1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cấu trúc so sánh trong thơ phạm tiến duật

112 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cấu Trúc So Sánh Trong Thơ Phạm Tiến Duật
Tác giả Nguyễn Hoài Thương
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Sáng
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư Phạm Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị như vậy, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật in trên Tạp chí Văn học, số 4, 1974

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN HOÀI THƯƠNG

CẤU TRÚC SO SÁNH TRONG THƠ

PHẠM TIẾN DUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Nguyễn Hoài Thương (Khóa 2012 - 2016)

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS Trần Văn Sáng - người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu bằng một tinh thần khoa học nhiệt thành và nghiêm túc

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, Đại học - Trường Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đã quan tâm động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Với trình độ và kiến thức còn hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự lượng thứ

và góp ý chân thành của các thầy, cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp đã quan tâm đến vấn đề được tìm hiểu trong luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

3.1 Đối tượng nghiên cứu 12

Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là cấu trúc so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật 12

3 2 Phạm vi nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu 13

5 Bố cục luận văn: 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ 15

1.1 Khái quát về so sánh 15

1.1.1 Khái niệm so sánh 15

1.1.2 Cấu trúc so sánh 18

1.1.3 Các kiểu so sánh 29

1.2 Phạm Tiến Duật và những bài thơ của ông 31

1.2.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Tiến Duật 31

1.2.2 Khái quát về thơ Phạm Tiến Duật 34

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 38

Trang 5

2.1 Đặc điểm hình thái - cấu trúc của phương thức so sánh trong thơ Phạm

Tiến Duật 39

2.1.1 Các kiểu so sánh 39

2.1.2 Đặc điểm của yếu tố được so sánh 53

2.1.3 Đặc điểm của yếu tố so sánh 61

2.1.4 Đặc điểm của các từ ngữ biểu thị qua hệ so sánh 68

2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của phương thức so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật 71

2.2.1 Đặc điểm của yếu tố được so sánh 71

2.2.2 Đặc điểm của yếu tố so sánh 79

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ TU TỪ CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 88

3.1 Giá trị nhận thức của so sánh tu từ 88

3.2 Giá trị biểu cảm của so sánh tu từ 94

3.3 Phương thức so sánh với hình tượng nghệ thuật trong thơ Phạm Tiến Duật 99

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Để nhận thức thế giới khách quan, để hiểu rõ sự vật hiện tượng với các thuộc tính muôn màu muôn vẻ trong đời sống, con người thường thực hiện việc so sánh, nhằm phát hiện ra những thuộc tính đồng nhất và khác biệt giữa các sự vật hiện tượng này, để quy loại và phân biệt chúng với nhau Có thể nói, so sánh là một thao tác thường xuyên, có ý thức hoặc vô thức, trong đời sống hàng ngày của con người Đối với văn học nghệ thuật, so sánh được xem

là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo Nghiên cứu về phép so sánh của một tác phẩm văn học giúp ta tìm hiểu một cách thức quan trọng (trong số các phép tu

từ khác) được các tác giả dùng để tạo nên ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của mình

Sự nghiệp văn chương của Phạm Tiến Duật khởi từ tuyến đường mòn vận tải Trường Sơn 559, con đường huyền thoại mang tên Hồ Chí Minh trong

cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc Thơ Phạm Tiến Duật "đã lưu lại trong lịch sử dân tộc dấu mốc sáng tạo của thơ trữ tình Việt Nam trên hành trình đi tìm cái đẹp từ trong các sự kiện và in đậm chất sử thi của một thế kỷ đầy biến động"

Là một gương mặt độc đáo của văn học Việt Nam 1945 - 1975, nét độc đáo, nổi bật trong thơ Phạm Tiến Duật là ở ngôn ngữ thơ thô nhám, gân guốc nhưng lại được ông sử dụng một cách uyển chuyển và vô cùng tự nhiên Ông được đánh giá là một trong những tác giả tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ

Đọc thơ Phạm Tiến Duật, chúng ta như được quay ngược dòng quá khứ, được sống trong không khí của những năm tháng hào hùng, gian khổ nhưng hết sức lạc quan của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thơ ông

Trang 7

gieo vào lòng người đọc niềm tin tưởng ở những phẩm chất tốt đẹp, vững bền của con người Việt Nam trước những thử thách lịch sử

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn và tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Cấu trúc so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật”

2 Lịch sử vấn đề

Các phương thức biểu hiện của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn chương, trong đó có phương thức so sánh, đã được nhiều nhà nghiên cứu trước đây đề cập tới

Lịch sử nghiên cứu phương thức so sánh ghi nhận tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hi Lạp là Arisstotle (384 - 322 TCN) Trong

cuốn Thi học, khi trình bày những cách tu từ chủ yếu và phổ dụng, Arisstotle

đã chú ý đến so sánh Ông xem đây là một trong những biện pháp được sử dụng rất phổ biến trong văn chương, đặc biệt rất đắc dụng trong thơ ca nhằm tăng hiệu quả biểu cảm và giá trị thẩm mĩ

Ở Trung Hoa cổ đại, cùng với ẩn dụ, lí luận về so sánh được bộc lộ qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thơ ca dân gian Trung Quốc Trong các công trình nghiên cứu, các học giả Trung Hoa thường dùng khái

niệm “tỉ” và “hứng” khi nói về phương thức nghệ thuật có liên quan đến

cách ví von bóng gió

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu phương thức nghệ thuật này trên quan điểm ngữ văn học được kế thừa và phát triển truyền thống bình giảng tác phẩm văn học Trung Hoa, theo khuynh hướng coi đó là thuộc mĩ từ pháp, là

một trong những “phép làm văn”

Trang 8

Cho đến nay, ở Việt Nam đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về các phương thức tu từ, trong đó có so sánh, tiêu biểu là: Đinh Trọng Lạc với

Giáo trình Việt ngữ (NXB GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (NXB GD, 1996), Phong cách học tiếng Việt (NXB GD, 1998); Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (NXB ĐH & THCN,1983); Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (NXB ĐHQGHN, 2001); Nguyễn Thế Lịch với Từ so sánh đến ẩn dụ (T/c Ngụn ngữ, số 3, 1991); Hoàng Kim Ngọc với cuốn So sánh và ẩn dụ trong ca dao

trữ tình (NXB KHXH, 2009)

Qua tìm hiểu, có thể nhận thấy trong những công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả đã chú trọng đến việc hình thành khái niệm, phân loại và tìm

ra giá trị của các phương thức tu từ nói chung và so sánh nói riêng Đây là cơ

sở lí thuyết vô cùng quí báu để khóa luận tốt nghiệp có thể tham khảo trước khi đi sâu nghiên cứu về phương thức so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật

Phạm Tiến Duật có thơ đăng báo từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX, nhưng thơ ông lúc này vẫn còn lẫn trong thơ nhiều người Phải đến cuộc thi thơ do báo Văn nghệ tổ chức vào năm 1969 -1970, ông mới thực sự ghi được tên tuổi của mình vào làng thơ Việt Nam Chùm thơ đoạt giải nhất của ông gây được ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về một phong cách thơ rất lạ Bắt đầu từ đây, nhiều cây bút, nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã quan tâm đánh giá thơ ông Một trong những bài viết đầu tiên về thơ Phạm Tiến

Duật là Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ (Tạp chí Văn nghệ Quân

đội, số 10, 1970 của Nhị Ca) Nhị Ca cho rằng chùm thơ được giải bốn bài của Phạm Tiến Duật thực sự gây được ấn tượng với độc giả về một phong

cách thơ "rất lạ", lạ từ chất liệu, thi liệu đến giọng điệu Ông chỉ ra rằng, đây

là một hồn thơ "được nuôi dưỡng bằng chất liệu sống thực, tươi trẻ thở hết

Trang 9

không khí mặt trận dữ dội và tự tin, có thời gian ngẫm nghĩ về cuộc chiến đấu quyết liệt, dũng cảm" Nhị Ca cũng rất quan tâm đến việc tạo dựng câu thơ,

một trong những yếu tố làm nên sự mới mẻ của Phạm Tiến Duật so với các

nhà thơ khác là "dáng dấp xốc vác, xô bồ, cứng cáp hơn, như hạt gạo đỏ đồng chiêm vừa chắc dạ, vừa béo ngọt" Bên cạnh đó, Nhị Ca đã có ý kiến nhận xét

khá xác đáng về những thành công cũng như hạn chế qua việc phân tích một

số bài thơ tiêu biểu của tập “Vầng trăng quầng lửa”

Nhà văn Nguyễn Minh Châu (trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 7,

1972) có bài Người viết trẻ giữa cánh rừng già cho rằng: "Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật đã làm xôn xao đời sống thơ ca vốn có Thơ Phạm Tiến Duật

đã cổ vũ cho cuộc chiến đấu theo cách riêng của mình và đã đón nhận được

sự quan tâm đặc biệt từ nhiều phía"

Dưới quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị như vậy, nhà nghiên cứu

văn học Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật (in trên Tạp chí Văn học, số 4, 1974) đã khẳng định: "hồn thơ Phạm Tiến Duật phóng khoáng, rộng mở, cái đẹp của cuộc sống chiến đấu đi vào thơ ông tự nhiên và rất thật" Ông cho rằng, thơ Phạm Tiến Duật

"là tiếng nói khoẻ khoắn, đôn hậu, bắt nguồn trực tiếp từ cuộc sống chiến đấu sôi nổi mà hào hùng của dân tộc" Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Thiện cũng phê phán một số bài thơ như “Qua một mảnh trời thành phố Vinh”, “Vòng trắng” mà trong điều kiện chiến tranh được coi là có tư tưởng lệch lạc làm

yếu sức mạnh của cộng đồng

Và từ góc nhìn vận động và phát triển của thơ ca dân tộc, nhà thơ, nhà

phê bình Vũ Quần Phương trong bài “Một đóng góp của dòng thơ quân đội vào nền thơ Việt Nam” (trong Tạp chí Văn học, số 6, 1979) đã chỉ ra sự kế

thừa những kinh nghiệm của thơ ca dân gian trong thơ Phạm Tiến Duật Theo

Trang 10

Vũ Quần Phương, điều đó khiến cho thơ Phạm Tiến Duật "đầy rẫy những chi tiết đời sống đánh Mỹ chính xác, cụ thể như hiện vật trong bảo tàng " Năm

năm sau, năm 1985, Vũ Quần Phương phát triển bài viết thành bài nghiên cứu

tác giả Phạm Tiến Duật trong cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện đại (NXB Khoa

học Xã hội, Hà Nội, 1985), với tư cách là một nhà thơ trẻ tiêu biểu của nền thơ trữ tình cách mạng

Năm 1986, Đỗ Trung Lai cũng có một bài viết rất công phu với nhan đề

“Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật” (Tạp chí Văn học, số 4, 1986) đã

đánh giá, tổng kết giai đoạn sáng tác trong chiến tranh của Phạm Tiến Duật Nhà văn đã khẳng định vai trò của thực tiễn chiến tranh đối với sáng tác của Phạm Tiến Duật

Một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về thơ Phạm Tiến Duật

là của Trần Đăng Suyền trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập III (NXB

Đại học Sư phạm I, 2002) Tác giả công trình đã giới thiệu tiểu sử, con người

nhà thơ Ông cho rằng "Vùng thẩm mĩ" của thơ Phạm Tiến Duật là rừng

Trường Sơn Tác giả đặc biệt quan tâm đến phong cách thơ Phạm Tiến Duật

là tính chất trẻ trung, giọng thơ ngang tàng, sự xô bồ, rậm rạp mà khái quát của chi tiết, ngôn ngữ sinh hoạt ùa vào trong thơ Cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác, tác giả Trần Đăng Suyền vẫn mong đợi một sự đổi mới của nhà thơ Phạm Tiến Duật để thơ ông có thể đến được, hoà nhập với cuộc sống mới

Bài nghiên cứu mới nhất gần đây về Phạm Tiến Duật của Vũ Văn Sỹ,

in trước ngày mất của Phạm Tiến Duật với nhan đề Phạm Tiến Duật, người

"chứa được Trường Sơn nhiều nhất" (trong Tạp chí Nhà văn, số 12, 2007)

Vũ Văn Sỹ đánh giá cao vị trí của Phạm Tiến Duật trong hành trình thơ trữ

tình cách mạng Ông cho rằng "Thơ Phạm Tiến Duật đã lưu lại trong lịch sử

Trang 11

văn học dấu mốc của thơ trữ tình Việt Nam trên hành trình đi tìm cái đẹp trên các sự kiện và biến cố in đậm chất sử thi của một thế kỉ đầy biến động"

Cùng với những bài viết trên, có thể kể đến các bài của Thiếu Mai, Mai Hương, Hồ Phương, Hoàng Kim Ngọc đăng tải trên các báo và tạp chí Phạm Tiến Duật cũng từng được nhắc đến và giới thiệu trong các công trình

tiểu luận và nghiên cứu như Dọc đường văn học (NXB Văn học, Hà Nội, 1996); Nhà văn Việt Nam thế kỉ XX, tập III (NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2000); Từ điển tác giả văn học Việt Nam thế kỉ XX (NXB Hội nhà văn, Hà

Nội, 2003) Hầu hết các cuốn sách đều tập trung phân tích, nghiên cứu những giá trị mới mẻ mà nhà thơ Phạm Tiến Duật đưa lại

Các bài viết đều có những mặt mạnh riêng, màu sắc riêng, nhưng đều thể hiện một cái nhìn nghiêm túc, khoa học trong nghiên cứu của các tác giả Tất cả đều công nhận Phạm Tiến Duật là một hiện tượng lạ của thơ ca Việt Nam Ông có biệt tài trong việc lựa chọn chi tiết, dựng cảnh, sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp tu từ Phạm Tiến Duật là nhà thơ có vị trí hết sức quan

trọng trong thơ ca chiến tranh , là “mối tình đầu của thơ ca chống Mỹ”, rất

“ấn tượng, “đắm say”

Như vậy có thể nói, đã có rất nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về nội dung lẫn nghệ thuật trong thơ Phạm Tiến Duật Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đó chỉ dừng lại ở việc làm rõ về giọng thơ, phong cách thơ, các hình tượng trong thơ Với việc nghiên cứu và làm rõ

các cấu trúc so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật, chúng tôi khẳng định đây là

một đề tài mới mẻ, và chưa có ai chạm đến

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là cấu trúc so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật

3 2 Phạm vi nghiên cứu

Về phương diện nghiên cứu, thơ Phạm Tiến Duật có thể được xét trên nhiều cách tiếp cận Về phương diện ngôn ngữ học có thể xem xét thơ Phạm Tiến Duật ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, luận văn này chỉ xin dừng lại ở việc xem xét một trong các phương thức tu từ, cụ thể là so sánh thông qua việc khảo sát đặc điểm hình thái cấu trúc - ngữ nghĩa của so sánh tu từ và giá trị của phương thức so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật

Về phạm vi khảo sát ngữ liệu, Phạm Tiến Duật là một cây bút tài hoa,

có mặt trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, trường ca, phê bình, tiểu luận, thơ Những tác phẩm ông đã có gồm:

*Vầng trăng quầng lửa, NXB Văn học, 1970

*Thơ một chặng đường, NXB Quân đội nhân dân, 1971

*Câu chuyện quanh nồi cao vôi, NXB Quân đội nhân dân, 1972

*Những vùng rừng không dân - Trường ca đăng trên các báo

*Ở hai đầu núi, NXB TPM, 1981

*Vầng trăng và những quầng lửa, NXB Văn học, 1983

*Nhóm lửa, NXB Văn học, 1996

Trang 13

*Tiếng bom và tiếng chuông chùa, NXB Quân đội nhân dân, 1997

*Tuyển thơ một chặng đường, NXB Kim Đồng 2001

*Đường dài và những đốm lửa, NXB Hội nhà văn, 2001

*Tuyển tập Phạm Tiến Duật, NXB Hội Nhà văn, 2007

Tuy vậy, do giới hạn của đề tài khóa luận, nên đối tượng khảo sát của

chúng tôi chủ yếu là tập thơ “Vầng trăng và những quầng lửa” NXB Văn

học, 1983, và tập thơ “Đường dài và những đốm lửa”, NXB HNM, 2001 Bên cạnh đó, chúng tôi liên hệ với các tập thơ khác của ông để có những nhận định, kết luận chính xác hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu chính của khóa luận là phương pháp miêu tả ngôn ngữ Phương pháp này (với cách phân tích và tổng hợp), được sử dụng

để đi sâu vào miêu tả và khái quát các kiểu cấu trúc so sánh, chỉ ra các đặc điểm ngữ nghĩa cùng các vai trò của chúng trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của thơ Phạm Tiến Duật Sử dụng phương pháp miêu tả, chúng tôi vận dụng các thủ pháp nghiên cứu sau:

+ Thủ pháp thống kê, phân loại: thủ pháp này được sử dụng để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện và phân loại các kiểu so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật, từ đó, làm cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá những kiểu loại hình thức, đặc trưng về giá trị biểu đạt của đối tượng nghiên cứu

+ Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa: Thủ pháp này được sử dụng khi phân tích mối quan hệ giữa ý nghĩa bản thể gốc và ý nghĩa có được do sự liên

Trang 14

tưởng, nghĩa bề mặt ngôn từ với nghĩa biểu trưng, của các yếu tố tham gia vào phương thức so sánh

1.2 Phạm Tiến Duật và những bài thơ của ông

1.2.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Tiến Duật

1.2.2 Khái quát về thơ Phạm Tiến Duật

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

2.1 Đặc điểm hình thái - cấu trúc của phương thức so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật

2.1.1 Các kiểu cấu trúc so sánh

2.1.2 Đặc điểm của yếu tố được so sánh

2.1.3 Đặc điểm của yếu tố so sánh

2.1.4 Đặc điểm của từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh

2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của phương thức so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật

2.2.1 Đặc điểm của yếu tố được so sánh

2.2.2 Đặc điểm của yếu tố so sánh

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ TU TỪ CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

Trang 15

3.1 Giá trị nhận thức của so sánh tu từ

3.2 Giá trị biểu cảm của so sánh tư từ

3.3 Phương thức so sánh với hình tượng nghệ thuật trong thơ Phạm Tiến Duật

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ

1.1 Khái quát về so sánh

1.1.1 Khái niệm so sánh

So sánh là thao tác đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác để nhìn

thấy nét tương đồng và khác biệt giữa chúng Thuật ngữ “so sánh” trong

tiếng Việt dùng chỉ một biện pháp được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực

của cuộc sống Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (Chủ biên) có giải thích về “so sánh” theo cách hiểu phổ thông là “nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém”.[11;1089]

Nhìn từ góc độ phong cách học, so sánh là một phương thức phổ biến ở mọi ngôn ngữ Vì thế, đây cũng là vấn đề được các nhà ngôn ngữ học quan

tâm nghiên cứu: A.Ju.Xtêpannov với Phong cách học tiếng Pháp (1965), Vinôgradov với Phong cách học tiếng Nga (1969) Những công trình này

được giới thiệu ở Việt Nam góp phần làm sáng tỏ về mặt lí thuyết và ứng dụng của phương thức so sánh cũng như khẳng định giá trị của phương thức này trong sáng tạo hình tượng nghệ thuật

Phương thức này cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học nước ta đề cập đến Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ XX, khi xuất hiện những công trình nghiên cứu tiếng Việt, so sánh cũng được nhắc đến trong các bài giảng về phong cách học

Trang 16

Có thể kể đến những công trình nghiên cứu có đề cập đến so sánh như:

Giáo trình Việt ngữ; 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc; Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa; Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú, Phong cách học tiếng Việt hiện đại của Hữu Đạt Trong những công trình kể trên,

hầu hết các tác giả đều đưa ra sự phân biệt giữa so sánh tu từ và so sánh logic Theo các tác giả này, trong so sánh logic, cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng Ví dụ:

- Mặt con cũng tròn như mặt mẹ

- Cô Thương gầy hơn cô Tú

- Giá trị của (a+b) (a-b) bằng giá trị của a 2 - b 2

So sánh tu từ khác với so sánh logic ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại (không cùng loại) của sự vật Ví dụ:

- Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa (Nguyễn Du)

- Tình anh như nước dâng cao

Tình em như dải lụa đào tẩm hương (Ca dao)

- Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Trang 17

(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)

Với sự phân biệt nói trên, những khái niệm được đưa ra trong các giáo trình phong cách học đều định nghĩa so sánh với tư cách là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa

Trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc đã quan niệm

về so sánh như sau: “So sánh là định nghĩa sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm

ở trong ngôn ngữ nghệ thuật thông qua sự so sánh chúng với hiện tượng hoặc khái niệm có cùng dấu hiệu chung Mục đích so sánh là để cụ thể hóa những

sự vật trừu tượng, để người đọc dễ hiểu, dễ tưởng tượng hơn” [9; 28]Ở cuốn giáo trình này, tác giả chủ yếu tiến hành khảo sát hình thức biểu hiện của so

sánh Có thể nói, đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của Phong cách học ở Việt Nam Tiếp đó, trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, tác giả Đinh Trọng Lạc đã có cách nhận diện so sánh tu từ rõ ràng và đầy đủ hơn “So sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người

ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [8; 154]

Sau này, các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa ở giáo trình

Phong cách học tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về so sánh: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn

là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe”[7; 24]

Theo tác giả Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, “so sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng

Trang 18

có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng”.[2; 272]

Như vậy, qua nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu đã nêu ở trên, chúng ta có thể rút ra một vài đặc điểm của phương thức so sánh như sau:

- So sánh là việc đối chiếu một phương diện nào đó của ít nhất hai sự vật, hiện tượng

- Những sự vật, hiện tượng đưa ra đối chiếu phải khác loại

- Những sự vật, hiện tượng đưa ra đối chiếu phải có nét tương đồng sâu xa nào đó trong những ngữ cảnh nhất định mà giác quan có thể nhận biết được

- Đối chiếu để tìm ra nét giống nhau và khác biệt giữa các đối tượng so sánh

và được so sánh

1.1.2 Cấu trúc so sánh

Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc so sánh

Theo các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong cuốn giáo

trình Phong cách học tiếng Việt, hình thức đầy đủ nhất của phương thức so

Trang 19

Cổ tay em trắng như ngà

Mô hình cấu trúc đầy đủ được đưa ra là: A (t) tss B

Tuy nhiên, trên thực tế, tùy trường hợp, người ta có thể đảo trật tự so sánh hoặc bớt một số yếu tố trong mô hình Cụ thể, ta có 5 biến thể của mô hình cấu trúc so sánh trên:

Trang 20

Gái thương chồng đương đông buổi chợ

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu (Ca dao)

- Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu (Ca dao)

Trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại, tác giả Hữu Đạt đã đưa ra

mô hình khái quát của phép so sánh như sau:

A - X - B

Trang 21

A: cái chưa biết được đem ra so sánh, X: từ so sánh

B: cái đã biết đem ra để so sánh Trong mô hình trên, có thể nhận thấy sự thiếu vắng của yếu tố chỉ phương diện so sánh Điều này đã khiến cho cấu trúc so sánh mà tác giả đưa

ra chỉ có 3 yếu tố Và biến thể của cấu trúc này chỉ có hai loại là:

- So sánh không có từ so sánh:

Mô hình: A - B

(Trong đó:

A: cái chưa biết được đem ra so sánh

B: cái đã biết đem ra để so sánh)

A: cái chưa biết được đem ra so sánh

B: cái đã biết đem ra để so sánh)

Trang 22

Bác ngồi đó lớn mênh mông

Trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật” đăng

trên Số phụ Tạp chí ngôn ngữ số 1, 1998, cũng giống như các tác giả Đinh

Trang 23

Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, tác giả Nguyễn Thế Lịch đã đưa ra một cấu trúc so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố:

- Yếu tố được so sánh (YTĐSS) - (A)

- Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phương diện so sánh (YTPD) - (x)

- Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH) - (tss)

- Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS) - (B)

Theo tác giả, mô hình cấu trúc so sánh hoàn chỉnh là:

YTĐSS

(A)

YTPD (x)

YTQH (tss)

YTSS (B)

Đặc điểm của từng yếu tố được Nguyễn Thế Lịch trình bày cụ thể như sau:

a Yếu tố được so sánh: về nguyên tắc, bất kì sự vật, hiện tượng gì cũng

có thể đem ra so sánh:

- Được so sánh là người, sự vật Ví dụ:

- Thân em như quế giữa rừng

Thơm cay ai biết ngát lừng ai hay (Ca dao)

- Đôi ta như thể con tằm

Trang 24

Cùng ăn một lá cùng nằm một nong (Ca dao)

- Được so sánh là hành động Ví dụ:

- Thấy anh như thấy mặt trời

Chói chang khó ngó, trao lời khó trao (Ca dao)

-Bỗng nhiên một con cá

Nhảy bên thuyền như trêu

(Bên bờ sông Kinh Thầy - Trần Đăng Khoa)

- Được so sánh là thuộc tính Ví dụ:

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời (Nguyễn Du)

b Yếu tố phương diện so sánh: có vai trò thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị, là thuộc tính được xem như tiêu biểu của sự vật

mà yếu tố so sánh biểu thị Khi trong cấu trúc so sánh vắng yếu tố phương diện thì phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa yếu tố được so sánh và yếu tố so sánh, từ đó, mới có thể xác định được là đã thực hiện sự so sánh về phương diện nào

c Yếu tố quan hệ: được xem là đơn giản nhất trong cấu trúc so sánh, bao gồm

các từ so sánh, từ “là” và cặp từ hô ứng bao nhiêu bấy nhiêu

Các từ so sánh được dùng phổ biến nhất là: là, như, tựa, như là, như thể, chừng như, tựa như, hồ như , ví dụ:

- Cổ tay em trắng như ngà

Trang 25

Con mắt em liếc như là dao cau (Ca dao)

- Em là con gái hóa long

Chín tầng mây phủ nằm trong da trời

Anh là quân tử lỡ thời

Nằm trong da trời úp cá hóa long (Ca dao)

Từ “là” trong cấu trúc so sánh có giá trị tương đương từ “như”, nhưng sắc thái ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Từ “như” có sắc thái giả định, chỉ sự tương đồng về một khía cạnh nào đó, cảm nhận thiên về chủ quan; từ “là” có

sắc thái khẳng định sự đồng nhất hoàn toàn, sự đánh giá có cơ sở khách quan

Ví dụ:

Tình tôi là giọt thủy ngân

Dù nghiền chẳng nát, dù lăn vẫn tròn (Nguyễn Bính)

Cặp từ hô ứng bao nhiêu bấy nhiêu, ví dụ:

Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu (Ca dao)

- Mình đi mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

(Việt Bắc - Tố Hũu)

d Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS) : được xem là quan trọng

nhất và không thể thiếu của cấu trúc so sánh vì đó là chuẩn của so sánh , vì không có chuẩn thì không thành so sánh Sự xuất hiện của yếu tố này là kết

Trang 26

quả quá trình quan sát, liên tưởng của người nói Theo Nguyễn Thế Lịch, yếu

tố này có một số cấu trúc sau:

- Nêu lên tên gọi sự vật được dùng làm chuẩn Ví dụ: má đào, tóc mây, mũi dọc dừa, mặt chữ điền, con mắt lá răm, lông mày lá liễu, ngón tay búp măng

- Miêu tả chi tiết thuộc tính của sự vật được dùng làm chuẩn Ví dụ:

- Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim (Tố Hữu)

- Tình anh như nước dâng cao

Tình em như dải lụa đào tẩm hương (Ca dao)

- Thể hiện nhiều sự vật khác nhau Ví dụ:

- Hồn tôi giếng ngọt trong veo

Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh

(Nguyễn Bính)

- Đôi ta như lửa mới nhen

Như trăng mới mọc như kèn mới khêu (Ca dao)

Theo khảo sát của Nguyễn Thế Lịch, không phải cấu trúc so sánh nào cũng hội tụ cả 4 yếu tố trên, và tác giả đã đưa ra 4 cấu trúc so sánh không hoàn chỉnh như sau:

a Vắng yếu tố phương diện:

Cấu trúc: A tss B

Trang 27

(Trong đó:

A: yếu tố cần so sánh, tức là được (hay bị) so sánh

tss: yếu tố thể hiện quan hệ so sánh

Giữa những ngày mây phủ bốn phương trời

Cơn gió lạnh mỗi giờ mỗi thấm Nắng lên đi đẹp quá nắng ơi

(Em đến với anh - Tế Hanh)

b Vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ Ví dụ:

Cấu trúc: A B

(Trong đó:

A: yếu tố cần so sánh, tức là được (hay bị) so sánh

Trang 28

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi (Hồ Xuân Hương)

x tss B x tss B

Theo tác giả, cấu trúc vắng yếu tố được so sánh đã tạo ra vô vàn các thành ngữ so sánh kiểu như: cao như núi, ngọt như mía lùi, đỏ như son , giúp

Trang 29

cho việc tiếp nhận trở nên dễ dàng vì phương diện so sánh được nói thành lời

Trang 30

(Em đến chơi - Xuân Diệu)

- So sánh đặc biệt

Đây là kiểu so sánh mà hai vế được thể hiện hoàn toàn cân đối về hình thức và nội dung Kiểu so sánh này diễn đạt những tình huống hoặc sự kiện (không dùng để diễn đạt thuộc tính) mà tính cân đối là điều kiện để nhận dạng

sự so sánh Ví dụ:

Trang 31

Cây khô xuống núi cũng khô

Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo (Ca dao)

Tác giả Hữu Đạt khi phân loại các kiểu so sánh đã dựa vào cả hai tiêu chí hình thức và nội dung của nó Theo đó, chúng ta có các kiểu so sánh sau:

- So sánh ngang bằng Ví dụ:

Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ

Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa (Lưu Quang Vũ)

- So sánh hơn kém Ví dụ:

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thu thủy, nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh (Nguyễn Du)

- So sánh bậc cao nhất Ví dụ:

Đại đội thanh niên đi lấp hố bom

Áo em hình như trắng nhất (Phạm Tiến Duật)

1.2 Phạm Tiến Duật và những bài thơ của ông

1.2.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Tiến Duật

Phạm Tiến Duật sinh ngày 14 tháng 1 năm 1941, mất ngày 4 tháng 12 năm 2007 Ông là một nhà thơ Việt Nam với nhiều tác phẩm thơ tiêu biểu viết trong thời kì Chiến tranh Việt Nam

Trang 32

Phạm Tiến Duật sinh ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam Cha ông là nhà giáo dạy chữ Hán và tiếng Pháp, mẹ ông là một người phụ nữ làm ruộng, không biết chữ nhưng thuộc rất nhiều ca dao Phạm Tiến Duật chịu ảnh hưởng khá lớn về nghị lực tự học, vốn tri thức Hán học ở bố, sự nhạy cảm, đa mang với tình yêu văn học dân gian ở mẹ Bố mất khi ông tròn ba tuổi, ông về quê ngoại để ở Tuổi thơ của ông gắn bó với miền đất trung du

"rừng cọ đồi chè", với bầu không khí văn hoá dân gian của miền quê xoan

ghẹo, với những lễ hội của miền đất tổ vua Hùng Miền quê bình yên của ông những năm tháng chống Mỹ cũng sục sôi không khí kháng chiến Là con người sôi nổi, ông nhanh chóng bị cuốn vào không khí hào hùng của đời sống văn nghệ kháng chiến trên đất quê hương Phú Thọ

Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, thay vì đứng trên bục giảng làm thầy, ông đã khoác ba lô ra chiến trường Cuộc đời quân ngũ của ông gắn liền với những con đường, với rừng già Trường Sơn Kể cả khi là cán bộ tuyên truyền hay làm phóng viên thì chiến trường vẫn là địa chỉ công tác, hoạt động, sáng tác của ông Sự cộng hưởng của không khí chiến trận hào hùng cùng với trái tim rực lửa, thiết tha đã thăng hoa thành nghệ thuật thơ ca

Phạm Tiến Duật là một thanh niên trí thức có cái tài hoa của một người Bắc kỳ đã từng được sống khá lâu ở Hà Nội Ông là người thích sự tinh nghịch, say mê cái lạ Từ cánh cửa nhà trường bước ra ngoài đời, vào đến Trường Sơn với nhiều điều mới mẻ Phạm Tiến Duật - người lính trẻ tài hoa,

có văn hoá không khỏi ngạc nhiên khi đặt chân tới cái "vùng rừng không dân"

ấy Ngạc nhiên về âm thanh, ngạc nhiên về cảnh thiên nhiên, và ngạc nhiên hơn cả là những con người đang sống, chiến đấu ở đây Cá tính ấy của hồn thơ Phạm Tiến Duật đã tìm đúng được mảnh đất riêng của mình - con đường

Trang 33

huyền thoại mang tên Hồ Chí Minh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước

Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam

Chiến tranh kết thúc, ông về làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam Ông sống ở Hà Nội, là Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam Ông cũng là người dẫn chương trình của một chương trình dành cho người cao tuổi của kên VTV3, Đài Truyền hình Việt Nam

Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2012

Ngày 19 tháng 11 năm 2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã kí lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật

Ngày 4 tháng 12 năm 2007, vào khoảng 8 giờ 50 phút, ông mất tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vì căn bệnh ung thư phổi

Ông đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ ông được sáng tác trong thời kì ông tham gia quân ngũ Phạm Tiến Duật được coi là “ngọn lửa đèn” của một thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ Nhắc đến Phạm Tiến Duật người ta nhắc ngay đến nhà thơ của Trường Sơn những năm chống Mỹ

Thơ ông hồn nhiên, hóm hỉnh, giàu tính lạc quan với những phát hiện thú vị, đầy chất lính Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát

Trang 34

trong đó tiêu biểu nhất là “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây” Những tập

thơ chính:

*Vầng trăng quầng lửa, NXB Văn học, 1970

*Thơ một chặng đường, NXB QĐND, 1971

*Câu chuyện quanh nồi cao vôi, NXB QĐND, 1972

*Những vùng rừng không dân - Trường ca đăng trên các báo

*Ở hai đầu núi, NXB TPM, 1981

*Vầng trăng và những quầng lửa, NXB VH, 1983

*Nhóm lửa, NXB VH, 1996

*Tiếng bom và tiếng chuông chùa, NXB QĐND, 1997

*Đường dài và những đốm lửa, NXB HNM, 2001

*Tuyển tập Phạm Tiến Duật, NXB Hội Nhà văn, 2007

Ông được ca tụng là “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”,

“cây săng lẻ của rừng già”, nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ” Thơ ông thời chống Mỹ từng được đánh giá là “có sức mạnh của một sư đoàn”

1.2.2 Khái quát về thơ Phạm Tiến Duật

Thơ ông vừa giàu chất hiện thực, vừa giàu chất thơ, giàu chất gợi mở bởi những chi tiết vừa thật vừa lạ, vừa ngộ nghĩnh vừa nghiêm trang, vừa hài hước vừa đầy suy nghĩ: Chiếc xe không kính và trái tim cầm lái; áo em trắng

nhất trong đêm lấp hố bom; “nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích” Vũ Quần Phương cho rằng đó là cái giọng “đùa đùa tinh nghịch, tếu táo nhưng lại đụng vào những miền sâu thẳm của tình cảm con người Giọng ấy là của một

Trang 35

chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách ngữ nghĩa” Điều

đáng nói là giọng thơ ấy đã tỏ ra đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc đó Kháng chiến chống Mỹ là một cuộc chiến ác liệt, nhất là ở Trường Sơn Hy sinh lớn, gian khổ nhiều nhưng không được gây bi lụy, xót thương Cuộc chiến đang cần sự phấn đấu của lòng người nhưng không được lên gân, cao giọng hay cắt xén bớt nét dữ dằn của thực tế

Ở nhà thơ Phạm Tiến Duật, sự cộng hưởng của không khí chiến trận hào hùng cùng với trái tim rực lửa, thiết tha đã thăng hoa thành nghệ thuật thơ

ca Vầng trăng quầng lửa (1970, thơ), Thơ một chặng đường (1971, thơ), Ở hai đầu núi (1981, thơ), Vầng trăng và những quầng lửa (1983, thơ) là những

tập thơ nổi tiếng của Phạm Tiến Duật những năm trực tiếp cầm súng và cầm bút sáng tác ở Trường Sơn Thơ Phạm Tiến Duật đưa người đọc đi thẳng vào giữa hiện thực của cuộc chiến tranh, đến những nơi gian khổ, nóng bỏng, ác liệt nhất Đọc những tập thơ ấy, người ta thấy được cái không khí khẩn trương, dồn dập, ác liệt, sôi động và hào hùng của những năm tháng sục sôi đánh Mỹ Phạm Tiến Duật đã gắn bó sâu sắc, đã sống hết mình, đã hoà nhập thực sự với những con người sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn Ông

đã được chứng kiến tận mắt cảnh trong đêm tối "tàn lá đầy trời như mưa tuyết màu đen" (Những mảnh tàn lá) Cảnh "xe đi trong tầm bom rơi" giữa một vùng rừng "ngổn ngang cây đổ", đã nhìn thấy "hố bom dày như lỗ hà ăn chân" ở ngã ba Đồng Lộc Không còn là một Trường Sơn trong trí tưởng

tượng bay bổng mà là một Trường Sơn hiện thực - một trọng điểm đánh phá

ác liệt nhất của đế quốc Mỹ Ấy là nơi "Mười bẩy trận bom Mỹ dội một ngày" (Tiếng cười của đồng chí coi kho), ấy là "nơi túi bom bay mù bụi đỏ" (Niềm

tin có thật) Ở chặng đường này, ít thấy những trang thơ của Phạm Tiến Duật không có cảnh khói lửa đạn bom Tuy nhiên, đọc thơ Phạm Tiến Duật sẽ thấy ông không nghiêng về phía miêu tả cái khốc liệt, cái dữ dội của chiến tranh

Trang 36

mà chủ yếu là thể hiện những con người mang trong mình dòng máu chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giàu lòng lạc quan, tha thiết yêu đời trong hoàn cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ, hiểm nguy Cái khốc liệt của chiến tranh chỉ

là cái phông, cái nền làm nổi bật chân dung những người ra trận Thơ Phạm Tiến Duật không gây cho người đọc cảm giác rùng rợn, ghê sợ về những cảnh tàn phá dữ dội của chiến tranh Chính hiện thực Trường Sơn và sự gắn bó sâu sắc với con đường máu lửa này đã giúp cho Phạm Tiến Duật đưa vào thơ mình những chi tiết đời sống rất chân thực, còn tươi ròng cảm xúc, bám đầy bụi đất chiến trường Phạm Tiến Duật đã tạo được bản giao hưởng Trường Sơn mang đầy chất lãng mạn

Thơ Phạm Tiến Duật như một bức tranh thu nhỏ, phản ánh được hiện thực cuộc sống ở chiến trường thời kỳ chống Mỹ, trong đó nổi bật những chân dung dũng cảm, lạc quan, yêu đời của thế hệ trẻ cầm súng Hình ảnh những anh lái xe, cô thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn là những bức chân dung mà Phạm Tiến Duật đã có công góp vào bảo tàng những con người Việt Nam chiến đấu thời chống Mỹ Nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duật, ta được đến gần hơn với vẻ đẹp hồn nhiên, anh dũng của con người một thời đau thương mà hào hùng của lịch sử

Hiện thực chiến trường và con đường Trường Sơn một thời đã giúp Phạm Tiến Duật tự phát hiện mình, phát hiện chất thơ của thế hệ mình trong những chi tiết hiện thực thô nhám và thuyết phục sự đồng cảm của người đọc bằng chất thơ trữ tình tươi trẻ, tinh nghịch, hóm hỉnh, lãng mạn

“Vầng trăng và những quầng lửa” là một trong những tập thơ đầu tiên

của đội ngũ văn nghệ sĩ trẻ thời chống Mỹ Trong dàn đồng ca hào hùng mang đậm chất sử thi, anh hùng ca của văn học lúc ấy, có một giọng đơn ca mộc

mac, tự nhiên giàu chất hiện thực cất lên đầy ấn tượng qua tập thơ “Vầng

Trang 37

trăng và những quầng lửa” (Tuyển tập thơ, 1983, NXB Văn học) Thật trọn

vẹn khi bên cạnh những tác phẩm giàu chất suy tưởng, chất triết luận, giàu tính triết lí có những tác phẩm chân chất, tươi rói cuộc sống của hiện thực, một hiện thực được gạn lọc, chắt chiu, đầy chất thơ, đầy ý nghĩa của Phạm Tiến Duật Chính những bài thơ giản dị, mộc mạc, chân chất của Phạm Tiến Duật đã làm phong phú thêm cho diện mạo văn học chống Mỹ

“Vầng trăng và những quầng lửa” là tập thơ tuyển tập những bài thơ

đặc sắc của Phạm Tiến Duật, trong đó, phần lớn là những bài thơ đã được in

trong tập “Vầng trăng quầng lửa” (1970, NXB Văn học) Trong tập thơ này,

có bốn bài thơ đã đem lại hai giải thưởng lớn nhất trong cuộc đời thơ của ông,

gồm: “Lửa đèn”, “Nhớ”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Gửi em, cô thanh niên xung phong” Đây là tập thơ được viết khi Phạm Tiến Duật còn rất

trẻ, song nó có sức ảnh hưởng lớn đến toàn bộ tiến trình sáng tác của ông Chính giọng điệu, phong cách, hình tượng ấy cứ đeo đuổi ông suốt cả cuộc đời mặc dù tác giả là người không hoài cổ và có ý thức học tập, thay đổi, sáng tạo

Mùa xuân năm 1975, hoà bình trở lại trên đất nước Việt Nam, người chiến sỹ - nhà thơ Phạm Tiến Duật trở về cuộc sống đời thường Thay vì cái thời trẻ trung, sôi nổi của thời thanh xuân nóng bỏng tại chiến trường, thơ ông trầm tư hơn trước những vấn đề thế sự, trước những đổi thay của cuộc sống,

trước những số phận của con người Tiếng bom và tiếng chuông chùa (1997, trường ca), Đường dài và những đốm lửa (2002, Tuyển tập) đã thể hiện

những cố gắng tìm tòi của ông trong việc đổi mới thi pháp thơ ca, nhưng người đọc dường như vẫn mong muốn điều gì đó nhiều hơn thế ở ông Thiết nghĩ, mỗi con người, mỗi nhà thơ chỉ có một cái tạng, cái tạng ấy sẽ được thăng hoa đến đỉnh cao trong một điều kiện, một hoàn cảnh, một thời điểm

Trang 38

nhất định Với Phạm Tiến Duật cái thời ấy là Trường Sơn những năm tháng chống Mỹ Nhà thơ chỉ có thể viết hay được về những gì mình có, những gì

trở thành máu thịt của mình Sau chiến tranh ông vẫn viết tiếp những "bài ca kháng chiến" đã bổ sung thêm, làm hoàn chỉnh, đầy đủ hơn cho phong cách

nghệ thuật thơ Sự từng trải cá nhân và sự chiêm nghiệm của cuộc sống trước hiện thực mới đã tạo cho thơ Phạm Tiến Duật sau này có cả niềm vui và nỗi buồn, có bề cao, bề rộng và có cả bề sâu, có tập thể và có cá nhân, có rừng núi

và có cả phố phường, có quá khứ và hiện tại, có khoảnh khắc và có muôn thuở vĩnh hằng

Khép lại những năm tháng lửa đạn đã qua cũng như khép lại một cánh chim của núi rừng Trường Sơn đã mỏi, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã đặt dấu chấm rất đẹp cho cuộc đời mình Núi rừng Trường Sơn sẽ nhắc mãi tên ông

và bao đồng đội, thơ ca ông sẽ mãi là những trang vàng chói lọi cho thế hệ trẻ Việt Nam

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI - CẤU TRÚC NGỮ NGHĨA CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

Có thể nói, việc sử dụng phương thức so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật là một quá trình sáng tạo ngôn từ nghệ thuật So sánh còn có thể được coi là phương thức biểu cảm đặc biệt Phương thức này xuất hiện trong thơ Phạm Tiến Duật với nhiều kiểu loại đa dạng, góp phần thể hiện cá tính sáng tạo riêng của nhà thơ về mặt hình thái cấu trúc cũng như về mặt ngữ nghĩa

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi không chỉ khảo sát và thông kê các kiểu cấu trúc so sánh, các đơn vị cấu tạo nên một cấu trúc so sánh mà chúng tôi còn đi vào phân tích đặc điểm hình thái, ngữ nghĩa của các yếu tố cấu thành nên một cấu trúc so sánh

Trang 39

Như vậy, sau quá trình khảo sát chúng tôi đã có một sự thống kê như sau:

2.1 Đặc điểm hình thái - cấu trúc của phương thức so sánh trong thơ Phạm Tiến Duật

- Yếu tố cần so sánh, tức là được (hay bị) so sánh (YTĐSS) - (A)

- Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phương diện so sánh (YTPD) - (x)

- Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH) - (tss)

- Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS) - (B)

Theo tác giả, mô hình cấu trúc so sánh hoàn chỉnh là:

Khóa luận dựa theo cách phân chia cấu trúc so sánh của tác giả Nguyễn

Thế Lịch để vận dụng vào phân chia cấu trúc so sánh trong tập thơ “Vầng trăng và những quầng lửa” của Phạm Tiến Duật

Trang 40

Trong hai tập thơ “Vầng trăng và những quầng lửa” và “Đường dài và những đốm lửa”, Phạm Tiến Duật đã sử dụng khá thành công phương thức so

sánh để làm nổi bật hình ảnh thơ của mình Bên cạnh cấu trúc so sánh đầy đủ các thành phần, Phạm Tiến Duật đã tạo nên nhiều biến thể độc đáo Theo khảo sát của chúng tôi Phạm Tiến Duật đã sử dụng phương thức so sánh, thể hiện ở 91 lượt so sánh với 13 cấu trúc so sánh Sau đây là ví dụ và phân tích đối với từng kiểu cấu trúc:

2 em bỗng đến như dòng sông đầy nước

3 đại bác vu vơ bắn vào rừng

nứa

như báo hiệu một cái gì sắp

sửa

5 tai họa nhân gian đã chịu

9 hố cá nhân ôm trẻ con như tổ ong ôm nhộng

11 biển đẹp đó như anh em ta thấy

Ngày đăng: 14/05/2021, 22:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Công Hùng (1985), Những đặc điểm cơ bản của thơ Việt Nam hiện đại (1945 -1985), Tạp chí Văn học, số (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm cơ bản của thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Bùi Công Hùng
Năm: 1985
2. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt, NXB ĐH & THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: NXB ĐH & THCN
Năm: 1983
3. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
4. Đỗ Hữu Châu (1993), Đại cương ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
5. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
6. Đỗ Lai Thúy (2012) Mắt thơ, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mắt thơ
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
7. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa), (2004), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2004
8. Đinh Trọng Lạc (2004), 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2004
9. Đinh Trọng Lạc (1964), Giáo trình Việt ngữ, tập 3, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1964
10. Hà Minh Đức (1994), Thơ ca chống Mỹ cứu nước, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
11. Hoàng Phê (chủ biên) (2016), Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2016
12. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
13. Lại Nguyên Ân (1997), Sống với văn học cùng thời, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
14. Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Lê Lưu Oanh (1998), Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990
Tác giả: Lê Lưu Oanh
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1998
16. Nguyễn Đăng Mạnh (1996), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
17. Nguyễn Ngọc Thiện (1974), Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật, Tạp chí Văn học, số (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện
Năm: 1974
18. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, NXB VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 2001
19. Nguyễn Thế Lịch (2001), “Cấu trúc so sánh trong tiếng Việt”, T/c Ngôn ngữ, số 7 & 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cấu trúc so sánh trong tiếng Việt”
Tác giả: Nguyễn Thế Lịch
Năm: 2001
20. Nguyễn Thiện Giáp (1995), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w