1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách thơ phạm tiến duật

108 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong cách thơ Phạm Tiến Duật
Tác giả Lê Thị Vân Anh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Khắc Hóa
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những bài viết đầu tiên về thơ Phạm Tiến Duật là Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 10-1970 của Nhị Ca, Nhị Ca đã nhận ra một sự định hình

Trang 1



LÊ THỊ VÂN ANH

PHONG CÁCH THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

Trang 2

Luận văn hoàn thành, ngoài nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và ủng hộ của Gia đình, Thầy Cô, bạn bè, cùng các cá nhân,

cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin cho đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến:

Quý Thầy Cô Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố

Hồ Chí Minh, Phòng Sau đại học, đặc biệt Quý Thầy Cô Khoa Văn học và Ngôn ngữ đã giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian học tập tại Trường

Lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, công chức Sở Ngoại vụ tỉnh Đăk Nông

đã quan tâm, tạo điều kiện và chia sẻ công việc giúp tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Chân thành cám ơn cô Nguyễn Thái Vân - Người bạn đời của cố nhà thơ Phạm Tiến Duật, đã cung cấp những tài liệu quý báu để tôi có cơ sở nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài

Xin cảm ơn gia đình, người thân và các bạn đồng môn đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Nguyễn Khắc Hóa - giảng viên trực tiếp hướng dẫn tôi làm luận văn Thầy đã tận tâm chỉ bảo, giải đáp những thắc mắc, khó khăn trong thời gian tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.

Xin trân trọng cám ơn!

Tp.HCM, ngày 15 tháng 10 năm 2012

Tác giả: Lê Thị Vân Anh

Trang 3

Trang

1 Trang phụ bìa

2 Lời cảm ơn

3 Mục lục

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu 09

3.2 Phạm vi nghiên cứu 09

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của luận văn 11

6 Cấu trúc của luận văn 11

NỘI DUNG Chương 1: Phong cách nghệ thuật nhà văn và nghiên cứu những yếu tố hình thành phong cách thơ Phạm Tiến Duật 1.1 Phong cách nghệ thuật nhà văn 1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật nhà văn 12

1.1.2 Vấn đề nghiên cứu phong cách nghệ thuật nhà văn 13

1.2 Nghiên cứu những yếu tố hình thành phong cách thơ Phạm Tiến Duật 1.2.1 Cuộc đời Phạm Tiến Duật 15

1.2.2 Sự nghiệp thơ Phạm Tiến Duật 21

Chương 2: Nhà thơ của Trường Sơn huyền thoại 2.1 Phạm Tiến Duật đến với Trường Sơn thời chống Mỹ 2.1.1 Con đường Trường Sơn - hiện thực và huyền thoại 27

2.1.2 Con đường Trường Sơn - con đường thơ Phạm Tiến Duật 31

2.2 Hệ thống hình tượng trong thơ Trường Sơn của Phạm Tiến Duật 2.2.1 Hình tượng thiên nhiên 2.2.1.1 Hình tượng thiên nhiên chân thực, gợi cảm 40

2.2.1.2 Hình tượng thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tượng 43

2.2.2 Hình tượng con người trong lửa đạn Trường Sơn 49

Trang 4

Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật

3.1 Thể thơ

3.1.1 Thể thơ tự do 62

3.1.2 Thể thơ lục bát và thể thơ năm chữ 64

3.2 Hình ảnh thơ 3.2.1 Nghệ thuật lựa chọn và sử dụng hình ảnh 68

3.2.2 Hiệu quả của hình ảnh trong thơ 71

3.3 Ngôn ngữ thơ 73

3.3.1 Ngôn ngữ đời thường, giản dị tự nhiên 74

3.3.2 Sự sáng tạo ngôn ngữ tài hoa 76

3.4 Giọng thơ 3.4.1 Nhịp thơ 80

3.4.2 Nhạc điệu 82

3.4.3 Giọng điệu 85

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 97

Trang 5

DẪN NHẬP

1 Lí do chọn đề tài

Những năm kháng chiến chống Mỹ, Cha tôi là Thanh niên xung phong thuộc C45 - D37 - Binh trạm 14 - Binh đoàn 12 - Đoàn 559 Trường Sơn Cũng như thế hệ Thanh niên xung phong thời ấy, Cha tôi thuộc rất nhiều thơ viết về Trường Sơn của Phạm Tiến Duật, Ông thường ngâm nga như để đỡ nhớ, để hồi tưởng lại một thời cả nước “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi

phới dậy tương lai” (Theo chân Bác - Tố Hữu) Thế nên, trong tiềm thức tuổi

thơ của chúng tôi, bên cạnh lời ru ngọt ngào của mẹ còn là giọng ngâm thơ trầm ấm của cha về những bài thơ Trường Sơn nổi tiếng một thời

Đến tuổi cắp sách đến trường, ký ức in đậm về những bài thơ Trường Sơn lại quay về khi thơ Phạm Tiến Duật được chọn lọc đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông Đọc thơ ông, thế hệ không biết đến chiến tranh như chúng tôi được sống trong không khí những năm tháng hào hùng “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, hình dung được sự gian khổ nhưng hết sức lạc quan của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Và quan trọng hơn tất cả, thơ Phạm Tiến Duật đã gieo vào lòng người đọc niềm tin tưởng ở những phẩm chất tốt đẹp, vững bền của con người Việt Nam trước những thử thách lịch sử, đồng thời bồi đắp cho các thế hệ lòng yêu nước và tự hào dân tộc

Trong nền thơ chống Mỹ, thơ Phạm Tiến Duật có tầm ảnh hưởng vô cùng lớn lao Ông được ca ngợi và so sánh bằng các mỹ từ ví von: “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, “cây săng lẻ của rừng già”, “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ” Thơ Phạm Tiến Duật thời chống Mỹ từng được đánh giá là

“có sức mạnh của một sư đoàn” [40]

Có thể khẳng định rằng, trong nền văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn

1945 - 1975, Phạm Tiến Duật là một trong những tác giả tiêu biểu và độc đáo

Trang 6

nhất Thơ ông chính là sự hiếm hoi của thi ca không lặp lại (Nhận xét của nhà

văn Đỗ Chu)

Đó là những lý do chính mà trong chuyên luận này, chúng tôi chọn nghiên

cứu phong cách thơ Phạm Tiến Duật như một sự khẳng định lại những giá trị

thẩm mỹ cao cả và lâu bền của thơ trữ tình cách mạng nói chung và thơ Phạm Tiến Duật nói riêng Đồng thời chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói trong việc nhìn nhận về vị trí, giá trị đích thực của thơ ca thời kỳ chống Mỹ và thơ Phạm Tiến Duật trong thi đàn Việt Nam hiện đại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Cuối năm 1969, đầu năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ tổ chức lần 1 (1969-1970) với chùm thơ gồm 4 bài: Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Nhớ, Phạm Tiến

Duật mới thực sự ghi được tên tuổi của mình vào làng thơ Việt Nam Chùm thơ đoạt giải nhất của ông gây được ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về một phong cách thơ rất lạ Bắt đầu từ đây, nhiều cây bút, nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã quan tâm đánh giá thơ ông Một trong những bài viết

đầu tiên về thơ Phạm Tiến Duật là Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ

(Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 10-1970) của Nhị Ca, Nhị Ca đã nhận ra một

sự định hình phong cách thơ rất riêng ở Phạm Tiến Duật qua một quá trình trăn trở tìm tòi, thử sức theo nhiều hướng:

Anh bắt đầu làm thơ với ý thức tìm kiếm ở chung quanh, ở trước sau một lối thể hiện tâm hồn, một cách biểu hiện thực tế, một bút pháp không theo con đường có sẵn mà mở ra một hướng cho riêng mình Cho nên thơ anh không dễ được rộng rãi thừa nhận ngay, với câu thơ ghề, vần điệu trúc trắc, chữ nghĩa thô mộc, cấu trúc đơn giản, nói chung khó nhớ khó thuộc, nhất là gợi suy nghĩ nhiều hơn truyền cảm Nhưng vẻ đẹp ít nhiều khắc khổ này một khi đã được hiểu, được thừa nhận, liền tạo ra một thích thú thẩm mỹ có sức khuấy động cường tráng, xôn xao

Trang 7

hơn [14, tr.961]

Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 7, 1973 có bài “Người viết trẻ giữa cánh rừng già” của Nhà văn Nguyễn Minh Châu Tác giả bài viết cho rằng: “Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật đã làm xôn xao đời sống thơ ca vốn có Thơ Phạm Tiến Duật đã cổ vũ cho cuộc chiến đấu theo cách riêng của mình và đã đón nhận được sự quan tâm đặc biệt từ nhiều phía” [26]

Từ góc nhìn vận động và phát triển của thơ ca dân tộc, nhà thơ, nhà phê

bình Vũ Quần Phương trong bài Một đóng góp của dòng thơ quân đội vào nền thơ Việt Nam (trong Tạp chí Văn học, số 6, 1979) đã chỉ ra thơ Phạm Tiến

Duật “đầy rẫy những chi tiết đời sống đánh Mỹ chính xác, cụ thể như hiện vật trong bảo tàng ” Năm năm sau (năm 1984), Vũ Quần Phương phát triển bài

viết thành bài nghiên cứu tác giả Phạm Tiến Duật với tư cách là một nhà thơ

trẻ có nhiều đóng góp đặc sắc cho nền thơ trữ tình cách mạng [14; tr.994]

Bài viết Đường Trường Sơn, đường thơ Phạm Tiến Duật, tác giả Thiếu

Mai đã nhấn mạnh “chất lính” trong thơ Phạm Tiến Duật :

Cái đáng quý nhất trong thơ anh là chất lính Chất lính này không chỉ thể hiện ở cảm xúc, suy nghĩ, mà còn ở trong cách cảm xúc và suy nghĩ nữa Cố nhiên, không riêng thơ Phạm Tiến Duật có chất lính mà các bạn anh từ Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Đức Mậu đến Anh Ngọc, Hữu Thỉnh, Hoàng Nhuận Cầm, những nhà thơ - chiến sĩ đã mỗi người một vẻ, tô đậm thêm chất lính trong thơ Với giọng thơ riêng biệt, độc đáo của mình, Duật đã góp một tiếng nói làm đẹp, làm say thêm chất lính trong thơ ca Việt Nam những năm đầu chống Mỹ [14, tr.1011]

Bài viết Nhà thơ Phạm Tiến Duật trên dằng dặc con đường (29-10-2007),

tác giả Trần Nhương nhận định: “Dù gì đi nữa, Phạm Tiến Duật là người đặt cột cây số đầu tiên trên con đường thi ca trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Con đường Trường Sơn có bao nhiêu sự tích, bao nhiêu anh hùng nhưng chỉ

Trang 8

có một Phạm Tiến Duật lấp lánh thi ca” [14, tr.841]

Đỗ Trung Lai với bài “Những vòng tròn đồng tâm” của Phạm Tiến Duật

đã khái quát:

Sự nghiệp thơ Trường Sơn chống Mỹ của anh đã đưa anh thành nhà thơ độc đáo nhất, mới mẻ nhất, giàu khả năng lạ hóa nhất, thân thuộc nhất với chiến sĩ và đồng bào thời ấy Không nghi ngờ gì nữa, Phạm Tiến Duật là nét son trẻ trung, lấp lánh, xuất sắc trong nền thơ chống Mỹ cứu nước của chúng ta Thi sĩ đã làm cho thơ mình trở thành một bảo tàng sinh động, thu nhỏ nhưng điển hình của Trường Sơn chống Mỹ [14, tr.780]

GS.TS Trần Đăng Suyền trong công trình nghiên cứu về Phạm Tiến Duật

đã đúc kết rằng, con đường thơ Phạm Tiến Duật gắn liền với con đường Trường Sơn, “Đường Trường Sơn chính là vùng thẩm mỹ riêng của thơ Phạm Tiến Duật” [14, tr.1027] và ông đã diễn giải:

Nhiều nhà thơ có tên tuổi thuộc nhiều thế hệ đã viết về chiến tranh bằng cách nhìn riêng, in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của mình Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn cứ còn thiếu hụt một mảng, và người đọc vẫn khao khát được đọc những vần thơ của những người trực tiếp cầm súng, những vần thơ còn vương bụi đất chiến trường và nồng nặc mùi khét lẹt của đạn bom Giữa lúc đó, Phạm Tiến Duật xuất hiện, đem đến cho thơ hiện đại Việt Nam một tiếng nói mới, chẳng những có phong cách riêng độc đáo, mà còn khá tiêu biểu cho thế hệ những nhà thơ trẻ thời chống Mỹ Thơ Phạm Tiến Duật đưa người đọc đi thẳng vào giữa hiện thực của cuộc chiến tranh, đến những nơi gian khổ, nóng bỏng, ác liệt nhất Thơ anh phản ánh được một phần cái không khí khẩn trương, dồn dập, ác liệt, sôi động và hào hùng của những năm tháng sục sôi đánh Mỹ Ấy là vì tuổi trẻ của anh đã gắn bó sâu sắc, đã sống hết mình, đã hòa nhập thực sự với những con người

Trang 9

sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn [14, tr.1029]

Nói đến phong cách thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Suyền cũng có những

nhận xét xác đáng: “Thơ Phạm Tiến Duật thể hiện rất rõ khuynh hướng hướng

ra ngoài, khám phá cái đẹp của cuộc sống chiến trường, cái đẹp của cuộc sống sôi động Thơ anh giàu chi tiết - những chi tiết ngổn ngang, rậm rạp mà vẫn có sức khái quát cao” [14, tr.1034] Cuối công trình, GS.TS Trần Đăng Suyền kết luận: “Những bài thơ viết ở Trường Sơn, viết trong đạn bom vẫn là những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của đời thơ anh” [14, tr.1037]

Trong bài Kiêu hãnh sống, kiêu hãnh sáng tạo và dâng hiến, nhà thơ Hữu

Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam xúc động viết về Phạm Tiến Duật:

Thơ anh mang đến cho bạn đọc niềm vui lớn như những tin thắng trận

từ tiền tuyến lớn Độc đáo và vụt sáng, đầy sức lay động và ấm áp, ngay trong cả những lúc cay nghiệt nhất của chiến tranh, đó là vẻ đẹp của thơ Phạm Tiến Duật Với tất cả những cống hiến mà anh đã mang đến cho văn học, giờ đây chúng ta có thể khẳng định, Phạm Tiến Duật là một nhà thơ xuất sắc trong văn học Việt Nam hiện đại [14, tr.759]

Cùng với những bài viết trên, không thể không kể đến những bài viết tiêu biểu về Phạm Tiến Duật gần đây của các tác giả:

Bài viết Thơ của một nhà thơ quân đội, tác giả Lê Quang Trang cho rằng:

“Nói đến thơ Phạm Tiến Duật là nói đến thơ của một người lính, một chiến sĩ quân đội viết về đồng đội của mình” [14, tr.1023]

Bài viết Phạm Tiến Duật : Nhà thơ có những bài thơ hay về giao thông vận tải, tác giả Trịnh Ngọc Dự nhận thấy :

Có cảm giác không nơi nào trên Trường Sơn mà anh không có mặt…anh được tắm trong hiện thực Trường Sơn mà không dễ người viết nào cũng may mắn có được Tài năng, kiến thức, tình yêu và hiện thực chiến tranh, tất cả cộng hưởng nên những câu thơ có sức mạnh ghê

Trang 10

gớm như có người đã nói, chúng “mang năng lượng của một tiểu đoàn

xe vận tải chiến lược” [14, tr.935]

Bài viết Phạm Tiến Duật - phơi phới mãi hồn thơ, tác giả Thủy Vân khẳng

định : “có một điều không thể phủ nhận, thơ Phạm Tiến Duật trong chiến tranh là động lực góp phần thôi thúc toàn quân, toàn dân chiến đấu quên mình

vì Tổ quốc, hy sinh vì nhân dân Những vần thơ ấy là nguồn sống lạc quan, là liều thuốc bổ cho mọi người lính trên khắp các mặt trận” [14, tr.914-915]

Bài viết Người lĩnh xướng dàn thơ chống Mỹ, tác giả Vương Trọng đã chỉ

ra thành công lớn nhất của Phạm Tiến Duật là:

Anh đã hòa nhập tâm hồn lính thời chống Mỹ, lạc quan, hồn nhiên, tươi trẻ, coi thường gian khổ hy sinh…và đưa cách nghĩ lính, ngôn ngữ lính

ấy vào thơ Sự thành công của Phạm Tiến Duật được đông đảo bạn đọc ghi nhận, và ảnh hưởng mạnh mẽ tới cách viết của các nhà thơ trẻ cùng thời, làm cho tác phẩm của họ hòa thành một dàn hợp xướng thơ hùng hậu mà chính anh là người lĩnh xướng [14, tr.832]

Bài viết Nhà thơ Phạm Tiến Duật - “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng”, tác giả Nguyễn Đình Chiến đã không do dự khi nói rằng: “Nếu phải

chọn một nhà thơ tiêu biểu nhất của thời chống Mỹ, cứu nước, tôi dứt khoát chọn Phạm Tiến Duật Thi ca của thời đại oanh liệt ấy nếu vắng ông sẽ nghèo

đi không phải ít” [14, tr.796]

Bài viết Một người lính đặc biệt trên đường mòn huyền thoại, tác giả

Nguyễn Quang Thiều kể lại câu chuyện về những người lính giữ chốt trên một quả đồi ven đường mòn Hồ Chí Minh trong chiến tranh để rồi suy ngẫm một cách thấm thía:

Những người lính trên điểm chốt ấy biết rằng có thể tất cả họ sẽ hy sinh Cái cần nhất lúc đó đối với họ không phải là thức ăn, nước uống Cái cần nhất đối với họ trước cái chết là một bài ca của sự sống vang lên đôi

Trang 11

lúc như một bản thánh kinh Thơ của Phạm Tiến Duật không phải là một bản thánh kinh, nhưng là một điều gì đó kỳ lạ của thời điểm ấy [14, tr.802]

Bài viết Phạm Tiến Duật - đây là một con đường, tác giả Nguyễn Văn Thọ

bồi hồi nhớ về Phạm Tiến Duật với những dấu ấn kỷ niệm không thể quên :

Dọc đường vận chuyển Trường Sơn năm tháng ấy, hàng vạn cây số vuông, đất đá, núi non, rừng cây biến thành tro bụi Máu của bao nhiêu chiến sĩ đã đổ xuống con đường…Trong tình huống như vậy, giữa Trường Sơn cất lên một giọng thơ, một gương mặt thi ca không lẫn vào

ai Cuộc thi thơ trên Tuần báo Văn nghệ năm 1969 trao giải nhất thơ, rất

xứng đáng cho anh - nhà thơ Phạm Tiến Duật Ngay lập tức, hàng vạn người lính trên mặt trận đọc và yêu thơ anh ; bởi bấy giờ, chúng tôi, những người lính trực tiếp đối đầu với kẻ thù, cảm thấy, đó không chỉ là thơ, đó là tiếng nói của chính chúng tôi, của nơi mặt trận, của một con đường không bao giờ được đứt, con đường tiếp máu cho cuộc chiến giành độc lập tự do của một dân tộc với đối thủ có vũ khí, bom đạn mạnh hơn chúng tôi nhiều lần [14, tr.859-860]

Bài viết Con người của thơ ca chống Mỹ, tác giả Trần Thị Thắng đã so

sánh Phạm Tiến Duật với các nhà thơ đi trước và có nhận xét: “Phạm Tiến Duật là một nhà thơ có công mở ra một phong cách mới cho thơ chống Mỹ…Và cũng từ sự khai mới cho thơ chống Mỹ, Phạm Tiến Duật mở ra một trường thơ phóng khoáng, giản dị mà chân thật, mang tính thẩm mỹ riêng của thơ chống Mỹ” [14, tr.852-853]

Luận văn thạc sĩ với đề tài “Phong cách thơ Phạm Tiến Duật” của tác giả

Nguyễn Thị Thung bảo vệ năm 2008 tại Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã phát hiện thêm nhiều điểm mới lạ và độc đáo của phong cách thơ Phạm Tiến Duật, đồng thời cũng đã khẳng định những đóng góp nghệ thuật của nhà thơ vào tiến trình thơ Việt Nam hiện đại

Trang 12

Nhìn chung, các bài viết, tiểu luận, luận văn nghiên cứu, phê bình về thơ Phạm Tiến Duật mà chúng tôi nêu trên đều là những bài viết thực sự sâu sắc, khơi nguồn nhiều khía cạnh khác nhau, là những gợi ý có tính chất tham khảo

để chúng tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu về Phong cách thơ Phạm Tiến Duật

một cách có hệ thống

Ngày 5 tháng 5 năm 2009, Hội Nhà văn Việt Nam và gia đình cố nhà thơ Phạm Tiến Duật ra mắt cuốn “Toàn tập Phạm Tiến Duật” (nhà thơ Đỗ Trung Lai chủ biên, Nxb Hội Nhà văn Việt Nam) Đây được coi là một sự kiện văn học năm 2009 và là công trình của những người đồng chí, đồng đội, bạn bè, gia đình, những người yêu mến nhà thơ đóng góp cho lễ kỷ niệm nửa thế kỷ ngày mở đường Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2009) Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khẳng định: “Toàn tập Phạm Tiến Duật là công trình đầu tiên không chỉ giúp người đọc mà cả các nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về toàn bộ sự nghiệp thơ, tùy bút, trường ca cả trong chiến tranh và hòa bình của Phạm Tiến Duật Đó là một đời lính - đời thơ” [41] Có thể nói, đây là một cuốn sách dày dặn nhất từ trước tới nay về Phạm Tiến Duật Đây cũng là cuốn sách sưu tầm được một cách đầy đủ nhất những tác phẩm của “thi sĩ Trường Sơn”

Với mong muốn có trên tay cuốn Toàn tập Phạm Tiến Duật để nghiên cứu

trong quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ, cuối năm 2011, chúng tôi đã đến thăm gia đình nhà thơ tại số nhà 502-G2, khu Trung Tự, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội và vinh hạnh có được cuốn sách trên do vợ của cố nhà thơ cung cấp

Tiếp cận Toàn tập Phạm Tiến Duật, chúng tôi nhận thấy đây là cuốn sách

được biên soạn công phu, tập hợp một cách đầy đủ nhất những tác phẩm của thi sĩ Trường Sơn Phạm Tiến Duật Cuốn sách cũng đã tổng hợp được số lượng lớn (62 bài) những bài viết về Phạm Tiến Duật của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà phê bình như Đỗ Trung Lai, Hữu Thỉnh, Nguyễn

Trang 13

Quang Thiều, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Hoàng Sơn, Phạm Ngọc Tiến, Trần Đăng Suyền, Đinh Quang Tốn, Vũ Quần Phương…

Nhờ sự toàn diện cũng như tính khoa học cao, cuốn sách đã trở thành một trong những tài liệu tham khảo chính không thể thiếu đối với tất cả những ai muốn tìm hiểu và nghiên cứu về thơ Phạm Tiến Duật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện đề tài Phong cách thơ Phạm Tiến Duật, đối tượng nghiên

cứu của chúng tôi là toàn bộ thế giới thơ Phạm Tiến Duật Đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu những nét độc đáo, hấp dẫn và mới lạ trong cá tính sáng tạo thơ của Phạm Tiến Duật, nhất là thơ thời chống Mỹ của ông

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm Tiến Duật đã từng tâm sự: “Tôi gắn bó máu thịt với Trường Sơn

và có thể nói Trường Sơn đã sinh ra nhà thơ Phạm Tiến Duật Trước đây, bây giờ và sau này, nếu tôi viết được những gì neo lại trong lòng bạn đọc chính là nhờ những năm tháng Trường Sơn” [14, tr.580]

Nghiên cứu về Phạm Tiến Duật (Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, Nxb Đại học Sư phạm I, 2002) GS.TS Trần Đăng Suyền đã khẳng định con đường thơ Phạm Tiến Duật gắn liền với con đường Trường Sơn, “Mỗi một nhà thơ

chân chính đều có một vùng thẩm mỹ riêng, Đường Trường Sơn chính là vùng thẩm mỹ riêng của thơ Phạm Tiến Duật” [14, tr.1027] Cả tuổi trẻ của nhà thơ

đã gắn bó máu thịt, đã sống hết mình, đã hòa nhập sâu sắc với những con người sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn Đúng như nhà thơ Đỗ Trung Lai viết: “ Sự nghiệp thơ Trường Sơn chống Mỹ của anh đã đưa anh thành nhà thơ độc đáo nhất, mới mẻ nhất, giàu khả năng lạ hóa nhất, thân thuộc nhất với chiến sĩ và đồng bào thời ấy” [14, tr.780]

Sau chiến tranh, Phạm Tiến Duật vẫn tiếp tục viết về chiến tranh nhưng

Trang 14

“những bài thơ viết ở Trường Sơn, viết trong đạn bom vẫn là những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của đời thơ anh” [14, tr.1037]

Có thể nói, sự hình thành và định hình phong cách thơ Phạm Tiến Duật chỉ thực sự được khẳng định trong các tác phẩm viết về những năm tháng ở Trường Sơn Vì vậy, để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, chúng tôi xin giới hạn sự khảo sát trong mảng thơ viết về Trường Sơn của ông thời kỳ kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, bao gồm những bài thơ đã in thành tập:

Vầng trăng quầng lửa, Nxb Văn học, 1970

Thơ một chặng đường(những bài mới), Nxb Quân đội nhân dân, 1970

Ở hai đầu núi (những bài mới), Nxb Tác phẩm mới, 1981

Vầng trăng và những quầng lửa (những bài mới), Nxb Văn học, 1983

Ngoài ra, chúng tôi cũng nghiên cứu thêm toàn bộ những bài viết, những

bài nghiên cứu về thơ Phạm Tiến Duật đã được tuyển chọn và in trong Toàn tập Phạm Tiến Duật (Nxb.Hội Nhà văn - 2009)

4 Phương pháp nghiên cứu

4.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Phương pháp này được dùng để so sánh, đối chiếu thơ Phạm Tiến Duật thời chống Mỹ và sau này, so sánh với những tác giả khác cùng thời và cùng

Trang 15

thế hệ với Phạm Tiến Duật

5 Đóng góp của luận văn

- Ý nghĩa khoa học: luận văn đã nghiên cứu một cách có hệ thống và

khám phá chiều sâu phong cách thơ Phạm Tiến Duật, nhằm góp phần khẳng

định những giá trị đích thực và vẻ đẹp thơ Phạm Tiến Duật nói riêng, thơ kháng chiến chống Mỹ nói chung trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại

- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung thêm tài liệu tham khảo hữu ích cho học sinh, sinh viên cũng như những người yêu thích thơ Phạm Tiến Duật

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 104 trang, ngoài phần Dẫn nhập (11 trang), Kết luận (2 trang), Phụ lục (8 trang) và Tài liệu tham khảo (42 đề mục - 4 trang), luận văn

được cấu trúc thành 3 chương:

CHƯƠNG 1: Phong cách nghệ thuật nhà văn và nghiên cứu phong cách

thơ Phạm Tiến Duật (15 trang): Trình bày khái niệm về phong cách nghệ thuật nhà văn, đồng thời trình bày những yếu tố hình thành phong cách thơ Phạm Tiến Duật với các mục: Cuộc đời Phạm Tiến Duật; Sự nghiệp thơ Phạm Tiến Duật

CHƯƠNG 2: Nhà thơ của Trường Sơn huyền thoại (35 trang): triển khai và tìm hiểu cơ duyên về con đường sáng tác tạo nên một phong cách riêng độc

đáo của nhà thơ Phạm Tiến Duật qua hai phần: Phạm Tiến Duật đến với Trường Sơn thời chống Mỹ; Hệ thống hình tượng trong thơ Trường Sơn của Phạm Tiến Duật

CHƯƠNG 3: Đặc sắc nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật (29 trang): tiếp tục triển khai và tìm hiểu đặc điểm nổi bật về nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật với

các mục: thể thơ; hình ảnh thơ; ngôn ngữ thơ; giọng thơ

Trang 16

CHƯƠNG 1

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT NHÀ VĂN VÀ NGHIÊN CỨU NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH

THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu cơ sở lí luận về phong cách nghệ thuật nhà văn nói chung Tìm hiểu những yếu tố về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác có ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật của nhà thơ, từ đó xác định con đường hình thành nên phong cách thơ Phạm Tiến Duật

1.1 Phong cách nghệ thuật nhà văn

1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật nhà văn

Khái niệm Phong cách nhà văn hay còn gọi là phong cách văn học, phong cách nghệ thuật đã có từ lâu trong sáng tác và nghiên cứu văn học Cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại, khái niệm phong cách được mở

rộng và sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác của cuộc sống

con người Thuật ngữ phong cách mặc dù được sử dụng để chỉ những hiện tượng rất khác nhau nhưng ý nghĩa cốt lõi của phong cách bao giờ cũng là “hệ

thống những đặc điểm tạo nên tính độc đáo của một hiện tượng, khu biệt hiện tượng này với hiện tượng khác” [9, tr.49] Trong văn học nghệ thuật hiện nay, quan niệm về phong cách rất đa dạng và phong phú Có ý kiến cho rằng:

“Phong cách là hệ thống những đặc điểm về mặt hình thức, diễn đạt, kỹ thuật…, tạo nên tính độc đáo của một hiện tượng văn học, bao gồm cả cách thức xây dựng hình tượng, khắc họa tính cách nhân vật, khai thác thể loại, kết cấu tác phẩm, sử dụng ngôn ngữ văn học” [9, tr.49] Một số nhà nghiên cứu lại quan niệm: “Phong cách bao quát những đặc điểm cả về nội dung và hình thức, cả về tư tưởng và nghệ thuật tạo nên tính độc đáo của một hiện tượng

Trang 17

văn học” [9, tr.50]

Mỗi con người có một trái tim, mỗi trái tim có một nhịp đập và mỗi nhịp đập đều tạo ra những suy nghĩ khác nhau Chính vì thế mà bất kỳ một nhà văn nào cũng có những nét riêng trong sáng tác Nhưng để nói một nhà văn có phong cách khi những nét riêng của nhà văn đó phải có tính bền vững, sâu sắc, tác phẩm của họ thể hiện cá tính, tính cách, đặc điểm tài năng, tâm hồn, cách nghĩ, cách cảm của người nghệ sĩ đã được kiểm chứng và sàng lọc gắt gao qua thời gian Hai nhà nghiên cứu lí luận văn học Lê Đình Kỵ và Phương Lựu quan niệm:

Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu

tú Nó đòi hỏi trước hết nhà văn phải đem lại một tiếng nói mới cho văn học…lẽ đương nhiên, cái gọi là độc đáo, vẻ riêng, là phải

ít thấy ở người khác, nhưng vẻ riêng của nhà văn đó phải xuất hiện thường xuyên, có tính chất bền vững, nhất quán [11, tr.38-39]

Như vậy, nói đến phong cách là nói đến đặc điểm, nói đến tính độc đáo của một hiện tượng văn học Phong cách chính là khuôn mặt riêng, giọng điệu riêng của từng nghệ sĩ trong thế giới nghệ thuật Và “phong cách tuy là chỗ độc đáo của từng nhà văn, nhưng nó vẫn mang dấu ấn của dân tộc và thời đại” [11, tr.44]

1.1.2 Vấn đề nghiên cứu phong cách nghệ thuật nhà văn

Tìm hiểu phong cách nghệ thuật nhà văn là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu văn học Bởi vì tài năng đích thực và sự đóng góp của nhà văn thể hiện một cách nổi bật ở sự độc đáo trong các tác phẩm của họ, cả

về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật

Trên cơ sở nhìn nhận và tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu, để tiếp

Trang 18

cận Phong cách thơ Phạm Tiến Duật một cách tối ưu nhất, chúng tôi thống nhất theo khái niệm cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử biên soạn: "Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc" [8, tr.207 - 208]

Hiểu theo nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm tính chỉnh thể có thể cảm nhận được một giọng điệu và một sắc thái thống nhất Với ý nghĩa này, người ta có thể phân biệt được phong cách lớn như phong cách tác giả, phong cách trào lưu, phong cách thời đại, phong cách dân tộc…

Phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách mà chỉ có những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có phong cách độc đáo Cái nét riêng đó thể hiện ở tác phẩm và được lặp đi lặp lại làm

ta có thể phân biệt được tác giả này với tác giả khác Cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới

và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận của nhà văn

Nếu như ở phong trào Thơ Mới (1932-1945), nguyên tắc chủ đạo xuyên

suốt của các nhà thơ khi xây dựng hình tượng nghệ thuật là đi tìm và khám phá cái đẹp ở bề sâu cái tôi cá nhân, thì các nhà thơ trữ tình cách mạng (1945-1975) lại tập trung khai thác giá trị cao cả trong cuộc sống thường nhật, cuộc sống chiến trường; đi tìm vẻ đẹp của con người trong các mối quan hệ đa dạng với xã hội, với cộng đồng, dân tộc Con người thực sự được khẳng định phẩm chất cách mạng của mình trong các mối quan hệ ấy Như vậy, trong các sáng tác của một nhà văn (gọi chung là nhà văn, nhà thơ), cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về hệ thống

Trang 19

hình tượng, về thế giới và hệ thống bút pháp phù hợp với cách cảm nhận ấy Ngoài thế giới quan, những phương diện tinh thần khác như tâm lí, sinh lí, cá tính, xu hướng đều có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành của phong cách nhà văn, nhà thơ Từ đó có thể thấy rằng, muốn tìm hiểu phong cách tác giả, ta cần đặt các tác phẩm của họ trong khuynh hướng sáng tác chung của thời đại văn học

Nói một cách khác, nhà văn có phong cách là người tạo ra tiếng nói mới cho văn học, tiếng nói ấy đề cập đến vấn đề cuộc sống một cách độc đáo, mới

lạ, sáng tạo Thông qua vấn đề phản ánh trong các tác phẩm, nhà văn phải thể hiện được một lập trường, tư tưởng vững vàng, tiến bộ, có một cái nhìn riêng trên chất liệu chung của cuộc sống, nếu không sẽ dễ lẫn vào cái chung và nhanh chóng bị rơi vào quên lãng Mặt khác, không phải sự sáng tạo mới lạ nào cũng trở thành phong cách mà nó phải có một giá trị thẩm mĩ có nghĩa nó phải có sự rung cảm mãnh liệt, nó làm cho con người hướng đến những giá trị cao đẹp “chân, thiện, mỹ” Đồng thời, cái hay trong sáng tạo nghệ thuật phải

có tính chất bền vững Như vậy, việc tạo nên phong cách của bất kì một nhà văn nào cũng đòi hỏi thể hiện trên hai phương diện cả hình thức lẫn nội dung, hai yếu tố này hòa quyện vào nhau tạo ra những giá trị thẩm mỹ đặc sắc, chứ không đơn thuần là kĩ năng hay nội dung Nhà văn sống trong một xã hội nhất định, mang tư tưởng thời đại, phản ánh con người và sự biến động xã hội đó Cuộc sống trong các tác phẩm là hình ảnh thu nhỏ của xã hội bên ngoài, do vậy một tác phẩm ra đời bao giờ nó cũng gắn liền với thời đại xã hội nhất định

1.2 Nghiên cứu những yếu tố hình thành phong cách thơ Phạm

Tiến Duật

1.2.1 Cuộc đời Phạm Tiến Duật

Phạm Tiến Duật sinh năm 1940, tuổi Canh Thìn [14, tr.6] Quê ở vùng đất Trung Du huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Thân sinh của ông tên là Phạm

Trang 20

Ngọc Phan, một công chức ở thị xã Phú Thọ, có thời gian làm thầy giáo dạy chữ Hán và tiếng Pháp ở tỉnh nhà Thân mẫu của ông là bà Quản Thị Tâm, là một phụ nữ làm nông, đảm đang và phúc hậu Tốt nghiệp trường Phổ thông cấp II, III Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ, Phạm Tiến Duật thi đỗ vào khoa Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 1964, Phạm Tiến Duật tốt nghiệp Đại học Sư phạm nhưng chưa một ngày làm thầy giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ Sau một thời gian phục vụ tại một đơn vị phòng không thuộc Quân khu Tây Bắc, ông chuyển sang công tác tại Cục Vận tải quân sự và sau đó tình nguyện vào công tác tại Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh 559 Trong thời gian này, Phạm Tiến Duật sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng

Phạm Tiến Duật thực sự được mọi người biết đến với giải nhất cuộc thi

thơ 1969-1970 do Tuần báo Văn nghệ tổ chức và ngay sau đó ông được kết

nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam Trong buổi trao giải cho Phạm Tiến Duật, nhà thơ Xuân Diệu sau khi đọc bài diễn văn dài ca ngợi nhà thơ trẻ của Trường Sơn bỗng chắp tay cúi chào và nói một câu làm cả hội trường sửng sốt: “Lão ô bách tuế xin cúi chào Phượng hoàng sơ sinh” Một nhà thơ lớn như Xuân Diệu đã khiến nhiều người ngạc nhiên khi ông khẳng định tài thơ ca của một thi sĩ thuộc thế hệ đàn em bằng cử chi bái vọng và câu nói tự nhận mình

là "con quạ già" khi so sánh nhà thơ Phạm Tiến Duật với hình ảnh “con chim Phượng” lộng lẫy, đầy sức sống Con chim Phượng Hoàng ấy ngay từ khi mới xuất hiện đã biết vượt lên chính mình, vượt lên những lề lối cũ để tìm ra một hướng bay mới

Chiến tranh kết thúc, Phạm Tiến Duật về Hà Nội, làm biên tập thơ cho Báo Văn nghệ và lần lượt giữ các chức vụ: Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (7/2001 - 6/2006) Bên cạnh đó, ông còn năng nổ với nhiều hoạt động xã hội

Trang 21

khác như: tham gia Hội đồng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam; đi nói chuyện thơ; thẩm định thơ; viết kịch bản, lời bình cho phim tài liệu (Tiêu biểu nhất là lời bình cho bộ phim nói về việc đi tìm hài cốt đồng đội “Hoa xương rồng trên cát”); tham gia xây dựng bảo tàng bộ đội Trường Sơn; viết hồi ký cho chỉ huy

cũ của binh đoàn Trường Sơn; viết phê bình văn học trên báo; làm chủ tịch quỹ văn học “Mãi mãi tuổi hai mươi”; làm MC chương trình dành cho người cao tuổi “Cây cao bóng cả” của kênh VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam…

Dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào, Phạm Tiến Duật cũng là người

có tâm, có tài và thực sự nhiệt huyết với công việc Thế nhưng trong cuộc sống đời thường ông lại chịu nhiều thiệt thòi, sống một cuộc đời giản dị nếu

không nói là cơ cực vì người thơ ấy không bao giờ tính toán thiệt hơn hay đòi

hỏi quyền lợi cho mình, dẫu sự đòi hỏi ấy vô cùng chính đáng

Phạm Tiến Duật mất ngày 04 tháng 12 năm 2007 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Hà Nội) vì căn bệnh ung thư phổi, khi ông bước sang tuổi

67

Những ngày Phạm Tiến Duật lâm trọng bệnh, nhà thơ luôn nhận được

sự quan tâm đặc biệt của bạn bè, độc giả trong và ngoài nước: “người ở xa thì gửi thư thăm hỏi, người ở gần thì thay nhau cùng gia đình túc trực bên giường

bệnh động viên, chia sẻ với anh Một Tuyển tập Phạm Tiến Duật do những

người bạn thân thiết biên soạn và xuất bản với thời gian nhanh kỷ lục và lễ công bố tác phẩm thật xúc động đã diễn ra tại Hội Nhà văn Việt Nam kịp vào lúc anh vẫn còn đủ nhận biết” [14, tr.758] Sau khi ông mất, sự yêu quý của bạn bè, của độc giả đối với ông không những không phôi phai, mà còn sâu đậm thêm Điều đó khẳng định những giá trị to lớn về văn học mà ông đóng góp cho đất nước, không chỉ đối với thế hệ chống Mỹ mà còn với lớp lớp độc giả sau này

Trong một lần bằng hữu gặp mặt để tưởng niệm ngày Phạm Tiến Duật

về với cõi vĩnh hằng, nhà thơ Nguyễn Duy xúc động nói:

Trang 22

Ngồi ngẫm nghĩ thấy anh là một cái gì đó sừng sững Chính Phạm Tiến Duật là người làm nên “hồn vía” thơ chống Mỹ, trước ông và sau ông chẳng có ai Anh sống rất thi sĩ, hay tốt, xấu dở đều phơi bày ra hết…Đời Duật có đầy đủ vinh quang, cơ cực, cay đắng Rồi sau này văn học sử sẽ phải một lần nữa nhìn nhận vai trò của anh với thơ ca [35]

Cũng trong buổi gặp mặt trên, nhà văn Tô Hoàng kể lại, Phạm Tiến Duật rất mê đọc báo “Khoa Học và Đời Sống” và các loại báo về khoa học Lại thêm bản tính thích nhìn ngắm, tìm hiểu về thiên nhiên, nên thơ ông, nhất

là thơ về Trường Sơn rất gần gũi với tự nhiên, núi rừng, cảnh vật Và Tô Hoàng không giấu niềm tự hào:

Kiến thức về chiến trường, Trường Sơn của Duật hết sức dồi dào Chỉ có một người lính thực thụ, được hít thở bầu không khí chính

anh ta đang sống thì mới viết ra nổi những vần thơ như: Muỗi bay rừng già cho dài tay áo hay Nước khe cạn bướm bay lèn đá rồi Con sáo sang sông bắc cầu ngọn gió/Con kiến qua ngòi bắc cầu

lá tre Đó đều là những câu thơ đi vào lòng người [35]

Qua những bài viết, những câu chuyện kể của bằng hữu gần xa, chúng

ta có thể hiểu phần nào về con người của nhà thơ Tựu trung lại, Phạm Tiến Duật là người thông minh, nhạy cảm, sống chân thành và hết mình với mọi người “Là người có đóng góp đáng kể vào nền thơ Việt, đại diện hàng đầu của các thế hệ các nhà thơ chống Mỹ” [14, tr.884] nhưng trong sự nghiệp văn chương Phạm Tiến Duật không có quyền cao chức trọng Trong cuộc sống đời thường thì Phạm Tiến Duật “… là người rất được quân đội, thậm chí nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước quý mến, ưu ái nhưng suốt đời anh phải ở những nơi rất chật chội, bất tiện…” [14, tr.883-884] Con người của Phạm Tiến Duật là vậy, không tư lợi, không luồn cúi bởi theo lời của nhà thơ Vũ Duy Thông: “có một sự thật mà ai cũng dễ nhận thấy là cuộc

Trang 23

sống của Duật, suy nghĩ của Duật hầu như đều quy tụ về văn chương” [14, tr.883]

Dù cuộc sống khó khăn, nơi ở chật chội, nhà của thi sĩ vẫn luôn đầy ắp tiếng cười của những người bạn đồng niên, bạn sáng tác, bạn yêu thơ Ông biết kính trọng và học hỏi những người đi trước như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng…Đối với thế hệ đàn em, ông tận tình dìu dắt, chỉ bảo Ai đã từng tiếp xúc với Phạm Tiến Duật cũng đều có chung nhận xét ông là người hoạt ngôn, nhanh trí và lãng tử Cũng chính vì sự lãng tử của ông mà trong cuộc sống thường nhật có nhiều lúc ông bị người đời thêu dệt, hiểu nhầm Thử đặt mình vào vị trí của nhà thơ dẫu chỉ một phút thôi, chúng ta sẽ hiểu được những tâm tư, tình cảm của người nghệ sĩ khi “chữ tài đi với chữ tai một vần” Phạm Tiến Duật cũng đã hơn một lần tâm sự rằng, tâm hồn của nghệ sĩ vốn lãng mạn, đa sầu đa cảm, dường như lúc nào cũng tồn tại một khoảng trống trong tâm hồn, khoảng trống đó khiến người nghệ sĩ cảm thấy luôn thiếu vắng một điều gì đó không thể định nghĩa Muốn lý giải những điều không thể định nghĩa ấy, người nghệ sĩ phải đi tìm cảm hứng để sáng tác những đứa con tinh thần để phần nào giãi tỏa được nỗi lòng Những lúc thuận buồm xuôi gió, người nghệ sĩ dễ dàng tìm được chất liệu bù đắp khi nhận thấy sự thiếu hụt Nhưng cuộc đời đâu phải lúc nào cũng là con đường thẳng dễ đi, gặp những đoạn gập ghềnh, tâm hồn người nghệ sĩ cũng chông chênh không kém dẫu đã tìm mọi phương cách đấu tranh vượt lên chính mình Trên tinh thần hiểu và thông cảm cho tâm hồn nghệ sĩ, chúng ta sẽ dễ dàng

đồng cảm với Phạm Tiến Duật trong những năm tháng ông cứ mãi “đi lạc trong hòa bình”1, dong duổi đi tìm cảm hứng mới cho thi ca mà đối với ông là

ý nghĩa còn đối với lối suy nghĩ thực tế đời thường thì đó là một sự thiệt thòi cho ông và cho những người thân của ông Đúng như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận xét: “Bản tính của một thi sỹ đích thực đã làm ông quên đi tiền

1

Chữ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Trang 24

bạc, quên đi nhà cửa, quên đi quyền chức và nhiều lúc quên đi cả vợ con mình…” [38] Chính bản thân nhà thơ cũng từng bộc bạch về lẽ sống của ông:

Chẳng còn ý nghĩa gì nếu không sống say mê

Đừng tẻ lạnh, đừng tị hiềm, dối trá

Dẫu đường dài có toàn nước và lửa,

Thì trời xanh và gió vẫn trên đầu

(Trời xanh và gió)

Trong cuộc đời sáng tác của mình, Thơ đã đưa Phạm Tiến Duật lên đỉnh vinh quang nhưng cũng có lúc Thơ đã làm cuộc sống của ông gặp nhiều lận

đận Niềm đam mê thơ ca và bản tính tự do của một thi sỹ đôi lúc kéo Phạm Tiến Duật ra ngoài những quy tắc công việc cứng nhắc Một trong những hệ lụy kèm theo của những lần rong ruổi đi tìm cảm hứng sáng tác là nhà thơ đã

bị ra khỏi Đảng vì lý do “vui mừng với chiến thắng 30-4-1975 mà bỏ cơ quan

đi quá đà”2 [14, tr.850] Viết bài thơ Vòng trắng, nhà thơ chỉ nói lên “tâm

trạng đau đớn trước những mất mát của nhân dân” [14, tr.823] nhưng lại bị

phê phán và bị treo bút một thời gian Một số bài thơ khác như Cây na trong vườn mẹ, Một giờ và mười phút, Qua một mảnh trời thành phố vinh, Bài thơ không vần kể chuyện chụp ảnh ở một vùng giáp trận của Phạm Tiến Duật một

thời cũng bị nhận xét theo kiểu vạch lá tìm sâu, cho rằng tư tưởng của nhà thơ

bị lung lay, “còn mắc phải những cái vướng trong quan điểm”… Là một người

sống ở đời chủ yếu bằng cái Tâm, hơn ai hết Phạm Tiến Duật ý thức được

sống trong cuộc đời, ai cũng có lúc phải trải qua thời đen tối chen lẫn những thời vàng son rực rỡ Không thể có ngày, nếu như chẳng có đêm Do đó, sống

là phải bao dung, chấp nhận mọi cay đắng ngọt bùi, mọi nghịch cảnh Nếu có

gì phải trừ ra thì đó là tội ác Trước sự sống còn của lợi ích bản thân, trước khó khăn thử thách, Phạm Tiến Duật vẫn điềm nhiên, lạc quan, không bất mãn

2

Khi nhà thơ Hữu Thỉnh về làm Tổng biên tập, nhà thơ Phạm Tiến Duật được kết nạp Đảng lại tại Tòa soạn Báo Văn Nghệ

Trang 25

hay có thái độ tiêu cực, xem mọi sự diễn ra bằng tâm thế điềm nhiên đúng như tinh thần Phật pháp

1.2.2 Sự nghiệp thơ Phạm Tiến Duật

Phạm Tiến Duật có thiên tư văn học từ rất sớm, theo lời kể của Trần Ngọc Chùy (người bạn cùng trọ học với Phạm Tiến Duật thuở thiếu thời) thì năm học lớp 3, Phạm Tiến Duật đã có bài thơ đầu tiên viết về anh bộ đội theo thể lục bát Năm học lớp 6 (1956), Phạm Tiến Duật được giải thưởng của

Trường cấp II, III Hùng Vương với bài thơ Nỗi lòng của người học sinh đi học muộn Trong thời gian trọ học, anh sáng tác được rất nhiều bài thơ hay tràn đầy cảm xúc và ý tứ độc đáo: Truyện nàng tiên thứ 6, Bao gạo, Cháu nhớ bác Ngọ, Hương chè Vân Lĩnh, Nhớ anh, Tìm chim, Người con gái Hải Nam, Người yêu thứ nhất, Người yêu thứ hai, Người yêu thứ ba, v.v…” [14, tr.820]

Cậu học trò Phạm Tiến Duật rất ham đọc sách, say làm thơ, ngoài thời gian học ở lớp đều có mặt trong thư viện Phú Thọ đọc sách với tất cả niềm mê

say háo hức Bạn bè ngày đó đã rất phục tài xuất khẩu thành thơ của anh, ví

như có lần “xem bức ảnh hoa hồng bạn mới mua về, anh cầm bút đề ngay 4

câu thơ vào mặt sau chẳng cần viết nháp:

Ai đem sắc thắm nhuộm màu hoa

Cho nắng mai lên chiếu sáng lòa

Hoa luống thẹn thùng che lá biếc

Cánh hồng bừng đỏ sợ xuân qua!

Đó là một trong những bài thơ tứ tuyệt của Phạm Tiến Duật viết theo thể thơ Đường luật rất chuẩn Đúng cả niêm luật mà cấu trúc ý tứ cũng chẳng kém gì một bài thơ tứ tuyệt hay trong thơ đường” [14, tr.828] Đến khi trở thành sinh viên khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phạm Tiến Duật

đã có nhiều thơ đăng báo Tuy nhiên, mãi đến năm 1969, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, ông mới được mọi người biết đến như một tài

Trang 26

năng của thi ca với những bài thơ viết về Trường Sơn trong thời kỳ kháng

 Những tập thơ chính đã in

 Vầng trăng quầng lửa (1970)

 Thơ một chặng đường (1970)

 Ở hai đầu núi (1981)

 Vầng trăng và những quầng lửa (1983)

 Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994)

 Đường dài và những đốm lửa (2002)

 Những bài thơ lẻ chưa in thành tập

Gồm 19 bài

Thơ dài - Trường ca

 Những vùng rừng không dân (Hiện chỉ có 4 trích đoạn);

1 Những người khảo sát (Chương 4, Văn nghệ Quân đội);

2 Vùng làng (Vầng trăng và những quầng lửa, Nxb Văn học,

1983);

3 Đi trong rừng (Vầng trăng và những quầng lửa, Nxb Văn

học, 1983);

Trang 27

4 Cô bộ đội ấy đã đi rồi (Vầng trăng và những quầng lửa,

Nxb Văn học, 1983)

 Tiếng bom và tiếng chuông chùa (1997)

Nxb Hội Nhà văn, 1997

 Truyện thơ thiếu nhi

 Chú thỏ bay vào hội (Thơ thiếu nhi, viết chung với Võ Thanh An,

của Hội Nhà văn Việt Nam

Ngày 21-8-2001, Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký quyết định trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật cho các tập thơ “Vầng trăng quầng lửa”, “Thơ một chặng đường” và “Ở hai đầu núi” Đây là 3 tập thơ điển hình nhất của Phạm Tiến Duật viết trong thời chiến tranh

Năm 2004, được giải thưởng của Hội Nhà Văn cho tập tiểu luận “Vừa làm vừa nghĩ”

Ngày 19-11-2007, được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì

Năm 2007, “Tuyển tập Phạm Tiến Duật” được Giải thưởng Văn học của Trung tâm Văn hoá Doanh nhân

Bài thơ Cô bộ đội ấy đã đi rồi được bình chọn là một trong 100 bài thơ

hay nhất thế kỷ XX

Trang 28

Năm 2009, “Toàn tập Phạm Tiến Duật” (nhà thơ Đỗ Trung Lai chủ biên, Nxb Hội Nhà văn Việt Nam) ra mắt bạn đọc Đây được coi là một sự kiện văn học năm 2009 và là công trình của những người đồng chí , đồng đội, bạn bè, gia đình, những người yêu mến nhà thơ đóng góp cho lễ kỷ niệm nửa thế kỷ ngày mở đường Trường Sơn (19/5/1959-19/5/2009) Đây là cuốn sách dày nhất về Phạm Tiến Duật, là công trình đầu tiên không chỉ giúp người đọc

mà cả các nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về toàn bộ sự nghiệp thơ, tùy bút, trường ca cả trong chiến tranh và hòa bình của Phạm Tiến Duật

Năm 2011, Phạm Tiến Duật được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học

nghệ thuật với cụm tác phẩm: 1 Đường dài và những đốm lửa (tập thơ); 2 Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca); 3 Vừa làm vừa nghĩ (văn xuôi) Giải thưởng Hồ Chí Minh truy tặng cho Phạm Tiến Duật là

vinh danh một nhà thơ chiến sĩ, cũng là vinh danh một thế hệ cầm súng, chiến đấu, hy sinh vì nền độc lập, dân tộc của tổ quốc, vì vận mệnh của dân tộc

Phạm Tiến Duật còn có nhiều bài thơ được phổ nhạc nổi tiếng như:

Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây (nhạc: Hoàng Hiệp); Tiểu đội xe không kính (nhạc: Hoàng Hiệp); Tiểu đội xe không kính (nhạc: Nguyên Nhung); Qua cầu Tùng Cốc (nhạc: Nguyễn Trọng Tạo) [14, tr.856]; Gửi em - cô thanh niên xung được NSƯT Quốc Nam phổ nhạc thành bài hát Có lẽ nào anh lại quên em…

Ngoài những thành công trong sự nghiệp sáng tác thơ, Phạm Tiến Duật còn gặt hái được những thành công nhất định ở các lĩnh vực văn xuôi, viết báo, nghiên cứu văn học và các hoạt động xã hội khác Nhưng điều đọng lại trong lòng bạn bè, đồng nghiệp, độc giả trong ngoài nước và những người yêu quý Phạm Tiến Duật là sự nghiệp thơ của ông Nói đến Phạm Tiến Duật là nói đến một nhà thơ nổi tiếng, nhà thơ của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, nhà thơ của Trường Sơn huyền thoại

Trang 29

Khái quát về thơ Phạm Tiến Duật, Giáo sư Lê Đình Kỵ đã viết: “Trong thời chống Mỹ có hai trường phái thơ: trường phái Chế Lan Viên và trường phái Phạm Tiến Duật Trường phái thứ nhất, tìm cái đẹp từ bên trong, ngưng đọng trong lý trí; trường phái thứ hai chủ yếu tìm cái đẹp từ trong các diễn

biến sôi động của cuộc sống” [14, tr.810] Hiện thực chiến đấu với những con

người đa dạng, phong phú trên đường Hồ Chí Minh thời chiến tranh nói riêng

và cuộc đọ sức nghiệt ngã giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ nói chung,

là mảnh đất tràn đầy chất liệu để những bài thơ Trường Sơn ấn tượng của Phạm Tiến Duật ra đời

Khi được hỏi điều gì đã tạo nên phong cách thơ của Phạm Tiến Duật, nhà thơ đã bộc bạch: “Có ba điều quyết định phong cách của nhà thơ, đó là: lẽ sống, lối sống và tư tưởng thẩm mỹ từng người Hễ là người thẳng thắn thì thường rất thích khám phá những điều mới mẻ, do đó, giọng điệu và phong cách thơ thường phóng khoáng, trực diện” [39, tr,2] Nhiều ý kiến cho rằng, sau 1975, bạn đọc không còn thấy giọng điệu “phóng khoáng, trực diện” trong thơ Phạm Tiến Duật nữa Mọi người băn khoăn tự hỏi, lẽ nào phong cách thơ

của thi sĩ chiến trường cũng đã thay đổi theo thời đại Đáp lại sự quan tâm của

độc giả gần xa, nhân dịp trả lời phỏng vấn trên một tờ báo Mỹ, Phạm Tiến Duật nói rằng:

Văn học chiến tranh như bàn tay con người có năm ngón, phải nắm lại

để trở thành nắm đấm, khi đó các ngón tay phải quên mình đi, nói khác

đi là cái tôi cá nhân phải hòa nhập cao vào cộng đồng, do đó cái tôi riêng tư phải giảm thiểu nhất định để cái ta chung nổi lên, đó là điều đương nhiên, điều này có thể thấy ở bất cứ nền văn học nào Còn văn học thời bình thì cũng là bàn tay ấy nhưng phải xòe ra mềm mại, mỗi ngón phải trở thành mình, như vậy là vai trò cá nhân được khẳng định

rõ hơn Nhưng dù thế nào đi nữa thì một nhà văn chân chính vẫn không bao giờ được đánh mất cái tôi Cái tôi phải thể hiện, phải do “từ trường”

Trang 30

của cả cộng đồng chi phối chứ không phải cái tôi tách riêng mình ra khỏi cuộc sống Có lẽ đó là quan niệm chung mà cũng là cái riêng trong thơ tôi [39, tr.1]

Chúng ta có thể khẳng định, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Tiến Duật là một minh chứng xác thực và sống động nói lên phong cách của một nhà thơ chân chính Ông là nhà thơ của Trường Sơn, thơ ông là thơ của những người ra trận Cảm quan về Trường Sơn, về quá khứ trận mạc đã theo ông suốt đời, song hành cùng những giai đoạn lịch sử - xã hội của đất nước Những áng thơ ông để lại cho đời mãi mãi là những vần thơ in dấu cùng những năm tháng chống Mỹ hào hùng của dân tộc Những người yêu thơ và nhân dân sẽ nhớ tới ông, một nhân cách lớn của thi ca Việt Nam Và điều quan trọng nhất mà chúng tôi muốn nói về nhà thơ Phạm Tiến Duật, trên cả phong cách nghệ thuật là một trái tim biết cười trước hạnh phúc của người khác, biết khóc trước bất hạnh không phải của riêng mình đúng như cụ Nguyễn Du từng viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Tiểu kết Chương 1:

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Tiến Duật là một minh

chứng xác thực và sống động nói lên phong cách của một nhà thơ chân chính

Cảm quan về Trường Sơn, về quá khứ trận mạc đã theo ông suốt đời, song hành cùng những giai đoạn lịch sử - xã hội của đất nước Những áng thơ ông

để lại cho đời mãi mãi là những vần thơ in dấu cùng những năm tháng chống

Mỹ hào hùng của dân tộc

Trang 31

CHƯƠNG 2

NHÀ THƠ CỦA TRƯỜNG SƠN HUYỀN THOẠI

2.1 Phạm Tiến Duật đến với Trường Sơn thời chống Mỹ

2.1.1 Con đường Trường Sơn - hiện thực và huyền thoại

“Trường Sơn đông nắng, tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa rõ mình”

(Nước non ngàn dặm - Tố Hữu)

Với dân tộc Việt Nam, dãy Trường Sơn được xem như “chiếc cột sống

vĩ đại của đất nước kéo dài từ thung lũng Sông Cả ở Nghệ An đến miền Đông Nam Bộ Về vị trí địa lý:

Rặng Trường Sơn nằm dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, từ thung lũng sông Cả tỉnh Nghệ Tĩnh với ngọn núi Xài Lai Leng cao 2711 mét đến thung lũng sông Bung với ngọn núi A - Tuất, khu vực A - Vương cao 2500 mét ở cực Tây tỉnh Quảng Nam và cực Tây Nam tỉnh Thừa Thiên Huế, tiếp giáp nước Lào ở phía Tây (nơi đèo A Yên) và ăn sang phía Đông với ngọn núi Mang Cao 1708 mét và Bạch Mã cao 1500 mét [17, tr.12]

Trong kháng chiến chống Mỹ, Trường Sơn đã hình thành tuyến đường quân sự ngang dọc với chiều dài tổng cộng 16.000 ngàn km Đây chính là con đường gắn liền giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn, con đường vì miền nam ruột thịt, con đường của cách mạng Việt Nam, vì sự nghiệp thống nhất đất nước “Quá trình hình thành và phát triển của con đường này gồm có ba giai đoạn Đầu tiên là đường bộ, gùi thồ Từ năm 1964 bắt đầu thí điểm vận chuyển cơ giới Đến năm 1971, nó được phát triển thành nhiều phương thức: đường bộ, đường sông và đường ống [17, tr.25]

Mười sáu năm ròng, Trường Sơn đã trở thành chiến trường thực hiện

Trang 32

các chiến lược: Chiến tranh ngăn chặn, chiến tranh hóa học của đế quốc Mỹ Mười sáu năm, Trường Sơn đã trở thành nơi đối đầu giữa ý chí ngang thép, của lòng quả cảm, của trí tuệ con người Việt Nam với bom đạn - sản phẩm của nền quân sự phi nhân tính của đế quốc Mỹ Âm mưu của Mỹ là muốn biến dãy Trường Sơn thành hệ thống giao thông vận tải cực kỳ quan trọng có tính chất chiến lược trong chiến tranh Việt Nam Đối với ta, hệ thống đường Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh đóng một vai trò vô cùng to lớn, có một không hai trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Chính nó đã phát huy được hiệu quả của giao thông, thông tin, tiếp tế và chi viện mọi phương tiện vật chất, kỹ thuật của hậu phương cho tiền tuyến, của trung ương cho địa phương Nó mang lại cho quân và dân ta hiệu qủa vô cùng to lớn, tạo nhiều bất ngờ và gây thiệt hại nặng nề cho kẻ thù Kẻ thù ngày càng tỏ ra khiếp sợ với hệ thống đường mòn mà chúng hình dung không khác nào “mê hồn trận” hay “bát quái đồ”, “biến hóa vô chừng, xuất nhập như thần”, như “con rắn trăm đầu luôn mọc lại” Lịch sử đã ghi:

Trong 6000 ngày đêm trên đường Trường Sơn, các lực lượng công binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến Trường Sơn gồm 120.000 người đã làm nên mạng đường liên hoàn, vững chắc với 5 hệ thống trục dọc, 21 đường trục tổng chiều dài gần 2 vạn km đường ô tô Trong các chiến dịch đánh phá từ 1965 -

1972, đế quốc Mỹ đã ra sức đánh phá tuyến đường Trường Sơn

và ném xuống con đường này khoảng 4 triệu tấn bom đạn [17, tr.33]

Trường Sơn không đơn thuần chỉ là dãy núi hùng vĩ, là những cánh rừng đại ngàn hoang sơ huyền bí mà dưới những hàng cây, sau những dãy núi, giữa lớp sương mờ là cả một huyền thoại về cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta Trường Sơn đã chứng kiến lớp lớp cha anh ra trận trong những năm tháng hào hùng với quyết tâm sắt đá “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn

Trang 33

cũng phải cương quyết giành cho được độc lập” (Hồ Chí Minh) Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác và đi theo tiếng gọi vì miền Nam ruột thịt, những đoàn quân tiếp bước đến với Trường Sơn bằng đôi chân luồn rừng, bằng đôi tay mở đường mà tiến, bằng các phương tiện thô sơ tải lương chuyển đạn Bộ đội Trường Sơn đã vượt qua mưa bom bão đạn của kẻ thù, mưa ngàn thác lũ và nắng lửa nung người để xây dựng nên một hệ thống giao thông huyết mạch

mà chính những người trong cuộc cũng phải giật mình:

Sẽ giật mình đường mới ta xây

Đã có độ dài hơn cả độ dài

Của đường sá đời xưa để lại

(Gửi em, cô thanh niên xung phong - Vầng trăng quầng lửa)

Chính con đường đó đã mang sức mạnh to lớn chi viện sức người sức của, là hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn Nó góp phần trọng đại đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đi đến thắng lợi vẻ vang Vì lẽ đó mà:

Trong lịch sử, có những con đường từng thu hút được sự chú ý của nhiều dân tộc Nhưng trong mấy chục năm qua, chưa có con đường nào ngoài đường Trường Sơn, lại được sự quan tâm đặc biệt và theo dõi sát sao của toàn thế giới đến như vậy Đó là một mạng đường chằng chịt dọc ngang dài hơn một vạn ki-lô-mét, thường xuyên bị kẻ địch đánh phá ngăn chặn, băng qua một dãy núi cũng thuộc loại dài, cao và hiểm trở nhất của vùng Đông Nam Châu Á Đó là con đường của cả dân tộc ta, một dân tộc quyết đánh, quyết thắng và thực tế đã toàn thắng đế quốc Mỹ Con đường ấy mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Con đường anh hùng của những người chiến sĩ anh hùng [14, tr.713]

Trang 34

Trường Sơn bao la, hùng vĩ và cũng mang trong mình bao sự tích anh hùng Mỗi tên núi, tên sông, mỗi con đường đều ghi lại những chiến tích, những hồi ức, những hoài niệm của sự hy sinh và lòng dũng cảm Đó là những con đường lịch sử như Đường 9 Khe Sanh, Đường 20 Quyết Thắng…đó là những ngã ba huyền thoại như Ngã ba Đông Dương, ngã ba Khe Sanh, Ngã ba Đồng Lộc…đó là những địa danh nổi tiếng một thời như Chiến khu D, chiến khu Bắc Ái hay Bến Hiền Lương…Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thần thánh của dân tộc Việt Nam, đường Trường Sơn đã ghi dấu hàng chục vạn người con của đất nước đã đi qua và ở lại vĩnh viễn trên mảnh đất này Theo

tư liệu thống kê, trong cuộc chiến tranh 6000 ngày đêm đó, cả nước ta có hơn 1.500 ngàn liệt sĩ, hơn 300 ngàn người mất tích Riêng binh đoàn Trường Sơn trong cuộc đối đầu quyết liệt chống đế quốc Mỹ đã có 15 ngàn đồng chí hy sinh Những con số biết nói đó khiến tất cả chúng ta đều nghẹn ngào và không thể nói gì hơn Cuộc chiến tranh “thần thánh” đã chứng kiến biết bao chàng trai cô gái tuổi đôi mươi đã ngã xuống để làm nên con đường huyền thoại ấy, Trường Sơn là bảo tàng đầy ắp những nhân chứng lịch sử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của cuộc kháng chiến và là nhân tố quan trọng trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc

Hơn 50 năm đã đi qua kể từ khi Đoàn 559 (Bộ đội Trường Sơn) chính thức được thành lập, đây là lúc chúng ta có thể bình tĩnh hơn để nhớ lại và suy ngẫm về sức mạnh và sự diệu kỳ của dân tộc Việt Nam Chỉ cần nhìn qua con đường huyền thoại ấy cũng đủ để thấu hiểu sâu sắc nhiều điều, một dân tộc hàng ngàn năm không chịu khuất phục, không thể bị đồng hóa và hoàn toàn đủ khả năng để đứng vững trước bất kỳ thử thách, đe dọa nào

Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã đặt nền văn học cách mạng trước

sứ mệnh thiêng liêng cao cả Văn học sinh ra để phục vụ nhân dân, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Bằng thực tế sống và chiến đấu, các nhà văn, nhà thơ đã ghi lại tất cả những khoảnh khắc, những dáng hình,

Trang 35

những khuôn mặt, những chiến công, những mảnh đời cũng như những đau thương mất mát của chính họ, chính đồng chí, đồng bào của họ Tiếng nói chủ đạo của thơ ca chống Mỹ là tiếng nói của lòng yêu nước sáng ngời, ý thức gắn

bó giữa cá nhân và cộng đồng, trên dưới một lòng quyết tâm đấu tranh dành độc lập

Hình tượng con đường Trường Sơn huyền thoại, hình tượng người lính

và hiện thực lớn lao sôi động của những năm tháng chiến tranh ác liệt đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho các nhà văn, nhà thơ Thơ viết về tuyến

đường lửa Trường Sơn đã có rất nhiều như Nước non ngàn dặm (Tố Hữu), Lá

đỏ (Nguyễn Đình Thi), Ngọn đèn đứng gác (Chính Hữu), Canh Trường Sơn (Thu Bồn), Đi dọc Trường Sơn (Xuân Nguyên), Hành quân trên đường Hồ Chí Minh (Bùi Minh Quốc, Nơi đây là túi bom (Vương Linh), Cổng trời này (Hoàng Minh Châu), Buổi chiều trên đỉnh Trường Sơn (Nguyễn Trọng Oánh), Căn hầm Trường Sơn (Lê Tất Cứ), Các anh nằm giữa rừng Trường Sơn (Thanh Thảo), Hơi ấm đường rừng (Nguyễn Mỹ)…Được sống trong những

ngày tháng từng giờ, từng phút tận mắt chứng kiến những khoảnh khắc đi vào lịch sử, ai cũng thấy tâm hồn xúc động và muốn cầm lấy cây bút để sẻ chia và bày tỏ nỗi lòng Nhưng có thể nói, trong đội ngũ các nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Mỹ thì người viết về Trường Sơn nhiều nhất và hay nhất có lẽ là nhà thơ Phạm Tiến Duật

2.1.2 Con đường Trường Sơn - con đường thơ Phạm Tiến Duật

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam đã đi đến hồi khốc liệt nhất Trong thời khắc dầu sôi lửa bỏng, biết bao lượt người đã tình nguyện đến với chiến trường Miền Nam, đến với tuyến lửa của cuộc chiến đấu Trong hàng ngũ sinh viên lên đường ra trận thời kỳ ấy, Phạm Tiến Duật “cùng hàng trăm anh em khác đã thành người lính trong cuộc lên đường có ý nghĩa mở đầu của sinh viên thủ đô” [14, tr.762]

Trang 36

Ngày 04 tháng 8 năm 1964, Phạm Tiến Duật chính thức khoác lên mình màu xanh áo lính đi vào chiến trường Hành trang mang theo là tâm hồn trong sáng nhưng tràn đầy nhiệt huyết của một trái tim trai trẻ, sẵn sàng cống hiến, sẵn sàng dấn thân vì hạnh phúc của đồng chí đồng bào:

Người làm thơ ấy đang trai

Ra đi ve áo mang hai lá cờ

Những là ngày ước đêm mơ

Làm thơ vốn vẫn làm thơ vì người

Mơ riêng lẫn với mơ đời

Yêu chung chưa gửi cho người yêu riêng…

[14, tr.822]

Phạm Tiến Duật có 14 năm mặc áo lính thì 8 năm sống và chiến đấu tại Trường Sơn Thật là một tấm gương quả cảm, một khí phách kiên cường, một trong những biểu tượng đẹp nhất của người nghệ sĩ - chiến sĩ Anh được các tướng lĩnh đến những người lính binh nhì yêu mến, quý trọng và tin cậy Anh là niềm tự hào của Bộ đội Trường Sơn và cũng là niềm tự hào của bạn bè cùng thế hệ”[14, tr.759]

Mười bốn năm trong quân đội, tám năm ở Trường Sơn, gắn bó với đoàn vận tải Quang Trung 559, Phạm Tiến Duật đã đi rất nhiều nơi trên khắp chiến trường Từ hiện thực sống động của cuộc chiến đấu, tiếng thơ Phạm Tiến Duật

đã cất lên lời đồng điệu với những người lính, đồng hành cùng những đoàn quân ra trận Ông đã đi vào văn học bằng con đường ra trận và mãi kiên định với con đường ấy

Trực tiếp viết về thế hệ mình và đồng đội của mình, các nhà thơ trẻ thời

kỳ chống Mỹ tập trung làm nổi bật hình ảnh những con người mang trong

Trang 37

mình dòng máu tươi trẻ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Họ đã ghi lại chân dung người lính với đầy đủ những góc nhìn đa diện Người lính thời kỳ chống Mỹ không chỉ là những con người can trường, dũng cảm, trẻ trung, rất đỗi yêu đời mà còn là những con người có cuộc sống nội tâm phong phú Sự sâu sắc của những tâm hồn đa cảm ấy được thể hiện qua tâm tư, tình cảm, suy nghĩ về tình đồng đội, về quê hương, về những người thân yêu ở hậu phương

Có thể nói rằng, bằng máu thịt của chính tâm hồn mình, các nhà thơ trẻ thời

kỳ chống Mỹ đã dựng lên một cách cụ thể và sinh động bức chân dung của cả một thế hệ trẻ cầm súng: "cả thế hệ dàn hàng - gánh đất nước trên vai" (Bằng Việt) Hòa chung cảm hứng viết về đề tài người lính trong nền thơ chống Mỹ, chân dung người lính trong thơ Phạm Tiến Duật đã hiện lên thật khác lạ và độc đáo Sự khác biệt trong cách xây dựng hình ảnh ấy thể hiện một tình yêu lớn lao và sâu sắc của nhà thơ dành cho những người lính, nhất là lính Trường Sơn Và ngược lại, những người lính cũng vô cùng yêu quý nhà thơ của họ, mong mỏi biết bao được một lần gặp mặt:

“Tôi đi dọc Trường Sơn và tìm Phạm Tiến Duật

Trạm giao liên nào cũng bảo Duật vừa qua

Gặp cánh lái xe giữa lửa khói mịt mù đường tuyến

Họ cũng bảo

“nhanh nhanh lên chút thôi là gặp Duật ngay mà!”

(Người giao liên vĩnh cữu - Trần Ninh Hồ)” [24, tr.301]

Năm 1969, con đường thơ của Phạm Tiến Duật mới thực sự định hình khi ông được giải nhất trong cuộc thi thơ do báo Văn Nghệ tổ chức vào năm

1969 - 1970 Chùm thơ đoạt giải gồm bốn bài: Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Nhớ, ví như “tuyết rơi mùa

hè”, đáp ứng được mong mỏi của công chúng về một giọng thơ phản ánh đời sống chiến trường của chính người trong cuộc Sự xuất hiện của thơ Phạm

Trang 38

Tiến Duật lúc bấy giờ như nhận xét của Mai Văn Phấn: “mang đến cho thi ca trong những năm tháng chiến tranh một đời sống mới cả về thi pháp lẫn nội dung” Người lính làm thơ ấy đã đem đến cho hàng vạn người lính trên mặt trận món ăn tinh thần độc đáo bằng một bút pháp rất lạ,

bởi bấy giờ, chúng tôi, những người lính trực tiếp đối đầu với kẻ thù, cảm thấy đó không chỉ là thơ, đó là tiếng nói của chính chúng tôi, của nơi mặt trận, của một con đường không bao giờ được đứt, con đường tiếp máu cho cuộc chiến giành độc lập tự do của một dân tộc với đối thủ có vũ khí, bom đạn mạnh hơn chúng tôi nhiều lần [14, tr.859]

Chính con đường huyền thoại với cuộc sống con người đa dạng và đời sống gắn liền với vô vàn những chi tiết, sự kiện sôi động từng phút từng giờ là

cơ duyên để nhà thơ tự phát hiện mình, phát hiện một chất thơ của thế hệ mình

Đứng trước cuộc chiến khốc liệt một mất một còn, người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa văn nghệ cần phản ánh chân thực thực tiễn ấy nhưng không được gây bi lụy, xót thương Vì vậy, viết về chiến tranh trong những năm tháng đó là một thử thách lớn lao đòi hỏi cả tài năng, bản lĩnh và tấm lòng tràn đầy niềm tin của mỗi nhà văn, nhà thơ nơi mặt trận Phạm Tiến Duật đã tránh được hạn chế của những người đi trước khi thơ ông phản ánh được hai mặt của cuộc chiến: có mất mát, có hy sinh nhưng biết chấp nhận để đứng lên với niềm lạc quan tin vào sự tất thắng Ý thức được trách nhiệm lớn lao của người chiến sĩ và cũng là thi sĩ, ông đã làm tròn sứ mệnh của mình một cách xuất sắc Với những người lính Trường Sơn, Phạm Tiến Duật là một cái tên gắn liền với những năm tháng hào hùng trong cuộc đời cầm súng Giữa một vùng bom đạn ác liệt, thơ của ông đã mang đến một sự chia sẻ tri kỷ Thắp thêm một ngọn lửa tâm hồn giúp người lính ý thức cao hơn về giá trị của công việc mình đang làm Vượt qua bao hiểm nguy mà nhiều khi tưởng không thể nào

Trang 39

qua nổi:

Không thể tin là em đã qua

Nơi túi bom bay mù bụi đỏ

Đường gập ghềnh ngổn ngang cây số

Trời lô nhô thân gỗ cưa ngang

(Niềm tin có thật - Vầng trăng quầng lửa)

Đi qua cái chết một cách thần kỳ mà chính những người trong cuộc cũng không thể hiểu:

Không thể ngờ chỉ ít giờ trước đó

Những chiếc xe từ đất lửa về đây

Hai phút trên đầu một lượt máy bay

Lá ngụy trang như còn bốc khói

(Nghe hò đêm bốc vác - Vầng trăng quầng lửa)

Người lính có thể đi qua tất cả mọi thử thách mà không một giây nản lòng hay chùn bước Bởi họ biết sự hy sinh của họ có ý nghĩa và biết rõ cái đích cần đi:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Vầng trăng quầng lửa)

Có thể nói, chưa bao giờ hình ảnh thế hệ trẻ sống, chiến đấu giữa chiến trường lại được thơ tập trung khắc họa đạt được tính chân thực cao như thơ trẻ thời chống Mỹ mà Phạm Tiến Duật là một trong những điển hình Đó là những người lính lái xe, chiến sỹ công binh, anh bộ đội coi kho, cô thanh niên xung phong, cô gái giao liên…những người con anh hùng được sinh ra trong thời đại anh hùng, họ đã:

Trang 40

đi qua hầu hết tuổi thanh xuân

(Đi trong rừng - Vầng trăng và những quầng lửa)

Trong những năm tháng ấy, sự ác liệt bị đẩy đến mức tận cùng, gian nguy và thử thách không thể nào đo nổi Trách nhiệm và lương tâm của người cầm bút phải phản ánh chân thực tất cả những gì đang diễn ra đúng như lịch

sử ghi nhận Và điều quan trọng hơn là làm sao để sự phản ánh đó có tác dụng khích lệ tinh thần và ý chí chiến đấu của quân và dân ta Thơ Phạm Tiến Duật

đã làm tốt yêu cầu bức bách của thời đại Thơ ông không thoát ly thực tại, đó chính là tiếng nói chân thực của người trong cuộc Phản ánh sinh động cuộc sống và chiến đấu, phản ảnh đúng những điều hàng ngày người lính phải đối diện, kể cả những nét sâu kín của tâm hồn Nhờ đó thơ Phạm Tiến Duật có tính thuyết phục cao, có sức lay động tâm tư tình cảm cả một thế hệ cầm súng, động viên họ sẵn sàng hy sinh vì chính nghĩa Trong bối cảnh chiến tranh, khi

mà sự có mặt của con người đồng nghĩa với sự hiện diện của bom đạn: Mười bảy trận bom Mỹ dội một ngày (Tiếng cười của đồng chí coi kho); Pháo tàu địch đêm đêm nhằm bắn (Đèo Ngang)…; sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc: Bom dập liên hồi/lỗ tai máu chảy (Ngãng thân yêu), hiểm nguy luôn rình rập: Hố bom dày như lỗ hà ăn chân (Qua cầu Tùng Cốc) …Nhưng vượt lên tất

cả sự hiểm nguy thử thách là phong thái lạc quan yêu đời:

Em là cô bộ đội lái xe

Giặc nhằm bắn, bốn bề lửa cháy

Cái buồng lái là buồng con gái

Vẫn cành hoa mềm mại cài ngang

(Niềm tin có thật - Vầng trăng quầng lửa)

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Năm: 1987
2. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 2004
3. Hồng Diệu (2003), Người lính - nhà văn, Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lính - nhà văn
Tác giả: Hồng Diệu
Năm: 2003
4. Lê Tiến Dũng (2005), Giáo trình lí luận văn học, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 2005
5. Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975, Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức
Năm: 1979
6. Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức (1998), Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại
Tác giả: Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức
Năm: 1998
7. Nhiều tác giả (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1992
8. Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử
Năm: 2006
9. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1995), Lí luận Văn học, vấn đề và suy nghĩ, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận Văn học, vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương
Năm: 1995
10. Lê Đình Kỵ (1969), Đường vào thơ, Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường vào thơ
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Năm: 1969
11. Lê Đình Kỵ - Phương Lựu (1983), Cơ sở lí luận văn học - Tập III, Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận văn học - Tập III
Tác giả: Lê Đình Kỵ - Phương Lựu
Năm: 1983
12. GS. Lê Đình Kỵ (2001), Phê bình và nghiên cứu văn học, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình và nghiên cứu văn học
Tác giả: GS. Lê Đình Kỵ
Năm: 2001
13. Nhiều tác giả (1997), Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước, Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1997
14. Đỗ Trung Lai (Chủ biên) - Phạm Sông Hồng - Lưu Khánh Thơ - Nguyễn Văn Long (2009), Toàn tập Phạm Tiến Duật, Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập Phạm Tiến Duật
Tác giả: Đỗ Trung Lai (Chủ biên) - Phạm Sông Hồng - Lưu Khánh Thơ - Nguyễn Văn Long
Năm: 2009
15. Mã Giang Lân (2001), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Năm: 2001
16. Phương Lựu - Trần Đình Sử - Lê Ngọc Trà (1998), Lí luận văn học, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu - Trần Đình Sử - Lê Ngọc Trà
Năm: 1998
17. Vương Liêm (2006), Cung đường Trường Sơn đường Hồ Chí Minh, Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung đường Trường Sơn đường Hồ Chí Minh
Tác giả: Vương Liêm
Năm: 2006
18. Nguyễn Đăng Mạnh (1983), Nhà văn, tư tưởng và phong cách, Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn, tư tưởng và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Năm: 1983
19. Nguyễn Đăng Mạnh (1996), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Năm: 1996
20. Hoàng Kim Ngọc (1998), Những đóng góp của thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp của thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hoàng Kim Ngọc
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN