ĐÁP ÁN ĐỀ THI MÔN LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM II EL13 Đề số 1122 Câu 1 Các loại nghĩa vụ dân sự ? Cho ví dụ minh hoạ ? Câu 2 Phân tích các điều kiện đối với tài sản là đối tượng của biện pháp thế chấp? Bài L.
Trang 1ĐÁP ÁN ĐỀ THI MÔN LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM II - EL13
Đề số 1122:
Câu 1: Các loại nghĩa vụ dân sự ? Cho ví dụ minh hoạ ?
Câu 2: Phân tích các điều kiện đối với tài sản là đối tượng của biện pháp thế chấp? Bài Làm:
Câu 1:
2 Các loại nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật:
Căn cứ phạm vi chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ
+Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ: Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ dân sự, nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ với nhau thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình Ví dụ: A, B, C cùng nhận trang trí một ngôi nhà trong đó A nhận lăn sơn, B nhận trang trí đèn, C nhận trang trí tường nhà Như vậy A,
B, C cùng nhận nhiệm vụ trang trí nhưng nhiệm vụ của mỗi người riêng rẽ với nhau + Nghĩa vụ dân sự liên đới: Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa
vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.Trong trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.Trong trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau
đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.Trong trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ
Ví dụ: A, B, C cùng nhận nhiệm vụ lăn sơn cho một biệt thự, như vậy trách nhiệm của
A, B, C là liên đới, một người không hoàn thanh làm ảnh hưởng đến thi công thì các bên phải liên đới chịu trách nhiệm
+ Nghĩa vụ dân sự hoàn lại: Là nghĩa vụ phát sinh từ một nghĩa vụ khác, một người liên quan đến hai quan hệ nghĩa vụ, người có quyền ở quan hệ trước thì nghĩa vụ ở quan hệ sau vè ngược lại người có quyền ở quan hệ sau thì nghĩa vụ ở quan hệ trước
+ Căn cứ vào đối tượng của nghĩa vụ
+ Đối tượng là tài sản: Bên có nghĩa vụ phải chuyển giao một tài sản cho bên có quyền + Đối tượng là công việc: Bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc được xác định
cụ thể trước bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ không được thực hiện một công việc được xác định cụ thể trước bên có quyền
- Căn cứ đặc điểm đối tượng của nghĩa vụ
Trang 2+ Nghĩa vụ phân chia được theo phần: Nghĩa vụ dân sự phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ là vật chia được hoặc công việc có thể chia thành nhiều phần để thực hiện.Nói cách khác, nghĩa vụ phân chia được theo phần là nghĩa vụ chuyển giao vật mà vật được chuyển giao là vật chia được hoặc là nghĩa vụ thực hiện một công việc mà theo tính chất, công việc đó có thể thực hiện theo từng phần khác nhau
Nếu đối tượng của nghĩa vụ là vật thì vật đó là vật chia được nên bên có nghĩa vụ giao vật có thể giao vật đó thành nhiều lần khác nhau, miễn giao đủ trong thời hạn thực hiện nghĩa vụ.Nếu đối tượng là công việc thì công việc đó là loại công việc có thể tách ra để thực hiện theo từng phần khác nhau nên bên có nghĩa vụ có thể chia công việc đó để thực hiện
Ví dụ: bên vận chuyển tài sản có nghĩa vụ vận chuyển cho bên thuê vận chuyển 100 tấn hàng hóa từ A đến B trong thời hạn 5 ngày thì công việc vận chuyển có thể thực hiện theo từng ngày với một số lượng hàng hóa nhất định được vận chuyển
+ Nghĩa vụ dân sự không phân chia được theo phần: Nghĩa vụ không phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ phải được thực hiện cùng một lúc Đối tượng của nghĩa vụ dân sự hết sức đa dạng, mỗi loại đối tượng cụ thể có những đặc điểm và tính chất khác nhau Do đó tùy thuộc vào đối tượng như thế nào mà nghĩa vụ dân sự đó có thể là nghĩa vụ phân chia được theo phần hoặc là nghĩa vụ không phân chia được theo phần Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một vật được xác định và vật đó là một vật chia được hoặc đối tượng là một công việc mà theo tính chất công việc đó phải được thực hiện cùng một lúc thì được gọi là nghĩa vụ không phân chia được theo phần Ngược lại, nếu đối tượng của nghĩa vụ là một vật chia được hoặc công việc có thể thực hiện theo từng phần khác nhau thì được gọi là nghĩa vụ phân chia được theo phần
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ thông thường là một khoảng thời gian nhất định do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó bên có nghĩa vụ phải hoàn thành nghĩa vụ của mình Thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự trong quan hệ nghĩa
vụ có thể phân chia được theo phần cũng có thể là một khoảng thời gian nhưng do tính chất của đối tượng nên người có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ này vẫn phải thực hiện nghĩa vụ vào một thời điểm mà không được kéo dài trong suốt thời hạn đó nếu nghĩa vụ đó là nghĩa vụ giao vật
Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một công việc phải thực hiện thì người có nghĩa vụ phải thực hiện công việc đó một cách liên tục cho đến khi hoàn thành công việc theo thỏa thuận
- Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc giữa các nghĩa vụ dân sự
+ Nghĩa vụ chính là nghĩa vụ phải thực hiện, tồn tại hiệu lực một cách độc lập không phụ thuộc vào nghĩa vụ khác
+ Nghĩa vụ phụ là nghĩa vụ dân sự tồn tại hiệu lực của nghĩa vụ phụ thuộc vào nghĩa vụ chính
Trang 3- Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ dân sự
+ Nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng: là Căn cứ vào hợp đồng biết được những nghĩa vụ phát sinh theo ý chí của chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ Nghĩa vụ phát sinh trên cơ
sở thỏa thuận, thống nhất giữa các chủ thể, nghĩa vụ được xác lập hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ
+ Nghĩa vụ dân sự ngoài hợp đồng: nghĩa vụ phát sinh theo ý chí của nhà nước gồm: thực hiện công việc không có ủy quyền, chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật và gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật
Câu2: Phân tích các điều kiện đối với tài sản là đối tượng của biện pháp thế chấp?
2 Tài sản thế chấp
Thứ nhất, Điều 318 quy định, tài sản thế chấp gồm: “(1) Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (2) Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (3) Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; (4) Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết
về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp Tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp”
Như vậy, đối tượng của thế chấp ở đây có thể là động sản hoặc bất động sản Khi thế chấp thì toàn bộ bất động sản hoặc động sản là tài sản thế chấp Một bất động sản là quyền sử dụng đất thì toàn bộ quyền sử dụng đất của người thế chấp là tài sản thế chấp Tuy nhiên, có những bất động sản có vật phụ kèm theo như một tòa nhà có máy phát điện dự trữ, máy phát điện này cần sử dụng khi tòa nhà mất điện cho nên nếu tòa nhà có những vật phụ kèm theo thì các vật phụ đó là tài sản thế chấp Đối với động sản mà có vật phụ kèm theo khi thế chấp động sản đó thì vật phụ là tài sản thế chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận là vật phụ không thế chấp
Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản mà có vật phụ gắn với phần tài sản thế chấp thì vật phụ cũng là tài sản thế chấp, cho nên khi thế chấp một phần bất động sản hoặc một phần động sản mà có vật phụ thì vật phụ là tài sản thế chấp Ví dụ: chủ dự án thế chấp 1/3 số căn hộ của tòa nhà chung cư, thì toàn bộ trang thiết bị phòng cháy chữa cháy gắn với 1/3 số căn hộ đó là tài sản thế chấp Hoặc một lô hàng gồm nhiều thùng, nhiều kiện, nếu thế chấp một phần lô hàng đó thì những vật phụ đóng gói, bao bì…là tài sản thế chấp
Trang 4Thông thường tài sản gắn liền với đất là thuộc quyền sở hữu của người có quyền sử dụng đất Trường hợp này, nếu quyền sử dụng đất là đối tượng của thế chấp thì tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất cũng là đối tượng của hợp đồng thế chấp, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác Quy định này xuất phát từ quan điểm tiếp cận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là vật chính và vật phụ, đồng thời, quy định này còn nhằm tạo cơ chế để khuyến khích người sử dụng đất đưa tài sản gắn liền với đất vào lưu thông thông qua việc thế chấp để khai thác tối đa giá trị kinh tế của tài sản, đáp ứng nhu cầu nguồn vốn để phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, nếu tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của người khác (quyền bề mặt) thì tài sản đó không thuộc đối tượng của hợp đồng thế chấp
Nếu tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết, trường hợp này nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm sẽ chi trả cho bên nhận thế chấp Nếu bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm sẽ chi trả theo hợp đồng bảo hiểm
Thứ hai, Đối với thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất: (1) Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất
và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử
lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác; (2) Trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ vơi chủ sở hữu tài sản gắn liền với đấy được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác (Điều 325)
Ở đây, tài sản gắn liền với đất có thể là cây lâu năm, công trình xây dựng…những tài sản này thuộc quyền sở hữu của người thế chấp Trường hợp các bên thoả thuận thế chấp quyền sử dụng đất mà không thoả thuận về thế chấp tài sản gắn liền với đất, nếu
xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thì những tài sản này được xử lý như tài sản thế chấp Quy định này xuất phát từ thực tế, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thường là một thể thống nhất về hiện trạng và tình trạng pháp lý, do đó việc chuyển dịch quyền (bao gồm quyền sở hữu) đối với tài sản gắn liền với đất luôn gắn với việc chuyển dịch quyền sử dụng đất Mặt khác, việc xây dựng cơ chế xử lý đồng thời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý tài sản bảo đảm, giảm thiểu những vướng mắc, khó khăn trong việc mua bán, chuyển nhượng bất động sản trên thực tế sau khi có kết quả
xử lý tài sản
Đối với trường hợp quyền sử dụng đất thuộc về bên thế chấp và tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người khác (quyền bề mặt), thì khi xử lý tài sản thế chấp, người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất kế thừa các quyền và nghĩa vụ của người
chuyển quyền sử dụng đất đối với người có quyền bề mặt trên diện tích đất chuyển nhượng
Trang 5Thứ ba, ngược lại với vấn đề trên, đối với thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất
“(1) Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì tài sản được
xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thoả thuận khác; (2) Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thoả thuận khác” (Điều 236)
Ở đây, nếu trường hợp người sử dụng đất có quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là nhà
ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng, cây lâu năm…thế chấp những tài sản này mà không thoả thuận thế chấp quyền sử dụng đất Nếu tài sản thế chấp bị xử
lý thì quyền sử dụng đất cũng được xử lý như tài sản bảo đảm Trừ trường hợp các bên
có thoả thuận chỉ xử lý tài sản gắn liền với đất mà không được xử lý quyền sử dụng đất Trường hợp tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người có quyền bề mặt là đối tượng của thế chấp, nếu xử lý tài sản bảo đảm thì người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất sẽ kế tiếp quyền và nghĩa vụ của người có quyền bề mặt đã chuyển quyền sở hữu tài sản cho mình Quy định này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của bên mua tài sản gắn liền với đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý (bán tài sản bảo đảm)
Đề số ?1 :
Câu 1:phân tích điều 420?
câu 2: phân tích hợp đồng gia công
Bài Làm:
Câu 1:
Theo Khoản 1 Điều 420 BLDS 2015 Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
(i) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng
Sự thay đổi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng phải có tính khách quan, tức là không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên trong hợp đồng Ví dụ: bão, lũ, cháy, đình công, bạo động, có một quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc một sự kiện khách quan diễn ra nằm ngoài sự kiểm soát của một bên… Điều kiện này có điểm tương đồng với các sự kiện được coi là “bất khả kháng” (ii) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh Nghĩa là, sự thay đổi của hoàn cảnh nằm ngoài ý chí và khả năng tính toán trước của các bên Quy định này cũng thể hiện tính khách quan của sự thay đổi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng
Trang 6(iii) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; Theo quy định này, sự thay đổi của hoàn cảnh thực hiện hợp đồng làm cho các bên không thể thực hiện được hợp đồng theo những điều khoản đã ký kết Mức độ của sự thay đổi của hoàn cảnh
có thể khiến cho việc giao kết hợp đồng sẽ không được diễn ra hoặc diễn ra với nội dung khác
(iv) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; Nếu như không thay đổi nội dung của hợp đồng thì
sẽ gây thiệt hại nghiêm trong cho một bên Thiệt hại nghiêm trọng được đề cập ở đây được hiểu là nếu thiệt hại xảy ra, thì một trong các bên không đạt được mục đích giao kết hợp đồng
(v) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích Đây là quy định nhằm xác định nghĩa vụ của bên bị ảnh hưỏng bởi sự thay đổi của hoàn cảnh thực hiện hợp đồng Nếu như bên có lợi ích bị ảnh hưởng
có quyền yêu cầu chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng thì bản thân họ cũng có nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh đến lợi ích của mình Khi bên có lợi ích bị ảnh hưởng đưa ra yêu cầu chấm dứt hoặc thay đổi nội dung của hợp đồng thì phải chứng minh đầy đủ các điều kiện, đặc biệt phải chứng minh mình
đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết mà vẫn không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích từ sự thay đổi đó
Một số ví dụ cho trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản như sau:
Vụ việc thứ nhất, Công ty A là công ty kinh doanh bất động sản có lô đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thời hạn sử dụng đất là “lâu dài” Vì cần vốn để phục
vụ sản suất kinh doanh của mình nên Công ty A đã chuyển nhượng lại lô đất này cho Công ty B (cũng là một công ty kinh doanh bất động sản) Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, Công ty B đã thanh toán được một phần giá trị hợp đồng, đến ngày cuối cùng của thời hạn thanh toán toàn bộ giá trị chuyển nhượng theo Hợp đồng thì Công ty B nhận được Công văn của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H (nơi có đất) gửi tới những người sử dụng đất có ghi sai thông tin thời hạn sử dụng đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến văn phòng Sở TN&MT để được hướng dẫn thủ tục đính chính lại thời hạn sử dụng đất từ “lâu dài” thành “50 năm” Việc thay đổi thời hạn sử dụng đất làm thay đổi đáng kể giá trị của thửa đất dẫn đến giá trị chuyển nhượng cũng có thể bị thay đổi đáng kể
Hậu quả pháp lý khi có sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh trong quá trình thực hiện hợp đồng
Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể: Khoản 2 Điều 420 BLDS 2015 quy định: “Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý”
Trang 7Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra, BLDS 2015 đã ghi nhận và trao quyền đàm phán lại hợp đồng cho bên có lợi ích bị ảnh hưởng Khi đó bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên còn lại sửa đổi các điều khoản trong hợp đồng cho phù hợp với thực
tế và cân bằng lợi ích của hai bên
Với vụ việc thứ nhất, khi phát sinh sự việc thay đổi thời hạn sử dụng đất từ “lâu dài” thành “50 năm” công ty B có quyền yêu cầu đàm phán lại về giá trị hợp đồng, yêu cầu giảm giá chuyển nhượng cho phù hợp với giá trị thực tế của loại đất “50 năm” tại thời điểm chuyển nhượng
Khi các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng
Pháp luật không quy định thời gian cụ thể để các bên đàm phán lại hợp đồng, chỉ khi các bên không đạt được sự thỏa thuận thì mới nhờ Tòa án can thiệp, tức là các bên phải
nỗ lực đàm phán, thỏa thuận chỉnh sửa, bổ sung điều khoản hợp đồng cho phù hợp với hoàn cảnh mới, chỉ khi nào các bên không đạt được sự thống nhất thì mới được nhờ Tòa
án giải quyết
Khi đó theo Khoản 3 Điều 420 BLDS 2015: Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án: (i) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định; (ii) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi
Như vậy, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ xảy
ra khi có Quyết định của Tòa án, một trong các bên không thể tự ý chấm dứt và cũng không phải cứ có yêu cầu là Tòa án sẽ cho chấm dứt hợp đồng Việc can thiệp này là cần thiết bởi nó như “sợi dây trói buộc” mà bên bị ảnh hưởng sẽ mong muốn được “giải thoát” và “chỉ” Tòa án mới có khả khả năng “giải phóng” cho họ
Một vấn đề cần lưu ý là trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Khoản 4 Điều 420 BLDS 2015) Có nghĩa rằng trừ khi các bên có thỏa thuận về việc ngừng thực hiện hợp đồng, nếu không, các bên vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng đã xác lập trước đó trong suốt quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng và ngay cả trong quá trình Tòa án giải quyết
vụ việc
Những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng Điều 420 BLDS 2015
Quy định về thực hiện hợp đồng khi có sự thay đổi cơ bản tại Điều 420 BLDS 2015 là một quy định mới đã tháo gỡ nhiều vướng mắc cho các bên trong thực tế thực hiện hợp đồng Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề liên quan chưa quy định rõ dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trong thực tiễn, ví dụ như:
Thứ nhất, về quyền đàm phán lại hợp đồng và thời gian để yêu cầu đàm phán lại hợp đồng
Trang 8Pháp luật quy định cho phép bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền được yêu cầu đàm phán lại hợp đồng trong khoảng thời gian hợp lý Tuy nhiên BLDS chưa quy định cụ thể bên nhận được yêu cầu đàm phán lại có bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ đàm phán lại hay không và khoảng thời gian hợp lý là bao lâu? Có nên hay không việc mặc nhiên thừa nhận quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia để phù hợp với nguyên tắc trung thực, thiện trí là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự Bởi nếu như bên nhận được yêu cầu đàm phán lại không bắt buộc phải đàm phán thì hầu như các trường hợp bên không có lợi ích bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh thay đổi đều không muốn đàm phán lại
Về vấn đề khoảng thời gian hợp lý thì cơ quan tư pháp có nên ban hành hướng dẫn về tần xuất hay một khoảng thời gian xác định cụ thể hay không bởi nó có liên quan rất lớn đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng
Thứ hai, điều kiện để được tạm ngừng thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản xuất hiện
Khoản 4 Điều 420 BLDS 2015 quy định: “trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Có vẻ như quy định này không hợp lý, và trong một số trường hợp, quy định này đang làm khó cho bên có lợi ích bị ảnh hưởng nếu như bên còn lại không đồng ý tạm ngừng thực hiện Hợp đồng, trong khi việc tiếp tục thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể gây ra tổn thất rất lớn về kinh tế cho bên có lợi ích bị ảnh hưởng Ngược lại, bên không có lợi ích bị ảnh hưởng có thể lợi dụng để thu lợi và bảo vệ lợi ích của riêng mình mà không màng đến sự khó khăn của bên kia, và trong quá trình giải quyết, bên có lợi ích ảnh hưởng có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không Chúng ta có thể “tận dụng” quyền hạn và trách nhiệm để tạo hướng mở giúp Tòa án có thể bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tốt hơn bằng việc cho phép Tòa án có thể căn cứ vào tình hình thực tế đang diễn ra mà quyết định cho tạm ngừng thực hiện hợp đồng đến khi có quyết định cuối cùng của Tòa án, chứ không chỉ dựa vào thỏa thuận giữa các bên
Thứ ba, sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng
“Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng” Từ “chỉ” rất dễ gây ra sự “lạm quyền” và “tùy tiện”, đồng thời đặt ra gánh nặng trong việc áp dụng thực tế, bởi việc xác định thiệt hại “trong trường hợp chấm dứt hợp đồng” và xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng” là các vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, không phải người xét xử nào cũng có đủ hiểu biết và trình độ để tính toán, đặc biệt là với các hợp đồng trong các lĩnh vực có tính đặc thù cao như kỹ thuật, công nghệ thông tin,… Hơn nữa, ngay cả khi Tòa ra quyết định sửa đổi hợp đồng, thì việc sửa đổi các điều khoản cụ thể có được đặt trong chừng mực nào không, hay hoàn toàn dựa trên ý kiến chủ quan của người xét xử Và, cùng vấn đề đang bàn đó là nếu Tòa án quyết định cho
Trang 9chấm dứt hợp đồng mà cả hai hoặc chỉ một bên trong quan hệ hợp đồng đó vẫn muốn tiếp tục tức là đã khác với quyết định của Tòa án thì giải quyết thế nào?
Thứ tư, trong trường hợp tòa án cho chấm dứt hợp đồng hay sửa đổi hợp đồng quyền và nghĩa vụ các bên được giải quyết như thế nào?
Bộ luật dân sự 2015 chưa có quy định về giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, quyền và nghĩa vụ của các bên giải quyết như thế nào Vấn đề này cần được giải thích cụ thể hơn
để đảm bảo việc áp dụng trong thực tiễn
Đối với vụ việc thứ nhất, nếu cho phép điều chỉnh lại hợp đồng thì Bên Bán không được bán Quyền sử dụng đất với giá trị đã thỏa thuận trước đó mà các bên sẽ áp dụng mức giá mới phù hợp với hình thức sử dụng đất ở thời điểm giải quyết tranh chấp
Đối với vụ việc thứ hai, tòa án cho phép chấm dứt hợp đồng thì lúc này nhà thầu sẽ phải hoàn trả lại cho chủ đầu tư tiền tạm ứng hợp đồng sau khi trừ đi phần công việc mà các nhà thầu đã thực hiện
Thứ năm, về cơ chế giải quyết tranh chấp khi các bên đàm phán lại không thành công Điều 420 BLDS 2015 quy định chỉ Tòa án mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản Quy định này đã bó hẹp chủ thể giải quyết tranh chấp khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và còn gây mâu thuẫn với quy định của Luật Trọng tài thương mại, cụ thể, Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định:
“Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Với quy định này, Tòa án sẽ phải
từ chối giải quyết khi các bên đã có thỏa thuận Trọng tài nên Tòa án không thể áp dụng các quy định tại Điều 420 BLDS để cho các bên sửa đổi hợp đồng hay chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định Do vậy, các nhà làm luật cần quy định mở rộng theo hướng Trọng tài cũng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản xuất hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng
Câu 2: phân tích hợp đồng gia công
Khái niệm về hợp đồng gia công
Điều 542 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Hợp đồng gia công là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công
Trong HĐGC, một bên nhận nguyên vật liệu của bên kia để tạo ra một sản phẩm mới Trong quá trình làm việc, bên nhận gia công phải tự mình tổ chức thực hiện và hoàn thành công việc, giao kết quả cho bên đặt gia công Bên đặt gia công không kiểm soát quá trình thực hiện nghĩa vụ của bên nhận gia công mà quan tâm đến lợi ích của mình là
Trang 10vật mới được tạo thành có đúng thời gian, số lượng, chất lượng, khuôn mẫu, như đã thỏa thuận hay không
Để hiểu rõ và soạn thảo đúng hợp đồng gia công, chúng ta cần đi phân tích các đặc điểm
Hợp đồng gia công là hợp đồng song vụ
Bên gia công có quyền yêu cầu bên đặt gia công phải chuyển cho mình vật liệu đạt tiêu chuẩn về chất lượng, chủng loại, tính đồng bộ và số lượng cùng vật mẫu, bản vẽ để chế tạo Bên gia công yêu cầu bên đặt gia công nhận tài sản mới do chính mình tạo ra và trả tiền công như đã thỏa thuận
Hợp đồng gia công là hợp đồng có đền bù
Khoản tiền mà bên thuê gia công phải trả cho bên gia công là khoản đền bù Khoản đền
bù này là tiền công do các bên thỏa thuận trong HĐGC
Hợp đồng gia công có kết quả được vật thể hóa
Vật được xác định trước theo mẫu, theo 1 tiêu chuẩn do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định trước Vật mẫu hay tiêu chuẩn của vật gia công chỉ được hiện thực hóa ( vật chất hóa hay trở thành hàng hóa) sau khi bên nhận gia công đã hoàn thành công việc gia công
HĐGC còn có đặc điểm của hợp đồng mua bán tài sản, nếu nguyên vật liệu của bên gia công thì bên đặt gia công phải trả tiền mua vật liệu và tiền gia công hàng hóa từ số lượng, chất lượng của nguyên vật liệu được tạo ra thành phẩm là kết quả của hành vi gia công
Đối tượng của hợp đồng gia công
Đối tượng của HĐGC là vật được xác định trước theo mẫu, theo tiêu chuẩn mà các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Vật là một loại sản phẩm, hàng hóa do bên thuê gia công đặt theo hợp đồng Mẫu của vật này có thể do bên thuê gia công chỉ định hoặc do bên gia công đưa ra và bên thuê gia công chấp nhận Mẫu mà các bên sử dụng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Ví dụ: sản xuất đồ chơi trẻ em, khi sử dụng không được mang tính tuyên truyền bạo lực hoặc hình dáng bên ngoài của hàng hóa phải phù hợp thẩm mĩ của người Việt Nam, Quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công
Bên đặt gia công có thể là tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa vụ cung cấp nguyên vật liệu cho bên nhận gia công \
Nghĩa vụ của bên đặt gia công
Theo quy định tại điều 544 BLDS, bên đặt gia công có nghĩa vụ sau: