1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc trong truyện ngắn về loài vật của ma văn kháng (dưới góc nhìn sinh thái học)

119 285 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2ĐÀO THỊ HỒNG PHƯỢNG ĐẶC SẮC TRONG TRUYỆN NGẮN VỀ LOÀI VẬT CỦA MA VĂN KHÁNG DƯỚI GÓC NHÌN SINH THÁI HỌC Chuyên ngành: Lí luận văn học

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐÀO THỊ HỒNG PHƯỢNG

ĐẶC SẮC TRONG TRUYỆN NGẮN VỀ LOÀI VẬT

CỦA MA VĂN KHÁNG (DƯỚI GÓC NHÌN THÁI HỌC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐÀO THỊ HỒNG PHƯỢNG

ĐẶC SẮC TRONG TRUYỆN NGẮN VỀ LOÀI VẬT

CỦA MA VĂN KHÁNG (DƯỚI GÓC NHÌN SINH THÁI HỌC)

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luân văn “Đặc sắc trong truyên ngăn về loài vật của

Ma Văn Kháng (dưới goc nhin sinh thai học)” la kết qua nghiên cưu cua

riêng tôi, hoan toan không sao chep cua bất cư ai Cac kết qua cua đề tai latrung thưc va chưa đươc công bố ơ cac công trinh khac

Nôi dung cua luân văn co sư dung tai liêu, thông tin đươc đăng tai trêncac tac phâm, tap chi, cac trang web theo danh muc tai liêu tham khao cua luânvăn

Nếu sai tôi xin hoan toan chiu trach nhiêm

Hà Nội, 17 thang 07 năm 2017

Tac gia luân văn

Đào Thị Hồng Phượng

Trang 4

LƠI CAM ƠN

Em xin bay to long biết ơn sâu sắc tơi PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện về

sư hương dân tân tinh, đầy đu, chu đao va đầy tinh thần trach nhiêm cua thầytrong toan bô qua trinh em hoan thanh luân văn

Em xin trân trong cam ơn sư tao điều kiên giup đơ cua Ban chu nhiêmKhoa Ngư Văn va cac thầy cô giao Phòng đào tạo Trương Đai hoc Sư pham

Hà Nội 2 đã giúp đỡ em thưc hiên đề tai luân văn nay

Em cung xin chân thanh cam ơn gia đinh, ban be, đồng nghiêp đa đôngviên va nhiêt tinh giup đơ em trong thơi gian hoan thanh luân văn

Hà Nội,17 thang 07 năm 2017

Tac gia luân văn

Đào Thị Hồng Phượng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Đóng góp luận văn 8

Chương 1: LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA MA VĂN KHÁNG……… 9

1.1 Một số vấn đề về lý thuyết phê bình sinh thái……… 9

1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái……… 9

1.1.2 Cảm thức thiên nhiên trong văn học Việt Nam xưa - nay Phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại ………13

1.1.2.1 Cảm thức thiên nhiên trong văn học Việt Nam xưa - nay………….13

1.1.2.2 Phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại……… 14

1.2 Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng……….……… 19

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp 19

1.2.2 Những ý kiến của Ma Văn Kháng về sự phản ánh hiện thực đời sống của văn học 23

Chương 2:NHỮNG PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TRONG TRUYỆN NGẮN VỀ LOÀI VẬT CỦA MA VĂN KHÁNG 31

2.1 Loài vật là thành phần của tự nhiên trong mối quan hệ khác biệt, cộng sinh với con người 31

2.2 Loài vật và con người trong khát vọng hòa hợp………… 39

2.3 Loài vật và con người trong tác động nhân quả……… 43

Trang 6

2.4 Sự tác động của con người vào loài vật mang ý nghĩa nhân văn……….48

2.5 Luận đề của truyện……… 51

Chương 3: NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VỀ LOÀI VẬT CỦA MA VĂN KHÁNG……….60

3.1 Cái nhìn nghệ thuật về loài vật……… 60

3.2 Miêu tả nghệ thuật ( “nhân vật” với hành động, ngôn ngữ loài vật) … 66

3.3 Cốt truyện, tình huống truyện….……… ……….………… 78

3.3.1 Cốt truyện……… 78

3.3.2 Tình huống truyện……….81

3.4 Không gian, thời gian nghệ thuật ……… 85

3.4.1 Không gian nghệ thuật……… 85

3.4.2 Thời gian nghệ thuật……… 94

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 7

Giá trị sáng tạo nghệ thuật của Ma Văn Kháng được tôn vinh bằng rất

nhiều giải thưởng, theo mốc thời gian: tiểu thuyết Mưa mùa hạ - Giải thưởng Văn học Công nhân; Mùa lá rụng trong vườn - Giải thưởng Hội Nhà văn Việt

Nam năm 1985, cũng là một trong số bộ ba tác phẩm được tặng Giải thưởngNhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001, đã được dựng thành phim truyền

hình dài nhiều tập Mùa lá rụng; Gặp gỡ ở La Pan Tẩn - Giải thưởng Hội văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2001; Một mình một ngựa - Giải

thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2009 Gần đây nhất, ngày 19 tháng 05năm

2012, nhà văn đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh

cho cụm tác phẩm: Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn và Truyện ngắn chọn lọc Đây là sự tôn vinh tài năng, nhân cách, xứng

đáng đối với người nghệ sĩ cả đời cống hiến cho sự phát triển của văn học dântộc

Trong thời kỳ đầu của sự nghiệp văn chương, hơn 20 năm sống làm việctrải qua các nghề nhà giáo, nhà báo, nhà văn tại Lào Cai mảnh đất biên ải của

Tổ quốc, Ma Văn Kháng đã cho ra đời nhiều tác phẩm thuộc truyện ngắn vàtiểu thuyết Trong sự nghiệp văn chương của mình, Ma Văn Kháng viết thànhcông nhất trong hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Truyện ngắn thể loại

mà ông viết nhiều nhất, được mệnh danh là thể loại “giống như một búp chèđược

Trang 8

sao khô, nén chặt lại, nhưng khi dội nước vào nó tở ra, cho cả 1 đại dương

nước trà thơm” Năm 1961 ông trình làng truyện ngắn đầu tay Phố cụt (Văn Nghệ số 136, ngày 3.3.1961) từ đó đến nay là hơn 200 truyện ngắn.

Kho tàng truyện ngắn của Ma Văn Kháng có thể tạm chia làm hai nhóm

đề tài đó là: Nhóm đề tài dân tộc miền núi và nhóm đề tài thành thị Về đề tàidân tộc miền núi, ngòi bút của nhà văn hướng về phản ánh đời sống lao động

và công cuộc đấu tranh bảo vệ biên ải của đồng bào các dân tộc miền núi Tây

Bắc Đó là các tập truyện như: Bài ca Trăng sáng(1972), Góc rừng xinh xắn (1972), Người con trai họ Hạng (1972), Mùa mận hậu (1972),… và gần đây nhất có thể kể đến tập truyện ngắn San Cha Chải được PGS.TS Nguyễn

Ngọc Thiện tuyển chọn với 17 truyện ngắn viết về cuộc sống của những conngười miền núi và hình ảnh các chiến sĩ công an mưu trí, dũng cảm Nhữngtruyện ngắn ở nhóm đề tài này, đã khẳng định tài năng, tâm huyết của ông vớimiền núi

Về đề tài thành thị, ông đề cập về những vấn đề nóng hổi: đời tư, thế sự,nhân sinh… Ông quan tâm đến nhiều lĩnh vực cuộc sống hôm nay như: tìnhyêu, hôn nhân, tình dục, gia đình Chúng được phản ánh qua các tập truyện:

Trăng soi sân nhỏ(1995), Trốn nợ (2008), Mùa thu đảo chiều (2012), Nỗi nhớ mưa phùn (2015)…

Trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam, Ma Văn Kháng là nhà văn cónhiều đóng góp lớn Chính vì thế, lâu nay đã có nhiều công trình nghiên cứu

về sự nghiệp sáng tác của ông Với mong muốn góp thêm tiếng nói khẳngđịnh những giá trị trong sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng tôi lựa chọn vấn

đề: Đặc sắc trong truyện ngắn về loài vật của Ma Văn Kháng (dưới góc nhìn sinh thái học) làm chủ đề nghiên cứu của mình như là một sự tiếp tục tinh

thần nghiên cứu sự nghiệp văn chương của nhà văn

Thông qua việc viết về các loài vật đa dạng, phong phú, hấp dẫn, lôi cuốnngười đọc, nhà văn đã bộc lộ quan điểm nghệ thuật của mình Vì thế tìm hiểu

Trang 9

thế giới loài vật trong văn học nói chung và thế giới loài vật trong sáng táccủa Ma Văn Kháng nói riêng là công việc cần thiết, hấp dẫn gọi mời ngườithực hiện đề tài này Việc nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này sẽ giúpchúng ta thấy rõ được sự khác biệt về sự thể hiện, bút pháp của nhà văn sosánh với các sáng tác của các nhà văn khác cùng thời, cũng như sự khác biệt

so với truyền thống.Thông qua đó, người viết muốn có cái nhìn đầy đủ hơn vềcuộc đời, tài năng, tư tưởng và phong cách của nhà văn

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Là nhà văn có một chặng đường dài hơn nửa thế kỷ đóng góp cho nềnvăn học nước nhà Ngay từ tập truyện ngắn đầu tay của mình (1969), Ma VănKháng đã được giới nghiên cứu, phê bình và độc giả chú ý quan tâm Nhiềucông trình nghiên cứu, phê bình đề cập đến một số phương diện trong sáng tác

của Ma Văn Kháng của một số tác giả như: GS Phong Lê, PGS.TS Nguyễn

Ngọc Thiện PGS.TS Lã Nguyên, PGS.TS Đào Thủy Nguyên… được đăng

tải trên các sách báo và tạp chí

GS Phong Lê đã nhận định: ‘‘Truyện ngắn Ma Văn Kháng là hiện

tượng nổi bật trong những năm 90’’[35] có thể thấy Ma Văn Kháng khẳngđịnh tài năng, vị trí của mình trong lòng bạn đọc và giới nghiên cứu và phêbình ở thể loại này

PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện trong bài viết ‘‘Con người giữa dòng

xoáy ham muốn đời thường’’ đã nhận định: ‘‘Văn xuôi Ma Văn Kháng đang

ở đỉnh cao của phong độ đã hướng ngòi bút chú mục đào sâu, soi lật cặn kẽ,nghiêm ngặt vào một khía cạnh hiện diện như một thực thể khó nắm bắt trongđời sống con người hiện đại hôm nay Đó là sự thúc đẩy, chi phối nhiều khivới một sức mạnh vô hình, nhưng khắc nghiệt của những ham muốn tiềm ẩnnơi mỗi con người, hoặc là sự xung đột, va chạm gay gắt về lợi ích giữanhững dục vọng của những cá thể khác nhau’’ Cũng trong bài viết này tác giả

Trang 10

đưa ra nhận xét về thế giới nhân vật trong văn xuôi Ma Văn Kháng: ‘‘Trongcái nhìn con người, ông không lý tưởng hóa, tô vẽ nó nhân danh những tínđiều cao siêu Ông đặt con người vào đúng chỗ đứng của nó trên trần thế, vàogiữa xã hội nhân quần bao bọc lấy nó, và qua ham muốn, ông lần tìm động

cơ, lẽ sống của mỗi con người’’[57, tr.269-270]

PGS TS Lã Nguyên với viết bài :‘‘Khi nhà văn đào bới bản thể ở

chiều sâu tâm hồn’’(1998) được in trong lời giới thiệu cuốn Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng,đã có cái nhìn tổng quát truyện ngắn của Ma Văn Kháng.

Dựa vào sắc điệu cảm hứng thẩm mỹ, tác giả chia truyện ngắn Ma Văn Khángthành ba nhóm: Nhóm thứ nhất những tác phẩm chủ yếu về đề tài miềnnúi “những truyện ngắn thể hiện cái nhức nhối, xót xa, giận mà thương cho sựhoang dã mông muội của những kẻ chưa thành người và những người khôngđược làm người” Nhóm thứ hai chủ yếu là những truyện ngắn viết về đờisống thành thị trước sự đổi thay của đất nước sau chiến thắng 1975 “nhữngtruyện ngắn cất lên tiếng nói cảm khái thâm trầm trước thế sự hôm nay”.Nhóm thứ bagắn với đề tài tính dục “những truyện ngắn thể hiện cảm hứngtrào lộng trang nghiêm trước vẻ đẹp của cuộc đời sinh hoá hồn nhiên” Tácgiả cũng chỉ ra một số đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng:tính công khai bộc lộ chủ đề, sự cố ý tô đậm chân dung, tính cách nhân vật,việc lồng giai thoại vào cốt truyện, đưa thành ngữ, tục ngữ vào ngôn ngữ nhânvật… Cũng trong bài viết này, tác giả đã đưa ra nhận xét: “Ma Văn Kháng lànhà văn của cái đẹp trong dòng đời sinh hóa bình dị, hồn nhiên, cái đẹp trongniềm hạnh phúc được làm người với ý nghĩa đích thực của nó chứ không phải

là cái gì khác, Ma Văn Kháng đã cất lên tiếng nói riêng” [43]

Tác giả Phạm Mai Anh với đề tài luận văn thạc sĩ: Đặc điểm nghệ

thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng từ sau 1980 (1997), đã tập trung khai

thác một số yếu tố nghệ thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng như: Kết cấu,nhân vật,

Trang 11

ngôn ngữ Tác giả đã bám sát đề tài và có những đóng góp đáng kể khi nhìnnhận một số phương diện nghệ thuật của truyện ngắn Ma Văn Kháng.

Trong công trình nghiên cứu: Đặc điểm truyện ngắn của Ma Văn

Kháng về đề tài dân tộc miền núi (2009) PGS.TS Đào Thủy Nguyên đã đi

sâu nghiên cứu những vấn đề nhân sinh, thế sự, những thành công đặc sắc vềnghệ thuật xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn từ trong truyện ngắn viết về đềtài dân tộc và miền núi của Ma Văn Kháng

Đỗ Phương Thảo trong bài viết:‘‘Vài suy nghĩ về phương diện nghệ

thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng’’cho rằng cách dựng truyện là yếu tốtạo nên sự hấp dẫn trong truyện ngắn Ma Văn Kháng: ‘‘cốt truyện đơn giản,không có nhiều tình huống nổi bật, then chốt, ít xung đột và mâu thuẫn lớnsong có sự bứt phá đầy sáng tạo’’ [53]

Ngoài ra còn kể đến nhiều công trình, bài báo tập trung nghiên cứukhám phá đề cập đến một số phương diện khía cạnh truyện ngắn Ma VănKháng như:

-Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng, Tác giả Đỗ

Phương Thảo, Chuyên luận, NXB Văn học, 2008

-‘‘Phong cách văn xuôi miền núi của Ma Văn Kháng’’, Phạm Duy

Nghĩa, Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, (số 175) tháng 8/2009.

-‘‘Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng’’, Nguyễn Ngọc

Thiện, Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, (số 186) tháng 7/2010.

-“Những người đàn bà của nhà văn Ma Văn Kháng”, Hoài Nam, Văn nghệ Công an, (số 279), 2016.

Bên cạnh đó, chúng tôi lưu ý một số luận văn, đề tài nghiên cứu tiêu biểu:

Trang 12

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Khángcủa Nguyễn Thị Thanh Nga (2007); Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới của Nguyễn Hải Yến (2010); Đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới của Nguyễn Thị Hồng Thắm (2013)…

Gần đây nhất, có thể kể đến ba công trình của Nguyễn Minh Hạnh, BùiThị Thúy, Lê Thị Thanh Nhàn, bước đầu nghiên cứu về từng tập truyện ngắn

San Cha Chải, Nỗi nhớ mưa phùn của Ma Văn Kháng Với đề tài: Thế giới

nhân vật trong các tập truỵên ngắn gần đây của Ma Văn Kháng (Trốn nợ

-2008, Mùa thu đảo chiều - 2012, San Cha Chải - 2013), tác giả Nguyễn

Minh Hạnh đã đi sâu khai thác thế giới nhân vật trong ba tập truyện này quacách phân loại nhân vật, nghệ thuật thể hiện nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ,tình huống truyện

Còn với tác giả Bùi Thị Thúy tiếp tục nghiên cứu về thế giới nhân vật

trong tập truyện ngắn San Cha Chải Song tác giả lại nghiên cứu cùng tập truyện vừa, viết sau tập truyện ngắn San Cha Chải với đề tài luận văn:Thế giới nhân vật trong hai tập truyện của Ma Văn Kháng (San Cha Chải và Xa

xôi Thôn Ngựa Già) Trong luận văn này, tác giả đã tập trung khai thác, phân

loại thế giới nhân vật, nghệ thuật thể hiện nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ

Với luận văn Nghệ thuật tự sự trong hai tập truyện ngắn Bông hồng

vàng; Nỗi nhớ mưa phùn của Ma Văn Kháng, tác giả Lê Thị Thanh Nhàn đã

tập trung khai thác một số yếu tố nghệ thuật trong hai tập truyện như: miêu tảnhân vật, điểm nhìn trần thuật và giọng điệu

Dựa trên những ý kiến bàn luận và các kết quả nghiên cứu đã có vềvăn xuôi của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy có một khoảng trống cầnlấp đầy để làm hoàn chỉnh hơn bức tranh toàn cảnh về truyện ngắn của ông

Chính vì lẽ đó chúng tôi đã chọn vấn đề nghiên cứu của mình là: Đặc sắc

Trang 13

trong truyện ngắn về loài vật của Ma Văn Kháng (Dưới góc nhìn sinh thái học ) Hy vọng công trình hoàn thiện sẽ góp một góc nhìn mới về truyện ngắn

Ma Văn Kháng để khẳng định những thành công mà nhà văn đã đóng góp chođời sống văn học đương đại Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu:

- Nhằm làm rõ đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong các truyệnngắn về loài vật của Ma Văn Kháng

- Thấy sự độc đáo của bút pháp tự sự và phong cách Ma Văn Kháng

trong truyện ngắn viết về loài vật, giúp cho việc giảng dạy ở nhà trường trong

đó có những tác phẩm về loài vật được sâu sắc hơn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát Đặc sắc trong truyện ngắn về loài vật của Ma VănKháng (dưới góc nhìn sinh thái học) chúng tôi mong rằng sẽ:

- Góp thêm tiếng nói mới về hệ thống loài vật trong các sáng tác củaông thời kỳ đương đại, cũng như có cái nhìn toàn vẹn hơn về quá trình vậnđộng tư tưởng nghệ thuật của nhà văn

- Góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng vàkhẳng định sự đóng góp to lớn của ông trên văn đàn văn học Việt Nam thời

kỳ đổi mới

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Thế giới loài vật trong các truyện ngắn của

Ma Văn Kháng

- Phạm vi nghiên cứu:Tư liệu nghiên cứu của chúng tôi là 17 truyện

ngắn của Ma Văn Kháng in trong cuốn Mèo con nghịch ngợm, (2016), NXB Hồng Đức, Hà Nội Cụ thể là các truyện ngắn: Ông Pồn và chú hổ con; Con chó lạc nhà; Ông lão gác vườn và con chó Phúm; Mùa săn ở Na Le; Ngựa bất kham; Cuộc đấu của gà chọi; Chim di trú vừa bay vừa ngủ; Mèo con nghịch ngợm; Cỏ cằn; Xin lỗi chó Bốp; Tội nghiệp con vẹt già; Bát ngát trời

Trang 14

xanh; Hai anh em nhà mèo; Thương con ngựa già; Con meo, con mẻo, con mèo; Một ngày không được chấm công; Con Clếch của tôi.

- Ngoài ra còn tham khảo thêm 9 truyện ngắn mimi trong tập truyện

ngắn mini Bông hồng vàng của Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội, 2015 Cụ thể là các truyện: Đi làm chậm giờ; Chó Phích; Nhạc gà; Đi câu; Bùa chú của tình yêu; Góp một tiếng chim; Con chuồn chuồn; Con muỗi nhép; Nhà có chuột Trong tập truyện ngắn Nỗi nhớ mưa phùn của Ma Văn

Kháng, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2015 có truyện ngắn “Bà cụ Cần vàbầy chim sẻ” cũng được chúng tôi tham khảo Tổng cộng: 18 truyện ngắn và

9 truyện ngắn mini của Ma Văn Kháng viết về loài vật được chúng tôi nghiêncứu để hoàn thành Luận văn này

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Thi pháp học

- Phê bình sinh thái

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn hy vọng sẽ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu

chuyên sâu và đánh giá tổng hợp về Đặc sắc trong truyện ngắn về loài vật của

Ma Văn Kháng (dưới góc nhìn sinh thái học ) từ tác phẩm mở đầu cho đến tác phẩm gần đây nhất Từ việc nghiên cứu về Đặc sắc trong truyện ngắn về loài vật của Ma Văn Kháng (dưới góc nhìn sinh thái học), luận văn cho thấy sự

phong phú, đa dạng trong cá tính sáng tạo của một tác giả văn học Việt Namđương đại Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa cung cấp phương phápluận và kiến văn cần thiết cho việc tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy ởtrường phổ thông

Lần đầu tiên nghiên cứu về những đặc sắc trong truyện ngắn về loàivật của Ma Văn Kháng để làm rõ tài năng và phong cách, bút pháp độc đáocủa Ma Văn Kháng

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC

CỦA MA VĂN KHÁNG 1.1 Một số vấn đề lý thuyết phê bình sinh thái.

1.1.1 Khái niệm Phê bình sinh thái.

Phê bình sinh thái manh nha vào những năm 70 của thế kỉ XX Năm

1974, học giả người Mỹ Joseph W.Meeker cho xuất bản cuốn chuyên luận

“Sinh thái học của văn học” Trong tác phẩm này, cụm từ sinh thái học văn

học lần đầu tiên được nhắc đến để chỉ mối quan hệ “ảnh hưởng của văn học đối với hành vi nhân loại và môi trường tự nhiên”.

Năm 1978, Wiliam Rueckert trên tạp chí “Bình luận Iowa” (số mùa

đông) có bài Văn học và sinh thái học: Một phác thảo thử nghiệm phê bình

sinh thái học (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticison) lần

đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Phê bình sinh thái” (Ecocriticison) với ý nghĩa

“kết hợp văn học và sinh thái học” Nhà phê bình cho rằng nên có cái nhìn

sinh thái học và phải xây dựng được một hệ thống thi pháp học sinh thái Tuynhiên trong thời kỳ này, phần lớn giới phê bình văn học vẫn chưa biết thựcchất phê bình sinh thái học là gì Chính vì vậy, năm 1994, Hội văn học miềntây Blanche và Sean O Grady đã tổ chức hội nghị bàn tròn trong đó có ý kiến

của khoảng 20 học giả xung quanh vấn đề về khái niệm “Phê bình sinh thái”.

Tháng 6 năm 1995 ASLE lần đầu tiên tổ chức hội thảo khoa học tại Trườngđại học Colorado, hội nghị nhận được hơn 200 báo cáo Mọi người coi đại hộilần này của ASLE là tiêu chí đánh dấu sự hình thành của trào lưu phê bìnhsinh thái

Trang 16

Năm 1996, tuyển tập Phê bình sinh thái do Cheryll Glolfelty và

Harold From chủ biên được xuất bản Cuốn sách này được công nhận là tàiliệu nhập môn của phê bình sinh thái Cuốn sách chia làm ba phần, phân biệtthảo luận sinh thái học và lý luận văn học sinh thái, phê bình sinh thái của vănhọc và phê bình của văn học sinh thái Cuốn sách này còn liệt kê và giới thiệu

sơ lược những bài báo và chuyên luận phê bình sinh thái quan trọng nhất

Năm 1998, tại Luân Đôn, tuyển tập: Phê bình sinh thái và văn học do

nhà phê bình người Anh R.Kerridge và N.Sammells chủ biên được xuất bản.Đây là bộ tuyển tập phê bình sinh thái đầu tiên ở Anh Sách được chia làm baphần: Lý luận phê bình sinh thái, Lịch sử phê bình sinh thái và Văn học sinhthái đương đại (tổng cộng 15 chương, tác giả là những nhà phê bình sinh thái

Âu Mỹ) Bước sang thế kỉ XXI, phê bình sinh thái phát triển sâu rộng hơn

Năm 2001 Buell cho xuất bản cuốn “Viết vì thế giới đang lâm nguy: Văn học, văn hóa, môi trường nước Mỹ và các quốc gia khác”.

Có thể thấy, phê binh sinh thai vơi tư cach la môt khuynh hương phêbinh văn hoa va văn hoc đươc hinh thanh ơ My vao giưa nhưng năm 90 cuathế ky XX, tiếp đo xuất hiên ơ nhiều nươc trên thế giơi Trong số khá nhiềugiơi thuyết về thuât ngư “phê binh sinh thai” thì cách hiểu của nhà phê binh

sinh thai My - Cheryll Glotfelty được cho là ngắn gọn nhất: “Phê binh sinh thai la phê binh ban về mối quan hê giưa văn hoc va tư nhiên”.

Tác giả Karl Kroeber lại cho rằng: “Phê binh sinh thai không phai đem phương phap nghiên cưu sinh thai hoc, sinh vât hoa hoc, toan hoc hoăc phương phap nghiên cưu cua bất ky khoa hoc tư nhiên nao khac vao phân tich văn hoc No chi dân nhâp quan điêm cơ ban nhất cua triết hoc sinh thai vao phê binh văn hoc ma thôi” [15].

Trang 17

Vơi tư cach la khuynh hương phê binh văn hoa văn hoc, phê binh sinhthai co nhiêm vu chu yếu mang gia tri đăc thu va đăc trưng ban thê luân cua

no Đo la thông qua văn hoc đê thâm đinh lai văn hoa nhân loai, tiến hanh phêphan - nghiên cưu tư tương, văn hoa, mô hinh phat triên xã hôi cua loai ngươi

đa anh hương như thế nao đến thai đô va hanh vi cua nhân loai đối vơi đờisống tư nhiên

Jonathan Levin đa chi ra: “Tất ca phương diên văn hoa xa hôi cua chung ta cung quyết đinh phương thưc đôc nhất vô nhi sinh tồn cua chung ta trên thế giơi nay Không nghiên cưu nhưng điều nay, chung ta không thê nhân thưc sâu sắc quan hê giưa con ngươi va môi trương tư nhiên ma chi co thê biêu đat nhưng lo lắng nông can Vi thế, ngoai nghiên cưu văn hoc biêu hiên

tư nhiên như thế nao, chung ta tất yếu con phai dung rất nhiều tinh lưc đê phân tich tất ca cac nhân tố văn hoa xa hôi quyết đinh thai đô đối vơi con ngươi, đối vơi tư nhiên va hanh vi tồn tai trong môi trương tư nhiên, đồng thơi kết hơp nhưng phân tich nay vơi nghiên cưu văn hoc” [15].

Nhìn chung phê bình sinh thái đã được khá nhiều tác giả trên thế giớiquan tâm và trở thành một xu hướng nghiên cứu văn học có tính chất liênngành và có hiệu quả nhất định Trong xu hướng nghiên cứu này, các tác giảquan tâm tới mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, đặc biệt làthông qua đó muốn cảnh báo về tình trạng lâm nguy của môi trường tự nhiêntrong mối quan hệ với con người qua những tác động ngược chiều và thuậnchiều

Hiểu một cách khách quan, phê bình sinh thái không phải đem phươngpháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học hoặc phương phápnghiên cứu của bất kì khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích văn học Nóchỉ dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn

Trang 18

học mà thôi Với tư cách là khuynh hướng phê bình văn hóa văn học, phêbình sinh thái có nhiệm vụ thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phêphán, nghiên cứu tư tưởng văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài người

đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ và hành vi của nhân loại đối với tựnhiên và điều đó dẫn đến tình trạng xấu đi của môi trường sinh thái như thếnào

Manh nha vao nhưng năm 70 cua thế ky XX, đến giưa thâp niên 90,phê binh sinh thai đa thưc sư trơ thanh môt khuynh hương nghiên cưu văn hoc

ơ My va lan ra nhiều nươc khac trên thế giơi Tuy nhiên, ở Việt Nam việc ápdụng lý thuyết phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học vẫn là vấn đề khámới mẻ và chưa nhận được nhiều sự quan tâm Năm 2012 trong một bài nóichuyện ở Viện văn học, nhà nghiên cứu người Mỹ Karen Thornber đã giớithiệu về trường phái phê bình sinh thái nhưng cho đến nay có rất ít bài viếthay công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề này

Có thể thấy, sau đôi mơi, ở Việt Nam giơi nghiên cưu văn hoc kha cơi

mơ trong viêc tiếp thu, giơi thiêu cac ly thuyết văn hoc phương Tây hiên đai,đương đai, nhưng lai rất thân trong đối vơi “Phê binh sinh thai” Ngay ca cac

ly thuyết mơi me như Chu nghia lich sư mơi, Chu nghia duy vât văn hoa hay

ly thuyết tương đối nhay cam như “Diên ngôn quyền lưc” cua Foucault cung

đa đươc nhắc đến ơ Viêt Nam, nhưng riêng về “Phê binh sinh thai” lai vắngbong Phê binh sinh thai thinh hanh ơ nhiều nươc phương Tây, hiên nay tâptrung vao vấn đề dung tư tương sinh thai đê đanh gia văn hoc trong viêc biêuhiên vấn đề sinh thai, khăng đinh vai tro cua tư nhiên Ly thuyết phê binh sinhthai ở Việt Nam được coi la kha mơi me, chưa nhân đươc nhiều sư quan tâm.Cho đến nay vẫn co it bai viết hay công trinh nghiên cưu cu thê về vấn đềnay Trong cac công trinh nghiên cưu văn hoc trươc đây chung ta tâp trungnghiên cưu mối quan hê vơi hiên thưc, vơi cac chưc năng xa hôi cua văn hoc

Trang 19

như nhân thưc, giao duc, tuyên truyền, thâm my trong y thưc văn hoc phuc vuchinh tri chu yếu la xet theo nguyên tắc y chi, nhân tao Mối quan hê giữa môitrường sinh thai tư nhiên và văn hoa tinh thần vơi văn nghê chưa đươc đăt ramột cách sâu sắc Vi thế con nhiều vấn đề về quan hê giữa văn hoc vơi môitrương sinh thai chưa đươc xem xet.

Nhìn chung, vấn đề cân bằng sinh thai đam bao cho văn học phat triên,

là đông lưc cua sang tao và tư do sang tao Suy cho cung côi nguồn cua mấtcân bằng sinh thai la do sư phat triên phiến diên cua xa hôi va con ngươi.Quan điêm con ngươi la trung tâm đa dân đến huy hoai môi trương tư nhiên.Chinh vi le đo ma chung ta phai quan tâm nhiều hơn nưa đến cach tiếp câncac tac phâm văn hoc tư ly thuyết phê binh sinh thai Nghiên cưu về vấn đềnay Trần Đinh Sư và Huynh Như Phương đều nhấn manh đến sư tương tacgiưa môi trương tư nhiên vơi con ngươi Đồng thơi tac gia cung chi ra vấn đềsinh thai không con đơn thuần là cua riêng nganh khoa hoc nao nưa ma đa trơthanh vấn đề toan cầu trong đo co trach nhiêm cua văn chương Đây có thểcoi là vấn đề đao đưc đồng thời cũng la vấn đề thâm my

Trên cơ sở tiếp thu lý thuyết về phê bình sinh thái qua một số bài báoliên quan đến vấn đề này, cũng như qua việc tìm hiểu những truyện ngắn củamột số nhà văn hiện đại trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt là truyện ngắn của

Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy đã đến lúc chúng ta cần dành sự quantâm hơn nữa đến hướng nghiên cứu này

1.1.2.Cảm thức thiên nhiên trong văn học Việt Nam xưa – nay Phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại

1.1.2.1.Cảm thức thiên nhiên trong văn học Việt Nam xưa - nay

Trước khi xuất hiện phê bình sinh thái, vấn đề con người trong mốiquan hệ với tự nhiên trong văn học Việt Nam đã được chú ý từ lâu Trong lịch

Trang 20

sử văn học, con người đã trải qua nhiều cảm thức trong mối quan hệ với tựnhiên Trong nghiên cứu văn học dân gian, người ta đã chỉ ra niềm kính sợ,tôn sùng tự nhiên qua những kích thước thân thể khổng lồ, những hành độnglớn lao kiểu dời non lấp bể, chống trời của các nhân vật trong huyền thoại, sửthi Cảm thức về sự thống nhất giữa con người và tự nhiên qua thế giới loài

vật, cỏ cây, hoa lá… trong ca dao được tìm hiểu trong Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân Kính), Thế giới động vật trong ca dao cổ truyền Người Việt

(Đỗ Thị Hòa)…

Trong văn học trung đại, đó là cảm thức hòa điệu: ca tụng thiênnhiên, xem thiên nhiên là nơi lánh trú của tâm hồn, lí tưởng hóa mối tương tácgiữa con người và môi trường Các nghiên cứu về con người trong mối quan

hệ với thiên nhiên được các tác giả quan tâm như thiên nhiên trong thơ Thiềnthời Lí- Trần, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn

Khuyến… Ở các công trình như: Phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều (Phan Ngọc), Thi pháp Truyện Kiều (Trần Đình Sử), Tư tưởng sùng thượng thiên nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (Lê Nguyên Cẩn), Thơ đề vịnh thiên nhiên trong Hồng Đức Quốc âm thi tập (Trần Quốc Dũng), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Biện Minh Điền)… Các tác giả đã làm rõ: thiên nhiên

trong mối quan hệ với con người chủ yếu thể hiện ở hai khía cạnh: Một là, lànơi lánh trú, trốn đời, chốn nương thân; Hai là, thiên nhiên là bầu bạn, là giađình có cùng tiếng nói với con người Khi xã hội bất như ý, khi tâm trạng bấtnhư ý…con người tìm về với thiên nhiên Các nghiên cứu đã chỉ ra ngôn ngữthiên nhiên như là một đặc trưng để biểu hiện tâm lí nhân vật Tuy nhiên,thiên nhiên ở đây vẫn là trạng thái “ hòa điệu” nói hộ tâm trạng con người

1.1.2.2 Phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam đương đại

Những nghiên cứu về văn học lãng mạn 1930 – 1945 cũng quan tâmđến mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên Đặc biệt đã có những chú ý

Trang 21

tới sự mất dần những giá trị cổ truyền tốt đẹp vì sự xâm lấn của đô thị nhưtrong các nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Anh Thơ… Tuynhiên, các hướng nghiên cứu vẫn coi con người là trung tâm, mô tả tự nhiên

để làm nổi bật vẻ đẹp con người

Các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam sau năm 1975 đã khẳngđịnh văn học mở rộng quan niệm nghệ thuật về con người, nhìn nhận conngười ở khía cạnh tự nhiên Các nhà văn hóa có lẽ là những người đi trướccác nhà nghiên cứu văn học trong việc ứng dụng lý thuyết sinh thái vàonghiên cứu các hiện tượng văn hóa và văn học Phê bình sinh thái thực chất làmột hướng nghiên cứu của văn hóa văn học Do vậy, các công trình văn hóa

có những gợi ý sâu sắc cho chúng tôi Nhóm bài của Trần Quốc Vượng trong

công trình Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngấm (2003): Triết lí môi trường,

Văn hóa ẩm thực trên nền cảnh môi trường sinh thái nhân văn Việt Nam bamiền Nam Trung Bắc, Một cái nhìn sinh thái nhân văn Việt Nam với các ditích – lịch sử - văn Hóa Việt Nam đã phân tích “lối sống hòa điệu với tựnhiên” qua những hiện tượng văn hóa cụ thể như tục thờ cây, mô hình vườn,

văn hóa ẩm thực… Trần Thúy Anh trong công trình Ứng xử của người Việt đồng bằng châu thổ Bắc Bộ qua tục ngữ, ca dao (2011) đã phân tích những

phương thức ứng xử đối với tự nhiên trong tục ngữ, ca dao từ đó đề xuất việccần xây dựng đạo đức sinh thái trong việc đối xử với tự nhiên Nguyễn XuânHương phân tích quan niệm về môi trường của Hồ Chí Minh thông qua hoạtđộng thực tiễn “Tết trồng cây”, qua thơ văn của Người để thấy tư tưởng “cảmthông sâu sắc vô biên với các sinh vật … nhận thức về sự cân bằng mà tựnhiên đã tạo ra giữa con người (như một bộ phận của tự nhiên ) với bộ phậncòn lại của nó”

Trong bài viết Mùa xuân, sinh thái và văn chương (2013), từ gợi dẫn truyện ngắn Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp), Huỳnh Như Phương cho

Trang 22

rằng “văn học tham gia vào việc bảo vệ sức khỏe môi trường cũng là bảo vệchính con người và những giá trị thuộc về con người Chủ nghĩa nhân vănmới không còn xem con người là “thước đo của mọi vật”, thậm chí là “chúa tểcủa muôn loài ”, mà là một thành phần cộng sinh của thiên nhiên, nên phảibiết coi trọng từng đơn vị sinh thái: một cây thủy tùng, một giống loài sinh vậtbiển, một cánh rừng nguyên sinh, một loài vật… Sự suy thoái hệ sinh thái củamột quốc gia không chỉ quy trách nhiệm cho những người quản lí đất nước

mà cho cả sự thờ ơ của từng công dân, trong đó có những nhà văn ” NguyễnĐăng Điệp đã vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái để phân tích biểu tượngvườn trong thơ Mới “Thơ Mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa”, 2014, tuynhiên, cũng như tác giả thú nhận, đó là“những vén mở bước đầu ”… Trong hệthống các bài viết có thể kể đến “Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư từ góc nhìn phê bình sinh thái” (Trần Thị Ánh Nguyệt), “Văn xuôiNguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn sinh thái” (Nguyễn Thùy Trang) đã vận dụng lýthuyết phê bình sinh thái để đưa ra những kiến giải khá mới mẻ về những tácgiả quen thuộc

Ngoài ra có thể kể đến các tham luận trong nhiều hội thảo khoa học

về nghiên cứu văn học, nghiên cứu văn hóa hiện nay đã giới thiệu, vận dụng

lý thuyết phê bình sinh thái Năm 2011, Viện Văn học tổ chức một buổithuyết trình về phê bình sinh thái Gần đây xuất hiện tham luận liên quan đếnphê bình sinh thái trong Hội thảo khoa học “Phát triển văn học Việt Namtrong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế ” do Viện Văn học tổ chức vào

tháng 5 năm 2014 Tham luận “Nghiên cứu phê bình sinh thái hiện đại và di sản văn hóa: nhìn từ cách Sinh thái học tìm về Tam giáo” (Phật giáo, Nho

giáo, Đạo giáo) của Trần Thị Hải Yến sau khi lí giải vì sao có nhu cầu tìm vềtam giáo của sinh thái học, và sinh thái học đã tìm thấy gì ở Phật giáo, Nho

giáo, Đạo giáo Tham luận Sáng tác và phê bình sinh thái – tiềm năng cần

Trang 23

khai thác của văn học Việt Nam, từ việc xác định “Khi biểu hiện mối quan hệ

giữa con người với tự nhiên, văn học sinh thái đặc biệt chú trọng đến tráchnhiệm và nghĩa vụ của con người đối với tự nhiên , khẩn thiết kêu gọi vạn vậttrong tự nhiên duy trì cân bằng sinh thái, nhiệt tình ca ngợi sự hy sinh vì lợiích của chỉnh thể sinh thái Văn học sinh thái đưa trách nhiệm của nhân loạiđối với tự nhiên thành định hướng đạo đức chủ yếu” Tham luận mong muốn

cả người sáng tác và nhà phê bình Việt Nam cần phải khắc phục tình trạng

“phản ứng chậm” với trào lưu sinh thái Tham luận Cái tự nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn phê bình sinh thái (Đặng Thị Thái Hà), Hình tượng loài vật trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (Trần Thị Ánh Nguyệt).

Trong một thời gian dài, trong quá trình công nghiệp hóa, con người

đã xem thiên nhiên như là thứ vô tri nên mặc sức khai thác nó, mà không tínhđến những hậu quả lâu dài về mặt môi trường Sự lạm dụng những tiến bộkhoa học đã làm ô nhiễm và cạn kiệt môi trường tự nhiên Bởi vậy, sự thayđổi trong suy nghĩ liên quan đến con người với môi trường cũng cần được đổithay từ chính văn học Khuynh hướng văn học sinh thái ra đời đã đáp ứngđược yêu cầu của thời đại

Nghiên cứu về truyện ngắn từ góc nhìn phê bình sinh thái cho đến naychưa có công trình nào đề cập đến một cách hệ thống và chuyên biệt Tuynhiên, những vấn đề liên quan về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,thế giới loài vật dưới góc nhìn sinh thái học đã được các tác giả ít nhiều quantâm đến trong các bài viết, luận văn, luận án, công trình, ý kiến của việc vậndụng lý thuyết phê bình sinh thái khảo sát thực tiễn của văn học Việt Nam

Chúng ta có thể kể tới: Thế giới nhân vật trong sáng tác của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới của Hồ Thị Minh Chi (2014); “Ma Văn Kháng – đời văn và tác phẩm” của Nguyễn Ngọc Thiện ( 2015), trong sách Văn chương, nghệ

Trang 24

thuật và thẩm mỹ tiếp nhận; Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Ma Văn Kháng của Đoàn Tiến Dũng (2016); Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh

Nguyệt, Lê Lưu Oanh (2016); "Cần tìm hiểu sự chuyển hướng của Phê bìnhsinh thái" của GS.TSKH Phương Lựu (2016) Chúng tôi cho rằng tác phẩmsinh thái được nhận diện ở dấu hiệu:

- Thứ nhất là khi tác phẩm từ bỏ cái nhìn mang tính ẩn dụ về tự nhiên

để viết với ý thức sinh thái Văn học sinh thái chống lại sự nhân hóa tự

nhiên Khác với các truyền thống về thế giới tự nhiên, chỉ có một nhân vậtxuyên suốt câu chuyện, chỉ có một tiếng nói cất lên sau hình tượng đó, tiếngnói mà con người phú cho Ngược lại, trong các truyện sinh thái, bên cạnh thếgiới con người là thế giới muông thú với những tình cảm, tính cách, cá tính…rất riêng Tự nhiên có sinh mệnh độc lập, có địa vị bên ngoài mọi quan niệmcủa con người

- Thứ hai, văn học sinh thái lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ

sở tư tưởng, lấy lợi ích chính thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất đểkhảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìmnguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái Thực chất, mối quan hệ giữa conngười và sinh thái là mối quan hệ cộng sinh, do vậy tác phẩm viết về mốiquan hệ giữa con người và thiên nhiên phải có quan điểm sinh thái Lấy tưtưởng “sinh thái là trung tâm” không phải là tư tưởng hạ thấp con người màthực ra lợi ích của sinh thái suy cho cùng cũng là lợi ích bền vững của nhânloại Vấn đề biến đổi khí hậu, nguy cơ sinh thái là vấn đề của toàn cầu chứkhông phải là vấn đề riêng lẻ của mỗi quốc gia dân tộc

- Thứ ba, cân bằng tự nhiên cũng đảm bảo cho cân bằng xã hội Đó là

lí do vì sao văn học sinh thái tích hợp với các vấn đề xã hội: giới tính (sinhthái nữ quyền, chủng tộc, giai cấp, xã hội, ) Văn học sinh thái chú trọng đến

Trang 25

trách nhiệm của con người đối với tự nhiên, khẩn thiết kêu gọi bảo vệ vạn vậttrong tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái Văn học sinh thái đưa ra tráchnhiệm của con người đối với tự nhiên thành định hướng đạo đức chủ yếu Đạođức không phải chỉ trong mối quan hệ giữa con người với nhau mà với việcanh ta đối xử với thế giới xung quanh ra sao Từ đó nhận diện những mẫuhình nhân cách mới cho chủ nghĩa nhân văn: con người cần tôn trọng, yêuthương, che chở thế giới tự nhiên, nhìn vào loài vật để điều chỉnh đạo đức củamình.

Dựa trên những ý kiến bàn luận và các kết quả nghiên cứu đã có vềvăn xuôi của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy có một khoảng trống cầnlấp đầy để làm hoàn chỉnh hơn bức tranh toàn cảnh về truyện ngắn của ông

Chính vì lẽ đó chúng tôi đã chọn vấn đề nghiên cứu của mình là: Đặc sắc trong truyện ngắn về loài vật của Ma Văn Kháng (Dưới góc nhìn sinh thái học) Hy vọng công trình hoàn thiện sẽ góp một góc nhìn mới về truyện ngắn

Ma Văn Kháng để khẳng định những thành công mà nhà văn đã đóng góp chođời sống văn học đương đại Việt Nam

1.2 Hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng.

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01 tháng

12 năm 1936, quê ở làng Kim Liên, thuộc Kẻ Chợ, nay là phường PhươngLiên, quận Đống Đa, Hà Nội Lớn lên trong phong trào cách mạng và khángchiến chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi ở khắp nơi Ngày từ thủa còn thiếuniên, Định Trọng Đoàn đã tham gia Thiếu sinh quân và được cử đi học ở Khuhọc xá Trung Quốc

Năm 1954, cuộc kháng chống Pháp thắng lợi, hòa bình được lập lại ởmiền Bắc Đinh Trọng Đoàn tốt nghiệp trường trung cấp Sư phạm ở NamNinh, Trung Quốc Theo tiếng gọi Tổ Quốc ông đã xung phong lên Tây Bắc

Trang 26

dạy học tình nguyện ở Lào Cai Cũng chính tại mảnh đất Lào Cai “miền đấtvàng”, trong một chuyến đi công tác ở nông thôn, Đinh Trọng Đoàn đã làmquen cảm phục kết nghĩa anh em với một cán bộ người Kinh mang họ Ma, đó

là đồng chí Ma Văn Nho Phó Chủ tịch huyện Bảo Thắng, bèn cải tên họ mớicủa người anh ơn sâu kết nghĩa này Cái tên mới của Đinh Trọng Đoànchuyển thành Ma Văn Kháng và được ông sử dụng ký học bạ cho học sinh,ông cũng lấy tên này là bút danh trong viết văn

Năm 1960, ông về Hà Nội học Đại học Sư Phạm I, năm 1963 sau khitốt nghiệp ông trở về Lào Cai tiếp tục dạy học Hơn 20 năm ở Lào Cai ông lầnlượt làm giáo viên đứng lớp; làm hiệu trưởng trường cấp II, cấp III; Thư ký

cho Bí thư Tỉnh ủy; phóng viên rồi Phó tổng biên tập báo Lào Cai.

Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1974 Năm 1976,

Ma Văn Kháng rời Lào Cai về Thủ đô Hà Nội công tác, chuyên tâm với nghềviết văn - báo chí - xuất bản Nhiều năm liền ông giữ chức vụ Phó Giám đốckiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Lao Động Ông cũng từng đảm nhiệm cáccương vị khác nhau như: Trưởng ban sáng tác, Trưởng ban Tổ Chức - Hội

viên, Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài, ủy viên ban chấp hành Hội

Nhà văn Việt Nam, ủy viên Đảng đoàn Hội Ở cương vị công tác nào, ôngcũng là người dễ mến, sống chan hòa với mọi người, luôn hòan thành xuất sắcnhiệm vụ của mình Cuộc đời lao động vất vả, trải nghiệm nhiều nghề đã đểlại dấu ấn trên nhiều trang viết đậm đà hơi thở cuộc sống của Ma Văn Kháng

Hơn nửa thế kỷ lao động cẩn mẫn, đầy tâm huyết hăng say với nghề,

Ma Văn Kháng có một sự nghiệp văn chương đồ sộ gồm hơn 8 nghìn trang in,với hơn 200 truyện ngắn, 20 tiểu thuyết, 1 hồi ký- tự truyện, 2 tập bút ký - tiểuluận phê bình Mỗi tác phẩm của ông là tiếng nói, là sự chia sẻ cảm thông vớinhững số phận bất hạnh của con người, là sự đấu tranh cho cái đẹp và cái thiện

Trang 27

trong cuộc sống.Trong sự nghiệp văn chương của mình Ma Văn Kháng viếtthành công nhất trong hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Căn cứ đềtài, cảm hứng trong sáng tác của ông có thể chia quá trình sáng tác làm haigiai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: Gắn bó với mảnh đất Lào Cai với đề tài dântộc miền núi Ma Văn Kháng đến với Lào Cai như một cái “duyên” của cuộcđời Ông từng tâm sự rằng “tôi bị hấp dẫn bởi mảnh đất này, và tôi cảm giácmình có thể làm điều gì đó ở đây” Lào Cai nơi ông bắt đầu lập nghiệp, thànhdanh với bút danh Ma Văn Kháng Ông nhận ra: “miền núi cần khám phá cảtrong cái nhìn chung của đời sống vừa phải có nét đặc trưng riêng” Theo ông:

“Cái quy lụât chung cần tồn tại trong cái riêng biệt cụ thể, độc đáo và cáiriêng biệt ấy có nguồn rất sâu xa tự trong lịch sử, địa dư và nền văn hóa dântộc Lào Cai

- một tỉnh có hơn hai mươi dân tộc anh em sinh sống” [21] Quan niệm ấy đãtrở thành yếu tố quan trọng tạo nên thành công của Ma Văn Kháng về mảng

đề tài dân tộc miền núi

Chính bút danh Ma Văn Kháng cũng nói lên tâm nguyện của nhà văn

“Tôi muốn làm một sự hóa thân” Những năm tháng gắn bó cùng ăn, cùng ở,cùng lao động sản xuất với người dân đã giúp Ma Văn Kháng có nhữngchuyến đi đến từng bản làng, hòa mình vào cuộc sống của người dân, giúp ông

có thêm vốn sống sự am hiểu về văn hóa, tập tục, tâm lý của đồng bào miềnnúi, đã tạo cho ông nguồn cảm hứng viết

Bằng tình yêu, sự gắn bó với mảnh đất ấm áp tình người đầy biến động,

người nghệ sĩ Ma Văn Kháng sáng tác bắt đầu từ truyện ngắn Phố Cụt được trang trọng in trên trang nhất của tuần báo Văn nghệ số 136 (1961) và sau đó

ông liên tiếp cho ra đời các tập truyện ngắn Xa Phủ (1969), Bài ca trăng

sáng (1972), Góc rừng xinh xắn(1972), Người con trai họ Hạng(1972), Mùa mận hậu (1972) … Những tập truyện ngắn thời kỳ này của Ma Văn

Kháng thể hiện tình cảm trước những vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú và conngười miền núi hiền

Trang 28

lành, mộc mạc, giản dị Người đọc sẽ bắt gặp trong những truyện này hình ảnh

về những con người miền núi mộc mạc, giản dị một lòng theo cách mạng,không quản khó khăn, vất vả Những tác phẩm viết về đề tài dân tộc miền núinày của ông mang đậm tính lịch sử - dân tộc

Vốn sống phong phú, sự ưa tìm tòi, không ngừng nỗ lực học hỏi say mêcủa bản thân trong sáng tạo nghệ thuật đã giúp Ma Văn Kháng khẳng định têntuổi của mình trong mảng văn xuôi hiện đại viết về đề tài miền núi Ông làmột trong số ít những nhà văn hiện đại của nền văn học Việt Nam thành côngkhi viết về mảng đề tài này

Giai đoạn thứ hai: Trở về Hà Nội với đề tài đời sống thành thị Sau khiđất nước hoàn toàn được giải phóng, năm 1976 Ma Văn Kháng rời Lào Cai trở

về Hà Nội hoạt động với tư cách nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp Lào Caimảnh đất ông đã gắn bó hơn 20 năm coi như quê hương thứ hai của mình,nơicho ra đời những trang viết đầu tiên đã để trong ông biết bao kỷ niệm “XaLào Cai rồi, nhưng những gì đã cảm hội được trong hai mươi năm trời, sốngcùng đồng chí bạn bè một đời cần lao, giản dị ở vùng đất này của Tổ quốc,ngày đêm giục giã tôi viết tiếp” [20] Những ấn tượng về mảnh đất thấm đẫmtình người, những dư âm của chiến tranh được Ma Văn Kháng gửi gắm vào

các tập truyện Vệ sĩ Quan Châu (1988), Móng vuốt thời gian (2003) Và các tiểu thuyết: Gió rừng; Đồng bạc trắng hoa xòe (1979),Vùng biên ải(1981),

Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001).

Thời điểm ông trở về Hà Nội vào đúng lúc đất nước đang chuyển mìnhsang giai đoạn mới Cuộc sống đô thị diễn ra phức tạp và nhanh chóng Đứngtrước sự thay đổi đó,con người cũng cần thay đổi cho phù hợp với thực tại MaVăn Kháng nhạy cảm trước hiện thực mới Ôngvẫn gìn giữ những kỷ niệm gắn

bó với mảnh đất Lào Cai đồng thời thêm cảm nhận về những bề bộn lo toan,phức tạp, bon chen mưu sinh của cuộc sống thành thị Ông hướng ngòi bút của

Trang 29

mình vào mảng đề tài thành thị, quan tâm tới những mảnh đời số phận bấthạnh, những cảnh đời éo le nhưng vẫn khát khao vươn lên bằng sức sốngmãnh liệt Sáng tác của ông thời kỳ này bắt đầu nở rộ có thể kể đến các tác

phẩm xuất sắc đó là các tiểu thuyết: Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1988), Côi cút giữa cảnh đời (1988), Chó Bi, đời lưu lạc (1992), Ngược dòng nước lũ (1999) Và các tập

truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ (1995), Heo may gió lộng (1992), Nỗi

nhớ mưa phùn (2015), Bông hồng vàng (2015), Mèo con nghịch ngợm (2016)…

Sự thay đổi về đề tài trong sáng tác nghệ thuật của ông đi liền với sựđổi về cảm hứng: từ cảm hứng lịch sử dân tộc ông chuyển sang cảm hứng thế

sự đời tư Từ cái nhìn về cuộc sống đơn tuyến giờ đây ông đã chuyển sangcái nhìn về cuộc sống đa tuyến, nhiều chiều con người với tất cả các mặt tốt -xấu, thiện - ác đan xen lẫn nhau Truyện ngắn thời kỳ này của ông thấm đẫmtinh thần nhân bản về vẻ đẹp tình người, tình đời

Đặc biệt trong sự nghiệp văn chương của mình ngoài truyện ngắn vàtiểu thuyết Ma Văn Kháng còn viết Hồi ký, và tiểu luận phê bình

1.2.2 Những ý kiến của Ma Văn Kháng về sự phản ánh đời sống hiện thực của văn học.

Hòa chung vào dòng chảy của văn xuôi về đề tài dân tộc và miền núi

từ sau đổi mới, Ma Văn Kháng được đông đảo bạn đọc biết đến với hàng loạttruyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết Những đứa con tinh thần của Ma VănKháng là kết quả của hơn hai mươi năm gắn bó với mảnh đất Lào Cai Hiệnthực và con người miền núi là chất liệu, là nguồn cảm hứng nghệ thuật vô tậncho những sáng tác của Ma Văn Kháng Ông là nhà văn tài năng, tâm huyết

và thành công ở đề tài dân tộc và miền núi Nếu tính theo thời gian thì truyệnngắn viết về mảng đề tài này của Ma Văn Kháng được bắt đầu từ năm 1969

Trang 30

với tập Xa Phủ Trong truyện Xa Phủ, tác giả đã đề cập đến sự thay đổi trong

nhận thức, suy nghĩ và hành động của con người miền núi Ở họ, dù cònnhững tàn tích của những ngày đã qua, song điều quan trọng là họ tích cực,chủ động chuyển mình thành những con người mới, làm chủ cuộc đời Thôngqua các tác phẩm của mình, tác giả còn đặt ra vấn đề: con người miền núi rasao, cuộc sống của họ như thế nào trước hiện thực lớn lao của dân tộc

Với một tư duy nhận thức đúng đắn và toàn diện, một bản lĩnh nghệthuật vững vàng cùng với vốn sống phong phú, Ma Văn Kháng đã có nhữngthành công nối tiếp thành công ở mảng sáng tác về đề tài dân tộc và miền núi.Riêng truyện ngắn, ông đã từng tâm sự: “Càng ngày tôi càng mê truyện ngắn.Phần đông các nhà văn vào nghề bằng truyện ngắn, kết thúc bằng truyện ngắn

và quãng giữa là tiểu thuyết Truyện ngắn là một sự ám ảnh khủng khiếp Có

một truyện ngắn hoàn thiện là ao ước của bất kì nhà văn nào” [22] Sau Xa Phủ, hàng loạt truyện ngắn, truyện vừa về đề tài dân tộc và miền núi từ sau

đổi mới ra đời: “Giàng Tả - kẻ lang thang”, “Ngựa bất kham”, “Móng vuốtthời gian”, Ở thời kì sau đổi mới, truyện ngắn và truyện vừa viết về miềnnúi của Ma Văn Kháng đã phản ánh, đề cập đến những vấn đề có liên quanđến con người, số phận con người Con người và cuộc sống vùng biên ải vẫn

có mặt trong các trang viết về đề tài thành thị

Những trang viết về thiên nhiên miền núi của Ma Văn Kháng có sứclay động lòng người bởi đó là kết quả của sự gắn bó sâu nặng với cảnh vật nơiđây Sống giữa thiên nhiên thanh sạch, con người sẽ được gột rửa về tâm hồn,

không bị vẩn đục bởi thói ô trọc của xã hội rối ren: “Khắp đất nước có lẽ không ở đâu hoa gạo có cung màu đẹp tuyệt trần như ở đây Ở đây trời xanh trong vắt,thanh lọc đến kì hết vẩn bụi và mắt người như nhìn thấu tới tận cõi

vô cùng Ở đây, sau một mùa đông giá lạnh, xo ro, cây bung nở hết mình cái sức tích tụ bao tháng ngày” [17, tr 43] Màu đỏ rực rỡ của hoa gạo không chỉ

Trang 31

làm đẹp cho bản mường mà còn nói lên được lòng nhiệt tình của người dânmiền núi Thiên nhiên San Cha Chải dần hiện lên và gợi ra cho người đọc sựkhát khao khám phá những chân trời mới với vẻ đẹp thuần khiết, nguyên sơ.

Không gian San Cha Chải thật yên tĩnh “không khí heo hút như thời khởi thủy”, “cỏ ngải tàn rồi cỏ ngải lại xanh, hoa tục đoạn nở và hoa tam thất rừng mọc nhơ nhởn” [17, tr.53].

Ma Văn Kháng từng suy nghĩ rằng: “Thôi thúc tôi viết là cái đẹp củacuộc sống” Chính vẻ đẹp của cuộc sống và con người vùng biên cương đãkhơi dậy trong ông nguồn cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ, giàu ý nghĩa nhânvăn Nhà văn từng tâm sự: “Vẻ cổ kính của những làng Giáy có vòng hàngrào gỗ vây quanh và những đêm vườn Giáy trữ tình thắm thiết Suối MườngHum đẹp đến huyễn hoặc, rừng Pơ-mu lão đại trùng trùng vóc dáng đại hiệp

sĩ khu Seo Mi Tí Ngọn Păng-xi-păng kiêu hùng và những khu ruộng bậcthang ở Sa Pa quẫy lượn những đường nét khi mùa xuân về Tất cả đã vọng

về, đọng lại và hợp thành một bầu trời lung linh các vì tinh tú quay vòngkhông ngớt trong ký ức tôi, khiến tôi không biết bao lần nghẹn ngào nước

mắt” (Ma Văn Kháng Những năm tháng tập rèn) Cảnh sắc thiên nhiên miền

núi có sức níu giữ lạ kì để rồi khi đi xa, nó đã trở thành một phần không thể

thiếu trong tâm hồn con người (Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn! - Chế Lan Viên).

Cùng với truyện ngắn và truyện vừa, Ma Văn Kháng còn rất thànhcông ở thể loại tiểu thuyết khi viết về đề tài dân tộc miền núi và thành thị.Những tác phẩm được coi là sự kết tinh thành tựu của Ma Văn Kháng về

mảng đề tài này như: Đồng bạc trắng hoa xòe (1977), Vùng biên ải (1983), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001) Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn

tiên phong đưa bộ phận văn xuôi đến với tiểu thuyết - một thể loại có tầm vóc

sử thi và quy mô lớn, đủ sức khái quát một hiện thực rộng lớn và có ý nghĩa

Trang 32

lịch sử Bên cạnh đó, Ma Văn Kháng cũng là người đi đầu trong việc đưa đềtài về công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền núi vào tiểu thuyết.

Thời kì này, khuynh hướng đời tư, thế sự được các nhà văn chútrọng Những vấn đề của cuộc sống và con người thời hậu chiến, những quan

hệ phức tạp, chồng chéo, những câu chuyện đời thường đã trở thành đốitượng của nghệ thuật Các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng,

Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê đã quan tâm lật xới từ những số phận cá nhânnhỏ bé đến những vấn đề xã hội rộng lớn mang ý nghĩa nhân sinh Bên cạnh

đó, văn học thời kỳ đổi mới còn có sự cách tân về thể loại, có cả văn xuôi kỳ

ảo trong sáng tác của Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Tạ DuyAnh Ngoài ra, khuynh hướng triết luận cũng trở thành một nhu cầu khôngthể thiếu trong văn học thời kỳ này

Ma Văn Kháng được coi là người “đi tiền trạm” cho đổi mới văn học Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985) là những tác phẩm

có tính chất mở đường Thời kỳ này Nguyễn Khải viết Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người (1985) như trên hành trình của sự tìm kiếm mới Nguyễn Minh Châu viết các tác phẩm Bức tranh (1982), Bến quê (1985) như một sự đột phá Bảo Ninh với Thân phận của tình yêu (1990), Dương Hướng với Bến không chồng (1990), Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng (1991)…

Ma Văn Kháng vững bước trên con đường đổi mới vớinhững cảm hứng mới, tâm thế mới và khí thế ngày càng mạnh mẽ Bên cạnhcác sáng tác về đề tài miền núi, khi chuyển hướng ngòi bút về đồng bằng, MaVăn Kháng nhanh chóng tiếp cận với một hiện thực mới, đó là cuộc sốngthành thị với nhiều màu sắc phong phú và độc đáo Bằng sự nhạy cảm tinh tếcủa mình cộng với tinh thần trách nhiệm của một ngòi bút tâm huyết, Ma VănKháng viết về cuộc sống và con người đô thị trong sự day dứt, trăn trở khi

Trang 33

phát hiện ra những “lỗ hổng”, những “khoảng trống” đang tồn tại và vây bủa

con người

Ma Văn Kháng nói có sách, mách có chứng bằng việc dẫn ra các tác giảĐông Tây Kim Cổ, với Nguyễn Du, Khuất Nguyên, Phạm Thái, Tư MãThiên, Heminway, Nguyễn Tuân, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, TrầnĐăng Khoa, để nói về cái rủi ro và may mắn trong văn chương với người

sáng tác (Nhà văn: Tài năng, rủi ro và may mắn) Rồi cũng từ những dẫn

chứng sinh động về tác giả - tác phẩm, Ma Văn Kháng kỹ lưỡng trong việcmạnh dạn tỉa ra những yếu tố cần thiết phù trợ hình thành nhà văn, sau yếu tốnăng khiếu, là 1) Trọng thị triệt để sự sống thực tiễn Sống rồi mới viết; 2)Phải được hưởng thụ một nền học vấn cao; 3) Hiểu biết về nghề nghiệp

Nhưng vẫn không quên nhắc bí quyết để có được một nhà văn, một nghệ sĩ, vẫn là một ẩn số Văn giới luôn đa sắc diện, quy đồng tất cả vào một khuôn mẫu là bất khả thủ (Thử phác thảo lộ trình phù trợ hình thành nhà văn)

Không chỉ bàn chi tiết, tỉ mỉ về nghề văn, Ma Văn Kháng còn có cáinhìn khái quát về cả nền văn học nước nhà, đồng thời soi văn học dưới hệ quy

chiếu văn hóa dân tộc (Nền văn học của dân tộc, Tấm gương phản chiếu văn hóa) Hay 34 suy nghĩ ngắn trong Những suy nghĩ bất chợt cũng có nhiều

điều cho người đọc… suy nghĩ

Có thể nói, Ma Văn Kháng là một trong số ít những nhà văn cao tuổivẫn giữ được sức viết, miệt mài và mê mải Nhà lý luận - phê bình Phong Lênói, đại ý, Ma Văn Kháng đã có truyện ngắn, đã có tiểu thuyết, đã có hồi ký

Và tiểu luận, bút ký về nghề văn là một kênh nữa của Ma Văn Kháng Thật

vậy! "Phút giây huyền diệu" là minh chứng và "Nhà văn, anh là ai?" thêm lầnnữa khẳng định rõ hơn, xác đáng hơn về điều này

Là một nhà văn chân chính, không ngừng tìm kiếm và phát hiện ranhững giá trị, tinh hoa của nghề viết, nhà văn Ma Văn Kháng đã thực sự dẫn

Trang 34

dụ đưa những người trẻ bước vào thế giới của lao động văn chương rồi từ đó

vỡ ra và lắng lại được nhiều điều, bắt đầu từ cái Phút giây huyền diệu Qua

đây, mỗi người viết sẽ biết trân trọng và nâng niu những phút giây ấy, bởi đóchính là cảm hứng khởi đầu cho những sáng tạo văn chương Tuy nhiên,không phải cứ “há miệng chờ sung”, ngồi đợi chờ phút giây ấy rơi xuống màphải là “hãy sống kỹ lưỡng tích cực và thật tự nhiên với tất cả cung bậc của

cuộc đời” Xin được mượn lời kết trong bài tiểu luận Phút giây huyền diệu của nhà văn Ma Văn Kháng: Cảm hứng thần tiên là tia chớp hãn hữu chỉ

hiện ra trong một bầu trời ứ đầy mây tích điện để mở đầu và sau đó tiếp nốibắng cả một quá trình sáng tạo bền bỉ say mê, đó chính là cuộc gặp gỡ kỳ lạ

và vô cùng lý thú của đời sống và văn chương Đó là điểm giao kết tài tìnhgiữa ngẫu nhiên và tất yếu do cuộc sống tạo ra Với tôi, đó là một kiểu hìnhthành tác phẩm phổ biến có tính quy luật, đó là quy trình làm nên một hợp tử,

để một sự sống hoài thai, ra đời

Sau thành công của Phút giây huyền diệu, tập tiểu luận và bút ký về

nghề văn, nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013, thì "Nhà văn,

anh là ai?" tiếp tục là cuốn sách được những bạn đọc yêu văn chương, bạn trẻ

đang có ý tiệm cận nghề viết, lẫn những người đã “thuộc lòng” Ma VănKháng mong chờ, đón đọc

Nhà văn, anh là ai? gồm 3 phần: Nhà văn, anh là ai?, Tình cờ nhận

ra và Tâm sự nghề nghiệp Nếu như Tình cờ nhận ra là những ghi chép ngắn,

từ vài trăm đến một nghìn từ, về những điều nhà văn bất chợt nhận ra, nhặtđược, trong các câu chuyện dọc đường văn, rất đáng để suy nghĩ, để chiêm

nghiệm, cho người đọc, người viết rút kinh nghiệm, thì Tâm sự nghề nghiệp lại là những chia sẻ, kỷ niệm về ngày đầu cầm bút, nuôi mộng văn

chương, quá trình nỗ lực khẳng định bản thân, cùng những người bạn văn,không gian văn chương, mảnh đất nuôi con người ông, nuôi văn chương ông

Trang 35

Đấy là hành trình từ người thầy giáo đến thư ký riêng cho Bí thư Tỉnh

ủy, rồi thành nhà báo, lăn lộn khắp các vùng đất xa xôi hiểm trở trong điềukiện khó khăn nhất Đi để trải nghiệm, để tích lũy, cao hơn nữa là để thấu thịmảnh đất - con người Lào Cai, cho những trang viết sống động, đầy ắp hơi

thở vùng cao sau này (Yêu nghề mà đến với nghề, Những năm tháng đi và viết).

Đấy là tâm thế những ngày đầu đến với văn chương, ý thức rõ ràng vềcon đường sáng tạo văn học, trang bị tư thế để dấn thân, như cách GarciaMarquer nói: Muốn trở thành nhà văn, phải được trang bị kiến thức văn học ít

ra là 1.000 năm văn học trước mình (Cái nôi sinh thành, Tôi đi học trường Hội) Ngoài ra, ở phần này, nhà văn còn có bài viết chia sẻ về việc ra đời hồi

ký "Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương" từng gây chú ý làng xuấtbản năm 2009 Một bài viết nữa, rất đáng suy ngẫm, và chưa bao giờ cũ với

người viết, là Dấn thân vào chốn hiểm nguy.

Ma Văn Kháng dẫn ra mối liên hệ giữa hình tượng nhân vật trong tácphẩm văn học và hình ảnh nguyên mẫu ngoài đời, phê phán cách soi/ tiếpnhận tác phẩm văn học theo lối “vơ vào”, đến mức nhà văn phải thốt lên “ nhà văn chỉ được phép gửi vào trang văn của mình nhưng kỷ niệm đẹp đẽriêng tư thôi ( ) Còn như gửi gắm cái uất hận vào nhân vật này nhân vật nọ làkhông có được Vì như thế là lợi dụng văn chương làm điều hèn hạ Không!Không đúng Vì như thế là bất công, là triệt vi tróc vẩy nhà văn, là biến nhàvăn thành một gã thi sĩ tụng ca.”

Nhưng có lẽ, sức nặng thật sự của cuốn sách nằm ở phần Nhà văn, anh

là ai? Ở phần này, Ma Văn Kháng mổ xẻ nghề văn bằng những nhát dao sắc,

đẹp, tinh tế, đầy kĩ thuật, và nhẹ nhàng như không “Mỗi tác phẩm là mộtngày hội của cảm xúc lớn Bất cứ tác phẩm thật sự cũng là sản phẩm của mộtcơn si mê, si mê đến điên rồ của cả thể xác lẫn tâm hồn”, và nói như thi sĩ

Trang 36

Hoàng Cầm, là phải sống rất thơ cuộc đời mình để có cảm hứng sáng tác (Nhà văn, anh là ai?).

Tiểu kết chương 1

Có thể khẳng định tiểu thuyết, truyện ngắn là hai thể loại chiếm sốlượng lớn trong sáng tác của Ma Văn Kháng, đã đánh dấu tên tuổi của ôngtrong lòng bạn đọc Ông đã phát huy hết năng lực khi lựa chọn hai thể loạinày để khám phá và thể hiện cuộc sống Ở chương này, chúng tôi làm rõ kháiniệm phê bình sinh thái và phê bình sinh thái trong văn học Việt Nam đươngđại Đồng thời giới thiệu ngắn gọn vài nét về cuộc đời sự nghiệp và những ýkiến của Ma Văn Kháng về sự phản ánh đời sống hiện thực của văn học Đặcbiệt là quan niệm về văn chương nghệ thuật của Ma Văn Kháng qua hai tập

tiểu luận và bút ký về nghề văn Phút giây huyền diệu, Nhà văn anh là ai?.

Hơn nửa thế kỷ đóng góp cho nền văn học nước nhà, đến nay dù hơn 80 tuổisức khỏe suy giảm nhưng Ma Văn Kháng vẫn không ngừng đóng góp cho nềnvăn học đương đại Việt Nam

Trang 37

Chương 2 NHỮNG PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TRONG TRUYỆN NGẮN VỀ

LOÀI VẬT CỦA MA VĂN KHÁNG 2.1 Loài vật là thành phần của tự nhiên trong mối quan hệ khác biệt, cộng sinh với con người

Văn học luôn sử dụng tự nhiên làm nền cảnh Dưới góc nhìn của lýthuyết phê bình sinh thái chúng tôi quan tâm đến loài vật là thành phần của tựnhiên trong mối quan hệ khác biệt, cộng sinh với con người để thấy rõ ý đồnghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng Trước tiên để nhận diện văn học sinhthái, chúng tôi đặt nó trong cái nhìn so sánh lịch đại để tìm ra sự khác biệt Có

sự khác biệt về điểm nhìn, các tác giả viết về tự nhiên dưới một cảm quan mới– cảm quan sinh thái Sự khác biệt về điểm nhìn đó, dẫn đến sự thay đổi quanniệm về tự nhiên,vai trò của tự nhiên có sự thay đổi Cái ước lệ bị phá vỡ,thay vào đó là quan niệm về một tự nhiên tự trị, tồn tại bên ngoài con người,không còn phụ thuộc vào bàn tay con người Tự nhiên có sinh mệnh độc lập

Trong kho tàng văn học dân gian của các dân tộc đều có sự tồn tạicủa bộ phận truyện kể về loài vật, được gọi là “truyện cổ tích loài vật” Đây làloại truyện cổ tích lấy các loài vật (phần lớn là động vật) làm đối tượng phảnánh, tường thuật và lí giải chủ yếu Loại chuyện này ở thời kì cổ xưa hầu hếtcác dân tộc đều có Ở đây, các loài vật được nhân cách hóa một cách hồnnhiên trong trí tưởng tượng của nhân dân thời cổ… Như vậy, xét về nguồngốc, truyện về đề tài loài vật đã hình thành từ rất sớm Trong quá trình sốnggần gũi với tự nhiên và chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi tự nhiên, người cổđại đã từng quan sát, tìm hiểu các con vật (để dễ săn bắt và tự vệ) Cũng do sựphân biệt giữa con người và tự nhiên chưa rõ ràng nên người ta đã gán chomọi vật tính cách của con người Có thể nói, truyện loài vật ra đời trên cơ sởđó

Trang 38

Khi sáng tác những truyện về loài vật, các tác giả thường chú ý đến đốitượng tiếp nhận là các em thiếu nhi Lúc đầu, truyện dành chung cho mọi đốitượng Nhưng càng về sau, khi con người đã trải qua thời thơ ấu, mọi hiểubiết của cuộc sống được nâng cao thì những câu chuyện về loài vật chỉ cònthích hợp với trẻ em, được trẻ em yêu thích Vì thế, khi xem xét những thànhtựu của truyện viết về loài vật, chúng ta không thể không đề cập đến nhữngthành tựu quan trọng của truyện viết cho thiếu nhi Trong bước tiến của vănhọc thiếu nhi, bóng dáng của truyện loài vật cũng dần dần được hình thành vàkhông ngừng phát triển Sâu sắc và thấm đẫm tính nhân văn, những trang viết

về đề tài loài vật luôn phảng phất bóng dáng trẻ thơ với những suy nghĩ trongtrẻo và thánh thiện, với cái nhìn bao dung và nhân hậu trước cuộc đời Xuấtphát từ những ý tưởng, nội dung, cốt truyện và những hình ảnh quen thuộc,truyện viết về loài vật trong nền văn học mới còn có những bước phát triểnvượt bậc và đạt những thành tựu rực rỡ Từ đây, bên cạnh truyện viết chongười lớn, mảng truyện về loài vật cũng trở thành một bộ phận của nền vănhọc, không chỉ có sức hút đối với trẻ thơ mà cả người lớn cũng rất yêu thíchbởi nhân vật của truyện có phần nào gần gũi, gắn bó với họ

Văn học trước Cách mạng tháng Tám viết về loài vật chủ yếu để nói

về con người, lấy con người làm trung tâm để mô tả, biểu hiện, đánh giá tựnhiên Trước Cách mạng tháng Tám, ngoài những sáng tác truyền miệngtrong văn học dân gian, văn học viết cho thiếu nhi nói chung rất ít được coitrọng Hơn nữa, một thời gian khá dài, văn học thiếu nhi chủ yếu chịu ảnhhưởng từ những tác phẩm văn học nước ngoài Những bài thơ ngụ ngôn của

La Phôngten, Pêrô, truyện cổ Grim… được dịch ra tiếng Việt, không chỉ hấpdẫn các em nhỏ mà cả người lớn cũng ưa thích Phần lớn người viết sách lúcbấy giờ đều không có mục đích để phục vụ các em Có người viết để làm bànđạp bước vào nghề văn, có người viết để kiếm sống, hoặc như một kiểu “thử

Trang 39

bút”, dò tìm hướng đi thực sự của mình… Tuy chưa đạt được những thànhtựu đáng kể, nhưng sự xuất hiện của một số nhà văn chân chính như Tú Mỡ,Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Tô Hoài…, với những tác phẩm tương đốilành mạnh được xem là “tín hiệu” đáng mừng cho quá trình phát triển của vănhọc thiếu nhi.

Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám, chưa thể nói đến một nềnvăn học viết cho thiếu nhi, với ý thức phục vụ thiếu nhi; cùng với thực trạng

ấy, mảng truyện về loài vật cũng ít ỏi và không có những thành tựu đáng kể.Theo một số nhà nghiên cứu, bộ phận truyện cổ tích về loài vật tuy ra đời khásớm nhưng công việc sưu tầm lại khá muộn nên bị mất mát nhiều; nhữngtruyện còn lại ít nhiều bị ngụ ngôn hóa hoặc bị pha trộn với truyện thần thoại.Chính vì thế, trong nền văn học mới, “ bóng dáng” của truyện về loài vật xuấthiện khá nhạt nhòa và ít có những thành tựu rực rỡ như những thể loại vănhọc khác Trong những ngày đầu Cách mạng rồi kháng chiến chống Pháp, chỉ

có một số nhà văn chuyên nghiệp thi thoảng có sách viết cho thiếu nhi Cáchmạng tháng Tám thành công, vai trò của văn học thiếu nhi bắt đầu được nhìnnhận Nó trở thành một bộ phận quan trọng trong bức tranh văn học toàn cảnhdưới chế độ mới Đối tượng phục vụ, phạm vi phản ánh, nội dung, đề tài của

nó cũng được mở rộng và có sự tiến bộ Một số nhà văn có tên tuổi khác cũngnhiệt tình tham gia đóng góp cho văn học thiếu nhi và đạt một số thành tựubước đầu như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Xuân Sanh…

Nếu văn học thiếu nhi Việt Nam có độ dài khoảng hai phần ba thế kỷ,thì lịch sử truyện loài vật cũng có độ dài tương ứng, nếu tính từ tác phẩm đầu

tiên làm rạng danh cho nó là Dế mèn phiêu lưu ký (1941)– một tác phẩm luôn

luôn có sự sống trong lòng các thế hệ độc giả nhỏ tuổi lẫn người lớn ở ViệtNam và nhiều nơi trên thế giới Cùng với Tô Hoài, hàng loạt tác phẩm có giátrị của một số nhà văn khác, chủ yếu được tập hợp trong các tủ sách như:

Trang 40

Sách Hồng, sách Hoa mai, Hoa xuân, sách Truyền bá góp phần làm nên sựđộc đáo, sức phản ánh rộng rãi cho dòng truyện viết về loài vật trước 1945.Như vậy, trong buổi đầu của nền văn xuôi quốc ngữ, không ít người viết cótên tuổi đã có ý thức gây dựng một dòng truyện viết về loài vật, đáp ứng nhucầu đông đảo, không chỉ riêng các em ở lứa tuổi thiếu niên, mà còn các bậcông bà, cha mẹ – những đối tượng vốn rất quan tâm đến việc giáo dục con

cháu nên người Có thể lược kể những tên sách còn lưu lại được: Con mèo mắt ngọc của Nam Cao ít nhiều đã đi sâu vào tâm hồn trẻ thơ, khiến các em phải suy nghĩ; Vợ cóc, Con rắn, Cóc tía của Khái Hưng; Hang thuồng luồng, Con rắn trắng của Ngọc Giao Giữa những cây bút viết cho thiếu nhi thời đó,

Khái Hưng nổi lên trên tư cách một cây bút vừa viết nhiều, vừa viết hay Cácsáng tác của ông, về mặt thể loại gồm: truyện cổ tích hiện đại, kịch đồng thoại

và truyện sinh hoạt Ở mỗi một thể loại như vậy, ông đều tạo được những dấu

ấn riêng Bên cạnh đó, Tô Hoài viết Dế Mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ bọ ngựa, Đám cưới chuột… dưới hình thức đồng thoại để phản ánh những vấn đề lớn của xã

cũng gặp không ít khó khăn, trắc trở Bắt đầu từ Văn Ngan tướng công của Vũ

Tú Nam bị nghi ngờ là có dụng ý xấu Tiếp đến, Cái Tết của mèo con của Nguyễn Đình Thi và Cái mai của Võ Quảng cũng có những đoạn, những câu

Ngày đăng: 24/01/2019, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Mai Anh (1997), Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Ma Văn Kháng từ sau 1980, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Ma VănKháng từ sau 1980
Tác giả: Phạm Mai Anh
Năm: 1997
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia HàNội
Năm: 1999
3. Nguyễn Thị Bình (2003), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sưphạm
Năm: 2003
4. Nam Cao (1989), Truyện ngắn tuyển chọn , Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn tuyển chọn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1989
5. Nam Cao (1999), Nam Cao toàn tập, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao toàn tập
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
6. Hồ Thị Minh Chi (2014), Thế giới nhân vật trong sáng tác của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới, Luận văn Thạc sĩ, Văn học Việt Nam, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong sáng tác của Ma VănKháng thời kì đổi mới
Tác giả: Hồ Thị Minh Chi
Năm: 2014
7. Đoàn Tiến Dũng (2016), Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Ma Văn Kháng, Luận án Tiến sĩ, Văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Ma VănKháng
Tác giả: Đoàn Tiến Dũng
Năm: 2016
8. Trịnh Thùy Dương (2016), Truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn phê bình sinh thái, Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn phêbình sinh thái
Tác giả: Trịnh Thùy Dương
Năm: 2016
9. Nguyễn Đăng Điệp ( 2014), “Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa”, Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng, Nxb Văn học, Hà Nội, tr31 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa”,"Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng
Nhà XB: Nxb Văn học
10.Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004) , Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáodục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáodục
12.Nguyễn Minh Hạnh (2014), Thế giới nhân vật trong các tập truyện ngắn gần đây của Ma Văn Kháng (Trốn nợ -2008; Mùa thu đảo chiều- 2012;San Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong các tập truyện ngắngần đây của Ma Văn Kháng
Tác giả: Nguyễn Minh Hạnh
Năm: 2014
13.Lê Thị Thúy Hằng (2016), Ma Văn Kháng bàn về nghề văn và nhà văn, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma Văn Kháng bàn về nghề văn và nhà văn
Tác giả: Lê Thị Thúy Hằng
Năm: 2016
14.Ma Thị Hiên (2008), Dấu ấn văn hóa trong tác phẩm Đồng bạc trắnghoa xòe và Vùng biên ải của Ma Văn Kháng, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Đại học Sư phạmThái Nguyên,Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn văn hóa trong tác phẩm "Đồng bạc trắnghoaxòe "và "Vùng biên ải "của Ma Văn Kháng
Tác giả: Ma Thị Hiên
Năm: 2008
15.Đô Văn Hiêu, “Phê binh sinh thai, Khuynh hương nghiên cưu văn hoc mang tinh cach tân”, www . T a p c h i s on g huo ng . c o m .vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê binh sinh thai, Khuynh hương nghiên cưu văn hocmang tinh cach tân
16.Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 2000
17.Triệu Thị Hiệp (2013), Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Luận văn Thạc sĩ, Văn học Việt Nam, Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Triệu Thị Hiệp
Năm: 2013
18.Tô Hoài (1954), Dế mèn phiêu liêu kí, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dế mèn phiêu liêu kí
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1954
19.Dương Thị Thanh Hương (2016), Phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng, Luận án Tiến sĩ, Văn học Việt Nam, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng
Tác giả: Dương Thị Thanh Hương
Năm: 2016
20.Ma Văn Kháng (1971), “Cuộc sống miền núi và những trang viết của tôi”, Văn nghệ,(395) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống miền núi và những trang viết của tôi”,"Văn nghệ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Năm: 1971

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w