1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP CHẾ độ hôn NHÂN một vợ một CHỒNG ở VIỆT NAM dưới góc NHÌN xã hội học PHÁP LUẬT

125 272 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu của luận văn Kết cấu của luận văn gồm: Lời cảm ơn, Bảng viết tắt, Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phần nội dung gồm ba chương: Chương 1: Những vấn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT

Ts Phạm Văn Beo Lê Thị Thu Trang

Lớp: LK0865A1

Cần Thơ,25/4/2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, ban ngành, thầy cô và các bạn Người viết chân thành cảm ơn Trung tâm học liệu - trường Đại học Cần Thơ, Thư viện thành phố Cần Thơ, Khoa Luật - trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt, người viết chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Văn Beo đã tận tình hướng dẫn để người viết hoàn thành luận văn Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, dù người viết đã hết sức cố gắng nhưng do kiến thức và vốn hiểu biết còn hạn chế và nhiều yếu tố chủ quan

và khách quan khác nên luận văn không thể nào tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót Người viết rất mong được sự đóng góp của quý Thầy Cô cùng các bạn sinh viên và người đọc khác để đề tài luận văn này được hoàn chỉnh hơn Người viết chân thành cảm ơn

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Thu Trang

Trang 3



………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Trang 4

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Trang 5

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

TATC: Tòa án tối cao

TT: Thông tư

TTLT: Thông tư liên tịch

tr: trang

UBND: Uỷ ban nhân dân

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 01

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VÀ QUAN ĐIỂM XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG Ở VIỆT NAM 04

1.1 Khái niệm về hôn nhân và bản chất pháp lý của hôn nhân 04

1.1.1 Khái niệm về hôn nhân 04

1.1.2 Bản chất pháp lý của hôn nhân 09

1.2 Khái niệm và nội dung chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam 12

1.2.1.Khái niệm về chế độ hôn nhân một vợ một chồng 12

1.2.2 Nội dung chế độ hôn nhân một vợ một chồng 14

1.3 Lược sử quá trình hình thành và phát triển của chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam 17

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của chế độ hôn nhân một vợ một chồng trong tiến trình phát triển của các hình thái hôn nhân, gia đình trong lịch sử 17

1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế độ hôn nhân một vợ một chồng Việt Nam qua các thời kì lịch sử 18

1.4 Vai trò, ý nghĩa của chế độ hôn nhân một vợ, một chồng 24

1.4.1 Vai trò của chế độ hôn nhân một vợ, một chồng 24

1.4.2 Ý nghĩa của chế độ hôn nhân một vợ, một chồng 26

1.5 Nhìn nhận xã hội về chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam 27

1.5.1 Nhìn nhận xã hội về vấn đề vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam 27

1.5.2 Nhìn nhận xã hội về pháp luật điều chỉnh chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam 31

Trang 7

CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 36 2.1 Chế độ hôn nhân một vợ một chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 36

2.1.1 Quy định của pháp luật ở giai đoạn trước khi xác lập quan hệ hôn nhân 36 2.1.2 Quy định của pháp luật ở giai đoạn sau khi quan hệ hôn nhân đã được xác lập 41 2.1.3 Các trường hợp ngoại lệ khi áp dụng chế độ hôn nhân một vợ một

chồng 43

2.2 Chế độ hôn nhân một vợ một chồng trong pháp luật hành chính 50 2.3 Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng trong pháp luật hình sự Việt Nam (theo BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009) 52 2.3.1 Khái niệm tội vi phạm chế độ một vợ một chồng 52 2.3.2 Những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng 53 2.3.3 Hình phạt được áp dụng đối với tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một

Trang 8

CAO HIỆU QUẢ CHO CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG HÀNH

VI VI PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG Ở VIỆT NAM 67

3.1 Những tồn tại về mặt pháp lý 67

3.1.1 Tồn tại trong pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 68

3.1.2 Tồn tại trong pháp luật hành chính 72

3.1.3 Tồn tại trong quy định của pháp luật hình sự 74

3.2 Những tồn tại trong thực tiễn xã hội 76

3.3 Một số nguyên nhân dẫn tới việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam 79

3.3.1 Nguyên nhân về mặt pháp lý 79

3.3.2 Nguyên nhân từ ý thức pháp luật của người dân 80

3.3.3 Nguyên nhân từ phía đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước 82

3.3.4 Nguyên nhân về mặt tâm lý, đạo đức xã hội 84

3.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng ở Việt Nam 86

3.5 Một số giải pháp đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng 89

3.5.1 Giải pháp về mặt pháp lý 89

3.5.2 Giải pháp về mặt xã hội 97

3.5.3 Nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, viên chức Nhà nước 103

LỜI KẾT 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU



1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình trong bất cứ xã hội nào cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng,

là môi trường bảo tồn văn hóa truyền thống, giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con người, đồng thời giúp mỗi cá nhân ngày càng hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, chuẩn bị hành trang hòa nhập vào cộng đồng xã hội Mà một trong phương thức để hình thành gia đình chính là hôn nhân – con đường đưa những nam

nữ có nhu cầu lập gia đình đến với nhau Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của hôn nhân và gia đình (HN & GĐ), trong nhiều thời kỳ khác nhau, Nhà nước ta

đã có những chủ trương, chính sách để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này Đặc biệt, Nhà nước đã đề ra những nguyên tắc cơ bản của luật

HN & GĐ đóng vai trò là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hôn nhân – gia đình Trong đó, có nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng đã được ghi nhận, và cho tới hiện nay vẫn còn nguyên giá trị trong Luật HN & GĐ hiện hành (Luật HN & GĐ năm 2000) Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc vợ chồng có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, đây là nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng

Luật HN & GĐ năm 2000 ra đời, lần đầu tiên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được quy định một cách cụ thể và trở thành nguyên tắc chủ đạo và quan trọng của Luật HN & GĐ làm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thiết lập quan hệ hôn nhân tiến bộ, một vợ một chồng xóa bỏ chế độ hôn nhân lạc hậu và những hủ tục lạc hậu, lỗi thời Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, dưới sự phát triển của xã hội và quá trình hội nhập của đất nước thì vẫn còn nhiều trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, với những hành vi mà pháp luật chưa dự liệu hoặc do thiếu tính chặt chẽ của pháp luật nên đã tạo ra “lổ hỏng” cho một phần tử nào đó trong xã hội cố ý hay vô tình vi phạm, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng làm tan vỡ biết bao gia đình Với mong muốn tìm ra nguyên nhân vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng dựa vào quy định của pháp luật đồng thời tiếp thu dư luận xã hội về vấn đề này nhằm đưa ra một số ý kiến góp phần hoàn thiện nguyên tắc này về phương diện pháp luật và phù với sự phát triển của xã hội với mục đích hướng tới thực thi chế độ hôn nhân một vợ một chồng một cách có hiệu quả vào cuộc sống

Trang 10

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài, "Chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học pháp luật ", mang tính cấp thiết, không những về lý

luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay Do đó, người viết quyết định chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nhận thức được tầm quan trọng của chế độ hôn hân một vợ một chồng, trên

cơ sở lý luận, thực tiễn và nhìn nhận xã hội đối với các hành vi vi phạm chế độ hôn hân một vợ một chồng, công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm chế độ này, việc nghiên cứu đề tài giúp đề xuất những giải pháp mang tính hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm này

3 Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Làm sáng tỏ khái niệm, bản chất pháp lí và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của chế độ hôn nhân một vợ một chồng; phân tích các quy định của pháp luật về chế

độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam và hành vi vi phạm chế độ này

Phân tích và đánh giá tầm quan trọng của chế hôn hân một vợ một chồng có xem xét dư luận xã hội xung quanh hành vi vi phạm chế độ này Phân tích và đánh giá nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng; thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại hành vi vi phạm pháp luật này

Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng nhằm bảo vệ nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam dưới góc nhìn xã hội và pháp luật

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và pháp luật, những thành tựu của các khoa học: triết học, tội phạm học, luật hình sự, tâm lý học, xã hội học

Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Luận văn được hoàn thành dựa trên những kiến thức đã học, thu thập và tổng hợp các tài liệu, các văn bản pháp luật, một số tạp chí chuyên ngành có

Trang 11

liên quan đến đề tài Đồng thời, luận văn này còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết, phương pháp so sánh, hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, cụ thể, lôgíc và một số phương pháp khác để hoàn thành bài luận

6 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm: Lời cảm ơn, Bảng viết tắt, Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phần nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung và quan điểm xã hội về chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam

Chương 2: Chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Chương 3: Một số tồn tại, nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam

Nghiên cứu đề tài này là một phần đóng góp nhỏ bé của tác giả vào công cuộc cải cách tư pháp nói chung và nâng cao hiệu quả cho công tác đấu tranh phòng chống những hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng nói riêng để nguyên tắc hôn nhân một vợ một một chồng được thực thi một cách có hiệu quả vào cuộc sống Mặc dù, bản thân đã có nhiều cố gắng và nổ lực trong quá trình nghiên cứu, nhưng, do đây là lần đầu nghiên cứu, trình độ, năng lực bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự hướng dẫn, góp ý thêm của quý Thầy, Cô và sự đóng góp, xây dựng của các bạn./

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VÀ QUAN ĐIỂM XÃ HỘI VỀ CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG Ở VIỆT NAM

Ngày nay, hôn nhân và gia đình luôn là mối quan tâm lớn của toàn xã hội, vì gia đình chính là nền tảng xây dựng xã hội tốt đẹp và văn minh Vì vậy, nó chính là mục tiêu chung xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta khi xây dựng pháp luật nói chung Luật hôn nhân và gia đình nói riêng Ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, với lối sống hiện đại nhiều người lại xem nhẹ nghĩa

vụ chung thủy giữa vợ chồng làm lưu mờ giá trị đạo đức Cùng với vai trò quan trọng của gia đình đối với xã hội, Luật HN & GĐ năm 2000 ra đời, lần đầu tiên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được quy định một cách cụ thể và trở thành nguyên tắc chủ đạo và quan trọng của Luật hôn nhân và gia đình làm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thiết lập quan hệ hôn nhân tiến bộ, một vợ một chồng xóa bỏ chế

độ hôn nhân lạc hậu và những hủ tục lạc hậu, lỗi thời và cho tới hiện nay vẫn còn nguyên giá trị

1.1 Khái niệm về hôn nhân và bản chất pháp lý của hôn nhân

1.1.1 Khái niệm về hôn nhân

Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN & GĐ nói riêng, việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa quan trọng Nó phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước về hôn nhân; tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của hôn nhân; xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật HN & GĐ

Trong thực tiễn khoa học Luật HN & GĐ ở Việt Nam, nhiều khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu luật học đưa ra, chẳng hạn:

Ở Việt Nam, các giáo trình Dân luật dưới chế độ Sài gòn cũ chưa đưa ra khái

niệm cụ thể về hôn nhân mà phần nhiều mới đưa ra khái niệm “giá thú”: “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định”1 hoặc “giá thú” cũng được hiểu: “sự trai gái lấy nhau trước mặt viên

hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng

1

Nguyễn Quang Quýnh, Dân luật, Quyển 1 _Bộ văn hoá giáo dục, Thư viện Đại học Cần thơ, 1968, tr 239

Trang 13

cư, trung thành và tương trợ”2 Theo một số luật gia Sài gòn, khái niệm “giá thú”

bao gồm có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất giá thú là hành vi phối hợp vợ chồng (kết hôn) Theo nghĩa thứ hai là tình trạng của hai người đã chính thức lấy nhau làm vợ chồng và thời gian hai người ăn ở với nhau Điều 3 Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964, Điều 99 Bộ dân luật 1972 ngày 20/12/1972 của Chính quyền Sài gòn cũ qui định:

“Không ai được phép tái hôn nếu giá thú trước chưa đoạn tiêu” Như vậy, phải chăng các khái niệm “giá thú” được nêu trên đã bao hàm cả khái niệm về hôn nhân?

Trong pháp Luật HN & GĐ Việt Nam hiện hành, khái niệm hôn nhân đã được nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn Luật HN & GĐ năm

2000 qui định: “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Điểm 6,

Điều 8 Luật HN & GĐ 2000) Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của

trường Đại học Luật Hà nội hôn nhân được hiểu là: “sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”3

Theo người viết, các khái niệm hôn nhân nói trên mặc dù còn chứa đựng những quan điểm khác nhau, song chúng có hai điểm chung sau:

Nhà làm luật khi đưa ra khái niệm hôn nhân đều xuất phát từ vị trí của hôn

nhân là một thiết chế xã hội (social institution): “Việc một người đàn ông và một người đàn bà cam kết sống chung với nhau với những quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với con cái”4 Hôn nhân qua các khái niệm này đều phản ánh năm đặc điểm cơ bản:

 Thứ nhất, tính tự nguyện trong hôn nhân

Hôn nhân là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, do đó việc thể hiện ý chí ưng thuận giữa các bên trong hôn nhân là một trong các điều kiện căn bản để hôn nhân

có hiệu lực Hiện nay, pháp luật về hôn nhân và gia đình của các nước đều ghi nhận:

Không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện

Nhà làm luật các nước xã hội chủ nghia (XHCN) cũng coi yếu tố tự nguyện trong hôn nhân là một trong các xuất phát từ tình cảm giữa nam và nữ, vậy nên họ không thừa nhận chế độ đại diện trong kết hôn, mà việc kết hôn phải do chính các

Trang 14

bên nam, nữ quyết định Mặt khác, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình, chứ không vì mục đích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ dân sự, đồng thời để tránh những trường hợp hôn nhân dựa trên sự tính toán kinh tế, pháp luật XHCN không thừa nhận chế độ tài sản theo thoả thuận giữa vợ và chồng, mà chỉ thừa nhận chế độ tài sản pháp định dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng5

Thứ hai, tính bền vững (tính chất suốt đời) của hôn nhân

Tính bền vững của hôn nhân được các nhà làm luật đưa ra xuất phát từ những căn nguyên khác nhau: có thể do yếu tố tôn giáo (Đạo cơ đốc coi hôn nhân là một thiết chế bất biến gắn liền với suốt cuộc đời con người - xem khái niệm của Lord Penzance), tính bất biến hôn nhân theo quan niệm tôn giáo có thể hiểu theo hai nghĩa: hôn nhân không thể chấm dứt bằng ly hôn, do đó cấm ly hôn (quan điểm này hiện nay rất ít nước áp dụng) và hôn nhân có tính bền vững nhưng vẫn có thể chấm dứt bằng ly hôn (đây là quan điểm phổ biến hiện nay)

Tính bền vững của hôn nhân cũng có thể xuất phát từ đạo đức truyền thống và văn hoá của người phương đông coi trọng tình nghĩa vợ chồng và yếu tố bền vững trong hôn nhân và gia đình v.v…6

Tính bền vững của hôn nhân cũng được đặt ra xuất phát từ các vấn đề của nền kinh tế - xã hội tư bản (nền kinh tế thị trường, sự đề cao chế độ tư hữu và tự do cá nhân…) đã và đang đẩy hôn nhân trong xã hội tư sản rơi vào tình trạng khủng hoảng

(hôn nhân bền vững được thay thế bằng “hôn nhân thử”, tình trạng ly hôn tràn

lan…) Tình hình đó, đã yêu cầu các nhà làm luật phải quan tâm và đề cao hơn nữa tính bền vững của hôn nhân

Quan niệm phổ biến nhất (đặc biệt ở các nước XHCN) là do hôn nhân được xây dựng trên yếu tố tình cảm giữa các chủ thể và hôn nhân có mục đích là xây dựng gia đình (gia đình thường bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ chồng về tình cảm mà phát sinh các quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ giữa anh, chị, em…) đó là những điều kiện đảm bảo cho sự liên kết hạnh phúc, bền vững trong hôn nhân, hôn nhân có bền vững thì gia đình và xã hội mới ổn định và phát triển7

Pháp luật HN & GĐ Việt Nam luôn coi trọng tính bền vững của hôn nhân, vì truyền thống gia đình Việt Nam và xuất phát từ vai trò hôn nhân là cơ sở: xây dựng

Trang 15

gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững (Điều 1 Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000)

 Thứ ba, tính chất một vợ một chồng

Trong xu thế tiến bộ xã hội (đặc biệt sự bình quyền giữa nam và nữ), sự khẳng định cá nhân con người ngày càng lớn, đạo đức mới của con người không những phủ nhận kiểu hôn nhân một chồng nhiều vợ, hoặc một vợ nhiều chồng như trước, mà đòi hỏi tình yêu nam, nữ phải biểu hiện trong mối quan hệ thuỷ chung một

vợ, một chồng

Vậy nên, hiện nay chế độ một vợ một chồng đã được ghi nhận trong hầu hết pháp luật HN & GĐ của các nước (trừ một số nước ở Châu Phi, Trung cận đông, Trung á do ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo và phong tục, tập quán vẫn thừa nhận chế

độ đa thê trong pháp luật) Pháp luật HN & GĐ Việt Nam coi một vợ, một chồng là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình XHCN và là một trong các điều kiện để thừa nhận việc kết hôn hợp pháp (Điều 2 và khoản 1 điều 9

Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000);

 Thứ tư, hôn nhân chỉ tồn tại giữa những người khác nhau về giới tính

Thực chất và ý nghĩa của hôn nhân là mục đích xây dựng gia đình, thể hiện trong việc sinh đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhau những nhu cầu vật chất và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, hôn nhân là sự liên kết giữa những người khác giới tính là một đặc điểm vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính

xã hội Để bảo đảm mục đích của hôn nhân được thực hiện; đồng thời, để bảo vệ yếu

tố đạo đức truyền thống và tính tự nhiên trong hôn nhân, pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính (Việt Nam qui định tại khoản 5 Điều 10 Luật HN & GĐ năm 2000) Trong đó, một số nước coi hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính là tội phạm Tuy nhiên, hiện nay do xuất phát từ nhiều nguyên nhân, đặc biệt do quá coi trọng quyền tự do cá nhân, có nước đã thừa nhận hôn nhân của những người cùng giới (Luật hôn nhân sửa đổi của

Hà lan có hiệu lực từ ngày 01.04.2001 đã cho phép những người cùng giới tính kết hôn với nhau…) Việc thừa nhận hôn nhân đồng giới ở những nước này đã gặp sự phản đối của dư luận rộng rãi trên thế giới

Thứ năm, tính chịu sự qui định của pháp luật

Trang 16

Với vị trí là một thiết chế xã hội, hôn nhân có vai trò là cơ sở xây dựng gia đình - tế bào của xã hội Điều đó không chỉ có ý nghĩa riêng tư mà còn có ý nghĩa xã hội Bởi vì, trên cơ sở phát sinh quan hệ vợ chồng, các quan hệ thân thuộc trong gia đình (quan hệ trực hệ và quan hệ giữa những người có họ hàng khác) và các quan hệ thích thuộc (quan hệ giữa một bên vợ hoặc chồng với những người trong họ nhà vợ hay trong họ nhà chồng) được thiết lập và làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ đạo đức, pháp lý giữa các chủ thể trong gia đình Việc phát sinh tồn tại và chấm dứt hôn nhân đều có những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các quan hệ gia đình (trong nhiều trường hợp hôn nhân có ảnh hưởng mang tính chất quyết định) Chủ nghĩa

Mác- Lênin đã khẳng định: “Nếu hôn nhân không phải là cơ sở của gia đình thì nó

sẽ không phải là đối tượng của lập pháp” 8 Vì vậy, cũng như các thiết chế xã hội khác hôn nhân phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật Pháp luật HN & GĐ các nước đều có các qui định chặt chẽ về kết hôn, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về chấm dứt hôn nhân Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000 qui định vấn đề kết hôn bao gồm điều kiện kết hôn, ghi thức kết hôn, huỷ kết hôn trái pháp luật tại Chương II từ Điều

9 đến Điều 17; qui định các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng tại Chương III từ Điều 18 đến Điều 33 và chấm dứt hôn nhân tại Chương X - Ly hôn từ Điều 85 đến Điều 99

Ngoài năm đặc điểm trên, có quan điểm cho rằng hôn nhân còn có đặc điểm bình đẳng Theo quan điểm người viết, bình đẳng không phải là đặc điểm chung cho hôn nhân ở các nước có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau Dưới chế độ XHCN ở Việt Nam, bình đẳng được coi là đặc điểm của hôn nhân Bởi vì, Nhà nước ta xác định vợ chồng bình đẳng là một trong các tiêu chí đánh giá tiến bộ xã hội và là một nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình XHCN (Điều 2, Điều 19 Luật

HN & GĐ Việt Nam năm 2000), nội dung bình đẳng do pháp luật qui định trên cả quan hệ về nhân thân và quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng

Tóm lại, trong giai đoạn phát triển của xã hội hiện nay, khái niệm hôn nhân

mà nhà làm luật các nước đưa ra đã có sự tiếp cận nhau hơn Tuy nhiên, hôn nhân là một hiện tượng xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bản chất giai cấp, tôn giáo, phong tục, tập quán, nên nội dung các đặc điểm của hôn nhân ở các nước có điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội khác nhau là khác nhau Căn cứ vào các qui định về hôn nhân trong Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000, chúng ta có thể hiểu hôn nhân theo

pháp luật HN & GĐ Việt Nam như sau: sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, theo qui

8

C.Mác, Ph Ăngghen, Tuyên ngôn Đảng cộng sản, NXB Sự thật, 1976, tr.47

Trang 17

định pháp luật giữa một người đàn ông và một người đàn bà, nhằm chung sống suốt đời với tư cách là vợ chồng, vì mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến

bộ, hạnh phúc và bền vững

1.1.2 Bản chất pháp lý của hôn nhân

Bản chất pháp lý của hôn nhân là một hợp đồng hay là một thiết chế pháp luật

hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau

Việt Nam quan niệm chính thống về mặt học lý cho rằng: Hôn nhân không phải là một hợp đồng mà là một sự liên kết đặc biệt giữa một người đàn ông và một người đàn bà Sự liên kết này không phụ thuộc vào tính toán vật chất, mà được dựa trên cơ sở tình yêu thương, quí trọng, bình đẳng và tự nguyện giữa vợ và chồng Ngoài ra, mục đích của hôn nhân là xây dựng mối quan hệ bền vững, đảm bảo thoả mãn nhu cầu tinh thần và vật chất chất của đôi bên, sinh đẻ và giáo dục con cái 9 Theo người viết, để xác định hôn nhân là một thiết chế pháp luật hay là một hợp đồng dân sự, cần xem xét trên các khía cạnh sau:

 Thứ nhất, có sự khác nhau giữa mục đích giao kết hợp đồng và mục đích kết hôn

Theo pháp luật về hợp đồng, sự thoả thuận là yếu tố bắt buộc phải có trong hợp đồng, tuy nhiên đó mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để hợp đồng có hiệu lực Để hợp đồng có hiệu lực, sự thoả thuận của các bên phải làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Trong hôn nhân có sự thoả thuận, nhưng thoả thuận đó không phải là thoả thuận trong hợp đồng Vì mục đích của các bên kết hôn không phải để tạo lập, thay đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ dân sự nào, mà chỉ mong muốn lập một gia đình

Chính vì có mục đích khác nhau, nên trong hợp đồng ngoài việc tuân thủ các điều kiện do luật định, các bên còn phải tuân thủ các điều kiện do họ đã thoả thuận

ấn định Còn trong hôn nhân, các bên kết hôn phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện do pháp luật ấn định, còn các điều kiện do các bên thoả thuận ra không có giá trị về mặt pháp lý

9

Xem: Giáo trình Luật HN & GĐ, Trường Đại học Luật Hà nội, 2002, tr 14 - 16

Trang 18

Mặt khác, thường pháp luật về hợp đồng không qui định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, mà do các bên tự thoả thuận và ấn định; trong quá trình thực hiện hợp đồng các bên cũng có thể thoả thuận thay đổi quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Còn trong hôn nhân, pháp luật lại qui định rất cụ thể các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về nhân thân và tài sản Vợ chồng phải tuân thủ sự

ấn định của pháp luật, không thể bằng những thoả thuận của mình làm thay đổi các quyền nghĩa vụ pháp lý đó10

 Thứ hai, pháp luật qui định về năng lực kết hôn khác với qui định về năng lực giao kết hợp đồng

Năng lực giao kết hợp đồng chủ yếu được xác định trên hai điều kiện: độ tuổi (tuỳ theo từng loại hợp đồng mà pháp luật qui định các độ tuổi khác nhau) và khả năng nhận thức của chủ thể Còn năng lực kết hôn ngoài điều kiện độ tuổi và năng lực nhận thức, còn được xác định trên các điều kiện khác không có trong pháp luật

Các bên kết hôn không có quan hệ họ hàng thân thuộc trong phạm vi luật định Đây là điều kiện được qui định ở tất cả các nước Tuy nhiên, phụ thuộc vào yếu tố truyền thống đạo đức, phong tục, tập quán mà phạm vi quan hệ họ hàng thân thuộc, thích thuộc được pháp luật các nước qui định khác nhau Khoản 3 và 4 Điều

10 Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000 qui định: Cấm việc kết hôn giữa những cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

 Thứ ba, việc kết hôn được thực hiện theo những ghi thức đặc biệt không

Trang 19

Pháp luật của tất cả các nước đều qui định để hôn nhân có giá trị pháp lý, việc kết hôn phải được tiến hành theo các ghi thức qui định trong pháp luật Hiện nay, có hai ghi thức kết hôn phổ biến: ghi thức tôn giáo (thực hiện tại nhà thờ) và ghi thức dân sự (thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) Việt Nam chỉ thừa nhận ghi thức dân sự (Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000)

Chính vì việc kết hôn phải được tiến hành theo những ghi thức đặc biệt trên, nên trong quá trình thực hiện thủ tục kết hôn, cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền

về đăng ký kết hôn có thể phát hiện và từ chối việc kết hôn nếu một hoặc hai bên xin đăng ký kết hôn vì phạm các điều kiện kết hôn theo luật định Tức là có khả năng ngăn chặn việc kết hôn trái pháp luật ngay từ khi nó chưa xảy ra Điều này thường không có trong hợp đồng, trên thực tế khi phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp đồng đã được ký kết, khi đó mới đặt ra việc huỷ bỏ hợp đồng

 Thứ tư, pháp luật qui định về huỷ kết hôn trái pháp luật khác với các qui định về huỷ hợp đồng

Căn cứ để hủy kết hôn trái pháp luật và căn cứ hủy hợp đồng là khác nhau Một hợp đồng bị huỷ khi có một trong hai căn cứ: Các bên vi phạm các điều kiện do luật định hoặc các bên vi phạm điều kiện do thoả thuận Còn việc kết hôn sẽ bị hủy khi vi phạm một trong các điều kiện kết hôn theo luật định

Khi phát hiện một hợp đồng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc đạo đức xã hội, thì hợp đồng luôn bị huỷ bỏ và các bên trở lại tình trạng ban đầu trước khi giao kết hợp đồng Còn trong hôn nhân, nếu việc kết hôn là trái pháp luật, thì việc huỷ bỏ việc kết hôn đó còn phải được xem xét trên rất nhiều góc độ, đặc biệt có tính toán đến lợi ích của gia đình, mà có thể không huỷ bỏ việc kết hôn Mặt khác, nếu việc kết hôn bị huỷ, trong nhiều trường hợp các bên không thể trở lại tình trạng ban đầu như trước khi kết hôn, bởi họ còn có nghĩa vụ và quyền liên quan đến nhau (Ví dụ: quyền và nghĩa vụ đối với con chung vẫn còn sau khi việc kết hôn bị huỷ)

Về thủ tục, việc huỷ bỏ hợp đồng dân sự có thể theo tboả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc huỷ kết hôn trái pháp luật không theo thoả thuận giữa các bên hoặc không do một bên đơn phương đình chỉ thực hiện hoặc huỷ bỏ việc kết hôn như trong hợp đồng, mà việc đó phải diễn ra theo thủ tục tố tụng tại Toà án Người khởi kiện không chỉ một trong hai bên kết hôn (thường một trong hai bên kết hôn chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu huỷ khi họ bị lừa

Trang 20

dối hoặc bị cưỡng ép - Điều 15 Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000) mà còn có thể

do các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện (Điều 15 Luật HN & GĐ Việt Nam năm 2000) Một việc kết hôn chỉ bị coi là trái pháp luật và bị huỷ bỏ khi có bản án hoặc quyết định của Toà án tuyên bố về việc đó

 Thứ năm, các quy định về chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn khác với quy định về chấm dứt hợp đồng

Một hợp đồng có thể chấm dứt do các bên trong hợp đồng thoả thuận hoặc do ý chí đơn phương của một bên, mà không cần có phán quyết của Toà án Trong khi

đó, một quan hệ hôn nhân chỉ chấm dứt khi có bản án, quyết định của Toà án xử cho

ly hôn hoặc công nhận thuận tình ly hôn (pháp luật của những nước thừa nhận hôn nhân là một hợp đồng cũng ghi nhận qui định này) Sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng là điều kiện tiên quyết để chấm dứt hợp đồng, còn trong hôn nhân, sự đồng thuận chấm dứt hôn nhân của vợ chồng (sự thuận tình ly hôn) chỉ là một trong các sự kiện làm phát sinh việc kiện về ly hôn, chứ không phải là căn cứ làm chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn Pháp luật đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng, nhưng sự thoả thuận của hai vợ chồng vẫn có thể bị Toà án bác yêu cầu, nếu sự thuận tình ly hôn không xuất phát từ lợi ích chung của gia đình

Với những điểm khác biệt cơ bản nói trên, theo người viết, không thể đồng nhất hôn nhân với hợp đồng dân sự, mà nên xác định nó là một thiết chế pháp luật thì phù hợp với thực tiễn và lý luận hơn Tuy nhiên, đây chỉ là một trong số các quan điểm về vấn đề này, rất mong có sự trao đổi ý kiến của các chuyên gia và người đọc

1.2 Khái niệm và nội dung chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam 1.2.1 Khái niệm về chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Nguyên tắc trước hết được hiểu là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân thủ theo trong một loạt việc làm” 11 Trong lĩnh vực HN & GĐ, nguyên tắc là tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ cơ sở khoa học của các hoạt động quản lý nhà nước và

từ đời sống thực tế xã hội về hôn nhân Dưới góc độ của Luật HN & GĐ, các nguyên tắc của Luật HN & GĐ là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn

bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình

11

Từ điển tiếng việt, Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng, tr 672

Trang 21

Các nguyên tắc quản lý nhà nước nói chung và những nguyên tắc của Luật

HN & GĐ nói riêng đã được quy định trong Hiến pháp và Luật Cụ thể được quy

định trong Điều 64 của Hiến Pháp 1992 : “… Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng…” những nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp được xem là những

nguyên tắc cơ bản và những nguyên tắc này là những đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành luật trong đó có Luật HN & GĐ Cụ thể các nguyên tắc được ghi nhận

tại khoản 1 Điều 2 Luật HN & GĐ năm 2000: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”

Các nguyên tắc của Luật HN & GĐ thể hiện những quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình, các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện chế độ HN & GĐ mới xã hội chủ nghĩa Trong đó nguyên tắc cơ bản nhất thể hiện rỏ bản chất chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Hôn nhân một vợ một chồng lấy tình yêu giữa nam và nữ làm cơ sở xác lập hôn nhân và lấy tình yêu giữa vợ và chồng làm cơ sở duy trì quan hệ hôn nhân Đây là nguyên tắc đóng vai trò nền tảng chủ đạo của Luật HN & GĐ

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc cơ bản nhất được quy định cụ thể trong Điều 64 Hiến pháp năm 1992 và Điều 2 Luật HN & GĐ năm 2000, trên nguyên tắc hiến định, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng phải được thực thi và áp dụng vào thực tế cuộc sống, mọi chủ thể trong quan hệ hôn nhân phải tuân thủ theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Nhằm xóa bỏ chế độ đa thê trong hôn nhân phong kiến, coi rẻ phụ nữ, gây nhiều đau khổ cho phụ nữ

Để bảo thực chất của quan hệ hôn nhân, loại trừ định kiến xã hội theo quan

niệm “trai năm thê, bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” pháp luật Việt Nam chỉ

thừa nhận quan hệ hôn nhân một vợ – một chồng, các hành vi “đa thê” hoặc “đa phu” bị nghiêm cấm Ngoại trừ, các trường hợp do hậu quả của chế độ cũ để lại (chế

độ hôn nhân một vợ – một chồng dưới chế độ XHCN được thiết lập ở Việt Nam từ sau ngày 13/1/1960 ở miền Bắc XHCN và được áp dụng thống nhất trong cả nước từ ngày 25/3/1977)

Như vậy, từ vấn đề lí luận chung về hôn nhân và những đặc điểm của pháp luật Việt Nam giai đoạn hiện nay, nhận thức được bản chất của chế độ hôn nhân một

vợ một chồng (theo nghĩa ngữ nguyên của nó), Nhà nước ta đã thể chế hóa chế độ này thành một nguyên tắc hiến định và được cụ thể hóa trong luật hôn nhân gia đình

Trang 22

Khi đã trở thành một nguyên tắc, có nghĩa khi đó, hôn nhân một vợ một chồng đã trở thành một nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo đối với toàn bộ hệ thống pháp luật hôn nhân gia đình và trên thực tế, có ý nghĩa bắt buộc chung đối với tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ hôn nhân gia đình Như vậy, ta có thể hiểu chế độ hôn nhân

một vợ một chồng theo pháp luật Việt Nam như sau: “sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, theo qui định pháp luật giữa một người nam và một người nữ, nhằm chung sống suốt đời với tư cách là vợ chồng, vì mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững chịu ảnh hưởng sâu sắc bản chất giai cấp, tôn giáo, phong tục, tập quán, điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội của quốc gia Việt Nam”

1.2.2 Nội dung chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Nguyên tắc của Luật HN & GĐ là những nguyên lý, tư tưởng chủ đạo, quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình12 Những nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình đã thể hiện những quan điểm pháp luật của Đảng, Nhà nước ta đối với nhiệm vụ và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình, các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện chế độ hôn nhân gia đình xã hội chủ nghĩa Trong đó nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản được Luật HN&GĐ quy định đã thể hiện quan điểm cơ bản, chủ đạo xuyên suốt của pháp luật HN & GĐ xã hội chủ nghĩa và được quy định trong khoản 1 Điều 2 Luật HN & GĐ năm 2000

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xây dựng trên nền tảng hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và nam nữ bình đẳng nhằm xóa bỏ chế độ hôn nhân nhiều

vợ trong hôn nhân phong kiến, coi rẻ phụ nữ, gây nhiều đau khổ cho phụ nữ

Bản chất của hôn nhân tự nguyện trên cơ sở tình yêu nam nữ là hôn nhân một

vợ một chồng Mặt khác, chế độ một vợ một chồng đảm bảo tình yêu giữa họ thật sự bền vững, duy trì và củng cố hạnh phúc gia đình Hôn nhân một vợ một chồng là điều quan trọng làm cho cuộc sống chung vợ chồng lâu dài bền vững Chỉ có chế độ hôn nhân một vợ một chồng mới đảm bảo xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 64 của Hiến pháp năm 1992 và tại khoản 1 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

12

Tập thể tác giả: Ts Hà Thị Mai Hiên, Ths Bùi Minh Hồng, Ths Ngô Thị Hường, Ths Nguyễn Văn Cừ,

Ths Nguyễn Phương Lan, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm

2002

Trang 23

Chế độ hôn nhân một vợ một chồng ngày nay khác với chế độ hôn nhân một

vợ một chồng thời cổ điển, lúc mà nó vừa ra đời và tồn tại trong các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng Nếu nguồn góc của chế độ hôn nhân một vợ một chồng là do điều kiện kinh tế (chế độ tư hữu) mà mục đích của nó là đảm bảo con cái do người

vợ đẻ ra phải là của chính người chồng, để thừa kế tài sản mà thực chất là duy trì chế

độ tư hữu bóc lột, thì chế độ một vợ một chồng xã hội chủ nghĩa lấy tình yêu chân chính giữa nam và nữ làm cở sở với mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững

Là một trong sáu nguyên tắc cơ bản cuả Luật hôn nhân và gia đình, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đóng vai trò chủ đạo, quán triệt toàn bộ hệ thống các nguyên tắc Để thể hiện sự ảnh hưởng cũng như sự tác động của nó lên gia đình xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng thể hiện được cái bản chất cốt lỗi để duy trì một hôn nhân, mà các nguyên tắc còn lại không chứa đựng được, chính là tính một vợ một chồng trong hôn nhân, hôn nhân một vợ một chồng là nền tảng xây dựng gia đình hạnh phúc, đảm bảo sự chung thủy vợ chồng, có như thế gia đình mới phát huy được bản chất là tế bào của xã hội

Bản chất của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là đảm bảo tình yêu giữa họ thật sự bền vững, duy trì và củng cố hạnh phúc gia đình Hôn nhân một vợ một chồng là điều kiện quan trọng làm cho cuộc sống chung vợ chồng lâu dài bền vững và thực sự hạnh phúc Không chỉ ở Việt Nam mà ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều áp dụng nguyên tắc này và nó đã được pháp luật quy định và bảo

vệ Đây là nguyên tắc hôn nhân tiến bộ nhất mà loài người đã lựa chọn từ hàng nghìn năm nay

Có một thực tiễn đã được lịch sử loài người chứng minh là chỉ có một cuộc hôn nhân hạnh phúc khi đôi nam nữ yêu thương nhau và chung sống thành một đôi (một vợ, một chồng) Trong thời kì phong kiến, chế độ đa thê trong hôn nhân đã phá

vỡ hạnh phúc của bao gia đình và để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho gia đình

và xã hội Vì thế xây dựng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn nhằm xóa bỏ tàn dư của chế độ hôn nhân phong kiến từng tồn tại hàng nghìn năm qua ở nước ta

Trong gia đình phong kiến Việt Nam, người đàn ông được quyền lấy nhiều vợ trong khi đó người vợ chỉ trung thành với người chồng cho đến khi chết Không những thế lại đặt ra quy định những hình phạt nặng nề đối với tội thông gian của người vợ Người vợ có hành vi quan hệ lén lút với người khác bị coi là phạm vào

“thất xuất” để người chồng ly hôn Mặt khác, theo tập quán lúc bấy giờ thì những

Trang 24

người phụ nữ không đoan chính bị kỳ thị và trừng trị rất tàn ác, người chồng có quyền đánh đập, hành hạ người vợ coi như thực hành quyền của mình và đương nhiên không có tội Chính vì chế độ hôn nhân nhiều vợ trong gia đình phong kiến, người phụ nữ được ví như cái “máy đẻ” chỉ để duy trì nồi giống cho gia đình chồng, khi họ không sinh được con trai thì người chồng có quyền “năm thê bảy thiếp”, người phụ nữ hoàn toàn không có tiếng nói trong xã hội lúc bấy giờ Thậm chí, có những gia đình “không đủ ăn” người chồng vẫn lấy nhiều vợ, chính vì thế cái nghèo

cứ lẩn quẩn bên họ Xã hội phong kiến đầy rẫy những gia đình như vậy Người chồng không đủ sức đảm bảo cuộc sống gia đình nhưng để duy trì nồi giống và cái

“quyền” đa thê ăn sâu trong nhận thức vậy nên họ cứ vô tư “thực hiện” quyền của mình Nhận thấy vai trò người phụ nữ trong xã hội phong kiến bị coi rẽ, hai chữ “đa thê” đã gây nhiều đau khổ cho người phụ nữ

Với sự ra đời của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 vai trò người phụ nữ

đã được ghi nhận và được coi trọng, cụ thể là chế độ hôn nhân đa thê và hôn nhân cưỡng ép, hai đặc trưng cơ bản của chế độ hôn nhân lạc hậu bị chính thức đặt ra ngoài vòng pháp luật Các nguyên tắc cơ bản: hôn nhân tự do tiến bộ, một vợ một chồng; nam, nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình; bảo vệ quyền lợi của con cái đã được cụ thể tại Điều 3, Điều 5 của luật Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, miền Nam vẫn đang còn chiến tranh nên đất nước chưa được thống nhất Chính vì thế mà Luât hôn nhân và gia đình năm 1959 chỉ có hiệu lực áp dụng ở Miền Bắc Lúc này Miền Nam vẫn còn tồn tại chế độ hôn nhân đa thê,

vì vậy vai trò người phụ nữ trong gia đình nhiều vợ ở Miền Nam không được coi trọng Khi đất nước thống nhất (30/4/1075) xuất phát từ tính cần thiết phải có một đạo luật quy định một cách cụ thể điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình thống nhất cả nước Khi đó, Nghị quyết số 76/CP ngày 25/3/1977 của Hội đồng Chính phủ công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật áp dụng thống nhất ở hai miền Nam, Bắc Đây được xem văn bản đầu tiên đánh dấu cho việc áp dụng pháp luật hôn nhân

và gia đình một cách có hệ thống Như vậy, với Nghị quyết 76/CP ngày 25/3/1977, miền Nam đã chính thức bãi bỏ chế độ hôn nhân đa thê, vai trò người phụ nữ trong gia đình được pháp luật bảo vệ

Kế thừa và phát triển nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, Luật hôn nhân

và gia đình 1986 quy định: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác” (Điều 4, Điều 7 và Điều 9); và Điều 2 Luật hôn

nhân và gia đình 2000 khẳng định hôn nhân phải được xây dựng trên nguyên tắc một

Trang 25

vợ một chồng Vì vậy, Điều 4 và khoản 1 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình 2000

quy định: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung như vợ chồng với người đang có chồng có vợ”

Như vậy, với những quy định đầy đủ và toàn diện của luật, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã xóa bỏ tàn dư của chế độ hôn nhân phong kiến từng tồn tại hàng nghìn năm qua ở nước ta Vai trò người phụ nữ ngày càng được khẳng định trong xã hội hiện đại Có thể nói chế độ hôn nhân này đã thể hiện đúng đắn vai trò là

nguyên tắc chủ đạo trong Luật hôn nhân và gia đình dù ở giai đoạn lịch sử nào

1.3 Lược sử quá trình hình thành và phát triển của chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của chế độ hôn nhân một vợ một chồng trong tiến trình phát triển của các hình thái hôn nhân, gia đình trong lịch sử

Theo quan điểm của Ăng ghen, trong lịch sử xã hội loài người, chế độ

HN & GĐ trải qua 4 hình thái Hình thái đầu tiên tương ứng với thưở “bình minh” của loài người là hình thái gia đình huyết tộc Đặc trưng của hình thái này là chỉ cấm những người có quan hệ dòng máu trực hệ (cha mẹ và các con) có quan hệ tính giao với nhau, do đó vẫn tồn tại tình trạng anh chị em nhưng đồng thời là vợ, chồng của nhau Bước phát triển tiếp theo – tiến bộ hơn hình thái gia đình huyết tộc là hình thái gia đình Pu-na-lu-an, hình thái gia đình này khắc phục hạn chế của hình thái gia đình huyết tộc, đã cấm những anh em trai với chị em gái trong cùng một gia đình kết hôn với nhau, nhưng hình thái gia đình này lại thừa nhận quan hệ tính giao giữa nhóm các chị em gái với nhóm các anh em trai, trừ các anh em trai cùng họ sống trong cùng một gia đình Hình thái gia đình kế tiếp là hình thái hôn nhân (gia đình đối ngẫu) tiếp tục loại trừ quan hệ tính giao giữa anh em, chị em họ hàng ở hàng chú bác, cháu chắt và những người họ hàng xa khác, từ đây hình thành nên “mô hình” gia đình của từng cặp vợ chồng Hôn nhân đối ngẫu hình thành vẫn trên cơ sở kinh

tế - xã hội của chế độ thị tộc, không thể bền vững được, dễ bị phá vỡ bởi cả người

vợ và người chồng, con cái – “sản phẩm” của cuộc hôn nhân đối ngẫu vẫn thuộc về thị tộc mẹ như trước Hình thái này tồn tại rất ngắn trong lịch sử và được coi là bước chuyển tiếp của chế độ quần hôn sang chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Nếu ba hình thái hôn nhân trên được hình thành và phát triển trên “cái nôi” là chế độ thị tộc thì sự hình thành và phát triển của hình thái hôn nhân một vợ một

Trang 26

chồng lại gắn liền với một chế độ khác – một thời kỳ mới của lịch sử loài người

Ăng ghen đã viết trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc gia đình của chế độ tư hữu

và của nhà nước” (1884): Hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện thay thế cho hôn

nhân đối ngẫu khi xã hội có sự phân công lao động ở mức cao nhất, hiệu suất lao động phát triển đến mức có của cải dư thừa Cụ thể, khi sự phân công lao động trong

xã hội ở mức cao, người chồng đóng vai trò là lao động chính trong gia đình, năng suất lao động của anh ta cao hơn nhiều so với người vợ - vốn vẫn chỉ làm việc nhà, hiệu suất lao động không cao và không có của cải dư thừa Tiềm lực kinh tế vượt trội đã khiến cho người chồng có được địa vị quan trọng hơn người vợ trong gia đình, do đó, hình thành nên ước vọng của người chồng là con cái của họ được thừa

kế tài sản của mình Do đó, tất yếu cần phải xóa bỏ chế độ huyết tộc theo mẫu quyền, sau đó thiết lập huyết tộc theo họ cha và quyền kế thừa cha Như vậy, con của người vợ đẻ ra dứt khoát phải là con của chồng bà ta Người con này sẽ kế thừa tài sản của cha và theo họ của cha mà không phải theo họ mẹ như trước nữa Chế độ mẫu quyền đã được thay thế bằng chế độ phụ quyền, và đặc biệt gia đình đối ngẫu

đã chuyển sang gia đình cá thể - tiền thân của chế độ hôn nhân một vợ một chồng Phát triển trong các xã hội có giai cấp đối kháng, mô hình gia đình cá thể với các biến thể của nó vẫn giữ nguyên bản chất “thưở sơ khai” là dựa trên cơ sản tài sản,

không hề dựa trên tình yêu chân chính, đúng như Ăng ghen đã nhận xét “quyết không phải là tình yêu trai gái, tuyệt nhiên không dính dáng gì đến thứ tình yêu này,

vì như trước kia, các cuộc hôn nhân vẫn là những cuộc hôn nhân có tính đến lợi hại…” Có thể nói, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã hình thành ở giai đoạn

lịch sử này nhưng hoàn toàn mâu thuẫn và giả tạo, chỉ đặt ra yêu cầu đối với người đàn bà chứ không phải đối với người đàn ông Mặt khác, chế độ hôn nhân một vợ một chồng được đẻ ra bởi chế độ tư hữu còn kéo theo một hệ lụy tai hại là nạn ngoại tình và tệ mại dâm, bên cạnh đó, còn thể hiện công khai quyền gia trưởng của người chồng, người cha trong gia đình Quá trình thực hiện quyền gia trưởng tuyệt đối đó đồng thời thừa nhận sự bất bình đẳng giữa người chồng và người vợ, giữa con trai

và con gái

Ở hình thái xã hội chủ nghĩa, theo Ăng ghen chế độ hôn nhân một vợ một chồng không mất đi, dù những cơ sở kinh tế sinh ra nó và giúp nó tồn tại đã không còn Nhưng ở thời kỳ này, lịch sử sẽ chứng kiến một chế độ hôn nhân một vợ một chồng hoàn toàn khác so với các thời kỳ trước Do ở thời kỳ này, tư liệu sản xuất biến thành tài sản của xã hội, không còn giai cấp vô sản, không còn những phụ nữ bán mình để mưu sinh, không còn những người đàn ông dùng tiền hay lợi dụng

Trang 27

quyền lực để mua đàn bà…Như vậy, hôn nhân một vợ một chồng dưới thời kỳ xã hội chủ nghĩa mang một bản chất ưu việt như chính thời kỳ xã hội này Đó là chế độ hôn nhân hoàn toàn dựa trên tình yêu chân chính giữa một người đàn ông và một người phụ nữ, xuất phát từ lý do là “tình yêu thì không thể chia sẻ” Theo đó, tệ mại dâm, tệ ngoại tình vốn là vấn nạn của xã hội sẽ mất đi, sự bất bình đẳng trong gia đình, đặc biệt là sự coi thường người phụ nữ cũng không còn nữa

1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam qua các thời kì lịch sử

1.3.2.1 Thời kỳ phong kiến

Trong thời kỳ phong kiến, chế độ hôn nhân gia đình Việt Nam dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của xã hội còn ở mức độ thấp Chế độ hôn nhân phong kiến ở Việt Nam cũng như bất cứ một quốc gia nào trong thời kỳ phong kiến có đặc trưng căn bản là tuyệt đối bảo vệ quyền của người gia trưởng, mà một trong những nội dung của nó là thừa nhận quyền đa thê (người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ) Chứng minh cho điều này là những quy định được đề cập rất rõ ràng trong hai bộ luật cổ của nước ta thời kỳ đó

là Quốc Triều hình luật (thời Lê) và Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) Điển hình, bộ Quốc triều hình luật quy định rất rõ về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, trong đó quy định nghĩa vụ của người vợ là phải tuyệt đối chung thủy với chồng, nếu vi phạm nghĩa vụ này, thì không những bị coi là một trong những bảy duyên cớ (thất xuất) để người chồng bắt buộc ly hôn, mà còn phải chịu những hình phạt nghiêm khắc Theo khoản cuối của điều 401, nếu người vợ là gian phụ thì bị xử tội lưu (lưu đày đi nơi xa), điền sản phải trả lại cho chồng, nếu là vợ chưa cưới thì được giảm đi một bậc Tuy nhiên, điều đáng nói là nghĩa vụ chung thủy này trước hết và chủ yếu chỉ được đặt ra đối với người vợ Người vợ tuyệt đối chỉ có thể có duy trì quan hệ hôn nhân với một người chồng, nhưng người chồng vẫn có thể có nhiều vợ Từ đó, trong quan

hệ gia đình, tồn tại quan hệ giữa vợ cả, vợ lẽ

Như vậy, có thể thấy, quan hệ hôn nhân gia đình ở Việt Nam thời phong kiến chỉ được thiết lập trên nguyên tắc bảo đảm tôn ti trật tự đẳng cấp trong gia đình, trọng nam khinh nữ, xác lập quyền tối cao của người gia trưởng Vì thế, chế độ đa thê trong thời kì này được mặc nhiên thừa nhận Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng chưa hề được đề cập tới

1.3.2.2 Thời kỳ thực dân phong kiến (1858 – trước 1945)

Trang 28

Khi xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp thiết lập ở nước ta chế độ thuộc địa

Do đó, nước ta trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến Sau khi thôn tính toàn bộ lãnh thổ nước ta, chính quyền thực dân Pháp tiến hành chính sách “chia để trị” và đã lần lượt ban hành các bộ luật dân sự, quy định và áp dụng tại ba miền, Bắc kỳ là bộ dân luật 1931, Trung Kỳ là bộ dân luật 1936 và Nam Kỳ là Tập dân luật giản yếu năm 1883 Nhìn chung, qua những bộ dân luật này, người viết nhận thấy chế độ đa

thê vẫn được duy trì Cụ thể, như điều 79 Bộ luật dân sự 1931 quy định: “ Có hai cách giá thú hợp phép là giá thú về chính thất và giá thú thứ thất”, điều 81 Bộ luật này cũng quy định: “Cấm không được lấy vợ thứ nếu chưa được lấy vợ chính”, bên

cạnh đó là hàng loạt những quy định điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa chồng – vợ

chính – vợ thứ, như: “Chồng phải bảo hộ vợ chính vợ thứ” (Điều 92), “vợ chính vợ thứ phải biết giữ tiết hạnh và phục tùng người chồng Vợ thứ phải phục tùng và kính trọng vợ chính”… Mô hình gia đình với một chồng và nhiều người vợ, trong đó là

vợ chính, vợ thứ vẫn được thừa nhận như một điều tất yếu của xã hội Cho dù xã hội lúc này đã không còn là xã hội phong kiến thuần túy, mà đã có sự “xâm nhập” của yếu tố tư bản do Pháp đem vào, nhưng ta thấy chế độ hôn nhân gia đình thời kỳ thực dân phong kiến vẫn duy trì sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa vợ và chồng, củng

cố quyền của người gia trưởng Và vì thế, ở thời kỳ này, ta vẫn chưa hề thấy một sự

“manh nha” nào của chế độ hôn nhân một vợ một chồng với đúng bản chất của nó.13

1.3.2.3 Thời kỳ từ khi đất nước độc lập tới trước khi có luật hôn HN & GĐ đầu tiên ra đời (từ 1945 – trước 1959)

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa nước ta từ một nước thuộc địa, trở thành một nước độc lập – tự do, thoát khỏi xiềng xích của thực dân, phong kiến Ngay sau khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới việc chế độ hôn nhân gia đình phong kiến lạc hậu đã hạn chế quyền con người và cản trở sự phát triển của xã hội, đất nước trong thời kỳ lịch sử mới Tuy nhiên, lúc này, nước ta đang gặp phải rất nhiều khó khăn, với sự hành hoành của “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” Mặt khác, việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu của chế độ hôn nhân gia đình phong kiến đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân

ta qua nhiều thế hệ là điều không hề dễ dàng, không thể tiến hành nhanh chóng trong một sớm, một chiều Do đó, thời kỳ đầu, Đảng và Nhà nước ta chưa ban hành những văn bản pháp luật mới, quy định riêng biệt về lĩnh vực hôn nhân gia đình Sắc lệnh

13

Phan Đăng Thanh - Trương Thị Hòa, Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xưa và nay, Nxb Trẻ, Tp

Hồ Chí Minh, năm 2000

Trang 29

số 90 – SL ngày 10/10/1945 quy định vẫn vận dụng những quy định của pháp luật

cũ nhưng có chọn lọc, theo nguyên tắc không trái với lợi ích của nhà nước ta Đến ngày 22/5/1950 thì Sắc lệnh số 97 ra đời, trong đó 8/15 điều quy định về hôn nhân gia đình Những chế định về hôn nhân gia đình thời kỳ này còn ở mức độ sơ khai, chưa quy định rõ ràng về các nguyên tắc hôn nhân gia đình nhưng thông qua những quy định cụ thể, có thể thấy pháp luật hôn nhân gia đình thời kỳ này đã quán triệt các nguyên tắc: hôn nhân tự do, tự nguyện, vợ chồng bình đẳng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ và bảo vệ quyền lợi của con cái

Như vậy, dễ dàng nhận thấy rằng pháp luật thời kỳ này đã có những điểm tích cực, tiến bộ, đã “truy quét” nhiều quan niệm hôn nhân gia đình lạc hậu, cổ hủ của thời kỳ phong kiến Tuy nhiên, trong số các nguyên tắc đã được quán triệt thì vẫn chưa hề đề cập tới nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, điều này đồng nghĩa với việc vẫn mặc nhiên thừa nhận chế độ đa thê – tàn dư nặng nề và tiêu cực của chế độ phong kiến Đây chính là hạn chế của pháp luật thời kỳ này

1.3.2.4 Trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1959

Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) đã đề ra nhiệm vụ phải xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu; coi đó là một yêu cầu cấp thiết của công cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ nói riêng, của sự nghiệp cách mạng nói chung Trong chương trình hành động của Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng

6/1932, đã đề ra yêu cầu đấu tranh đòi “bỏ hết thảy các pháp luật và tục lệ hữu bại làm cho đàn bà không được bình đẳng với đàn ông, chế độ áp bức của cha mẹ đối với con cái, của chồng đối với vợ … cấm tục lấy nhiều vợ, vợ hầu, vợ lẽ; quyền đàn

bà được giữ lại con mình lúc ly dị” Vào thời kì này, trong các chương trình hành

động của thanh niên, phong trào dân tộc tự chủ cũng thể hiện nội dung yêu cầu đấu tranh đó

Hòa bình được lập lại ở miền Bắc Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật mới và sửa đổi bổ sung các văn bản cũ, trong đó có Hiến pháp 1946 Về hôn nhân và gia đình, kinh nghiệm thi hành hai sắc lệnh năm 1950 đòi hỏi phải cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản và nhiều quy định mang tính chất định khung

Kế thừa và cụ thể hóa hai Sắc lệnh số 97 và Sắc lệnh 159, Luật hôn nhân và

gia đình năm 1959 đã xác định mục đích của hôn nhân và gia đình là “Nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ hòa thuận, trong đó mọi người đoàn kết,

Trang 30

yêu thương nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ” (Điều 1) Với Luật hôn nhân và gia đình

năm 1959, chế độ hôn nhân đa thê và hôn nhân cưỡng ép, hai đặc trưng cơ bản của chế độ hôn nhân lạc hậu bị chính thức đặt ra ngoài vòng pháp luật Các nguyên tắc

cơ bản: hôn nhân tự do tiến bộ, một vợ, một chồng; nam, nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình; bảo vệ quyền lợi của con cái được quy định trong các chương: kết hôn; nghĩa vụ và quyền của vợ chồng; quan hệ giữa cha mẹ

và con cái; ly hôn, tất cả là 35 điều, kể cả điều về xử lí vi phạm … Trong đó Luật quy định: “Xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái”, Luật mới cũng quy định: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ Cấm lấy vợ lẽ” (Điều 3) Đây là quy định một lần

nữa xóa sạch chế độ hôn nhân lạc hậu thời phong kiến góp phần tạo ra môi trường pháp lí về hôn nhân và gia đình trong xã hội chủ nghĩa Thêm vào đó, tại Điều 5 của

Luật quy định: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác” hay “…

Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng, săn sóc nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ…

” (Điều 12 và 13 của Luật) Đây là quy định hết sức tiến bộ trong thời điểm nhạy

cảm này Qua đó cũng khẳng định Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và chăm lo đến đời sống gia đình nhất là bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em trong hôn nhân và gia đình, quyết tâm xây dựng chế độ hôn nhân tiến bộ một vợ một chồng làm nền tản xây dựng gia đình – tế bào xã hội thật hạnh phúc, bền vững và văn minh

Từ đây, lần đầu tiên chế độ hôn nhân một vợ một chồng được ghi nhận sẽ làm

cơ sở để góp phần từng bước xây dựng ngành Luật hôn nhân và gia đình trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa

1.3.2.5 Trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986

Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

(30/04/1975), cả nước thống nhất, “cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”

Tiếp đó, trong phiên họp ngày 18/12/1980 của Quốc hội khóa VI, kì họp thứ 7

đã chính thức thông qua bản Hiến pháp thứ ba của Nhà nước ta, làm nền tản cho bước pháp triển mới của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Hiến pháp năm 1980 – Đạo luật cơ bản của Nhà nước đã quy định các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa tại các điều 38, 47, 63 và 64 của Hiến pháp

Trang 31

Việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình 1959, có một số điều không còn phù hợp, chưa thể hiện được đầy đủ phong tục tâp quán của miền Nam Quá trình thi hành ở cả hai miền đã cho thấy một số quan hệ mới cần phải được điều chỉnh, các nguyên tắc cơ bản cần được cụ thể hơn Việc ban hành Luật hôn nhân và gia đình mới là một tất yếu khách quan để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước Ngày 25/12/1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

đã quyết định thành lập ban dự thảo Luật hôn nhân và gia đình mới: dự thảo đã được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 và được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 01/01/1987

Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là sự kế thừa và phát triển của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Trong Luật mới này, các nguyên tắc của Luật hôn nhân

và gia đình năm 1959 tiếp tục coi là những nguyên tắc được quán triệt trong toàn bộ nội dung của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chủ yếu là: hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; hôn nhân một vợ một chồng; vợ chồng bình đẳng; bảo vệ quyền lợi của cha mẹ - con cái;

bảo vệ bà mẹ và trẻ em Tại Điều 1 của Luật quy định: “Nhà nước bảo hộ thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững”

Qua đó, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng với vai trò là tư tưởng chủ đạo, nền tảng quán triệt các nguyên tắc Chế độ hôn nhân một vợ một chồng thể hiện tính quan trọng trong việc xây dựng gia đình mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta thông qua việc kế thừa và phát triển hơn nữa nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Ngoài những quy định về chế độ hôn nhân

một vợ một chồng, tại Điều 7 và Điều 9: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác” Đây là quy định thể hiện sự phát

triển của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Với quy định này thể hiện sự nhìn nhận đúng đắn, một cách đầy đủ của các nhà làm luật về chế độ hôn nhân một vợ một chồng, góp phần giảm thiểu sự vi phạm trong xã hội Trong suốt thời gian thực hiện quy định về chế độ hôn nhân một

vợ một chồng, thực tế có nhiều hộ gia đình tuân thủ nghiêm chỉnh vì thế ngày càng

có nhiều gia đình hạnh phúc, chế độ hôn nhân đa thê phong kiến dần dần bị loại khỏi

tư tưởng người dân xã hội chủ nghĩa Vì thế chế độ hôn nhân một vợ một chồng luôn được chọn là tiêu chí để xây dựng gia đình mẫu mực

Trang 32

Như vậy, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thể hiện rất rõ vai trò nền tảng của mình, thể hiện tính kế thừa và phát triển, nguyên vẹn và đầy đủ xuyên suốt

từ Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đến Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

1.3.2.6 Trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000

Tiếp tục kế thừa, phát triển hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cùng với Hiến pháp 1992, trong điều kiện đổi mới, Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị

về tổng kết 8 năm thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và dự thảo các điều sửa đổi bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 09/6/2000, gồm 13 chương, 110 điều đã kế thừa, cụ thể hóa nhiều quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và bổ sung một số quy định để điều chỉnh các quan hệ trong điều kiện nền kinh tế thị trường

Ngoài những quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã kịp thời bổ sung thêm những quy định hết sức tiến bộ về chế độ hôn nhân; quyền bình đẳng giữa vợ, chồng; trách nhiệm của cha

mẹ đối với con cái; con cháu đối với ông bà, … Điểm nổi bật trong Luật hôn nhân

và gia đình năm 2000 là đã tập hợp những điều Luật hôn nhân và gia đình trước (Điều 1, 2, 4 Luật hôn nhân và gia đình 1959 và Điều 1, 2, 13 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986) thành một bộ nguyên tắc chung của Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 (Điều 2) Nguyên tắc:“hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng” Trong đó nổi bật và tiêu biểu nhất là tư tưởng chủ đạo của

nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, được xem là nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, trở thành một nguyên tắc chính thống của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 khẳng định hôn nhân phải được xây dựng trên nguyên tắc hôn nhân một vợ

một chồng, thì khoản 2 Điều 4 quy định: “Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, đang có vợ” Qua đây cũng cho thấy, pháp luật về hôn nhân và gia đình đã từng bước được

hoàn chỉnh phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội trên cơ sở phát huy bản

chất cách mạng và tính kế thừa truyền thống nhằm: “xây dựng những gia đình hạnh phúc, chỉ một vợ một chồng cùng thực hiện trách nhiệm nuôi dạy con cái”, góp phần

ổn định trật tự xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tóm lại, trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội với sự điều chỉnh tương ứng của các quy định Luật hôn nhân và gia đình đã cho thấy Đảng và Nhà nước ta

Trang 33

luôn quan tâm lĩnh vực hôn nhân và gia đình, trên cơ sở quán triệt nguyên tắc nam

nữ bình đẳng, từ việc tự nguyện quyết định kết hôn đến việc bình đẳng trong quan

hệ vợ chồng; trong nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con cái và cả ly hôn cũng được hoàn toàn được tự nguyện bình đẳng Mặt khác, kiên quyết xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu của chế độ hôn nhân đa thê phong kiến, xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo chế định hôn nhân xã hội chủ nghĩa và trong nền kinh tế hội nhập, cấm những thủ đoạn, hành vi làm lưu mờ giá trị truyền thống quý báo vốn có của gia đình

1.4 Vai trò, ý nghĩa của chế độ hôn nhân một vợ một chồng

1.4.1 Vai trò của chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Một chế độ hôn nhân và gia đình mới, phản ánh các giá trị và chuẩn mực đạo đức phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội mới, chỉ thể hiện được tính chất tiến

bộ, bền vững và phổ biến khi được xây dựng, củng cố trên nền tảng văn hoá và đạo đức truyền thống của gia đình Ngược lại, việc xây dựng và củng cố các chế độ hôn nhân và gia đình mới, tiến bộ là cơ sở và là tiêu chí để khẳng định, bổ sung và phát triển về chất cho các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống Một truyền thống, phong tục, tập quán trong điều kiện kinh tế - xã hội mới dù tốt đẹp đến mấy cũng không thể tạo ra bản sắc và tính bền vững cho gia đình nếu không được bổ sung và phát triển bằng các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức được hình thành trong điều kiện kinh tế - xã hội đó

Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng trên, việc ghi nhận kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp trong gia đình là một trong các nhiệm vụ cơ bản của Luật HN & GĐ, không mâu thuẫn với nhiệm vụ xây dựng và củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình mới Ngược lại, chúng là hai mặt không thể thiếu trong thực hiện mục tiêu về gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại

hoá, mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra là: “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là

tổ ấm cho mỗi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Thực hiện tốt Luật hôn nhân và gia đình” Như vậy, chế độ hôn nhân một vợ một chồng có những vai trò

như sau:

Là tiền đề, điều kiện để ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng – ý nghĩa mà chế độ hôn nhân một vợ một chồng thuần túy trong chế độ xã hội trước không có được

Trang 34

Là cơ sở để duy trì tình yêu vợ chồng, củng cố cuộc sống chung vợ chồng lâu dài , bền vững, góp phần quan trọng xây dựng gia đình hạnh phúc

Góp phần xóa bỏ gần như hoàn toàn những tàn dư, hủ tục, tôn giáo lạc hậu vốn đã ăn sâu vào nếp nghĩ của nhiều người dân, hoặc đã trở thành hiện tượng phổ

biến ở nhiều vùng miền, như quan niệm “trai tài năm bảy vợ”, hay quan niệm: “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”…

Là con đường để giải phóng người phụ nữ thoát khỏi chế độ hà khắc của chế

độ gia đình gia trưởng

Về phương diện pháp lý, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có ý nghĩa

là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về nhân thân và tài sản liên quan tới quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng Cụ thể, nguyên tắc này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong dân sự, cũng như trong hôn nhân gia đình, liên quan tới vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình

Nguyên tắc này còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ

em – của những người con trong gia đình Duy trì chế độ một vợ một chồng sẽ khiến cho đứa trẻ nhận được sự quan tâm trọn vẹn, đầy đủ của cả cha và mẹ, từ đó hình

thành nhân cách theo hướng tích cực

Tóm lại, việc xây dựng chế độ hôn nhân một vợ một chồng có vai trò hết sức quan trọng trong việc củng cố các giá trị chuẩn mực đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của quốc gia, dân tộc Việt Nam chúng ta, tạo điều kiện cho một xã hội văn minh tiến bộ phát triển

1.4.2 Ý nghĩa của chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Trong hôn nhân, tình yêu đôi lứa là giá trị hàng đầu của quan hệ vợ chồng Bởi hôn nhân trong xã hội hiện đại lấy tình cảm làm cơ sở cho hạnh phúc bền vững của gia đình Chính vì vậy việc xây dựng một chế độ hôn nhân một vợ một chồng,

cơ bản của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là nhằm xây dựng một nhà nước

pháp quyền của dân, do dân, và vì dân với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội

Trang 35

công bằng, dân chủ văn minh” Đây là điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện

nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong đời sống xã hội

Trong quan hệ hôn nhân, vợ và chồng có thực sự thương yêu, tôn trọng nhau thì mới đảm bảo được nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trên thực tế Chế độ hôn nhân một vợ một chồng còn là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình Việc quy định chế độ hôn nhân một vợ, một chồng không những chỉ có ý nghĩa đối với vợ và chồng mà còn có ý nghĩa hết sức to lớn đối với các thành viên khác trong gia đình Con cái được sống trong một gia đình mà ở đó bố mẹ cùng hoà thuận, hạnh phúc, có trách nhiệm với con cái thì chắc chắn những đứa trẻ này sẽ được phát triển toàn diện về đạo đức và cả tri thức nữa Làm như vậy là gia đình đó đã đóng góp vào cho xã hội những thế hệ trẻ không những biết bảo vệ mà còn biết dựng xây đất nước phồn vinh

Không những thế, hôn nhân một vợ một chồng còn là điều kiện để vợ chồng cùng nhau thực hiện những nghĩa vụ chung của gia đình, cùng nhau gánh vác và cùng sẻ chia những khó khăn trong cuộc sống Đây không chỉ là tiền đề tạo ra những giá trị vật chất, mà còn đóng góp to lớn vào việc tạo ra những giá trị tinh thần của gia đình

Thứ hai là ý nghĩa đối với xã hội: Việc quy định chế độ hôn nhân một vợ, một chồng đã tiếp tục xây dựng hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình Xã Hội Chủ Nghĩa tiến bộ mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra và với việc quy định này Nhà nước ta đã tạo ra được các chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau để đảm bảo cho một trật tự xã hội

Chế độ hôn nhân một vợ một chồng sẽ góp phần làm tăng năng suất lao động, xóa đói giảm nghèo và duy trì tiến bộ kinh tế Tục ngữ có câu “khéo ăn thì no, khéo

co thì ấm” ý nói rằng sự no đủ của gia đình không chỉ phụ thuộc vào điều kiện kinh

tế mà còn phải biết cách chi tiêu, tính toán hợp lý Trong gia đình nếu như vợ chồng chung thủy, cùng nhau phát triển kinh tế, không gây nên mâu thuẫn gia đình thì sẽ tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau lập kế hoạch, tính toán hợp lý cho việc phát triển kinh tế gia đình và sẽ không rơi vào tình trạng “no dồn, đói góp” Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi gia đình mà nó còn có ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước

Chế độ hôn nhân một vợ một chồng còn góp phần vào việc kiểm soát dân số,

C.Mác đã viết “quan hệ của người đàn ông với người đàn bà là quan hệ tự nhiên

Trang 36

nhất của con người với con người” Như vậy, tình dục là bản năng tự nhiên của con

người và động vật Nhưng con người khác xa động vật vì bản chất của con người là bản chất xã hội Chính vì vậy sự thận trọng của vợ chồng trong hành vi tình dục sẽ làm thỏa mãn nhu cầu tình cảm của vợ chồng, đồng thời sẽ thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về dân số kế hoạch hóa gia đình và hạn chế rất nhiều sự gia tăng nạn dịch AIDS, đảm bảo cho một đất nước phát triển mạnh và bền vững

Tóm lại, việc quy định chế độ hôn nhân một vợ một chồng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình chính là sự cụ thể hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện mục đích đưa nước Việt Nam tiến lên giàu mạnh, chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế, mở rộng giao lưu giải phóng phụ nữ trên thế giới Ngoài ra, nó còn thể hiện bản chất văn hóa của một xã hội

1.5 Nhìn nhận xã hội về chế độ hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam

1.5.1 Nhìn nhận xã hội về vấn đề vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

ở Việt Nam

Gia đình xã hội chủ nghĩa là hình thái cao nhất trong lịch sử, khác hẳn về bản chất so với gia đình của chế độ xã hội trước kia Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa

vợ chồng trong gia đình xã hội chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam

và nữ ngoài xã hội Tuy nhiên, hôn nhân và gia đình cũng là hiện tượng xã hội chịu

sự tác động và vận hành theo sự phát triển của xã hội cho nên xây dựng và hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình cho thích ứng với đời sống xã hội luôn là mối quan tâm của mọi Nhà nước Chính vì vậy, xã hội ngày càng văn minh tiến bộ thì hôn nhân và gia đình cũng phải xây dựng trên nền tảng đó Cho nên, nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ không ngừng nổ lực để xây dựng hoàn thiện chế độ “hôn nhân một vợ một chồng” trong pháp luật hôn nhân và gia đình Do đó, Vấn đề vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, không chỉ liên quan đến những người trong cuộc, mà còn nảy sinh các vấn đề xã hội mà cộng đồng phải chung tay giải quyết Khi một cuộc hôn nhân tan vỡ vì người vợ (chồng) bi nửa kia phản bội, nó không chỉ là chuyện buồn của các cá nhân mà còn là nỗi đau chung của gia đình và

xã hội Ở phương diện gia đình, vợ (chồng) đau buồn vì bị nửa kia phản bội, con cái cũng vì vậy mà không được hạnh phúc, thậm chí chúng bị mất tất cả vì những hậu quả hành vi này mang đến mà khiến cả cha lẫn mẹ đều bỏ rơi chúng Còn xã hội là nơi thường phải lo giải quyết hậu quả của những hành vi vi phạm này gây ra, “…

Trang 37

nghiêng vai gánh lấy những đứa trẻ bị tổn thương nặng về tâm lí, cô độc bơ vơ…”

Hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống xã hội, cho nên tìm hiểu dư luận xã hội xung quanh vấn đề này là một việc cần làm Vậy dư luận xã hội là gì? Bản thân khái niệm này vẫn chưa được thống nhất nên có rất nhiều định nghĩa về dư luận xã hội Theo tiến sĩ Mai Quỳnh

Nam, “dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội đặc biệt, biểu thị thái độ phán xét, đánh giá của quần chúng đối với các vấn đề mà xã hội quan tâm Dư luận xã hội là

sự thể hiện tâm trạng của xã hội, sự phán xét, đánh giá của các nhóm xã hội, của nhân dân nói chung về các hiện tượng xã hội, phản ánh những lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại”14

Dư luận xã hội có 4 chức năng :

- Điều hòa các mối quan hệ xã hội

- Kiểm soát xã hội

- Giáo dục

- Tư vấn

Qua định nghĩa trên, người ta có thể thấy sự phản ánh trong dư luận xã hội có tính chất đánh giá, phán xét và chủ thể của dư luận xã hội chính là đông đảo các tầng lớp quần chúng nhân dân, các tổ chức xã hội Với tính chất đặc thù của nó, tính chất phán xét, đánh giá, tư vấn và giáo dục của dư luận xã hội có khả năng gây ra áp lực điều chỉnh các hành vi của các cá nhân hay một nhóm, một tổ chức xã hội, trong đó

có hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng

Thực tế đã từng chứng minh rằng, chừng nào hành vi ngoại tình vẫn còn được

dư luận xã hội nhìn nhận như là một hành vi không tốt, dù với bất cứ lí do gì thì chừng đó các người vợ (chồng) vẫn phải cân nhắc, đắn đo rất nhiều trước những tiếng xấu mà hành vi này sẽ mang lại cho họ Họ sẽ phải phân vân đau đầu trước một loạt các lựa chọn nên hay không nên? Người ta sẽ nghĩ về mình như thế nào? Con cái sẽ nghĩ mình ra sao? Không phải người vợ (chồng) nào cũng sẵn sàng đương đầu với áp lực của dư luận xã hội hoặc không quan tâm đến dư luận mà cố tình vi phạm Bởi thế, trong một chừng mực nào đó, dư luận xã hội luôn ngắm ngầm điều chỉnh các hành vi của con người, và ở một chừng mực nhất định có tác dụng làm hạn chế những hành vi không chung thủy của những người vợ (chồng) có tư tưởng ngoại tình

14

Nguyễn Thanh Tâm, Ly hôn – nghiên cứu các trường hợp Hà Nội, Trung tâm KHXH & nhân văn Quốc gia-

Trung tâm NCKH về gia đình và phụ nữ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002

Trang 38

Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy sự kiềm hãm để những người vợ (chồng) có

tư tưởng ngoại tình dưới áp lực của dư luận xã hội mà không thể hiện sự vi phạm ra bên ngoài đôi khi chưa hẳn là tốt cho đời sống vợ chồng, khi các cá nhân chỉ có sự chung sống về hình thức còn sâu thẩm trong tâm hồn, mỗi người vẫn theo đuổi

“khoảng trời riêng” của mình

Mặt khác, dư luận xã hội không phải lúc nào cũng hoàn toàn đúng Lăng kính chủ quan của các cá nhân, của từng nhóm nhỏ xã hội cũng có cả cái đúng lẫn cái sai,

có cả cái giả lẫn cái thực Thậm chí, có thể vì một sự tung tin ác ý, mà ở nơi này, nơi khác, sự thật đã bị hiểu sai theo chều hướng bất lợi cho người trong cuộc Vì thế, có

những cá nhân đã phải thốt lên chua chát: “người ta đã lợi dụng mối quan hệ bạn bè trong giới báo chí để tung tin xuyên tạc câu chuyện gia đình của tôi”

Dư luận xã hội chỉ hình thành khi một sự kiện hay một biến cố, một sự thay đổi hay phát triển nào đó trong đời sống xã hội trở thành mối quan tâm chung của nhiều người hay những nhóm xã hội Dư luận xã hội về hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng cũng vậy Hiện tượng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng hay thường được gọi là ngoại tình cũng vậy, cũng nằm trong mối quan tâm chung của xã hội Sự gia tăng tình trạng ngoại tình trong thời gian gần đây đã thực

sự trở thành một vấn đề được xã hội quan tâm Hệ thống thông tin đại chúng, đặc biệt là các báo viết về gia đình và phụ nữ cũng đã đề cập đến vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau, vừa có tính chất thông tin, vừa có tính chất giáo dục, hướng dẫn

dư luận

Truyền thống của người Việt Nam ta rất xem trọng hôn nhân gia đình Trong những thập kỉ 60 và 70, một gia đình có chuyện trục trặc, vợ chồng phải chia tay nhau vì vợ (chồng) ngoại tình là sự kiện lớn của gia đình dòng họ Mọi người điều coi hành vi ngoại tình là một việc xấu, trái với đạo đức xã hội, ảnh hưởng không tốt tới thanh danh của gia đình, dòng họ Và ngày nay cũng vậy, ngoại tình với ý nghĩa

là hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng trong mọi thời đại đều bị lên

án và chê trách

Tuy nhiên, hạnh phúc gia đình cũng không tự nở hoa kết trái, nếu tình yêu không được nuôi dưỡng và vun đắp từng ngày Đã có những tình yêu không thể tồn tại được trong đời sống vợ chồng bởi vì các cá nhân đã không biết nuôi dưỡng vun trồng Các nghiên cứa về tâm lí gia đình cho thấy, thông thường các cặp vợ chồng nào cũng có những giai đoạn mà họ cảm thấy là “khó sống” Giai đoạn này xảy ra

Trang 39

thường sau một thời gian chung sống nhất định có thể từ 2 đến 5 năm15 Khi hào quang của tình yêu đã đi qua thì một số các tính cách của một trong hai bên bắt đầu được bên kia nhận thấy là xấu, cho là không phù hợp với mình Và từ đó họ bắt đầu suy xét, quy kết các hành vi của người bạn đời rồi luôn có suy nghĩ tại sao anh ta, cô

ta lại nói, làm như thế? Tại sao lúc trước mình có thể yêu được nhỉ?! Mình đã lầm chăng? Việc chỉ ngoái đầu ngắm nhìn quá khứ tình yêu mà không nuôi dưỡng tình cảm hiện tại chính là một yếu tố thúc đẩy sự tan vỡ gia đình và dẫn đến tình trạng

ngoại tình “đi tìm đều mới lạ và vui vẻ hơn” Vì thế, nhiều người cho rằng, việc xây

dựng, vun đắp tình yêu sau hôn nhân là đều cực kì quan trọng

Tóm lại, việc xây dựng hạnh phúc gia đình bền chặt là cả một quá trình phấn đấu từ khi yêu nhau, đến khi kết hôn rồi chung sống sau này Hạnh phúc ấy không phải do số phận may rủi, mà là do sự lựa chọn, tìm hiểu của mỗi người Vì thế, thời

kì tìm hiểu là rất quan trọng Lúc yêu nhau, sự lãng mạn của tình yêu nhiều lúc làm cho con người không nhận thấy những cái giả che đậy, cái thật như thế nào Do vậy, khi yêu cần tỉnh táo, không chỉ nhìn hình thức bên ngoài mà còn phải xem xét cả tư cách đạo đức nữa Tự bản thân người nam/nữ đang yêu phải nhìn nhận, quan sát người mình yêu, đồng thời phải tìm hiểu qua dư luận, qua bạn bè và những người quen biết, ý kiến góp ý của gia đình và những người thân nhiều khi rất quan trọng,

cần cân nhắc khi có những dư luận, những lời khuyên của mọi người “Khi yêu và đi đến hôn nhân cũng nên tìm hiểu và tính đến những ý kiến dư luận của mọi người về quá khứ của người mình yêu, nếu không cuộc đời sẽ phải trả giá” Cũng có trường

hợp, vì những lí do khác nhau như do sự thúc ép của gia đình, sự lỡ làng của tuổi tác… một số phụ nữ đã vội vàng nhắm mắt đưa chân, kết hôn với người mình vừa quen biết, không hề yêu Kết cục, hầu hết những đôi vợ chồng kết hôn kiểu này thường rất khó bền vững, nhiều người sau một thời gian chung sống hoặc chia tay thậm chí ngoại tình Do vậy, chỉ có hôn nhân bền vững được xây dựng trên cơ sở của tình yêu chân chính mới thật sự bền vững lâu dài và không bao giờ có tình trạng

vi phạm nghĩa vụ chung thủy giữa những cặp vợ chồng này

1.5.2 Nhìn nhận xã hội về pháp luật áp dụng điều chỉnh chế độ hôn nhân một

vợ một chồng ở Việt Nam

15

Nguyễn Thanh Tâm, Ly hôn – nghiên cứu các trường hợp Hà Nội, Trung tâm KHXH & nhân văn Quốc gia-

Trung tâm NCKH về gia đình và phụ nữ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002

Trang 40

Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình

về sự chung thuỷ của vợ chồng cũng có sự khác nhau cơ bản

Trong xã hội hiện đại ngày nay thì tình yêu nam nữ là cơ sở để xây dựng hôn

nhân bởi như C Mác đã nói: “Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới

là hợp đạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì mới là hợp đạo đức mà thôi”16 Đó chính là cơ sở cơ bản để đảm bảo xây dựng một gia

đình dân chủ hoà thuận và hạnh phúc

Tuy vậy, trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, những quan niệm về tình yêu, hôn nhân, gia đình không còn mang nguyên ý nghĩa truyền thống Mỗi thế hệ, mỗi cá nhân quan niệm khác nhau về cái gọi là “chung thuỷ” Luật hôn nhân và gia đình quy định đó là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng Và bên cạnh đó đã đưa ra những cơ chế nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đó Ở đây chúng ta thấy nảy sinh vấn đề: Một bên là tình cảm tự nhiên của con người và còn bên kia là những quy định luật pháp Một cái mang tính bản năng tự nhiên và một cái mang tính xã hội

Bản chất của quan hệ vợ chồng bao gồm tình yêu và nghĩa vụ Như vậy, cái tự nhiên và cái xã hội luôn đan xen nhau, quan hệ biện chứng với nhau và không thể tách rời nhau Chính vì vậy, trong quan hệ vợ chồng cả hai bên đều mong muốn được thể hiện tình yêu và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhau, điều đó thể hiện sự chung thuỷ Nếu một trong hai bên vợ, chồng hoặc cả hai bên lại thể hiện tình yêu với người khác, thực hiện nghĩa vụ với người khác thì đó là biểu hiện của

sự không chung thuỷ Hiện nay, pháp luật đã quy định một số chế tài kèm theo khi

vợ chồng vi phạm nghĩa vụ này đó là huỷ việc kết hôn trái pháp luật khi vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, tuyên bố không công nhận họ là vợ

16

C Mác – Ph Ăngghen, tuyển tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội 1994, tr 134

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w