1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật

49 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 394,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN *************** NGUYỄN QUANG ĐẠI HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ CỦA PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

**************

NGUYỄN QUANG ĐẠI

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ

NGÔN NGỮ CỦA PHONG CÁCH HỘI THOẠI

TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

***************

NGUYỄN QUANG ĐẠI

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ

NGÔN NGỮ CỦA PHONG CÁCH HỘI THOẠI

TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học

TH.S GVC LÊ KIM NHUNG

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nói đến sáng tạo thơ không thể không nói đến sáng tạo ngôn ngữ Nói đến nghệ thuật thơ không thể không nói đến nghệ thuật ngôn từ Trong thơ, ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng Nó dường như vượt qua ngoài phạm trù hình thức Và chỉ có ở thơ vai trò của ngôn ngữ mới có tính đặc thù như vậy Do đặc trưng của thể loại, thơ nghiêng hẳn về phương diện bộc lộ cảm xúc, tâm hồn, đôi khi có ngẫu hứng xuất thần Nhà thơ Hàn Mặc Tử đã

viết: “Người thơ phong vận như thơ ấy” Chính vì thế, việc nghiên cứu ngôn

ngữ trong tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá cái hay, cái đẹp của tác phẩm, đồng thời góp phần khẳng định được nét độc đáo, phong cách riêng của mỗi tác gia văn học

1.2 Phạm Tiến Duật là một nhà thơ có tài và có phong cách độc đáo Điều này ai cũng biết Nhưng chỉ ra được một cách khoa học tài thơ độc đáo

ấy, nhất là lý giải nó lại vô cùng khó Sự không biết mà dường như biết này

làm cho ít ai “cất công đi tìm cái vân tay mà nhà thơ đã điểm vào từng trang giấy” [15, tr.2] Tài năng của Phạm Tiến Duật là sự sáng tạo mới mẻ về nội

dung và hình thức nghệ thuật, đặc biệt là cách sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh Vì thế, các tác phẩm của ông không chỉ được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông mà còn được đông đảo bạn đọc yêu mến

Việc nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duật không những có ý nghĩa khoa học ngôn ngữ mà còn đáp ứng được yêu cầu của thực tế giảng dạy môn Ngữ văn nói chung, phân môn tiếng Việt nói riêng trong nhà trường

1.3 Thơ Phạm Tiến Duật là một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một ngôn ngữ khác lạ Đọc thơ ông, hoặc bằng sự mẫn cảm, hoặc bằng phương pháp

Trang 4

thống kê, có thể chỉ ra được những nét độc đáo trong cách sử dụng ngôn từ Việc nghiên cứu ngôn ngữ để khẳng định phong cách cá nhân và sự sáng tạo của tác gia văn học là việc làm cần thiết của tất cả những người học văn và yêu văn Nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật là đề tài phong phú khiến nhiều người quan tâm, trong đó nổi bật lên là yếu tố ngôn ngữ khẩu ngữ

trong thơ ông Đề tài “Hiệu quả sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật” nằm trong hệ thống các đề tài

thuộc chuyên ngành phong cách học mà chúng tôi nghiên cứu Nó không chỉ

có giá trị về mặt lý thuyết, cho việc giảng dạy mà còn giúp cho học sinh thêm yêu quý hơn sự giàu có và phong phú của tiếng Việt

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn như trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu việc sử dụng yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật đã được nhiều tác giả quan tâm, khai thác ở nhiều khía cạnh:

2.1 Tác giả Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết “Vầng trăng quầng lửa - Tập thơ đầu tay của Phạm Tiến Duật” [4, tr.381] đã chỉ ra bản chất của phong

cách hội thoại - yếu tố ngôn ngữ khẩu ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật ở các phương diện:

- Đề tài:

Tác giả đã chỉ ra những “nét độc đáo, khó nhầm lẫn” trong thơ Phạm Tiến Duật đó là “Anh viết về bộ đội, về không quân, về những người lái xe, về thanh niên xung phong, về bà mẹ và em bé, cảnh sinh hoạt hằng ngày, về

Trang 5

thiên nhiên và tình yêu” Đó chính là lối tư duy dân dã phù hợp với tâm hồn

và tính cách Việt

- Giọng điệu - kết cấu hình thức:

Phạm Tiến Duật đi đến cái hiện đại từ cái truyền thống, vần nhịp, dạng

thái câu thơ, hình thức kết cấu “đã có sức mạnh của nó” Nó phụ thuộc vào

nội dung, biến đổi cùng nội dung

- Ngôn ngữ:

+ Sử dụng rộng rãi ngôn ngữ đời thường, tự nhiên, sinh động Nhà thơ

không phải “ca hát” mà có thể “nói bình thường”

+ Các biện pháp kết hợp và so sánh bất ngờ, biến đổi hình thức theo nhu cầu của nội dung mới

+ Dùng phương thức ví von nhân hoá, dùng hình ảnh thiên nhiên dân

dã để nói tới tình cảm của con người

+ Sử dụng lối đối đáp, các đại từ phiếm chỉ, từ láy

Hệ thống các luận điểm đã được tác giả Nguyễn Văn Hạnh khai thác, phân tích khá chi tiết và được triển khai thành các ý rõ ràng, cụ thể Nhà nghiên cứu đã nêu được những thành công của Phạm Tiến Duật về nội dung, nghệ thuật và một số biểu hiện của yếu tố ngôn ngữ đời thường trong thơ ông Nhưng thực chất tính chất của chuyên luận là lý luận và phê bình văn học Vì vậy, những biểu hiện mà tác giả đưa ra mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét, minh hoạ

2.2 Tác giả Đỗ Trung Lai trong “Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật” [10, tr.147] đã viết “Nếu biết khí chất anh thì thấy điều đó càng đúng Nhưng thông thường, ta phải làm ngược lại - từ thơ mà tìm ra khí chất nhà thơ”[10, tr.147] Tác giả đã nhận xét về sự thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ đời thường trong thơ Phạm Tiến Duật “Trước Phạm Tiến Duật

Trang 6

không phải chưa có người đưa những chi tiết thực vào thơ Nhưng có thể nói, chưa ai làm được một cách ồ ạt và thành công như vậy ” [10, tr.148]

2.3 Tác giả Mã Giang Lân trong “Nhận xét ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam” [11, tr.16] đã có những nhận xét chung về ngôn ngữ các nhà thơ trưởng

thành trong kháng chiến chống Mỹ trong đó có Phạm Tiến Duật như sau:

“Đây là thời kỳ chuyển hoá giữa cái cũ và cái mới Khi thơ có tác dụng thiết thực tới cuộc sống, có ý thức gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của nhân dân thì ngôn ngữ thơ thực sự là ngôn ngữ của nhân dân Các nhà thơ xuất hiện từ phong trào sáng tác của quần chúng ở các cơ sở sản xuất, các đơn vị bộ đội

đã có những đóng góp cho ngôn ngữ thơ Ngôn ngữ thơ của họ là ngôn ngữ cuộc sống, từ cuộc sống đi vào thơ, không cầu kỳ, gò bó mà giản dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân” [11, tr.17]

2.4 Tác giả Trần Đăng Xuyền trong “Phong cách thơ Phạm Tiến Duật” [18, tr.43] cũng đã khảo sát, phân tích và làm nổi bật phong cách riêng

của Phạm Tiến Duật Trong quá trình tìm hiểu tác giả đã đề cập tới các biểu

hiện về ngôn ngữ và khẳng định “Phạm Tiến Duật là nhà thơ trẻ trong thời kỳ chống Mỹ, tiêu biểu cho khuynh hướng mở rộng cánh cửa nghệ thuật để ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, ngôn ngữ xô bồ của đời sống và vào thơ Thơ anh như lời nói thường, sử dụng nhiều khẩu ngữ Ngôn ngữ thơ anh bạo mà không thô, đẽo gọt mà không uốn éo” [18, tr.45]

2.5 Trong bài “Cuộc thi thơ trên Báo Văn nghệ 1969, thành công tốt đẹp”, đánh giá về những đóng góp của các nhà thơ đoạt giải trong việc tìm tòi

những cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo, Ban Giám khảo cuộc thi nhấn mạnh

“Thơ Phạm Tiến Duật hồn nhiên mà sâu lắng, cụ thể mà khái quát, rất gần tiếng nói hằng ngày mà lại rất thơ ”

2.6 Bài “Cách tân của Phạm Tiến Duật trong Tiểu đội xe không kính”

[7, tr.55], tác giả Đặng Hiển đã làm rõ sự tìm tòi, sáng tạo trong thơ Phạm

Trang 7

Tiến Duật, đồng thời tác giả cũng đã đề cập đến sự thành công trong nghệ

thuật cách tân, chính là sự cách tân về ngôn ngữ “Phạm Tiến Duật đã thành công trong việc tạo nên một ngôn ngữ thơ mới mẻ, thoát ly hẳn mọi ước lệ, mọi giọng điệu, âm điệu quen thuộc, thậm chí không cần đến mĩ từ Pháp Cái mới mẻ đó chủ yếu là cái mới mẻ của đời sống ”, và tác giả đã khẳng định:

Phạm Tiến Duật là nhà thơ đã đưa “chất thơ sử thi lan thấm vào những vần thơ đời thường” [7, tr.57]

2.7 Tác giả Mai Hương trong “Thơ Việt Nam qua hai cuộc chiến tranh cách mạng” [6, tr.50] đã nhận xét khi phân tích bài thơ “Lửa đèn” như sau:

“Từ ánh “lửa đèn”, Phạm Tiến Duật suy nghĩ và khái quát một cách độc đáo

về bản lĩnh, sức sống mãnh liệt của dân tộc Nhiều câu thơ, hình ảnh của bài thơ gợi cảm, giàu chất dân gian nhưng cũng giàu triết lý - một thứ triết lý dân gian, hồn hậu và tươi trẻ ” [6, tr.50]

Như vậy, việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật được nghiên cứu không chỉ ở lĩnh vực nghiên cứu

và phê bình văn học mà còn ở cả góc độ ngôn ngữ Các tác giả phần nào đã chỉ ra được hiệu quả nghệ thuật của ngôn ngữ hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật Có thể nói đây là một vấn đề quan trọng, có giá trị lý luận và thực tế để khẳng định phong cách thơ Phạm Tiến Duật Tuy vậy, các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc điểm qua, nếu có bàn tới thì chỉ bó hẹp trong một tác phẩm hoặc là điểm xuyết trong cả chặng đường văn học Như thế, chưa thấy cái hay, cái đẹp và sự phong phú, sinh động của ngôn ngữ hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật Mặt khác, những ví dụ trong thơ Phạm Tiến Duật được lấy làm dẫn chứng chỉ để minh hoạ, thuyết minh và làm sáng tỏ cho một vấn

đề lý thuyết ngôn ngữ mà chưa được nghiên cứu chuyên sâu thành hệ thống

Trên cơ sở gợi ý của các tác giả đi trước Chúng tôi lựa chọn đề tài

“Hiệu quả sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ

Trang 8

Phạm Tiến Duật” với hy vọng đưa ra được những kết quả thống kê, phân

loại, nhận xét bước đầu về mức độ sử dụng và hiệu quả nghệ thuật của các yếu tố ngôn ngữ hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật từ góc độ ngôn ngữ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Đề tài cung cấp những tư liệu giúp chúng tôi trong việc nghiên cứu, học tập thơ nói chung và thơ Phạm Tiến Duật nói riêng Mặt khác, góp phần vào việc bồi dưỡng cho bản thân năng lực phân tích và cảm thụ thơ văn Từ

đó, đề tài có thể là tư liệu phục vụ cho giảng dạy văn học và tiếng Việt ở nhà trường phổ thông sau này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Tập hợp những vấn đề lý thuyết ngôn ngữ có liên quan đến đề tài

- Khảo sát, thống kê, phân loại các ngữ liệu ngôn ngữ (từ, câu, văn bản )

- Vận dụng phương pháp phân tích phong cách học để chỉ ra đặc điểm

và hiệu quả sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, đồng thời qua đó khẳng định yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật từ góc

độ ngôn ngữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 9

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiệu quả sử dụng yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát từ góc độ ngôn ngữ qua ngữ liệu thống kê tập thơ “Vầng trăng

và những quầng lửa” của Phạm Tiến Duật, Nxb Văn học, H, 1983

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, hệ thống hoá và phân loại các phương tiện và biểu hiện của yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật từ góc độ ngôn ngữ

- Phương pháp miêu tả và phân tích phong cách học để nhận biết về đặc điểm cũng như hiệu quả sử dụng các phương tiện ngôn ngữ

Trang 10

Phong cách sinh hoạt hằng ngày được chia ra hai biến thể: sinh hoạt hằng ngày tự nhiên (thông tục) và sinh hoạt hằng ngày văn hoá (thông dụng) Phục vụ sự trao đổi thân mật giữa các cá nhân và là ngôn ngữ đời thường của đông đảo những người dân trong xã hội nên phong cách sinh hoạt hằng ngày mang tính chất tự nhiên, thoải mái và do đó trở nên sinh động thân mật, gần gũi thậm chí suồng sã

1.2 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ hội thoại

Nếu như ngôn ngữ thơ (ngôn ngữ nghệ thuật) có đặc trưng là tính hình tượng, tính hàm súc, tính cá thể hoá thì ngôn ngữ của phong cách hội thoại lại mang những đặc trưng chung là: tính cá thể hoá, tính cụ thể và tính cảm xúc

Phong cách hội thoại thiên về những chi tiết riêng, cụ thể, sinh động, bộc lộ rõ rệt tình cảm, thái độ hơn là những chi tiết chung chung, trừu tượng, trung lập, vô can Những lời nói chung chung, trừu tượng, khô khan không thể coi là những lời nói hay trong phong cách hội thoại

1.3 Đặc điểm của phong cách hội thoại

1.3.1 Đặc điểm ngữ âm

Trang 11

Sử dụng tất cả các biến thể phát âm để tạo nên sự phong phú, đa dạng Trong phong cách hội thoại, người ta có thể phát âm thoải mái theo một tập quán phát âm địa phương với sự thể hiện không theo chuẩn mực chung của cách phát âm phụ âm đầu, phụ âm cuối, nguyên âm và thanh điệu

1.3.2 Đặc điểm về cách dùng từ

- Đặc điểm nổi bật nhất trong sử dụng từ ngữ của phong cách hội thoại

là ưa dùng từ ngữ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc Đó là cách so sánh ví von, dùng từ láy, nói quá, nói tắt, nói gộp

- Dùng nhiều từ địa phương, nhiều ngữ khí từ (à, nhỉ, nhé, nào ), dùng các từ khẩu ngữ (thằng, đứa, cái ) nhiều thán từ để biểu thị cảm xúc và thực hiện chức năng tạo tiếp

Ví dụ: Từ “nhé” có chức năng khuyên răn hay giao hẹn trong câu “Bác nói cho cháu nghe nhé”

1.3.3 Đặc điểm về cú pháp

Đặc điểm nổi bật của phong cách hội thoại về mặt cú pháp là hay dùng những câu hỏi, những câu cảm thán, câu hô đáp, câu có thành tố chèm xen đưa đẩy, câu rút gọn, câu trực tiếp Đặc biệt phong cách hội thoại dùng những kết cấu ngữ pháp riêng mà các phong cách khác ít dùng

- Dùng “đã lại ” thay cho “không những mà còn”

VD: “Anh ta đã không tuân thủ luật đi đường lại còn phá rối trật tự”

- Dùng kết cấu “động từ - gì mà - động từ” biểu thị thái độ phủ định VD: “Học hành gì mà chỉ ăn với chơi”

Trang 12

1.3.4 Đặc điểm về bố cục, diễn đạt

Phong cách hội thoại được sử dụng trong cả dạng nói và dạng viết

- Dạng nói: Đó là những lời chào hỏi, chuyện trò, tâm sự, bàn bạc, trao đổi về mọi vấn đề Giao tiếp trong phong cách hội thoại, người ta dù muốn hay không vẫn phải lựa chọn những từ ngữ thân mật, giàu hình ảnh và cảm xúc Bố cục văn bản ở dạng nói thường không chặt chẽ, luôn có sự chuyển đổi

đề tài Diễn đạt dài dòng, “dây cà dây muống”

- Dạng viết: Đó là một mẩu thư của bạn bè, người thân để thăm hỏi hoặc báo tin cho nhau, một trang nhật ký cá nhân, v.v

1.4 Đặc điểm sử dụng biện pháp tu từ

Như đã khẳng định ở trên, phong cách hội thoại có đặc trưng chung là tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể hoá Để tạo ra chất đời thường, màu sắc dân gian trong ngôn ngữ thơ, các nhà thơ rất chú ý khai thác sử dụng một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu như: biện pháp dẫn ngữ, biện pháp so sánh ví von, biện pháp phóng đại, biện pháp cải danh

1.4.1 Biện pháp dẫn ngữ

“Dẫn ngữ là phương tiện tu từ bao gồm những thành ngữ, tục ngữ, danh ngôn, điển cố hoặc thơ văn có giá trị, được dùng hoà lẫn vào lời nói đang được trình bày, miêu tả để thay thế cho cách diễn đạt thông thường, trung hoà về tu từ học nhằm làm cho lời nói thêm hàm súc, giàu hình tượng (trong thơ văn) hoặc tăng thêm sức thuyết phục (trong nghị luận)” [9, tr.77)

Có nhiều cách dẫn khác nhau:

- Mượn một phần hoặc một vế của câu thành ngữ, ca dao

VD: “Giặc Pháp là cái vỏ quýt dày thì chúng ta phải có thời gian mà mài móng tay cho thật nhọn rồi mới xé tan xác chúng ra”

(Hồ Chí Minh)

- Trích dẫn y nguyên một câu thành ngữ, ca dao

Trang 13

VD: “Nhớ nhau chân cứng đá mềm em nhé

Hẹn ngày đánh Mỹ xong sẽ về tìm nhau”

(Nguyễn Đình Thi)

- Mượn ý của câu thành ngữ, ca dao

“Biển ở đâu mà muối mặn lời nồng”

(Phạm Tiến Duật)

1.4.2 Sử dụng biện pháp tu từ cải danh

“Cải danh là một biến thể của lối nói chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ, trong đó người ta dùng tên riêng thay cho tên chung hoặc dùng tên chung thay cho tên riêng Ở cả hai dạng của cải danh, sự định danh thứ hai đều dựa vào sự giống nhau giữa hai khách thể” [9, tr.60]

- Dạng thứ nhất của cải danh về cơ bản là đặc điểm của lời nói hội thoại Nó được dùng như một khuôn sáo để nêu tính cách của con người

VD: “Hắn là một thằng Sở Khanh”

Nhằm chỉ một người đàn ông phụ tình như Sở Khanh

Hiệu quả tu từ của dạng này không lớn, vì trong những trường hợp này, cải danh xuất hiện như một ẩn dụ đã phai mờ Tuy nhiên, trong lời nói nghệ thuật, cải danh có thể được hồi sinh và thực hiện chức năng cơ bản và nêu tính cách của con người một cách có hình tượng

Trang 14

VD: “Vâng lời Bụt, Người làm vũ khí và vững vàng chờ đợi, khi Quỷ

Ác mở cuộc tấn công đã vấp phải một cuộc đánh trả kiên cường”

(Truyện Cây nêu ngày tết) Như vậy, sử dụng phép cải danh đã thể hiện rất rõ những đặc trưng của

phong cách hội thoại Theo tác giả Cù Đình Tú [14, tr.111] “Người ta tìm những cách đặt tên có khả năng gợi ra những hình ảnh, những đặc điểm riêng biệt, cụ thể thường có ở một người” [14, tr.111]

VD: “Cô thanh niên xung phong ấy, anh Ba Lé, chị Bếp ”

1.4.3 Sử dụng biện pháp tu từ cải dung

“Cải dung là một phương thức hoán dụ chỉ cái chứa đựng thay cho vật chứa đựng” [9, tr.205] Có thể nói, cải dung là cách nói có tính chất vừa khái

quát, vừa cụ thể và rất phổ biến trong phong cách hội thoại

VD: - “Cả trường vui vẻ trong ngày hai mươi tháng mười một”

- “Cả Hà Nội tưng bừng cờ hoa”

1.5 Kết luận

1.5.1 Từ sự tìm hiểu về khái niệm, đặc trưng, đặc điểm của phong cách

hội thoại ta thấy: ngôn ngữ trong phong cách hội thoại có ưu điểm là sinh động, thân mật, dân dã, giao tiếp nhanh chóng và có khả năng biểu cảm cao Phong cách hội thoại thể hiện một cách tự nhiên những phong tục, tập quán, lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Đây chính là kho tàng ngôn ngữ đồ

sộ mà các nhà văn, nhà thơ đã và đang nghiên cứu, khai thác học tập Sử dụng ngôn ngữ khẩu ngữ, ngôn ngữ giao tiếp sinh hoạt hằng ngày vào trong thơ không những vẫn đảm bảo các đặc điểm ngôn ngữ thơ (tính cảm xúc, tính nhạc, tính đa nghĩa) mà còn là một biện pháp nghệ thuật làm cho ngôn ngữ thơ có màu sắc tự nhiên, gần gũi

Trang 15

- Sử dụng biện pháp dẫn ngữ là một phương thức phổ biến trong các phong cách ngôn ngữ Đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ văn chương, biện pháp này mang lại hiệu quả cao Cụ thể là, nó tạo ra màu sắc dân gian, màu sắc hội thoại, tạo ra sự đồng cảm giữa những người cùng chung một vốn ngôn ngữ, một truyền thống văn hoá Đồng thời nó làm cho câu nói dễ hiểu,

có tính hình tượng và tính biểu cảm cao

1.5.2 Sử dụng ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày của quần chúng nhân dân trong thơ là một biện pháp nghệ thuật

Mặc dù ngôn ngữ thơ (ngôn ngữ nghệ thuật) và ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày (ngôn ngữ hội thoại) có những đặc trưng khác biệt, gần như đối lập, nhưng việc sử dụng ngôn ngữ của phong cách hội thoại vào trong thơ không làm mất đi tính ước lệ, tính thẩm mĩ, tính hàm súc của ngôn ngữ thơ Trái lại, nó sẽ làm cho ngôn ngữ thơ trở nên gần gũi tự nhiên, dễ hiểu hơn với đông đảo bạn đọc Đó chính là hiện tượng “xuyên thấm phong cách” Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng ngôn ngữ của phong cách hội thoại khi đi vào thơ

đã trở thành những chi tiết nghệ thuật phục vụ cho mục đích sáng tạo của tác giả

Tác giả Cù Đình Tú nhận xét: “Nhờ tài năng sáng tạo đặc biệt của các nhà văn, nhà thơ, các phương tiện biểu hiện của các phong cách khác đi vào ngôn ngữ văn chương không phải một tập hợp hỗn độn mà như là các thành

tố của một chỉnh thể có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau và tất cả đều hướng về một chức năng: chức năng thẩm mỹ khi tồn trữ với tư cách là một thành tố của ngôn ngữ văn chương, chúng chỉ gợi ra bóng dáng của các phong cách chức năng này mà thôi” [14, tr.182]

Đây chính là những cơ sở lý luận để chúng tôi nghiên cứu đề tài này

Trang 16

2 Kết quả khảo sát thống kê phân loại

Qua khảo sát 57 bài thơ (in trong tập thơ “Vầng trăng và những quầng lửa” của Phạm Tiến Duật), chúng tôi đã thống kê các ngữ liệu ngôn ngữ (cách

phát âm, dùng từ, đặt câu, tổ chức văn bản, cách sử dụng biện pháp tu từ) để phân tích và rút ra những nhận xét về hiệu quả sử dụng yếu tố ngôn ngữ hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật

Dưới đây là bảng kết quả khảo sát:

Cách sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại

trong thơ Phạm Tiến Duật

Số phiếu

3 Sử dụng câu có thành phần chêm xen

4 Sử dụng kiểu câu của phong cách hội thoại

1 Mở đầu bài thơ bằng một câu kể

2 Bài thơ được tổ chức như một câu chuyện kể

3 Bài thơ là một câu nói, một lời kể dài dòng

2

3

2

0,28 0,42

0,28

Trang 17

Tổng cộng 704/57 100%

Trang 18

3 Phân tích kết quả thống kê

3.1 Sử dụng vốn từ ngữ của phong cách ngôn ngữ hội thoại

3.1.1 Biến âm để tạo từ khẩu ngữ

Sự phong phú của ngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại là sử dụng tất

cả các biến thể phát âm để tạo nên sự đa dạng Trong giao tiếp hằng ngày, người dân ở các địa phương thường phát âm một cách thoải mái theo một tập quán phát âm địa phương với sự thể hiện không theo chuẩn mực của phụ âm đầu, âm cuối, thanh điệu Sử dụng cách nói biến âm, từ ngữ trong thơ Phạm Tiến đuật vừa có màu sắc đời thường, vừa có màu sắc địa phương lại vừa có chất ngang tàng, lãng mạn của người lính Một nét gì vừa quê kệch nhưng cũng vừa rất gần gũi, đời thường và không khí trận mạc được toát lên từ đó

Qua khảo sát, chúng tôi thấy hiện tượng biến âm trong thơ Phạm Tiến Duật xuất hiện khá nhiều lần (10 phiếu) và cũng phong phú về dạng, loại:

- Biến âm về thanh điệu (thanh sắc thành thanh ngang, hoặc thanh huyền thành thanh ngang )

“Chúng lao xuống nơi nao Loe ánh lửa,

Gió thổi tắt đèn, bom rơi máu ứa”

(Lửa đèn)

- Biến âm âm chính: (“â” thành “ư”)

“Trên đỉnh đồi vẫn vừng trăng đỏ ối”

(Vầng trăng và những quầng lửa)

- Biến âm phụ âm đầu: (“n” thành “d”)

“Đứng ngồi không yên vẫn đồng chí bộ binh Chờ dăm phút nữa thôi, có lâu là mấy”

(Những mảnh tàu lá)

Trang 19

- Biến âm chính: (“a” thành “ơ”)

“Em cầm bùi nhùi đi đâu đánh lửa

Hở em? Huyện có gần không”

(Hang đền chín ngọn)

- Biến âm (“ơ” thành “i”)

“Thì giờ ghé môi hôn cũng là thì giờ đóng cầu dao điện”

(Em ơi, sắp một năm tròn)

- Gộp âm (tổ hợp ba âm tiết “Ba mươi lăm tuổi” phát âm gộp thành “ba lăm”)

“Ba lăm tuổi chuyện chồng con chưa nói”

(Cô bộ đội ấy đã đi rồi)

Từ sự vận dụng biến âm phong phú này tác giả đã tạo nên những sắc thái nhấn mạnh như vầng (vừng), hả (hở), ba mươi lăm (ba lăm) Mặt khác, bằng sự biến âm tác giả miêu tả không xác định những thời gian, không gian, địa điểm cụ thể: nào (nao), năm (dăm) Tất cả sự biến âm đó không chỉ tạo nên sắc thái biểu cảm mà còn không làm mất đi nghĩa gốc của từ Cách nói biến ấm để tạo từ khẩu ngữ thể hiện mối quan hệ thân mật, tình cảm tự nhiên, ngôn ngữ không chau chuốt, không cầu kỳ, mà tự nhiên, tự phát, theo thói quen của mỗi cá nhân, mỗi địa phương

3.1.2 Sử dụng vốn từ khẩu ngữ

Từ khẩu ngữ là từ chuyên dùng trong giao tiếp, nói năng hằng ngày Nó

có màu sắc thông tục và đối lập với màu sắc của phong cách viết, đặc biệt là phong cách nghệ thuật Trong sáng tác của mình, Phạm Tiến Duật đã sử dụng

từ khẩu ngữ một cách sáng tạo, độc đáo, ông là nhà thơ “tiêu biểu cho khuynh hướng mở rộng cánh cửa nghệ thuật để đón ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, ngôn ngữ xô bồ của đời sống vào trong thơ Thơ anh như lời nói thường sử dụng nhiều khẩu ngữ ” [18, tr.43]

Trang 20

Đọc thơ Phạm Tiến Duật chúng ta bắt gặp rất nhiều những từ ngữ ở làng quê, thô sơ, mộc mạc, song nó lại tạo nên chất thơ rất riêng Khi tìm hiểu, nghiên cứu chúng ta thấy có những từ nếu đứng riêng thì thông tục (đứa, cái, nó, vén ), nhưng khi nằm trong cấu trúc câu thơ thì nó lại rất thơ Đó là

vì nhà thơ biết đưa vào đúng lúc, “biết dùng chữ “thanh” nuôi chữ “thô”, chữ “mát” nuôi chữ “nóng”” [18, tr.45] làm cho người đọc cảm thấy cái dân

dã, đời thường và gần gũi tự nhiên Chúng tôi thống kê được 167 phiếu (chiếm 23,7%) có thể chia thành các tiểu loại như sau:

3.1.2.1 Sử dụng từ chỉ loại, đại từ (cái, đứa, nó )

VD 1: “Yêu hơn cả cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ

Là cái cầu này chụp ảnh xa

Mẹ bảo cầu Hàm Rồng sông Mã Con cứ gọi: Cái cầu của cha”

(Cái cầu) VD2 : “Cái nhà máy lao xao con chữ

Giấy xoè như bướm bay”

(Công việc hôm nay)

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê (Trung tâm Từ điển học - Đà Nẵng - 1995, tr.102) thì từ “cái” là danh từ được dùng với nhiều chức năng,

nhiều ý nghĩa khác nhau

Ở ví dụ 1, từ “cái” được dùng lặp lại ba lần trong bốn câu thơ nhằm

“chỉ từng đơn vị riêng lẻ thuộc loại vô sinh” - “cái cầu” Biện pháp điệp ngữ

có tác dụng nhấn mạnh hình ảnh một sự vật quen thuộc, gắn bó với làng quê Cái cầu không chỉ là phương tiện đi lại mà nó còn là kỷ niệm gắn bó với người cha thân yêu

Trang 21

Ví dụ 2, từ “cái” dùng kết hợp với từ ghép “nhà máy”, “biểu thị ý nhấn mạnh về sắc thái xác định của sự vật”, nhằm làm nổi bật đặc điểm của nhà máy là “lao xao con chữ”

Trong cả hai ví dụ, từ “cái” được dùng linh hoạt làm cho câu thơ trở

nên nôm na, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày

VD 3: “Chúng nó đến từ bên kia biển

Rủ nhau bay như lũ ma trơi”

(Lửa đèn)

VD 4: “Cũng mắc võng trên rừng Trường Sơn

Hai đứa ở hai đầu xa thẳm Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”

(Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây)

Cũng theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê thì từ “lũ” là chỉ tập hợp đông người cùng một lứa tuổi, còn từ “đứa” là để chỉ từng cá nhân, ngưòi còn

trẻ, thuộc hàng dưới

Nếu như ở ví dụ 3 tác giả sử dụng từ “lũ” để chỉ những kẻ xâm lược với sắc thái không thân thiện, khẩu ngữ, suồng sã, thì ở ví dụ 4 từ “đứa” lại được tác giả sử dụng thể hiện sự thân mật, gắn bó Tuy hai “đứa” ở hai đầu của

chiến trận, song lại chung một con đường ra trận, chung một lý tưởng cách

mạng và điều đặc biệt là chung một nỗi nhớ Nỗi nhớ ấy đã làm cho “Đường

ra trận mùa này đẹp lắm” Với ý nghĩa đó, từ “đứa” đã góp phần thể hiện tình

cảm tự nhiên, giản dị của những chàng trai, cô gái đang cùng chung chiến hào chống Mỹ

3.1.2.2 Sử dụng từ khẩu ngữ có sắc thái hồn nhiên thông tục

Loại này chúng tôi thống kê được 27 phiếu (3,8%)

Trang 22

VD1: “Vén xanh nhà lại hiện dần

Những hàng bộ đội quân quần nẻo xa”

(Vùng làng)

VD2: “Ngói vỡ bởi bom rung hở một mảnh trời nho nhỏ”

(Qua một mảnh trời thành phố Vinh)

VD3: “Đau bụng: trần bì, bổ bì, bạch truột

Thời nào cũng bốc bấy nhiêu thang”

(Ông già thuốc bắc) Khi nhận xét về thơ Phạm Tiến Duật nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyền

đã viết “Trong một số bài thơ có những từ, nếu đứng riêng thì rất tục nhưng đọc lên vẫn không thấy sượng vì biết vào đúng lúc, biết dùng chữ “thanh” nuôi chữ “thô”, chữa mát nuôi chữ “nóng” ” [18, tr.43]

Thật vậy, ở cả ba ví dụ trên, các từ “vén”, “hở”, “bốc” nếu tách khỏi

văn bản thì đó là những từ chỉ hành động mang ý nghĩa khẩu ngữ của ngôn ngữ hội thoại tự nhiên Nhà thơ đã khéo léo sử dụng chúng trong những ngữ

cảnh phù hợp với tính từ “xanh” để tạo nên một hoán dụ tu từ Bởi màu xanh

ấy chính là màu của rừng, màu của sức sống, mà ẩn sau nó là khu dân cư của

những “làng bộ đội” Câu thơ trở nên gần gũi, mộc mạc mà lại có tính hình

tượng cao

Qua các ví dụ trên, chúng ta thấy được nghệ thuật sử dụng từ nhuần nhuyễn, linh hoạt của Phạm Tiến Duật và có thể khẳng định rằng: ngôn ngữ của thơ là ngôn ngữ của đời thường, của cuộc sống Tác giả Trần Nhuận Minh

nhận xét: “Nghệ thuật cao cường của nhà thơ là đặt chữ vào đúng chỗ Ngay

cả những chữ thô tục vào tay những nhà ngôn ngữ cự phách nó cũng mất đi cái vẻ nguyên sơ ban đầu để thành một biểu tượng mới, lớn hơn và sâu rộng

về nghĩa” [12 tr.55]

3.1.3 Sử dụng từ ghép sắc thái hoá

Trang 23

Tác giả Cù Đình Tú nhận xét “Ưa dùng những từ ngữ giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm là một qui luật trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên của tiếng Việt” [14, tr.110]

Từ ghép sắc thái hoá là từ ghép mang lại hiệu quả nghệ thuật cao được tác giả Phạm Tiến Duật khai thác triệt để tạo ra màu sắc tự nhiên trong thơ Chúng tôi thống kê được 27 phiếu chiếm (3,76%)

VD1: “Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu

Thắp: mùa đông ấm nhưng đêm thâu”

(Lửa đèn)

VD2: “Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá

Quả cây chín đỏ hoe”

(Lửa đèn)

VD3: “Kìa thùng nước ông già đã đem ra trận

Giữa trời bay mùi cam thảo thơm lừng”

(Ông già thuốc bắc)

Ở cả ba ví dụ trên chúng ta thấy tác giả đã sử dụng rất khéo léo các từ

ghép sắc thái hoá có khả năng gợi hình, biểu cảm cao “Nhỏ xíu” khác với nhỏ xinh hay nhỏ bé Từ “nhỏ xíu” gợi cho chúng ta hình ảnh những quả cà chua

rất nhỏ và máu sắc, hình dáng của nó giống như những chiếc đèn lồng, có sức

lan toả ấm cả “những đêm thâu” Từ “nhỏ xíu” thể hiện tình cảm âu yếm, thân thương “Đỏ hoe” khắc với đỏ ửng hay đỏ rực Đỏ hoe là “màu đỏ nhạt nhưng tươi” (Hoàng Phê - đd) “Thơm lừng” mà không phải là thơm mát - hay thơm nức, thơm lừng hà “mùi thơm toả ra mạnh và rộng” (Hoàng Phê - đd)

Các từ ghép sắc thái hoá đã góp phần làm tăng thêm tính gợi hình và biểu cảm cho cậu thơ

3.1.4 Sử dụng từ địa phương

Trang 24

Từ địa phương là những từ chuyên dùng ở một địa phương cụ thể nào

đó Đây là những từ mang đậm màu sắc khẩu ngữ dân gian có tính chất vùng miền và thường được sử dụng trong văn nói Văn bản viết đặc biệt là văn bản khoa học thường không sử dụng từ địa phương

Phạm Tiến Duật là một người lính, nhà thơ đã có một thời cùng bao

đồng đội “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” Vì thế ông đi nhiều và sáng tác

nhiều Thơ ông đã in dấu từng miền quê, từng vùng đất không chỉ bằng nội dung mà còn bằng cả những từ ngữ địa phương đó Chúng tôi đã thống kê được 12 phiếu, có thể chia thành các loại theo đặc điểm phương ngữ như sau:

+ Nhóm từ thuộc phương ngữ Bắc Bộ:

“Trời cứ mưa dầm đồng đất Thái Bình ơi”

(Chiều mưa ở Tiền Hải nghe chèo)

“Gạo ướt sũng cho vào niêu nhỏ”

(Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành) + Nhóm từ thuộc phương ngữ Trung và Nam Bộ:

“Màu trắng đêm ni là màu trắng bàn tay”

(Nghe hò đêm bốc vác)

“Sau giọng ngân dài xô một tiếng dô ta”

(Nghe hò đêm bốc vác) Phạm Tiến Duật sinh ra và lớn lên ở vùng Trung du Bắc Bộ Hơn thế, ông lại là sinh viên sư phạm Ngữ văn Do đó, những từ ngữ mang đậm màu sắc văn hoá Trung du Bắc Bộ chiếm số lượng nhiều nhất trong thơ ông, ngay

cả những sáng tác ông viết ở Trường Sơn Đó là những từ như: đẵn, chéo vải, công kênh Sự xuất hiện đậm đặc của nhưng từ này đã mang lại cho thơ ông hồn quê và tình quê sâu sắc Ở từ ngữ cảnh cụ thể, từ địa phương góp phần

Ngày đăng: 24/07/2020, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Bình, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hoà (1982), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1982
2. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
3. Vũ Duy (2000), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Duy
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2000
4. Nguyễn Văn Hạnh (2004), Chuyện văn chuyện đời, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện văn chuyện đời
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
5. Nguyễn Văn Hằng (1999), Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Hằng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1999
6. Mai Hương (6/2001), “Thơ Việt Nam qua hai cuộc chiến tranh cách mạng”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam qua hai cuộc chiến tranh cách mạng
7. Đặng Hiển (2006), Vẻ đẹp văn học cách mạng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vẻ đẹp văn học cách mạng
Tác giả: Đặng Hiển
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
8. Đinh Trọng Lạc (2004), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
10. Đỗ Trung Lai (4/1986), “Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật
11. Mã Giang Lân (3/2003), “Nhận xét ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam”, Tạp chí Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam
12. Hoàng Phê (chủ biên) (2005), “Từ điển tiếng Việt”, Trung tâm Từ điển học - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Năm: 2005
13. Cù Đình Tú (1983), Phong cách và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb ĐH&THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: Nxb ĐH&THCN
Năm: 1983
14. Đỗ Lai Thuý (3/1995), “Dấu vân tay hằn lên từng con chữ”, Tạp chí Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu vân tay hằn lên từng con chữ
Tác giả: Đỗ Lai Thuý
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1995
15. Lê Văn Vỵ (1/2002), “Không” mà “có” trong bài thơ về Tiểu đội xe không kính, Báo Văn học tuổi trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không” mà “có
17. Trần Đình Sử (1/1996), “Nhà thơ Việt Nam hiện đại và mấy vấn đề nghiên cứu cá tính sáng tạo trong thơ”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Việt Nam hiện đại và mấy vấn đề nghiên cứu cá tính sáng tạo trong thơ
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1996
18. Trần Đăng Xuyền (3/2002), “Phong cách thơ Phạm Tiến Duật”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách thơ Phạm Tiến Duật
Tác giả: Trần Đăng Xuyền
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2002
9. Đinh Trọng Lạc (2003), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dưới đây là bảng kết quả khảo sát: - Hiệu quả sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật
i đây là bảng kết quả khảo sát: (Trang 16)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w