Những vần thơ này “chứa chan hoài bão và thi vị…giàu cảm xúc…niềm vui trong chiến đấu…cháy bỏng căm thù…ít bị ràng buộc bởi những khuôn sáo, cảm xúc không bị chai cứng…” Tuy nhiên tác
Trang 1TRƯƠNG THỊ MỘNG CẦM
Hình tượng thơ Phạm Tiến Duật
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ 602234
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010
Trang 2TRƯƠNG THỊ MỘNG CẦM
Hình tượng thơ Phạm Tiến Duật
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ 602234
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS LÊ TIẾN DŨNG
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô khoa Văn học và ngôn ngữ Trường Đại học KHXH&NV, đặc biệt là Thầy hướng dẫn: PGS.TS Lê Tiến Dũng, người đã luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM, Thư viện Trường Đại học KHXH&NV và gia đình nhà thơ Phạm Tiến Duật đã tận tình giúp đỡ hướng dẫn và cung cấp những tư liệu quý giá
để tôi hoàn thành luận văn này
Cảm ơn gia đình đặc biệt là gia đình nhỏ của tôi, các bạn lớp cao học VHVN khóa 2006-2009 đã luôn chia sẻ và đồng hành với tôi trong học tập
và trong cuộc sống
TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2010
Trương Thị Mộng Cầm
Trang 41 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 7
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 12
3.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.2 Phạm vi nghiên cứu 12
3.3 Mở rộng phạm vi nghiên cứu 13
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
4.1 Phương pháp phân tích – hệ thống 13
4.2 Phương pháp lịch sử - so sánh 13
4.3 Phương pháp thống kê - phân loại 14
4.4 Phương pháp phỏng vấn 14
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 14
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 15
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: PHẠM TIẾN DUẬT-CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC 16
1.1 Cuộc đời 18
1.2 Con người 19
1.3 Sự nghiệp sáng tác 21
CHƯƠNG II: HÌNH TƯỢNG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 24
2.1 Hình ảnh lửa đèn/bóng đêm 24
2.2 Hình ảnh Trăng 34
2.3 Hình ảnh Rừng 40
Trang 53.1 Ngôn ngữ thơ 61
3.2 Giọng điệu thơ 65
3.3 Câu thơ 96
KẾT LUẬN 100
Trang 6PHẦN DẪN NHẬP
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chiến tranh đã lùi dần hơn ba mươi năm nhưng dư âm hào hùng của cuộc chiến dân tộc vẫn còn đó Những thế hệ sinh ra sau chiến tranh được tìm hiểu quá khứ, học tập lịch sử dân tộc ở nhiều khía cạnh, trong đó có văn chương Một trong những tác giả được bạn đọc yêu mến và là người có tác phẩm được chọn học trong chương trình phổ thông chính là nhà thơ vừa đi về miền phiêu diêu - nhà thơ Phạm Tiến Duật.Ông được xem là cánh chim đầu đàn của những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ
Tìm hiểu thơ Phạm Tiến Duật là một trong những cách để chúng ta phần nào hiểu thêm tinh thần dân tộc trong những năm khói lửa chiến tranh nhất là ở giai đoạn ác liệt nhất Thơ ông là những trang thơ gần gũi với người lính, chứa chan niềm lạc quan yêu đời dù đang đối mặt với cái chết Nhưng cũng có khi thơ Phạm Tiến Duật là đề tài gây nhiều tranh cãi Tìm hiểu để hiểu đúng thơ ông là nhiệm vụ của chúng ta - những công chúng công tâm của văn học Bản thân gia đình của người viết cũng có người thân ngã xuống trong màu áo lính nên tìm hiểu mảng thơ này chính là cách hiểu và yêu mến người thân của mình
Ngày 19/5/2009 nước ta long trọng kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh- con đường làm nên kỳ tích cho cuộc kháng chiếm thần kỳ của dân
tộc Luận văn “Hình tượng thơ Phạm Tiến Duật” như góp thêm một hoạt động
thiết thực vào việc chào mừng kỷ niệm thành lập con đường huyền thoại Luận văn cũng là một nén hương tưởng nhớ nhà thơ Phạm Tiến Duật – người vừa ra đi sau hơn 5 tháng chiến đấu với căn bệnh ung thư phổi tại Viện quân y 108 vào ngày 4/12/2007
Trang 7Thơ Phạm Tiến Duật ra đời trong khói lửa chiến tranh nên nó đến với bạn đọc trong trạng thái tươi roi rói và đôi khi còn vương mùi thuốc súng Chính vì thế bạn đọc nhất là những người lính trận đón nhận nó cách nhiệt tình nhất bởi
nó là món ăn tinh thần, là nguồn động lực trước giờ chiến đấu Trở về với cuộc sống sau chiến tranh, Phạm Tiến Duật vẫn viết nhiều và đều nhưng vì lý do nào
đó mà thơ ông chưa đến được nhiều với công chúng vốn đã từng yêu thơ ông Mãi cho đến khi nhà thơ lâm trọng bệnh và qua đời, gia đình và bạn bè mới tập hợp, biên soạn và in thành hai tập sách tạm gọi là đầy đủ Thực trạng đó gợi ra cho chúng ta yêu cầu hiểu đúng biết đủ những hình tượng thơ được ông xây dựng trong quá trình sáng tác của mình Và chúng tôi thiết nghĩ nghiên cứu
“Hình tượng thơ Phạm Tiến Duật” là hướng đi hứa hẹn giải quyết được yêu cầu vừa đặt ra để giúp bạn đọc có cái nhìn toàn diện về thơ Phạm Tiến Duật
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Thơ Phạm Tiến Duật, nhất là mảng viết về chiến tranh, được biết đến nhiều nhưng nó vẫn là một đề tài mới cho nghiên cứu văn học Vì thế sự xuất hiện của những bài viết nghiên cứu một cách có hệ thống về thơ ông chưa nhiều
Có chăng nó chỉ là những nhận xét thoáng qua trong những nghiên cứu về các tác giả theo một tiêu chí nào đó Ta có thể kể ra một số công trình, bài viết như sau:
- Trần Đình Sử trong Lý luận và phê bình văn học: Những vấn đề và quan niệm hiện đại - tập tiểu luận, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2002 cho rằng “Phạm Tiến Duật đưa chất văn xuôi vào thơ … góp phần đáng kể vào việc mở rộng phạm vi cái nên thơ” …[A19, T259]
- Đỗ Minh Tuấn trong tiểu luận phê bình Ngày văn học lên ngôi, NXB Văn
học, Hà Nội, 1996 lại cho rằng thơ Phạm Tiến Duật là thơ của thi pháp mộng
Trang 8du Chính vì thế thơ ông “bay là là văn xuôi trong suốt hành trình thơ thời chống Mĩ …”
- Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam- Hình thức và thể loại quan niệm vì “chất văn xuôi thâm nhập vào thơ như một nhân tố, một chất liệu không tránh khỏi khi thơ đi vào đời sống thực tế…” nên “câu thơ nhiều khi không mượt mà, thuần thục với dáng vẻ trau chuốt, gọn ghẽ mà góc cạnh trần trụi như chính bản thân sự sống không cần tô vẽ…” và Phạm Tiến Duật
cũng theo quy luật chung đó.[A8,T174]
- Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam- Hình thức và thể loại cũng cho rằng Phạm Tiến Duật là một cây bút khá sắc sảo trong lực lượng mới hết sức tươi trẻ những năm thơ chống Mỹ Những vần thơ này “chứa
chan hoài bão và thi vị…giàu cảm xúc…niềm vui trong chiến đấu…cháy bỏng căm thù…ít bị ràng buộc bởi những khuôn sáo, cảm xúc không bị chai cứng…”
Tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra nhược điểm là Phạm Tiến Duật cũng như những
người khác chưa tìm được “ Một lối riêng cảm thụ, một kỹ xảo đi về quen thuộc như những nhà thơ lớp trước…”[A8,T158]
- Nhận xét về cách tư duy nghệ thuật và xây dựng hình tượng, Nguyễn Thị
Tự Luệ trong luận văn thạc sĩ của mình cho rằng “ những hình ảnh cụ thể chân thực của đời sống như không hề đẽo gọt gì cứ đi thẳng vào trang thơ ông nhưng thực ra chúng đã được chọn lựa, chắt lọc, tái tạo từ những tinh chất của đời sống [B8,1066]
- Trong Thơ bộ đội 1965-1969, Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, số 6, 1970
Xuân Sách nhận xét về cách xây dựng hình ảnh thơ của Phạm Tiến Duật như sau
“ Cái mới, cái tìm tòi của Phạm Tiến Duật không phải những điều xa lạ, mà bắt
Trang 9nguồn từ những hình ảnh, sự việc cụ thể, nhưng từ đó nảy ra những ý thơ, những suy nghĩ làm cho ta ngạc nhiên ”
- Ngoài ra ta có thể kể đến những bài viết tập trung phân tích chỗ được và chưa được của thơ Phạm Tiến Duật trên bình diện nội dung và nghệ thuật như :
Nhớ-Bài thơ không quên của Thanh Ứng đã chỉ ra Phạm Tiến Duật đã vận dụng
sáng tạo nỗi nhớ của ca dao khi nỗi nhớ ấy chứa đựng tất cả: âm thanh, cảnh vật thiên nhiên…cuộc sống ở các tuyến đường chiến tranh [B8,1064]
- Trần Văn Toàn thì cho rằng trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính có sự chuyển hóa thật đẹp giữa chất hiện thực và chất thơ về bức chân dung
của người lính lái xe Trường Sơn [B8,1059]
- Một cái nhìn công bằng về thơ trẻ chống Mỹ cứu nước của Nguyễn Hoàng Sơn lại nhìn nhận đóng góp của Phạm Tiến Duật khi cho rằng “…Nhưng ông biết tiết chế, thậm chí hy sinh cái “nên thơ”, cái cổ kính để bắt lấy cái ngổn ngang, cái ác liệt của cuộc chiến gian khổ sống còn, tìm ra phẩm chất mới cho thơ mình, cũng là phẩm chất rất mới cho thơ Việt Nam…[B8,1051]
- Bài Cách tân của Phạm Tiến Duật trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Đặng Hiến nhận xét về phong cách Phạm Tiến Duật như sau “ Cái ngôn ngữ của đời sống đó nhiều khi thô mộc, nghịch ngợm, rất “lính” nhưng vẫn rất nên thơ Nó chấp nhận chất văn xuôi, chất khẩu ngữ, nhằm tăng thêm sức chứa thông tin và thẩm mỹ của thơ trong sự gấp khúc và độ giãn của câu thơ…”
[B8,1048]
- Về bài thơ Nhớ của Phạm Tiến Duật của Nguyễn Đức Thuận đã chỉ ra
cái yếu tố làm cho bài thơ (trong chùm bốn bài thơ) đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ năm 1969 Đó chính là cái hay ở nội dung, hình thức và tâm hồn người cầm bút Trong đó cái yếu tố thứ ba chính là cái có thể khiến bài thơ tuy
Trang 10ngắn nhưng vẫn “ là cái dài do suy nghĩ, dài bởi cái ngân nga của cảm xúc ”
[B8,1043]
- Trần Đăng Suyền trong bài Phạm Tiến Duật thì cho rằng thơ Phạm Tiến
Duật đem đến cho thơ ca chống Mỹ cứu nước một phong cách riêng độc đáo
Bởi “Thơ anh phản ánh được một phần cái không khí khẩn trương, dồn dập, ác liệt, sôi động của những năm tháng sục sôi đánh Mỹ Ấy là vì tuổi trẻ của anh đã gắn bó sâu sắc, đã sống hết mình, đã hòa nhập thật sự với những con người sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn” [B8,1027]
- Thơ của một nhà thơ quân đội của Lê Quang Trang thì nhận ra một điểm
khá thành công của Phạm Tiến Duật Tác giả Lê Quang Trang cho rằng cùng viết
về phẩm chất anh hùng của người lính lái xe mà không trùng lắp với người khác
đã là khó, không trùng lắp với chính mình lại càng khó hơn nữa Thế mà Phạm Tiến Duật đã làm được điều đó Tuy nhiên bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra những
điểm còn non yếu của nhà thơ là ở những bài ngắn “lối cấu tứ còn đơn điệu, giống như một người thợ vẽ chạm trổ khảm khắc nhiều, cố ý làm cho mới lạ, nhưng nhìn kỹ thì hình dáng của những sản phẩm vẫn na ná giống nhau”
[B8,1023]
- Trong bài Về bài thơ Gửi em, cô thanh niên xung phong, Vũ Quần Phương đã thâu tóm đặc điểm bút pháp thơ Phạm Tiến Duật như sau “Buồn cười
mà gây thương cảm, ấy là bút pháp Phạm Tiến Duật” [B8,1017]
- Đường Trường Sơn, đường thơ Phạm Tiến Duật của Thiếu Mai đã nêu
rõ : Phạm Tiến Duật cùng với các bạn cùng thời như “ Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Đức Mậu đến Anh Ngọc, Hữu Thỉnh, Hoàng Nhuận Cầm, những nhà thơ
- chiến sĩ đã mỗi người một vẻ, tô đậm thêm chất lính trong thơ Với giọng thơ
Trang 11riêng biệt độc đáo của mình, Duật đã góp một tiếng nói làm đẹp, làm say thêm chất lính trong thơ ca Việt Nam những năm đầu chống Mỹ.” [B8,1009]
- Vũ Quần Phương trong Phạm Tiến Duật đã nhận xét về tài năng thơ của Phạm Tiến Duật như sau: “…từ những chi tiết bề bộn, những sự kiện rậm rịt của đời sống, Phạm Tiến Duật đã nhìn ra chất thơ ẩn giấu trong đó” và khi phát hiện ra chất thơ từ đời sống thì ông “…dùng hình thức mộc nhất để tôn thêm tính
chân thật của sự phát hiện này” [B8,994]
- Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật của Đỗ Trung Lai đã tổng kết như sau : … nếu muốn biết bộ đội, thanh niên xung phong sống ra sao, họ hát
hò, cuồn cuộn và hứng khởi trảy quân như thế nào; khí thế chiến đấu và chiến thắng của họ ra sao; nhà của lính công binh, lính thông tin, lính lái xe, lính pháo, lính bộ binh hình lối thế nào; bom đạn, pháo sáng, cây cỏ Trường Sơn có
gì đặc biệt v.v… ta có thể tìm thấy rất nhiều những điều ấy trong thơ Phạm Tiến Duật” [B8,988]
- Nguyễn Ngọc Thiện viết Chỗ mạnh và chỗ yếu của thơ Phạm Tiến Duật
để chỉ ra mặt mạnh trong thơ của anh bộ đội “Thạch nhọn-Thạch Kim” như sau:
“Thơ anh là tiếng nói khỏe khoắn, đôn hậu, bắt nguồn trực tiếp từ cuộc sống chiến đấu sôi nổi mà hào hùng của dân tộc” Tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra chỗ yếu của nhà thơ như sau : “…do không gắn chặt với đời sống hiện thực, lại bắt nguồn từ nhận thức có phần mơ hồ lệch lạc và thiếu một tình cảm đúng đắn, mạnh mẽ làm cốt lõi, sự khái quát của anh trở nên chơi vơi và cuối cùng không đứng vững nổi.” [B8,973]
- Trong bài viết Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ, tác giả Nhị
Ca sau khi chỉ ra một số thành công như: thoát ra khỏi cái hào nhoáng tu từ, câu thơ Phạm Tiến Duật giống như bức tranh khắc gỗ với hai màu đen trắng tinh
Trang 12giản, thơ ngày càng gần với văn xuôi nhưng lại có những câu chữ móc vào trí óc của con người…đã liệt kê những điểm còn non của nhà thơ chuyên viết về Trường Sơn như sau: bạn đọc ít thuộc thơ anh vì câu thơ không có gì đáng nhớ;
vẻ xù xì của câu thơ chỉ là sự vội vã kém gia công kỹ thuật, một thứ tự nhiên thô thiển nào đó; sức khái quát thiếu bề rộng; cách xây dựng bài thơ dễ trở thành tẻ nhạt đơn điệu…[B8,960]
Ngoài những bài viết chủ yếu bàn về thơ Trường Sơn vừa kể trên của Phạm Tiến Duật, có thể nói mảng thơ sau hòa bình vẫn chưa được quan tâm đúng mức Có thể nói nó như một mảnh đất màu mỡ nhưng chưa có bàn tay khai phá của con người Mảnh đất ấy vẫn còn đang chờ chúng ta- những người nghiên cứu đến khai phá để tìm hòn ngọc còn ẩn sâu dưới lớp đất xù xì thô mộc
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Về thời gian sáng tác, luận văn chọn nghiên cứu những tác phẩm được sáng tác từ 1969 cho đến nay (2007)
- Về thể loại, luận văn tập trung tìm hiểu mảng thơ ngắn (4 câu) và thơ dài
(trên bốn câu) Hai trường ca Những vùng rừng không dân và Tiếng bom và tiếng chuông chùa chỉ khảo sát khi cần đối chiếu Truyện thơ thiếu nhi và văn xuôi
không nghiên cứu vì không nằm trong phạm vi yêu cầu của luận văn
3.2 Phạm vi nghiên cứu :
Chúng tôi chọn 8 tập thơ và những bài thơ lẻ chưa in thành sách với khoảng
170 bài thơ dài ngắn khác nhau để khảo sát trong luận văn này
Danh sách các tập thơ khảo sát trong luận văn: (Xin xem bảng 3.2.2 ở trang bên)
Trang 13STT Tên tác phẩm Năm xuất bản Ghi chú
4 Vầng trăng và những quầng lửa 1983
9 Những bài thơ chưa in thành sách
3.3 Mở rộng phạm vi nghiên cứu
Khảo sát và nghiên cứu mảng thơ, chúng tôi nhận thấy trong quá trình xây dựng hình tượng, Phạm Tiến Duật đã có những thành công nhất định về phương diện nội dung và nghệ thuật Do đó trong luận văn này chúng tôi đi sâu vào việc tìm hiểu và rút ra những điểm thành công cũng như những mặt chưa được về nghệ thuật của ông trong quá trình sáng tác
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp phân tích – hệ thống
Hình tượng thơ Phạm Tiến Duật trải rộng khắp theo chiều dài thời gian sáng tác và môi trường sống rộng lớn của ông nên cần phải có động tác đặt đối
Trang 14tượng nghiên cứu vào một hệ quy chiếu và phân tích để tìm ra tên gọi cũng như đặc điểm cốt lõi của từng nhóm hình tượng
4.2 Phương pháp lịch sử - so sánh
Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm nổi bật sự tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội đến sự hình thành hình tượng trong thơ Phạm Tiến Duật ra sao Cũng như thế, phương pháp này cho ta cái nhìn chính xác những đóng góp của thơ ông trước yêu cầu của thời đại Trong quá trình tìm hiểu, luận văn cũng tiến hành so sánh thơ của Phạm Tiến Duật với thơ ca các thời đại trước, đặc biệt
là với thơ của những nhà thơ cùng thời chống Mỹ cứu nước
4.3 Phương pháp thống kê - phân loại
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tiến hành sưu tầm, thu thập, phân loại tư liệu theo từng nhóm hình tượng, từng thời điểm sáng tác…Tuy nhiên do nội dung và đề tài trong thơ Phạm Tiến Duật tương đối rộng lớn nên nhóm hình tượng trong thơ ông khá nhiều nhưng số lượng ở mỗi nhóm hình tượng lại không lớn
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng thêm những phương pháp khác mang tính bổ trợ như phương pháp thi pháp học, phương pháp phê bình giới để những những nhận xét trong luận văn chuẩn xác hơn
4.4 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn giúp chúng tôi có được những ý kiến đánh giá thật xác đáng của gia đình nhà thơ Phạm Tiến Duật đối với sự nghiệp sáng tác và cuộc đời riêng của ông
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu Hình tượng thơ Phạm Tiến Duật chúng tôi cố gắng đạt đến những mục tiêu sau đây:
Trang 15- Cung cấp cho người đọc một cái nhìn toàn diện về thơ Phạm Tiến Duật suốt chặng đường sáng tác của ông
- Hệ thống hóa các nhóm hình tượng thơ và giá trị của từng nhóm hình tượng này trong việc chuyển tải tư tưởng tình cảm của tác giả
- Lý giải nguyên nhân vì sao thơ ông có sức sống mãnh liệt đặc biệt là thơ chống Mỹ cứu nước Đồng thời cũng làm sáng tỏ những thành công và hạn chế
về nghệ thuật khi xây dựng hình tượng thơ
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần dẫn nhập 15 trang, kết luận 2 trang , thư mục tham khảo 4 trang, phụ lục 9 trang, luận văn được trình bày trong ba chương chính:
Chương một: Phạm Tiến Duật-cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Chương hai: Hình tượng thơ Phạm Tiến Duật
Chương ba : Một số điểm nổi bật về nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật
Trang 16CHƯƠNG I: PHẠM TIẾN DUẬT - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC
1.1 Cuộc đời
Phạm Tiến Duật sinh ngày 24/01/1941 cầm tinh tuổi Thìn chứ không phải tuổi Tỵ như một số người thường nói (1) Thân sinh ông tên là Phạm Ngọc Phan một công chức ở thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ, người có thời gian dạy học ở tỉnh nhà Mẹ ông là bà Quản Thị Tâm, một người mù chữ làm ruộng ở làng Sỏi cùng tỉnh [B8,T858] Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp gia đình nhà thơ từ thị xã Phú Thọ về định cư tại xóm Đồng Bở xã Thái Ninh huyện Thanh
Ba tỉnh Phú Thọ
Năm 1964, sau khi tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông tham gia bộ đội Sau một thời gian phục vụ tại một đơn vị phòng không thuộc quân khu Tây Bắc, ông chuyển sang công tác tại Cục vận tải quân sự sau lại về Phòng tuyên huấn Cục chính trị 559 ngay khi đơn vị này vừa được thành lập Cùng với những người lính binh đoàn 559 anh hùng, Phạm Tiến Duật đã:
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Phạm Tiến Duật còn ở trong quân đội ít năm nữa Đến khoảng năm 1979-1980 thì ra quân về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội nhưng không lâu sau đó ông chuyển về làm biên tập cho báo Văn Nghệ Đến đầu thập kỷ 90, ông chuyển về công tác tại Hội Nhà văn Từ 2001 đến 2006 ông về Diễn đàn Văn Nghệ Cũng trong khoảng thời gian
(1)
Theo xác nhận của bà Nguyễn Thái Vân – vợ nhà thơ Phạm Tiến Duật
Trang 17này ông tham gia chương trình “Cây cao bóng cả” của Đài truyền hình trung
ương với tư cách là người dẫn chương trình Cuối năm 2007, chỉ sau 5 tháng phát bệnh, ông qua đời vì căn bệnh ung thư phổi tại Viện quân y 108
sau này nhờ nó núi rừng Trường Sơn đi vào lịch sử thơ ca
Phạm Tiến Duật là một người sống hết sức chân thành với mọi người xung quanh Ông luôn học hỏi từ những người đi trước để làm giàu thêm kiến thức cho mình Ông đặc biệt kính trọng và yêu quý nhà thơ Xuân Diệu Không những thường xuyên trao đổi bài viết với Xuân Diệu mà ngày ông hoàng thơ tình mất, Phạm Tiến Duật còn chấp bút cho ông Hà Xuân Trường viết điếu văn viếng
cây đại thụ của Thơ Mới [B8,T797] Không chỉ vậy, trong tập tiểu luận Vừa làm vừa nghĩ ta bắt gặp rất nhiều bài viết của ông về Xuân Quỳnh, Lưu Trọng Lư, Tô
Hoài,Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Nguyên Hồng…Những bài viết của ông về những nhà văn nhà thơ này là kho tư liệu quý giá cho người làm công tác nghiên cứu khoa học và cả những nhà thơ trẻ mới vào nghề
Mặt khác, với những người mới bước vào nghề viết lách, ông luôn tận tình dẫn dắt Có thể kể đến những tháng ngày đầu tiên nhà phê bình Đinh Quang Tốn
làm thơ, ông được “cây săng lẻ của núi rừng Trường Sơn”chỉ cho cách viết thế nào mới thật là thơ : “…bài thơ hay có hai dạng : một là bằng số câu, số chữ ít nhất, phải dựng đứng được trước mắt người đọc một bức tranh…hai là cũng
Trang 18bằng số câu chữ ít nhất , phải dựng lên được tâm trạng vui buồn” [B8, T953] Hay nhà thơ Châu Nho đã nhớ lại “anh đã sửa thơ cho tôi, anh còn hướng dẫn chúng tôi cách dùng ngôn ngữ trong thi ca…”[B8,T920] Phạm Tiến Duật cũng
đặt bút danh Châu Nho thay cho bút danh Nguyễn Thanh Châu trước đó Không thể kể hết những đóng góp, những dìu dắt của Phạm Tiến Duật đối với những cây bút trẻ, nhất là giai đoạn ông làm báo và viết tiểu luận
Trong cuộc sống đời thường, tấm lòng chân thành đó vẫn trải rộng ra với mọi người Những năm cuộc sống còn khó khăn, nhà ông vẫn luôn đầy tràn tiếng cười của những người bạn đồng niên, bạn sáng tác và cả bạn yêu thơ Căn nhà chật hẹp ở ngõ Yên Thế và sau này là căn hộ tầng năm khu tập thể Trung Tự luôn là nơi hội họp vui vẻ của tất cả bạn bè Có lần nhà soạn chèo Tào Mạt đã biến chiếc phản ngủ của gia đình nhà thơ thành sàn diễn chèo và tiếng nhạc sênh tiền được gõ từ cái nắp của hộp đựng kim chỉ!
Sau khi ra quân, tình cảm của ông đối với những người lính đồng đội và những người thanh niên xung phong năm xưa vẫn dạt dào sâu đậm Chính ông cũng tự nhận bản thân còn nặng nợ với những người đã từng một thời trận mạc trên những cung đường Trường Sơn máu lửa với ông Cho nên việc thai nghén
và cho ra đời trường ca Tiếng bom và tiếng chuông chùa là một sự tất yếu không
có gì lạ Tình thương của nhà thơ cũng dành một cung bậc đặc biệt cho thiếu nhi
Bắt nguồn từ tình yêu dành cho hai con trai, ông sáng tác một tập thơ Chú thỏ bay vào hội (Viết chung với Thanh An) và truyện dài Câu chuyện quanh nồi cao voi cho thiếu nhi
Nét đẹp trong nhân cách nhà thơ Phạm Tiến Duật không chỉ có vậy Những người đã từng tiếp xúc với nhà thơ đều có chung nhận xét ông là người hoạt ngôn, nhanh trí, lãng tử Điều đó cũng đúng thôi bởi vì nếu ông không lãng
Trang 19mạn như thế thì có lẽ cuộc đời ông sẽ không có thơ Và hơn nữa có nhà thơ nào
mà không lãng mạn Phải có một tâm hồn lãng mạn và lạc quan thì ông mới có những câu thơ xem thường sự khốc liệt của chiến tranh như thế Và cũng bởi vì lãng tử mà ngay sau khi thống nhất đất nước ông đã không trở về đơn vị ngay như yêu cầu của cấp trên Ông cứ đi đây đó để tìm cảm hứng và để ngắm một dải non sông mến yêu mà ông và biết bao đồng đội đã bất chấp tính mạng để bảo vệ
nó Và thế là một số người quy chụp cho ông cái tội “đào ngũ” và “tặng” cho ông cái án thật nặng nề: khai trừ Đảng Phải đứng ở góc độ người nghệ sĩ để hiểu ông thì mới thấm thía tấm lòng và tâm sự của ông Lúc nào trong lòng ông cũng
có một khoảng không tuy vô hình nhưng luôn hiện hữu Nó thôi thúc người nghệ
sĩ luôn khát khao, tìm tòi chất liệu mới cho thi ca Chính ông cũng từng nhận ra rằng người nghệ sĩ luôn có một hố thẳm trong lòng, khi sáng tác được một tác phẩm thì lấp được cái hố sâu đó Nhưng vừa lấp đi thì cái hố khác lập tức xuất hiện, có khi còn sâu hơn cái vừa lấp Nghĩa là người nghệ sĩ luôn đấu tranh với chính mình để vượt lên Khoảng thời gian vài năm cuối đời, tâm tư nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng tồn tại cái hố sâu vô hình đó Hiểu được điều này thì ta sẽ hiểu được vì sao những năm tháng cuối đời ông lại không sống ở tổ ấm của mình
ở khu tập thể Trung Tự, nơi hai đứa con thân yêu và người vợ tảo tần vẫn dõi mắt chờ ông Nhiều lần ông lang thang như một gã say vô định nhưng cái say của ông là say đời, say thơ của người nghệ sĩ tích cực Nhiều người không hiểu
cứ nghĩ ông vì một người đàn bà nào đó ở ngõ Văn Chương!
Trong cuộc đời của mình, Phạm Tiến Duật đã gặp nhiều trắc trở lận đận bởi chính sự tài hoa lãng tử cố hữu của người nghệ sĩ Không kể lần bị khai trừ
khỏi Đảng lúc mới vừa giải phóng, ông thường bị người khác “vạch lá tìm sâu”
ở những chuyện chẳng có gì to tát Tác phẩm Vòng trắng là một ví dụ điển hình
Trang 20Tác phẩm này bị cho là phản động vì nó dám đề cập một cách trực tiếp đến những đau thương mất mát trong chiến tranh-một chuyện rất hiển nhiên trong cuộc sống Ấy vậy mà vì chuyện này mà người ta treo bút ông Và những người bạn thơ, những đồng nghiệp một thời ca ngợi thơ ông đã không dám dây vào cái
án văn chương lùm xùm như thế Không chỉ có vậy, trắc trở đời ông còn là
chuyện bài thơ Cây na trong vườn mẹ mà nội dung chỉ là ca ngợi sự chịu thương chịu khó của bà mẹ Việt Nam, hay bài thơ Một giờ và mười phút được nhà thơ
viết để ca ngợi hậu phương vững chắc của mình là một cô giáo dạy toán ở Hà Nội Nói như vậy không phải là để đào xới lại những vướng mắc một thời nhưng
là để nhấn mạnh cuộc đời đầy những thăng trầm và thái độ trước những thăng trầm đó của nhà thơ Phạm Tiến Duật Khi cuộc sống gặp khó khăn thử thách, ông vẫn điềm nhiên, lạc quan Không tranh luận hay chống đối, xem mọi chuyện sướng khổ ở đời chỉ là trò đùa, có người sướng thì phải có kẻ khổ như cái cập kênh (bập bênh) của trẻ con chơi vậy Khi báo Văn Nghệ có Tổng biên tập mới
là nhà văn Nguyên Ngọc, Phạm Tiến Duật được đề nghị nghỉ ở nhà hưởng
nguyên lương thì ông chỉ bình thản nói “ Đời nó cứ trớ trêu như vậy…còn anh nghỉ thì nghỉ, bao giờ mời thì anh làm” [B8, T849] Rồi khi lên làm tổng biên
tập, nhà thơ Hữu Thỉnh mời ông trở lại thì ông hăng hái tham gia ngay như trước
đó chưa hề có chuyện gì Ở điểm này Phạm Tiến Duật làm ta nhớ lại câu thơ của Nguyễn Công Trứ :
Được mất dương dương người tái thượng Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Phải có một nhân cách cao thượng, lòng tự trọng và bao dung thì mới có thể sống như thế
Trang 21Thơ là tinh hoa của người nghệ sĩ, là kết tinh của những rung động huyền diệu nhất trong tâm hồn con người cho nên đối với người nghệ sĩ,Thơ là tất cả Đối với họ, của cải vật chất ở đời này chẳng là gì, rồi sẽ biến mất vào cõi hư vô nên không bao giờ họ coi trọng nó Phạm Tiến Duật cũng thế! Đáng ra với vị trí của mình, nếu muốn, Phạm Tiến Duật sẽ không sống như ông đã từng sống Biết một nhân tài như Phạm Tiến Duật chưa có một căn nhà đúng nghĩa để ở, ông Lê Đức Thọ đã gửi một lá thư tay nhờ thành phố Hà Nội lưu tâm đến nhưng ông đã không cậy dựa vào đó để mưu cầu hạnh phúc vật chất Với ông, ngày ngày leo lên tầng cao nhất của khu tập thể Trung Tự để về tổ ấm của mình là niềm hạnh
phúc lớn lao nhất rồi Tác giả Phạm Ngọc Tiến trong bài Ngọn gió ngàn đã lặng
[B8,T866] cũng kể rằng nhà thơ không vì sự quen biết với tổng giám đốc khu đô thị Mỗ Lao mà đầu tư kiếm lợi - một việc ông hoàn toàn có thể làm trong thời
điểm đó bởi ông hiểu một điều mà nói như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo là “ đất cát gì, chết đi chỉ hai mét là hết” Nhưng vấn đề này cũng có điểm cần xem lại
khi tác giả cho rằng vì không xem trọng vật chất nên những năm tháng cuối đời Phạm Tiến Duật phải tá túc tại nhà một người bạn ở ngõ Văn Chương Điều này
là không chính xác và chúng tôi đã trực tiếp xác nhận với bà Nguyễn Thái Vân-
vợ chính thức của nhà thơ Phạm Tiến Duật, và lý do ra đi chúng tôi đã đề cập ở phần trên
1.3 Sự nghiệp sáng tác
Không phải Phạm Tiến Duật đến với thơ lúc ông sống giữa núi rừng Trường Sơn và nhận giải thưởng báo Văn Nghệ năm 1969, cũng không phải ông đến với thơ lúc bắt đầu đi theo tiếng gọi của quê hương năm 1964 Ông đến với thơ từ rất sớm, từ những năm học trung học tại trường Hùng Vương tỉnh Phú Thọ Có lẽ tư chất thông minh ông được thừa hưởng từ người cha vắn số Điều
Trang 22này ít ai quan tâm nhưng nếu không tìm hiểu những vần thơ non trẻ của ông thì khó thấy được bước phát triển nhảy vọt của hồn thơ Phạm Tiến Duật Đó là
những Nỗi lòng của người học sinh đi muộn, là tiểu thuyết Chim họa mi, là tập thơ Trọ học Và còn đây là Bao gạo, Cháu nhớ bác Ngọ, Hương chè Vân Lĩnh, Nhớ anh, Tìm chim, Người con gái Hải Nam, Người yêu thứ nhất, người yêu thứ hai, Người yêu thứ ba…[B8,T820] Cố nhiên những bài thơ này không thể đạt
hiệu quả cao về nghệ thuật nhưng nó cho thấy sự cố gắng không ngừng để học hỏi, để vươn lên của tác giả
Trong hơn bốn mươi năm cầm bút (từ 1964 đến 2007), ông có khối lượng tác phẩm đáng nể phục:
* Về thơ:
- 6 tập thơ:
+ Vầng trăng quầng lửa 1970
+ Thơ một chặng đường 1970
+ Ở hai đầu núi 1981
+ Vầng trăng và những quầng lửa 1983
+ Thơ một chặng đường 1994
+ Đường dài và những đốm lửa 2002
+ Tuyển tập Phạm Tiến Duật 2007 và Toàn tập Phạm Tiến Duật (tái bản những tập thơ trước đây và một số bài mới) được gia đình cùng bạn bè biên tập
và in ngay trước khi ông mất và dịp kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn
- Nhiều bài thơ lẻ chưa in thành sách
- 2 trường ca: Những vùng rừng không dân, Tiếng bom và tiếng chuông chùa
Trang 23- 1 tập thơ thiếu nhi : Chú thỏ bay vào hội
- 2 tập văn xuôi phê bình tiểu luận khá sắc sảo: Vừa làm vừa nghĩ, Kim cương bất hoại
* Những giải thưởng đạt được:
- Giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ 1969
- Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt 2
- Huân chương lao động hạng Nhì 2007
- Giải thưởng Văn học của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân 2007
Trang 24CHƯƠNG II : HÌNH TƯỢNG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
2.1 Hình tượng lửa-đèn
Phạm Tiến Duật là một nhà thơ nhưng trước hết ông là một chiến sĩ cho nên thơ ông thời chống Mỹ cứu nước lẽ dĩ nhiên cũng mang đặc điểm của thơ cách mạng Nó tái hiện lại không khí sục sôi của cuộc chiến bằng nhiều hình tượng độc đáo mà trước hết là hình tượng lửa
Lửa là một trong những yếu tố cấu thành vũ trụ Thiếu nó, cuộc sống của con người không vượt qua cuộc sống của muông thú Nhờ có nó, con người khẳng định đẳng cấp bậc cao của mình Ta có thể thấy lửa nằm ở vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của con người thuộc các tôn giáo khác nhau Phật giáo cho rằng đây là một trong bốn yếu tố cấu thành vũ trụ cùng với nước, đất và không khí Như vậy nếu không có lửa thì vũ trụ nói chung và quả địa cầu này nói riêng sẽ mãi mãi là một khối hỗn độn lạnh giá Còn trong Thiên Chúa giáo, lửa có vị trí quan trọng không kém Đó là ngọn lửa cháy lên giữa màn đêm khi Thiên Chúa lập giao ước với ông Abraham [A9,a], là lửa đậu trên các Tông
đồ khi Thánh thần đến [A9,b] là lửa cháy trong những thị kiến trong sách Khải huyền [A9,c] Còn trong Kinh dịch, lửa là một trong năm yếu tố gắn bó hài hòa
để tạo nên vũ trụ này: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
Trang 25Như vậy có thể thấy một điều rằng lửa không chỉ có giá trị kiến tạo, nâng cao đời sống vạn vật con người mà nó còn được dùng để thanh lọc hủy diệt khi mọi vật không còn nguyên vẹn tinh tuyền Soi chiếu tất cả những quan niệm đó vào văn học ta nhận thấy lửa cũng đã từng chuyển tải những thông điệp hết sức quan
trọng Đơn cử như trong bài Bên kia Sông Đuống, tác giả Hoàng Cầm đã miêu tả
những gì đau đớn nhất, kinh hoàng nhất mà thực dân Pháp gây ra cho quê hương Kinh Bắc:
Ruộng ta khô Nhà ta cháy Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang Trở lại với thơ Phạm Tiến Duật, có thể thấy rõ một điều lửa là hình tượng xuất
hiện có thể nói là với tần suất cao nhất Nó như một thứ biểu tượng ám ảnh nhà thơ bởi ông đang phải sống trong thời kỳ rối ren đảo lộn mà chỉ có lửa là có giá trị biểu đạt cao nhất Nhà văn Đỗ Chu đã lý giải điểm này tương đối xác đáng
khi cho rằng: “…Đọc anh Duật thấy nói nhiều đến lửa, chỗ nào cũng lửa, lửa trong từng câu, từng bài và ở ngoài bìa những tập thơ…Dễ hiểu thôi vì Phạm Tiến Duật là người sống trong lửa, bước vào lửa và từ lửa lại bước ra…”[B8,T761]
Tùy theo mỗi hoàn cảnh mà lửa lại có ý nghĩa khác nhau Thứ nhất, lửa, lửa đèn, ánh lửa biểu thị cho sức sống tuy âm thầm lặng lẽ nhưng lại hết sức mãnh liệt, bền bỉ của dân tộc Việt Nam Có thể ở một vài thời điểm nào đó nhân dân ta bị giặc đô hộ, cai trị nhưng chưa bao giờ dân tộc ta khuất phục trước kẻ thù Có thể điểm qua một số bài thơ có biểu tượng lửa trong các sáng tác của Phạm Tiến
Duật như: Lửa đèn, Ngọn đèn chi bộ, Khoảng tối trong rừng, Hang đèn chín ngọn, Hỏa thiêu cho một người đang sống, Bếp lửa nhà mình, Tay bí tay bầu,
Trang 26Những mảnh tàn lá… Hình ảnh lửa đèn trong bài thơ cùng tên là hình ảnh mang
nhiều nét nghĩa Nhưng tựu trung lại nó biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, cho
truyền thống kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam trước bom đạn của giặc
Mỹ Những ngày đất nước còn thanh bình thì lửa chính là hình ảnh ẩn dụ của quả
cây chín: trái nhót, quả cà chua, trái ớt Vì mảnh đất này được nuôi dưỡng bởi
nguồn phù sa dồi dào và truyền thống yêu nước tự bao đời nên những nhành cây
nhờ đó mà cũng thắp sáng quê hương:
Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu…
Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu…
Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu…
(Lửa đèn, phần 1 - Đèn) Nhưng bọn chúng, lũ cướp nước, đã đến và cậy thế vào súng ống hiện đại và luận điệu xảo trá mong đè bẹp được nhân dân ta Chúng đã lầm! Dẫu có
chịu đau thương mất mát nhưng sức sống của dân tộc ta không dễ gì dập tắt Lửa
vẫn cháy đấy thôi! Lửa que diêm, lửa của ngọn đèn dầu, ánh lửa hàn Và cho dù
với sức hủy diệt khủng khiếp, chúng lao từ trên cao xuống làm tắt hết những
ngọn lửa này thì chúng ta vẫn không phải đi trong đêm tối, vẫn không hề sợ sệt
Bởi đơn giản một điều chúng ta vẫn còn đó :
Sáng những ngọn đèn Mang lửa từ nghìn năm về trước Lấy từ thuở hoang sơ
Giữ qua đời này đời khác
Tuy rằng hiện tại những chiếc đèn chứa đựng ánh sáng có thể tạm lui đi, tạm ẩn
mình vì hoàn cảnh khắc nghiệt nhưng rồi sau đó với truyền thống quật cường
nhân dân ta lại thắp sáng cả đất nước mình bằng :
Trang 27Chiếc đèn chui vào ống nứa
Chiếc đèn chui vào lòng trái núi…
Chiếc đèn chui vào chiếu vào chăn…
Ta thắp đèn lên trên đỉnh núi…
Và một mai khi hoàn toàn chiến thắng ta lại :
Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm
Ta thắp đèn lồng, thắp cả đèn sao năm cánh …ngôi nhà đèn hoa lấp lánh
…làm cây đèn kéo quân
Sở dĩ lửa vẫn cháy mặc cho bao biến cố, mặc cho sức hủy diệt khủng
khiếp của quân thù là bởi vì đó không phải là ngọn lửa bình thường trong bếp
mỗi ngôi nhà mà nó chính là “lửa tim ta đấy" Nó được các thế hệ cha ông
truyền lại cho con cháu qua cái cách rất riêng của dân tộc Nó được gìn giữ từ
thuở hoang sơ trong tro trong trấu, trong bếp lửa quây quần của con người từ đời
này qua đời khác Đọc đến đây, tinh thần dân tộc, truyền thống bất khuất của
đoạn thơ làm ta nhớ đến ý thơ trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi :
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về
Hay Nguyễn Khoa Điềm cũng đã từng viết:
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
(Trích Đất nước-Mặt đường khát vọng )
Làm sao bọn giặc cướp nước lại có thể hủy diệt được ngọn lửa bền bỉ luôn
rực cháy và tỏa hơi ấm áp trong lòng mỗi người Cũng như thế, hình ảnh lửa
Trang 28trong một số bài thơ khác cũng có ý nghĩa tích cực không kém Trong Khoảng tối trong rừng đó là ngọn lửa của người du kích thức suốt đêm dài để đón bộ đội:
Em gái nuôi quân ngồi trong khoảng tối Nhóm lửa rừng đón sáng đêm nay
Còn ngọn lửa trong bài thơ Hang đèn chín ngọn lại lung linh kỳ ảo giữa thực và
mộng dù con người đang sống trong cảnh bom đạn Chín ngọn đèn được thắp lên trong Hang đèn chín ngọn bởi giặc thù đã phá nát bản Lào nhỏ bé Trong hang núi, ngọn lửa đèn vẫn tồn tại dù chập chờn và nó là nguồn sáng, là hy vọng của chín gia đình phải sơ tán Không chỉ thế ánh sáng của chín ngọn đèn leo lét ấy được tiếp sức bằng ngọn lửa bùi nhùi của cô gái để rồi họ:
Đèn ghé vào đèn, truyền nhau ngọn lửa…
Mười ngọn đèn sáng rực quanh anh
Không những thế, lửa còn là một nhân chứng của cuộc chiến đấu thần kỳ chống giặc ngoại xâm Vào những thời điểm gay go nhất, dữ dội và cũng là anh hùng nhất, lửa đã có mặt Với phép nhân hóa, Phạm Tiến Duật đã thổi vào hình tượng lửa một sự sống động lạ kỳ để nó trở thành chứng nhân của lịch sử:
Giữa chiến trường, ngọn đèn sáng rực Lửa cười, lửa múa suốt đêm thâu
(Ngọn đèn chi bộ)
Ta sẽ bắt gặp quan niệm lửa là một trong bốn nhân tố kiến tạo con người
của đạo Phật trong bài Bếp lửa nhà mình Sau khi tổng kết lại những kiểu bếp
bản thân đã từng sử dụng, tác giả rút ra một nhận định có ý nghĩa tổng kết:
Ngọn lửa ơi lòng lửa tốt vô cùng Làm sinh ra người, lửa làm trái tim rực cháy Lửa làm bóng tối xa ra và mặt người gần lại
Trang 29Ngọn lửa nào thân bằng lửa bếp bạn bè ơi!
Điểm đặc biệt trong những sáng tác của Phạm Tiến Duật là ông đã nhìn ra chức
năng thanh luyện con người của lửa ngay ở đời sống hiện tại Hỏa thiêu cho một người đang sống là một ví dụ Không thể hiểu giá trị của ngọn lửa theo nghĩa
câu chữ mà phải hiểu đó là thứ giúp con người vượt qua những thứ tầm thường như thân xác, công danh, sự vướng bận và cả sự thành công để vươn tới một thứ
có giá trị vĩnh hằng: trái tim yêu và những trang thơ!!!
Ngọn lửa trong bài Tay bí tay bầu lại là vật chứng cho sức sống mãnh liệt
của dân tộc Trong quá khứ, dù lửa có tàn phá cuộc sống yên vui của con người
thì “Dây bí dây bầu vẫn cứ leo…”
Tuy nhiên đó chưa phải là tất cả ý nghĩa biểu trưng của lửa Có khi lửa lại
là hình ảnh ẩn dụ cho sức hủy diệt của quân thù Phạm Tiến Duật dường như đang đau nỗi đau của nhân dân, đang chịu đựng chung nỗi thống khổ của mọi người
Dữ dội rừng bên bốc cháy…
Giặc không biết đâu, chúng đang đốt rừng cho nứa nổ Nơi im lặng sắp bùng lên bão lửa
(Những mảnh tàn lá)
Nhưng có một điểm bất ngờ là dù chứng kiến khói lửa chiến tranh như thế nhưng ta cảm nhận dường như ở Phạm Tiến Duật không có sự khuất phục hay run sợ Ông nhìn những hậu quả, những tàn tích của lửa một cách rất bình thản Với ông những gì còn lại sau khi lửa cháy đơn giản chỉ là :
Rơi từ mây những cánh bướm đen…
Tàn lá đầy trời như mưa tuyết màu đen…
Trang 30Và có gì mà phải hốt hoảng trước cảnh tượng đó như cậu chiến sĩ ngồi cạnh bên bởi đơn giản một điều :
Những mảnh tàn rơi trên đầu ta đấy
Đã từng rơi từ mấy nghìn năm
(Những mảnh tàn lá)
Có khi thái độ trước ngọn lửa của tác giả là sự quên mình vì cuộc chiến của dân tộc Có thể sẽ phải nhận lấy một kết cuộc xấu nhưng ngay lúc này đối với Phạm Tiến Duật, nó có là gì so với những mất mát của nhân dân Chính vì thế ở điểm này ta bắt gặp những câu thơ kiểu như:
…Chiếc xe bùng cháy bất ngờ Chúng tôi lao vào dập lửa Biết nơi cần đạn đang chờ…
(Đồng chí lái chính, đồng chí lái phụ và tôi)
Cũng là coi thường sức hủy diệt của lửa nhưng ở bài thơ Niềm tin có thật
ta lại bắt gặp một cách nói vô cùng lãng mạn:
Giặc nhằm bắn bốn bề lửa cháy…
Vẫn cành hoa mềm mại cài ngang Trong bài Vầng trăng và những quầng lửa người đọc bắt gặp một dạng
thức rất lạ của lửa Hoàn toàn không cảm nhận được sức nóng của lửa
Bom bi nổ chậm trên đỉnh dồi Lốm đốm nền trời những quầng lửa đỏ Một lát sau cũng từ phía đó
Trăng lên
Trang 31Chính tác giả cũng tự thừa nhận điều đó khi bình phẩm bài thơ này “Cả bài thơ đều lạnh Vầng trăng cũng lạnh Lửa cũng lạnh…” [B7,T67] Và bởi vì
không nóng nên :
Trong ánh chớp nhoáng nhoàng cây cối ngả nghiêng … Cái cậu trẻ măng cất lên tiếng hát
Khi biết trong hầm có cô bé đang nghe
Nếu như lửa, đèn là những vật phát ra ánh sáng thì ta cũng bắt gặp một hình tượng thơ mang tính đối ngẫu với nó trong thơ Phạm Tiến Duật Ấy chính
là bóng tối ! Sách Sáng thế kí đã viết như sau về bóng tối: “…Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm mặt đất” [A9,d] Cuối thế kỷ 5
TCN, bộ Thiên Văn Lục có phân biệt ba trường phái về quan niệm cấu trúc vũ
trụ Đó là thuyết Cái thiên (Trời có cái nắp đậy), thuyết Tuyên dạ (đêm tối lan tràn khắp nơi, không trung vô tận) và thuyết Hồn thiên (thiên cấu mênh mông bao gồm cả Trái Đất)[A25] Bản thân ngành thiên văn học Trung Quốc cũng
chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và Phật giáo Theo Nho giáo lúc đầu
vũ trụ mênh mông mờ mịt trong một trạng thái gọi là Thái cực và biến hóa ra
âm, dương- hai thực thể tuy khắc nhau nhưng phối hợp điều hòa để tạo ra khí chất tức kim, mộc, thủy, hỏa, thổ[A25] Đưa ra những điều này để thấy một điều
rằng bóng tối tuy dễ khiến người ta sợ nhưng đó là một yếu tố không thể thiếu trong vũ trụ Bởi theo thuyết âm dương ngũ hành hài hòa nếu ánh sáng là dương thì chắc chắn phải có tối là âm
Trở lại với bóng tối trong thơ Phạm Tiến Duật, ta thấy đây là yếu tố xuất hiện với tần suất tuy ít nhưng mang nhiều ý nghĩa biểu đạt như ánh sáng - lửa,
đèn Nó giúp người đọc nhận ra cái nhìn biện chứng của tác giả khi quan sát thế giới xung quanh Sự vật hiện tượng luôn tồn tại trong thế đối lập mà thống nhất
Trang 32Bởi có ánh sáng nên bóng tối mới rời xa và bởi có bóng tối nên ánh sáng mới được nhìn nhận với giá trị thực của mình Tác giả Nguyễn Thị Tự Luệ trong
Chất triết lý, suy tưởng và nghệ thuật sáng tạo hình ảnh trong thơ Phạm Tiến Duật đã cho rằng “Bóng tối ở Việt Nam trong chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lại chứa đựng một thứ ánh sáng, một sức sống thầm lặng mà mạnh mẽ- đó là ánh sáng của tình yêu quê hương đất nước, ánh sáng của niềm tin, niềm hy vọng, ánh sáng của tinh thần lạc quan, nó đã nuôi dưỡng một sức sống mãnh liệt cho dân tộc ta từ ngàn xưa đến nay”[B8,T1073] Thật vậy, bóng tối trong thơ Phạm
Tiến Duật trước hết là thứ bóng tối xuất hiện để làm tiền đề, để dọn đường cho
ánh sáng xuất hiện Bóng tối trong bài thơ Lửa đèn không phải là thứ bóng tối
biểu đạt cho sự mất mát đau thương nhưng là bóng tối ngụy trang cho bộ đội Bởi ánh sáng đã tắt nên bây giờ nhiệm vụ của bóng tối là che mắt địch để kéo pháo lên trận điạ đồng cao, để những đoàn ô-tô nối đuôi nhau ra tiền tuyến Không những thế, bóng tối còn là địa điểm để cất lên tiếng hát ca ngợi đoàn TNXP phá đá sửa đường, để cho những đoàn quân xung kích ra trận Phạm Tiến Duật trong bài thơ này có một liên tưởng rất độc đáo Tất cả những gì bóng tối chở che kết hiệp lại tạo thành một bào thai chiến dịch nghĩa là bóng tối nuôi dưỡng cho mầm sống phát triển Nếu như ở đoạn trên ta bắt gặp chất lãng mạn trong ánh sáng - lửa thì bây giờ bóng tối cũng có chất lãng mạn đó Bởi bóng tối khiến con người có cảm giác đất trời rộng lớn mênh mông nên khi bóng tối che rồi thì :
Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi
Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói Bông hoa làm duyên phải lụy hương bay…
Trang 33Có lẽ ít có nhà thơ nào lại thi vị hóa bóng đêm như Phạm Tiến Duật Với ông, bóng tối như một người bạn đồng hành của con người chứ không chỉ đơn thuần là nơi cái ác ngự trị như xưa nay người ta vẫn thường nghĩ thế Vì như đã nói ở trên ánh sáng cùng với bóng tối góp phần tạo nên vũ trụ huyền diệu này
Cho nên người đọc sẽ không bất ngờ khi thấy trong Gửi em, cô thanh niên xung phong nhân vật bóng đêm giúp đôi lứa yêu nhau vượt qua những ngại ngùng của thuở ban đầu “Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón" Bóng tối còn là cuốn
nhật ký ghi lại tháng ngày yêu đương:
Ngày chủ nhật sao em không tới Đồng nông trường đêm về vời vợi…
(Nhật kí yêu đương) Bóng đêm lúc này là người bạn sẻ chia tâm trạng nhung nhớ của những
đôi lứa yêu nhau Cũng vậy trong bài thơ Gửi về Vinh, thành phố dọc đường
bóng tối xuất hiện là vì nhân vật trữ tình sợ cả nhà mất ngủ, bóng tối trong bài
Chia ra, nhập lại cũng gắn liền với tình cảm nhớ thương người thân và những
câu chuyện về một tương lai tươi sáng Hoặc có khi hình tượng này chỉ là một ít bóng tối còn sót lại trong cái ánh sáng tràn đầy của không gian Hay nói một cách dễ hiểu hơn, bóng tối là cái nền để làm nổi bật ánh sáng :
Em bảo anh: quanh ta trời đã sáng Khoảng tối nơi đây khoảng tối trong rừng (Khoảng tối trong rừng)
Nói tóm lại, bóng tối hay bóng đêm trong thơ Phạm Tiến Duật luôn xuất hiện với những ý nghĩa tích cực nhất Ở điểm này ta có thể thấy điểm tương đồng của Phạm Tiến Duật với một số nhà thơ chiến sĩ khác Bóng đêm trong những câu thơ sau rõ ràng gắn liền với sự lãng mạn và lạc quan :
Trang 34“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
nó đã trở thành một người bạn chiến đấu thân thuộc của ông
2.2 Hình tượng Trăng
Trăng là một hình ảnh xuất hiện sớm và nhiều trong quan niệm của con người xa xưa cũng như trong văn học Thuyết Hồn thiên của Trương Hành (78-139) thời Đông Hán cho rằng trên trời có ba vị “thần” có lẽ là Mặt trời, Mặt trăng và sao, còn trái đất có ba hình có thể là thổ, thủy và khí [A25] Trong khi
đó Phật giáo lại cho rằng: mỗi quả địa cầu có một mặt nhựt và một mặt nguyệt cùng với vô số tinh quang vây quanh…mặt trăng nửa đen là hơi đất, nửa trắng là hơi nước, đốm đen trong vòng trắng là hơi đất cù lao Mặt trăng nặng và gần hơn mặt trời [A24] Còn Thiên Chúa giáo thì quan niệm mặt trăng là một trong hai
tinh tú lớn nhất mà Thiên Chúa sáng tạo trong ngày làm việc thứ tư “Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm”[A,9e]
Trang 35Trăng cũng xuất hiện từ rất lâu trong văn học Đó là nơi ở của chú Cuội
sau khi cùng cây quý bay lên trời Là nơi ở của chị Hằng Nga cùng thỏ ngọc
trong câu chuyện Tây Du Kí của Ngô Thừa Ân Là ánh trăng của Lí Bạch trong
rất nhiều bài thơ Trong đó có thể kể đến Ngọc giai oán:
Khước há thủy tinh liêm Lung linh vọng thu nguyệt…
Hay Dạ đảo nhung y hướng minh nguyệt
Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường…
( Đảo y thiên )
Trong văn học Việt Nam, làm sao có thể kể hết những bài thơ có ánh trăng
Không kể văn học dân gian, văn học trung đại chỉ riêng Nguyễn Công Trứ đã có
Thú ẩn dật, Nợ tang bồng, Cầm kì thi tửu, Thoát vòng danh lợi Gần hơn thì có
Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh, gần hơn nữa có Việt Bắc của Tố Hữu Trong văn
thì có ánh trăng trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu từng làm
rung động biết bao bạn đọc Nhưng cho dù là của tác giả nào đi nữa thì ánh trăng
trong văn học được ca ngợi với tất cả sự yêu quý say mê Bởi trăng là biểu tượng
của sự thanh cao tinh khiết, là biểu tượng của cuộc sống thanh bình Phạm Tiến
Duật cũng không vượt ra ngoài vòng quay đam mê đó, nhất là khi được ngắm
trăng giữa Trường Sơn hùng vĩ
Không phải ngẫu nhiên mà Phạm Tiến Duật lại đặt tên cho tập thơ của
mình là Vầng trăng quầng lửa rồi sau đó là Vầng trăng và những quầng lửa
Nếu như ở thời bình trăng trong thơ ông là vầng trăng hiền hòa tượng trưng cho
cuộc sống thanh bình mà ta có thể thấy trong Tiếng bom và tiếng chuông chùa:
Trăng thường nhỏ trên ao nhà tôi Khác với vầng trăng dài trên sông quê bạn
Trang 36Cây tốt tươi hơn nếu có vầng trăng sáng Mặt người rạng rỡ hơn nếu có trăng đến soi cùng
thì trong những sáng tác nơi chiến trường đó là vầng trăng có sức sống mạnh mẽ,có khả năng vượt lên trên sự chết chóc hủy diệt Đối với trăng, giặc Mỹ có là
gì, sức mạnh của bom bi và lửa cháy có là gì bởi sau khi tất cả những gì đại diện
cho sự chết chóc xuất hiện thì trăng vẫn bình thản như tự bao đời nay:
Bom bi nổ chậm trên đỉnh đồi Lốm đốm nền trời những quầng lửa đỏ Một lát sau cũng từ phía đó
Trăng lên
( Vầng trăng và những quầng lửa )
Câu cuối của đoạn này trong bản thảo tác giả viết đến 7 chữ nhưng sau nhận thấy không phù hợp nên ông chữa lại chỉ còn 2 chữ [B7,T67] Thật như thế cũng là quá đủ với trăng rồi Nói nhiều thì càng làm rối câu thơ mà không đạt hiệu quả cao như tác giả đã chữa lại Điểm đặc biệt của bài thơ này là cách trăng xuất hiện ở đầu và cuối bài thơ Cái cách tác giả xây dựng mối tương quan đối
xứng giữa trăng và quầng lửa cũng góp phần tôn vinh trăng Ngay từ tựa đề bài
thơ tác giả đã cho thấy vị trí của trăng so với quầng lửa Mà cũng phải, bởi trong
thực tế đời sống có quầng lửa nào lại cao hơn trăng! Mở đầu bài thơ, tác giả đưa
ra thế đối xứng cân bằng: cùng từ phía những quầng lửa, trăng mọc lên Nhưng đến cuối bài thì trăng ở vị trí cao hơn hẳn và điều này hoàn toàn phù hợp với tự nhiên:
Và vầng trăng, vầng trăng đất nước Mọc qua quầng lửa mọc lên cao
Trang 37Trong những tháng ngày bom đạn dữ dội ấy, trăng đã góp phần không nhỏ vào những chiến công của toàn quân, toàn dân Đến đây ta lại nhớ ánh trăng của anh chàng lái xe tên Lãm và cô công nhân giao thông tên Nguyệt trong truyện ngắn
Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Nguyệt cũng là trăng mà trăng
cũng là nguyệt Lúc đường đi bị giặc bắn phá dữ dội, Lãm không thể mở đèn xe
và con đường trở nên dễ đi nhờ có ánh trăng thấp thoáng đâu đó cuối rừng và cả ánh trăng trong xe của anh Trở lại với ánh trăng của Phạm Tiến Duật, ta thấy khi bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tấn công thì trăng cũng có nhiệm vụ hết sức quan trọng Đó là trăng sẽ hóa thành trạm đèn để đoàn quân đi qua:
Đêm tấn công trăng sẽ hóa trạm đèn ( Đèn trăng )
Giữa cái khốc liệt chết chóc của chiến trường thì sự xuất hiện ánh trăng là rất cần thiết Có thể tạm hình dung sự đau thương mất mát là dương thì ánh trăng
sẽ là âm để cân bằng trạng thái tâm lý của con người Nó cũng giống như những cánh thư tình của chàng lính trẻ trước giờ xung phong vậy Trăng mọc lên cao và rải chiếu ánh sáng hiền hòa trên từng gương mặt, nâng đỡ từng cánh tay trên đường ra trận Nhưng nếu chỉ nói trăng lãng mạn hiền hòa thôi thì đó chưa phải thơ Phạm Tiến Duật Thơ Phạm Tiến Duật sở dĩ được bạn đọc yêu mến bởi nó
có những liên tưởng rất độc đáo Trong bài Đèn trăng, cùng là ánh trăng đấy
nhưng mỗi người tùy theo vị trí của mình lại nhìn ánh trăng với một kiểu khác Anh pháo thủ vì phải nhìn bầu trời bằng ống ngắm nên thấy trăng rất cao Còn anh lính lái xe vì đi trên con đường dài đuổi theo ánh trăng nên trong mắt anh trăng dài và rất mỏng Anh lính công binh có tầm hoạt động rộng lớn nên đối với anh trăng rất rộng Còn cô trực tổng đài luôn ngồi trong phòng kín nên trăng chỉ hiện diện nơi cửa sổ mà thôi:
Trang 38Anh pháo thủ thấy trăng rất cao Anh lái xe thấy trăng dài và mỏng Anh công binh thấy trăng rất rộng
Cô tổng đài trăng đến những ô vuông
Trăng từ lâu đã là bạn của những người ra trận vì miền Nam phía trước cho nên khi không được tiến bước cùng đồng đội thì trăng là người sẻ chia
những nỗi niềm Anh lính lái xe trong bài Nhớ (được viết theo lời một chiến sĩ
lái xe) vì bị thương không được ra trận nên nhớ ánh trăng đã từng theo mình trên những cung đường lửa bom:
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến…
Cũng có khi trăng là phương tiện để tác giả bày tỏ tình cảm đối với gia
đình mà đặc biệt là cha mẹ kính yêu của mình Trong bài thơ Trăng, trăng
khuyết làm tác giá nhớ đến cái liềm của người mẹ lam lũ trên đồng, trăng tròn gợi nhớ đến miếng sắt nung đỏ của người cha vất vả Trăng tròn cũng khiến tác giả nhớ lại tình cảm của mẹ qua hình ảnh chiếc bánh mẹ để dành cho năm xưa Tóm lại đối với tác giả lúc này, trăng là tất cả những gì yêu mến nhất, thiêng liêng nhất
Những suy tư, những chiêm nghiệm lẽ sống ở đời là một trong những nội dung mà hình tượng trăng chuyển tải Con người có thể sống giả dối với bản thân với mọi người nhưng đứng trước thiên nhiên bao la kì vĩ thì tất cả những che đậy dối trá đó đều biến mất:
Loài người sống có tường ngăn nhưng không thể dấu đi từng khuôn mặt
Trong khi biển gầm và vũ trụ trăng lên (Trăng lên)
Trang 39Bài thơ Mảnh sân là cái nhìn hết sức lãng mạn và là liên tưởng bất ngờ về cuộc
sống của tác giả Từ hình ảnh cái sân bóng chuyền, tác giả liên tưởng đến cái sân đời mà mỗi con người là một vận động viên và mặt trăng là quả bóng:
Trăng như quả bóng giữa trời Hai ta đứng giữa sân đời bao la
Phạm Tiến Duật đi nhiều, sống nhiều, trải nghiệm nhiều nên thơ ông đôi lúc chứa đựng một vẻ đẹp trí tuệ mà phải nghiên cứu, phải có kiến thức sâu rộng
mới lĩnh hội hết được cái thâm thúy của nó Lý ngư tôi vọng nguyệt là một trong
những bài thơ như thế Hình tượng bóng trăng nơi đáy nước là ảo ảnh của một giá trị đích thực trên không gian (mặt trăng) Nhưng con cá chép trong tranh lại không đi tìm giá trị đích thực mà cứ mãi đi tìm ảo ảnh của cuộc đời Bức tranh như muốn nhắn gửi con người một thông điệp: hãy đi tìm sự hoàn thiện viên
mãn đích thực của con người Lời chú của bức tranh: Lý ngư vọng nguyệt (Cá chép trông trăng) là sự minh chứng cho tính minh triết sâu sắc của bức tranh này Trở lại với bài thơ Lý ngư tôi vọng nguyệt nhân vật trữ tình tự nhận cá ấy là
anh (ngôi thứ hai) và cũng là tôi (ngôi thứ nhất) Và cho dù là xét ở ngôi nào đi nữa thì cá vẫn cứ sững sờ kinh ngạc trước cuộc sống dù cá không còn ngu ngơ như trong bức tranh xưa Tuy bây giờ cá tinh ranh hiện đại nhưng trước một cuộc sống mới: ồn ào, thay đổi nhanh chóng, không còn ai yêu mến văn chương
âm nhạc và tình yêu thì cá vẫn cứ là cá ngu ngơ xưa:
…Cá ấy là anh, cứ thấy hoa là lú Suốt một đời du đãng với mây trời
Cá ấy là tôi ham mê vùng vẫy
Để bây giờ sững sờ đứng ngắm mặt trăng trôi
( Lý ngư vọng nguyệt )
Trang 402.3 Hình tượng rừng
Ngay sau cách mạng tháng 8 thành công, Bác Hồ đến Tân Trào để nghe đồng chí tổng bí thư Trường Chinh báo cáo các chủ trương nghị quyết của TƯ Đảng và báo cáo Nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc kỳ của đồng chí đại tướng Võ Nguyên Giáp Trong những ngày đó bác đã ra một chỉ thị hết sức quan
trọng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hi sinh tới đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng cương quyết giành cho được độc lập” [A29] Như vậy dãy Trường Sơn đã có số phận lịch sử
mới mà nhờ sự hi sinh của nó hai miền Nam Bắc mới được liền làm một như hôm nay Cứ như thế Trường Sơn với những cánh rừng bạt ngàn đã thực hiện chỉ thị của Bác, đã chở che nuôi giấu biết bao nhiêu đoàn quân ra trận vì một đất nước thống nhất Và cũng chính vì sứ mạng lịch sử trọng đại đó mà Trường Sơn
đã để lại một dấu ấn đậm nét trong thơ văn giai đoạn chống Mỹ cứu nước Tất cả những hoạt động sôi nổi nhất, khẩn trương nhất mà cũng là hiểm nguy nhất đã
âm thầm diễn ra nơi núi rừng Trường Sơn
Trở lại với Phạm Tiến Duật, sau một thời gian ngắn tham gia ở đơn vị pháo cao xạ thuộc quân khu Tây Bắc, ông về công tác tại Phòng tuyên huấn cục chính trị đoàn 559 ngay khi đơn vị mới thành lập ngày 19/5/1959 Ông chính là một trong số người bước những bước chân đầu tiên trong binh đoàn 559 anh hùng Hình ảnh núi rừng bạt ngàn đã đi vào thơ Pham Tiến Duật nhẹ nhàng mà sừng sững như nó đã từng đi vào tác phẩm của các tác giả khác Có thể kể đến
những cánh rừng săng lẻ trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu,
Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Về thơ ta thấy có :
…Mắt khép, tai nghe tỉnh táo lạ lùng Người ngủ như nằm chờ giặc