Bách khoa thư ngôn ngữ và Ngôn ngữ học lại đưa ra cách hiểu cụ thể và chuyên sâu hơn về mạch lạc: “Mạch lạc là sự nối kết có tính logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS-TS Nguyễn Hữu Đạt và có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Những tài liệu sử dụng để thực hiện đề tài được trích dẫn cụ thể, có xuất xứ rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về nội dung bản luận văn này của mình
Hà Nội, ngày 21, tháng 04, năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài: 3
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục của luận văn 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Lý thuyết về mạch lạc 5
1.1.1 Quan niệm về mạch lạc: 5
1.1.2 Một số biểu hiện của mạch lạc: 8
1.1.2.1 Biểu hiện của mạch lạc theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm 9
1.1.2.2 Biểu hiện của mạch lạc theo quan điểm của Diệp Quang Ban: 9
1.1.2.3 Biểu hiện của mạch lạc qua một số quan niệm khác 11
1.2 Mạch lạc trong văn xuôi và mạch lạc trong thơ 13
1.2.1 Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi 13
1.2.2 Mạch lạc trong thơ và mạch lạc trong văn xuôi 16
1.3 Một vài nét về nhà thơ Phạm Tiến Duật 19
Chương II: MẠCH LẠC THEO QUAN HỆ THỜI GIAN TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 21
2.1 Vài nét về mạch lạc theo quan hệ thời gian 21
2.1.1 Biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ: 21
2.1.2 Mạch lạc theo quan hệ thời gian: 22
2.1.2.1 Quan hệ trình tự: 26
2.1.2.2 Quan hệ thời hạn: 30
2.1.2.3 Quan hệ tần số 30
Trang 52.1.3 Đặc điểm về quan hệ thời gian trong thơ: 31
2.2 Mạch lạc theo quan hệ thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật 35
2.2.1 Quan hệ thời gian trình tự: 37
2.2.1.1 Quan hệ thời gian đơn tuyến: 37
2.2.1.2 Quan hệ thời gian đa tuyến: 48
2.2.2 Thời gian thời hạn: 53
2.2.2.1 Thời gian thời hạn có các từ ngữ thời gian đánh dấu: 54
2.2.2.2 Quan hệ thời hạn không có từ đánh dấu: 58
2.2.3 Thời gian tần số 61
2.2.3.1 Thời gian đơn ứng: 62
2.2.3.2 Thời gian trùng ứng: 63
2.2.3.3 Thời gian hội ứng: 68
Tiểu kết chương II: 70
Chương III: MẠCH LẠC THEO QUAN HỆ KHÔNG GIAN TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 72
3.1 Vài nét về mạch lạc theo quan hệ không gian 72
3.1.1 Biểu hiện không gian trong ngôn ngữ 72
3.1.2 Mạch lạc theo quan hệ không gian: 73
3.1.3 Đặc điểm quan hệ không gian trong thơ 75
3.2 Mạch lạc theo quan hệ không gian trong thơ Phạm Tiến Duật 78
3.2.1 Quan hệ không gian theo thế đối lập trong – ngoài: 78
3.2.2 Quan hệ không gian theo thế đối lập cao – thấp: 80
3.2.3 Quan hệ không gian theo thế đối lập trên – dưới: 82
3.2.4 Quan hệ không gian theo thế đối lập xa – gần 83
3.2.5 Một số quan hệ không gian khác: 86
Tiểu kết chương III: 88
PHẦN KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong kháng chiến chống Mỹ Ông đã gắn bó với con đường Trường Sơn suốt giai đoạn kháng chiến và ghi lại những hình ảnh về một thế hệ sống gian lao mà kiên cường, đầy lý tưởng Xuyên suốt các tác phẩm thơ của ông là giọng đùa nghịch, tếu táo nhưng lại bộc lộ những miền sâu thẳm của tình cảm con người trong chiến tranh
Phê bình và nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duật đã có nhiều công trình của các tác giả như: Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Quần Phương, Đỗ Trung Lai, Vũ Văn Sỹ, Thiếu Mai, Mai Hương, Hoàng Kim Ngọc, …Ông cũng được giới thiệu trong các nghiên cứu văn học như: “Dọc đường văn học” (Nxb Văn học,
H, 1996); Nhà văn Việt Nam thế kỉ XX, tập III (Nxb Hội nhà văn, H, 2000);
“Từ điển tác giả văn học Việt Nam thế kỉ XX” (Nxb Hội nhà văn, H, 2003)…
Các công trình nghiên cứu đã tiếp cận thơ Phạm Tiến Duật ở nhiều góc
độ khác nhau, từ đó có những đóng góp nhất định về việc tìm ra nét độc đáo trong phong cách thơ ông Tuy vậy, việc nghiên cứu về mạch lạc trong thơ Phạm Tiến Duật đến nay vẫn chưa có bài viết hay công trình nghiên cứu nào
đề cập đến
Chính vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài: “Mạch lạc trong thơ Phạm Tiến Duật” để khảo sát mạch lạc trong thơ ông Với những nghiên cứu đạt được, chúng tôi mong muốn bổ sung thêm hướng tiếp nhận về mạch lạc trong thơ nói chung, về mạch lạc theo quan hệ thời gian, không gian trong thơ nói riêng; đồng thời góp phần đổi mới việc giảng dạy và phê bình thơ Phạm Tiến Duật
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các tác phẩm thơ Phạm Tiến Duật
- Phạm vi nghiên cứu: Mạch lạc trong thơ Phạm Tiến Duật được biểu hiện ở nhiều loại, trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên
Trang 7cứu của mạch lạc thông qua hai loại: mạch lạc theo quan hệ thời gian và mạch lạc theo quan hệ không gian
- Nghiên cứu ngữ liệu: Các văn bản được lấy từ hai tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” (1970 – Nhà xuất bản Văn học) và “Ở hai đầu núi” (1981- Nhà xuất bản Tác phẩm mới)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này nhằm thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu biểu hiện của mạch lạc qua cách thức sử dụng các quan hệ thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật
- Tìm hiểu biểu hiện của mạch lạc thông qua cách thức sử dụng các quan hệ không gian trong thơ Phạm Tiến Duật
- Qua đó rút ra mối liên hệ giữa cách triển khai mạch lạc thời gian, mạch lạc không gian với việc xây dựng hình tượng và phong cách thơ Phạm Tiến Duật
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này được tiến hành bằng những phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích diễn ngôn
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp cải biến
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp
so sánh
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Mạch lạc theo quan hệ thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật Chương 3: Mạch lạc theo quan hệ không gian trong thơ Phạm Tiến Duật
Trang 8PHẦN NỘI DUNG Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Lý thuyết về mạch lạc
1.1.1 Quan niệm về mạch lạc:
Mạch lạc là một phạm trù gắn liền với bộ môn ngôn ngữ học văn bản Nghiên cứu văn bản học không thể tách rời việc nghiên cứu các nhân tố tạo nên nó Bởi vậy, cùng với khái niệm liên kết, mạch lạc được tập trung nghiên cứu khá sâu
Trong lịch sử Ngôn ngữ học, khái niệm mạch lạc được hình thành và nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX Khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, khái niệm này được nghiên cứu sôi nổi ở Việt Nam Đến nay, mạch lạc đã trở thành một khái niệm quan trọng, chuyên sâu trong ngôn ngữ học văn bản trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Mặc dù mạch lạc là một khái niệm khá quen thuộc và là đối tượng chính của ngôn ngữ học văn bản nhưng vẫn còn khá nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề này Các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về mạch lạc Ở mỗi cách tiếp cận khác nhau, mỗi người lại có những nhận định riêng của mình về khái niệm này Vì các quan niệm về mạch lạc đa dạng như vậy, nên dưới đây, chúng tôi chỉ đưa
ra và phân tích một số quan niệm tiêu biểu về mạch lạc
Với một cách nhìn dung dị và đơn giản, David Nuan cho rằng: “Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp nhận như là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu và phát ngôn không có liên quan tới nhau” [32, tr.165] “Tầm rộng” ở đây chính là phạm vi hàm chứa mạch lạc Đó có thể là một văn bản dài, ngắn khác nhau, một đoạn văn, một số câu, hay một đoạn hội thoại có quan hệ “mắc vào nhau” Tác giả không chỉ ra biểu hiện cụ thể“mắc vào nhau” là như thế nào nhưng có thể hiểu chung rằng nó có liên quan đến nhau, phụ thuộc và chi phối nhau chứ không phải là “một tập hợp
Trang 9câu và phát ngôn không liên quan đến nhau” Định nghĩa đã nêu được bản chất mối quan hệ giữa các thành phần cấu tạo nên văn bản, từ đó tạo nên tính văn bản của mỗi văn bản đích thực
Bách khoa thư ngôn ngữ và Ngôn ngữ học lại đưa ra cách hiểu cụ thể
và chuyên sâu hơn về mạch lạc: “Mạch lạc là sự nối kết có tính logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện kể, … lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được kết nối với nhau hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết)” [2; tr10] So với định nghĩa của David Nuan thì định nghĩa này cụ thể hơn khi quan niệm “mắc bằng nhau” là sự “kết nối có tính logic” Mặc dù, cách nói khác nhau nhưng hai định nghĩa này đều
có nét trùng hợp nhau Cả hai định nghĩa đều thừa nhận sự quan hệ, phụ thuộc nhau giữa các thành phần cấu tạo văn bản khi khẳng định chúng “có mắc vào nhau” hay “là sự kết nối có tính logic” Điểm khác của định nghĩa này so với định nghĩa của David Nuan là nó không những chỉ ra được mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo văn bản mà còn chỉ ra bản chất của mạch lạc trong tương quan với liên kết; bởi các thành phần cấu tạo văn bản luôn “lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được kết nối với nhau, hơn là những dây liên hệ thuộc ngôn ngữ (như trong liên kết)” Một văn bản bao gồm các câu có mối quan hệ hình thức liên quan với nhau, mắc vào nhau chưa hẳn đã tạo ra mạch lạc Mạch lạc phải là bản chất chiều sâu bên trong mỗi văn bản thông qua quan hệ logic, ngữ nghĩa
Quan tâm đến vai trò của mạch lạc đối với văn bản, - K.Wales cho rằng: “Mạch lạc là một trong những điều kiện ban đầu hay tính ban đầu của một văn bản: Không có mạch lạc, một văn bản không phải là một văn bản đích thực” [23;tr9] Ở đây, K.Wales không đi sâu vào bản chất của mối quan
hệ giữa các thành phần cấu tạo nên văn bản Nói cách khác, ông không tập trung vào việc làm thế nào để có mạch lạc mà ông nhấn mạnh đến vai trò của mạch lạc đối với văn bản Nó là “điều kiện ban đầu”, “tính ban đầu” của một
Trang 10văn bản Vai trò của mạch lạc đối với văn bản quan trọng đến mức: “không có mạch lạc, một văn bản không phải là một văn bản đích thực”
Ở một góc độ tiếp cận khác, Nguyễn Thị Thìn có sự phát triển cụ thể hơn
về quan niệm mạch lạc: “Mạch lạc được hiểu là logic của sự trình bày Logic của sự trình bày có quan hệ chặt chẽ với logic khách quan, logic nhận thức nhưng không đồng nhất Bởi nó còn là kết quả của ý đồ, chiến lược giao tiếp của chủ thể tạo lập văn bản Nó còn được hình thành trong quan hệ với các quy tắc giao tiếp, với phong cách và thể loại của từng văn bản…Do vậy, người ta
có nói tới đặc trưng mạch lạc của từng thể loại văn bản, nét đặc thù về mạch lạc của từng văn bản thuộc cùng thể loại” [27;tr46] Ở định nghĩa này, mạch lạc cũng được khai thác trên khía cạnh về mối quan hệ giữa các thành phần cấu tạo nên văn bản, nhưng tác giả còn mở rộng thêm về khía cạnh phong cách và dụng học đối với mạch lạc Nếu như Bách khoa thư ngôn ngữ và Ngôn ngữ học chỉ nói đến mối liên hệ logic chung chung trong mối quan hệ giữa các thành tố cấu tạo văn bản thì Nguyễn Thị Thìn lại có cái nhìn sâu hơn khi nhấn mạnh đến
“logic của sự trình bày” Logic trình bày mặc dù có quan hệ chặt chẽ với logic khách quan, logic nhận thức nhưng nó không trùng khớp mà nó phụ thuộc vào
“quy tắc giao tiếp, với phong cách và thể loại của từng văn bản” Chẳng hạn, thời gian vật lý trong thế giới khách quan luôn tiến triển theo trình tự từ trước đến sau nhưng trong văn bản nghệ thuật có thể thời gian đó đảo chiều theo quan hệ hỗn hợp không theo trình tự đó Mặt khác, mạch lạc trong văn bản hành chính – sự vụ sẽ khác với mạch lạc trong văn bản nghệ thuật, mạch lạc trong văn xuôi sẽ khác mạch lạc trong thơ, …
Trong cái nhìn so sánh giữa mạch lạc với liên kết, Diệp Quang Ban tổng kết rằng: “Cách nhìn chung nhất hiện nay là những từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu – phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch
Trang 11lạc” [23, tr10] Mạch lạc và liên kết là hai khái niệm gắn liền với Ngôn ngữ học văn bản Chúng có mối quan hệ qua lại và chung một phần nội hàm; bởi vậy, giữa mạch lạc và liên kết thường có sự nhầm lẫn Định nghĩa về mạch lạc trong cái nhìn so sánh với liên kết là một cách để Diệp Quang Ban một mặt nêu được bản chất của từng thể loại, mặt khác phân biệt hai khái niệm dễ nhầm lẫn này Theo ông, cách hiểu phổ biến nhất hiện nay là liên kết thuộc về phần nổi của bề mặt văn bản, được thể hiện qua các từ ngữ trực tiếp thể hiện các quan hệ liên kết; còn mạch lạc thuộc về bề sâu trong văn bản, được thể hiện qua “ý nghĩa giữa các câu”
Qua các định nghĩa đã dẫn trên, ta thấy mạch lạc là một khái niệm trừu tượng, khó nắm bắt Bởi vậy, Diệp Quang Ban đã nhận xét rằng: “khó giảng giải thế nào là mạch lạc nhưng dễ cảm nhận khi thiếu vắng nó” [6, tr62] Chính đây là nguyên nhân dẫn đến việc có rất nhiều định nghĩa khác nhau về mạch lạc Mặc dù, các cách hiểu về mạch lạc đa dạng như vậy, nhưng có thể tóm lại một số nét đặc trưng cơ bản về mạch lạc như sau:
- Mạch lạc là yếu tố tiên quyết, quan trọng hàng đầu để tạo nên văn bản Thiếu mạch lạc, một văn bản không thể là một văn bản đích thực
- Mạch lạc được biểu hiện qua mối quan hệ móc xích, ràng buộc, chi phối lẫn nhau về mặt nghĩa giữa các thành phần tham gia cấu tạo văn bản nhằm hướng tới thể hiện chủ đề chung
- Mạch lạc được chi phối bởi quy tắc giao tiếp, ngữ cảnh, phong cách chức năng, và phong cách cá nhân của người sáng tạo ra văn bản
1.1.2 Một số biểu hiện của mạch lạc:
Như trên đã nói, bản chất của mạch lạc là mối quan hệ qua lại, ràng buộc nhau giữa các thành phần tham gia cấu tạo văn bản Nhưng mối quan hệ
đó được biểu hiện cụ thể như thế nào thì ngay trong mỗi định nghĩa khó có thể nêu đầy đủ Các nghiên cứu gần đây đã giúp chúng ta thấy rõ hơn những biểu hiện phong phú của mạch lạc Từ đó, chúng góp phần củng cố cơ sở lý
Trang 12thuyết về mạch lạc và giảm dần yếu tố mơ hồ, khó nắm bắt của thuật ngữ này Dưới đây là một số quan niệm về biểu hiện của mạch lạc:
1.1.2.1 Biểu hiện của mạch lạc theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Trần Ngọc Thêm không dùng khái niệm “mạch lạc” mà dùng khái niệm “liên kết nội dung” [25] Tuy vậy, phát hiện của ông về liên kết nội dung đã tạo cơ sở khơi nguồn cho những nghiên cứu về mạch lạc Theo ông, liên kết nội dung gồm hai bình diện là: liên kết chủ đề và liên kết logic
Liên kết chủ đề của văn bản chính là sự tổ chức những phần nêu của các phát ngôn Hai phát ngôn có thể coi là liên kết chủ đề khi chúng nói đến những đối tượng chung hoặc những đối tượng có quan hệ mật thiết với nhau
Khác với liên kết chủ đề, liên kết logic chủ yếu là sự tổ chức phần báo
Nó là một bình diện “sâu” hơn liên kết nội dung, mang tính ngữ nghĩa nhiều hơn, và cũng phụ thuộc vào những nhân tố ngoài ngôn ngữ nhiều hơn.”
Theo tác giả, liên kết chủ đề là một sợi dây xuyên suốt, xâu chuỗi các phần nêu bộ phận lại với nhau, còn liên kết logic là sợi dây khác xâu chuỗi các phần báo bộ phận với nhau Liên kết chủ đề, liên kết logic hay nói cách khác là liên kết nội dung đã làm nên sự thống nhất chặt chẽ và toàn vẹn của nội dung toàn văn bản
Sau này, một số nhà nghiên cứu đã đưa liên kết nội dung (theo cách hiểu của ngữ pháp văn bản) vào phạm trù mạch lạc, đồng thời tách những phương thức sử dụng phượng tiện ngôn ngữ để thể hiện liên kết nội dung ra thành một phạm trù riêng: phạm trù liên kết
1.1.2.2 Biểu hiện của mạch lạc theo quan điểm của Diệp Quang Ban:
Trong cuốn “Giao tiếp, văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn”, Diệp Quang Ban đã chỉ ra một số biểu hiện của mạch lạc như sau:
a Mạch lạc trong quan hệ nghĩa-logic giữa các từ ngữ trong văn bản
Biểu hiện này của mạch lạc được biểu hiện có quan hệ với nhau xét
Trang 13ở mặt nghĩa và logic của cá sự việc được nói tới Trong quan hệ logic giữ các từ ngữ trong văn bản, mạch lạc được biểu hiện qua bốn trường hợp sau:
nghĩa Mạch lạc được biểu hiện qua mối quan hệ giữa vật nêu ở chủ ngữ với đặc trưng được nêu ở vị ngữ
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các chủ đề của các câu
- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau:
- Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lý giữa các câu:
b Mạch lạc trong quan hệ giữa văn bản với ngữ cảnh tình huống (mạch lạc biểu hiện qua quan hệ ngoại chiếu)
Mạch lạc của văn bản với ngữ cảnh tình huống là mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu – quy chiếu từ ngữ trong văn bản với tình huống ngoài văn bản
c Mạch lạc diễn ngôn (mạch lạc trong chức năng)
Mạch lạc diễn ngôn được thể hiện ở khả năng dung hợp nhau giữa các hành động nói như: mời, chào, hỏi, yêu cầu, cảm ơn, hứa, … Có những hành động nói luôn phải đi liền với nhau nhưng có những hành động nói không ăn nhập gì với nhau Chẳng hạn: hành động hỏi đi liền với hành động trả lời, hành động xin phép gắn với hành động đồng ý hoặc từ chối, … Những hành
Trang 14động không nằm trong thói quen ứng xử của xã hội bị xem là lệch chuẩn, không mạch lạc
1.1.2.3 Biểu hiện của mạch lạc qua một số quan niệm khác
Nguyễn Thị Thìn [27] khẳng định mạch lạc là sự tổng hợp của 4 phương diện sau đây:
- Sự thống nhất về chủ đề và đích giao tiếp của toàn văn bản:
Sự thống nhất chủ đề và đích giao tiếp trên phạm vi toàn văn bản tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các câu trong văn bản, làm cho các câu luôn
“mắc vào nhau”, không thể tách rời
- Trình tự triển khai chủ đề văn bản đảm bảo tính hợp lý
Ý đồ giao tiếp của người tạo lập văn bản được thể hiện qua nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo tính hợp lý Tính hợp lý ở đây được hiểu là:
có thể lý giải được từ phía người tạo lập văn bản, và có thể chấp nhận được từ phía người tiếp nhận Trình tự triển khai chủ đề qua các phần của văn bản có thể được lý giải theo quan hệ thời gian, quan hệ không gian, quan hệ liên tưởng, quan hệ lập luận, … giữa các thành tố của văn bản
- Những mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành tố nội dung của văn bản:
Mạch lạc được tạo ra bởi quan hệ nội dung mệnh đề (nội dung phẩn ánh hiện thực khách quan) và quan hệ nội dung dụng học (nội dung bộc lộ, nội dung hành động, …) Nó được thể hiện ở các thành tố tạo văn bản ở tầng nghĩa cụ thể trực tiếp và cả tầng nghĩa sâu hàm ẩn
Đối văn bản nghệ thuật, bên cạnh những thành tố nội dung thường được trình bày theo trật tự trước – sau (như sự kiện, thời gian, …) bằng những khúc đoạn lời nói kế tiếp, còn có những thành tố được trình bày theo lối đan xen khá phức tạp Khi xác định mạch lạc văn bản, không thể bỏ qua những mối quan hệ đa dạng này
- Giải pháp triển khai chủ đề phù hợp với ý đồ giao tiếp và thể loại văn bản
Giải pháp triển khai chủ đề không chỉ phụ thuộc vào ý đồ giao tiếp của
Trang 15chủ thể mà còn bị chi phối bởi thể loại văn bản Chẳng hạn, trong văn bản chính luận, chủ đề thường được triển khai theo phương pháp luận: phản đề, quy nạp, diễn dịch, … hoặc phối hợp một vài phương pháp luận
Ở một góc độ khác, trong bài viết “Mạng nghĩa và tính mạch lạc của văn bản nghệ thuật” [14], tác giả Hữu Đạt cho rằng: “ cấu trúc tầng nền trong một văn bản không chỉ là mạng nghĩa tạo nên tính mạch lạc của nó mà còn có tác dụng xây dựng tính cách nhân vật cũng như biểu hiện phong cách nhà văn” Qua nhận định đó, ông đã khẳng định rằng mạng nghĩa là một biểu hiện góp phần tạo nên mạch lạc trong tác phẩm văn học nghệ thuật
Cụ thể hơn, trong bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra và phân tích cấu trúc của một văn bản nghệ thuật bao gồm 3 lớp khác nhau là: lớp cấu trúc bề mặt, lớp cấu trúc trung gian, lớp cấu trúc tầng nền Chính cách tổ chức này tạo nên mạng nghĩa, từ đó tạo ra mạch lạc cho một tác phẩm nghệ thuật
Phan Văn Hòa (trong luận án tiến sĩ mang tên: “Phương tiện liên kết liên câu, đối chiếu ngữ liệu Anh – Việt) [17] đưa ra một số biểu hiện về mạch lạc như sau:
- Sự thống nhất nội dung văn bản qua các quy tắc về cấu trúc ngữ nghĩa
- Sự đồng nhất trong kênh giao thoa chia sẻ giữa người sáng tạo văn bản và tiếp nhận văn bản
- Sự thống nhất mang tính hệ thống giữa các yếu tố trên với hoàn cảnh, tình huống giao tiếp
Nguyễn Hòa, khi bàn về mạch lạc diễn ngôn thì cho rằng mạch lạc là sự tích hợp của 3 yếu tố là: liên kết, cấu trúc và quan yếu [18] Từ đó tạo thành các dạng mạch lạc khác nhau: mạch lạc trong liên kết, mạch lạc trong cấu trúc
và mạch lạc trong quan yếu Ông khẳng định rằng nếu như trong một văn bản nào đó mà liên kết hình thức vắng mặt thì tính mạch lạc của diễn ngôn sẽ giảm Về cấu trúc, cấu trúc là yếu tố của mạch lạc mà thiếu nó văn bản sẽ trở nên lộn xộn, không mạch lạc Mạch lạc trong quan yếu có 4 yếu tố phát triển
Trang 16nội dung chính:
- Thông tin nền
- Thông tin nhận xét phản ứng của bên thứ ba
- Bằng chứng chi tiết hóa
- Kết quả hay hành động kéo theo của sự kiện chính
Nguyễn Thị Hồng Thúy [29] đã đưa ra một số nhận định như sau: “Trật
tự câu có vai trò to lớn đối với việc thiết lập tính mạch lạc cho văn bản Để văn bản có tính mạch lạc thì các nội dung, các sự kiện có liên quan đến chủ đề phải được sắp xếp theo một trật tự nhất định nào đó”
- Nếu chủ đề có nội dung được triển khai theo trật tự thời gian, không gian sẽ tạo ra mạch lạc về thời gian, không gian
- Nếu chủ đề có nội dung được triển khai theo trật tự quan hệ logic về mặt ngữ nghĩa sẽ tạo mạch lạc theo nội dung quan yếu
- Nếu chủ đề có nội dung được triển khai theo kiểu lý giải vấn đề sẽ tạo ra mạch lạc trong quan hệ lập luận
Ngoài những quan niệm về biểu hiện về mạch lạc vừa nêu trên, còn rất nhiều quan niệm khác mà trong điều kiện luận văn này, chúng tôi chưa nêu ra hoặc chưa có điều kiện tìm hiểu Rõ ràng, biểu hiện của mạch lạc là vô cùng phong phú và đa dạng Trong đó có biểu hiện về thời gian, không gian mà tới đây chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn
1.2 Mạch lạc trong văn xuôi và mạch lạc trong thơ
1.2.1 Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi
Ngôn ngữ mỗi văn bản đều bị chi phối bởi phong cách chức năng riêng của thể loại Bởi vậy, ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi cũng mang những đặc trưng riêng thể loại của chúng Cùng thuộc thể loại văn học nghệ thuật nên có một số điểm chung giữa ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ như: tính hình tượng, tính phong cách cá nhân, … Một số đặc điểm như tính biểu cảm, tính tạo hình, … mặc dù ở mỗi thể loại có mức độ biểu hiện cao – thấp khác
Trang 17nhau nhưng nhìn chung cả ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi đều có
Chính bởi giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có những điểm chung như vậy nên trên thực tế ranh giới giữa ngôn ngữ thơ và ngôn văn xuôi không phải khi nào cũng rõ ràng Người ta vẫn thường nói một đoạn văn, một bài văn nào đó có chất thơ Sỡ dĩ có điều đó bởi lúc này ngôn ngữ văn xuôi có những đặc trưng gần với ngôn ngữ thơ như: giàu chất trữ tình, giàu tính đối xứng, giàu hình ảnh và khả năng biểu hiện,
Bên cạnh những nét chung vừa nêu, trên phương diện ngôn ngữ học, ở
cả ba lĩnh vực ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, thơ và văn xuôi đều có những điểm khác nhau căn bản
Về ngữ âm, điểm khác nổi bật giữa thơ và văn xuôi là tính nhạc Trong khi văn xuôi là thể loại viết dàn trải, đều đều thì thơ lại rất giàu tính nhạc Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động, tình cảm Thế giới nội tâm của tác giả không chỉ được phản ánh qua ngôn ngữ bằng ý nghĩa, nó còn được biểu hiện âm thanh, nhịp điệu Ở mỗi ngôn ngữ, tính nhạc lại được biểu hiện khác nhau dựa trên đặc thù ngữ âm riêng của nó Nhận xét về tính nhạc trong tiếng Việt, Hữu Đạt cho rằng: “Tiếng Việt có một đặc điểm là giàu có về nguyên
âm, phụ âm và thanh điệu Chính vì thế độ dài của âm tiết thường ngắn và bao giờ cũng tách rời nhau Đây là một đặc điểm có ưu thế về tính nhạc hơn so với các thứ tiếng có số lượng nguyên âm, phụ âm ít hơn và không có thanh điệu” [12, tr201] Điều này khiến ngôn ngữ thơ Việt Nam rất giàu tính nhạc
và tính nhạc có vai trò lớn trong việc bộc lộ cảm xúc trữ tình của thi sĩ
Về mặt ngữ nghĩa, ngôn ngữ thơ có những đặc trưng khác với ngôn ngữ văn xuôi “Thơ là một nghệ thuật biểu hiện”, so với văn xuôi, ngôn ngữ thơ giàu tính biểu hiện hơn Thơ thường gắn với niêm luật, nhịp điệu và sự lạ hóa nên phương thức biểu hiện đòi hỏi sự cầu kỳ, mới lạ Theo Hữu Đạt thì phương thức biểu hiện là “việc khai thác các khả năng biểu hiện của các đơn
vị ngôn ngữ thông qua thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp trong quá trình tổ chức văn bản Thao tác lựa chọn giúp nhà nghệ sĩ lựa chọn một đơn vị trong
Trang 18một loạt các đơn vị có giá trị tương đương với nhau có thể thay thế nhau trên trục dọc Thao tác kết hợp cho phép nhà nghệ sĩ, sau khi đã lựa chọn có thể tạo ra những giá trị bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dân tộc cho phép” [12;tr81, 82] Như vậy, yêu cầu cao từ phương thức biểu hiện sẽ khiến tính chọn lọc và tính hình tượng của ngôn ngữ thơ cao hơn
so với văn xuôi Đó cũng là lý do khiến ngôn ngữ thơ thường có tính đa nghĩa
và có nhiều hiện tượng chuyển nghĩa hơn ngôn ngữ văn xuôi
(Vội vàng – Xuân Diệu)
Về mặt ngữ pháp thì hai câu thơ đầu chỉ là một câu, hai câu thơ sau
Trang 19cũng là một câu và được viết liền, không xuống dòng Nhưng trong đoạn thơ này, chúng lại được chia làm 4 câu thơ
1.2.2 Mạch lạc trong thơ và mạch lạc trong văn xuôi
Văn xuôi và thơ cũng như những loại văn bản chức năng khác, chúng phải tuân thủ những nguyên tắc của một văn bản nói chung Một tác phẩm văn xuôi hay một tác phẩm thơ phải có tính mạch lạc Điều đó được thể hiện qua sự gắn kết có tính móc xích với nhau giữa các câu, các đoạn văn, khổ thơ,
… để cùng hướng đến một chủ đề thống nhất
Tuy vậy, do đặc điểm ngôn ngữ thơ và văn xuôi có những điểm khác nhau nên mạch lạc trong thơ và mạch lạc trong văn xuôi cũng có những điểm khác biệt Ngôn ngữ văn xuôi không bị chi phối bởi giới hạn câu chữ, không bị nguyên tắc lạ hóa ảnh hưởng nhiều nên mạch lạc được thể hiện rõ ràng hơn qua câu chữ Ngược lại, ngôn ngữ thơ do sự áp chế bởi dung lượng câu chữ, niêm luật và nguyên tắc lạ hóa nên mạch lạc trong thơ có phần khó nắm bắt hơn
Trong văn xuôi, mạch lạc có thể được triển khai theo quan hệ ngữ nghĩa như sau:
Ví dụ 1:
“Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bên một lò gạch bỏ không, anh ta rước lấy và đem về cho một người đàn bà góa mù (1) Người đàn bà góa mù này bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ(2) Năm hai mươi tuổi, hắn làm canh điền cho ông lý Kiến, bấy giờ cụ bá Kiến, ăn tiên chỉ làng”(3) (Chí Phèo – Nam Cao)
Các câu (1), (2), (3) quan hệ với nhau theo trình tự thời gian trong thực
tế Sự việc xảy ra trước được kể trước, sự việc xảy ra sau được kể sau
Có khi quan hệ mạch lạc trong văn xuôi được triển khai theo quan hệ suy lý – logic:
Trang 20Ví dụ 3:
“Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời,
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khoá
Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ”
(Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên),
Trong ví dụ trên, đang nói về hình ảnh đập cửa – cửa vẫn đóng thì hình ảnh “cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ” hiện ra Nhìn về lớp nghĩa bề mặt của ngôn từ, ta khó có thể cắt nghĩa được nội dung, mục đích của đoạn thơ Bởi thế mạch lạc của nó chỉ có thể được hiểu khi mã hóa được các hình tượng thơ thông qua việc hiểu quá trình chuyển nghĩa của các cụm từ: “đấm nát tay”, “cửa cuộc đời”, “cửa đóng”, “đời im ỉm khóa” và “pho tượng chùa Tây Phương” Chúng ta có thể hiểu rằng hình ảnh “đấm nát tay” thể hiện sự nỗ lực đến kiệt sức của ông cha để tìm đường lối đổi đời cho dân tộc; hình ảnh “cửa cuộc đời” là ranh giới làm nên cách mạng, sự thay đổi; “cửa đóng” , “đời im
ỉm khóa” thể hiện sự bất lực của ông cha; “pho tượng chùa Tây Phương” là
Trang 21những hình ảnh biểu thị sự đau khổ của dân tộc ta Khi đã hiểu được những ý ngầm ẩn trong cách xây dựng hình tượng thơ thì chúng ta có thể dễ dàng xâu chuỗi được mạch lạc trong đoạn thơ trên theo quan hệ móc xích giữa các câu
Thơ là thể loại thiên về cảm xúc cá nhân, thơ là “tiếng lòng” nên việc tìm mạch lạc trong thơ đôi khi còn phải tìm hiểu về con người, cuộc đời, phong cách nhà thơ và bối cảnh xung quanh bài thơ như ví dụ dưới đây:
Ví dụ 4:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)
Ra đời bao nhiêu thập kỷ nhưng “Đây thôn Vĩ Dạ” vẫn là một ẩn số thách đố các nhà nghiên cứu, phê bình Mỗi người có một cách hiểu, cách lý giải riêng về bài thơ Sở dĩ như vậy bởi chúng ta rất khó để xâu chuỗi các khổ thơ trong bài để tìm ra mối quan hệ móc xích của nó Khổ 1 tái hiện lời mời chào và một cảnh buổi sáng tinh khôi ở khu vườn thôn Vĩ Khổ 2, tác giả chuyển sang tả cảnh đêm trăng buồn và sự chờ đợi khắc khoải Sang khổ 3,
Trang 22bài thơ nói về tâm trạng mộng mị, mơ hồ rất khó hiểu Trong bài viết “Mạch lạc trong bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử”, tiến sĩ Lê Thị Lan Anh
đã nhận định rằng: “Chính những đặc điểm chung của thơ Hàn đã phổ
vào “Đây thôn Vĩ Dạ”, tạo nên cái mạch nguồn bên trong của bài thơ mà nếu
chưa hiểu về chúng, về hoàn cảnh ra đời của bài thơ, về nhà thơ – bệnh nhân Nguyễn Trọng Trí thì chúng ta không tài nào lí giải nổi” [34]
Như vậy, qua những phân tích trên, ta thấy do tác động của đặc trưng ngôn ngữ thể loại nên mạch lạc trong thơ khó nắm bắt và mơ hồ hơn mạch lạc trong văn xuôi rất nhiều
1.3 Một vài nét về nhà thơ Phạm Tiến Duật
Phạm Tiến Duật sinh 4/1/1941 tại thị xã Phú Thọ - tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) trong một gia đình có cha làm nhà giáo dạy chữ Hán, mẹ làm ruộng
Năm 1964, ông tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Mỹ mở rộng chiến tranh đánh phá Miền Bắc, ông đã hăng hái lên đường nhập ngũ và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn
Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam
Chiến tranh kết thúc, ông về làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam- phó trưởng ban đối ngoại Hội nhà văn Việt Nam
Ngày 4 tháng 12 năm 2007, ông mất tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vì căn bệnh ung thư phổi
Giai đoạn 1954 – 1975 là giai đoạn cả dân tộc cùng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ Văn học lúc này tập trung vào hiện thực chiến đấu với cảm hứng chủ đạo là chủ nghĩa anh hùng cách mạng Hòa cùng không khí chung thời đó, Phạm Tiến Duật hăng hái vào chiến trường và trở thành cây bút tiêu biểu của giai đoạn lịch sử này
Thơ ông hồn nhiên, hóm hỉnh, giàu tính lạc quan với những phát hiện
Trang 23thú vị, đầy chất lính Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó tiêu biểu nhất là bài "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây" Những tập thơ chính:
Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970), nổi tiếng nhất với tác phẩm “Bài thơ
về tiểu đội xe không kính”
Ở hai đầu núi (thơ, 1981)
Thơ một chặng đường (tuyển tập, 1994)
Nhóm lửa (thơ, 1996)
Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997)
Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17-11-2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng)
Các tác phẩm của ông được nhiều người yêu mến và ông đã giành được nhiều giải thưởng có giá trị: giải nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ 1969-1970; năm 2001, ông được nhận giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I Tiếp đó, năm 2004 ông được nhận giải thưởng của Hội nhà văn cho tập tiểu luận “Vừa làm vừa nghĩ”; năm 2007, ông được trao tặng huân chương lao động hạng nhì Năm 2012 ông lại vinh dự được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật
Trang 24Chương II: MẠCH LẠC THEO QUAN HỆ THỜI GIAN TRONG THƠ
PHẠM TIẾN DUẬT
2.1 Vài nét về mạch lạc theo quan hệ thời gian
2.1.1 Biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ:
Thời gian là một khái niệm gắn với nhận thức của con người về sự tồn tại, vận động của sự vật trong thế giới khách quan Sự nhận thức đó được con người tiếp nhận và phản ánh lại trong ngôn ngữ và văn bản
Trong ngôn ngữ, thời gian được biểu hiện thông qua hai mặt: ngữ pháp
và ngữ nghĩa Mỗi ngôn ngữ tùy vào đặc trưng riêng của mình mà có hình thức biểu thị thời gian khác nhau Đối với các ngôn ngữ biến hình thời gian được thể hiện qua các dạng thức của động từ Thông qua động từ trong câu, chúng ta có thể nhận biết được thời gian được nói đến trong văn bản
Ví dụ 1:
I will buy a nice house in Ha Noi (1)
I bought a nice house in Ha Noi (2)
Nhìn vào dạng thức của động từ trong các câu trên ta dễ dàng nhận ra câu (1) diễn đạt một hành động chưa xảy ra và nó ở thì tương lai Nó được biểu hiện qua động từ động từ “will” biểu hiện thì tương lai và động từ “buy” đứng sau nó Câu (2) diễn đạt một hành động đã xảy ra ở quá khứ và được thể hiện qua động từ “bought” là dạng quá khứ của “buy”
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập nên không có hiện tượng biến đổi từ Phạm trù thời gian trong ngôn ngữ chủ yếu được thể hiện thông qua một số hư từ, các trạng ngữ chỉ thời gian và trật tự logic vật
Trang 25Trong ví dụ trên, ta có thể nhận ra sự khác nhau về thời gian trong ngôn
ngữ thông qua các hư từ: đã, đang, sẽ Cùng một cấu trúc câu như nhau
nhưng sự có mặt của các hư từ chỉ thời gian sẽ làm câu thay đổi về ý nghĩa Theo đó, ta biết được câu (4) chỉ một sự việc đã diễn ra trong quá khứ Câu (5) chỉ một sự việc đang xảy ra ở thời điểm nói Còn câu (6) chỉ một sự việc chưa xảy ra ở thời điểm nói
Ngoài ra, ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt còn được biểu thị qua các trạng ngữ chỉ thời gian như: hôm qua, hôm nay, bây giờ, lúc đó, …
Ví dụ 3:
Hôm qua, tôi đến Sài Gòn (7)
Chiều mai, tôi đến Sài Gòn (8)
Các câu (7), (8) có yếu tố thời gian khác nhau là do các từ chỉ thời gian
hôm qua, chiều mai quy định
Không chỉ các yếu tố từ vựng mà việc sắp xếp các sự kiện trong văn bản theo trình tự vật lý khách quan cũng có tác dụng định hình thời gian trong ngôn ngữ
2.1.2 Mạch lạc theo quan hệ thời gian:
Trong mỗi văn bản, việc sắp xếp, diễn đạt thời gian có vai trò quan trọng Nếu các yếu tố thời gian được trình bày rõ ràng, hợp logic sẽ tạo tiếp
Trang 26nhận dễ dàng cho người đọc Ngược lại, các yếu tố thời gian nếu trình bày lộn xộn, không hợp logic sẽ gây cho người đọc khó nắm bắt nội dung văn bản Bởi vậy, mạch lạc qua quan hệ thời gian là một yếu tố quan trọng khi triển khai văn bản Để triển khai loại mạch lạc này cần có những yếu tố ngôn ngữ biểu thị thời gian như đã phân tích ở trên
Mạch lạc theo quan hệ thời gian đã được một số công trình nghiên cứu
đề cập đến Gerad Gentte [1, tr35] đã phân thời gian vật lý thành 3 loại: thời gian trình tự, thời gian thời hạn và thời gian tần số
Quan hệ trình tự: được biểu thị trong thời gian qua hai quan hệ chính là quan hệ trước sau (trực tiếp, gián cách) và quan hệ đồng thời (cùng lúc) Quan
hệ thời hạn: là quãng thời gian kéo dài diễn ra sự kiện như 2 ngày, hai giờ,
…Thời hạn này trên văn bản có thể được đánh dấu bằng chương, hồi, màn, cảnh, …Quan hệ tần số được chia làm 3 trường hợp: đơn ứng, trùng ứng và hội ứng Quan điểm này đã được tác giả Trần Thị Vân Anh kế thừa và vận dụng trong luận án “Mạch lạc trong truyện Kiều của Nguyễn Du” [2]
Tác giả Lê Thị Kim Dung [10;tr 63 -83] xem xét mối quan hệ thời gian trong văn bản qua hai mối quan hệ: mạch lạc thời gian theo quan hệ trình tự
và mạch lạc thời gian theo quan hệ tần số Trong đó mạch lạc thời gian theo trình tự được phân thành thời gian nối tiếp trực tiếp và thời gian nối tiếp gián cách; thời gian đồng thời (sự việc diễn ra có từ ngữ đánh dấu và sự việc diễn
ra không có từ nối đánh dấu) Quan hệ tần số được tác giả chia làm 3 loại: thời gian đơn ứng, thời gian trùng ứng và thời gian hội ứng
Nguyễn Thị Hồng Thúy [29, tr73-78], khi nghiên cứu về quan hệ thời gian trong mạch lạc đã chia thời gian trong văn bản thành 2 loại: mạch lạc theo quan hệ thời gian đơn tuyến và mạch lạc theo quan hệ thời gian đa tuyến Trong mạch lạc thời gian đơn tuyến, tác giả chia thành 2 loại nhỏ là quan hệ thời gian trước – sau và quan hệ thời gian đồng thời Thời gian đa tuyến là dạng quan hệ thời gian lồng vào nhau
Kế thừa và tổng hợp các quan điểm trên, Nguyễn Thị Phượng trong
Trang 27luận văn “Mạch lạc theo quan hệ thời gian và không gian trong các bài đọc sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học” [23, tr28] cũng cho rằng mạch lạc thời gian trong văn bản gồm 3 mối quan hệ là: quan hệ trình tự, quan hệ thời hạn
và quan hệ tần số nhưng có một số điểm chỉnh lý và bổ sung so với các quan niệm trước đó
Quan hệ thời gian trình tự gồm 2 loại là: thời gian đơn tuyến và thời gian đa tuyến (mối quan hệ thời gian lồng vào nhau) Trong thời gian đơn tuyến có hai loại quan hệ thời gian nhỏ hơn là quan hệ thời gian trước- sau và quan hệ thời gian đồng thời Tiếp đó quan hệ thời gian trước –sau lại bao gồm thời gian nối tiếp trực tiếp và thời gian nối tiếp gián cách
Quan hệ thời gian thời hạn bao gồm: thời gian thời hạn có từ đánh dấu
và thời gian thời hạn không có từ đánh dấu
Quan hệ thời gian tần số bao gồm: thời gian đơn ứng, thời gian trùng ứng và thời gian hội ứng
Trong luận văn này, mạch lạc theo quan hệ thời gian được chúng tôi phân chia theo quan điểm của Nguyễn Thị Phượng Có thể hình dung mối quan hệ thời gian trong mạch lạc như sau:
Trang 28Mặc dù quan hệ thời gian trong văn bản được chia làm 3 loại như trên nhưng đó là 3 loại xét ở các phương diện khác nhau dựa vào các tiêu chí khác nhau Thời gian trình tự dựa vào tiêu chí quan hệ giữa trình tự trình bày thời gian trong văn bản và trình tự thời gian theo diễn biến sự kiện; thời gian thời hạn dựa vào tiêu chí trình bày thời gian theo dung lượng và sự kiện lớn; còn thời gian tần số dựa vào tiêu chí quan hệ giữa tần suất xuất hiện sự kiện và tần suất trình bày sự kiện trong bài Vì vậy, một sự kiện khi thuộc một trong 3 quan hệ thời gian đã nêu không có nghĩa là chúng không thuộc quan hệ thời gian khác Điều đó có nghĩa là một sự kiện có thể vừa có quan hệ thời gian đồng thời vừa có quan hệ thời gian đơn ứng, hoặc một sự kiện lại vừa có quan
hệ thời gian thời hạn vừa có quan hệ thời gian trước – sau với sự kiện khác Bởi vậy Trần Thị Vân Anh đã nhận định về quan hệ thời gian trong “truyện Kiều” rằng: “Về quan hệ thời gian, trừ hồi I không có tính sự kiện, 7 hồi còn lại của Truyện Kiều đều có quan hệ thời gian với nhau theo cả ba kiểu quan
hệ thời gian là: quan hệ thời hạn, quan hệ trật tự trong thời gian và quan hệ
Trang 29tần số” [1.tr36]
Cả 3 loại thời gian trình tự, thời hạn, tần số đều có vai trò nhất định trong việc thiết lập mạch lạc trong văn bản Thời gian trình tự có vai trò kết nối các sự kiện, giúp ta nhận diện được sự kiện nào xảy ra trước, sự kiện nào xảy ra sau từ đó thiết lập được logic diễn biến của sự kiện Thời gian thời hạn
có vai trò xác định thời gian xảy ra sự kiện là bao lâu để ta có thể hình dung
và đánh giá ý nghĩa sự kiện trong mối liên hệ với các sự kiện khác và với phạm vi toàn bài; đồng thời nó còn giúp ta nhận diện được các mốc sự kiện lớn có ý nghĩa trong bài Cuối cùng, thời gian tần số có vai trò xác định mức
độ quan trọng của các sự kiện đối với chủ thể được nói đến, đối với diễn biến chung của toàn bộ văn bản Tóm lại, bằng các cách khác nhau, cả ba loại quan
hệ thời gian trên đều tạo liên hệ, gắn kết giữa các sự kiện, các khối sự kiện với nhau Bởi vậy, chúng có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo mạch lạc, nhờ chúng mà việc tiếp nhận nội dung của văn bản trở nên dễ dàng
Để hiểu rõ hơn về các quan hệ thời gian trong mạch lạc, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về từng loại quan hệ thời gian cụ thể
2.1.2.1 Quan hệ trình tự:
Mạch lạc theo quan hệ trình tự trong luận văn này được chia làm 2 loại là: quan hệ đơn tuyến và quan hệ đa tuyến Để thiết lập quan hệ thời gian này nhất thiết phải có ít nhất hai sự kiện có quan hệ về mặt thời gian với nhau
a Quan hệ thời gian đơn tuyến:
Mạch lạc theo thời gian đơn tuyến là hình thức tổ chức và sắp xếp các
sự kiện có quan hệ với nhau về mặt thời gian theo thứ tự trước – sau hoặc đồng thời
* Quan hệ thời gian trước – sau:
Quan hệ thời gian trước – sau là mối quan hệ mà các sự kiện xảy ra được phản ánh trong văn bản theo thứ tự lần lượt Sự kiện nào xảy ra trước được phản ánh trước, sự kiện nào xảy ra sau phản ánh sau theo đúng quy luật của thời gian vật lý trên thực tế
Trang 30Ví dụ:
“Và họ thấy Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt Máu ra loe loét trông gớm quá! Mấy con chó xông vào quanh hắn, sủa rất hăng Lý Cường hơi tái mặt, đứng nhìn mà cười nhạt, cười khinh bỉ”
(Chí Phèo – Nam Cao)
Trong ví dụ trên, các sự kiện diễn ra lần lượt như sau:
- Sự kiện 1 Chí Phèo “lăn lộn dưới đất”, “vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt”
- Sự kiện 2: Máu chảy loe loét
- Sự kiện 3: Lý Cường hơi tái mặt, cười nhạt, cười khinh bỉ
Các sự kiện trên lần lượt xảy ra theo trật tự thời gian từ trước đến sau Sự kiện xảy ra trước được trình bày trước, sự kiện diễn ra sau được trình bày sau theo đúng diễn biến của sự kiện ở thực tế khách quan
Trong mối quan hệ thời gian trước – sau chúng ta có 2 mối quan hệ nhỏ hơn như sau:
Quan hệ thời gian nối tiếp trực tiếp: là kiểu quan hệ thời gian mà sự kiện này xảy ra ngay sau sự kiện kia mà không có khoảng thời gian ngắt quãng nào
Ví dụ:
“Hắn cười ngất, và muốn làm thị thẹn thùng hơn nữa, hắn véo thị một cái thật đau vào đùi (1) Lần này thì không những thị nẩy người(2) Thị kêu lên choe choé (3) Thị nắm cổ hắn mà giúi xuống (4)”
(Chí Phèo – Nam Cao) Trong ví dụ trên các sự kiện xảy ra lần lượt như sau:
Câu (1): Hắn cười, hắn véo
Câu (2): Thị nẩy người
Câu (3): Thị kêu lên
Câu (4): Thị nắm cổ hắn, giúi xuống
Rõ ràng, các sự kiện được hai người thực hiện và được trình bày
Trang 31theo thứ tự lần lượt từ trước đến sau, sự kiện này nối tiếp ngay sau sự kiện kia
Quan hệ thời gian nối tiếp gián cách: là loại quan hệ thời gian xảy ra theo thứ tự lần lượt từ trước đến sau nhưng các sự kiện xảy ra không liên tục
mà có thời gian ngắt quãng chen vào
và hai con (10)”
Sự kiện trong các câu trên xảy ra một cách trình tự như sau:
Câu (5): mãn hạn 3 năm tù không về
Câu (6): có trát về làng
Câu (7): Lý Kiến khai sau khi có trát về làng
Câu (8): Hắn về sau khi Lý Kiến khai trát
Câu (9): Lý Kiến sai đầy tớ đến đòi hắn sau khi hắn về làng
Câu (10): Hắn đến ngay sau khi Bá Kiến đòi, dẫn theo vợ con
Các câu (5), (6), (7), (8), (9) xảy ra không liên tục bị ngắt quãng thời gian
* Quan hệ thời gian đồng thời:
Quan hệ thời gian đồng thời biểu thị những sự kiện được nêu trong văn bản cùng xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định Quan hệ này có thể được đánh dấu bằng một số từ như: Lúc ấy, cùng lúc, trong khi đó, lúc bấy giờ, …
Ví dụ 1:
“Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó,
nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết;
Trang 32kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh sầu thảm, kể sao cho xiết!”
(Sống chết mặc bay – Phạm Duy Tốn) Trong ví dụ trên sự kiện quan lớn ù ván bài to và sự kiện dân tình khổ
sở vì lũ xảy ra cùng lúc, song song với nhau về mặt thời gian Đặc điểm quan
hệ thời gian này được đánh dấu bằng từ “trong khi”
Ví dụ 2:
“Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức gìn giữ,
kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy, ngập quá khuỷu chân, người nào người ấy, lướt thướt như chuột”
(Sống chết mặc bay – Phạm Duy Tốn)
Ở ví dụ trên, các hành động: “kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất,
kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy” được xảy ra đồng thời trong một khoảng thời gian Mặc dù, không có các từ ngữ đánh dấu nhưng cách trình bày các sự kiện đã thể hiện rõ mối quan hệ thời gian này
b Quan hệ đa tuyến:
Quan hệ thời gian đa tuyến là kiểu quan hệ thời gian được trình bày không theo trình tự trước sau Các quan hệ thời gian được trình bày theo kiểu lồng vào nhau, đan xen nhau
Ví dụ:
“Rồi hắn xách chai ra về (1) Hắn về cái miếu con ở bờ sông, vì vốn từ trước đến nay không có nhà (2) Lúc đi đường, hắn đã vặn được ở nhà nào đó bốn quả chuối xanh, và bốc của cô hàng xén một dúm con muối trắng(3) Bây giờ hắn uống rượu với chuối xanh chấm muối trắng và thấy rằng cũng ngon”
(Chí Phèo – Nam Cao)
Ta nhận thấy câu (1), (2) nối tiếp nhau theo trình tự trước – sau Câu (3) không nối tiếp sau sự kiện của câu (1) và câu (2) mà lại trình bày về thời gian diễn ra sau câu (1) nhưng lại trước câu (2)
Trang 332.1.2.2 Quan hệ thời hạn:
Quan hệ thời hạn: là quãng thời gian kéo dài diễn ra sự kiện như 2 ngày, hai giờ, …Thời hạn này trên văn bản có thể được đánh dấu bằng chương, hồi, màn, cảnh, … Nếu quan hệ thời gian trình tự cần ít nhất 2 sự kiện có quan hệ với nhau thì quan hệ thời gian này có thể chỉ có một sự kiện hoặc nhiều sự kiện nhỏ tạo thành một giai đoạn trong diễn biến của truyện
Ví dụ 1:
“Vợ lão chết đến bảy tám năm nay rồi, con gái lão chửa hoang bỏ lão
đi, lão chỉ có một mình, không còn vợ con nào mè nheo cả, lão muốn uống đến bao giờ thì uống.”
(Chí Phèo – Nam Cao)
Sự kiện vợ Tự Lãn chết là một sự kiện diễn ra trong một khoảng thời gian Nó được đánh dấu bằng cụm từ có yếu tố thời gian “bảy tám năm nay”
2.1.2.3 Quan hệ tần số
Quan hệ tần số là quan hệ thời gian gồm 3 quan hệ nhỏ hơn: quan hệ đơn ứng, quan hệ trùng ứng và quan hệ hội ứng Kiểu quan hệ thời gian này có thể
có một hoặc nhiều sự kiện tạo thành
* Thời gian đơn ứng:
Thời gian đơn ứng: là kiểu thời gian xảy ra một lần và được kể lại duy nhất một lần trong văn bản
Ví dụ:
“Chưa bao giờ Chí Phèo được thỏa thê đến thế! Hắn lấy làm lạ sao mãi đến hôm nay mới ngồi uống rượu với thằng cha Tự này Chúng uống với nhau rất là nhiều Và rất là nhiều Người ta tưởng như cả làng Vũ Ðại phải nhịn uống để đủ rượu cho chúng uống”
(Chí Phèo – Nam Cao)
Sự kiện Chí Phèo uống rượu cùng Tự Lãn chỉ diễn ra một lần và được
kể duy nhất một lần trong truyện Chí Phèo
Trang 34- Lần 1: Sau đêm Chí Phèo gặp Thị Nở ở vườn chuối “Thị vào cắp một
cái rổ, trong có một nồi gì đậy vung Đó là một nồi cháo hành còn nóng
nguyên.” (Chí Phèo – Nam Cao)
- Lần 2: Sau khi Chí Phèo bị Thị Nở trút giận “Thoáng một cái, hắn lại
như hít hít thấy nồi cháo hành Hắn cứ ngồi ngẩn mặt, không nói gì”
- Lần 3: Khi Thị Nở đã về, Chí Phèo uống rượu nhưng càng uống càng
tỉnh ra: “Hơi rượu không sặc sụa Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành”
* Thời gian hội ứng:
Thời gian hội ứng là loại quan hệ thời gian diễn tả một sự kiện diễn ra nhiều lần nhưng chỉ được kể lại duy nhất một lần trong văn bản Các từ ngữ đánh dấu thời gian này là: bao lần, hàng ngày, đêm đêm, bao ngày, …
Ví dụ:
“ Mỗi lần chị Binh đi lĩnh lương hay lĩnh măngđa của chồng, phải
mượn ông Lý đi nhận thực Không ông lý nào vác nhà đi ăn mà nhận thực cho người ta, điều ấy đã cố nhiên.”
(Chí Phèo – Nam Cao)
Trong ví dụ trên, sự kiện chị Binh mượn ông Lý đi lĩnh lương và Măngđa của chồng diễn ra nhiều lần nhưng chỉ được kể một lần trong truyện
2.1.3 Đặc điểm về quan hệ thời gian trong thơ:
Mỗi thể loại văn bản có cách triển khai đề tài và đặc trưng ngôn ngữ khác nhau Bởi vậy, biểu hiện mạch lạc nói chung và mạch lạc theo quan hệ thời gian nói riêng ở mỗi thể loại cũng khác nhau Nghiên cứu mạch lạc theo
Trang 35quan hệ thời gian trong thơ, chúng ta phải luôn đặt các quan hệ thời gian trong đặc trưng riêng của thể loại để tìm ra nét riêng của nó so với các loại văn bản khác
Cùng là những văn bản nghệ thuật có vai trò tái hiện bức tranh hiện thực cuộc sống một cách sinh động nhưng truyện và thơ có những cách tái hiện riêng Nếu như truyện thiên về tái hiện cuộc sống một cách khách quan,
từ đó kín đáo lồng vào quan điểm nhà văn thì thơ lại thường trực tiếp biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả Bởi thế người ta cho rằng thơ là tiếng lòng, là tiếng nói tri âm giữa độc giả và thi sĩ
Chính bởi đặc trưng về phương thức tổ chức nên quan hệ thời gian trong thơ và truyện cũng có điểm khác Ở mỗi tác phẩm truyện thường có cốt truyện, bởi vậy dù tác giả có cách thức triển khai thời gian thế nào, người đọc vẫn có thể hình dung diễn biến của một sự kiện theo trình tự thời gian từ trước đến sau Chẳng hạn, trong truyện Chí Phèo, ta có thể hình dung được cuộc đời Chí Phèo theo chuỗi các sự kiện trình tự: Chí Phèo bị bỏ rơi ở lò gạch – Chí Phèo đi ở - năm 20 tuổi, Chí Phèo đi tù – Chí Phèo ra tù – Chí Phèo gặp Thị
Nở - Chí Phèo bị Thị Nở từ chối – Chí Phèo giết Bá Kiến và tự tử
Ngược lại, trong thơ việc hình dung các sự kiện theo quan hệ thời gian không phải khi nào cũng dễ dàng Ở mỗi tác phẩm thơ, việc triển khai đề tài thường không gắn với diễn biến của một sự kiện mà thường theo trình tự cảm xúc cá nhân của tác giả Bởi vậy, rất nhiều bài thơ không có cốt truyện Chúng được lắp ghép từ các “mảng miếng” bởi các sự kiện nhỏ lẻ, rời rạc theo cảm xúc chủ quan của tác giả Trong bài viết “Đặc điểm phong cách thơ
và ca dao: nhìn từ góc độ giao tiếp”, tác giả Hữu Đạt cho rằng: “Thơ là loại văn bản nghệ thuật có tổ chức ngôn ngữ bằng cách lắp ghép các mảng cảm xúc và hình tượng” [13.tr63] Chẳng hạn, đọc bài “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên rất hiếm gặp các sự kiện theo quan hệ thời gian mà chủ yếu là hình tượng thơ và mạch cảm xúc cá nhân của tác giả về vùng đất Tây Bắc, về cảm
Trang 36hứng xây dựng tổ quốc nói chung
Ở một số bài thơ, tuy không có cốt truyện, không có quan hệ thời gian tổng thể nhưng vẫn có quan hệ thời gian từ những sự kiện nhỏ lẻ Chẳng hạn, đọc bài thơ “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” ta có thể hình dung được sự đối lập mà gắn bó giữa hai con đường nhưng ta không thể hình dung được diễn biến của sự kiện trong toàn bài theo quan hệ thời gian Bởi thế, bài thơ không có cốt truyện, nó chủ yếu bộc lộ tình cảm và
sự suy tư của tác giả về hai con đường kháng chiến của dân tộc Mặc dù vậy, “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” vẫn có một số quan hệ thời gian từ những sự kiện nhỏ lẻ như:
- Quan hệ thời gian đồng thời 1:
“Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm”
- Quan hệ thời gian đồng thời 2:
“Anh lên xe, trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ;
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt mối riêng tư”
Bài thơ “lửa đèn” chủ yếu được xây dựng từ các hình tượng và cảm xúc suy tư cá nhân của tác giả Các sự kiện không có quan hệ với nhau về mặt thời gian mà được gắn kết thông qua mạch cảm xúc, suy tư của nhà thơ Bởi vậy, bài thơ cũng không có các mối quan hệ thời gian tổng quát trong phạm vi toàn bài nhưng vẫn có các quan hệ thời gian từ các sự kiện nhỏ
Ví dụ:
- Thời gian trước –sau:
“Ta bật đèn pha ô tô trong chớp lòe ánh đạn
Rồi tắt đèn quay xe
Đánh lạc hướng giặc rồi ta lại lái xe đi…”
Trang 37Việc không có cốt truyện và không có mối quan hệ thời gian xuyên suốt trong phạm vi tổng quát văn bản khiến việc xác định mối quan hệ thời gian giữa các sự kiện, các khổ thơ, đoạn thơ trở nên khó khăn
Đối với những bài thơ có cốt truyện, mối liên hệ thời gian giữa các
sự kiện trong tác phẩm cũng không rõ ràng như trong truyện bởi những suy tư, cảm xúc cá nhân của nhà thơ thường đan xen vào các tình tiết khá nhiều
Ví dụ:
Bài thơ “Những mảnh tàn lá” kể về một cuộc chiến đấu của quân ta trên mặt trận theo diễn biến trình tự của sự kiện: trong lúc quân ta đang chờ xung phong thì giặc bắn phá bên kia đỉnh đồi – quân ta tiến hành bao vây địch – súng lệnh nổ quân ta tiến công tiêu diệt giặc thù Dưới đây là một đoạn thơ trong bài:
“Quân ta bao vây đã dày như nêm
Giặc không biết đâu, chúng đang đốt rừng cho nứa nổ
Nơi im lặng sắp bùng lên bão lửa
Chỗ ồn ào đang hóa than rơi (I)
“Bên kia đỉnh đồi chúng nó là ai
Là Ngụy ở Đông Dương hay là giặc Mỹ
Khi cái ác đã biến thành chủ nghĩa
Rất nhiều thứ màu đen hiện hình (II)
Đứng ngồi không yên vẫn đồng chí bộ binh
Chờ dăm phút nữa thôi, có lâu là mấy
Những mảnh tàn rơi trên đầu ta đấy
Đã từng rơi từ mấy nghìn năm.(III)
Trang 38Tai họa nhân gian đã chịu bao lần
Như nạn cháy nhà, làng nào chả có
và khổ (IV) lại đan xen vào những bình luận, liên tưởng cá nhân của tác giả
Vì vậy, ta có thể xác định được quan hệ thời gian của khổ (I) và khổ (III) với các khổ thơ khác trong bài nhưng không thể xác định được quan hệ thời gian của khổ (II) và khổ (IV) với các khổ khác
Ngay cả ở khổ thơ xác lập được quan hệ thời gian như khổ (III) thì cảm xúc và bình luận của nhà thơ cũng được lồng vào diễn biến sự kiện Hai câu đầu của khổ (III) là nói về tâm trạng của người lính trước trận đánh:
“Đứng ngồi không yên vẫn đồng chí bộ binh
Chờ dăm phút nữa thôi, có lâu là mấy”
Nhưng hai câu sau lại là bình luận cá nhân của nhà thơ:
“Những mảnh tàn rơi trên đầu ta đấy
Đã từng rơi từ mấy nghìn năm”
Tóm lại: Việc xác định quan hệ thời gian trong phạm vi giữa các đoạn, các khổ thơ không hề đơn giản bởi trong thơ không phải khi nào sự kiện cũng được triển khai theo sát diễn biến của nó Chúng được cấu tạo từ
“mảng miếng” và được triển khai theo cảm xúc cá nhân của nhà thơ Chính đặc điểm này khiến quan hệ thời gian trong thơ phức tạp hơn so với quan hệ thời gian trong truyện
2.2 Mạch lạc theo quan hệ thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật
Trang 39Để triển khai chủ đề của một văn bản, người tạo lập có nhiều cách trình khác nhau Lựa chọn cách viết như thế nào, cách triển khai mạch lạc ra sao phụ thuộc vào mục đích mà tác giả muốn nhấn mạnh và một phần rất quan trọng nữa là phụ thuộc vào phong cách nhà thơ Bởi vậy, nghiên cứu mạch lạc trong tác phẩm văn học nghệ thuật, ngoài việc tìm ra cách thức triển khai mạch lạc trong mỗi văn bản, nó còn có vai trò tìm ra phương thức xây dựng hình tượng thơ, đồng thời góp phần tìm ra phong cách của người tạo lập văn bản
Trong hai tập thơ: “Vầng trăng quầng lửa” và “Ở hai đầu núi” có tổng cộng 67 bài thơ Ngoài mạch lạc theo quan hệ thời gian, mạch lạc trong các bài thơ còn được triển khai theo nhiều hướng khác như: mạch lạc không gian, mạch lạc nguyên nhân, mạch lạc suy lý, …Bởi vậy, không phải bài thơ nào cũng xuất hiện quan hệ thời gian Ở mỗi khổ thơ, đoạn thơ có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện mạch lạc theo quan hệ thời gian Khảo sát mạch lạc theo quan hệ thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật, có thể thấy được mức độ sử dụng mạch lạc theo quan hệ thời gian nói chung cũng như mức độ sử dụng từng loại mạch lạc thời gian cụ thể trong thơ ông nói riêng Trên cơ sở đó, luận văn có thể tìm hiểu phong cách nhà thơ từ góc độ ngôn ngữ học
Dưới đây, chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể về biểu hiện của mạch lạc thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật
Sau khảo sát chúng tôi nhận thấy số bài thơ có chứa mạch lạc theo quan
hệ thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật chiếm tới 94% trong tổng số bài thơ được khảo sát Đây là một con số rất cao
Dưới đây là bảng số liệu về số bài thơ có mạch lạc theo quan hệ thời gian trong thơ Phạm Tiến Duật:
Bài thơ
Số lượng
Bài thơ khảo sát Bài thơ có quan hệ thời gian
Trang 40Tỉ lệ (%) 100 94
2.2.1 Quan hệ thời gian trình tự:
Quan hệ thời gian trình tự là quan hệ thời gian được diễn đạt theo hai mối quan hệ: quan hệ thời gian đơn tuyến và quan hệ thời gian đa tuyến
Cụ thể số lượng các quan hệ thời gian thành phần trong quan hệ thời gian trình tự như sau:
QH thời gian
Số lượng
Quan hệ đơn tuyến
Quan hệ đa tuyến Quan hệ trước- sau Quan hệ đồng thời
2.2.1.1 Quan hệ thời gian đơn tuyến:
Quan hệ thời gian đơn tuyến là quan hệ thời gian được biểu hiện qua kiểu quan hệ trước – sau và đồng thời Đây là kiểu quan hệ thời gian chiếm phần đa trong mối quan hệ thời gian trình tự
* Quan hệ thời gian đồng thời:
Quan hệ thời gian đồng thời trong thơ Phạm Tiến Duật được biểu hiện qua các sự kiện mà ông phản ánh trong cùng một khoảng thời gian Có hai hình thức biểu hiện của quan hệ thời gian đồng thời là: quan hệ có từ đánh dấu thời gian và quan hệ không có từ đánh dấu về thời gian
- Quan hệ đồng thời có từ đánh dấu:
Để diễn đạt quan hệ thời gian đồng thời trong thơ mình, có khi Phạm Tiến Duật dùng các từ ngữ đánh dấu để biểu thị rõ hơn quan hệ đồng thời đó Việc dùng các từ đánh dấu thời gian theo quan hệ đồng thời giúp ta
dễ dàng nhận diện loại quan hệ thời gian này và định vị thời gian xảy ra trong tác phẩm
Ví dụ 1:
“Mía ngọt dần lên ngọn