mong muốn, thì nhiều nội dung của dự thảo Luật, trong đó có các quyđịnh về BTNN trong lĩnh vực THA cần được cân nhắc thêm

1 Bồi thường nhà nước trong thi hành án dân sự: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của

chấp hành viên trong hoạt động thi hành án dân sự (THADS) được hình thành trên cơ sở Pháplệnh THADS năm 1989 Trong Pháp lệnh không quy định trực tiếp vấn đề này, nhưng Đ18 củaQuy chế chấp hành viên được ban hành kèm theo Nghị định số 68-HĐBT ngày 06/3/1990 củaHội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có nêu: chấp hành viên không thi hành đúng bản án,quyết định của tòa án, vi phạm phẩm chất đạo đức, thì bị xử lý kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo,miễn nhiệm, buộc thôi việc, chịu trách nhiệm về vật chất) hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.Tại các Pháp lệnh THADS năm 1993 và 2004, trách nhiệm bồi thường thiệt hại củachấp hành viên tiếp tục được cụ thể hóa Theo Điều 14, Điều 47 của PLTHADS năm 1993,chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định của tòa án, trì hoãn việc THA, áp dụngbiện pháp cưỡng chế THA trái PL; vi phạm phẩm chất đạo đức của người chấp hành viên, thì

bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.Khoản 4, Điều 67 của PLTHADS năm 2004 cũng quy định, thủ trưởng cơ quan THA cố

ý không ra quyết định THA hoặc ra các quyết định về THA trái PL; chấp hành viên không thihành đúng bản án, quyết định của tòa án, áp dụng biện pháp cưỡng chế THA trái PL, vi phạmquy chế chấp hành viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệthại thì phải bồi thường

Như vậy, theo các văn bản PL này, trong THADS chưa xác định chế độ trách nhiệm bồithường của cơ quan nhà nước gây thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quanTHADS gây ra được cá thể hóa thành trách nhiệm cá nhân của người có thẩm quyền trực tiếpgây ra thiệt hại Về phạm vi, trách nhiệm bồi thường phát sinh trên cơ sở các sai phạm của cánhân chấp hành viên trong trình tự, thủ tục THA và cả các vi phạm về phẩm chất, đạo đức màthực tế các sai phạm đó gây ra thiệt hại

Chế độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan nhà nước nói chung thực sự đượchình thành trên cơ sở quy định của BLDS (BLDS) năm 1995 Theo Điều 623 của Bộ luật này,thì cơ quan nhà nước phải bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức của mình gây ra trongkhi thi hành công vụ Và cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩmquyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử và THA (Điều624) Thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại trong các trường hợp trên được thực hiện theohướng dẫn tại Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồithường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiếnhành tố tụng gây ra (Nghị định 47/CP) Về nguyên tắc, theo quy định tại Nghị định này, hoạtđộng THA - được hiểu gồm cả THADS và THA hình sự (THAHS) - cũng được coi là một giaiđoạn tố tụng (1), việc bồi thường thiệt hại do cơ quan THADS gây ra được thực hiện theo thủtục chung như các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan hành chính khác

Trong Đ619 và Đ620 của BLDS năm 2005, việc bồi thường thiệt hại do các cơ quan nhànước và cơ quan tiến hành tố tụng gây ra có sự thay đổi khá căn bản: (1) đối tượng gây thiệthại là cán bộ, công chức (thay vì công chức, viên chức); (2) cơ quan tiến hành tố tụng phải bồithường do người có thẩm quyền của mình gây ra trong quá trình tiến hành tố tụng (không xácđịnh cơ quan cụ thể); (3) cả hai trường hợp, người gây thiệt hại đều phải hoàn trả một khoảntiền nếu có lỗi trong khi thi hành công vụ (Điều 2 của Nghị định 47/CP quy định người trựctiếp gây ra thiệt hại có trách nhiệm hoàn trả khoản tiền đã bồi thường mà không xác định lỗi).Tuy nhiên, các quy định nói trên của Bộ luật hiện vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành

NĐ 47/CP thực tế đã không còn phù hợp, nhưng văn bản này mặc nhiên vẫn được áp dụng đểgiải quyết việc bồi thường thiệt hại trong các trường hợp quy định tại Đ619 và Đ620 củaBLDS năm 2005 Chính sự thiếu đồng bộ đó đã tạo ra những bất cập trong cơ chế giải quyếtbồi thường thiệt hại, dẫn tới kết quả hạn chế trong việc giải quyết BTTH của các cơ quan nhànước, nhất là các trường hợp thiệt hại do cơ quan THADS gây ra trong thời gian qua, đó là:

Về tính chất của việc giải quyết bồi thường thiệt hại do cơ quan THADS gây ra: hiệnvẫn chưa có sự thống nhất về quan điểm xác định bản chất pháp lý của hoạt động THADS,nhưng đa số ý kiến cho rằng, từ năm 1989 đến nay, trong hệ thống văn bản QPPL đã có sựtách biệt rõ giữa quá trình tố tụng với hoạt động THADS Xét về nhiều tiêu chí, hoạt độngTHADS không hội tụ đủ các yếu tố của một giai đoạn tố tụng (có ý kiến xếp hoạt động nàythuộc loại hành chính - tư pháp) Mặc dù đối tượng và mức độ gây thiệt hại có thể giống nhau,nhưng tính chất gây thiệt hại của cơ quan tiến hành tố tụng hoàn toàn khác biệt với cơ quanTHADS; do đó, Nghị định 47/CP đồng nhất hoạt động THADS như một giai đoạn tố tụng vàquy định chung về trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại của cả ba loại cơ quan: tố tụng, hànhchính và THA là không hợp lý Hơn nữa, Nghị định 47/CP là văn bản hướng dẫn thi hànhBLDS năm 1995, sau khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, việc các cơ quan vẫn áp dụng Nghịđịnh này là không có cơ sở

Về thủ tục: có thể nói, thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại được quy định tại Nghịđịnh số 47/CP vừa mâu thuẫn, vừa thiếu một cơ chế bảo đảm khả thi; vì vậy, quyền, lợi ích của

cả người bị thiệt hại và người gây ra thiệt hại đều không được bảo đảm Điều này thể hiện quamột số khía cạnh sau:

Trang 10

- Thứ nhất, việc xác định mức độ thiệt hại được thực hiện theo cơ chế “hội đồng” (do

chính thủ trưởng cơ quan của người gây ra thiệt hại làm chủ tịch - Điều 7, Điều 8 của Nghị định

47/CP), khó bảo đảm sự khách quan

- Thứ hai, hội đồng xét giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài việc xem xét, đánh giá mức

độ thiệt hại còn có thẩm quyền xác định trách nhiệm dân sự của các bên để kiến nghị với thủ

trưởng cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng quyết định mức bồi thường và phương thức

bồi thường thiệt hại (2) Có thể nói, ở đây, “hội đồng” là một cơ chế tài phán, có thẩm quyền

quyết định cả về nội dung và hình thức Trong khi đó, Điều 6 của Nghị định lại quy định: “trong

trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại hoặc các bên

không thực hiện nghiêm chỉnh thỏa thuận, thì các bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết” Như

vậy, trong cùng một thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại có tới hai cơ chế giải quyết, vừa mâu

thuẫn về nội dung, vừa chồng chéo về thẩm quyền

- Thứ ba, mặc dù có hai cơ chế giải quyết bồi thường như đã nêu, nhưng tính khả thi

không cao, bởi không có biện pháp bảo đảm thực hiện Thực tế, nhiều trường hợp việc giải

quyết bồi thường do chấp hành viên gây ra được thực hiện trên cơ sở kết luận có tính chất áp đặt

của hội đồng giải quyết đền bù thiệt hại, mà người phải bồi thường do những lệ thuộc về tổ

chức, về trách nhiệm kỷ luật, mối quan hệ công tác…, mà phải chấp hành quyết định về việc bồi

thường, trong khi bên được bồi thường cũng hoàn toàn không thỏa mãn với mức được bồi

thường Ngược lại, nhiều trường hợp việc giải quyết rất chậm trễ do hội đồng không thể (hoặc

không dám) đưa ra quyết định dứt khoát về mức và phương thức bồi thường, nhưng nếu đương

sự khởi kiện thì tòa án cũng không có cơ sở thể thụ lý giải quyết

2 Bồi thường nhà nước trong thi hành án hình sự:

Về nguyên tắc, theo Điều 624 của BLDS 1995, Nghị định 47/CP và đặc biệt là NQ số

388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của UBTVQH về BTTH cho người bị oan do người

có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (Nghị quyết 388), thì thiệt hại do cơ quan

THAHS gây ra cũng thuộc phạm vi được giải quyết bồi thường Trên thực tế, ngoại trừ việc thi

hành hình phạt tiền do cơ quan THADS đảm nhiệm, trường hợp cơ quan THADS gây thiệt hại,

việc bồi thường được giải quyết theo quy định của Nghị định 47/CP Riêng đối với việc thi hành

các hình phạt liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe hoặc các quyền về tự do cá nhân của

người chấp hành án như: tử hình, phạt tù, trục xuất, quản chế, cấm cư trú , hầu như chưa có

trường hợp giải quyết bồi thường nào Hạn chế này trước hết là do thiếu cơ sở pháp lý để bảo

đảm các quy định có tính nguyên tắc của BLDS và Nghị quyết số 388 Ví dụ: Pháp lệnh Thi

hành án phạt tù 1993 (sửa đổi, bổ sung 2007), quy định người chấp hành hình phạt tù có quyền

khiếu nại, tố cáo quyết định, hành vi trái PL của cá nhân và cơ quan thi hành án phạt tù, nhưng

không quy định người đó có quyền đòi bồi thường thiệt hại Đồng thời, cũng không quy định về

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan thi hành án phạt tù gây ra,

mặc dù sai phạm có gây hậu quả Thông tư số 18/TT-BCA(V19) ngày 09/11/2004 của Bộ Công

an hướng dẫn cụ thể quy định của Nghị quyết 388 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các

trường hợp bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng thuộc Công an nhân dân gây

ra chỉ giới hạn trong phạm vi cơ quan an ninh điều tra và cảnh sát điều tra hoặc các đơn vị an

ninh, cảnh sát khác đã ra quyết định tạm giữ người, kê biên tài sản hoặc ra lệnh thu giữ, tạm giữ,

tịch thu tài sản gây thiệt hại, mà không có hướng dẫn bồi thường thiệt hại do cơ quan THAHS

gây ra

Vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại trong THAHS đã được đặt ra trong quá trình xây

dựng Bộ luật THA trước đây, nay được cụ thể hóa trong dự thảo Luật BTNN Tuy nhiên, để bảo

đảm tính khả thi của các quy định của luật về vấn đề này, thiết nghĩ, một số vấn đề về lý luận

cũng như thực tiễn cần phải tiếp tục làm rõ, thậm chí ở phạm vi nhất định, phải có sự thay đổi

rất cơ bản cách tiếp cận lâu nay về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước

Có quan niệm cho rằng, không nên quy định về BTNN trong THAHS bởi lẽ: đối chiếu

với quy định tại Điều 72 của Hiến pháp năm 1992, thì chỉ những người bị bắt, bị giam giữ, bị

truy tố, bị xét xử trái PL có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự

Người phải chấp hành án hình sự là người có tội, với việc phải chấp hành hình phạt theo bản án,

quyết định có hiệu lực của Tòa án, bản thân người đó đang phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc

nhất của Nhà nước, bị tước toàn bộ hoặc một số quyền công dân Chính vì vậy, việc quy định

bảo vệ quyền lợi cho đối tượng đặc biệt này cần phải trả lời câu hỏi đã từng là quan niệm của

nhiều người là: tại sao phải bảo vệ quyền lợi cho những kẻ đang bị PL trừng trị, trong khi quyền,

lợi ích hợp pháp của công dân bình thường còn chưa có cơ chế bảo đảm hữu hiệu? Vì vậy, các

văn bản PL về THA phạt tù và các hình phạt khác không nên quy định về bồi thường thiệt hại

trong THAHS là hợp lý

Ở một thái cực khác, nhiều ý kiến cho rằng, xét về bản án, cho dù người phải chấp hành

án không thuộc các trường hợp bị oan, nhưng thiệt hại của họ là do cơ quan THAHS sai gây ra

Mặt khác, đối tượng này có thân phận không còn quyền như những công dân bình thường, nên

trong quá trình chấp hành án dễ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, quyền tự do cá nhân, tài

sản… Hơn nữa, bên cạnh hệ thống hình phạt rất nghiêm khắc, BLHS năm 1999 (BLHS) vẫn thể

hiện sự nhân đạo của Nhà nước ta, cụ thể ở các quy định bảo đảm những quyền chính đáng của

người bị kết án Ví dụ: Điều 35 của BLHS quy định không THA tử hình đối với phụ nữ có thai,

phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trường hợp này hình phạt tử hình chuyển sang thành

tù chung thân; Điều 61, Điều 62 của BLHS quy định: người bị kết án tù hoặc đang chấp hành

hình phạt tù có thể được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù nếu có các điều kiện

quy định tại Điều 61 của Bộ luật này Như vậy, xét về pháp lý cũng như đạo lý, việc chấp nhận

người bị kết án cũng có quyền được bồi thường thiệt hại trong trường hợp bị người có thẩm

quyền gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản là có cơ sở Song, bồi thường ở phạm vi nào,

mức độ đến đâu và có những điều kiện nào phải được cân nhắc kỹ

Bên cạnh đó, quy định BTNN trong THAHS cần xem xét điều kiện thực tế của Việt Nam

Chế tài xử phạt trong BLHS được đánh giá là rất nghiêm khắc, trong tổng số 267 điều luật quy

định về tội phạm trong BLHS, có tới 263 điều có quy định hình phạt tù Những năm qua, tình

hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, tính từ năm 2000 đến nay, mỗi năm tỷ lệ tội phạm

tăng khoảng 8% Hệ quả là số người bị phạt tù và phải chấp hành hình phạt tại các trại giam

(một phần ở các trại tạm giam) có xu hướng ngày càng tăng Mặc dù Nhà nước đã đầu tư những

khoản kinh phí rất lớn cho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực cho hệ thống

trại giam, trại tạm giam, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí đến nay hệ thống trại

giam vẫn chưa bảo đảm được yêu cầu tối thiểu về diện tích giam giữ phạm nhân Với thực trạng

về cơ sở vật chất, nhân lực như hiện tại, trong khi phải thực thi chế độ giam giữ, giáo dục, lao

động và sinh hoạt nghiêm ngặt đối với người chấp hành án phạt tù, nếu đặt ngay yêu cầu phải

quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các trường hợp áp dụng các biện pháp

quản lý, giam giữ phạm nhân trái PL gây thiệt hại sẽ khó có tính khả thi

Câu 38 Bồi thường thiệt hại do nhiều người gây thiệt hại Lấy ví dụ minh họa?

Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi

thường cho người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được

xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ

phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau

Ví dụ: N và nhóm bạn của mình rủ nhau ra sông thi bơi, lặn đã vô ý làm tấm lưới quây cá

nhà bà T bị hở, do đó một số cá nhà bà T nuôi đã bơi ra ngoài PL dân sự quy định việc bồi

thường thiệt hại trong trường hợp này như thế nào?

Đ 616 BLDS 2005 quy định: Như vậy, N và nhóm bạn của mình đều có trách nhiệm bồi

thường thiệt hại cho bà T tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người Nếu không xác định được

mức độ lỗi của mỗi người thì từng người phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau

Câu 39 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp gây ô nhiễm môi trường? Những khó khăn trong việc áp dụng PL để giải quyết tranh chấp?.

Trên phạm vi thế giới cũng như tại Việt Nam, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm,suy thoái môi trường được tiếp cận và được PL ghi nhận với những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, môi trường cần được xem là một loại “tài sản đồng nhất”, được xác định bởi

các giá trị khoa học, kinh tế và môi sinh Gây hại đối với môi trường chính là gây hại đến cácgiá trị nêu trên Nếu xem xét một cách chặt chẽ tác hại gây ra đối với môi trường tự nhiênkhông khác gì tác hại gây ra đối với con người hay với tài sản của con người thì chất lượngmôi trường bị suy giảm, bị xâm hại cũng cần phải được bồi thường một cách thỏa đáng Ngườigây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất gây ra đối với môi trường Tráchnhiệm này trước hết được hiểu là trách nhiệm đối với cộng đồng, với xã hội của người gây hạicho môi trường vì họ đã xâm hại tới các điều kiện sống chung của con người Tiếp đến mới làtrách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân cụ thể là nạn nhân của sự xâm hại đó, thể hiện quaviệc BTTH đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị hại Hai khía cạnh trên của tráchnhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường được xác định bởi yếu tố khách thể của quan hệ PLmôi trường Trong các quan hệ PL môi trường, lợi ích mà các bên tham gia quan hệ hướng tớivừa có tính chất công (lợi ích công) vừa có tính chất tư (lợi ích tư) Trong mọi trường hợp lợiích công cộng, lợi ích cộng đồng phải được ưu tiên bảo vệ Điều này cũng có nghĩa là cần phải

có sự phân định giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên với tráchnhiệm BTTH đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản con người Sự phân định này nên được thểhiện qua các quy định về mức bồi thường, hình thức và phương thức bồi thường Chẳng hạnnhư đối với những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân do gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, giữa bên gây thiệt hại và bên bịthiệt hại có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồithường Còn thiệt hại đối với môi trường tự nhiên, người gây thiệt hại chỉ được lựa chọn cácmức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường theo quy định của PL

Thứ hai, do quan hệ PL trong lĩnh vực môi trường có thể phát sinh giữa các chủ thể mà

không cần đến các cơ sở pháp lý làm tiền đề (như quan hệ hợp đồng hay quan hệ công vụ), nênBTTH trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường là trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng Đây là loại trách nhiệm phát sinh dưới sự tác động trực tiếp của các QPPL

mà không cần có sự thỏa thuận trước của các chủ thể Sự trùng hợp về một số nội dung có liênquan đến quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong các thỏa thuận hay cam kết không làmảnh hưởng đến căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường theo luật định

Thứ ba, môi trường có thể bị xâm hại từ 2 nhóm nguyên nhân: Một là, các nguyên nhân

khách quan tác động đến môi trường không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người,như bão, lũ lụt, động đất, hạn hán Những trường hợp này không làm phát sinh trách nhiệm

bồi thường thiệt hại về môi trường đối với bất cứ tổ chức, cá nhân nào; hai là, các yếu tố chủ

quan do hoạt động của con người gây ra từ việc khai thác, sử dụng các yếu tố môi trường hay

từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác Đối với những trường hợp này, tráchnhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường phát sinh khi có đủ các dấu hiệu cấu thành tráchnhiệm pháp lý dân sự Thậm chí loại trách nhiệm này còn phát sinh ngay cả khi người gâythiệt hại không có lỗi Điều 624 BLDS (2005) quy định “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thểkhác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của PL, kể cảtrường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi” Tại nhiều nước “trách nhiệm dân sựtuyệt đối” là loại trách nhiệm được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực môi trường

Thứ tư, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường có mối quan hệ nhất định với

trách nhiệm khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm Thông thường, trong các quan hệpháp lý khác có liên quan đến bồi thường thiệt hại, người gây thiệt hại chỉ phải bồi thườngnhững thiệt hại do mình gây ra và được giải phóng khỏi quan hệ với người bị hại Nhưng tronglĩnh vực môi trường, người làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thường phải thực hiện đồngthời cả hai biện pháp: i) Khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm; và ii) Bồi thường thiệthại về môi trường Tác dụng chính của biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường là hạn chế,ngăn chặn phạm vi ảnh hưởng, khả năng lây lan ô nhiễm môi trường, đồng thời làm giảm nhẹnhững thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra Tác dụng của bồi thường thiệt hại là bù đắpnhững tổn thất về người, tài sản và những giá trị sinh thái đã bị mất Trách nhiệm áp dụng cácbiện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường mang tính chất là một biện pháp cưỡng chế hànhchính, do người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quyết định, còn bồi thường thiệthại lại là một loại trách nhiệm dân sự có thể thỏa thuận và xác lập theo ý chí của các bên Tuynhiên, trong lĩnh vực môi trường hai loại trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vàtrong một số trường hợp có thể thay thế (chuyển hóa) cho nhau, đặc biệt là khi chỉ xuất hiệnthiệt hại đối với môi trường tự nhiên mà không xuất hiện thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe,tài sản của tổ chức, cá nhân Nếu việc khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm, suy thoái

do chính người bị hại tiến hành thì những chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phụcthiệt hại sẽ được tính trong tổng giá trị thiệt hại để đòi bồi thường Còn trong trường hợp người

có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã tự mình thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạngmôi trường bị ô nhiễm thì họ sẽ được giải phóng hoặc giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại

về môi trường

Thứ năm, nhiều người cùng gây thiệt hại cũng là tình trạng khá phổ biến trong lĩnh vực

môi trường Luật BVMT (2005) quy định trong trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây

ô nhiễm môi trường thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm phốihợp với các bên liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ônhiễm và phục hồi môi trường Tuy nhiên, trên thực tế không dễ dàng xác định chính xác mức

độ gây hại đến môi trường của từng đối tượng Bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau làgiải pháp đã được PL dân sự tính đến trong trường hợp này Tuy nhiên, để đảm bảo sự côngbằng trong áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường chúng tôi cho rằng nếungười gây thiệt hại chứng minh được mức độ mà mình gây thiệt hại đối với môi trường làkhông đáng kể thì họ chỉ phải bồi thường thiệt hại theo phần tương ứng với mức độ gây hại đó.Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đối tượng gây thiệt hại sẽ giúp các tổ chức, cá nhân nâng caohơn trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng như nâng cao năng lực tự bảo vệ mình trong lĩnh vựcnày Ngoài ra, cũng cần tính đến tình huống không áp dụng được trách nhiệm bồi thường thiệthại cho các đối tượng chỉ vì đơn giản thiệt hại môi trường là kết quả của hiện tượng tích tụ vàcộng dồn các ảnh hưởng tới môi trường, trong khi từng đối tượng lại tác động không quá mứcgiới hạn tới môi trường

Thứ sáu, thời hạn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường

cũng là vấn đề còn nhiều tranh cãi Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời đã trởthành nguyên tắc luật định, song trong lĩnh vực môi trường, do giá trị của các thiệt hại về môitrường thường rất lớn và khó xác định nên trong tuyệt đại đa số các trường hợp việc áp dụngtrách nhiệm bồi thường toàn bộ và kịp thời các thiệt hại là điều khó có thể thực hiện được PLcần có các quy định mang tính linh hoạt hơn trong lĩnh vực này Chẳng hạn như người gâythiệt hại đối với môi trường có thể bồi thường một lần hoặc nhiều lần trong khoảng thời giantối đa một số năm nhất định nào đó kể từ ngày áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại.Bên cạnh đó, cũng cần cân nhắc đến các quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồithường thiệt hại Theo BLDS thì thời hạn này là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp phápcủa cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm Song cũng cần tính đến trong lĩnh vực môitrường, ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại không hoàn toàn trùng khít với ngày phátsinh thiệt hại trên thực tế Thiệt hại đối với người bị nhiễm chất phóng xạ, nhiễm hóa chất độchại là những ví dụ điển hình Nên chăng PL môi trường cần hướng tới việc quy định thời hiệukhởi kiện gắn với ngày mà thiệt hại thực tế xảy ra và cần có khoảng thời gian dài hơn 2 năm

Trang 11

Thứ bảy, khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, Việt Nam không

thể không xem xét đến các cam kết quốc tế về vấn đề này Ngày 17/6/2004 Công ước quốc tế về

trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 có hiệu lực tại Việt Nam (International

Convention on Civil Liability for Oil Pollution Damage - viết tắt là CLC 92) Đây sẽ căn cứ

pháp lý quan trọng để phía Việt Nam yêu cầu các đối tượng gây ô nhiễm môi trường từ sự cố

tràn dầu phải bồi thường thiệt hại về môi trường một cách thỏa đáng Một số nội dung sau đây

thể hiện bước phát triển của Công ước CLC 92 Một là, khi xảy ra ô nhiễm dầu thì chủ sở hữu

của tàu không chỉ phải đền bù thiệt hại do ảnh hưởng đến môi trường mà còn phải đền bù các

thiệt hại về kinh tế do ô nhiễm dầu gây nên; hai là, mức bồi thường ngoài căn cứ vào lượng dầu

tràn còn căn cứ vào trọng tải của tàu Ví dụ, đối với tàu chở dầu có tổng dung tích dưới 5.000 tấn

trọng tải mức bồi thường cao nhất đến 3 triệu SDR (tương đương 3,8 triệu USD); đối với những

tàu chở dầu từ 5.000 tấn đến 140.000 tấn thì ngoài 3 triệu SDR, mỗi tấn tính thêm 538 USD nữa;

đối với tàu 140.000 tấn trở lên phải bồi thường tối đa là 76,5 triệu USD Ba là, phạm vi khu vực

bị ô nhiễm được tính bồi thường bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế thay vì là chỉ trong phạm vi

lãnh hải của quốc gia bị ô nhiễm Thiết nghĩ cách tiếp cận nêu trên, đặc biệt là việc ấn định một

mức bồi thường thiệt hại căn cứ vào lượng dầu tràn, loại dầu tràn, trọng tải của phương tiện trở

dầu, đặc điểm hệ sinh thái vùng tràn dầu cần được Việt Nam tham khảo trong quá trình ban

hành các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Tóm lại, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường tại Việt Nam là vấn đề còn rất

mới cả từ phương diện lý luận và thực tiễn Nhận thức một cách đầy đủ về những nội dung liên

quan tới thiệt hại về môi trường, bồi thường thiệt hại về môi trường là yếu tố quan trọng cho việc

ban hành và áp dụng trách nhiệm này trong tương lai Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng cho dù chế

định này có phát triển đến mức nào, chi phí bỏ ra để xử lý, cải tạo môi trường có lớn đến đâu cũng

không thể khắc phục được hết những hậu quả do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra Do vậy, xác

định thiệt hại đối với môi trường và áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường trong

mọi trường hợp đều không phải là mong muốn hàng đầu được áp dụng trong lĩnh vực môi trường

Câu 40 Trách nhiệm liên đới và riêng rẽ?

a Trách nhiệm liên đới (nghĩa vụ liên đới).

- Trách nhiệm liên đới là trách do nhiều người phải thực hiện và người có quyền có thể

yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ

- Cơ sở phát sinh nghĩa vụ dân sự liên đới do thỏa thuận của các bên hoặc do PL quy định

BLDS quy định những trường hợp phát sinh nghĩa vụ dân sự liên đới:

+ Khoản 2 Điều 110: "Nếu tài sản chung của hộ gia đình không đủ để thực hiện nghĩa vụ

chung của hộ thì các thành viên phải liên đới chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình" và

các Điều 117 khoản 2, Điều 616, Điều 618 của BLDS

+ Mục đích của nghĩa vụ liên đới buộc những người có nghĩa vụ phải cùng nhau gánh

vác toàn bộ nghĩa vụ dân sự để đảm bảo lợi ích cho bên có quyền được trọn vẹn kể cả khi có

một hoặc một số người có nghĩa vụ không có khả năng thực hiện

- Việc thực hiện nghĩa vụ liên đới bao gồm các nội dung sau:

+ Trong trường hợp một người có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với

bên có quyền thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt kể cả có một hoặc một số người chưa thực hiện, phát

sinh nghĩa vụ hoàn lại giữa những người có nghĩa vụ liên đới khác Nếu một hoặc một số người

có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện xong phần nghĩa vụ liên đới đối với mình, còn một số người có

nghĩa vụ khác chưa thực hiện thì nghĩa vụ dân sự liên đới chưa chấm dứt

+ Trong trường hợp người có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ

dân sự liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ dân sự, nhưng sau đó lại miễn cho người đó, thì

những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ; nếu chỉ miễn việc thực hiện cho một số

người thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của mình Chẳng hạn:

A và B có nghĩa vụ liên đới phải bồi thường cho ông K 22 triệu đồng (trong đó mỗi người chịu

một phần hai) Trong trường hợp này ông K yêu cầu A phải bồi thường toàn bộ thiệt hại là 22

triệu, sau đó miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho A thì B cũng không phải thực hiện nghĩa vụ đối

với ông K nữa Nếu ông K chỉ miễn phần cho B về điều kiện kinh tế quá khó khăn thì A vẫn

phải thực hiện nghĩa vụ là 11 triệu đ

+ Trong trường hợp theo thỏa thuận hoặc theo quy định của PL mà có nhiều người có

quyền liên đới thì mỗi người đều có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ

nghĩa vụ đối với mình Khi người có nghĩa vụ đã thực hiện xong nghĩa vụ liên đới với một trong

số những người có quyền liên đới thì nghĩa vụ dân sự chấm dứt và phát sinh nghĩa vụ dân sự

hoàn lại giữa những người có quyền Chẳng hạn A và B đều có quyền yêu cầu K phải trả 20

triệu đồng, thì A hoặc B đều có quyền yêu cầu K phải trả cho mình 20 triệu đồng và K trả cho A

hoặc B cả 20 triệu đồng đều được Sau khi K trả song số tiền trên thì phát sinh nghĩa vụ hoàn lại

giữa A và B

b Trách nhiệm riêng rẽ

- Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ

nhất định và riêng rẽ với nhau, thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ riêng

- Bản chất của nghĩa vụ riêng rẽ là không có sự liên quan lẫn nhau giữa những người cùng

thực hiện nghĩa vụ cũng như trong việc thực hiện quyền yêu cầu của người có quyền Nghĩa vụ

được xác định riêng rẽ bởi vì người nào thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình thì nghĩa vụ của

người đó đối với người có quyền chấm dứt Chẳng hạn do thù hằn với C nên A đã rủ B đánh C

gây thương tích Sau khi đánh C bị ngất A và B bỏ về, đi được một đoạn A nói B về trước rồi

quay lại lấy chiếc vòng vàng đeo cổ của C Sau đó A bán chiếc vòng trên được 1,8 triệu đồng và

chiếm đoạt toàn bộ (B hoàn toàn không biết) Trong trường hợp này A và B phải chịu trách

nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại sức khỏe cho C, còn bồi thường tài sản cho của C thì đây là

trách nhiệm riêng của A

Câu 41 Phân biệt căn cứ pháp lý và điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự do vi

phạm nghĩa vụ theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

1- Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng:

* Trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng: Khi người có nghĩa vụ

không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên có quyền

yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc người có nghĩa

vụ phải thực hiện nghĩa vụ

Nội dung:

+ Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Đ.303)

+ Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực

hiện một công việc (đ.304)

+ Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự (đ.305)

+ Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự (đ.306)

* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng: Trách nhiệm bồi thường thiệt

hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên

gây thiệt hại nên phải bồi thường thiệt hại đã gây ra tương ứng với mức độ lỗi của mình

Đặc điểm:

+ Giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có quan hệ hợp đồng hợp pháp

+ Nội dung của trách nhiệm phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên hoặc theo quy định

của PL

+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng chỉ giới hạn trong phạm vi những thiệt

hại thực tế và những thiệt hại có thể tiên liệu được vào thời điểm ký hợp đồng

+ Lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại tronghợp đồng, nhưng không phân biệt hình thức lỗi là cố ý hay vô ý vì mức trách nhiệm bồithường không phân hóa theo hình thức lỗi như trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng

+ Thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng không đương nhiênlàm chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa các bên

* Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng:- Có thiệt hại xảy ra:

- Thiệt hại là toàn bộ những tổn thất gây ra cho một bên, do việc vi phạm hợp đồng củabên kia Những tổn thất này bao gồm: tổn thất phải gánh chịu và những lợi ích đáng lẽ phải có

từ việc thực hiện hợp đồng Những tổn thất này có thể là về vật chất hay tinh thần như xâmphạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bên bị thiệt hại Thiệt hại vật chất có thể là thiệt hạitrực tiếp và thiệt hại gián tiếp

+ Hoàn toàn do lỗi của bên có quyền

- Có quan hệ nhân - quả giữa hành vi trái PL do vi phạm hợp đồng với thiệt hại xảy ratrên thực tế:

+ Quan hệ nhân-quả là mối quan hệ nội tại tất yếu giữa các sự kiện, hiện tượng nối tiếp

nhau trong một không gian và trong một khoảng thời gian xác định => Chỉ những thiệt hại phát sinh do "hậu quả của việc vi phạm" và có mối quan hệ nhận quả giữa sự vi phạm thực hiện hợp đồng và thiệt hại xảy ra thì mới được công nhận bồi thường.

+ Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại đã xảy ra

- Phải có lỗi của bên vi phạm:

+ Khái niệm lỗi.

+ Các hình thức lỗi (đ.308).

Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là lỗi suy đoán Người gâythiệt hại tự chứng minh là mình không có lỗi => Lỗi có vai trò quan trọng trong việc xác địnhmức trách nhiệm mà người gây thiệt hại phải gánh chịu

Yếu tố lỗi trong việc xác định mức trách nhiệm mà người gây thiệt hại phải gánh chịutrách nhiệm

Xác định mức độ lỗi của mỗi bên thường rất khó và một phần phụ thuộc vào các phánquyết của Tòa án

* Phương thức thanh toán tiền BTTH (điều 300 BLDS).

2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Theo quy định tại Điều 604 BLDS năm 2005 (sauđây gọi tắt là BLDS), về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồngchỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:

- Phải có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất

về tinh thần

+ Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608BLDS; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại dotính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhânphẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS

+ Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhânphẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà ngườithân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm,

bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thườngmột khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là phápnhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảmsút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường mộtkhoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu

- Phải có hành vi trái PL: Hành vi trái PL là những xử sự cụ thể của con người được thểhiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của PL

+ Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái PL Thiệt hại xảy raphải là kết quả tất yếu của hành vi trái PL và ngược lại hành vi trái PL là nguyên nhân gây rathiệt hại

+ Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệthại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặccho thiệt hại xảy ra

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khảnăng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trướchành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc cóthể ngăn chặn được

Cần chú ý là đối với trường hợp PL có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không

có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiệntheo quy định của văn bản QPPL đó

Câu 42 Chứng minh Luật DS là một ngành luật độc lập trong hệ thống PL VN.

Một ngành luật được gọi là độc lập trong hệ thống PL khi nó có đối tượng điều chỉnhriêng và phương pháp điều chỉnh riêng Xuất phát từ góc độ đó để chứng minh điều Luật Dân

sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống PL Việt Nam thì ta phải làm rõ Luật Dân sự có đốitượng điều chỉnh riêng và phương pháp điều chỉnh riêng

Đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong cácgiao lưu dân sự

Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản nhất định Theođiều 172 - BLDS khái niệm tài sản bao gồm: tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền, các quyền vềtài sản Tài sản trong Luật Dân sự được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là vật thuộc về ai, do

an chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà bao gồm cả việc dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sangchủ thể khác

Quan hệ tài sản do lãnh đạo điều chỉnh gồm 5 nhiệm vụ:

- Quan hệ về sở hữu (bao gồm cả sở hữu trí tuệ)

- Quan hệ về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự

- Quan hệ về thừa kế

- Quan hệ về chuyển QSDĐ

- Quan hệ về bồi thường thiệt hạiCác quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh là quan hệ tài sản mang tính chất hànghoá - tiền tệ và có các đặc điểm sau:

- Được hình thành theo quy luật giá trị nói chung là sự đền bù ngang giá Sự đền bùtương đương là đặc trưng của các quan hệ dân sự Tuy nhiên, trong giao lưu dân sự cũng tồntại những quan hệ không mang tính chất đền bù tương đương (tặng, cho, thừa kế) Nhưngnhững quan hệ này không phải là cơ bản và phổ biến

- Quan hệ tài sản luôn mang tính ý chí, đó chính là mục đích và động cơ của các chủ thểtham gia quan hệ tài sản Tuy nhiên, ý chí của các chủ thẻ phải phù hợp với ý chí Nhà nước

Ngày đăng: 25/05/2021, 04:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w