1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ chỉ thời gian trong thơ xuân quỳnh

63 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế những từ ngữ chỉ thời gian chính là phương tiện sinh động phản ánh tâm tư, thể hiện những ám ảnh, cảm xúc thẩm mĩ và ý thức về thời gian của nữ sĩ Xuân Quỳnh.. Xuân Quỳnh đã rất k

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUÂ ̣N TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

sự hữu hạn của đời người Có thể nói trong thơ chị, các từ ngữ chỉ thời gian được chị vận dụng một cách rất hiệu quả Vì thế những từ ngữ chỉ thời gian chính là phương tiện sinh động phản ánh tâm tư, thể hiện những ám ảnh, cảm xúc thẩm mĩ và ý thức về thời gian của nữ sĩ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh đã rất khéo léo trong việc sử dụng ngôn từ một cách tự nhiên nhưng cũng rất tinh tế và những từ ngữ chỉ thời gian đã góp một phần quan trọng giúp chị thể hiện những suy nghĩ, day dứt về tình yêu, hạnh phúc gia đình cũng như những ám ảnh của sự mất mát và tàn phai của con người trước cuộc đời đầy biến động Chính khả năng điều khiển những con chữ vô tri thành những lớp ngôn từ mang thông điệp thẩm mĩ, thi sĩ Xuân Quỳnh đã dệt nên vườn thơ của riêng mình với một phong cách thơ tự nhiên và chân thật đến kinh ngạc

Chân dung nghệ thuật Xuân Quỳnh được phản ánh trung thực qua tập “Không

bao giờ là cuối” Vì thế chúng tôi chọn tập thơ này để khảo sát về lớp từ ngữ chỉ

thời gian trong thơ chị

Từ khi xuất hiện trên thi đàn thì thơ Xuân Quỳnh đã thu hút được bạn đọc cũng như các nhà phê bình quan tâm và tìm hiểu nhưng các nghiên cứu chủ yếu nghiêng về cuộc đời và những nét đặc sắc trong nghệ thuật, ở phương diện ngôn ngữ, các bài viết dường như chỉ tập trung vào những nhận xét khái quát hơn là những nghiên cứu chiều sâu Cho nên việc đi sâu nghiên cứu ở phương diện ngôn ngữ trong thơ Xuân Quỳnh là một hướng đi cần thiết Để phục vụ cho công việc học tập cũng như công tác giảng dạy sau này và cũng là để góp một phần bé nhỏ của mình vào việc tìm hiểu một công cụ để khám phá thế giới nghệ thuật

Trang 3

trong thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi chọn đề tài “Từ ngữ chỉ thời gian trong thơ

Xuân Quỳnh” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ khi cho ra đời tập thơ đầu tiên Xuân Quỳnh đã đánh dấu vị trí của mình trên bầu trời thi ca đương đại, và cũng từ đây cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Xuân Quỳnh luôn là đề tài thu hút rất nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học Đã có rất nhiều công trình cũng như các chuyên luận nghiên cứu về Xuân Quỳnh Trong đó chúng tôi chia các bài viết theo hai hướng, thứ nhất là về nội dung và thứ hai là về nghệ thuật

Về nội dung có những bài viết như: Phạm Đình Ân với “Bài thơ Sóng của

Xuân Quỳnh” (Tạp chí Văn học, số 3/1990), Phan Thị Thanh Nhàn với “Thơ Xuân Quỳnh” (1990, nxb Hội Nhà văn), Vân Long với “Xuân Quỳnh thơ và đời” (1998, nxb Văn Hóa), Nguyễn Trọng Hoàn với “Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy - Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường” (1999,

nxb Giáo dục), Lưu Khánh Thơ – Đông Mai với “Xuân Quỳnh – Cuộc đời và tác

phẩm”, (2003, nxb Phụ Nữ)…

Về nghệ thuật có những bài viết như: Nguyễn Xuân Nam với “Vẻ đẹp thơ

Xuân Quỳnh” (In trong Thơ tìm hiểu và thưởng thức, 1985, nxb Tác phẩm mới),

Vũ Kim Xuyến với “Tiếng hát ru trong thơ Xuân Quỳnh” (Báo Phụ nữ Việt Nam, 12/8/1996), Ngân Hà với “Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình” (2003, nxb Văn hóa thông tin), Ngô Viết Dinh với “Đến với thơ Xuân Quỳnh” (2003,

nxb Thanh Niên)…

Các bài viết, công trình nghiên cứu về Xuân Quỳnh ở nhiều khía cạnh khác nhau, dưới đây chúng tôi chỉ điểm lại một số công trình liên quan trực tiếp đến đề tài Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi các công trình chủ yếu vẫn xoay quanh các vấn đề về cuộc đời và những nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh chứ chưa có ai đi sâu vào nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ thơ chị

Với đề tài “Từ ngữ chỉ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh” chúng tôi hi

vọng sẽ có thêm cơ sở khoa học để góp phần khẳng định tài năng cũng như

Trang 4

phong cách sử dụng từ ngữ trong thơ chị mà cụ thể ở đây là lớp từ ngữ chỉ thời gian rất tự nhiên nhưng cũng không kém phần sâu sắc và cũng rất riêng của nữ

sĩ Xuân Quỳnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Từ ngữ chỉ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

- Phạm vi nghiên cứu : Tập thơ “Không bao giờ là cuối”

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ và phương pháp nghiên cứu văn học:

- Phương pháp thống kê, phân loại Phương pháp này giúp chúng tôi thống

kê những từ ngữ nói về thời gian, tần số xuất hiện trong tập thơ “Không bao giờ

là cuối”, phân loại những từ ngữ theo tiêu chí nhất định

- Phương pháp phân tích, chứng minh Phương pháp này giúp chúng tôi làm rõ nghĩa những từ ngữ nói về thời gian và đưa ra những dẫn chứng cụ thể Ngoài những phương pháp chính trên, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như tổng hợp, khái quát, so sánh đối chiếu…để làm nổi bật vấn đề đang nghiên cứu

5 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Khảo sát từ ngữ chỉ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Chương 3: Hiệu quả biểu đạt của từ ngữ chỉ thời gian đối với thế giới nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Nghĩa của từ

1.1.1 Khái niệm nghĩa của từ

Khái niệm nghĩa của từ được Đỗ Hữu Châu minh định một cách hết sức tổng quát như sau: “Nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần mà một từ ( hay một ngữ cố định) gợi ra khi chúng ta tiếp xúc với từ đó Nhờ nghĩa của từ mà chúng ta kết hợp từ với từ để tạo nên nghĩa của câu và nhờ nghĩa của từ trong một câu mà chúng ta hiểu được câu đó Về chức năng, có thể chia các từ của một ngôn ngữ thành từ định danh và từ phi định danh Các từ khác nhau về chức năng thì nghĩa cũng khác nhau” [4, tr.93]

Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” lại cho rằng:

“Nghĩa của từ” là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ Có nhiều cách lí giải khác nhau về khái niệm này Một số người cho nghĩa của từ là

sự vật hay hiện tượng do từ biểu thị Chẳng hạn, theo quan điểm này, nghĩa của

từ “nhà” là do bản thân cái nhà có trong thực tế, nghĩa của từ đi, từ đẹp v.v… là bản thân hoạt động, tính chất tương ứng” [8, tr.119]

Trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng việt của Mai Ngọc Chừ - Hoàng

Trọng Phiến – Vũ Đức Nghiệu thì lại nói như sau:

“Nói chung, nghĩa của từ là những liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu cho) Cần phân biệt nghĩa của từ với khái niệm Nghĩa và khái niệm gắn bó với nhau rất mật thiết, nhưng nói chung là chúng không trùng nhau

Khái niệm là một kết quả của quá trình nhận thức, phản ánh những đặc trưng chung nhất, khái quát nhất và bản chất nhất của sự vật, hiện tượng Người ta có được khái niệm chủ yếu là nhờ những khám phá, tìm tòi khoa học Nội dung của một khái niệm có thể rất rộng, rất sâu, tiệm cận tới chân lí khoa học, và có thể

Trang 6

được diễn đạt bằng hàng loạt những ý kiến nhận xét Mặt khác, rõ ràng là không phải khái niệm nào cũng được phản ánh bằng từ mà nó có thể được biểu hiện bằng hơn một từ Ví dụ: nước cứng, tổ hợp quỹ đạo, mặt gặt đập liên hợp, công nghệ sinh học,

Nghĩa của từ cũng phản ánh những đặc trưng chung, khái quát của sự vật, hiện tượng do con người nhận thức được trong đời sống thực tiễn tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, nó có thể chưa phải là kết quả của nhận thức đã tiệm cận đến chân lí khoa học Vì thế, sự vật, hiện tượng nào mà càng ít được nghiên cứu, phám phá thì nhận thức về nó được phản ánh trong nghĩa của từ gọi tên nó càng

xa với khái niệm khoa học” [6, tr.169]

1.1.2 Phạm vi biểu vật của từ

Khái niệm phạm vi biểu vật được Đỗ Hữu Châu định nghĩa như sau: “Sự vật, hiện tượng, đặc điểm, … ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị tạo nên nghĩa biểu vật của từ” [1, tr.105] Tuy nhiên phạm vi biểu vật của từ có sự biến đổi theo những ngữ cảnh nhất định Có những từ ở ngữ cảnh này thì mang nghĩa biểu vật này, ở trong ngữ cảnh khác thì mang nghĩa biểu vật khác Nghĩa là phạm vi biểu vật của từ có thể thay đổi trong những ngữ cảnh khác nhau

Ví dụ 1: Từ về

Trước hết “về” có phạm vi biểu vật là hoạt động của người và động vật; ví

dụ “về quê” tức là di chuyển trở lại nơi ở, nơi quê hương của mình [16, tr.1417] Còn khi nói “về với tổ tiên” hay “về cõi vĩnh hằng” thì từ “về” có phạm vi biểu vật là chết

Ví dụ 2: Từ tiết

Trong các từ: tiết gà, tiết vịt, nóng tiết … thì phạm vi biểu vật của tiết là máu của động vật Còn khi nói “tiết thanh minh”, “tiết xuân phân” … thì phạm

vi biểu vật của “tiết” là thời gian, đó là ngày cách nhau giữa tháng (âm lịch)

Theo Đỗ Hữu Châu phạm vi biểu vật có những đặc điểm sau:

Trang 7

Phạm vi biểu vật của từ không hoàn toàn trùng với sự vật, hiện tượng, tính chất… trong thực tế khách quan trừ các từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học Thực tế khách quan về cơ bản đồng nhất với mọi dân tộc, mọi ngôn ngữ Song mọi ngôn ngữ lại có những tên gọi tương ứng với những bộ phận không đồng đều, ứng với những đoạn cắt thực tế khác nhau Số lượng từ ngữ của ngôn ngữ này ứng với một phạm vi sự vật, hiện tượng… khách quan có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với số lượng từ ngữ ở ngôn ngữ kia Thậm chí cùng một phạm vi sự vật, hiện tượng mà ngôn ngữ này có, ngôn ngữ kia lại không có từ biểu thị

Ví dụ: Để chỉ hoạt động dùng nước làm cho sạch:

Tiếng Việt Giặt Rửa Gội Vo

Như vậy, phạm vi biểu vật không trùng với sự vật, hiện tượng…y như chúng có trong thực tế Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi

Ý nghĩa biểu vật của từ mang tính khái quát Trong thực tế khách quan sự vật, hiện tượng tồn tại trong dạng cá thể và gắn bó chặt chẽ với nhau trong tính

cụ thể của chúng nhưng nghĩa biểu vật của từ không chỉ riêng một cá thể của đối tượng, chỉ phản ánh sự vật trong dạng khái quát

Ví dụ: Trong thực tế ta bắt gặp những “cái cây” độc lập riêng rẽ với nhau

mà không gặp “loại” cây trọn vẹn nhưng ý nghĩa biểu vật của từ cây lại là loại của “cái cây” đó

Tính khách quan của ý nghĩa biểu vật cũng không giống nhau Phạm vi rộng hẹp của các loại mà từ biểu thị là khác nhau, có những từ chỉ loại rộng, có những từ chỉ loại hẹp và những loại hẹp này là những loại nhỏ nằm trong các loại lớn Phạm vi biểu vật khác nhau còn thể hiện trong quan niệm của từng loại ngôn ngữ

Ví dụ: “bàn, ghế, gường, tủ, ” là các loại hẹp nằm trong loại lớn “đồ

đạc”

Mỗi ngôn ngữ lại có các kiểu cấu tạo từ và hệ thống hình vị cấu tạo không giống nhau nên ý nghĩa của cấu tạo là khác nhau, tạo điều kiện hoặc cản trở ý

Trang 8

nghĩa biểu vật nào đó trong ngôn ngữ Như vậy, nghĩa biểu vật là thành phần ý nghĩa đầu tiên của từ, đó là những mẫu, những mảnh, những đoạn cắt của thực

tế, nó không hoàn toàn trùng với thực tế khách quan

1.1.3 Trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu vật về thời gian

Trường nghĩa biểu vật là tiểu hệ thống trong từ vựng của một ngôn ngữ Theo Đỗ Hữu Châu “Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật” [1, tr.173] Có nhiều trường biểu vật lớn, nhỏ khác nhau Có thể

có nhiều trường biểu vật nhỏ trong một trường biểu vật lớn So sánh các trường biểu vật lớn với nhau cũng như các trường biểu vật nhỏ trong một trường biểu vật lớn ta thấy chúng rất khác nhau về số lượng từ ngữ cũng như về tổ chức

Ví dụ: Trường nghĩa về trạng thái con người

Trạng thái con người Trạng thái sinh lí Trạng thái trí tuệ Trạng thái nội tâm

Buồn, vui, giận dữ, căm phẫn, phẫn nộ, kích động, nao nức, nôn nao, rung động, xao xuyến Trường nghĩa biểu vật trong tiếng Việt rất phong phú, trong số đó có trường nghĩa biểu vật về thời gian

Trường nghĩa thời gian Thời gian nói

chung

Thời điểm Thời lượng Quan hệ thời

gian giây, phút, giờ,

ngày, tháng,

năm, xuân, hạ,

thu, đông,…

buổi, sáng, trưa, chiều, tối, sớm, khuya, hoàng hôn, bình minh…

trăm năm, ngàn năm, vạn năm, nghìn năm,…

ngày sau, nghìn xưa, ngày xưa, thời xưa, từ xưa,…

Trang 9

Ngoài ra còn có những từ ngữ chỉ sự vận động của thời gian như:

“phượng nở”, “sen tàn”, “mai nở” ở đây những từ ngữ này đang biểu thị sự vận động của thời gian mà cụ thể đó là tín hiệu của sự chuyển mùa “Phượng nở” đó

là dấu hiệu của mùa hè, chẳng hạn như trong câu thơ Đêm tháng Năm hoa

phượng nở bên hè/ Trang giấy trắng bộn bề bao kí ức, lúc này “phượng nở” đặt

trong ngữ cảnh của câu thơ có khả năng biểu thị về thời gian Tương tự “sen tàn” báo hiệu đã cuối mùa hạ và “mai nở” chính là dấu hiệu của mùa xuân nếu đặt chúng trong những ngữ cảnh nhất định Tuy những từ ngữ này không nằm trong trường nghĩa biểu thị thời gian nhưng đó là cách nói gián tiếp biểu thị sự vận động của thời gian

1.2 Đôi nét về Xuân Quỳnh và tập thơ “Không bao giờ là cuối ”

1.2.1 Xuân Quỳnh – cuộc đời và trang thơ

Nhà thơ Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại xã La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây Chị xuất thân trong một gia đình công chức nghèo, sớm mồ côi mẹ, ở với bà nội từ nhỏ cho đến khi trưởng thành Tháng 2/1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào đoàn văn công Trung ương nhân dân Là diễn viên múa xuất sắc, được đào tạo bài bản, đã nhiều lần, Xuân quỳnh được chọn đi biểu diễn ở nước ngoài và dự đại hội sinh viên thế giới năm 1959 tại Viên, Thủ đô nước Áo Sau khi có một số bài thơ xuất hiện trên các báo, Xuân

Quỳnh được cử học trường Bồi dưỡng những người viết văn trẻ khoá I (1962 -

1964) của Hội Nhà văn Việt Nam

Từ sau năm 1964 đến trước năm 1978, Xuân Quỳnh làm biên tập viên tuần báo Văn nghệ và trở thành hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam vào năm 1967,

Uỷ viên ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam Khoá III

Từ năm 1978 nhà thơ Xuân Quỳnh là cán bộ biên tập của Nhà xuất bản Tác phẩm mới Các tác phẩm đã xuất bản: Tơ tằm – Chồi biếc, Hoa dọc chiến

hào (in chung) Gió lào - cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978) Sân ga chiều em đi (1984), Tự hát (1984), Bến tàu trong phố (tập truyện thơ thiếu nhi -

1985)

Trang 10

Vào những năm đầu 80, Xuân Quỳnh viết nhiều tác phẩm văn học thiếu nhi: Mùa xuân trên cánh đồng (1981 truyện thiếu nhi), Bầu trời trong quả trứng,

Cây trong phố – chờ trăng (thơ thiếu nhi, in chung - 1982), Truyện Lưu – Nguyễn, Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi - 1986)

Sau ngày mất, rất nhiều tác phẩm của Xuân Quỳnh được tái bản, xuất bản như: thơ Hoa cỏ may (1989), Thơ Xuân Quỳnh 1992, Thơ tình Xuân quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994), Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995) Các tác phẩm được

giải thưởng: Hoa cỏ may - giải thưởng về thơ của Hội Nhà Văn Việt Nam năm

1990, Bầu trời trong quả trứng - giải thưởng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1982 - 1983

Tuy không sinh ra và lớn lên từ quê biển, nhưng cảm xúc về “biển”, về

“sóng”, về “thuyền” của Xuân Quỳnh thấm đẫm chất triết lý nhân gian của người xứ biển, quyện lẫn chất trữ tình đậm chất nhân văn của thời đại Chất thơ trữ tình của của Xuân Quỳnh đan quyện cái đắm đuối của cảm xúc trẻ trung vừa đồng thời là niềm lo âu hạnh phúc của người đã qua trải nghiệm, đem đến cho người đọc niềm cảm chân thành, sự lôi cuốn lãng mạn, nóng hổi tình đời, tình người

Năm 2001 nhà thơ Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Gió lào cát trắng (1974), Hoa cỏ may (1989), Tự hát (1984)

Suy nghĩ về nghề văn, Xuân Quỳnh bộc bạch: Vì thích thú nên làm văn

học và cảm thấy như mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa Khi mới vào nghề bị xô đẩy, khinh rẻ nên tôi quyết phải sống Mà sống tức là phải viết Nói được niềm vui nỗi khổ của chính mình, tôi cảm thấy có cái sung sướng không mấy ai có Như người khác không yêu, mà mình được yêu Như người khác chỉ biết im lặng mà mình biết nói, và nói lên được thành tiếng

Có thể nói nếu thơ ca là sự tự thể hiện ở mức cao nhất cái tôi trữ tình của nhà thơ, thì ở Xuân Quỳnh đặc điểm bản chất này của thơ càng được bộc lộ rõ nét Thơ chị như một “bản vẽ” của tâm hồn, cuộc đời chị Tâm hồn “đời thường”

Trang 11

của Xuân Quỳnh quấn quyện vào tâm hồn thơ làm một Đi dọc chiều dài thơ Xuân Quỳnh có thể thấy hành trình của một cuộc đời với những nỗi buồn đau rất riêng, những khát khao hạnh phúc tình yêu, những rung động trước thiên nhiên, thời đại…

1.2.2 Tập thơ “Không bao giờ là cuối”

Năm 2011 nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ đã tập hợp toàn bộ thơ Xuân

Quỳnh thành tập Không bao giờ là cuối Phần đầu mang tên Dẫu biết chắc rằng

anh trở lại gửi đến người đọc những bài thơ tình quen và lạ của Xuân Quỳnh,

trong đó có một mảng thơ viết tặng Lưu Quang Vũ - người mà chị yêu sâu sắc

đến tận những giây phút cuối cùng của cuộc đời

Ở phần hai, ta sẽ gặp những trăn trở, suy ngẫm về cuộc đời của tác giả

trong những năm tháng không yên Phần cuối tập thơ mang tên Bầu trời trong

quả trứng mang đến cho chúng ta cái nhìn về một Xuân Quỳnh dí dỏm, hồn

nhiên với những sáng tác cho thiếu nhi như một luồng sáng lấp lánh, trong trẻo của thi ca đương đại

Bên cạnh những bức minh họa của họa sĩ Lương Xuân Đoàn, đặc biệt ở

phần thơ thiếu nhi còn có những bức minh họa của Lưu Quỳnh Thơ - con trai út

của Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh, cùng với đó là phần thủ bút của tác giả

Trong nền thơ Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có phong cách và bản sắc riêng khá rõ nét Trải qua năm tháng sống và viết, yêu thương và lao động nghệ thuật hết mình, Xuân Quỳnh đã để lại cho đời một di sản văn học thật đáng quý Ngòi bút của chị đã được thử thách qua thời gian với nhiều loại chủ đề khác nhau, trong đó có những bài thơ tình yêu đã đạt tới đỉnh cao

Trên con đường hoạt động văn học nghệ thuật không dài lắm, với tư cách

người phụ nữ - người yêu - người vợ và người mẹ, sáng tác của Xuân Quỳnh đã

đi vào lòng bạn đọc nhiều thế hệ như là tiếng nói tiêu biểu của tình yêu và tình mẫu tử Đó là tiếng nói trữ tình dịu dàng sâu lắng, chứa đựng hơi thở của thời hiện đại mà vẫn in dấu truyền thống của tâm hồn dân tộc tự ngàn xưa

Trang 12

Đời thơ Xuân Quỳnh cũng trọn vẹn là đời yêu của người đàn bà, dù bao tổn thương, nghi vấn, vẫn không một lần chối bỏ tình yêu Thơ Xuân Quỳnh giản dị, không cầu kỳ, không cần vất vả tìm kiếm ngôn từ, bởi ngôn ngữ thơ nằm ngay trong trái tim người phụ nữ này, trong tình yêu lớn mà chị theo đuổi

cả cuộc đời mình

Trong tập thơ còn bắt gặp một Xuân Quỳnh tươi trẻ, nồng hậu qua những trang viết dành cho thiếu nhi Những vần thơ ấy đã gieo vào lòng người tình yêu cuộc sống, tình yêu con người và yêu nhân thế

Thơ Xuân Quỳnh giúp người ta chiêm nghiệm ra một điều bất biến rằng: còn sống là còn yêu Đời thơ Xuân Quỳnh trọn vẹn là cuộc đời của một người đàn bà dù có trải qua bao sóng gió vẫn cứ yêu đời, yêu thơ và không bao giờ chối bỏ tình yêu Đó hình như cũng là điều khiến nhiều thế hệ độc giả trước kia, bây giờ và cả sau này vẫn yêu mến chị

`

Trang 13

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG

THƠ XUÂN QUỲNH

Trên cơ sở lí luận trên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát nhằm thống kê

những từ ngữ chỉ thời gian trong tập thơ Không bao giờ là cuối Trên những số

liệu đã thống kê được, chúng tôi tiến hành phân tích và miêu tả những từ ngữ thời gian (dựa theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, 2011)

2.1 Các từ chỉ thời gian có phạm vi biểu vật là các đối tượng thuộc về thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

2.1.1 Từ chỉ thời gian có phạm vi biểu vật là các đối tượng thuộc về thời gian

2.1.1.1 Từ chỉ thời gian có phạm vi biểu vật là các đối tượng thuộc về thời gian xét theo cấu tạo

Xét theo cấu tạo từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh có 3 loại là từ đơn, từ ghép và từ láy

a Từ đơn

Trong thơ Xuân Quỳnh có 30 từ đơn trên 88 từ chỉ thời gian xét theo cấu tạo, chiếm 34,0% Về từ đơn chúng tôi chia thành 3 nhóm là: Từ thể hiện đơn vị thời gian, từ thể hiện thời điểm và từ thể hiện thời gian đối với đời người

* Từ thể hiện đơn vị thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.1 a1: Bảng thống kê từ thể hiện đơn vị thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 14

Với những từ thể hiện đơn vị thời gian, chúng tôi phân tích theo 2 nhóm:

Từ thể hiện đơn vị thời gian được Xuân Quỳnh dùng theo nghĩa thời gian được

xác định gồm các từ sau: “canh, độ, rằm, tháng, hè, thu, đông, xuân, năm, Tết”

Từ thể hiện đơn vị thời gian được Xuân Quỳnh dùng theo nghĩa là một đại lượng thời gian nhưng không chính xác tuyệt đối gồm các từ sau: “giây, phút, giờ, ngày, mùa”

* Ở nhóm thứ nhất, chúng tôi xin phân tích những từ sau:

Canh: Trong TĐTV là từ nhiều nghĩa, xét về phương diện thời gian là khoảng

thời gian bằng 1/5 của đêm, thời trước dùng làm đơn vị tính thời gian về ban đêm [16, tr.149] Từ “canh” xuất hiện một lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 1: Những lời ru vời vợ canh khuya

Con vẫn nhớ (Gửi mẹ)

Độ: Theo TĐTV là một từ nhiều nghĩa, đó là khoảng thời gian nào đó [16,

tr.440] “Độ” xuất hiện 3 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 2: Hoa mấy độ ra hoa

Đất mấy độ thêm nhà (Chùm thơ xuân cho ba con nhỏ)

Rằm: Theo TĐTV là ngày thứ mười lăm trong tháng âm lịch [16, tr.1059]

Trong thơ Xuân Quỳnh “rằm” xuất hiện một lần

Trang 15

Ví dụ 3: Giữa đêm Rằm bày cỗ vui chơi

Cùng bạn nhỏ rước đèn múa hát (Khát vọng)

* Ở nhóm thứ 2, chúng tôi chỉ tập trung phân tích 2 từ “ngày” và

“mùa”

Ngày: Trong TĐTV là từ nhiều nghĩa, xét về mặt thời gian là khoảng thời gian

trái đất tự xoay quanh nó đúng một vòng bằng 24 giờ; Khoảng thời gian 24 giờ hoặc khoảng 24 giờ; Khoảng thời gian từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn [16, tr.860] Trong thơ Xuân Quỳnh “ngày” xuất hiện 49 lần Ngoài nét nghĩa gốc nói trên thì “ngày” trong thơ Xuân Quỳnh còn được dùng theo nghĩa hoán

dụ như: ngày nắng xế, ngày nắng khét, ngày sóng gió, ngày trở rét, ngày vất vả, Như vậy “ngày” trong thơ Xuân Quỳnh mang nhiều nét nghĩa khác nhau,

ví dụ như trong câu thơ sau:

Ví dụ 4: Biển vẫn ấm những ngày trở rét

Biển vẫn mát những ngày nắng khét (Biển)

Ở đây “ngày” không còn là khoảng thời gian 24 giờ nữa mà là khoảng thời gian dài mang đặc trưng của thời tiết

Mùa: Trong TĐTV là một từ đa nghĩa, đó là phần của năm, phân chia theo đặc

điểm về thiên văn thành những khoảng thời gian xấp xỉ bằng nhau; Phần của năm chia theo những đặc điểm và diễn biến khí hậu, có thể dài ngắn, sớm muộn tùy khu vực, tùy năm; phần của năm, phân chia theo những đặc điểm sản xuất nông nghiệp, tùy nơi và tùy năm có thể dài ngắn, sớm muộn khác nhau, đã thành thường lệ hằng năm [16, tr.831] Trong thơ Xuân Quỳnh “mùa” xuất hiện 34 lần Nhưng trong thơ Xuân Quỳnh “mùa” không chỉ mang nét nghĩa chỉ mùa

như: mùa xuân, mùa hạ, mùa thu mà nó còn là mùa nắng, mùa mưa, mùa múa,

mùa ngô, mùa rét Như vậy từ “mùa” trong thơ Xuân Quỳnh ngoài mang nghĩa

gốc thì “mùa” còn được dùng theo nghĩa hoán dụ Như trong ví dụ sau:

Ví dụ 5: Lá rụng che cho anh mùa rét (Các anh)

Trang 16

Ở đây “mùa rét” chỉ khoảng thời gian mà thời tiết lạnh rất khó chịu kéo dài, thời tiết này thường chỉ có ở miền Bắc và lúc này Xuân Quỳnh đang lo sức khỏe của chồng mình trong những ngày giá rét

* Từ thể hiện thời điểm trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.1 a2: Bảng thống kê từ thể hiện thời điểm trong thơ Xuân

Lúc: Theo TĐTV là một từ đa nghĩa, xét về mặt thời gian là một khoảng thời

gian ngắn không xác định, thường là trong phạm vi một ngày đêm; Thời điểm gắn với một sự kiện hoạt động nhất định [16, tr.759] Trong thơ Xuân Quỳnh

“lúc’ xuất hiện 7 lần

Ví dụ 6: Lúc này anh đã đi xa

Trang 17

Hết nỗi lo em trong vòng sống chết (Những năm tháng không yên)

“Lúc” trong câu thơ này gắn với một sự kiện cụ thể, anh đi rồi em không còn lo sợ nữa Đã qua mười hai ngày tận cùng của lòng đau

Thuở: Theo TĐTV là khoảng thời gian không xác định đã lùi xa vào quá khứ

hoặc đôi khi thuộc về tương lai [16, tr.1242] Trong thơ Xuân Quỳnh “thuở” xuất hiện 4 lần

Ví dụ 7: Vườn hoa trẻ như thuở mười sáu tuổi

Cọng rơm mới tháng Mười thơm trải (Em có đem gì theo đâu)

Ở đây, Xuân Quỳnh ví vườn hoa trẻ như sự tươi trẻ của tuổi mười sáu Thuở mười sáu tuổi của Xuân Quỳnh là khoảng thời gian đẹp nhất, trong sáng, ngây thơ

Buổi: Trong TĐTV là từ nhiều nghĩa, đó là khoảng thời gian trong ngày chia

theo trình tự tự nhiên, dựa vào tính chất của ánh sáng hoặc theo thì giờ lao động

và nghỉ ngơi; Khoảng thời gian nhất định mà sự việc nói tới xảy ra [16, tr.124] Trong thơ Xuân Quỳnh “buổi” xuất hiện 2 lần

Ví dụ 8: Những đàn ong kiếm mật buổi ban mai

Cỏ bên sông, và bãi sa bồi (Bầu trời đã trở về)

“Buổi” có thể là khoảng thời gian rất dài nếu đặt nó trong một câu văn cụ thể như “Buổi bình minh của lịch sử loài người” nhưng cũng có thể là khoảng thời gian ngắn và xác định như “buổi ban mai” trong câu thơ trên Buổi ban mai

là thời điểm bắt đầu một ngày mới, lúc này những đàn ong bắt đầu đi kiếm mật

* Từ thể hiện thời gian đối với đời người trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.1 a3: Bảng thống kê từ thể hiện thời gian đối với đời người trong

thơ Xuân Quỳnh

Trang 18

Tuổi: Trong TĐTV là từ đa nghĩa, xét về mặt thời gian là năm, dùng làm đơn vị

tính thời gian sống của người; Thời kì nhất định trong đời người, về mặt có những đặc trưng tâm sinh lí nào đó [16, tr.1364] Trong thơ Xuân Quỳnh “tuổi” xuất hiện 9 lần

Ví dụ 9: Các anh đã trở nên liệt sĩ

Trước tuổi biết đào sông, trước tuổi biết xây nhà (Những miền đất)

Xuân: Trong TĐTV là một đa nghĩa, đó là thuộc về tuổi trẻ, coi là tươi đẹp,

tràn đầy sức sống [16, tr.1476] Trong thơ Xuân Quỳnh “xuân” xuất hiện 8 lần

Ví dụ 10: Mơ ước viển vông, niềm vui thơ dại

Tuổi xuân mình tưởng mãi vẫn tươi xanh (Có một thời như thế)

Trang 19

Tổng 27 100

Nhìn vào bảng thống kê ta thấy có tất cả 9 từ ghép đẳng lập chỉ thời gian với 27 lần xuất hiện chiếm 17,7 % trên 51 từ ghép Ngoài nét nghĩa gốc thì những từ ghép đẳng lập mà chúng tôi thống kê trong thơ Xuân Quỳnh còn được dùng theo nghĩa hoán dụ Ví dụ như:

Đêm ngày: Theo TĐTV là ngày cũng như đêm, liên tục không ngừng [16,

tr.410] Trong thơ Xuân Quỳnh “đêm ngày” xuất hiện 1 lần Ở đây, trong thơ Xuân Quỳnh “đêm ngày” là khoảng thời gian dài và liên tục

Ví dụ 11: Chúng tôi đào, đào suốt đêm ngày

Moi đất đá để tìm ra nước (Cơn mưa không phải của mình)

Giây phút: Theo TĐTV là khoảng thời gian hết sức ngắn, thường gắn với một

sự kiện nào đó [16, tr.516] Trong thơ Xuân Quỳnh “giây phút” xuất hiện 2 lần Trong câu thơ này “giây phút” có nghĩa là từng khoảnh khắc ngắn ngủi nhất của cuộc đời thì trái tim của Xuân Quỳnh cũng sống cho chồng mình

Ví dụ 12: Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực

Giây phút nào tim chẳng đập vì anh (Chỉ có sóng và em)

Năm tháng: Theo TĐTV là thời gian dài, không xác định, thường là trong quá

khứ [16, tr.847] Trong thơ Xuân Quỳnh “năm tháng” xuất hiện 11 lần Trong câu thơ này “năm tháng” được hiểu là thời gian

Ví dụ 13: Biết bao nhiêu năm tháng đi qua

Dấu biển đã trải dài chiến trận (Biển)

+ Từ ghép chính phụ: Trong thơ Xuân Quỳnh có 42 từ ghép chính phụ

trên tổng số 51 từ ghép, chiếm 82,3 % Với từ ghép chính phụ chúng tôi chia thành 4 nhóm là: Từ chỉ thời điểm, từ chỉ cách tính đếm thời gian, từ chỉ quan hệ thời gian và từ chỉ tính chất thời gian

* Từ ghép chính phụ chỉ thời điểm trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.1 b2: Bảng thống kê từ ghép chính phụ chỉ thời điểm trong thơ

Xuân Quỳnh

Trang 20

Ban đêm: Theo TĐTV là khoảng thời gian từ sau khi trời tối cho tới khi trời

sáng, phân biệt với ban ngày [16, tr.38] “Ban đêm” xuất hiện 1 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 14: Trong im lìm cảnh giác của ban đêm

Làng xóm bên đường vừa lạ vừa quen (Những năm ấy)

Ban ngày: Theo TĐTV là khoảng thời gian từ sau khi trời sáng cho đến khi trời

tối; phân biệt với ban đêm [16, tr.38] Trong thơ Xuân Quỳnh “ban ngày” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 15: Đất chung sống với ban ngày

Trang 21

Người chung sống với hàng cây người trồng (Lời ru trên mặt đất

Ban mai: Theo TĐTV là buổi sáng, lúc sáng sớm [16, tr.38] “Ban mai” xuất

hiện 1 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 16: Mỗi sáng dậy tôi chào mặt đất

Những đàn ong kiếm mật buổi ban mai (Bầu trời đã trở về)

Đầu năm: Theo TĐTV là những ngày đầu tháng giêng [16, tr.344] “Đầu năm”

xuất hiện 1 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 17: Gió đầu năm thổi qua

Trên những hàng cây mới (Chùm thơ xuân cho ba con nhỏ)

Hiện tại: Theo TĐTV là thời gian đang diễn ra; đối lập với quá khứ và tương lai

[16, tr 565] Trong thơ Xuân Quỳnh “hiện tại” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 18: Còn hiện tại của em là nỗi nhớ

Thời gian ơi sao không đổi sắc màu (Thời gian trắng)

* Từ ghép chính phụ chỉ cách tính đếm thời gian trong thơ Xuân Quỳnh Bảng 2.1.1.1 b3: Bảng thống kê từ ghép chính phụ chỉ cách tính đếm thời

gian trong thơ Xuân Quỳnh

* Từ ghép chính phụ chỉ quan hệ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.1 b4: Bảng thống kê từ ghép chính phụ chỉ quan hệ thời gian

trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 22

Ban đầu: Theo TĐTV là lúc mới bắt đầu, buổi đầu [16, tr.38] “ban đầu” xuất

hiện 1 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 19: Trái tim ta như nắng thuở ban đầu

Chưa chút gợn một lần cay đắng (Hoa cúc xanh)

Bao giờ: theo TĐTV là khoảng thời gian nào đó không rõ hoặc không muốn nói

rõ nhưng với ý từ lâu lắm hoặc từ lâu lắm [16, tr.49] Trong thơ Xuân Quỳnh

“bao giờ” xuất hiện 16 lần

Ví dụ 20: Biết bao giờ cho đến mùa xuân

Em sẽ kể anh nghe về chuyện cỏ (Không đề II)

Trang 23

Bây giờ: Theo TĐTV là từ dùng để chỉ khoảng thời gian hiện đang nói [16,

tr.73] Trong thơ Xuân Quỳnh “bây giờ” xuất hiện 24 lần

Ví dụ 21: Mãi nghĩ đến bây giờ mãi nghĩ đến ngày mai

Quay bốn bên đâu cũng nụ cười (Những năm ấy)

Bấy giờ: Theo TĐTV là từ dùng để chỉ khoảng thời gian được xác định được

nói đến trong quá khứ hoặc trong tương lai [16, tr.73] “Bấy giờ” xuất hiện 1 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 22: Bấy giờ là tháng Ba

Tu hú kêu ngoài bãi (Tháng Ba, viết cho chị)

Chiều hôm: Theo TĐTV là lúc mặt trời sắp lặn [16, tr 217] “Chiều hôm” xuất

hiện 1 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 23: Một ráng đỏ chiều hôm

Một tình yêu đã mất (Hoa ti gôn)

Chiều nay: Theo TĐTV tức là chiều bữa nay, chiều đang nói [16, tr 242]

Trong thơ Xuân Quỳnh “chiều nay” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 24: Trời Ninh Bình chiều nay hẳn nhiều mây

Mưa to thế chắc sông tràn bờ cỏ (Không đề I)

Hôm nay: Theo TĐTV là ngày hiện tại, khi đang nói [16, tr.594] Trong thơ

Xuân Quỳnh “hôm nay” xuất hiện 12 lần

Ví dụ 25: Là hôm nay có hai người vừa đến

Bàn tay em trong tay anh siết chặt (Thành phố lạ)

Hôm qua: Theo TĐTV là ngày liền trước ngày hôm nay [16, tr.594] Trong thơ

Xuân Quỳnh “hôm qua” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 26: Chúng lo đi mẹ chưa dậy

Nên chào mẹ từ hôm qua (Lòng mẹ)

Mai sau: Theo TĐTV là thời gian tương đối xa về sau này [16, tr.779] Trong

thơ Xuân Quỳnh “mai sau” xuất hiện 6 lần

Ví dụ 27: Rồi mai sau đến tuổi trưởng thành

Niềm tin cũ với con không đủ nữa (Nói với con)

Trang 24

Năm nay: Theo TĐTV là năm hiện đang nói [16, tr.762] Trong thơ Xuân

Quỳnh “năm nay” xuất hiện 3 lần

Ví dụ 28: Tết năm nay rét muộn

Cuối xuân còn nhiều hoa (Tháng Ba, viết cho chị)

Ngày mai: Theo TĐTV là ngày liền sau ngày hôm nay [16, tr.861] “Ngày mai”

trong thơ Xuân Quỳnh xuất hiện 12 lần

Ví dụ 29: Ngày mai cây lúa lên đòng

Lại xanh như đã từng không mất mùa (Hát ru chồng những đêm khó ngủ)

Ngày nay: Theo TĐTV là thời bây giờ [16, tr.861] “Ngày nay” xuất hiện 1 lần

trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 30: Tôi đâu còn như xưa

Tôi ngày nay đã lớn (Bầu trời trong quả trứng)

Ngày sau: Theo TĐTV là ngày sẽ tới trong tương lai xa, sau này [16, tr.861]

“Ngày sau” trong thơ Xuân Quỳnh xuất hiện 5 lần

Ví dụ 31: Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế (Sóng)

Ngày xưa: Theo TĐTV là thời gian đã qua, cách thời nay rất lâu [16, tr.862]

“Ngày xưa” trong thơ Xuân Quỳnh xuất hiện 29 lần

Ví dụ 32: Phố huyện anh ở ngày xưa

Phố huyện nào anh ở những chiều mưa (Phố huyện)

Quá khứ: Theo TĐTV là thời gian đã qua [16, tr.1026] “Quá khứ” trong thơ

Xuân Quỳnh xuất hiện 14 lần

Ví dụ 33: Một quá khứ ra đi cùng gió thổi

Thời gian trôi, kí ức sẽ phai nhòa (Lại bắt đầu)

Vừa mới: Theo TĐTV là ngay trước đây, hoặc trước đây không lâu [16,

tr.1445] Trong thơ Xuân Quỳnh “vừa mới” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 34: Có một thời vừa mới bước ra

Mùa xuân đã gọi mời trước cửa (Có một thời như thế)

* Từ ghép chính phụ chỉ tính chất thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 25

Bảng 2.1.1.1 b5: Bảng thống kê từ ghép chính phụ chỉ tính chất thời gian

trong thơ Xuân Quỳnh

Muôn đời: Theo TĐTV là thời gian hết đời này qua đời khác, mãi mãi về sau

[16, tr.835] Trong thơ Xuân Quỳnh “muôn đời” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 35: Rồi mặt nước muôn đời vẫn khép

Và muôn đời lặng lẽ một màu xanh (Biển)

Muôn thuở: Theo TĐTV là thời gian từ xưa đến nay và cả sau này, mãi mãi

[16, tr 836] Trong thơ Xuân Quỳnh “muôn thuở” xuất hiện 2 lần

Ví dụ 36: Bài hát nói về bao điều khao khát

Vẫn tình yêu muôn thuở tự ngàn xưa (Sẽ có mãi cô bé mười sáu tuổi)

Năm cũ: Theo TĐTV là năm vừa qua hoặc đã qua lâu [16, tr.762] Trong thơ

Xuân Quỳnh “năm cũ” xuất hiện 2 lần

Ví dụ 37: Sớm nay em bóc lịch

Năm cũ vừa qua (Lịch mới)

Ngàn xưa: Theo TĐTV là giống như nghìn xưa [16, tr 858] “Ngàn xưa” xuất

hiện 1 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 26

Ví dụ 38: Ngàn xưa cho tới mai sau

Vịnh xanh như buổi ban đầu tình yêu (Tình yêu trong lòng vịnh)

c Từ láy

Khảo sát thơ Xuân Quỳnh chúng tôi thống kê được khá nhiều từ láy trong trường nghĩa về thời gian Chúng tôi chia từ láy thành 3 nhóm là: Từ láy chỉ thời điểm, dạng láy của từ thể hiện số nhiều của thời gian và từ láy thể hiện tính chất của thời gian

* Từ láy chỉ thời điểm trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.1 c1: Bảng thống kê từ láy chỉ thời điểm trong thơ Xuân Quỳnh

Bình minh: Theo TĐTV là khoảng thời gian trời hửng sáng, lúc mặt trời vừa

mới mọc [16, tr.95] Trong thơ Xuân Quỳnh “bình minh” xuất hiện 3 lần

Ví dụ 39: Bình minh lại hoàng hôn

Chia ly và gặp gỡ (Gửi lại thành phố nắng)

Hoàng hôn: Theo TĐTV là lúc mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và yếu dần [16, tr

582] Trong thơ Xuân Quỳnh “hoàng hôn” xuất hiện 7 lần

Ví dụ 40: Hoàng hôn vàng như thóc

Con lao về ban mai (Tuổi ngựa)

* Dạng láy của từ thể hiện số nhiều của thời gian trong thơ Xuân Quỳnh Bảng 2.1.1.1 c2: Bảng thống kê dạng láy của từ thể hiện số nhiều của thời

gian trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 27

Tổng 4 100

Chiều chiều: Theo TĐTV là chiều này sang chiều khác, chiều nào cũng thế [16,

tr.217] Trong thơ Xuân Quỳnh “chiều chiều” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 41: Chiều chiều quen nhớ bầy em

Ríu ra ríu rít như chim trước nhà (Về những thói quen)

Đêm đêm: Theo TĐTV là đêm này sang đêm khác, đêm nào cũng vậy [16,

tr.410] Trong thơ Xuân Quỳnh “đêm đêm” xuất hiện 3 lần

Ví dụ 42: Thương ngọn đèn đêm đêm

Báo yên rồi lại sáng (Tháng Ba, viết cho chị)

* Từ láy thể hiện tính chất của thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.1 c3: Bảng thống kê từ láy thể hiện tính chất của thời gian trong

thơ Xuân Quỳnh

Nhìn vào 3 bảng thống kê, ta thấy có 7 từ láy với 18 lần xuất hiện, trong

đó “hoàng hôn” xuất hiện tần số cao nhất, chiếm 41,2 % trên tổng số các từ láy nói về thời gian

Mãi mãi: Theo TĐTV là luôn luôn [16, tr.699] Trong thơ Xuân Quỳnh “mãi

mãi” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 43: Màu xanh là mãi mãi

Như gốc hoa đã hái (Mười bảy tuổi)

Ngắn ngủi: Theo TĐTV là quá ngắn, quá ít so với mong muốn, yêu cầu [16,

tr.863] Trong thơ Xuân Quỳnh “ngắn ngủi” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 44: Dù chưa phải là lâu

Trang 28

Nhưng cũng không ngắn ngủi (Đêm cuối năm)

Vĩnh viễn: Theo TĐTV là mãi mãi, đời đời [16, tr.1401] Trong thơ Xuân

Quỳnh “vĩnh viễn” xuất hiện 1 lần

Ví dụ 45: Em đâu dám tin là vĩnh viễn

Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi (Tự hát)

2.1.1.2 Từ chỉ thời gian có phạm vi biểu vật là các đối tượng thuộc về thời gian xét theo từ loại

Xét theo từ loại từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh có 6 loại từ là danh

từ, động từ, tính từ, lượng từ, số từ và phó từ

a Danh từ

Đối với danh từ chúng tôi chia thành 4 nhóm là: Danh từ chỉ đơn vị thời gian, danh từ chỉ thời điểm, danh từ chỉ tính chất thời gian, danh từ chỉ thời gian đối với đời người

* Danh từ chỉ đơn vị thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.2 a1: Bảng thống kê danh từ chỉ đơn vị thời gian trong thơ Xuân

Trang 29

12 mùa đông 13 8,1

* Danh từ chỉ thời điểm trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.2 a2: Bảng thống kê danh từ chỉ thời điểm trong thơ Xuân

Trang 30

* Danh từ chỉ tính chất thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.2 a3: Bảng thống kê danh từ chỉ tính chất thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

* Danh từ chỉ thời gian đối với đời người trong thơ Xuân Quỳnh

Bảng 2.1.1.2 a4: Bảng thống kê danh từ chỉ thời gian đối với đời người trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 31

Đến: Theo TĐTV là một từ nhiều nghĩa đó là bắt đầu hoặc bắt đầu xảy ra vào

một lúc nào đó [12, tr.411] Trong thơ Xuân Quỳnh “đến” xuất hiện 7 lần

Ví dụ 46: Em đi mùa gặt đến

Xuân từ thảo nguyên xa (Lịch mới)

Đi: Theo TĐTV là một từ nhiều nghĩa đó là từ biểu thị kết quả của một quá trình

giảm sút, suy giảm; Biến mất một cách dần dần, không còn giữ nguyên hương vị như ban đầu[16, tr.412] Trong thơ Xuân Quỳnh “đi” xuất hiện 14 lần

Ví dụ 47: Mùa đi cùng tháng năm

Tuổi theo mùa đi mãi (Thơ tình cuối mùa thu)

Hết: Theo TĐTV là một từ nhiều nghĩa đó là không còn nữa, sau một quá trình

tiêu hao, mất dần [16, tr.561] Trong thơ Xuân Quỳnh “hết” xuất hiện 3 lần

Ví dụ 48: Mùa xuân đã về đâu

Khi nơi này xuân hết (Mười bảy tuổi)

Qua: Theo TĐTV là một từ nhiều nghĩa đó là sống hết một khoảng thời gian

nào đó; trôi đi hoặc trở thành thuộc về quá khứ; Bước vào, tiếp đến một thời gian nào đó sau khi đã hết một khoảng thời gian nhất định; Chịu tác động trực tiếp của cả một quá trình nào đó [16, tr.1024] Trong thơ Xuân Quỳnh “qua” xuất hiện 3 lần

Ví dụ 49: Vượt qua tháng qua năm

Vượt qua đồi qua suối (Bao giờ ngâu nở hoa)

Trôi: Theo TĐTV là một từ nhiều nghĩa đó là thời gian qua đi tự nhiên ngoài sự

để ý của con người [16, tr.1334] “Trôi” xuất hiện 1 lần trong thơ Xuân Quỳnh

Ví dụ 50: Thời gian trôi kí ức sẽ phai nhòa (lại bắt đầu)

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1996), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
2. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Đỗ Hữu Châu (chủ biên) (2003), Đại cương ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
4. Đỗ Hữu Châu (chủ biên) (2004), Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
5. Hữu Đạt, (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
6. Mai Ngọc Chừ - Hoàng Trọng Phiến – Vũ Đức Nghiệu (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ - Hoàng Trọng Phiến – Vũ Đức Nghiệu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
7. Nguyễn Đức Dân, “Tri nhận thời gian trong Tiếng Việt”, Tạp chí ngôn ngữ, số 12/2009, tr. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri nhận thời gian trong Tiếng Việt
8. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
9. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2007), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
11. Lê Đức Luận (2012), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm nhìn nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2012
12. Ngô Viết Dinh (2003), Đến với thơ Xuân Quỳnh, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến "với "thơ Xuân Quỳnh
Tác giả: Ngô Viết Dinh
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2003
13. Ngân Hà (2003), Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình
Tác giả: Ngân Hà
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
14. Vương Trí Nhàn (2002), Cây bút đời người, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây bút đời người
Tác giả: Vương Trí Nhàn
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2002
15. Vân Long (1998), Xuân Quỳnh thơ và đời, NXB Văn Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh thơ và đời
Tác giả: Vân Long
Nhà XB: NXB Văn Hóa
Năm: 1998
16. Hoàng Phê (2011), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng. Nguồn ngữ liệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng. Nguồn ngữ liệu
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w