1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểu câu đẳng thức trong thơ phạm tiến duật, trần đăng khoa, bằng việt

76 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 556,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt, chúng tôi hi vọng sẽ hiểu rõ hơn về cấu tạo ngữ pháp, cơ chế ngữ nghĩa của câu đẳng thức, qua đó xác định những giá trị

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

PHAN VĂN CHI

Kiểu câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến

Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

A.MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Câu là đơn vị ngữ pháp quan trọng và là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của ngữ pháp Tuỳ theo các bình diện (cấu tạo, ngữ nghĩa, logic, chức năng) mà các nhà nghiên cứu chia câu tiếng Việt ra thành nhiều loại khác nhau

Trong ngữ pháp truyền thống lâu nay đã xuất hiện thuật ngữ câu đẳng thức Tuy nhiên, nó vẫn là một khái niệm khá xa lạ

Khái niệm đẳng thức được nhắc đến nhiều trong toán học để chỉ hai biểu thức có giá trị bằng nhau và khi hoán đổi vị trí thì ý nghĩa của biểu thức đó vẫn không thay đổi Vậy liệu khái niệm câu đẳng trong tiếng Việt có liên quan gì đến khái niệm đẳng thức trong toán học Để bài luận văn của mình có những minh xác cụ thể, tôi xin đi vào khảo sát kiểu câu đẳng thức trong thơ của ba tác giả Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa và Bằng Việt

Việc lựa chọn khảo sát kiểu câu đẳng thức trong ba nhà thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa và Bằng Việt là hoàn toàn ngẫu nhiên Tuy nhiên, đây là

ba nhà thơ tiểu biểu cho nền văn học cách mạng Việt Nam và đã có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của nền văn học nước nhà Cả ba nhà thơ đều

đã tạo cho mình một phong cách và lối đi riêng độc đáo Với việc khảo sát kiểu

Trang 3

câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt, chúng tôi

hi vọng sẽ hiểu rõ hơn về cấu tạo ngữ pháp, cơ chế ngữ nghĩa của câu đẳng thức, qua đó xác định những giá trị tu từ và vai trò của kiểu câu đặc thù này Xa hơn, chúng tôi mong muốn lí giải được phần nào những điểm tương đồng và khác biệt trong việc vận dụng kiểu câu này trong thơ của ba nhà thơ nói trên

Không những vậy, thực hiện đề tài “Kiểu câu đẳng thức trong thơ

Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt”, với chúng tôi là một cơ hội

để hiểu thêm về câu tiếng Việt nhờ đó mà tích luỹ được thêm nhiều kiến thức phục vụ cho việc dạy học sau này

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu có tính trọng tâm của đề tài là kiểu câu đẳng thức,

do đó phần lịch sử vấn đề chủ yếu trình bày về các ý kiến đối với kiểu câu đẳng thức, còn về phần tác giả khảo sát cho phép chúng tôi chỉ điểm qua

Kiểu câu đẳng thức từ trước đến giờ rất ít được giới nghiên cứu quan tâm,

có chăng thì đó chỉ là một vài ý kiến sơ lược Các ý kiến này thường chỉ nêu khái niệm, cho ví dụ mà không phân tích các phương diện còn lại Chẳng hạn như cách nhìn nhận của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà về câu đẳng thức

trong Phong cách học Tiếng Việt, ở đây hai tác giả này đã nêu quan điểm của

mình về câu đẳng thức câu đẳng thức là kiểu câu biến thể trong đó có thể thay đổi vị trí của các thành phần câu theo công thức “V là C” “B là C – V” (V: vị ngữ, C: chủ ngữ, B: bổ ngữ)

Cao Xuân Hạo trong Sơ thảo ngữ pháp chức năng cũng trình bày cách hiểu

của mình về kiểu câu đẳng thức, theo quan niệm của ngữ pháp chức năng câu được phân tích thành hai khái niệm là đề và thuyết Khi đó câu đẳng thức là câu

mà đề và thuyết có quan hệ phi tham tố Tức là khi đề không phải là tham tố của

Trang 4

vị từ làm hạt nhân cho thuyết mà cũng không có quan hệ trực tiếp nào về nghĩa với bất kỳ tham tố nào của nó và ngược lại cũng thế

Nguyễn Đức Tồn trong một bài nghiên cứu nhỏ về cơ chế tạo nghĩa của so sánh và ẩn dụ cũng có đề cập sơ qua về câu đẳng thức Theo ông, câu đẳng thức hay có cách gọi khác là câu đẳng nhất là những câu có câu tạo A là B hoặc A như B, mà ở đó hai vế câu tương đương nhau và có thể hoán vị qua lại với nhau

Nguyễn Văn Hiệp trong Cú pháp tiếng Việt, NXB Hà Nội, năm 2009

(nguồn www.vietlex.com) lại quan niệm rằng câu đẳng thức là kiểu câu có ý nghĩa đồng nhất như : Ông ấy là bố tôi-> Bố tôi là ông ấy; Nó là sinh viên giỏi nhất lớp -> Sinh viên giỏi nhất lớp là nó; hoặc mang ý nghĩa thuộc tính như: Nó

là sinh viên -> Sinh viên là nó; Seoul là một thành phố đẹp -> Thành phố đẹp là Seoul Với quan điểm như vậy giữa chủ ngữ và vị ngữ có thể hoán đổi vị trí cho nhau

Phải chăng bản chất của câu đẳng thức là kiểu câu chỉ có giá trị tu từ học nên chưa được các nhà nghiên cứu đi vào tìm hiểu một cách cụ thể về cấu tạo ngữ pháp, cơ chế ngữ nghĩa cũng như vai trò của kiểu câu đặc biệt này

Riêng về ba nhà thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về họ

Phạm Tiến Duật là một nhà thơ nổi tiếng với những vần thơ tươi trẻ, khoẻ khoắn về cuộc đời người lính Cũng vì điều này mà khi đi vào tìm hiểu thơ Phạm Tiến Duật, các nhà nghiên cứu chủ yếu đi vào khía cạnh nội dung trong thơ ông, đặc biệt là về hình tượng người lính Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có

thể kể đến như: Nhiều tác giả (1997), Phê bình văn học Bằng Việt, Phạm Tiến

Duật, Vũ Cao, Nguyễn Duy, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh; Lê quang

Trung (1996) Thơ của một nhà thơ quân đội, Dọc đường văn học, NXB Văn

học…

Trang 5

Nếu Phạm Tiến Duật là một hồn thơ khoẻ mạnh, tràn đầy sinh lực của đời lính thì đến với thơ Trần Đăng Khoa ta bắt gặp một thế giới trẻ thơ đầy màu sắc, tràn ngập tình yêu người, yêu đời Thơ Trần Đăng Khoa đã làm tốn rất nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu, trong đó một số công trình tiêu biểu như: Định

Hải (1983), Bàn về văn học thiếu nhi, NXB Kim Đồng; Lã Thị Bắc Lý (2006),

Giáo trình văn học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm; Trần Đăng Suyền (2005), Nhà văn - hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo, Sở giáo dục Thừa Thiên Huế

xuất bản…và rất nhiều công trình lớn nhỏ khác

So với hai nhà thơ trên, thì Bằng Việt lại có tiếng thơ sâu lắng hơn Những công trình nghiên cứu về Bằng Việt chủ yếu đi vào tìm hiểu ở góc độ phong cách

học và văn học Có thể điểm qua một số công trình như: Lê Đình Kị, “Hương

cây - Bếp lửa, đất nước và dân tộc”, Báo Văn nghệ, số 25, 5/1969; Vũ Quần

Phương, “Về một chặng đường thơ Bằng Việt”, Tạp chí Văn nghệ, ngày 21.6.1974; Thiếu Mai (1983), Thơ những gương mặt, NXB Tác phẩm mới; Anh Chi, “Đọc Bằng Việt”, Tạp chí Nhà văn, số 9, 2001; Nguyễn Hoàng Sơn (2001), Thơ với tuổi thơ Bằng Việt, NXB Kim Đồng…

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu này đã khái quát và đi sâu vào tìm hiểu những khía cạnh nội dung và nghệ thuật của ba nhà thơ một cách rất cụ thể và rõ ràng Chính nhờ đó, chúng tôi có cái nhìn cận cảnh hơn về phong cách nghệ thuật cũng như những suy tư, tình cảm mà các nhà thơ gửi gắm trong đó Tuy nhiên, riêng về mảng ngôn ngữ trong thơ của ba nhà thơ này thì các nhà nghiên cứu vẫn chưa chú trọng tìm hiểu, đặc biệt về kiểu câu đẳng thức trong thơ của Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt thì chưa có nhà nghiên cứu nào đề cập đến Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, thì những công trình nghiên cứu

về ba nhà thơ này đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều kiến thức bổ ích trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Như đã xác định ở tên đề tài, đối tượng nghiên cứu là câu đẳng thức trong thơ Trần Đăng Khoa, Phạm Tiến Duật

Phạm vi nghiên cứu là các bài thơ tiêu biểu của ba nhà thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt, cụ thể như sau:

Phạm Tiến Duật với tập Vầng trăng và những quầng lửa (1983), NXB

Văn học

Trần Đăng Khoa với Tuyển thơ Trần Đăng Khoa (2001), NXB Thanh

niên

Bằng Việt với tập Thơ Bằng Việt (2003), NXB Văn học Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp, trong đó đặc biệt chú trọng 3 phương pháp cơ bản:

- Phương pháp thống kê, phân loại

Tiến hành khảo sát kiểu câu đẳng thức trong thơ của ba tác giả Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt

- Phương pháp phân tích, miêu tả

Tiến hành phân tích, miêu tả để xử lí dữ liệu thu được

- Phương pháp liên hội, so sánh

Tiến hành so sánh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt trong

việc sử dụng kiểu câu đẳng thức giữa ba nhà thơ

5 Dự kiến đóng góp

Với đề tài “Kiểu câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng

Khoa, Bằng Việt” chúng tôi mong muốn có được đề xuất một cách nhìn đầy đủ

hơn, xác đáng hơn về kiểu câu đẳng thức

6 Bố cục đề tài

Trang 7

Đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Khảo sát câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt

Chương 3: Vai trò của câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt

B.NỘI DUNG Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

1.1 Kiểu câu đẳng thức trong tiếng Việt

1.1.1 Khái quát về câu tiếng Việt

1.1.1.1 Khái niệm

Câu không phải là đơn vị có sẵn như từ mà là một đơn vị do người nói dùng

từ cấu tạo nên trong quá trình suy nghĩ, thông báo

Từ trước tới giờ, trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa về câu Trong thời

cổ đại Hy Lạp, Aristote đã cho rằng: “Câu là một âm phù hợp có ý nghĩa độc lập

mà mỗi bộ phận riêng biệt trong đó cũng có ý nghĩa độc lập” Học phái ngữ pháp Alecxandri (thế kỷ III-II trước CN) lại cho rằng: “Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”

Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm câu, nhưng chúng tôi thống nhất lấy quan niệm về câu của Diệp Quang Ban “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu trúc ngữ pháp tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và

biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm” [tr.125, Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông,

NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội, 1989]

Trang 8

1.1.1.2 Đặc điểm

Câu có chức năng thông báo

Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập

Trang 9

1.1.2.1 Các quan niệm về câu đẳng thức

Cho đến này, câu đẳng thức còn chưa được nghiên cứu sâu trong giới ngữ pháp tiếng Việt Có rất nhiều quan điểm khác nhau về câu đẳng thức và tìm được cho mình một cách hiểu phù hợp nhất không phải là điều dễ dàng

Ngữ pháp truyền thống qua các thời kỳ khác nhau lại có những nhận định khác nhau về câu đẳng thức Theo Võ Bình, Lê Hiền Anh, Nguyễn Thái Hòa, Cù Đình Tú thì câu đẳng thức được hiểu là kiểu câu có hai vế có thể đổi vị trí của nhau mà nội dung không thay đổi Kiểu này có từ “là” làm vị ngữ (hay hệ từ)

[Phong cách học Tiếng Việt, 1982]

Trong khẩu ngữ tiếng Việt, những động từ chỉ hành động, trạng thái, sự tiếp thụ… đều có thể thức hóa

- Cha tôi đang đọc báo – Người đang đọc báo là cha tôi

- Tôi thích Toán – Toán học là môn tôi thích

- Buổi trưa nóng nhất – Nóng nhất là buổi trưa

- Ngồi đây rõ nhất – Rõ nhất là ngồi đây

Trang 10

Đến năm 1995, theo Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, thì khái niệm câu đẳng thức được nhận định là kiểu câu biến thể trong đó có thể thay đổi vị trí của các thành phần câu theo công thức V là C (V: vị ngữ, C: chủ ngữ) hoặc B là C-V

(B: bổ ngữ) [Phong cách học Tiếng Việt, 1995]

Bước sang năm 2006, tác giả Nguyễn Thái Hoà, lại cho rằng câu đẳng thức

là các biến thể của câu khẳng định, cho phép biến thể, đổi vị trí các thành phần tạo ra một đẳng thức giữa hai vế (A = B -> B = A), giữa hai vế có từ “là”, sau

“là” ý nghĩa được nhấn mạnh [Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học, 2006 ]

Ví dụ: Lan thích âm nhạc => (Người) thích âm nhạc (là) Lan => Âm nhạc (là) (môn) Lan thích nhất

Như vậy, ta thấy rằng, tuy ở mỗi thời điểm ngữ pháp truyền thống có cách diễn đạt khác nhau về quan niệm câu đẳng thức nhưng nhìn chung các tác giả đều thừa nhận rằng câu đẳng thức là kiểu câu biến thể của câu khẳng định, nó có thể cho phép thay đổi vị trí của các thành phần chính theo mô hình “V là C”

(riêng trong sách Phong cách học (1995), hai tác giả Định Trọng Lạc và Nguyễn

Thái Hoà đưa ra thêm mô hình “B là C-V”) Với quan niệm này, ta có thể hiểu câu đẳng thức là một kiểu câu phái sinh từ một câu khẳng định bất kì

Các tác giả đã đưa ra những ví dụ sau về câu đẳng thức

(1) Cha tôi đang đọc báo – Người đang đọc báo là cha tôi

(2) Tôi thích Toán – Toán học là môn tôi thích

(3) Buổi trưa nóng nhất – Nóng nhất là buổi trưa

(4) Ngồi đây rõ nhất – Rõ nhất là ngồi đây

(5) Chị tôi đứng kia – Đứng kia là chị tôi

(6) Ban đêm rét nhất - Rét nhất là ban đêm

(7 )Chỗ này xem rõ nhất – Xem rõ nhất là chỗ này

(8) Lan thích âm nhạc - Âm nhạc là môn Lan thích

Trang 11

Từ những nhận định trên, các tác đi vào tìm hiểu và lấy một số ví dụ trong thơ ca như:

(9) Hay sủa gâu gâu

Là con chó vện

(Trần Đăng Khoa) (10) Mặt trời là trái tim anh

Mặt trăng vành vạnh là tình của em

(11)Thức là ngày, ngủ là đêm Nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa

( Nguyễn Duy) Chúng ta sẽ lần lượt xem xét rõ hơn các ví dụ trên Trước tiên là các ví dụ : (1) Cha tôi đang đọc báo – Người đang đọc báo là cha tôi

(2) Tôi thích Toán – Toán học là môn tôi thích

(8) Lan thích âm nhạc - Âm nhạc là môn Lan thích

(10) Mặt trời là trái tim anh

Mặt trăng vành vạnh là tình của em

Xét ví dụ các ví dụ trên, ta thấy rằng các thành phần “người đang đọc báo”,

“toán học”, “âm nhạc”, “mặt trời”, “mặt trăng vành vạnh” hoàn toàn có đầy đủ

tư cách để xem nó như chủ ngữ, nên thật khiên cưỡng nếu xem các ví dụ trên được cấu tạo theo mô hình “V là C” Khi đảo ngược trật tự lại, các ví dụ trên sẽ chuyển thành: “Cha tôi là người đang đọc báo”, “Môn tôi thích là toán học ”

“Môn Lan thích là âm nhạc” “Trái tim anh là mặt trời” “Tình của em là mặt trăng vành vạnh” Ở các ví dụ trên, từ “là” không thể bị lược bỏ, vì nếu bỏ từ

“là”, câu sẽ không đảm bảo về mặt cấu tạo ngữ pháp cũng như cơ chế ngữ nghĩa

Trang 12

Các ví dụ còn lại :

(3) Buổi trưa nóng nhất – Nóng nhất là buổi trưa :

Xét ví dụ trên, “nóng nhất” là vị ngữ diễn tả tính chất của buổi trưa, “buổi trưa” là chủ ngữ chỉ đối tượng phản ánh của tính chất “nóng nhất” Khi đảo ngược trật tự lại ta sẽ có câu: “Buổi trưa là nóng nhất”, từ “là” có thể tồn tại hoặc không tồn tại, nếu không có từ “là” câu này vẫn có thể chấp nhận được “Buổi trưa nóng nhất”

(4)Ngồi đây rõ nhất – Rõ nhất là ngồi đây :

Xét ví dụ trên, theo quan niệm của chúng tôi đây là kiểu câu khuyết chủ ngữ, “ngồi đây” không thể xem là chủ thể của đặc tính “rõ nhất” Do đó, chúng

ta có thể dễ dàng thêm chủ ngữ vào, ví dụ như : “Rõ nhất là bạn ngồi đây” Chính vì điều đó, ví dụ này không thể được cấu tạo theo mô hình “V là C” (5) Đứng kia là chị tôi:

Xét ví dụ trên, “đứng kia” phán ảnh vị trí tồn tại và hành động “đứng” của

“chị tôi” Xem xét về mặt ngữ nghĩa đây là câu diễn đạt sự tồn tại Theo quan niệm của chúng tôi, câu này cũng tương tự như câu: “Kia là chị tôi”, động từ

“đứng” chỉ nhằm làm rõ thêm trạng thái tồn tại của chủ thể “chị tôi” mà thôi Nên ví dụ này chúng tôi xếp nó vào kiểu câu tồn tại

(6)Ban đêm rét nhất - Rét nhất là ban đêm:

Xét ví dụ trên, “rét nhất” là vị ngữ diễn tả tính chất của ban đêm, “ban đêm” là chủ ngữ chỉ đối tượng phản ánh của tính chất “rét nhất” Khi chúng ta đảo ngược trật tự lại sẽ có câu: “Ban đêm là rét nhất”, từ “là” có thể tồn tại hoặc không tồn tại, nếu không có từ “là” câu này vẫn có thể chấp nhận được “Ban đêm rét nhất”

(7) Chỗ này xem rõ nhất - Xem rõ nhất là chỗ này:

Trang 13

Ví dụ này tương tự như ví dụ (4), “chỗ này” không thể xem là chủ thể hành động của cụm động từ “xem rõ nhất”, do đó ví dụ (7) không đáp ứng mô hình cấu tạo “V là C”

(9)Hay sủa gâu gâu

Là con chó vện

Xét ví dụ trên, “hay sủa gâu gâu” là vị ngữ diễn tả đặc trưng, tính chất nổi bật của “con chó vện”, và “con chó vện” là chủ ngữ đồng thời là chủ thể của đặc trưng, tính chất đó Khi ta đảo ngược trật tự lại, thì ta sẽ có câu “Con chó vện là hay sủa gâu gâu”, sự tồn tại của từ “là” ở đây là không cần thiết, ta có thể lược

bỏ Ta hoàn toàn có thể nói “Con chó vện hay sủa gâu gâu”

(11) Thức là ngày, ngủ là đêm

Nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa

Ở ví dụ này, “thức” là vị ngữ diễn tả đặc điểm của chủ ngữ “ngày”, “ngủ” là vị ngữ diễn tả đặc điểm của chủ ngữ “đêm” Khi ta đảo ngược tật tự lại, ta có “Ngày là thức, đêm là ngủ”, ở đây, ta hoàn toàn có thể lược bỏ từ “là”,

mà câu vẫn có nghĩa “Ngày thức, đêm ngủ”

Xét tất cả các ví dụ trên, ta nhận thấy rằng cấu tạo ngữ pháp của các câu không giống nhau, chính vì điều đó khó có thể xem tất cả các câu trên đều là câu đẳng thức Ngoài 3 ví dụ không đáp ứng đủ yêu cầu về cấu trúc cấu tạo của câu đẳng thức, ta có thể chia các ví dụ ra thành 2 nhóm chính, nhóm thứ nhất khi đảo lại, không thể thiếu từ “là” gồm các ví dụ (1), (2), (8) và (10), còn những câu còn lại thuộc nhóm 2, là nhóm mà khi đảo ngược trật tự lại, có hay không có từ “là” đều có thể châp nhận được Từ nhận định này, không thể xem xét tất cả các ví dụ trên là câu đẳng thức, mà chúng tôi chỉ xem xét những câu thuộc nhóm 2 Còn những câu thuộc nhóm 1, chúng tôi xếp nó vào loại câu tương đồng hay có cách gọi khác là câu đẳng nhất

Trang 14

Các nhà ngữ pháp truyền thống cho rằng, mô hình câu đẳng thức có thể đổi

vị trí hai thành phần C, V cho nhau cho nhau mà nội dung không thay đổi Thật

ra, đó là một sự nhầm lẫn trong cách hiểu “nghĩa” là gì Trong toán học , nếu A=B thì ta có thể dễ dàng suy ra B=A, nhưng trong ngôn ngữ không phải thế Vì một lẽ đơn giản là khi hoán vị hai vế cả chủ ngữ và vị ngữ thì nội dung đều đã thay đổi “Cái nói đến” và “cái được nói đến” không còn như cũ nữa Ở đây, chúng ta chỉ có thể nói rằng có thể hoán vị hai vế mà câu vẫn không mất tính ngữ pháp, nghĩa là vẫn có thể chấp nhận được về phương diện phù hợp với các quy tắc ngữ pháp Quan niệm câu đẳng thức là kiểu câu biến thể từ một câu khẳng định bất kì cũng thiếu thuyết phục Câu đẳng thức ra đời không phải từ việc thay đổi trật từ C- V, mà đó là sự thay đổi tự thân trong bản thân nó, thể hiện một cách tư duy mới của người Việt chứ không chỉ đơn giản chỉ là một cách diễn đạt đảo ngược so với trật từ thông thường

Trong khi đó, tác giả Nguyễn Đức Tồn lại cho rằng, câu đẳng thức hay có cách gọi khác là câu đẳng nhất là những câu có câu tạo “A là B” hoặc “A như B”, mà ở đó hai vế câu tương đương nhau và có thể hoán vị qua lại với nhau Nếu chúng ta hiểu theo cách hiểu của tác giả Nguyễn Đức Tồn thì phạm vị của câu đẳng thức sẽ rất lớn, bởi lẽ nó bao gồm cả kiểu câu “A như B” (Cô giáo như

mẹ hiền) Với cách quan niệm như thế này, thì việc xác định câu đẳng thức sẽ rất

dễ dãi và kiểu câu này sẽ mất đi giá trị đặc biệt của nó

Không chỉ dừng lại ở việc không thống nhất quan niệm về khái niệm câu đẳng thức trong nội bộ ngữ pháp truyền thống mà giữa ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng, khái niệm câu đẳng thức cũng được hiểu hoàn toàn khác nhau Ngữ pháp chức năng phân tích câu thành hai thành phần đề và thuyết Khi

đó câu đẳng thức là câu mà đề và thuyết có quan hệ phi tham tố Tức là khi đề

Trang 15

không phải là tham tố của vị từ làm hạt nhân cho thuyết mà cũng không có quan

hệ trực tiếp nào về nghĩa với bất kỳ tham tố nào của nó và ngược lại cũng thế Xét đến quan hệ phi tham tố, có bốn quan hệ cơ bản là quan hệ đẳng thức, quan hệ định tính, quan hệ điều kiện và quan hệ ẩn nghĩa Chính vậy, câu đẳng thức là những câu mà khi đề và thuyết có quan hệ đẳng thức hay đồng nhất hoá (equative), hai thành phần thường thuộc một phạm trù ngữ pháp giống nhau: hoặc cùng là danh ngữ, hoặc cùng là vị ngữ Khi đó, câu đẳng thức phản ánh một nhận định về tính đồng nhất của hai thực thể hoặc hai sự tình được coi là tương đương nhau về một phương diện nào đấy hoặc là chỉ một Câu đẳng thức là câu

mà cả đề và thuyết đều xác định về hình thức và nội dung

Ví dụ:

(12) Sao Hôm là sao Mai

(13) Người phụ nữ xinh đẹp ấy là cô giáo em

(14) Mai Phương Thuý là hoa hậu Việt Nam năm 2006

Theo cách hiểu này thì hai giá trị V và C tương đương nhau và không lệ thuộc vào nhau và từ “là” có vai trò rất quan trọng, là động từ chính, không thể

bị lược bỏ khi chúng ta đảo ngược trật tự câu Với cách giải quyết của ngữ pháp chức năng, thì ta nhận thấy rằng câu đẳng thức chính là mô hình câu đẳng nhất hay câu tương đồng mà chúng tôi đã nói ở trên

Ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng có cách quan niệm rất khác nhau về câu đẳng thức, nếu ngữ pháp truyền thống cho rằng câu có mô hình “V

là C” là câu đẳng thức, thì ngữ pháp chức năng lại cho rằng câu có hai vế đề và thuyết tương đương nhau là câu đẳng thức Nếu ngữ pháp truyền thống với mô hình câu đẳng thức “V là C”, ta có thể hiểu V sẽ là những đặc điểm, tính chất, hành động, trạng thái nổi bật của C, V giải thích sáng rõ vấn đề cho C thì theo

Trang 16

ngữ pháp chức năng trong câu đẳng thức, đề và thuyết sẽ tương đương nhau, tức

là đề và thuyết chỉ là hai cách diễn tả khác nhau của cùng một vấn đề

Các trường phái ngữ pháp khác nhau, thì cách giải quyết các vấn đề cũng khác nhau, tuy nhiên nếu cả hai trường phái ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp chức năng đều đi vào nghiên cứu kiểu câu đẳng thức, thì chúng tôi thiết nghĩ phải có sự thống nhất chung về khái niệm, để tránh gây ra sự nhầm lẫn

1.1.2.2 Khái niệm câu đẳng thức

Như ta biết ở phạm vi cú pháp, trong tiếng Việt thông thường đối tượng được xác định trước tiếp đến mới nêu lên đặc trưng của đối tượng, hay nói cách khác tư duy của người Việt là tư duy tổng hợp tính , chứ không phải là tư duy phân tích tính như ở một số ngôn ngữ khác

Ví dụ:

người Việt: ngựa trắng

người Trung Quốc: bạch mã

người Anh: white hourse

Chính vì vậy mà trong cách diễn đạt của người Việt kiểu câu phổ biến thường là Chủ ngữ (C) - Vị ngữ (V) - Bổ ngữ (B) hoặc trạng ngữ (TN), C –V- B

Vì vậy, kiểu câu có sự thay đổi trật tự “V là C” hoặc “B là C-V” thường được các nhà phong cách học gọi là câu đẳng thức Các tác giả Đinh Trọng Lạc

và Nguyễn Thái Hoà đã phân tích chúng như sau:

(7)Hay sủa gâu gâu

Là con chó vện Con chó vện là chủ thể của hành động và như vậy câu đẳng thức phải là: đặc trưng của đối tượng - đối tượng và quan niệm truyền thống vẫn cho rằng đó

là câu được cấu tạo theo mô hình “V là C”, C ở đây đồng thời là chủ ngữ cũng chủ thể hành động

Trang 17

Trong câu đẳng thức, C là chủ ngữ hay chủ thể có thể diễn tả bởi nhiều vị ngữ hay nhiều đặc trưng khác nhau nhưng khi ta đảo để trở thành câu đẳng thức thì V đó hay đặc trưng đó trở thành phương diện tiêu biểu nhất đại diện cho cả chủ thể đó Trong thơ ca, kiểu câu này không phổ biến nhưng cách diễn đạt theo lối đẳng thức hoá sẽ gây bất ngờ cho người đọc, bởi vì nó đi ngược lại với tư duy bình thường của người Việt Nam

Theo cách hiểu như thế này thì các câu đã xét trên như:

(1)Cha tôi đang đọc báo – Người đang đọc báo là cha tôi

(2)Tôi thích Toán – Toán học là môn tôi thích

(8)Lan thích âm nhạc - Âm nhạc là môn Lan thích (10) Mặt trời là trái tim anh

Mặt trăng vành vạnh là tình của em (12) Sao Hôm là sao Mai

(13) Người phụ nữ xinh đẹp ấy là cô giáo em (14) Mai Phương Thuý là hoa hậu Việt Nam năm 2006 Những câu trên không được xem là câu đẳng thức mà là câu đẳng nhất, tức là hai thành phần C và V tương đương nhau, V chỉ là một cách diễn đạt khác của C, chứ V không phải là đặc điểm, tính chất của C

Cần phải nói thêm rằng, theo quan niệm của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái hoà, câu đẳng thức còn có mô hình “B là C-V”, tuy nhiên, hai tác giả này không đưa ra bất kỳ ví dụ nào để minh hoạ, theo quan niệm của chúng tôi, kiểu câu có câu tạo “B là C-V”, là những câu như :

- Hoa là mẹ em trồng

- Gấu bông là anh ấy tặng

- Người thân thiết là anh dễ thân (Phạm Tiến Duật)

Trang 18

Những ví dụ trên, chúng tôi không xếp nó vào câu đẳng thức, vì nếu xếp

nó vào câu đẳng thức thì nó không có sự nhất quán về cấu trúc, chính vì lẽ đó,

mà những câu được cấu tạo theo mô hình “B là C-V” , chúng tôi sẽ làm rõ ở những công trình sau

Nói tóm lại, theo quan niệm của chúng tôi, câu đẳng thức là kiểu câu được cấu tạo theo cấu trúc “V là C”, trong đó V diễn tả đặc trưng của đối tượng và C

là đối tượng, đồng thời là chủ thể của hành động, tính chất, đặc điểm trạng thái được nhắc tới ở V Câu đẳng thức là kiểu câu định nghĩa, xác định đối tượng, định danh đối tượng bằng những đặc tính nổi bật nhất của đối tượng đó, gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc bằng cách đưa những đặc điểm, tính chất nổi bật nhất của sự vật, hiện tượng ra đầu câu Cần phải nói thêm rằng câu đẳng thức tồn tại một cách độc lập, đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về ngữ nghĩa cũng như ngữ pháp và chúng ta không nên xem nó là một hình thức biến thể của kiểu câu khẳng định như cách hiểu của một số nhà nghiên cứu trước đây

Chúng ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữa câu đẳng thức và câu đẳng nhất, hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau, không thể xem câu đẳng thức và câu đẳng nhất là hai cách gọi khác nhau của cùng một vấn đề Câu đẳng thức có mô hình cấu trúc “V là C”, còn câu đẳng nhất có mô hình cấu trúc “C ~ V” (~ : tương đương) Phân biệt câu đẳng thức và câu đẳng nhất chúng tôi sẽ làm rõ ở mục sau

1.1.2.3 Vai trò của từ “là” trong câu đẳng thức

Trong mô hình cấu tạo của câu đẳng thức thì từ “là” có vai trò rất quan trong, nếu như không có từ “là” thì sẽ không tồn tại câu đẳng thức

Trước tiên, chúng tôi đi xem xét ý nghĩa từ vựng của từ “là” trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, từ “là” được hiểu theo những nghĩa sau:

Trang 19

- là: hàng tơ nõn dệt thưa và mỏng, thường được nhuộm đen

Ví dụ: quần là áo lượt

khăn là

- là: từ trực tiếp chỉ ra tên gọi nghề nghiệp, thuộc tính, bản chất của người, vật,

hiện tượng

Ví dụ:

Tôi là nông dân

Vàng là kim loại quý

- là: từ chỉ ra quan hệ tương đương về giá trị

Ví dụ:

Hai với hai là bốn

- là (động từ): làm phẳng quần áo, vải vóc

Là quần áo hiệu giặt là

- là: di chuyển sát bề mặt (mặt đất, mặt nước) cách đều bề mặt một khoảng được

coi là bé

Ví dụ:

Chiếc trực thăng là một vòng rồi hạ cánh

“Là” trong câu đẳng thức được dùng với nghĩa thứ 2, tức là từ chỉ ra tên gọi nghề nghiệp, thuộc tính, bản chất của người, vật, hiện tượng

Một điều cần lưu tâm khi xác định câu đẳng thức là chúng ta cần có cái nhìn hợp lí về từ “là”, cú pháp của câu đẳng thức là “V là C”, vậy “là” giữ vai trò gì?

Khi phân tích vai trò của từ “là” trong câu chứa “là”, Nguyễn Văn Hiệp cho rằng có 3 cách giải thích khác nhau sau:

+ cách giải thích thứ 1: cho “là” là động từ, có thể kết hợp với các hư từ để chỉ thời, thể, tình thái, vì vậy nó được xem là vị ngữ

Trang 20

+ cách giải thích thứ 2: cho “là” là hệ từ, dung để liên kết chủ ngữ và vị ngữ

+ cách giải thích thứ 3: cho “là” vẫn là hệ từ, nhưng chủ trương “là”+ bộ phận đứng sau mới có tư cách là vị ngữ

Xét riêng trong câu đẳng thức, thì ta nhận thấy rằng, từ “là” hoàn toàn không có nghĩa từ vựng, do đó chúng ta không thể xem nó là động từ Cách giải thích thứ nhất là không hợp lý Trong khi đó, cách giải thích thứ ba, lại cho “là”

là hệ từ và cho rằng “là” + bộ phận sau mới có đầy đủ tư cách là vị ngữ, theo chúng tôi, cách giải quyết này cũng không thể chấp nhận được, vì rõ ràng, cấu tạo câu đẳng thức là “V là C”, như vậy “là” hoàn toàn tách biệt ra khỏi thành phần vị ngữ Do đó, cách giải thích thứ 2 là hợp lí nhất

Như vậy, trong câu đẳng thức ta có thể xem “là” là hệ từ, có tư cách ngữ pháp độc lập, dùng để liên kết giữa chủ ngữ và vị ngữ

1.1.2.4 Phân biệt câu đẳng thức và câu đồng nhất (câu đẳng nhất)

Khái niệm câu đồng nhất rất dễ gây nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu

về câu đẳng thức Tuy nhiên, nếu đi vào tìm hiểu và nghiên cứu thì chúng ta nhận thấy rằng hai khái niệm này hoàn toàn khác xa nhau

Khái niệm câu đồng nhất hay câu đẳng nhất là những câu có mô hình C ~

V và hai thành phần này được nối với nhau bởi động từ “là”, “là” diễn tả mối quan hệ đồng nhất, hoặc thuộc tính giữa hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ Hai thành phần C, V tương đương nhau về mặt ngữ nghĩa (có thể tương đương hoàn toàn hoặc chỉ tương đương trong một mối quan hệ ngữ nghĩa nhất định nào đó)

Câu đồng nhất có thể chia ra thành 3 loại: câu đồng nhất tuyệt đối, câu đồng nhất tương đối và câu quy loại

Trong bếp là chỗ tốt nhất (câu đồng nhất tuyệt đối)

Trán nàng là sự minh mẫn (câu đồng nhất tương đối)

Trang 21

Tôi là sinh viên (câu quy loại )

Ở mô hình cấu tạo của câu đẳng nhất, từ “là” đóng vai trò là động từ chính, giữ vị trí quan trọng trong kết cấu vị ngữ

Trong khi đó câu đẳng thức lại là kiểu câu có mô hình “V là C”, mà ở đó

C là những hành động, đặc điểm, tính chất nổi bật của C, và C là chủ thể của những hành động, đặc điểm, tính chất đó

từ “là” được, vì từ “là” trong câu đẳng nhất chính là động từ chính trong thành phần vị ngữ của câu

1.1.2.5 Cấu tạo của câu đẳng thức

Cấu tạo của câu đẳng thức rất đa dạng, V có thể là từ, cụm từ, hoặc là một kết cấu chủ-vị (cú) tương tự như vậy C cũng có thể là từ, cụm từ hoặc là một kết cấu chủ-vị (cú)

Xét về phương diện cấu tạo ngữ pháp, câu đẳng thức có thể là câu đơn, cũng có thể là câu phức Câu đẳng thức là câu phức khi thành phần vị ngữ hoặc chủ ngữ được cấu tạo bởi một kết cấu chủ - vị

Để đảm bảo tính chất của vị ngữ thì những từ hoặc cụm từ đóng vai trò vị ngữ luôn luôn là động từ, cụm động từ, tính từ, cụm tính từ Còn những từ loại khác không thể được chấp nhận, vì nếu những từ loại khác được đưa lên đầu câu

Trang 22

thì từ “là” sẽ bị chuyển thành động từ và không còn là hệ từ nữa, khi đó câu đẳng thức sẽ là câu đẳng nhất Trong khi đó C trong câu đẳng thức thường sẽ là danh

từ, cụm danh từ, đại từ, cụm đại từ hoặc cũng có thể là một cú

Thật ra, chúng ta không cần nói dài dòng như thế này, hạn chế của chúng

ta là dễ xảy ra nhầm lẫn khi xác định giữa câu đẳng thức và câu đẳng nhất, nhưng với việc phân định một cách rạch ròi vài trò của từ “là” , ta sẽ không còn nhầm lẫn nữa

Chúng tôi, sẽ tiếp tục làm rõ hơn thành phần cấu tạo câu đẳng thức khi đi vào miêu tả cấu tạo ngữ pháp của những câu đẳng thức, mà chúng tôi khảo sát được ở 3 nhà thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt

1.1.2.6 Câu đẳng thức và sự thay đổi tư duy thơ

Tư duy thơ là một phạm trù rộng lớn, do vậy chúng ta khó có thể đưa ra một khái niệm cụ thể

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách

khoa Hà Nội, 2005), tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não người- tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận Theo một định nghĩa khác, tư duy là danh từ triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của con người để sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với

Từ khái niệm tư duy như đã nêu trên, ta có thể hiểu tư duy thơ là toàn bộ hoạt động trí óc để cho ra đời một bài thơ, đó có thể là sự nhìn nhận, cách đánh giá, diễn đạt, các phương thức thể hiện…tất cả quá trình suy nghĩ, sắp xếp đó của nhà thơ thì được hiểu là tư duy thơ

Trang 23

Tư duy thơ ở mỗi gian đoạn lại khác nhau Và có thể nói, sự xuất hiện của câu đẳng thức chính là dấu hiệu đánh dấu cho sự thay đổi của tư duy thơ Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8.1945

Trước cách mạng tháng 8.1945 kiểu câu đẳng thức không hề tồn tại trong thi ca, nó chỉ mới xuất hiện sau cách mạng Chúng tôi đã tìm đọc thơ của một số nhà thơ trước cách mạng tháng 8 và nhận thấy rằng không có sự xuất hiện của kiểu câu đẳng thức, kiểu câu này chỉ bắt đầu xuất hiện từ năm 1945

Như ta biết, tư duy của người Việt là tư duy tổng hợp tính, và trong thơ, các nhà thơ cũng tư duy theo lối đó, nhận định sự vật, hiện tượng, rồi mới đến phát hiện ra những đặc điểm, tính chất, trạng thái của chúng Trước cách mạng tháng 8, hầu hết các nhà thơ đều tư duy theo lối như vậy Chúng ta có thể kể ra hàng loạt những câu thơ như vậy:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu…

(Tràng giang – Huy Cận) Đây là 2 khổ đầu của bài thơ “Tràng giang” được Huy Cận sáng tác tháng

9/1939, chúng ta có thể nhận thấy rằng, các sự vật, hiện tượng được nhắc đến trước rồi mới đến đặc điểm, tính chất của chúng, “sóng gợn”, “con thuyền xuôi mái”, “thuyền về”, “nước lại sầu trăm ngả”, “củi một cành khô lạc mấy dòng”,

Trang 24

“gió đìu hiu”, “nắng xuống”, “trời lên”, “sông dài”, “trời rộng”, “bến cô liêu”…và nếu tính chất đặc điểm của sự vật có được đảo lên đầu câu thì tác giả cũng chỉ có một biện pháp tu từ duy nhất, đó là biện pháp đảo ngữ, ví dụ như “lơ thơ cồn cỏ”

Chúng ta có thể kể ra hàng loạt những câu thơ thể hiện lối tư duy tổng hợp tính của thi nhân Việt Nam trước cách mạng tháng 8:

…Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

(Thơ duyên – Xuân Diệu)

Và rõ ràng chúng ta không thể nào tìm thấy bất kỳ một câu thơ nào diễn đạt theo lối đẳng thức Nếu muốn nêu đặc điểm, tính chất của sự vật lên đầu câu, nhà thơ chỉ có một cách duy nhất là dùng biện pháp đảo ngữ

Tuy nhiên, từ sau cách mạng tháng 8, thì kiểu câu đẳng thức bắt đầu xuất hiện, tuy không được sử dụng một cách rộng rãi, nhưng hầu như tất cả các nhà thơ đều ít nhiều sử dụng nó Một số câu thơ đẳng thức trong thơ Hoàng Cầm như:

Và dai dẳng em ơi

Là cơn say khát lá

Trang 25

(Nhớ)

Long lanh mắt ướt

Là mưa ái phi

(Mưa Thuận Thành)

Mênh mang là cõi giá băng Mình tôi mãi níu bóng hằng lửng lơ

(Tình anh thể phách)

Hay như một vài câu thơ đẳng thức trong thơ Nguyễn Duy :

Trong veo là nắng với trời Ngổn ngang thân mến là người với nhau

(Mưa trong nắng, nắng trong mưa)

Lần lữa mãi là ta lỡ dại

Để thành mất cắp cả tình yêu

(Một góc chiều Hà Nội)

Như vây, chúng ta có thể nhận thấy rằng với sự ra đời của câu đẳng thức,

đã đánh dấu sự thay đổi trong tư duy thơ Các nhà thơ đã mạnh dạn thể hiện lối

tư duy phân tích tính thông qua một kiểu câu cụ thể chứ không chỉ đơn giản bằng biện pháp tu từ đảo ngữ như trước đây

dư âm mạnh mẽ trong lòng độc giả nhiều thế hệ

Phạm Tiến Duật sinh ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Cha ông là nhà giáo, dạy chữ Hán và tiếng Pháp, còn mẹ làm ruộng, không biết chữ Năm 1964,

Trang 26

ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhưng sau đó không tiếp tục với nghề giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ như bao thanh niên hăng hái khác thời bấy giờ Sau khoá huấn luyện tân binh, ông được điều về Cục Vận tải Quân

sự Khi Cục này sát nhập vào Đoàn 559, ông thuộc Ban Tuyên huấn Cục Chính trị Đoàn 559 Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng Năm 1969, Tuần báo Văn nghệ tổ chức một cuộc thi thơ Phạm Tiến Duật gửi 5 bài thơ dự thi, đã được Ban giám khảo đánh giá rất cao Những bài thơ của ông thuyết phục đến nỗi không những thời đó được bạn đọc nhập tâm mà

về sau xuất hiện trong nhiều tuyển tập thơ, xứng danh là những bài thơ tiêu biểu của thời chống Mỹ Năm 1970, ông đã dược kết nạp và Hội Nhà văn Việt Nam

Hoà bình lập lại, ông sống ở Hà Nội và làm Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam, sau làm Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Với tài năng

và tinh thần dám chịu trách nhiệm, ông đã cho đăng nhiều bài thơ có giá trị, kể

cả những bài trong hoàn cảnh nhất định có người ngại ngần Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001 Có thời gian ông dẫn chương trình dành cho người cao tuổi trên VTV3 Đài Truyền hình Việt Nam

Ngoài tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp, trong những ngày cuối đời, Phạm Tiến Duật đã nhận được Huân chương Lao động hạng Nhì dành cho

những đóng góp to lớn của ông với thơ ca dân tộc Tuyển tập Phạm Tiến Duật

phần 1 (thơ và trường ca) cũng được trao Giải thưởng văn học 2007 của Trung tâm Văn hoá Doanh nhân Ngày 19 tháng 11 năm 2007, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật

Trang 27

Ngày 4 tháng 12 năm 2007, vào khoảng 8:50, ông mất tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vì căn bệnh ung thư phổi

1.2.1.2 Tác phẩm và dư luận

Phạm Tiến Duật đã góp vào làng thơ Việt Nam một giọng thơ mới mẻ, trẻ trung và tràn đầy nhiệt huyết của một lớp thanh niên ra đi bảo vệ Tổ quốc không hẹn ngày trở về

Sẵn tình yêu và khả năng văn thơ, lại được đào tạo cơ bản tại khoa Văn Đại học Sư phạm Hà Nội, nay lăn lộn ở Trường Sơn, trực tiếp tham gia vào mật trận nóng bỏng nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, tận mắt chứng kiến bao tấm gương hy sinh anh dũng và tràn đầy lạc quan cách mạng của bộ đội ta, nhất là các chiến sĩ lái xe…tâm hồn thơ của ông nhanh chóng hoà nhịp vào cuộc chiến đấu sôi động nơi đất lửa tiền tuyến Ông đã sáng tác nhiều bài thơ nóng bỏng về người lính Trường Sơn anh hùng Thành công lớn nhất là ông đã hoà nhập tâm hồn lính thời chống Mĩ, lạc quan, hồn nhiên, tươi trẻ, coi thường gian khổ hi sinh…và đưa cách nghĩ lính, ngôn ngữ lính ấy vào thơ Sự thành công của Phạm Tiến Duật được đông đảo bạn đọc ghi nhận, và ảnh hưởng mạnh mẽ tới cách viết của các nhà thơ trẻ cùng thời, làm cho tác phẩm của họ hoà thành một dàn hợp xướng thơ hùng hậu mà chính ông là người lĩnh xướng

Ông đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kì ông tham gia quân ngũ Thơ của ông được các nhà văn khác đánh giá cao

và có nét riêng như: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung và có cái “tinh nghịch” nhưng cũng rất sâu sắc Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó

tiêu biểu nhất là "Trường Sơn đông, Trường Sơn tây" Phạm Tiến Duật là một

người lính thực sự đã sống đủ, sống kĩ cái đời sống Trường Sơn, nên ông có tiếng thơ độc đáo không thể lẫn lộn

Trang 28

Những năm tháng chiến tranh để lại dấu ấn sâu đậm trong thơ Phạm Tiến

Duật Với những bài thơ nổi tiếng như “Nhớ”, “Tiểu đội xe không kính”, “Lửa

đèn”, “Gửi em cô thanh niên xung phong” , Phạm Tiến Duật được coi là “ngọn

lửa đèn” của một thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Thơ ông hồn nhiên, hóm hỉnh, giàu tính lạc quan với những phát hiện thú vị, đầy chất lính

Các tác phẩm của Phạm Tiến Duật đã xuất bản gồm có:

- Vầng trăng, quầng lửa (Tập thơ 1970)

- Một chặng đường (Tập thơ 1971)

- Ở hai đầu núi (Tập thơ 1981)

- Vầng trăng và những quầng lửa (Tuyển tập thơ 1983)

- Thơ một chặng đường (Tuyển tập thơ 1994)

- Nhóm lửa (Tập thơ 1996)

- Tiếng bom và tiếng chuông chùa (Trường ca 1997)

- Tuyển tập Phạm Tiến Duật (2007) (Tuyển tập này được xuất bản trong

thời gian Phạm Tiến Duật nằm trên giường bệnh và đã được Giải thưởng Văn học năm 2007 của Trung tâm Văn hoá Doanh nhân)

Thơ Phạm Tiến Duật xuất hiện ngay từ ngày đầu và đơm hoa kết trái trong toàn bộ thời gian cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta Có thể nói “Thời thế sinh anh hùng” Trong bão táp của cuộc kháng chiến, trong lúc

cả một dân tộc hừng hực “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “tất cả cho tiền tuyến”…, Phạm Tiến Duật xuất hiện thật đúng lúc và đã thực hiện xuất sắc sứ mạng của mình Chính vì điều đó, mà Phạm Tiến Duật được ca ngợi là “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”…

1.2.2 Trần Đăng Khoa

1.2.2.1 Con người

Trang 29

Trần Đăng Khoa là con thứ ba trong một gia đình nông dân bên bờ sông Kinh Thầy Ông sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958, quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

Thuở bé, nhà Trần Đăng Khoa rất nghèo Một căn nhà tranh vách đất, đồ đạc trong nhà hầu như không có gì Nhưng bù lại, trong căn nhà trống huyếch hoác ấy lại có một tủ sách khá đồ sộ với hàng nghìn cuốn sách giá trị mà anh Trần Nhuận Minh (anh cả của Trần Đăng Khoa) đã chắt chiu, gom nhặt từ đồng lương nhỏ nhoi của một giáo viên cấp hai Ông đã “đọc trộm” tủ sách lớn của anh Minh Đối với Trần Đăng Khoa, bí quyết học thành tài là học từ những trang sách Sách đóng vai trò rất quan trọng, mang tính quyết định đối với việc hình thành và phát triển năng khiếu thơ của Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa làm thơ từ khi ông còn rất nhỏ tuổi và đã nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công Ông được xem là “thần đồng thơ ca” của Việt Nam Lên 8 tuổi, Trần Đăng Khoa đã có thơ được đăng báo Năm 1968, khi mới 10

tuổi, tập thơ đầu tiên của ông Từ góc sân nhà em (tập thơ tiếp theo là Góc sân và

khoảng trời) được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản Có lẽ tác phẩm nhiều người

biết đến nhất của ông là bài thơ “Hạt gạo làng ta”, sáng tác năm 1968, được thi

sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc (1971)

Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26 tháng 2 năm 1975 khi đang học lớp 10/10 tại trường phổ thông cấp 3 Nam Sách Sau khi thống nhất, việc bổ sung quân cho chiến trường không còn cần thiết nữa, ông được bổ sung về quân chủng hải quân Sau đó ông theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và được cử sang học tại Viện Văn học Thế giới M Gorki thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Nga Khi trở về nước ông làm biên tập viên Văn nghệ quân đội Từ tháng 6 năm 2004, ông mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam

Trang 30

Hiện nay, ông là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam Ông cũng là trưởng ban Văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và là Giám đốc hệ truyền thanh có hình VOVTV 1.2.2.2 Tác phẩm và dư luận

Ngay từ khi mới lên 8 tuổi, thơ Trần Đăng Khoa đã được đăng báo và những bài thơ của Trần Đăng Khoa thời ấy đã được tập hợp để in thành một tập

thơ dày dặn cũng đã rất nổi tiếng Tập thơ có tên Góc sân và khoảng trời

Năm 1968, khi Trần Đăng Khoa tròn 10 tuổi, Góc sân và khoảng trời được

in lần đầu, gồm 52 bài với số lượng 10.000 cuốn; năm 1973, Góc sân và khoảng

trời được bổ sung thành 66 bài, in với số lượng lên tới 50.000 bản Thế là từ đấy,

tập thơ này mỗi năm đều được bổ sung thêm và in lại nhiều lần ở nhiều nhà xuất bản khác nhau Cho đến lần in năm 2002 là lần thứ 50, một con số có lẽ là kỷ lục cho những cuốn sách được tái bản nhiều lần ở nước ta

Đọc Góc sân và khoảng trời, chúng ta sẽ thấy hiện lên cả một thế giới con

người và sự vật mà trong đó con người nào cũng đều để lại một dấu ấn tốt đẹp trong con mắt của thi sĩ tí hon Trần Đăng Khoa; còn sự vật thì hầu như tất cả đều

đã được nhân cách hóa, trở thành những bạn bè thân thiết, không thể xa rời, và điều đặc biệt là tất cả đều nằm trong tầm nhìn của tác giả, tầm nhìn của đôi mắt trẻ thơ

Chính những bài thơ được tập hợp lại trong Góc sân và khoảng trời đã làm nên một thần đồng thơ Trần Đăng Khoa ngày nào Năm 2002, Góc sân và

khoảng trời là một trong ba tập thơ của Trần Đăng Khoa được trao giải thưởng

Nhà nước về văn học nghệ thuật

Trần Đăng Khoa không có nhiều tác phẩm, và danh hiệu “thần đồng thơ trẻ” của nhà thơ thời thơ ấu không hề liên quan hay được nối tiếp đến quãng đời

Trang 31

về sau khi nhà thơ vào lính, theo học ở Nga, khi về nước làm biên tập viên, làm báo Những tác phẩm nổi bật của Trần Đăng Khoa có thể kể đến như:

- Từ góc sân nhà em, 1968

- Góc sân và khoảng trời, tập thơ, 1968, tái bản khoảng 30 lần, được dịch

và xuất bản tại nhiều nước trên toàn thế giới

- Khúc hát người anh hùng, trường ca, 1974

- Bên cửa sổ máy bay, tập thơ, 1986

- Chân dung và đối thoại, tiểu luận phê bình, NXB Thanh niên, 1998, tái

bản nhiều lần

- Bài “Thơ tình người lính biển” đã được Hoàng Hiệp phổ nhạc

- Đảo chìm, (2000), tập truyện - kí, đến đầu năm 2009 đã tái bản 25 lần

Ông 3 lần được tặng giải thưởng thơ của báo Thiếu niên Tiền phong (các năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất báo Văn nghệ (1982) và Giải thưởng Nhà nước (năm 2000)

1.2.3 Bằng Việt

1.2.3.1 Con người

Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Bằng Việt có lẽ đã được các văn hữu, các nhà nghiên cứu bàn đến với số chữ và số trang nhiều hơn chính những trang viết của ông Trước hết ông là người gặp may bởi sự đi nhiều, biết nhiều

Và trời đã phú cho ông một hồn thơ giàu xúc cảm lúc trữ tình dào dạt, khi sục sôi chiến đấu

Bằng Việt có tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Nội, nhưng sinh tại phường Phú Cát, thành phố Huế vào năm 1941, lớn lên ở Hà Tây, học phổ thông tại Hà Nội Năm 1961 được cử

đi học luật tại Matxcơva (Liên Xô) Nội và tốt nghiệp khoa Luật trường Đại học

Trang 32

Tổng hợp Kiev thuộc Liên Xô cũ năm 1965 Từng làm việc ở Hội Luật học, Hội nhà văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Hà Nội

Sau ông về công tác tại Viện Luật học, Ủy ban khoa học Xã hội Việt Nam Năm 1970 ông vào công tác tại chiến trường Bình Trị Thiên với tư cách là phóng viên mặt trận, rồi về công tác tại Bảo tàng Trường Sơn, Nhà xuất bản Tác phẩm mới của Hội nhà văn Việt Nam Từ ngày về Hội Văn nghệ Hà Nội năm

1983, ông được bầu làm Tổng thư kí Văn học nghệ thuật Hà Nội (1983 – 1989)

và là một trong những người sáng lập ra tờ báo văn nghệ Người Hà Nội, năm

1985 Ông còn tham gia Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học Nghệ thuật, làm Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam từ 1989 – 1991 Năm

2001, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và được bầu lại làm Chủ tịch Hội hai nhiệm kỳ từ 2006 – 2015 Ông cũng từng làm thư kí thường trực, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 1991 – 2000…

1.2.3.2 Tác phẩm và dư luận

Những năm giữa thập kỷ sáu mươi, công chúng văn học đã chứng kiến sự xuất hiện của một loạt cây bút mới mà chỉ ít lâu sau đã trở thành chủ lực của thi đàn Đó là Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Bế Kiến Quốc, Vương Anh, Phan Thị Thanh Nhàn Vài năm sau lại là Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc Trong đội ngũ đông đúc này, Bằng Việt là một gương mặt riêng, có một chất riêng, không bị khuất lẫn, “mất hút” trong một dàn đồng ca Vậy điều gì đã tạo nên nét riêng khác biệt ấy cho thơ của Bằng Việt Đó chính là chất “trí tuệ”, suy tưởng mà vẫn sinh động, gần gũi với cuộc sống của một cây bút trí thức sớm

bộc lộ từ phần “Bếp lửa” in chung với Lưu Quang Vũ

Trang 33

Nhà thơ Bằng Việt làm thơ từ khi lên 13 tuổi và bài thơ đầu tiên được

công bố là bài “Qua Trường Sa” năm 1961 Như vậy có thể thấy ông đã từng đi

qua cuộc đời này với nửa thế kỉ thơ ca biết bao thăng trầm đổi thay trong vận mệnh đất nước, dân tộc cũng như cuộc sống cá nhân ông và đời sống văn chương nước nhà

Bằng Việt thật sự khẳng định được mình ở tập thơ thứ hai: tập Những

gương mặt - Những khoảng trời (1973) Đây có thể coi là kết quả của chuyến

“đi thực tế” nhớ đời của nhà thơ trẻ vốn được số phận ưu đãi này Cả tập thơ là một sự ngạc nhiên lớn, một sự cảm động chân thành của người trí thức trẻ khi tham gia trực tiếp vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân, đất nước, trước hết là với cái tập thể trẻ trung, dũng cảm ở Trường Sơn

Trong “thế hệ sáu mươi”, “thế hệ Trường Sơn” trên văn đàn, Bằng Việt

có vị trí khá ổn định và vững chắc Tập thơ mới nhất Ném câu thơ vào gió (2000)

chứng tỏ sức sáng tạo còn dồi dào của ông Có được một tiểu sử văn học phong phú như ông không phải là điều dễ dàng

Bằng Việt không chỉ có thơ ca mà ông là một người đa tài, hoạt động trên nhiều lĩnh vực như làm luật, dịch thuật, biên soạn chân dung nghệ sĩ nước ngoài, biên soạn từ điển về Văn học – Nghệ thuật… Chỉ riêng về thi ca ông đã từng có những tác phẩm nổi tiếng một thời như:

- Hương cây – bếp lửa, (1968 – in chung với Lưu Quang Vũ)

- Những gương mặt – những khoảng trời, (1973)

- Đất sau mưa, (1977)

- Khoảng cách giữa lời, (1984)

- Cát sáng, (1885 – in chung với Vũ Quần Phương)

- Bếp lửa – khoảng trời, (1986)

- Phía nửa mặt trăng chìm, (1995)

Trang 34

- Ném câu thơ vào gió, (2001)

- Thơ trữ tình, (2002)

- Thơ Bằng Việt, (2003)

Nhà thơ Bằng Việt đã từng nhận được các giải thưởng cao quý như: Giải nhất về thơ của Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội (1968); Giải thưởng dịch thuật văn học quốc tế và và giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa bình Liên Xô trao tặng năm 1982; Giải thưởng Nhà nước về văn học đợt I – năm 2011; Giải thưởng thơ của Hội văn học Việt Nam (2002); Giải thưởng văn học ASIAN, 2003 cho

tập thơ “Ném câu thơ vào gió”; Giải “Thành tựu trọn đời” của Hội Nhà văn Hà

Nội (2005) cho tuyển tập “Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX”,…

Chương 2: Khảo sát kiểu câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt

2.1 Phương thức khảo sát câu đẳng thức

Để có những nhìn nhận cụ thể hơn về câu đẳng thức, chúng tôi đi vào khảo sát câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt Việc khảo sát của chúng tôi tiến hành dựa trên 3 bước cơ bản:

+ bước 1: thống kê tất cả những câu đẳng thức trong 3 tập thơ bất kì của 3 nhà thơ, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Bằng Việt

Chúng tôi chọn 3 tập thơ bất kì của ba nhà thơ để thống kê câu đẳng thức,

mà các nhà thơ đã sử dụng trong đó Số lượng bài thơ khảo sát của mỗi nhà thơ không nhất thiết phải bằng nhau, bởi lẽ, việc khảo sát câu đẳng thức không phải

là để đi tìm ra nhà thơ nào dùng nhiều câu đẳng thức hơn, mà mục đích quan trong của đề tài này là cho chúng ta cách nhìn nhận cụ thể và chính xác hơn về

mô hình, cấu tạo của câu đẳng thức và từ đó hiểu được vai trò của nó trong việc diễn đạt cũng như những giá trị tu từ và ngữ nghĩa của nó

Trang 35

+ bước 2: miêu tả cấu tạo ngữ pháp của câu đẳng thức dựa trên những câu đẳng thức thống kê được từ thơ 3 nhà thơ

Nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm của câu đẳng thức, chúng tôi

đi vào miêu tả cấu tạo ngữ pháp của từng câu đẳng dựa trên những câu đẳng thức

đã thống kê được từ bước 1 Việc miêu tả câu đẳng thức sẽ tiến hành dựa trên 2 bước cơ bản, bước thứ nhất là xác định chủ ngữ, vị ngữ (các thành phần phụ khác của câu (nếu có)), bước thứ hai là xác định cấu tạo ngữ pháp của từng thành phần chủ ngữ, vị ngữ và các thành phần phụ

Việc xác định chủ ngữ và vị ngữ trong câu đẳng thức là công việc đơn giản, bởi lẽ câu đẳng thức là câu được cấu tạo theo mô hình “V là C”, nên thành phần câu đứng trước “là” sẽ là vị ngữ, còn thành phần câu đứng sau “là” sẽ là vị ngữ Tiếp đó sẽ xác định những thành phần phụ khác nếu có Khi đã xác định được thành phần câu, điều quan trọng là chúng tôi sẽ làm rõ yếu tố cấu tạo nên các thành phần câu đó là gì Nó là từ hay cụm từ ? và nếu là từ hoặc cụm từ , nó thuộc từ loại nào? cụm từ nào?

Khi xác định được yếu tố cấu tạo của các thành phần câu, chúng tôi sẽ đi làm rõ các yếu tố đó Cụ thể như sau:

- Nếu được cấu tạo bằng cụm từ: như ta biết, trong ngôn ngữ, có hai loại cụm từ : cụm từ tự do và cụm từ cố định Cụm từ cố định (thành ngữ và quán ngữ) (xấu như ma, tóc rễ tre, mặt trái xoan, …) là đơn vị từ vựng, còn cụm từ tự

do là đơn vị ngữ pháp Cả hai loại cụm từ này đều có thể là đối tượng quan tâm của ngôn ngữ, nhưng khi đối chiếu cụm từ với tư cách là đơn vị cú pháp, người

ta chỉ quan tâm đến cụm từ tự do mà thôi Nói cách khác, trong ngữ pháp, thuật ngữ “cụm từ” đồng nghĩa với “cụm từ tự do” Trong cụm từ tự do, người ta lại phân ra thành cụm từ đẳng lập, cụm từ chủ vị, cụm từ chính phụ Cụm đẳng lập được xem xét với tư cách là một cụm từ ghép, còn cụm từ chính phụ để tiện cho

Trang 36

việc miêu tả chúng tôi xem xét nó với tư cách là cú (tức là một kết cấu có đầy đủ chủ vị, tham gia cấu tạo nên câu) Nói như vậy đồng nghĩa với việc tên gọi cụm

từ chỉ dành riêng cho cụm chính phụ Căn cứ vảo bản chất từ loại của thành phần chính trọng cụm chính phụ, các cụm từ lớn trong tiếng Việt gồm có: cụm danh

từ, cụm động từ, cụm tính từ, cụm số từ, cụm đại từ

- Nếu được cấu tạo bằng từ: phân loại thành: thực từ và hư từ Theo quan niệm của Diệp Quang Ban, trong thực từ gồm có: danh từ, số từ, tính từ, động từ, đại từ, định từ, phó từ Còn hư từ thì gồm: quan hệ từ, tình thái từ, trợ từ, thán từ

Phương thức miêu tả cấu tạo ngữ pháp câu đẳng thức như đã trình bày trên được chúng tôi áp dụng cho việc khảo sát câu đẳng thức ở cả ba nhà thơ Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa và Bằng Việt

+ bước 3: miêu tả cơ chế ngữ nghĩa của câu đẳng thức dựa trên những câu đẳng thức thống kê được từ thơ 3 nhà thơ trên

Để có thể miêu tả được cơ chế ngữ nghĩa của câu đẳng thức điều kiện tiên

quyết là ta phải hiểu được nghĩa của câu là gì? Như ta đã biết nghĩa của câu chính là nội dung mà câu biểu thị Mỗi câu thường có hai thành phần nghĩa :

+ Nghĩa sự việc: là nghĩa đề cập đến một sự việc ( hay nhiều sự việc) được nhắc đến trong câu

+ Nghĩa tình thái: là sự bày tỏ thái độ, sự đánh giá của người nói đối người nghe hoặc với sự việc đó

Hai thành phần nghĩa sự việc và tình thái luôn hoà quyện vào nhau, không thể có nghĩa sự việc mà không có nghĩa tình thái Tuy nhiên, có một số trường hợp câu chỉ có nghĩa tình thái Đó là câu chỉ cấu tạo bằng từ ngữ cảm thán

a Nghĩa sự việc

Nghĩa sự việc của câu là nghĩa ứng với sự việc được đề cập đến trong câu Nghĩa sự việc thường được biểu hiện nhờ các từ ngữ đóng vai trò chủ ngữ, vị

Trang 37

ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ và một số thành phần phụ khác Nghĩa sự việc có thể được phân chia ra thành các nghĩa cụ thể, như nghĩa sự việc diễn tả hành động, nghĩa sự việc diễn tả trạng thái, tính chất, đặc điểm, nghĩa sự việc diễn tả tư thế, nghĩa sự việc diễn tả quá trình, nghĩa sự việc diễn tả sự tồn tại, nghĩa sự việc diễn tả quan hệ Để có thể xác định được nghĩa sự việc của câu chúng tôi căn cứ vào vị từ làm trung tâm ở thành phần vị ngữ, trên cơ sở xác định tính động và chủ ý của vị từ, để từ đó có thể phân biệt ra được các loại nghĩa sự việc Cụ thể như sau:

+ Câu biểu hiện hành động

dấu hiệu nhận biết: thành phần vị ngữ có vị từ diễn tả sự vận động có tính chủ ý giữ vai trò trung tâm

Ví dụ: Con mèo trèo cây cau

+ Câu biểu hiện trạng thái, tính chất, đặc điểm,

dấu hiệu nhận biết: thành phần vị ngữ có vị từ miêu tả trạng thái, tính chất, đặc điểm của sự vật, sự việc (tĩnh, không có chủ ý) giữ vai trò trung tâm

Ví dụ: Xanh xanh bãi mía bờ dâu

+ Câu biểu hiện tư thế

dấu hiệu nhận biết: thành phần vị ngữ có vị từ từ tư thế diễn tả tư thế của con người hay sự vật (tĩnh, có chủ ý) giữ vai trò trung tâm

Ví dụ: Cô ấy nằm trên giường

+ Câu biểu hiện quá trình

dấu hiệu nhận biết: thành phần vị ngữ có vị từ quá trình diễn tả sự vận động không có chủ ý của con người hay sự vật (động, không có chủ ý) giữ vai trò trung tâm

Ví dụ: Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

+ Câu biểu hiện sự tồn tại

Trang 38

dấu hiệu nhận biết : thành phần vị ngữ có vị từ tồn tại diễn tả sự tồn tại (là,

có, còn, được) hay chấm dứt sự tồn tại của con người, sự vật, sự việc (mất, hết), giữ vai trò trung tâm

Ví dụ: Tôi mất tiền

+ Sự việc biểu hiện quan hệ

dấu hiệu nhận biết: thành phần vị ngữ có quan hệ từ biểu thị mối quan hệ giữa sự vật và bản chất, chức năng của sự vật, hoặc các quan hệ khác của sự vật như tương đồng, sở hữu, nguyên nhân, mục đích (là, như, của, vì, để…), giữ vai trò trung tâm

vd: Mẹ tôi là giáo viên

b Nghĩa tình thái

Thật khó để có được một sự phân biệt thật rõ ràng, bao quát cho tất cả các

ý nghĩa thuộc phạm trù tình thái Bởi lẽ, các biểu hiện của tính tình thái trong ngôn ngữ là rất đa dạng Nghĩa tình thái của câu biểu hiện ở 3 sắc độ cơ bản, tích cực, tiêu cực và trung hoà Các phương diện tình thái phổ biến tạo nên nghĩa tình thái của câu :

+ Sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của người nói đối với sự việc được đề cập

+ Tình cảm, thái độ của người nói với người nghe ( thể hiện qua các từ xưng hô, các từ gọi đáp, các từ tình thái cuối câu)

Chúng ta có thể xác định nghĩa tình thái thông qua nhiều cấp độ ngôn ngữ khác nhau từ ngữ điệu đến trật tự từ, các phương tiện từ vựng đến các phương tiện ngữ pháp, đặc biệt là thông qua lớp từ tình thái, là những từ dùng kèm với câu để chỉ những sắc thái ý nghĩa về ý định, về thái độ, cách đánh giá của người nói …

2.2 Câu đẳng thức trong thơ Phạm Tiến Duật

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w