2. LịCH Sử VấN Đề 2.1. Tự sự học ở Việt Nam Trên thế giới, Tự sự học từ lâu đã không còn là thuật ngữ xa lạ, những vấn đề về lý thuyết đã được định hình thành hệ thống và Tự sự học ngày càng được mở rộng và phát triển. Với những ưu điểm của mình Tự sự học ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc khám phá lí giải thế giới nghệ thuật ngôn từ. Mặc dù thế giới đã đi qua hai giai đoạn của Tự sự học: Tự sự học kinh điển và Tự sự học hậu kinh điển nhưng ở Việt Nam Tự sự họcvẫn còn là một hướng nghiên cứu hết sức mới mẻ. Các vấn đề về dịch thuật, các khái niệm trong cấu trúc truyện kể như điểm nhìn trần thuật, ngôi kể, phối cảnh trần thuật …vẫn còn phức tạp chồng chéo gây nhiều tranh cãi đặc biệt là các công trình quan trọng của ba nhà Tự sự học lớn R.Barthes, G.Genette, T.Todorov vẫn chưa được dịch thuật một cách hệ thống. Hội thảo Tự sự học đầu tiên do khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức vào năm 2001 (với 76 bản tham luận của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường đại học và cơ quan nghiên cứu văn học trên cả nước tham gia) và tiếp đó là việc xuất bản công trình: Tự sự học –một số vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2003) đã đánh dấu mốc son chính thức ghi nhận sự xuất hiện của Tự sự học ở nước ta. Sau bảy năm, xuất phát từ nhu cầu lí luận, thực tiễn năm 2008 khoa Ngữ văn tiếp tục tổ chức hội thảo Tự sự học lần thứ với 62 bản tham luận. Bên cạnh các bài viết giới thiệu lí thuyết Tự sự học ở nhiều phương diện còn có các bài viết mang tính ứng dụng cao. Hai cuộc hội thảo đã cho thấy tình hình nghiên cứu Tự sự học ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Có thể coi đây là một hoạt động khoa học quan trọng trong việc xây dựng tiền đề cho ngành Tự sự học ở nước ta. Năm 2010 ban Văn học nước ngoài của Viện văn học đã triển khai thực hiện đề tài Tự sự học, lí luận và ứng dụng. Công trình khoa học này tập trung nghiên cứu tự sự từ những vấn đề lịch sử, lí thuyết đến ứng dựng ở một số nền văn học như Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ và chủ yếu là ở Việt Nam. Một phần các kết quả nghiên cứu đó (Với 10 mục bài được lựa chọn bao gồm cả hai phần lí thuyết và ứng dụng ) đã được tuyển tập trong chuyên đề Tự sự học in trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 năm 2010. Có thể khẳng định rằng công trình khoa học của Viện văn học đã góp phần to lớn tạo nên sự phát triển của ngành khoa học còn khá mới mẻ này. Hiện nay GS Trần Đình Sử chủ nhiệm một đề tài lớn, đầy đủ và toàn diện vềTự sự học mang tên Nafosted tuy nhiên đề tài vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Cho nên xét trên những tài liệu đã được công bố thì có thể thấy tuy đến Việt Nam khá muộn nhưng Tự sự học đã được các nhà khoa học nước ta đón nhận và hưởng ứng rộng rãi với một tâm thế chủ động và bước đầu đã gặthái được những thành công đáng trân trọng. Trước hết các nhà nghiên cứu của ta đã nỗ lực dịch và giới thiệu những vấn đề lý thuyết Tự sự học trên các phương diện như lịch sử phát triển, các xu hướng, các khái niệm Tự sự học đương đại…Có thể kể đến các công trình dịch thuật như Độ không của lối viết của R.Barthes do Nguyên Ngọc dịch; Cơ sở của kí hiệu học của R.Barthes do Trịnh Bá Đĩnh trích dịch; Thi pháp văn xuôi của T.Todorov do Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch; Dẫn luận về Tự sự học của Susanna Onega và J.A.Garcia Landa do Lê Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch; Diễn ngôn mới của truyện kể của G.Genette do Lê Phong Tuyết trích dịch; Hai nguyên tắc của truyện kể của T.Todorov do Phùng Ngọc Kiên dịch;Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể của Roland Barthes do Tôn Quang Cường dịch; Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX của nhóm những nhà nhiên cứu Nga do Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân dịch...Những nghiên cứu trên mang ý nghĩa chủ yếu là giới thiệu lí thuyết Tự sự học dù bước đầu còn mới mẻ và ở các cấp độ khác nhau nhưng nhìn chung khá chi tiết và chuyên sâu.Vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung vào một số điểm cơ bản sau đây: 1Lịch sử quá trình phát triển và mục đích của Tự sự học khi xác định văn học như là đối tượng nghiên cứu cơ bản và chủ yếu, xác định thuật ngữ, chọn dùng khái niệm Tự sự học; 2 Giới thiệu những vấn đề cơ bản của lí thuyết Tự sự học hiện đại đặc biệt là những phương diện về trần thuật. Song song với việc biên dịch, giới thiệu, việc vận dụng lí thuyết Tự sự học vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và triển khai một cách sâu rộng. Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu công phu 20 năm (19812001) của GS Trần Đình Sử mang tên Thi pháp truyện Kiều. Công trình Những vấn đề thi pháp của truyện của tác giả Nguyễn Thái Hòa xuất bản năm 2000. Năm 2008, tác giả Đào Duy Hiệp cho ra mắt tác phẩm Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại. Ở quy mô nhỏ hơn lí thuyết Tự sự học đã được các tác giả vận dụng khi tìm hiểu các tác phẩm trong và ngoài nước in trên các báo, tạp chí và đặc biệt là in chung trong hai cuốn sách Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử do nhà xuất bản Đại học Sư phạm phát hành. Ngoài ra lý thuyết Tự sự học cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ đã cho thấy Tự sự học ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu nước nhà.Tự sự học là môn khoa học rất phức tạp bao gồm nhiều vấn đề do đó dẫn tới sự phong phú trong các đề tài nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu có thể chọn nhiều cách thức khác nhau như chọn một vấn đề trong cấu trúc tự sự (người kể chuyện, cốt truyện, kết cấu, không gian, thời gian…) hoặc có thể tổng hợp nhiều vấn đề (nghệ thuật tự sự, thế giới nghệ thuật…). Tuy nhiên nghiên cứu Tự sự học ở Việt Nam chủ yếu tập trung ởTự sự học văn học rất ít đề tàimở rộng nghiên cứu Tự sự học trong các lĩnh vực khác đặc biệt là Tự sự học điện ảnh. Vì vậy Tự sự học điện ảnh chưa được ý thức rõ là một môn khoa học riêng biệt, nó chỉ được coi như sự mở rộng của Tự sự học văn học mà thôi. 2.2. Điện ảnh xuất hiện khi các loại hình nghệ thuật khác như văn chương, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa, sân khấu đã phát triển đến độ chín. Vì vậy điện ảnh có cơ hội kế thừa, tiếp thu những phương tiện nghệ thuật sẵn có đồng thời tự tạo cho mình những kỹ thuật và phương pháp biểu hiện mới, hiện đại và phong phú. Thành công của tác phẩm điện ảnh là thành công của sự kết hợp nhuần nhuyễn và tuyệt vời giữa các loại hình nghệ thuật cùng với các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong các loại hình nghệ thuật thì văn học và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt ngay từ những ngày đầu điện ảnh mới hình thành. Mối quan hệ giữa văn học và điệnảnh thể hiện rõ nhất qua hiện tượng phim chuyển thể. Chưa ai có thể thống kê nổi con số khổng lồ về những tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim. Chỉ biết rằng hầu hết các tác phẩm văn chương ưu tú của các dân tộc khác nhau, các thời đại khác nhau đều đã một lần hoặc hơn một lần được sống đời sống thứ hai trong ngôi nhà của nàng Muydơ thứ 7. Mặc dù phim chuyển thể xuất hiện từ sớm cùng với sự phát triển của điện ảnh nhưng lí thuyết về nó thì chưa nhiều chủ yếu là xuất hiện rải rác trên các báo, tạp chí. Nói về hiện tượng chuyển thể trước hết phải kể đến công trình “Bàn về cải biên tiểu thuyết thành phim” của Hạ Diễn, Mao Thuẫn và Dương Thiên Hỷ. Trong tác phẩm đó các tác giả đã bàn về các vấn đề montage, âm thanh trong điện ảnh đặc biệt là sự chuyển thể từ tiểu thuyết sang kịch bản điện ảnh. Tác phẩm đã cung cấp những hiểu biết cơ bản để chuyển thể một cuốn tiểu thuyết thành phim. Tác giả Nguyễn Mai Loan có bài “Các cấp độ chuyển thể” in trên Tạp chí Điện ảnh ngày nay số 124 năm 2005. Trong bài, người viết đã thể hiện những hiểu biết sâu sắc về hiện tượng chuyển thể và khẳng định xu hướng chuyển thể sát nguyên bản vẫn được số đông các nhà điện ảnh Việt Nam ưa chuộng từ xưa tới nay. Đi vào cụ thể hơn của hiện tượng chuyển thể trong một bài viết khác mang tiêu đề“Phim chuyển thể tiểu thuyết” đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 6 năm 2005 tác giả Nguyễn Mai Loan đã đi tới khẳng định “khi chuyển thể các nhà làm phim phải nỗ lực tìm sự tương đương từ các từ ngữ đến hình ảnh…phải nắm được phong cách của tiểu thuyết, nhà làm phim phải đưa được hơi thở của cuộc sống ẩn sâu trong văn bản tự sự lên màn ảnh lớn” 40;76 Nhìn từ lí thuyết liên văn bản tác giả Lê Thị Dương có bài “Vấn đề chuyển thể văn học – điện ảnh từ góc độ liên văn bản” (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 11012). Đây là bài viết thể hiện cái nhìn bao quát sâu rộng về hiện tượng chuyển thể. Cung cấp cho người đọc những hiểu biết căn bản về hiện tượng chuyển thể là gì, các cấp độ của chuyển thể, montage – thủ pháp đặc trưng trong điện ảnh. Ngoài ra chuyển thể văn học sang điện ảnh đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, trong các luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp tiêu biểu như: luận án “Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh” của Phan Bích Thủy, ĐHSP thành phố HCM; luận văn thạc sĩ “Vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự) của Đỗ Thị Ngọc Diệp, ĐH KHXHNV; Trong khóa luận tốt nghiệp“Bước đầu tìm hiểu hoạt động chuyển thể tác phẩm văn học trong sáng tạo điện ảnh (Khảo sát qua một số bộ phim Việt Nam đương đại) của Nguyễn Thu Hồng, ĐHSPHN… 2. 3. Tác phẩm “Thời xa vắng” và phim chuyển thể cùng tên Lê Lựu viết Thời xa vắng từ 1984 nhưng đến 1986 tác phẩm mới ra mắt độc giả. Từ khi ra đời đến nay tác phẩm đã được tái bản nhiều lần. Ban đầu nó là đối tượng tranh luận sôi nổi của giới phê bình sau đã trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học chuyên sâu. Theo dõi qúa trình nghiên cứu nhìn chung Thời xa vắng được giới chuyên môn đánh giá cao.Họ đều khẳng định những đóng góp lớn lao của Lê Lựu và vị trí quan trọng của tác phẩm trong tiến trình vận động và phát triển của văn xuôi nước nhà thời kì đổi mới. Tiêu biểu là các bài viết: Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một “Thời xa vắng” của Nguyễn Văn Lưu; Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của mình của Đỗ Tất Thắng; Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến; Suy tư từ một “Thời xa vắng” của Nguyễn Hòa; Một đóng góp vào việc nhận diện con người Việt Nam hôm nay của Vương Trí Nhàn; Lê Lựu thời xa vắng của Đinh Quang Tốn; Thời xa vắng một tâm sự nóng bỏng của Lê Thành Nghị…Các nhà phê bình đã nhận thấy trong tác phẩm này có “cách nhìn hiện thực mới”, vấn đề đặt ra trong tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc đó là nhu cầu nhận thức lại thực tại. Tác phẩm đã thẳng thắn đề cập đến những mặt trái, mặt xấu của xã hội, điều mà trước năm 1975 văn xuôi của ta không dám nói, chưa được nói do nhu cầu của lịch sử cũng như sự vận động của thực tại đời sống. Lê Lựu cũng như các nhà văn cùng thời đã chú ý lắng nghe những âm thanh của cuộc đời để thể hiện sinh động hơn, tập trung hơn trong tác phẩm của mình. Đánh giá về tác phẩm này nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lưu đã nhận định: “Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển biến trong cách nhìn nhận và đánh giá lại thực tại” 42;588. Tác phẩm đã “khoan thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiều điều lâu nay chúng ta không nói tới”20;604. Nói về cuốn tiểu thuyết của mình Lê Lựu đã từng bộc bạch: “Cả một thời kỳ dài từ những năm đầu chiến tranh cho đến những năm đầu 80 người ta không nói đến cái bi kịch riêng. Tôi muốn viết về một cá nhân, một cuộc đời cụ thể với niềm hạnh phúc và nỗi đau khổ, có cái được và cái mất”. Tuy nhiên để làm nên tiếng vang cho Thời xa vắng không thể không kể đến những đóng góp nổi bật trên khía cạnh nghệ thuật. Tác giả Hoàng Ngọc Hiến đặc biệt chú ý đến cách sử dụng các câu văn “lùa thùa có khi mềm và rối như bún nhưng lại rất được” 17;603 của Lê Lựu; PGS La Khắc Hòa lại quan tâm đến vấn đề người trần thuật của cuốn tiểu thuyết:“…lúc nào nó cũng lắm lời, lời kể của nó đã lùa thùa, dài dòng mà cái luận đề lộ rất rõ…”34;66. Bên cạnh đó giọng văn trần thuật cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Thiếu Mai cho rằng “cách nhìn thấu đáo của anh, tấm lòng thiết tha của anh đã thể hiện đầy đủ ở giọng văn, giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được vẻ đầm ấm chân tình, vừa khách quan không thêm bớt tô vẽ đặc biệt là không cay cú, chính giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phục hấp dẫn của tác phẩm”51;344. Cũng nhận xét về giọng văn PGS La Khắc Hòa lại tìm thấy ở tác phẩm chính là giọng giễu nhại rất độc đáo. Ông viết như sau: “Nó không cần sử dụng những thủ pháp lạ hóaquen thuộc như phóng đại hay vật hóa hình ảnh con người để làm nổ ra tiếng cười. Nó chỉ đơn giản thuật lại những chuyện “thật như đùa” mà đã có thể tạo ra được một hình tượng giễu nhại. Nhờ thế lời văn của Thời xa vắng khi thì như bông đùa lúc lại xót xa, chì chiết nhưng giễu nhại bao giờ cũng là giọng chủ đạo của nó”34;67. Mặc dù các ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại đều thống nhất cho rằng Thời xa vắng là một tác phẩm “đi tìm lại những giá trị từng bị đánh mất, từng bị lãng quên” là sự khái quát lịch sử bằng số phận của một cá nhân. Tác phẩm xứng đáng đưa Lê Lựu trở thành người tiên phong trong quá trình đổi mới nền văn học dân tộc. Gần đây một số báo cáo khoa học, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu các khía cạnh của cuốn tiểu thuyết như: Thời xa vắng của Lê Lựu và tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1975 (Thái Thị Mỹ Bình, ĐHSPHN), Đối thoại trong ba tiểu thuyết: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng) và Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) của Phạm Thị Thúy Vinh, ĐHSPHP… Nhận ra được ý nghĩa sâu sắc ấy của tác phẩm đạo diễn Hồ Quang Minh đã quyết tâm chuyển thể cho nó sống đời sống thứ hai ở lĩnh vực điện ảnh. Đồng thời cũng là để hoàn thiện bộ ba phim nói về chủ đề thân phận con người trong và sau chiến tranh ở Việt Nam qua ba miền đất nước như mong muốn của ông:Con thú tật nguyền, Bụi hồng và Thời xa vắng. Bộ phim Thời xa vắng ngay từ khi khởi quay đã gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí, về tuyển chọn diễn viên, về xây dựng bối cảnh…trong quá trình quay phim. Tuy nhiên bằng sự nỗ lực hết mình của đạo diễn, sự giúp đỡ tận tình của nhà văn Lê Lựu, sự cố gắng của cả đoàn làm phim cuối cùng bộ phim cũng hoàn thành và đưa vào công chiếu gây được tiếng vang trong lòng khán giả và sự quan tâm của giới báo chí. Hàng loạt các bài viết về bộ phim như: Lận đận Thời xa vắng (Thanh Tân); Thời xa vắng –“mối nhân duyên”giữa nhà văn Lê Lựu và đạo diễn Hồ Quang Minh của Bùi Huyền Dung; Một thoáng với đoàn làm phim Thời xa vắng của Bùi Thị Huyền;Nhà văn Lê Lựu với phim Thời xa vắng của Phan Thúy Thảo; Gặp tác giả Thời xa vắng của Lê Lương Giang, Thời xa vắng – bộ phim chắp cánh cho văn học thăng hoa của Phan Bích Thủy…Tuy nhiên các bài viết chỉ mang tính chất như các bài phỏng vấn hay bài nghiên cứu nhỏ lẻ chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu nghiêm túc về bộ phim dưới khía cạnh của khoa học chuyên sâu. Mặc dù vậy có một điểm chung đó là giới chuyên môn có đánh giá cao về bộ phim, một trong số đó là nhà phê bình Ngô Minh Nguyệt,tác giả đã từng khẳng định như sau: “Thời xa vắng làm sống dậy bức tranh quê hồn hậu với những con người bình dị đã sống cách chúng ta nửa thế kỷ, những phong tục, lối sống…Thời xa vắng trau chuốt trong từng cảnh quay với những khuôn hình đẹp. Thời xa vắng cũng làm người xem day dứt, se lòng trước những đau thương của nhân vật truyện”. “Thông qua tấn bi kịch của cuộc đời Sài từ khi mới lên mười đến lúc về già là cả bức tranh xã hội hiện lên chân thực. Đây là chủ kiến của đạo diễn khi ông nói rằng với bộ phim Thời xa vắng ông coi trọng yếu tố chân rồi mới đến thiện và mỹ. Cái không khí thời đại ẩn vào trong từng nếp nghĩ, chi phối đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất”55;4.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Văn Hiểu,
người thầy đã tận tình hướng dẫn, khích lệ, động viên và cho tôi nhiều ý kiếnquý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo bộ môn
Lí luận văn học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, phòng sau đại học, phòngkhoa học, Trung tâm thư viện – Trường Đại học sư phạm Hà Nội, giúp đỡ vàtạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện côngtrình nghiên cứu của mình
Xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đã ở bên cạnh độngviên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học và luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm thị Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lch sử vấn đề 3
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Đóng góp mới và những khó khăn khi thực hiện đề tài 12
6 Cấu trúc của luận văn: 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỰ SỰ HỌC VĂN HỌC VÀ TỰ SỰ HỌC ĐIỆN ẢNH 14
1.1.Tự sự và Tự sự học 14
1.1.1.Tự sự 14
1.1.2 Tự sự học 18
1.2 Tự sự học điện ảnh 26
1.2.1 Sự ra đời của phim tự sự (film narrativ) 26
1.2.2 Tự sự học điện ảnh 28
Tiểu kết 39
CHƯƠNG 2: NGƯỜI TRẦN THUẬT TRONG “ THỜI XA VẮNG” (TỪ TIỂU THUYẾT ĐẾN PHIM CHUYỂN THỂ) 40
2.1 Người trần thuật trong tiểu thuyết “Thời xa vắng” 40
2.1.1 Trần thuật khách quan với sự phối hợp nhiều điểm nhìn 40
2.1.2 Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Thời xa vắng 51
2.2 Người trần thuật trong phim Thời xa vắng 61
2.2.1 Điểm nhìn trần thuật 62
Trang 52.2.2 Giọng điệu trần thuật 70
Tiểu kết 77
CHƯƠNG 3: KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TỰ SỰ TRONG “THỜI XA VẮNG” (TỪ TIỂU THUYẾT ĐẾN PHIM CHUYỂN THỂ) 78
3.1 Không gian tự sự trong Thời xa vắng (từ tiểu thuyết đến phim chuyển thể) 79
3.1.1 Không gian tự sự trong tiểu thuyết Thời xa vắng 79
3.1.2 Không gian tự sự trong phim chuyển thể Thời xa vắng 87
3.2.Thời gian tự sự trong Thời xa vắng (từ tiểu thuyết đến phim chuyển thể) 92
3.2.1 Thời gian tự sự trong tiểu thuyết Thời xa vắng 93
3.2.2 Thời gian tự sự trong phim chuyển thể Thời xa vắng 110
Tiểu kết 121
PHẦN KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 6là nghiễm nhiên mặc định nó là Tự sự học văn học Trên thực tế, Tự sự học vănhọc chỉ là một bộ phận phát triển tương đối sớm của Tự sự học nói chung.Không chỉ cần thiết mở rộng nghiên cứu tự sự trong điện ảnh, mà còn nghiên cứ
tự sự trong nhiều loại hình nghệ thuật khác Trên thế giới, nghiên cứu tự sự điệnảnh gần như diễn ra đồng thời với nghiên cứu tự sự văn học, nhưng ở Việt Nam,
tự sự điện ảnh đến nay chưa được quan tâm đúng mức
Điện ảnh tuy là một bộ môn nghệ thuật sinh sau đẻ muộn nhưng đãnhanh chóng bước lên đài cao của một bà hoàng nghệ thuật do nó có khả năngtổng hợp những tinh hoa của các nghệ thuật khác và tự tạo cho mình nhữngphương tiện diễn đạt riêng với một phong cách riêng Tuy nhiên trên thực tếkhông có một loại hình nào tồn tại một cách độc lập riêng lẻ mà chúng luôn
có sự tương tác, ảnh hưởng qua lại với nhau Trong mối quan hệ qua lại ấy thìvăn học và điện ảnh luôn nhận được sự ưu ái đặc biệt đúng như nhà văn, nhàlàm phim Cao Hành Kiện (Trung Quốc) đã khẳng định “Điện ảnh cũng là văn
Trang 7học”.Vì vậy kể từ khi nghệ thuật điện ảnh ra đời đến nay việc chuyển thểnhững tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh, cho nó tồn tại ở một đờisống mới đã trở thành phổ biến, trong đó có nhiều bộ phim đã trở thành kinhđiển Tuy nhiên phim chuyển thể không bao giờ là “bản sao” của tác phẩmvăn học gốc Tác phẩm văn học khi đi vào môi trường điện ảnh luôn có nhữngbiến đổi nhất định để phù hợp với ngôn ngữ điện ảnh, phù hợp với phươngthức tự sự của điện ảnh.Chính vì vậy, dưới góc độ Tự sự học nghiên cứu sựbiến đổi tự sự từ văn học tới điện ảnh thông qua hiện tượng phim chuyển thể
sẽ góp phần làm sáng tỏ quan hệ giữa văn học và điện ảnh, quy tắc chuyểnthể, cũng như đặc trưng của tự sự văn học và tự sự điện ảnh
Thời xa vắng của Lê Lựu ngay từ khi ra đời đã được bạn đọc nồng nhiệt
đón nhận và giới phê bình chú ý không phải chỉ vì nó có giá trị nhân đạo sâu sắc,tính thời sự nóng bỏng mà nó còn mang trong mình chất điện ảnh ngồn ngộn Đócũng là lí do khiến đạo diễn Hồ Quang Minh chú ý tới cuốn tiểu thuyết này vàsau 16 năm thai nghén trải qua biết bao thăng trầm, năm 2003 bộ phim truyệnnhựa chuyển thể đã đưa vào công chiếu đáp ứng lòng mong đợi của triệu triệukhán giả Bộ phim được Hội điện ảnh Việt Nam trao giải Cánh diều bạc năm
2005 (không có giải cánh diều vàng).Cho nên, tác văn học và tác phẩm điện ảnh
Thời xa vắng là một cơ sở tốt để thể nghiệm những vấn đề lí thuyết trên.
Từ những lí do trên chúng tôi nhận thấy việc vận dụng lý thuyết Tự sựhọc để nghiên cứu vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh
là cần thiết Tuy nhiên vấn đề Tự sự học trong văn học và trong điện ảnh rất rộng
và sâu mà chúng tôi chỉ là những người đang học hỏi, dò dẫm những bước điđầu tiên cho nên chỉ xin tập trung vào một vài khía cạnh đặc trưng nhất cho cả
Tự sự học văn và Tự sự học điện ảnh.Vì thế chúng tôi quyết định chọn đề tài “ Thời xa vắng” – từ văn học đến điện ảnh ( dưới góc nhìn Tự sự học) với hi
vọng sẽ góp được một phần nhỏ vào hướng tiếp cận liên ngành này
Trang 82 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Tự sự học ở Việt Nam
Trên thế giới, Tự sự học từ lâu đã không còn là thuật ngữ xa lạ, những vấn
đề về lý thuyết đã được định hình thành hệ thống và Tự sự học ngày càng được
mở rộng và phát triển Với những ưu điểm của mình Tự sự học ngày càng khẳngđịnh vai trò quan trọng trong việc khám phá lí giải thế giới nghệ thuật ngôn từ
Mặc dù thế giới đã đi qua hai giai đoạn của Tự sự học: Tự sự học kinhđiển và Tự sự học hậu kinh điển nhưng ở Việt Nam Tự sự học vẫn còn là mộthướng nghiên cứu hết sức mới mẻ Các vấn đề về dịch thuật, các khái niệmtrong cấu trúc truyện kể như điểm nhìn trần thuật, ngôi kể, phối cảnh trầnthuật …vẫn còn phức tạp chồng chéo gây nhiều tranh cãi đặc biệt là các côngtrình quan trọng của ba nhà Tự sự học lớn R.Barthes, G.Genette, T.Todorovvẫn chưa được dịch thuật một cách hệ thống Hội thảo Tự sự học đầu tiên dokhoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội tổ chức vào năm 2001 (với 76bản tham luận của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường đại học và cơquan nghiên cứu văn học trên cả nước tham gia) và tiếp đó là việc xuất bảncông trình: Tự sự học –một số vấn đề lí luận và lịch sử (Nxb Đại học sư phạm
Hà Nội, 2003) đã đánh dấu mốc son chính thức ghi nhận sự xuất hiện của Tự
sự học ở nước ta Sau bảy năm, xuất phát từ nhu cầu lí luận, thực tiễn năm
2008 khoa Ngữ văn tiếp tục tổ chức hội thảo Tự sự học lần thứ với 62 bảntham luận Bên cạnh các bài viết giới thiệu lí thuyết Tự sự học ở nhiềuphương diện còn có các bài viết mang tính ứng dụng cao Hai cuộc hội thảo
đã cho thấy tình hình nghiên cứu Tự sự học ở nước ngoài cũng như ở ViệtNam Có thể coi đây là một hoạt động khoa học quan trọng trong việc xâydựng tiền đề cho ngành Tự sự học ở nước ta
Năm 2010 ban Văn học nước ngoài của Viện văn học đã triển khai thực
hiện đề tài Tự sự học, lí luận và ứng dụng Công trình khoa học này tập trung
Trang 9nghiên cứu tự sự từ những vấn đề lịch sử, lí thuyết đến ứng dựng ở một sốnền văn học như Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ và chủyếu là ở Việt Nam Một phần các kết quả nghiên cứu đó (Với 10 mục bàiđược lựa chọn bao gồm cả hai phần lí thuyết và ứng dụng ) đã được tuyển tập
trong chuyên đề Tự sự học in trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 9 năm
2010 Có thể khẳng định rằng công trình khoa học của Viện văn học đã gópphần to lớn tạo nên sự phát triển của ngành khoa học còn khá mới mẻ này
Hiện nay GS Trần Đình Sử chủ nhiệm một đề tài lớn, đầy đủ và toàndiện về Tự sự học mang tên Nafosted tuy nhiên đề tài vẫn đang trong quátrình hoàn thiện Cho nên xét trên những tài liệu đã được công bố thì có thểthấy tuy đến Việt Nam khá muộn nhưng Tự sự học đã được các nhà khoa họcnước ta đón nhận và hưởng ứng rộng rãi với một tâm thế chủ động và bướcđầu đã gặt hái được những thành công đáng trân trọng
Trước hết các nhà nghiên cứu của ta đã nỗ lực dịch và giới thiệu nhữngvấn đề lý thuyết Tự sự học trên các phương diện như lịch sử phát triển, các xuhướng, các khái niệm Tự sự học đương đại…Có thể kể đến các công trình
dịch thuật như Độ không của lối viết của R.Barthes do Nguyên Ngọc dịch; Cơ
sở của kí hiệu học của R.Barthes do Trịnh Bá Đĩnh trích dịch; Thi pháp văn xuôi của T.Todorov do Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch; Dẫn luận về Tự
sự học của Susanna Onega và J.A.Garcia Landa do Lê Lưu Oanh và Nguyễn
Đức Nga dịch; Diễn ngôn mới của truyện kể của G.Genette do Lê Phong Tuyết trích dịch; Hai nguyên tắc của truyện kể của T.Todorov do Phùng Ngọc Kiên dịch; Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể của Roland Barthes do Tôn Quang Cường dịch; Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên
cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX của nhóm những nhà nhiên cứu Nga
do Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân dịch Những nghiên cứu
trên mang ý nghĩa chủ yếu là giới thiệu lí thuyết Tự sự học dù bước đầu còn mới
Trang 10mẻ và ở các cấp độ khác nhau nhưng nhìn chung khá chi tiết và chuyên sâu.Vấn
đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung vào một số điểm cơ bản sau đây:1/Lịch sử quá trình phát triển và mục đích của Tự sự học khi xác định văn họcnhư là đối tượng nghiên cứu cơ bản và chủ yếu, xác định thuật ngữ, chọn dùngkhái niệm Tự sự học; 2/ Giới thiệu những vấn đề cơ bản của lí thuyết Tự sự họchiện đại đặc biệt là những phương diện về trần thuật
Song song với việc biên dịch, giới thiệu, việc vận dụng lí thuyết Tự sựhọc vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam ngày càng được quan tâm và triểnkhai một cách sâu rộng Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu công
phu 20 năm (1981-2001) của GS Trần Đình Sử mang tên Thi pháp truyện
Kiều Công trình Những vấn đề thi pháp của truyện của tác giả Nguyễn Thái
Hòa xuất bản năm 2000 Năm 2008, tác giả Đào Duy Hiệp cho ra mắt tác
phẩm Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại.
Ở quy mô nhỏ hơn lí thuyết Tự sự học đã được các tác giả vận dụng khitìm hiểu các tác phẩm trong và ngoài nước in trên các báo, tạp chí và đặc biệt
là in chung trong hai cuốn sách Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử do
nhà xuất bản Đại học Sư phạm phát hành Ngoài ra lý thuyết Tự sự học cũngtrở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ đã cho thấy Tự sựhọc ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu nước nhà.Tự sựhọc là môn khoa học rất phức tạp bao gồm nhiều vấn đề do đó dẫn tới sựphong phú trong các đề tài nghiên cứu Các nhà nghiên cứu có thể chọn nhiềucách thức khác nhau như chọn một vấn đề trong cấu trúc tự sự (người kểchuyện, cốt truyện, kết cấu, không gian, thời gian…) hoặc có thể tổng hợpnhiều vấn đề (nghệ thuật tự sự, thế giới nghệ thuật…)
Tuy nhiên nghiên cứu Tự sự học ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở Tự sựhọc văn học rất ít đề tài mở rộng nghiên cứu Tự sự học trong các lĩnh vựckhác đặc biệt là Tự sự học điện ảnh Vì vậy Tự sự học điện ảnh chưa được ý
Trang 11thức rõ là một môn khoa học riêng biệt, nó chỉ được coi như sự mở rộng của
Tự sự học văn học mà thôi
2.2 Điện ảnh xuất hiện khi các loại hình nghệ thuật khác như vănchương, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, múa, sân khấu đã phát triển đến độ chín
Vì vậy điện ảnh có cơ hội kế thừa, tiếp thu những phương tiện nghệ thuật sẵn
có đồng thời tự tạo cho mình những kỹ thuật và phương pháp biểu hiện mới,hiện đại và phong phú Thành công của tác phẩm điện ảnh là thành công của
sự kết hợp nhuần nhuyễn và tuyệt vời giữa các loại hình nghệ thuật cùng vớicác ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ Trong các loại hình nghệ thuật thìvăn học và điện ảnh có mối quan hệ đặc biệt ngay từ những ngày đầu điệnảnh mới hình thành
Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh thể hiện rõ nhất qua hiện tượngphim chuyển thể Chưa ai có thể thống kê nổi con số khổng lồ về những tácphẩm văn học được chuyển thể thành phim Chỉ biết rằng hầu hết các tácphẩm văn chương ưu tú của các dân tộc khác nhau, các thời đại khác nhauđều đã một lần hoặc hơn một lần được sống đời sống thứ hai trong ngôi nhàcủa nàng Muydơ thứ 7 Mặc dù phim chuyển thể xuất hiện từ sớm cùng với
sự phát triển của điện ảnh nhưng lí thuyết về nó thì chưa nhiều chủ yếu là xuấthiện rải rác trên các báo, tạp chí
Nói về hiện tượng chuyển thể trước hết phải kể đến công trình “Bàn về
cải biên tiểu thuyết thành phim” của Hạ Diễn, Mao Thuẫn và Dương Thiên
Hỷ Trong tác phẩm đó các tác giả đã bàn về các vấn đề montage, âm thanhtrong điện ảnh đặc biệt là sự chuyển thể từ tiểu thuyết sang kịch bản điện ảnh.Tác phẩm đã cung cấp những hiểu biết cơ bản để chuyển thể một cuốn tiểuthuyết thành phim
Tác giả Nguyễn Mai Loan có bài “Các cấp độ chuyển thể” in trên Tạp
chí Điện ảnh ngày nay số 124 năm 2005 Trong bài, người viết đã thể hiện
Trang 12những hiểu biết sâu sắc về hiện tượng chuyển thể và khẳng định xu hướngchuyển thể sát nguyên bản vẫn được số đông các nhà điện ảnh Việt Nam ưachuộng từ xưa tới nay.
Đi vào cụ thể hơn của hiện tượng chuyển thể trong một bài viết khác
mang tiêu đề“Phim chuyển thể tiểu thuyết” đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ
thuật số 6 năm 2005 tác giả Nguyễn Mai Loan đã đi tới khẳng định “khi chuyển
thể các nhà làm phim phải nỗ lực tìm sự tương đương từ các từ ngữ đến hìnhảnh…phải nắm được phong cách của tiểu thuyết, nhà làm phim phải đưa đượchơi thở của cuộc sống ẩn sâu trong văn bản tự sự lên màn ảnh lớn” [40; 76]
Nhìn từ lí thuyết liên văn bản tác giả Lê Thị Dương có bài “Vấn đề
chuyển thể văn học – điện ảnh từ góc độ liên văn bản” (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/1012) Đây là bài viết thể hiện cái nhìn bao quát sâu rộng về
hiện tượng chuyển thể Cung cấp cho người đọc những hiểu biết căn bản vềhiện tượng chuyển thể là gì, các cấp độ của chuyển thể, montage – thủ phápđặc trưng trong điện ảnh
Ngoài ra chuyển thể văn học sang điện ảnh đã trở thành đối tượng nghiêncứu của nhiều công trình khoa học, trong các luận án, luận văn, khóa luận tốt
nghiệp tiêu biểu như: luận án “Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh” của Phan Bích Thủy, ĐHSP thành phố HCM; luận văn thạc sĩ “Vấn đề chuyển thể
tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh (từ góc nhìn tự sự) của Đỗ Thị Ngọc
Diệp, ĐH KHXH&NV; Trong khóa luận tốt nghiệp“Bước đầu tìm hiểu hoạt
động chuyển thể tác phẩm văn học trong sáng tạo điện ảnh (Khảo sát qua một
số bộ phim Việt Nam đương đại) của Nguyễn Thu Hồng, ĐHSPHN…
2 3 Tác phẩm “Thời xa vắng” và phim chuyển thể cùng tên
Lê Lựu viết Thời xa vắng từ 1984 nhưng đến 1986 tác phẩm mới ra mắt
độc giả Từ khi ra đời đến nay tác phẩm đã được tái bản nhiều lần Ban đầu nó
là đối tượng tranh luận sôi nổi của giới phê bình sau đã trở thành đối tượng
Trang 13nghiên cứu của khoa học chuyên sâu Theo dõi qúa trình nghiên cứu nhìn
chung Thời xa vắng được giới chuyên môn đánh giá cao Họ đều khẳng định
những đóng góp lớn lao của Lê Lựu và vị trí quan trọng của tác phẩm trongtiến trình vận động và phát triển của văn xuôi nước nhà thời kì đổi mới Tiêu
biểu là các bài viết: Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một “Thời xa vắng” của Nguyễn Văn Lưu; Mỗi người phải chịu trách nhiệm về nhân cách của
mình của Đỗ Tất Thắng; Đọc Thời xa vắng của Lê Lựu của Hoàng Ngọc
Hiến; Suy tư từ một “Thời xa vắng” của Nguyễn Hòa; Một đóng góp vào việc
nhận diện con người Việt Nam hôm nay của Vương Trí Nhàn; Lê Lựu thời xa vắng của Đinh Quang Tốn; Thời xa vắng - một tâm sự nóng bỏng của Lê
Thành Nghị…Các nhà phê bình đã nhận thấy trong tác phẩm này có “cáchnhìn hiện thực mới”, vấn đề đặt ra trong tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc đó lànhu cầu nhận thức lại thực tại Tác phẩm đã thẳng thắn đề cập đến những mặttrái, mặt xấu của xã hội, điều mà trước năm 1975 văn xuôi của ta không dámnói, chưa được nói do nhu cầu của lịch sử cũng như sự vận động của thực tạiđời sống Lê Lựu cũng như các nhà văn cùng thời đã chú ý lắng nghe những
âm thanh của cuộc đời để thể hiện sinh động hơn, tập trung hơn trong tácphẩm của mình Đánh giá về tác phẩm này nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lưu
đã nhận định: “Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và
chân thực quá trình chuyển biến trong cách nhìn nhận và đánh giá lại thực tại”[42; 588] Tác phẩm đã “khoan thủng các tấm màn vô hình che giấu nhiềuđiều lâu nay chúng ta không nói tới” [20; 604] Nói về cuốn tiểu thuyết củamình Lê Lựu đã từng bộc bạch: “Cả một thời kỳ dài từ những năm đầu chiếntranh cho đến những năm đầu 80 người ta không nói đến cái bi kịch riêng Tôimuốn viết về một cá nhân, một cuộc đời cụ thể với niềm hạnh phúc và nỗiđau khổ, có cái được và cái mất”
Trang 14Tuy nhiên để làm nên tiếng vang cho Thời xa vắng không thể không kể
đến những đóng góp nổi bật trên khía cạnh nghệ thuật Tác giả Hoàng NgọcHiến đặc biệt chú ý đến cách sử dụng các câu văn “lùa thùa có khi mềm và rốinhư bún nhưng lại rất được” [17; 603] của Lê Lựu; PGS La Khắc Hòa lại quantâm đến vấn đề người trần thuật của cuốn tiểu thuyết:“…lúc nào nó cũng lắm lời,lời kể của nó đã lùa thùa, dài dòng mà cái luận đề lộ rất rõ…” [34; 66]
Bên cạnh đó giọng văn trần thuật cũng được các nhà nghiên cứu quantâm Tác giả Thiếu Mai cho rằng “cách nhìn thấu đáo của anh, tấm lòng thiếttha của anh đã thể hiện đầy đủ ở giọng văn, giọng văn trầm tĩnh vừa giữ được
vẻ đầm ấm chân tình, vừa khách quan không thêm bớt tô vẽ đặc biệt là khôngcay cú, chính giọng văn như vậy đã góp phần đáng kể vào sức thuyết phụchấp dẫn của tác phẩm” [51;344] Cũng nhận xét về giọng văn PGS La KhắcHòa lại tìm thấy ở tác phẩm chính là giọng giễu nhại rất độc đáo Ông viếtnhư sau: “Nó không cần sử dụng những thủ pháp lạ hóa quen thuộc nhưphóng đại hay vật hóa hình ảnh con người để làm nổ ra tiếng cười Nó chỉ đơngiản thuật lại những chuyện “thật như đùa” mà đã có thể tạo ra được một hình
tượng giễu nhại Nhờ thế lời văn của Thời xa vắng khi thì như bông đùa lúc
lại xót xa, chì chiết nhưng giễu nhại bao giờ cũng là giọng chủ đạo của nó”[34;67] Mặc dù các ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại đều thống nhất cho
rằng Thời xa vắng là một tác phẩm “đi tìm lại những giá trị từng bị đánh mất,
từng bị lãng quên” là sự khái quát lịch sử bằng số phận của một cá nhân Tácphẩm xứng đáng đưa Lê Lựu trở thành người tiên phong trong quá trình đổimới nền văn học dân tộc
Gần đây một số báo cáo khoa học, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu các khía
cạnh của cuốn tiểu thuyết như: Thời xa vắng của Lê Lựu và tiến trình đổi mới văn
xuôi Việt Nam sau 1975 (Thái Thị Mỹ Bình, ĐHSPHN), Đối thoại trong ba tiểu
Trang 15thuyết: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng) và Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) của Phạm Thị Thúy Vinh, ĐHSPHP…
Nhận ra được ý nghĩa sâu sắc ấy của tác phẩm đạo diễn Hồ QuangMinh đã quyết tâm chuyển thể cho nó sống đời sống thứ hai ở lĩnh vực điệnảnh Đồng thời cũng là để hoàn thiện bộ ba phim nói về chủ đề thân phận conngười trong và sau chiến tranh ở Việt Nam qua ba miền đất nước như mong
muốn của ông:Con thú tật nguyền, Bụi hồng và Thời xa vắng.
Bộ phim Thời xa vắng ngay từ khi khởi quay đã gặp rất nhiều khó khăn
về kinh phí, về tuyển chọn diễn viên, về xây dựng bối cảnh…trong quá trìnhquay phim Tuy nhiên bằng sự nỗ lực hết mình của đạo diễn, sự giúp đỡ tậntình của nhà văn Lê Lựu, sự cố gắng của cả đoàn làm phim cuối cùng bộ phimcũng hoàn thành và đưa vào công chiếu gây được tiếng vang trong lòng khángiả và sự quan tâm của giới báo chí Hàng loạt các bài viết về bộ phim như:
Lận đận Thời xa vắng (Thanh Tân); Thời xa vắng –“mối nhân duyên”giữa nhà văn Lê Lựu và đạo diễn Hồ Quang Minh của Bùi Huyền Dung; Một thoáng với đoàn làm phim Thời xa vắng của Bùi Thị Huyền; Nhà văn Lê Lựu với phim Thời xa vắng của Phan Thúy Thảo; Gặp tác giả Thời xa vắng của Lê
Lương Giang, Thời xa vắng – bộ phim chắp cánh cho văn học thăng hoa của
Phan Bích Thủy…Tuy nhiên các bài viết chỉ mang tính chất như các bàiphỏng vấn hay bài nghiên cứu nhỏ lẻ chứ chưa có một công trình nào nghiêncứu nghiêm túc về bộ phim dưới khía cạnh của khoa học chuyên sâu Mặc dùvậy có một điểm chung đó là giới chuyên môn có đánh giá cao về bộ phim,một trong số đó là nhà phê bình Ngô Minh Nguyệt,tác giả đã từng khẳng định
như sau: “Thời xa vắng làm sống dậy bức tranh quê hồn hậu với những con
người bình dị đã sống cách chúng ta nửa thế kỷ, những phong tục, lối sống… Thời xa vắng trau chuốt trong từng cảnh quay với những khuôn hình đẹp.
Trang 16Thời xa vắng cũng làm người xem day dứt, se lòng trước những đau thương của nhân vật truyện” “Thông qua tấn bi kịch của cuộc đời Sài từ khi mới lên mười đến lúc về già là cả bức tranh xã hội hiện lên chân thực Đây là chủ kiến của đạo diễn khi ông nói rằng với bộ phim Thời xa vắng ông coi trọng yếu tố chân rồi mới đến thiện và mỹ Cái không khí thời đại ẩn vào trong từng nếp nghĩ, chi phối đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất”[55;4].
3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Bên cạnh đó chúng tôi hướng đến chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa vănhọc và điện ảnh thông qua khảo sát hiện tượng phim chuyển thể
Không những chỉ ra sự tương đồng, khác biệt trên phương diện tự sự
của tiểu thuyết Thời xa vắng và phim chuyển thể cùng tên mà còn thấy được
quy tắc chuyển đổi cấu trúc, phương thức tự sự từ tiểu thuyết sang điện ảnh
Từ đó lí giải sơ bộ sự thành công của Thời xa vắng ở cả phương diện tiểu
thuyết lẫn điện ảnh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự chuyển biến trên phương diện
tự sự từ văn học sang điện ảnh của Thời xa vắng.
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết Thời xa vắng của nhà văn
Lê Lựu (xuất bản năm 1986, Nxb Tác phẩm mới) và bộ phim Thời xa vắng
của đạo diễn Hồ Quang Minh (sản xuất năm 2005)
Trang 174 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương phápnghiên cứu sau đây:
4.1 Phương pháp nghiên cứu Tự sự học
Để tìm hiểu sự chuyển biến phương thức tự sự của Thời xa vắng từ tiểu
thuyết sang điện ảnh, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu của Tự sựhọc, tập trung vào các phạm trù cơ bản mà Tự sự học chú trọng nghiên cứunhư: Người trần thuật, tổ chức không gian, thời gian trần thuật… Cách triểnkhai nghiên cứu mà Tự sự học sử dụng đối với từng vấn đề cũng được chúngtôi sử dụng để tìm hiểu đối tượng nghiên cứu của mình
4.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Do đối tượng nghiên cứu đặc thù: sự chuyển đổi tự sự trong Thời xa vắng
từ tiểu thuyết đến điện ảnh, cho nên, ngoài phương pháp nghiên cứu Tự sự học,chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Điện ảnh và văn họcvừa có chỗ giao thoa vừa có điểm khác biệt, bản thân Tự sự học học văn học và
Tự sự học điện ảnh cũng có một mối dây ràng buộc không thể tách rời Tự sựhọc điện ảnh vừa sử dụng các thuật ngữ đã được sử dụng trong nghiên cứu Tự sựhọc văn học, lại vừa có những yếu tố rất riêng, những yếu tố này bị chi phối bởiđặc trưng của nghệ thuật điện ảnh Sử dụng phương pháp liên ngành sẽ làm nổibật mối quan hệ khăng khít giữa văn học và điện ảnh, đồng thời cũng thấy đượcnhững nét độc đáo của hai loại hình nghệ thuật này
Hai phương pháp trên kết hợp bổ sung cho nhau sẽ giúp cho việcnghiên cứu trở nên toàn diện hơn Bên cạnh đó luận văn cũng sẽ vẫn sử dụngcác thao tác nghiên cứu cơ bản là phân tích, so sánh, tổng hợp
5 ĐÓNG GÓP MỚI VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
5.1 Những đóng góp mới của luận văn
Tìm hiểu hiện tượng chuyển thể trên phương diện Tự sự học bước đầu chúngtôi làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa Tự sự học văn học và Tự sự học điện ảnh
Trang 18Từ đó chỉ ra mối quan hệ sâu sắc giữa văn học và điện ảnh trên phươngdiện tự sự Trên thực tế rất nhiều thành quả nghiên cứu của Tự sự học văn học
đã được vận dụng vào nghiên cứu Tự sự học điện ảnh
Từ lí thuyết chung chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu một tác phẩm cụ thể là
Thời xa vắng Lí giải được thành công của Thời xa vắng trên cả phương diện
văn học lẫn điện ảnh
5.2 Những khó khăn khi thực hiện đề tài
Lí thuyết Tự sự học vô cùng phức tạp, có Tự sự học kinh điển và Tự sựhọc hậu kinh điển Vận dụng lí thuyết Tự sự học vào tìm hiểu một tác phẩm
cụ thể đòi hỏi phải có thao tác khoa học tương đối tỉ mỉ, nhiều khi yêu cầulượng hóa thành một số thông số
Tự sự học điện ảnh là một vấn đề còn rất xa lạ với người Việt Nam, chonên người viết thiếu lí thuyết và ứng dụng dẫn đường, đây là trở ngại lớntrong quá trình thực hiện đề tài
Nghiên cứu liên ngành là hoạt động vốn không quen với người viết,hơn nữa khả năng về ngoại ngữ cũng rất hạn chế nên gặp rất nhiều khó khănkhi thực hiện đề tài
6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo luận văn triểnkhai trên các chương sau:
Chương 1: Khái quát về Tự sự học văn học và Tự sự học điện ảnh (26 trang)
Chương 2: Người trần thuật trong Thời xa vắng (từ văn học đến phim
chuyển thể) (38 trang)
Chương 3: Thời gian – không gian trong Thời xa vắng (từ văn học đến
phim chuyển thể) (43 trang)
Trang 19sự tái hiện đời sống thông qua việc miêu tả sự kiện Và “nhà thơ (tức nhà TĐS) chỉ có một việc là kể lại các sự kiện tự vận động và tự kết thúc” [67;236] Tác phẩm trữ tình là những tác phẩm thông qua sự bộc lộ tình cảm củatác giả mà phản ánh hiện thực “ở loại này tác giả trực tiếp bộc bạch nhữngcảm xúc và tình cảm yêu ghét của mình trước hiện thực đời sống” [67;236].Còn “tác phẩm kịch gồm các tác phẩm đem nhân vật lên sân khấu đểchúng tự biểu hiện qua hành động của chúng[67; 236] Dù là dựa trên tiêu chínào để phân chia thì điểm thống nhất của các nhà nghiên cứu vẫn là trong sốcác loại hình nghệ thuật thì tự sự được coi là một loại hình có khả năng nắmbắt và phản ánh cuộc sống tự do và sâu rộng nhất.
văn-Nếu như tác phẩm trữ tình phản ánh hiên thực trong sự cảm nhận chủquan về nó qua những cung bậc cảm xúc, tâm trạng thì tác phẩm tự sự lại tái
Trang 20hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan Tuy nhiên nói như vậy không cónghĩa tác phẩm tự sự chỉ đơn thuần là sự mô phỏng hiện thực khách quan củađời sống mà hiện thực ấy đã được cảm nhận qua lăng kính chủ quan của tácgiả do đó tư tưởng, tình cảm của nhà văn trong tác phẩm tự sự được thể hiệnqua các sự kiện và biến cố Vì vậy người đọc có cảm giác rằng hiện thực đượcphản ánh trong tác phẩm tự sự là tất cả những gì tồn tại xảy ra bên ngoài nhàvăn, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà văn Nguyên tắc phảnánh hiện thực trong tính khách quan đã đem đến cho tác phẩm tự sự khả năngbao quát, chiếm lĩnh hiện thực trong không gian và thời gian một cách linhhoạt.Thời gian đó có thể kéo dài cả đời người nhưng cũng có thể được co lạitrong vài ngày, vài tháng hay vài năm của nhân vật Không gian của tác phẩmcũng có thể hạn hẹp hoặc mở rộng tới vô cùng từ Đông sang Tây, từ đồngbằng tới miền ngược, từ địa ngục tới thiên đàng Bức tranh hiện thực toàncảnh mà tác phẩm tự sự mang lại cũng bộn bề, phức tạp, đa dạng như chínhbản thân sự tồn tại của đời sống con người.Từ những vấn đề khuôn vàngthước ngọc của triết học, đạo đức đến những lĩnh vực bao la rộng mở củakhoa học nghệ thuật; từ những cuộc giao tranh đẫm máu của lịch sử đếnnhững hình ảnh rực rỡ sắc màu của thiên nhiên; từ những vinh quang chói lọicủa bậc đế vương đến kết cục bi thảm của một thân phận thấp hèn…tất cả đềuđược ngòi bút của các tác giả tái hiện lại vô cùng sinh động trên trang giấy.
Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vicủa con người làm cho tác phẩm tự sự “trở thành câu chuyện về ai đó hay vềmột cái gì đó”[23;358] Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện vàgắn liền với cốt truyện là hệ thống nhân vật được khắc họa sinh động hơn hẳnnhân vật trong tác phẩm kịch và tác phẩm trữ tình Cốt truyện đó được thêudệt nên bởi “hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng bao gồm chi tiết
sự kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách,
Trang 21chi tiết nội thất, ngoại cảnh, phong tục, đời sống, văn hóa, lịch sử, lại còn có
cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng, hoang đường mà không nghệ thuậtnào tái hiện được”[23;385]
Đặc biệt trong các tác phẩm tự sự ngoài khả năng tái hiện bức tranhmang tính tổng thể của đời sống xã hội còn có khả năng khám phá số phậncủa những cá nhân Đối tượng của văn học nói chung và tác phẩm tự sự nóiriêng là con người với những suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng bên trong và cửchỉ, hành động bên ngoài Nguyễn Đình Thi từng cho rằng : “vấn đề trungtâm của nghệ thuật viết tiểu thuyết là miêu tả những con người và tìm hiểucon đường đi của họ trong xã hội Người viết tiểu thuyết nghĩ mỗi vấn đề đềuphải thông qua các nhân vật, xuất phát từ nhân vật hơn là từ sự việc…sự việcluôn quyện lấy con người không thể tách con người ra khỏi sự việc nhưngngười viết tiểu thuyết luôn luôn nhìn sự việc qua con người và đứng về phíacuộc đời của con người mà xem xét đánh giá mà miêu tả những sự việc trong
xã hội…Người viết tiểu thuyết cần phải biết rất rõ các sự việc song khôngphải hễ nắm được sự việc, dựng lên được một cái khung sự việc là đã xâydựng được cốt truyện Chỉ khi nào nhà văn tìm ra được ý nghĩa của sự việcđối với vận mệnh những con người và nhìn rõ được sự diễn biến của nhữngcon người tham gia vào sự việc ấy thì bấy giờ mới thực có cốt truyện để viếtthành tiểu thuyết”[70;123] Như vậy có thể khẳng định rằng trong tác phẩm tự
sự nhân vật chính là tâm điểm, là điểm tựa vững chắc để tác giả phản ánh hiệnthực khách quan đồng thời là nơi thể hiện tập trung tư tưởng và tình cảm củatác giả Nhân vật có thể được xây dựng từ những nguyên mẫu của đời sốngkết hợp với năng lực hư cấu sáng tạo của riêng nhà văn So với kí rõ ràng tácphẩm tự sự đã dành một đường biên không giới hạn cho khả năng tưởngtượng và sáng tạo của nhà văn đặc biệt là trong thể loại tiểu thuyết Nếu kíđược hình thành trên cơ sở từ một con người có thực, một bối cảnh có thực để
Trang 22xây dựng nên một hình tượng điển hình thì tác phẩm tự sự có thể xây dựngnên một điển hình nghệ thuật từ nhiều con người, nhiều bối cảnh thực khácnhau Trong vô vàn những gương mặt của cuộc sống đời thường, giữa muônngàn những biến cố của lịch sử tác giả chọn lọc, tổng hợp và sáng tạo để táihiện lại bức tranh đời sống Nói về điều này L.Tônxtôi đã chỉ ra rằng “cầnphải quan sát nhiều người cùng loại với nhau để xây dựng nên một kiểu ngườinhất định…nếu miêu tả một con người mà chỉ lấy một người thật làm mẫu thìkết quả sẽ là một cái gì đơn nhất, ngoại lệ và không thú vị”[14;194] Đọc cácsáng tác của Nam Cao hẳn chúng ta không thể quên một Chí Phèo lưu manh,một Lão Hạc nhân hậu, một giáo Thứ phải chịu cảnh “sống mòn”…Mỗingười một tính cách riêng, một số phận riêng nhưng họ đều là những điểnhình của văn học từ trang sách bước ra ngoài đời Và điều đặc biệt là nhữngcon người đó được nhà văn xây dựng nên từ những nguyên mẫu trong cuộcđời Họ là hình ảnh của những người dân làng Đại Hoàng nghèo khổ quêhương ông hay chính bản thân tác giả.
Không chỉ là một phương thức tái hiện đời sống,tự sự còn được hiểu làcách kể, cách trần thuật trong văn học.Trong tác phẩm tự sự trần thuật có vaitrò đặc biệt quan trọng, nó trở thành nhân tố tổ chức, tạo dựng nên thế giớinghệ thuật.Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi gọi là người trần thuật
Sự tồn tại này là một ước lệ nghệ thuật cho bất cứ một hình thức tự sự nào.Đây là loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra, là cầu nối
để tạo nên mối quan hệ khăng khít giữa nhân vật - người kể chuyện - độc giả.Muốn hiểu một sự vật nào đó người ta thường kể chuyện về sự vật đó Bảnchất của tự sự được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát rađơn phương trong quá trình giao tiếp Văn bản tự sự là cụm thông tin đượcphát ra và tự sự có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhưhội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh…Tự sự nằm trong bản chất của con
Trang 23người bởi con người là động vật biết tự sự Tự sự là nhu cầu thiết yếu để conngười nhận thức, lí giải và khám phá thế giới Nói về điều này Roland Barthes
đã khẳng định: “đã có bản thân lịch sử loài người thì đã có tự sự”, JonathanCuller cũng cho rằng: “tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết
sự vật” Nhưng theo GS Trần Đình Sử ngày nay tự sự không còn giản đơn làviệc kể chuyện mà là một phương pháp không thể thiếu để giải thích, lý giảiquá khứ, có nguyên lí riêng Do đó tự sự không chỉ được thể hiện trong tácphẩm văn học mà còn được sử dụng rộng rãi trong các bộ môn nghệ thuậtkhác Tuy nhiên trong các hình thức tự sự đa dạng của con người thì chỉ có tự
sự văn học là phức tạp hơn cả làm thành đối tượng chủ yếu của Tự sựhọc.Thực tế đã cho thấy từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học F.deSaussure, trường phái Praha, trường phái tân Aristote, triết học phân tích, kíhiệu học, chủ nghĩa cấu trúc không trường phái nào không quan tâm tới vấn
đề tự sự văn học mà ở đây cụ thể là vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết Bộmôn Tự sự học ra đời như một lẽ tất yếu, nó trở thành “một bộ phận cấu thànhcủa hệ hình lí luận hiện đại”, một phần không thể thiếu của hành trang nghiêncứu văn học hiện đại
1.1.2 Tự sự học
1.1.2.1 Cơ sở hình thành Tự sự học
Tự sự học có nguồn gốc và quá trình phát triển lâu đời, từ xa xưa thờiPlaton, Aristote người ta đã biết phân biệt các loại tự sự: tự sự lịch sử khác tự
sự nghệ thuật,tự sự mô phỏng, tự sự giải thích, tự sự hỗn hợp…tuy vậy phạm
vi quan tâm của nó không ngoài tu từ học Tự sự học với tư cách là bộ môn
khoa học đã ra đời vào khoảng năm 1966 được đánh dấu bằng bài viết Phân
tích cấu trúc của truyện kể in trên tờ báo Communications (Sự liên kết) của
Pháp Nhưng phải đến năm 1969 qua công trình Ngữ pháp câu chuyện mười
ngày của T.Todorov (nhà nghiên cứu người Pháp gốc Bungari) mới giúp cho
Trang 24ngành nghiên cứu tự sự từ trước tới nay có được cái tên chính thức và trởthành ngành khoa học nghiên cứu có tính độc lập vì nội hàm văn hóa củanó.Cũng từ đó lí luận tự sự đã trở thành vấn đề chủ yếu của nghiên cứu vănhọc Đồng thời “nó trở thành một bộ môn nghiên cứu liên ngành có tính chấtquốc tế và có vị trí ngày càng quan trọng trong khoa văn học và các khoa họcnhân văn”[65;12] Lí thuyết Tự sự học ngày nay đã cung cấp bộ công cụ cơbản, ưu việt giúp cho chúng ta đi sâu vào nghiên cứu tất cả các lĩnh vực củađời sống như giao tiếp, truyền thông, văn hóa Do đó nó trở thành bộ phận cấuthành hệ hình lí luận hiện đại.
Đặt nền móng cho những cơ sở lí thuyết ban đầu của Tự sự học làtrường phái hình thức Nga với một số tên tuổi tiêu biểu như V.Shklovski(1893-1984), B.Eikhembaum (1886-1959), B.Tomachevski (1890-1957)…Mặc dù không có chủ đích tìm hiểu riêng về nghệ thuật trần thuật song trongkhi chú ý đến “thủ pháp” nghệ thuật các nhà hình thức Nga bước đầu đề cậpđến nhiều phương diện cơ bản của lí thuyết tự sự, cụ thể là về các thành phần
và chức năng của tự sự
Về kết cấu tác phẩm V.Shklovski lưu ý đến thủ pháp đóng khung vàthủ pháp xâu chuỗi trong văn tự sự Nhìn từ góc độ hình thức trần thuậtB.Eikhenbaum làm rõ sự khác biệt giữa cấu trúc truyện ngắn và cấu trúc tiểu
thuyết Với tiểu luận mang tên Hệ chủ đề B.Tomachevski là một trong những
người đầu tiên đi sâu nghiên cứu các thủ pháp của cốt truyện Ông đã phân
biệt khái niệm truyện kể (fabula) và cốt truyện (sujet) trong tác phẩm tự sự Khi nói đến thời gian trần thuật tác giả phân biệt thời gian của truyện kể (khoảng thời gian diễn ra các biến cố) và thời gian trần thuật (khoảng thời
gian cần thiết để cảm nhận tác phẩm) Ngoài ra nhiều thủ pháp trong nghệthuật tổ chức thời gian giả (chữ dùng của G Genette sau này) cũng được tácgiả đề cập như trì hoãn, lặp lại, đảo ngược thời gian…V.Propp nghiên cứu cấu
Trang 25trúc và chức năng tự sự trong truyện cổ tích Bakhtin đã nghiên cứu mối quan
hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn từ trần thuật và tính đối thoại của nó…
Nếu chủ nghĩa hình thức Nga đặt những viên gạch đầu tiên cho líthuyết Tự sự học thì chủ nghĩa cấu trúc đã góp phần hình thành bộ môn Tự sựhọc với những tên tuổi tiêu biểu như R.Barthes, Tz.Todorov, A.J.Greimas,G.Genette…
Trong tác phẩm Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể (1966)
R.Barthes đã đề cập cụ thể tới những phương diện trọng yếu của nghệ thuậttrần thuật trong mối quan hệ với tác phẩm văn chương Tác giả cho rằng đểnhận ra yếu tố giữa người kể và người nghe cần thông qua việc miêu tả “mã”trong văn bản Đặc biệt R.Barthes quan tâm đến người kể chuyện và xem đây
là một “sinh thể giấy”
Tz.Todorov là một trong những người đầu tiên đề xuất thuật ngữ Tự sựhọc (Narratology) Dẫu những lí thuyết về truyện kể, về nghệ thuật trần thuậtkhông phải đến bây giờ mới xuất hiện, song với đề xuất của Todorov ngành
Tự sự học mới thực sự trở thành một khoa nghiên cứu có tính độc lập và cótên gọi chính thức Tuy không trực tiếp đề cập đến các lí thuyết Tự sự học
song Thi pháp văn xuôi của Todorov được xem là một trong những chuyên
luận sớm quan tâm đến vấn đề Tự sự học từ góc nhìn lí thuyết ứng dụng
G.Genette nhà lí luận, nhà phê bình lớn của Pháp đã có những đónggóp quan trọng đối với bộ môn Tự sự học Ông là một chuyên gia hàng đầu
về lí thuyết tự sự, là người đề xuất nhiều thuật ngữ quan trọng của lĩnh vực
Tự sự học Genette được biết đến chủ yếu trong các công trình Những hình
thái và Diễn ngôn mới của truyện kể Đặc biệt trong Diễn ngôn mới của truyện kể tác giả đã làm sáng rõ các phạm trù về ngôi, về trật tự Có thể khẳng
định rằng các vấn đề về tự sự như trật tự, tốc độ, tần xuất, ngôi, giọng điệu,tác giả, người kể chuyện, người nghe chuyện…mà Genette đã đề xuất thật sự
Trang 26hữu ích cho những ai quan tâm đến lí thuyết Tự sự học và vận dụng lí thuyếtnày để phân tích những tác phẩm văn học cụ thể.
1.1.2.2 Các giai đoạn phát triển của Tự sự học
Kể từ khi ra đời Tự sự học đã thu hút được sự chú ý của đông đảo các nhànghiên cứu, lí thuyết Tự sự học không ngừng được mở rộng và phát triển Nhìnlại quá trình hình thành của Tự sự học cho đến nay có thể nhận thấy nó đã trảiqua hai giai đoạn cơ bản là Tự sự học kinh điển và Tự sự học hậu kinh điển
Tự sự học kinh điển:
Trong giai đoạn đầu Tự sự học kinh điển đã “tập trung nghiên cứu cấutrúc của truyện, mối quan hệ của các sự kiện tạo nên truyện” [66; 9] Đây làhướng nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt mở ra một thời kì mới cho quá trình đi tìmhiểu văn bản tự sự Trước tiên phải kể đến vai trò to lớn những nhà hình thứcchủ nghĩa Nga như: Shklovski đã tiến hành phân biệt tích truyện (fabula) vớitruyện kể (siuzhet); B.Tomashevski nghiên cứu đơn vị mô típ và phân loại cácloại môtíp và đặc biệt là Propp nghiên cứu các chức năng và chuỗi các chứcnăng của hành động trong việc tạo thành tiến trình của truyện Sau các nhà hìnhthức Nga là các nhà Tự sự học Pháp nghiên cứu hệ thống cấu trúc bề sâu và cấutrúc bề mặt của truyện kể Tiêu biểu như Greimas nghiên cứu logic ngữ nghĩacủa truyện; Bremond nghiên cứu cấu trúc bề mặt của truyện; R.Barthes nghiêncứu cấu trúc, yếu tố của truyện; C.Levi-Strauss chỉ quan tâm khám phá cấu trúc
bề sâu, tĩnh tại của truyện để tìm ra nghĩa Đặc biệt Tz.Todorov với công trình
Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày” đã thể hiện rõ nét khuynh hướng nghiên
cứu của Tự sự học Theo ông “Tự sự học là lí luận về cấu trúc của tự sự Để pháthiện cấu trúc và miêu tả cấu trúc ấy người nghiên cứu tự sự đem hiện tượng tự
sự chia thành các bộ phận hợp thành, sau đó cố gắng xác định chức năng và mốiquan hệ qua lại của chúng” [Dẫn theo 66;9]
Trang 27Với việc lấy truyện kể làm đối tượng nghiên cứu các nhà cấu trúc chủnghĩa đã mang đến một cách tiếp cận mới cho lí luận văn học nói chung, giúpcho việc tìm hiểu tác phẩm tự sự được dễ dàng và mang tính chiều sâu Tuynhiên do chỉ tập trung chú ý vào hành động, sự kiện mà bỏ qua việc nghiêncứu cách kể, nhân vật và ý nghĩa của truyện vì thế cho nên đã rơi vào thời kìkhủng hoảng.
Thực tế cho thấy nghiên cứu sự kiện, hành động có rất nhiều hạn chếbởi cùng một chuyện mà có nhiều cách thức kể khác nhau và trở thành nhữngtruyện khác nhau Do đó để khắc phục tình trạng này bước phát triển thứ haicủa Tự sự học kinh điển là nghiên cứu lời kể,cách kể hay nói cách khác lànghiên cứu diễn ngôn tự sự Một trong số những nhà nghiên cứu đi theohướng này là G.Genette, tác giả đã tập trung nghiên cứu diễn ngôn trần thuật.Ông đã nêu ra ba phạm trù của diễn ngôn trần thuật như sau: thời thái (quan
hệ với thời gian), ngữ thức (quan hệ với cự li và góc độ trần thuật), ngữ thái(liên quan đến tình huống, quan hệ với người nhận trong trâng thuật) Ngoài
ra ông còn nghiên cứu các yếu tố như người kể,tụ điểm, giọng điệu,tần xuất…
Về vấn đề điểm nhìn, nhà nghiên cứu người Áo, F.Stanzel đã đề ra khái niệm
“tình huống kể” Thực ra đây là một tiêu chí để phân loại điểm nhìn,bao gồmtình huống kể theo ngôi thứ nhất, tình huống kể của người kể, tình huống kểcủa nhân vật Về giọng điệu kể, S.Lanser và James Phelan gắn với việc sửdụng các biện pháp tu từ Họ cho rằng để tăng hiệu quả diễn đạt trong giọngđiệu người kể chuyện phải sử dụng các biện pháp tu từ như một phương tiệnchủ yếu
Có thể thấy rằng đóng góp quan trọng của các nhà cấu trúc chủ nghĩa là
đã cung cấp một hệ thống các khái niệm công cụ rất hiệu quả để phân tíchdiễn ngôn tự sự, đồng thời đây cũng là tài sản vô giá để đọc hiểu văn bản tự
sự Tuy nhiên lí thuyết cấu trúc tự sự mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả các yếu
Trang 28tố hình thức cấu trúc tự sự trong thế tĩnh tại, khép kín mà chưa đi sâu tìm hiểu
cơ chế vận hành của tự sự trong ngữ cảnh tiếp nhận và văn hóa
Bước phát triển thứ ba của tự sự học cấu trúc là nghiên cứu kết hợp cấutrúc diễn ngôn và cấu trúc chuyện Đại diện tiêu biểu là Prince, S.Chatman và
đặc biệt là Mieke Bal Trong sách Trần thuật học – Dẫn luận lí luận tự sự
(1999) bà đã kết hợp nghiên cứu cấu trúc chuyện với văn bản M.Bal đã cócách định nghĩa về Tự sự học như sau: “Tự sự học là lí luận về trần thuật, vănbản trần thuật, hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản phẩm văn hóa
“kể chuyện”” [66;12] Từ đây bà chia tự sự thành ba tầng bậc, mỗi tầng lại cókhái niệm hạt nhân: văn bản tự sự (gồm người kể chuyện, trần thuật, bìnhluận phi trần thuật, miêu tả); chuyện kể (gồm trật tự sắp xếp, nhịp điệu, tầnxuất, từ người hành vi đến nhân vật, không gian, tiêu điểm); chất liệu (gồm sựkiện, kẻ hành vi, thời gian, địa điểm) Sự phân biệt thành các yếu tố như trênchỉ mang tính chất tương đối còn trên thực tế các yếu tố này xuyên thấm vàonhau trong chức năng và mục đích kể chuyện Công trình của M.Bal đã cungcấp một hệ thống khái niệm được định nghĩa khá chính xác và chặt chẽ, làmtiền đề cho các công trình nghiên cứu về tự sự
Hệ hình Tự sự học kinh điển trải qua quá trình phát triển đã xác lập chomình một chỗ đứng vững chắc khi đề cập đến những phương diện cơ bản, làchìa khóa để phân tích tác phẩm tự sự Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của
Tự sự học kinh điển là các tác phẩm giản đơn như truyện cổ tích, truyện kểthời Phục Hưng cho nên không thích hợp với các tác phẩm tự sự phức tạp Do
đó khi chủ nghĩa giải cấu trúc xuất hiện nhiều người đã dự đoán Tự sự họcvới tư cách là phân nhánh của chủ nghĩa cấu trúc sớm muộn cũng đi đến hồikết Thế nhưng nó vẫn là niềm hứng thú của nhiều học giả, năm 1993 tạp chí
Tự sự học ra đời, năm 1994 xuất hiện một loạt các công trình mới về Tự sự
học Nói về điều này David Herman đã khẳng định: “Tự sự học đã từ giai
Trang 29đoạn kinh điển của chủ nghĩa cấu trúc, một giai đoạn của Saussure vốn khá xacách đối với văn học đương đại - để bước sang giai đoạn hậu kinh điển”[66;7].Tự sự học hậu kinh điển ra đời đã cố gắng khắc phục những hạn chếcủa Tự sự học kinh điển giúp hoàn thiện hơn hệ thống lí thuyết đó.
Tự sự học hậu kinh điển:
Tự sự học hậu kinh điển xuất hiện vào những năm 80 khi Tự sự học kinhđiển bộc lộ những khuyết điểm của mình Đây là hướng nghiên cứu mở, “mở ravới người đọc, với ngữ cảnh và các lĩnh vực tự sự ngoài văn học” [66; 13]
Nếu như Tự sự học truyền thống chỉ đóng khung trong phạm vi văn họcthì sang đến Tự sự học kinh điển đối tượng đã mở rộng sang cả những hìnhthức tự sự ngoài văn học như lịch sử, báo chí , điện ảnh…Trên cái nhìn sosánh, Tự sự học kinh điển và Tự sự học hậu kinh điển có nhiều điểm khácbiệt, đây cũng là những bước tiến đánh dấu sự phát triển và hoàn thiện hơncủa lí thuyết Tự sự học Điều này thể hiện ở những điểm sau:
Về quan hệ tự sự và tiếp nhận: chủ nghĩa cấu trúc mới chỉ nghiên cứungữ pháp tự sự trong sự khép kín, tĩnh tại Điều này chỉ thích hợp với nhữngvăn bản đơn giản Trên thực tế “mặc dù trong văn bản tự sự người kể luônluôn dùng mọi cách để lũng đoạn, cầm tù người đọc song ở khâu tìm nghĩa thìvăn bản vẫn chịu sự chi phối của người đọc và ngữ cảnh” [66; 13] Từ vănbản tự sự, lí thuyết tự sự hậu kinh điển đã chuyển sang quá trình tiếp nhận tự
sự, xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc văn bản và người đọc Từ những năm
70 của thế kỷ trước, Todorov và Barthes đã bắt đầu nghiên cứu về vấn đề đọctác phẩm tự sự Như vậy tự sự ở đây được xem là một quá trình Không chỉdừng lại ở đó chủ nghĩa tự sự hậu kinh điển còn xem xét sự tác động qua lạigiữa hình thức tự sự và ngữ cảnh giải thích Bởi vì khi tiếp nhận một tác phẩmchúng ta không chỉ đơn giản dựa vào những quy tắc bên trong cấu trúc của tácphẩm ấy mà còn phải căn cứ vào quan hệ ngữ cảnh giữa tác giả - người kể -văn bản - người đọc để nhận biết nội dung và ý nghĩa của nó
Trang 30Đời sống văn học trên thế giới đang có những bước thay đổi khôngngừng Lí thuyết Tự sự học kinh điển đã tỏ rõ sự bất lực của nó khi không thể
áp dụng để phân tích các tác phẩm phức tạp Khắc phục những điều đó Tự sựhọc hậu kinh điển đã nghiên cứu từ những hiện tượng văn học phù hợp vớinhững quy ước chuyển sang hiện tượng văn học phá bỏ quy ước Điều này đãkhiến cho lí thuyết Tự sự học hậu kinh điển tỏ rõ được những ưu thế khi tìmhiểu văn học đương đại
Từ cấu trúc tự sự đồng đại, Tự sự học hậu kinh điển đã chuyển sangnghiên cứu cấu trúc tự sự lịch đại Hoàn cảnh xã hội, ngữ cảnh thời đại lànhững yếu tố tác động có thể dẫn đến sự thay đổi của cấu trúc tự sự Tự sựhọc hậu kinh điển đã mở rộng sự quan tâm của mình, từ sự khép kín của hìnhthức để nghiên cứu mối quan hệ giữa hình thức với hình thái ý thức xã hội
Một hướng nghiên cứu mới được mở ra trong Tự sự học hậu kinh điển
đó là từ phân tích cấu trúc tự sự trừu tượng chuyển sang phân tích cấu trúc tự
sự của tác phẩm cụ thể Điều này là tất yếu bởi đó là nhu cầu của thời đại khithế giới ngày càng có nhiều những tác phẩm có hình thức độc đáo và mới lạ
Nhìn lại cả chặng đường phát triển của Tự sự học chúng ta có thểkhẳng định lí thuyết của nó không hề lỗi thời mà ngày càng được hoàn thiện,góp phần quan trọng vào việc khám phá tác phẩm nghệ thuật
Một thực tế là nền tảng để hình thành Tự sự học xuất phát từ nhu cầukhám phá cấu trúc nghệ thuật của các tác phẩm văn học do đó khi nói đến Tự sựhọc là mặc nhiên mọi người đều thừa nhận là Tự sự học văn học Vì vậy từ cơ sởhình thành cho đến các bước thay đổi hệ hình nghiên cứu của Tự sự học màchúng tôi đã trình bày trên đây chính là của Tự sự học văn học Tuy nhiên bướcsang giai đoạn hậu kinh điển các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng tự sự khôngphải là đặc trưng duy nhất của văn học do đó đối tượng và phạm vi nghiên cứu
đã có sự mở rộng sang các lĩnh vực khoa học khác trong đó có điện ảnh Ngày
Trang 31nay Tự sự học đã là một hướng nghiên cứu mở đúng như GS Trần Đình Sử đã
khẳng định Tự sự học là bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng.
1.2 Tự sự học điện ảnh
1.2.1 Sự ra đời của phim tự sự (film narrativ)
Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật xuất hiện muộn nhất nhưng hiệnđại nhất bởi nó có sự hỗ trợ đắc lực của kỹ thuật Nhiều sử gia điện ảnh thếgiới đều nhắc đến buổi chiếu bóng đầu tiên của anh em Louis và AugustLumiere tại Pari vào tối ngày 28/12/1895 Đây là một buổi chiếu phim nổitiếng nhất trong lịch sử vì nó đánh dấu mốc chính thức ra đời của điện ảnh với
tư cách là một môn nghệ thuật – nghệ thuật thứ bẩy và cả với tư cách mộtngành công nghiệp – công nghiệp điện ảnh Kể từ đó điện ảnh nhanh chóngtrở thành một thứ giải trí mới lạ và quầy chiếu phim trở thành một gian hàngkhông thể thiếu tại các hội chợ lớn Trong những ngày đầu của điện ảnhngười ta thường chiếu những đoạn phim ngắn dưới một phút mô tả nhữngcảnh sinh hoạt thường nhật hoặc các hoạt động thể thao Mặc dù các bộ phimnày hết sức đơn giản chưa hề được biên tập, chưa có đạo diễn và chưa chú ýtới các góc quay nhưng vào thời kì đó nó vẫn được ưa chuộng
Dần dần những người làm điện ảnh thấy rằng cần phải có sự thay đổicho điện ảnh, nó không chỉ dừng lại ở những cảnh quay đơn giản mà nó cầnphải truyền đạt tới người xem một thông điệp lớn hơn Đó là lí do khiến choloại hình phim tự sự ra đời Vào năm 1902 nhà điện ảnh người Pháp, GeorgesMilies cho ra mắt bộ phim nhan đề “A trip to the Moon” (Cuộc du hành lênmặt trăng) Đây là bộ phim giả tưởng mang tính cách mạng trong việc sửdụng các kĩ xảo điện ảnh và xây dựng kịch bản Bộ phim gồm nhiều cảnhphim khác nhau kể lại cuộc thám hiểm của một nhóm các nhà khoa học lênmặt trăng bằng tàu vũ trụ và đã trốn thoát sau khi bị bộ tộc sinh vật lạ bí mậtbắt giữ Milies đã mở ra một hướng đi mới cho điện ảnh đó là sử dụng kĩ
Trang 32thuật quay và in tráng để biến đổi các hình ảnh quay được theo trí tưởngtượng chứ không chỉ đơn thuần là quay lại những cảnh tượng có thật ngoàiđời Nhưng để phim tự sự trở thành một loại phim phổ biến thì phải kể đếncông lao của Edwin S.Porter (một đạo diễn làm việc cho hãng Edison nổitiếng thời bấy giờ) với các bộ phim như “ Life of an American fireman”(Cuộc đời của một người lính cứu hỏa Mĩ) (1903) và “The great train robbry”(1903)… Trong các bộ phim của mình Porter đã kể lại một câu chuyện bằngmột chuỗi các cảnh quay làm cho thời gian và không gian tương hợp thôngqua việc cắt cảnh Sự đổi mới trong cách tự sự của Porter đã có ảnh hưởngsâu sắc trong lĩnh vực điện ảnh những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Tới D.W.Griffith thì phim tự sự đã trở thành một trào lưu và từ đó họ xâydựng những chuẩn mực để hướng đến phong cách kể chuyên mẫu mực.Griffith là người yêu văn học do đó các bộ phim của ông đều lấy cảm hứng từnhững cuốn tiểu thuyết, những bài thơ hay những tác phẩm sân khấu như
phim The Birth of a nation (1915), Intolerance(1916)… Là một trong những
nhà làm phim ở thời kì đầu của điện ảnh, đạo diễn Griffith đã sáng tạo ranhiều kĩ thuật kể chuyện quan trọng như kỹ thuật phối cảnh, quay cận cậncảnh, mờ chồng Với những đóng góp quan trọng cho điện ảnh thế giới ôngđược người đời biết đến như người sáng tạo ra điện ảnh hiện đại
Trong thời kỳ phim câm, phim tự sự đã phát triển và chúng càng lớnmạnh hơn khi phim có tiếng ra đời vào cuối thập niên 1920 Ngày nay phim
tự sự là loại phim được công chiếu rộng và phổ biến trong các rạp chiếu phim,trên sóng truyền hình, trực tiếp trên internet…Phim tự sự vẫn là loại phim thuhút sự chú ý của các nhà làm phim và khán giả nhất Người ta không thểthống kê được con số phim tự sự sản xuất hàng năm nhưng chắc chắn nó làmột con số không hề nhỏ Những câu chuyện hấp dẫn về cuộc sống xã hội, vềthân phận con người hay đơn giản là những tiếng cười hài hước…tất cả đều
Trang 33được tái hiện trên màn ảnh để rồi sau đó mỗi khán giả suy nghĩ hoàn thiệnhơn về nhân cách của chính mình, về cách đối nhân xử thế.
Nghiên cứu Tự sự học có từ sớm nhưng nó chủ yếu được áp dụng trongvăn học còn đối với điện ảnh thì công lao nên quy cho Albert Laffay sauchiến tranh thế giới thứ II Các bài viết về vấn đề tự sự của ông đăng trên tạp
chí Hiện đại, sau này tập hợp thành chuyên luận Logic điện ảnh (1964).
Trải qua quá trình phát triển vấn đề Tự sự học điện ảnh càng đượcnhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Chúng ta có thể kể tới một số côngtrình tiêu biểu sau:
1 “Story anh discourse: Narrative structure in fiction and film” (Câuchuyện và diễn ngôn: Kết cấu tự sự trong tiểu thuyết điện ảnh) (1978) củaSeymour Chatman
2 “Du litteraire au filmique” (Từ văn học đến điện ảnh: hệ thống tự sự)(1999) của Andre’ Gaudreault
3.Narrative in fiction and film: an in troduction (Tự sự trong tiểu thuyết
và điện ảnh) (2000) của Jakob Lothe
Trang 344 “Tự sự điện ảnh” của David Bordwell, Lý Hiển Lập dịch sang tiếngTrung (2003).
5.“Tự sự học điện ảnh là gì?” của Andre’ Gaudreault, Lưu Vân Đandịch sang tiếng Trung (2005)
6.“Điện ảnh hóa tự sự” của Jennifer, Vương Húc Phong dịch sang tiếngTrung (2009)
7.“Tự sự văn học Tự sự điện ảnh” của Francois,Vương Văn Dung dịchsang tiếng Trung (2012)
Lí thuyết Tự sự học điện ảnh chịu sự ảnh hưởng rất lớn của lí thuyết Tự
sự học văn học Có rất nhiều các vấn đề của Tự sự học văn học được áp dụngtrong điện ảnh nhưng do điện ảnh có phương thức biểu hiện đặc biệt nên vấn
đề tự sự trong điện ảnh có tính phức tạp và phong phú hơn rất nhiều so vớivăn học Nhìn chung các kết quả nghiên cứu đều tập trung làm sáng tỏ cáckhía cạnh sau đây: điện ảnh làm thế nào để trần thuật một câu chuyện, ai làngười trần thuật câu chuyện đó, vấn đề điểm nhìn, không gian, thời gian, mốiquan hệ giữa từ ngữ, hình ảnh và âm thanh…
Vấn đề đầu tiên mà các nhà nghiên cứu quan tâm khi tìm hiểu Tự sự họcđiện ảnh đó là căn cứ vào đâu để nhận biết tự sự trong điện ảnh Hàng loạt cáchọc giả đã đưa ra những tiêu chí cụ thể để xác định thuật ngữ tự sự đó
Người đầu tiên phải kể đến là Albert Laffay, định nghĩa của ông về tự sựđược xây dựng trên việc so sánh Tác giả đưa ra bốn điểm để phân biệt tự sựtrong điện ảnh như sau: thế giới vô thủy, vô chung ngược lại tự sự là cái đượcsắp đặt dựa theo quyết định luật nghiêm ngặt; Bất kì một tự sự điện ảnh nào đều
có tình tiết logic, đây là một loại diễn ngôn; Tự sự do người nắm giữ việc dàncảnh (người đạo diễn) và người quay phim sắp xếp; Điện ảnh vừa biểu hiện quátrình tự sự vừa khác thế giới đang tồn tại Tuy nhiên những quan điểm trên đâycủa Albert Laffay về điện ảnh mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa ấn tượng, cònnhiều mơ hồ, khó hiểu nên về sau đã không còn thích hợp
Trang 35Christian Matz là nhà lí luận điện ảnh hàng đầu của Pháptrong nhữngnăm 1970, hệ thống lý luận của ông được đánh giá cao, giới nghiên cứu chorằng “lí thuyết phim hiện đại bắt đầu với Matz” Matz đã từng đưa ra năm tiêuchí để nhận biết tự sự như sau: 1.Được gọi là một tự sự sẽ có mở đầu và kếtthúc; 2 Tự sự là một đoạn thời gian song trùng có nghĩa là bất kỳ một tự sựnào cũng tồn tại hai loại thời gian đó là thời gian trần thuật và thời gian sựkiện Cũng từ đó Matz thấy cần phân biệt thời gian của sự kiện trong văn bản tự
sự với thời gian đọc của độc giả (trong văn học) và thời gian xem của khán giả(trong điện ảnh) khi tiếp nhận tác phẩm ấy Từ góc độ này có thể thấy một trongnhững chức năng cơ bản của tự sự là trong một thời gian này xử lí một thời giankhác; 3 Bất kì một tự sự nào cũng đều là một loại diễn ngôn Điều này cũngkhông có nghĩa bất kì một diễn ngôn nào cũng là tự sự bởi chúng ta có thể dùngngôn ngữ để biện luận, để chứng minh, để giáo dục về một vấn đề nào đó chứkhông nhất thiết là phải kể một câu chuyện Lí do để ông khẳng định tự sự làmột diễn ngôn xuất phát từ việc ông nhận thấy trong bất kì hình thức tự sự nàocũng tồn tại người nói và người nghe, người kể chuyện và người tiếp nhận,người tạo mã và người giải mã; 4 Matz cho rằng sự kiện trong tác phẩm tự sự là
sự kiện “phi hiện thực hóa” Cho dù tiểu thuyết hay điện ảnh trần thuật câuchuyện có thật thì với người xem, người đọc cũng không bao giờ coi đó là câuchuyện có thật bởi tác phẩm tự sự luôn là sự kết hợp giữa yếu tố thực và yếu tố
hư cấu; 5 Một tự sự là một chỉnh thể của các sự kiện Tác giả cho rằng sự kiệnchính là hạt nhân cơ bản của tự sự, nhiều sự kiện sẽ tạo thành cốt truyện hoànchỉnh Là một nhà kí hiệu học điện ảnh quan điểm của Matz được xây dựng trên
cơ sở nhận thức luận, kết hợp giữa ngôn ngữ học cấu trúc và ngôn ngữ điện ảnh
(Tham khảo cuốn: Thế nào là Tự sự học điện ảnh)
Các tác giả của cuốn Nghệ thuật điện ảnh cũng chỉ ra rằng “tự sự là
một chuỗi những sự kiện trong một mối liên hệ nhân quả xảy ra trong không
Trang 36gian và thời gian” [27;95] Đồng thời cũng khẳng định “nguyên nhân, thờigian và không gian đều quan trọng đối với hình thức phim tự sự trong hầu hếtcác hoàn cảnh nhưng nguyên nhân và thời gian là những yếu tố trung tâm”[27;95] Như vậy ta hiểu tự sự bằng cách xác định các sự kiện và liên kếtchúng bằng nguyên nhân, kết quả, thời gian và không gian.
Nhà nghiên cứu điện ảnh Edward Branigan cũng khẳng định trongphim truyện “tự sự là cách tổ chức các dữ liệu thời gian và không gian thànhmột chuỗi nhân quả của các sự kiện gồm phần đầu, phần giữa và phần kếtkèm theo sự đánh giá về bản chất các sự kiện này” [84;66]
Như vậy tuy dựa trên các tiêu chí khác nhau để phân biêt tự sự trongđiện ảnh nhưng điểm thống nhất giữa các nhà nghiên cứu là họ đều khẳngđịnh điện ảnh là một tự sự Phân tích tự sự trong điện ảnh cũng có nhiều điểmgiống như phân tích những tự sự khác
Trên thực tế rất nhiều những thuật ngữ của Tự sự học điện ảnh được lấy
từ Tự sự học văn học và một trong số ấy là thuật ngữ người trần thuật Trongbất kì một hình thức tự sự nào cũng cần có người trần thuật Người trần thuậtdẫn dắt chúng ta vào thế giới của câu chuyện, là người nói lên tiếng nói củatác giả nhưng không đồng nhất với tác giả.Trong điện ảnh cũng cần mộtngười trần thuật như thế
Để nhận ra vai trò và đặc điểm của người trần thuật trong điện ảnh cácnhà nghiên cứu đã so sánh điện ảnh với bộ môn nghệ thuật gần nó nhất là sânkhấu Nếu như trong các vở kịch diễn viên trực tiếp diễn xuất trước mắt ngườixem tức là người kể lại câu chuyện không qua một khâu trung gian nào thìdiễn viên điện ảnh lại không phải là người truyền tin duy nhất Bởi tất cả quátrình diễn xuất của diễn viên sẽ được máy quay ghi lại rồi trải qua hàng loạtcác quy trình mang tính chuyên môn mới trở thành bộ phim hoàn chỉnh côngchiếu trên màn ảnh Điều đó có nghĩa là trong điện ảnh tồn tại hai dạng người
Trang 37trần thuật: một người trần thuật công khai dùng tiếng nói sống động trần thuậtcâu chuyện (diễn viên) tương đương với người trần thuật ngôi thứ nhất trongvăn học và một người trần thuật khác không nhìn thấy nhưng dẫn dắt và chiphối sự chú ý của người xem (máy quay) tương đương với người trần thuậtngôi thứ ba trong tiểu thuyết.
Tác phẩm điện ảnh kinh điển thường cố gắng che giấu dấu vết củangười trần thuật để làm nổi bật nội dung của câu chuyện hoặc một số người
có thể nhìn thấy tức là “nhân vật hóa” người trần thuật Phim tài liệu cũng sửdụng phương thức này khiến người xem chú ý đến nội dung mà người phỏngvấn nói hơn là phương thức quay nó Nhưng dù thế nào thì sự tồn tại củangười trần thuật hàm ẩn là điều hiển nhiên không thể phủ nhận Đôi khi trongquá trình xem phim người xem không cảm nhận được người trần thuật tức làtrong tâm lí đã quên mất phương pháp đặc trưng của ngôn ngữ điện ảnh thìchúng ta vẫn bị nhắc nhở là trong hoặc bên kia thế giới hư cấu của điện ảnhđang tồn tại một người trần thuật ẩn mình và “anh ta” đang thâu tóm toàn bộthế giới của câu chuyện được kể, thâu tóm toàn bộ mạng nghe nhìn Khi có sựthay đổi trong kĩ thuật sử dụng máy quay sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cảmnhận của người xem đối với câu chuyện được trần thuật Chẳng hạn trong
phim Mê Thảo thời vang bóng của đạo diễn Việt Linh hình ảnh đầu tiên về ấp
Mê Thảo là cảnh quay về những tấm lụa cực đẹp trong gió đã đem lại chongười xem cảm nhận về sự phồn thịnh của ấp Đây là cảnh quay chúc từ trênxuống làm cho khuôn hình như trải rộng ra trong không gian yên bình Trongmột cảnh quay khác cũng vẫn là những hình ảnh về những dải lụa nhưng đạodiễn sử dụng góc quay thẳng, ống kính máy quay di chuyển theo suốt chiềudài tấm lụa thì cảm nhận của khán giả đã khác trước Những tấm lụa mộc thôkia chính là hính ảnh của một ấp Mê Thảo đã sa sút khi cậu chủ Nguyễn cựtuyệt văn minh, chìm đắm trong hoang tưởng và men rượu
Trang 38Lí luận tự sự điện ảnh cũng chỉ ra rằng đối với tiểu thuyết trong quátrình tự sự có thể có sự đan xen giữa người trần thuật hàm ẩn với người trầnthuật là nhân vật và dấu ngoặc kép chính là dấu hiệu cơ bản nhất để người đọcphân biệt được điều này Nhưng trong điện ảnh thì khác, người trần thuật hàm
ẩn sử dụng hình ảnh và âm thanh để kể chuyện còn người trần thuật trực tiếp
mà chúng ta có thể nhìn thấy lại chỉ dùng từ ngữ để trần thuật câu chuyện
Cùng với người trần thuật, không gian cũng là thuật ngữ điện ảnhmượn của văn học Không gian, thời gian là vấn đề không thể thiếu khi nóiđến tự sự bởi các câu chuyện đều được diễn ra trong một thời gian và khônggian nào đó Tự sự điện ảnh cũng không ngoại lệ Điện ảnh cũng giống nhưcác phương tiện thị giác khác có ưu thế về việc chiếm lĩnh không gian hơnvăn học Do tính đơn tuyến của ngôn ngữ nên các tác giả văn học không thểđồng thời vừa miêu tả hành động của nhân vật vừa miêu tả không gian màhành động ấy phát sinh nhưng đây lại là ưu thế của điện ảnh Với đặc trưngchất liệu là hình ảnh và âm thanh tác động trực tiếp lên thị giác và thính giáccủa người xem do đó điện ảnh dù thể hiện vật thể nhỏ đến mức nào thì nócũng phải thuộc một không gian xác định
Không gian trong điện ảnh là một vấn đề hết sức phức tạp Ở phương diệnsản xuất có không gian bối cảnh tức là không gian trong phạm vi lấy cảnh củamáy quay và không gian trường quay có quan hệ tất yếu, gần gũi với nó Ởphương diện tiêu thụ có không gian màn bạc tức là địa điểm thâm nhập của thịgiác và không gian phòng chiếu của người xem Do đó điện ảnh có khả năngtruyền đạt không gian từ xa, biến không gian vắng mặt thành không gian có mặt
Tuy nhiên tìm hiểu không gian trong điện ảnh người ta đặc biệt quantâm tới không gian ở phương diện nhà sản xuất Khi chúng ta xem một bộphim thực chất là chúng ta đang xem một chuỗi các khuôn hình chuyển động
do đó việc xây dựng khuôn hình trong điện ảnh cũng giống như việc miêu tả
Trang 39nhân vật, bối cảnh trong văn học chỉ có điều văn học dùng ngôn ngữ để miêu
tả, trần thuật thì điện ảnh dùng dàn cảnh để xây dựng khuôn hình Khuôn hình
có tác dụng đóng khung, hạn chế hình ảnh Từ một thế giới vô tận chuyểnđộng không ngừng khuôn hình tách ra thành một mảng nhỏ và chuyển tải đếnngười xem Nếu máy quay quay một vật hay một người nào đó và sau đó lướtqua chỗ khác ta có thể khẳng định người hay vật vẫn ở vị trí cũ nhưng nókhông có mặt trong khuôn hình nên được coi là không gian ngoài khuôn hình.Noel Burch đã chia ra sáu kiểu không gian ngoài khuôn hình: không gianxung quanh bốn cạnh của khuôn hình, không gian sau bối cảnh nền, khônggian sau máy quay Không gian ngoài khuôn hình được tạo ra khi nhân vậttrong phim điều chỉnh hướng nhìn hay cử chỉ tới một không gian nào đó bênngoài khuôn hình Với không gian sau bối cảnh nền là loại không gian phổbiến ví dụ như là các nhân vật bước ra ngoài cánh cửa bị che khuất bởi bứctường hay cầu thang Cuối cùng là không gian sau máy quay là loại khônggian ít gặp nhất
Máy quay có vai trò quan trọng tạo ra không gian trong điện ảnh Khimáy quay thay đổi cự li tạo ra các loại cảnh: viễn cảnh, toàn cảnh, trung cảnh,cận cảnh, đặc tả đều làm thay đổi không gian trong phim Ngoài ra máy quay
di chuyển bằng nhiều cách quay lia toàn cảnh, quay travelling, quay nhào lộn,quay cuộn tròn…bộc lộ rõ nét nhất tính đặc thù của hình ảnh điện ảnh – hìnhảnh chuyển động cũng làm thay đổi không gian cho điện ảnh Mở đầu bộ
phim Đời cát của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân chúng ta thấy sự thay đổi liên
tục cự li của máy quay đã tạo ra những hiệu quả lớn trong việc thể hiện khônggian Ban đầu Ông Huy – nhân vật chính của bộ phim xuất hiện trong cảnhquay toàn cảnh Ông lầm lũi bước đi trên cồn cát rộng mênh mông Ngay sau
đó ống kính máy quay đã vươn ra xa, thu vào một viễn cảnh cồn cát trải dài títtắp Rồi máy quay lại tiến lại gần quay cận cảnh khuôn mặt nhân vật Huy
Trang 40Với sự thay đổi liên tục của cự li máy quay như vậy đã khiến cho không giancũng thay đổi liên tục khi gần khi xa, khi rộng, khi hẹp…
Màu sắc không chỉ là một yếu tố cấu tạo quan trọng của cảnh mà việc
sử dụng tông màu nóng hay lạnh, màu chìm hay màu hiện, màu âm hay màudương…đều có tác dụng trong việc thể hiện không gian Màu xanh gợi khônggian quang đãng, rộng mở; mà nâu vàng gợi lên không gian tối tăm chật
hẹp…Điều này chúng ta thấy rất rõ trong bộ phim Thời xa vắng Việc lựa
chọn tông màu nâu làm chủ đạo đã có tác dụng thể hiện không gian tăm tối,ngột ngạt của bộ phim
Thuật ngữ thứ ba Tự sự học điện ảnh chia sẻ từ Tự sự học văn học là
thời gian Bộ phim điện ảnh với tư cách là sản phẩm luôn là cái thuộc về thời
quá khứ vì nó tái hiện hành động đã hoàn kết nhưng lại được phát sinh trướchiện tại, bây giờ đối với trước người xem.Ta so sánh với kịch để thấy rõ điềunày Biểu diễn của diễn viên kịch và hoạt động của người xem có tính đồngthời (cả hai cùng tham dự vào cùng thời gian hiện tại) còn biểu diễn của diễnviên điện ảnh được máy quay ghi lại rồi mới trình chiếu cho khán giả Cónghĩa là cái mà điện ảnh mang lại cho người xem là hành động đã hoàn tấttrong quá khứ nhưng được phát sinh ở hiện tại Nói cách khác cái nhứ nhất làthứ được camera quay lại, cái sau lại chỉ sự tiếp nhận của khán giả
Trong hội họa bức ảnh tĩnh rất ít phản ánh thời quá khứ mà nhiều hơnphản ánh cái đã qua thì trong điện ảnh cái ở thời quá khứ ấy lại đang đượcdiễn ra ở thời hiện tại Đây cũng là điểm khác biệt của điện ảnh so với vănhọc Câu chuyện mà tác giả kể lại cho chúng ta nghe là câu chuyện của quákhứ, nay chúng ta đọc lại câu chuyện đó mà thôi
Tương phản với tiểu thuyết, điện ảnh tổ hợp nhiều loại ngôn ngữ biểuhiện như hình ảnh, âm thanh, văn tự viết đã khiến cho người xem phải đốidiện với một số lượng lớn kí hiệu mang tính thời gian Từ đó làm cho tính