1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong thơ xuân quỳnh

108 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 666,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án đi vào những đặc trưng của tín tiệu thẩm mĩ như: tính đẳng cấu, tính tác động, tính biểu cảm, tính biểu hiện, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể, tính truyền thống và cá

Trang 1

Đà Nẵng, Năm 2013

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:

TS Bùi Trọng Ngoãn

Đà Nẵng, Năm 2013

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bùi Trọng Ngoãn

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Trọng Đạt

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Dự kiến đóng góp của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cấu trúc đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 KHÁI NIỆM TÍN HIỆU, TÍN HIỆU NGÔN NGỮ, TÍN HIỆU THẨM MĨ 8

1.1.1 Tín hiệu 8

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 10

1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ 13

1.2 TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN 19

1.2.1 Từ ngữ chỉ thời gian trong tiếng Việt 19

1.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong văn chương 21

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 25

2.1 TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN LÀ TỪ 25

2.1.1 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian là từ đơn 25

2.1.2 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian là từ ghép 28

2.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian là từ láy 38

2.2 TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN LÀ CỤM TỪ 40

2.2.1 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian là cụm từ đẳng lập 40

2.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian là cụm từ chính phụ 43

2.2.3 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian là cụm từ chủ vị 52

Trang 5

2.3.2 Tín hiệu thẩm mĩ là liên câu 57 CHƯƠNG 3 Ý NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 62 3.1 TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN BIỂU HIỆN CHO SỰ HOÀI NIỆM

VỀ QUÁ KHỨ 62 3.1.1 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian biểu hiện cho sự hoài niệm về quá khứ tuổi thơ 63 3.1.2 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian biểu hiện cho sự hoài niệm về những ký

ức của tình yêu, tuổi trẻ 68 3.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian biểu hiện cho những hoài niệm về quá khứ đời thường, quá khứ chiến tranh 73 3.2 TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN BIỂU HIỆN CHO NHỮNG TRĂN TRỞ DAY DỨT Ở HIỆN TẠI 76 3.2.1 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian biểu hiện cho những trăn trở day dứt về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi 77 3.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian biểu hiện cho sự day dứt, trăn trở về những ngày tháng chiến tranh tàn khốc 87 3.3 TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN BIỂU HIỆN CHO NHỮNG DỰ CẢM XÓT XA, SỰ KHẮC KHOẢI VỀ TƯƠNG LAI 88 3.3.1 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian biểu hiện cho những dự cảm xót xa khi đời người hữu hạn, tình yêu hữu hạn 89 3.3.2 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian biểu hiện cho sự khắc khoải về thời gian đoàn tụ phía trước 94 KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Được đưa vào nước ta những năm 1970- 1990, ngay từ đầu tín hiệu thẩm mĩ đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học Đó là một vấn đề có tính chất liên ngành: tín hiệu học, ngữ nghĩa học, thi pháp học và được nghiên cứu ở nhiều góc độ và ở những mức độ khác nhau Nhìn chung trong một chừng mực đã có một hệ thống lí luận cơ bản cho một vấn đề còn tương đối mới mẻ này

Trần Đình Sử khẳng định: “Bước vào thế giới nghệ thuật là bước vào thế giới của ngôn ngữ chứ không phải bước vào hiện thực khách quan hay miếu thờ lịch sử” [36, tr 129] Văn bản văn học là văn bản nghệ thuật, có sự gắn bó chặt chẽ giữa hình thức với nội dung, có ngôn ngữ đa nghĩa đa sắc màu, và có hình tượng Tuy nhiên thực tế hiện nay, việc giảng dạy và cảm thụ văn học của chúng ta nói chung (thơ Xuân Quỳnh nói riêng) nhất cử nhất động đều theo một “lộ trình” định sẵn, nặng về cảm tính Trước tình trạng đó, phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc độ tín hiệu thẩm mĩ đã mở

ra một hướng đi mới cho việc nghiên cứu, cảm thụ, phê bình tác phẩm văn học Cách tiếp cận này đã cho thấy những kết quả khả quan mà phê bình văn học truyền thống chưa có được Chính việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ như một con đường đến với tác phẩm văn học là cơ sở chắc chắn cho sự phân tích

có lí, có tình, tránh việc giảng văn theo lối mòn, sáo rỗng

Xuân Quỳnh là nhà thơ được khẳng định bằng một sức sống lâu bền của các tác phẩm thơ của mình, là một trong những nhà thơ nữ hiện đại xuất sắc Nhà phê bình Lại Nguyên Ân thừa nhận: “Có lẽ từ thời Hồ Xuân Hương, qua các chặng đường phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một thi sĩ mà tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở một tầm

Trang 7

cỡ đáng kể như vậy, dồi dào, phong phú như vậy” [ 13, tr 12] Quả thật, Xuân Quỳnh có thế giới riêng, có ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng cho phong cách của mình Đặc biệt trong thơ Xuân Quỳnh, cảm thức thời gian thể hiện sự khát sống, đam mê sống, đam mê yêu cho nên thời gian đã trở thành một nỗi

ám ảnh Do đó nếu hiểu được những tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh thì đã phần nào hiểu được một phương diện tâm hồn thơ chị

Trên đây là những lí do khiến chúng tôi đến với đề tài tín hiệu thẩm mĩ

thời gian trong thơ Xuân Quỳnh Với đề tài này, chúng tôi mong muốn đóng

góp một cơ sở mới cho việc nghiên cứu và giảng dạy phong cách nhà thơ nữ tài hoa này, đồng thời khẳng định những giá trị về nội dung và nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh bên cạnh những nét đặc sắc riêng của một phong cách sáng tạo

2 Dự kiến đóng góp của đề tài

Khảo sát tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi mong muốn đề xuất một hướng giải mã mới đối với văn bản nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh là: từ tín hiệu ngôn ngữ đến tín hiệu thẩm mĩ đến nội dung hình tượng Đồng thời làm sáng rõ hơn tâm hồn và tài năng thơ của Xuân Quỳnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong thơ Xuân

Quỳnh

Phạm vi nghiên cứu là văn bản nghệ thuật Xuân Quỳnh “Không bao

giờ là cuối”, nhà xuất bản Văn học năm 2011

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp sau: Phương pháp thống kê, phân loại

Dựa vào ngữ liệu thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát thông kê xem có bao nhiêu các tín hiệu thẩm mĩ thời gian, từ đó sẽ tiến hành phân loại chúng theo những tiêu chí nhất định

Trang 8

Phương pháp phân tích ngữ nghĩa

Từ những tín hiệu thẩm mĩ thời gian thu được, chúng tôi tiếp tục tiến hành phân tích về ý nghĩa thẩm mĩ mà tín hiệu đó mang lại

Phương pháp hệ thống

Trên cơ sở những ý nghĩa thẩm mĩ của những tín hiệu thẩm mĩ thời gian Chúng tôi sẽ khái quát, hệ thống lại xem nội dung ý nghĩa biểu hiện lớn nhất của những tín hiệu thẩm mĩ thời gian là gì

5 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

Chương 3: Ý nghĩa biểu hiện của các tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

6.1 Tình hình nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ ở nước ta

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu trực tiếp về tín hiệu thẩm

mĩ của một số tác giả: Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Mai Thị Kiều Phượng, Trương Thị Nhàn, Bùi Trọng Ngoãn, Bùi Minh Toán…

Hoàng Trinh trong cuốn Ký hiệu, nghĩa và phê bình văn học đã chỉ ra

tính hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ và đã vận dụng những tín hiệu thẩm mĩ đó vào việc phân tích cảm thụ tác phẩm văn học Tuy nhiên thì Hoàng Trinh mới chỉ là đề cập đến chứ chưa xây dựng được cho mình một hệ thống lí luận về tín hiệu thẩm mĩ Mãi cho đến Đỗ Hữu Châu thì lý thuyết về tín hiệu thẩm mĩ mới thực sự được hình thành

Trang 9

Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên đặt nền móng cho lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ Ông chỉ ra “Phương tiện sơ cấp (primaire) của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ Nói rõ hơn, đơn vị của phương tiện của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp của cái ngôn ngữ- tín hiệu thẩm mĩ này là cú pháp- tín hiệu thẩm mĩ Rồi các tín hiệu thẩm mĩ mới được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường” [4, tr 779] Bên cạnh đó, Đỗ Hữu Châu cũng cho rằng

“Trong tác phẩm văn học, hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ thông thường lại trở thành cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới” [4, tr 779]

Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thi Ngân Hoa lại định nghĩa về tín hiệu thẩm

mĩ như sau “Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học là kiểu tín hiệu đặc biệt, được tổ chức lại từ tín hiệu thẩm mĩ nguyên cấp (sự vật, hình ảnh, hoạt động…) và tín hiệu ngôn ngữ Tín hiệu thẩm mĩ là một hệ thống trung gian, chuyển hóa và đồng nhất cả hai hệ thống tín hiệu nói trên” [ 19, tr 73]

Trong Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Bùi

Trọng Ngoãn cho rằng: “Tín hiệu thẩm mĩ hay tín hiệu ngôn ngữ văn chương được xây dựng trên cơ sở tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, hệ thống thứ nhất được dùng làm phương tiện biểu đạt cho hệ thống thứ hai” [ 27, tr 15] Đồng thời ông cũng chỉ ra sáu đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ như tính hai mặt, tính có lí

do, tính đa trị, tính hình tuyến, tính hệ thống, tính cấp độ

Bùi Minh Toán trong Ngôn ngữ với văn chương quan niệm “ Tín hiệu

thẩm mĩ là loại tín hiệu có chức năng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt cảm xúc về cái đẹp Nó cũng cần có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nhưng cái biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ” [42, tr 139] Ông cho biết tín hiệu thẩm mĩ có hai dạng là hằng thể của tín hiệu thẩm mĩ và biến thể của tín hiệu thẩm mĩ ở những cấp độ khác nhau: cấp độ vi mô và cấp độ vĩ mô

Trang 10

Như vậy tín hiệu thẩm mĩ đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các khía cạnh của tín hiệu thẩm mĩ như khái niệm, đặc tính, phân loại, nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ đã phần nào được làm sáng rõ Tuy nhiên vẫn chưa hoàn toàn là thống nhất giữa các quan điểm nhưng đây cũng

là tiền đề lí luận quan trọng, là cơ sở cho chúng tôi trong quá trình thực hiện

đề tài

6.2 Hướng nghiên cứu vận dụng lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ vào trong tác phẩm cụ thể

Đáng chú ý trong hướng nghiên cứu này là luận án của Trương Thị

Nhàn về Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ- không gian trong

ca dao Luận án đi vào những đặc trưng của tín tiệu thẩm mĩ như: tính đẳng

cấu, tính tác động, tính biểu cảm, tính biểu hiện, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể, tính truyền thống và cách tân, tính hệ thống, tính cấp độ từ đó

đi vào tìm hiểu các tín hiệu thẩm mĩ biểu thị không gian trong ca dao

Bên cạnh đó, trên Tạp chí Ngôn ngữ cũng xuất hiện một số bài viết đi

vào tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc độ tín hiệu thẩm mĩ:

Đỗ Anh Vũ có bài Một số tín hiệu thẩm mĩ đặc sắc trong thơ Nguyễn

Bính trước 1945 [45, tr 42- 55] trong đó tác giả đề cập đến các tín hiệu thẩm

mĩ như tín hiệu vườn, bướm, rượu

Lê Thị Tuyết Hạnh trong bài viết Tín hiệu thẩm mĩ hoa trong thơ

Dương Thuấn [14, tr 22-34] đã khảo sát tín hiệu thẩm mĩ hoa về đặc điểm

cấu tạo, khả năng kết hợp và ý nghĩa thẩm mĩ của tín hiệu thẩm mĩ hoa

Hà Văn Hoàng cũng đi vào tìm hiểu Ý nghĩa biểu trưng của tín hiệu

thẩm mĩ chỉ mùa xuân trong thơ mới [18, tr 71-80] Trong bài báo, Hà Văn

Hoàng chia tín hiệu thẩm mĩ mùa xuân thành các tín hiệu hằng thể và các tín

hiệu biến thể từ vựng

Trang 11

Với hướng nghiên cứu này, lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ phần nào đã được làm sáng rõ khi được áp dụng vào trong tác phẩm văn học cụ thể Có thể nói đây là những tài liệu tham khảo trợ giúp đắc lực cho chúng tôi trong quá trình giải quyết đề tài

6.3 Hướng nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật, thi pháp và tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là một nhà thơ nữ tài hoa, từ lâu chị đã trở thành đối tượng của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học

Xuân Quỳnh thơ và đời do Văn Long sưu tầm và tuyển chọn là tập hợp

những bài viết liên quan đến tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp thơ Xuân Quỳnh Trong đó có một số bài nói về đặc điểm về nghệ thuật như ngôn ngữ, giọng điệu, cách kết cấu các hình tượng nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh…

Các luận văn về thơ Xuân Quỳnh như:

Thế giới nghệ thuật thơ thiếu nhi Xuân Quỳnh của Nguyễn Thị Hồng

Minh (luận văn Thạc sĩ), đã đi vào các hình tượng nghệ thuật như hình tượng

mẹ, hình tượng trẻ em, hình tượng thiên nhiên, đồng thời tác giả còn khám phá về giọng điệu, thể thơ, ngôn ngữ trong thơ Xuân Quỳnh

Trang Thị Băng Thanh với Cách xây dựng hình tượng thơ trong tập

Không bao giờ là cuối của Xuân Quỳnh (luận văn Đại học) đã chỉ ra Xuân

Quỳnh xây dựng hình tượng nghệ thuật thơ bằng các biện pháp như so sánh,

ẩn dụ, hoán dụ đồng thời thấy được những hình tượng nghệ thuật đó có vai trò không nhỏ trong việc thể hiện nội dung và phong cách thơ Xuân Quỳnh

Đáng chú ý hơn trong hướng nghiên cứu này có Lê Thị Tuyết Hạnh với

tác phẩm Nghiên cứu và giảng dạy thơ Xuân Quỳnh từ góc độ tín hiệu thẩm

mĩ Tác giả đi vào phân tích một số tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Xuân Quỳnh

như tín hiệu bàn tay, trái tim, màu, mùa, từ đó khẳng định “Các tín hiệu thẩm

mĩ này là loại tín hiệu thẩm mĩ đặc trưng riêng của Xuân Quỳnh Chúng được

Trang 12

lấy ra từ vốn chung của ngôn ngữ dân tộc, được sáng tạo lại và chịu một quá trình biểu trưng hóa nghệ thuật để có một ý nghĩa khái quát nghệ thuật, một sức biểu đạt mới mang đậm dấu ấn cá nhân nhà thơ” [13, tr 10]

Bên cạnh đó với tín hiệu thẩm mĩ thời gian mùa Lê Thị Tuyết Hạnh đã

chỉ ra “ Xuân Quỳnh ý thức được sự vận động của thời gian và uy lực của nó, nhưng vẫn mong tin vào một khoảng thời gian sẽ trở thành vĩnh viễn, sẽ chẳng mất đi- thời gian yêu và được yêu” [13, tr 134]

Như vậy có thể kết luận rằng, nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Xuân Quỳnh không phải là nhiều Các nhà nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến một khía cạnh nào đó của thơ Xuân Quỳnh chứ không đề cập đến tín hiệu thẩm mĩ như một hệ thống, một phương pháp tiếp cận tác phẩm Chính vì vậy chúng tôi giành thời gian cho vấn đề còn bỏ ngỏ này

Trang 13

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 KHÁI NIỆM TÍN HIỆU, TÍN HIỆU NGÔN NGỮ, TÍN HIỆU THẨM MĨ

Tín hiệu thẩm mĩ về cơ bản nó là một tín hiệu, chính vì vậy khi khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh là nghiên cứu nó trong phạm trù tín hiệu Ở đây chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu mối quan hệ bộ ba giữa tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mĩ để có một nền tảng lí luận nhất định giúp chúng tôi trong quá trình giải quyết đề tài

1.1.1 Tín hiệu

Những vấn đề về tín hiệu đã được nói đến từ lâu trong triết học Hy Lạp, trong các tác phẩm của Platon, Aristore Nhưng mãi đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX khoa học về tín hiệu mới thực sự được hình thành S Peirce là người đầu tiên đề xuất lý thuyết tín hiệu, ông đã phân chia ký hiệu thành ba phạm trù cơ bản: “chỉ hiệu (index), hình hiệu (icons) và tượng trưng (simbol)” [Dẫn theo M.B Khrapchenko 20, tr 53] Trong đó đặc trưng của ký hiệu biểu hình đại diện cho đối tượng của nó chủ yếu theo sự giống nhau, không phụ thuộc vào phương thức tồn tại của nó như thế nào

Tiếp theo đó P Guiraud định nghĩa tín hiệu theo nghĩa rộng: “Một tín hiệu là một kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu 3, tr 51] Với định nghĩa này thì bất kể một hình thức vật chất nào mà gợi ra một hình ảnh kích thích khác đều được coi là một tín hiệu Một “tiếng còi báo động” nhắc nhở mọi người mau chóng xuống hầm trú ẩn hay một “hồi trống” báo cho người ta biết đã đến giờ ra chơi hay đã đến giờ vào lớp…Còn A Schaff lại định nghĩa tín hiệu theo nghĩa hẹp: “Một sự vật vật chất hay thuộc tính của nó, một hiện tượng thực tế sẽ trở thành tín hiệu nếu như trong quá trình giao tiếp, nó được các

Trang 14

nhân vật giao tiếp sử dụng trong khuôn khổ của một ngôn ngữ để truyền đạt một tư tưởng nào đó về thực tế, tức về thế giới bên ngoài hay về những cảm thụ nội tâm” [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu 3, tr 51] Ta có thể hiểu rằng một vật vật chất chỉ có thể trở thành tín hiệu khi nó được sử dụng trong giao tiếp để truyền đạt một nội dung, một tư tưởng nào đó

Định nghĩa của P Guiraud rộng ở chỗ vì tín hiệu bao gồm cả những tín hiệu hiểu theo nghĩa hẹp, cả những tín hiệu của sinh vật, của tự nhiên Định nghĩa của A Schaff hẹp ở chỗ chỉ coi những tín hiệu có chức năng giao tiếp là tín hiệu, tức được sử dụng trong phạm vi một hệ thống có tư cách như một ngôn ngữ để trao đổi tình cảm giữa con người với nhau

Trên cơ sở định nghĩa về tín hiệu của P Guiraud, Đỗ Hữu Châu đã xây dựng cho mình một lí thuyết tín hiệu riêng Theo đó một sự vật muốn trở thành tín hiệu phải thỏa mãn bốn điều kiện sau: Nó phải được cảm nhận bởi các giác quan; nó phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó; nó phải được một trong những chủ thể lí giải nó, nói rõ hơn cái quan hệ, cái biểu đạt và cái được biểu đạt phải được chủ thể nhận thức lĩnh hội; nó phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định Một tín hiệu phải có hai mặt: cái biểu hiện và cái được biểu hiện Chúng ta chỉ có thể xác định được tín hiệu thông qua mối quan hệ với chủ thể nhận thức và với hệ thống mà tín hiệu đó tham gia

Như vậy dù có nhiều quan niệm khác nhau về tín hiệu nhưng các tác giả đều đã đề cập đến một điểm chung nhất của tín hiệu đó là một vật chất kích thích vào tri giác con người mà con người có thể lí giải được và hiểu được một cái gì ngoài nó Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chấp nhận định nghĩa và cách phân loại tín hiệu của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở cho việc nhận biết các tín hiệu liên quan đến đề tài

Trang 15

1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ

Hệ thống ngôn ngữ là hệ thống nhân tạo có hai chức năng cơ bản nhất

là giao tiếp và tư duy Để có thể thực hiện được hai chức năng này, ngôn ngữ

đã được tổ chức theo những nguyên tắc sau: nguyên tắc tín hiệu và nguyên tắc

hệ thống Nói cho cùng thì ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Ferdinand de Saussure là người đầu tiên đưa ra khái niệm tín hiệu ngôn ngữ Ông gọi các tín hiệu ngôn ngữ đó là dấu hiệu, theo đó “Dấu hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh

âm thanh Hình ảnh này không phải là cái âm vật chất, một vật thuần vật lí mà

là dấu vết tâm lí của cái âm đó, là cái biểu tượng mà các giác quan của ta cung cấp cho ta về cái âm đó [ 34, tr 138-139]

Saussure cũng đã đề cập đến tính hai mặt của dấu hiệu ngôn ngữ:

Một trong những đặc tính của dấu hiệu là tính võ đoán và tính hình tuyến cũng đuợc Saussure đề cập tới

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, hệ thống thông báo phức hợp và hoàn chỉnh nhất Hoàng Trinh cho rằng cùng một khái niệm “bàn” nhưng Việt Nam nói là “bàn”, Nga nói là “xtôn”, Pháp nói “table” chính vì vậy mà “bàn, xtôn, table” là những tín hiệu ngôn ngữ vì chúng chỉ có nghĩa trong cộng đồng xã hội dùng nó, ngoài cộng đồng đó và ngoài hệ thống riêng của chúng, chúng chỉ là những âm thanh không có nghĩa gì Một người nước ngoài không

Khái niệm (Concept) Hình ảnh âm thanh (Image acousli que)

Trang 16

biết tiếng Việt khi nghe chữ “bàn” thì cũng như chỉ nghe một âm thanh nào

đó mà thôi [43, tr 48]

Còn Đỗ Hữu Châu định nghĩa tín hiệu ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ là

hệ thống tín hiệu sơ cấp, được xây dựng với những thể chất tinh thần và vật chất, đó là những âm thanh do bộ máy cấu âm của con người làm ra Văn tự chính là kí hiệu của ngôn ngữ” [3, tr 68] Ông xác định tín hiệu ngôn ngữ là tín hiệu thính giác, tín hiệu giao tiếp, tín hiệu nhân tạo mang tính ước hiệu

Đỗ Hữu Châu cũng lưu ý tới tính đa chức năng của các tín hiệu ngôn ngữ đó

là ngôn ngữ không chỉ đảm nhiệm chức năng giao tiếp và tư duy, nó còn là công cụ để tổ chức xã hội, duy trì sự sống của con người, ngoài ra tín hiệu ngôn ngữ còn có chức năng thi pháp, chức năng thẩm mĩ, chức năng biểu cảm…Chính tính đa chức năng làm cho tín hiệu ngôn ngữ khác với các tín hiệu khác của con nguời ở chỗ “ ngôn ngữ đóng vai trò là hệ thống tín hiệu cơ

sở đối với các hệ thống tín hiệu khác” [ Dẫn theo Đỗ Hữu Châu 3, tr 73]

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, cũng giống như tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ gồm có hai mặt, mặt âm thanh và mặt nghĩa, tức là cái biểu hiện và cái được biểu hiện Tuy nhiên hệ thống tín hiệu ngôn ngữ rất phức tạp bao gồm nhiều đơn vị như hình vị, từ, cụm từ, câu, văn bản Với mỗi một tín hiệu ngôn ngữ, theo nguyên lí chung của việc thành lập một tín hiệu, mặt hình thức của tín hiệu là những dạng âm thanh khác nhau mà trong quá trình nói năng con người đã thiết lập lên mã cụ thể cho mình, đó chính là đặc trưng âm thanh cụ thể của từng ngôn ngữ Còn mặt nội dung (cái được biểu hiện) là những thông tin, những thông điệp về những mảng khác nhau của thế giới hiện tại mà con người đang sống, hoặc những dấu hiệu hình thức để phân cắt

tư duy, phân cắt thực tại

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu nhân tạo, xã hội có chức năng giao tiếp Tín hiệu ngôn ngữ khác với các tín hiệu khác ở chỗ:

Trang 17

+ Tín hiệu ngôn ngữ là một hệ thống đa chức năng, trong đó quan trọng nhất là chức năng làm công cụ giao tiếp và tư duy Trong khi đó thì trong hệ thống tín hiệu khác, hai chức năng này lại thường tách rời nhau, hoặc chỉ thực hiện chức năng giao tiếp hoặc chỉ thực hiện chức năng tư duy Chúng ta không thể tư duy được với những bảng hiệu giao thông bên đường hay những nhà vật lí không thể trao đổi đuợc với nhau về nhiều lĩnh vực chỉ thông qua các kí hiệu vật lí Hai chức năng giao tiếp và tư duy của tín hiệu ngôn ngữ không những không tách rời nhau mà gắn bó chặt chẽ với nhau Trong giao tiếp, chúng ta vẫn tư duy nhằm kiểm tra thông tin được truyền đi và trong khi

tư duy, hoạt động giao tiếp vẫn không ngừng hoạt động

+ Các tín hiệu ngôn ngữ mang chức năng định danh Đỗ Hữu Châu đã phân biệt chức năng định danh với sự dẫn xuất Một tín hiệu dẫn xuất sự vật, hiện tượng, quan hệ, khi sự xuất hiện của nó báo cho biết sự vật, hiện tượng, quan hệ nào được đề cập đến Tín hiệu có thể dẫn xuất nhưng không phải là tên gọi của các được dẫn xuất Màu đỏ trên đường dẫn xuất sự việc “không được đi” nhưng màu đỏ và cụm “không được đi” không phải là tên gọi của nội dung mà nó là dẫn xuất Tên gọi của nội dung này là “cấm” và “ngăn cấm” Cũng như vậy từ “của” dẫn xuất một quan hệ có tên gọi là “thuộc về”,

“sở hữu” Như vậy các tín hiệu đã có chức năng định danh thì phải có chức năng dẫn xuất nhưng không phải cứ có tín hiệu có chức năng dẫn xuất là có chức năng định danh [ 3, tr 74]

+ Tín hiệu ngôn ngữ phải được đặc trưng bởi cách cấu tạo Tín hiệu ngôn ngữ là những tín hiệu âm thanh do bộ máy cấu âm của con người phát

ra Đó là những đặc trưng về âm sắc, trường độ, nhịp điệu, biểu cảm…mà những tín hiệu thông thường khác không có được

Trang 18

1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ

Ngay từ khi mới được đưa vào nước ta, tín hiệu thẩm mĩ đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Lí thuyết về tín hiệu thẩm mĩ xuất hiện qua các công trình nghiên cứu của Hoàng Trinh, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai, Trương Thị Nhàn, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Bùi Trọng Ngoãn Song cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào hoàn chỉnh

về tín hiệu thẩm mĩ Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về tín hiệu thẩm mĩ nhưng theo quan sát thì hầu như các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng “tín hiệu thẩm mĩ là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Đó là những phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một hệ thống tác động thẩm mĩ, được chúng ta tiếp nhận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tinh thần” [ 30, tr 13]

Người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của tín hiệu thẩm mĩ ở

nước ta là Đỗ Hữu Châu Năm 1990 ông có bài Những luận điểm về cách tiếp

cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học trên Tạp chí Ngôn ngữ số 2 Đây là

công trình đầu tiên đề cập đến tín hiệu thẩm mĩ như là một hệ thống, Đỗ Hữu Châu định nghĩa một cách khái quát về tín hiệu thẩm mĩ như sau: “Phương tiện sơ cấp (primaire) văn học là các tín hiệu thẩm mĩ Nói rõ hơn, đơn vị của phương tiện của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ, cú pháp của cái ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ này là cú pháp – tín hiệu thẩm mĩ Rồi các tín hiệu thẩm mĩ

đó mới được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường” [5, tr 779]

Đỗ Hữu Châu cũng chỉ ra “trong tác phẩm văn học, hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ thông thường lại trở thành cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới” [5, tr 779]

Xét theo nguồn gốc thì Đỗ Hữu Châu cho rằng có hai loại tín hiệu thẩm

mĩ đó là: những tín hiệu thẩm mĩ rút từ hiện thực như các tín hiệu con đò,

thuyền, bến, dòng sông, cây đa và những tín hiệu thẩm mĩ rút từ chính bản

Trang 19

thân ngôn ngữ như đoạn đối thoại giữa Từ Hải – Thúy Kiều là một kiểu tín hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc ngôn ngữ

Tuy nhiên thì Đỗ Hữu Châu còn đặt ra vấn đề cần có sự phân biệt rõ quan hệ giữa ngôn ngữ tự nhiên với ngôn ngữ tín hiệu thẩm mĩ: “Không phải tất cả các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm đều là cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện – tín hiệu thẩm mĩ” [5, tr 780] Rất nhiều từ trong tác phẩm văn học vẫn là các từ ngữ thông thường cả về âm và nghĩa Nhưng nếu đặt chúng vào trong tổng thể tác phẩm thì chúng đã là thành viên của cái ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ, không phải là thành viên của ngôn ngữ thông thường nói một cách tổng quát các đơn vị ngôn ngữ thông thường là cái biểu hiện của các tín hiệu thẩm mĩ và ngữ pháp thông thường là cái biểu hiện của ngữ pháp tín hiệu thẩm mĩ

Một lưu ý nữa của Đỗ Hữu Châu chính là sự trùng hợp của các tín hiệu thẩm mĩ với các ước lệ tượng trưng “Ước lệ, tượng trưng đúng là các tín hiệu thẩm mĩ điển hình nhất nhưng lại ít hiệu quả nhất, vì chúng đã bị mòn về giá trị gợi hình tượng và gợi cảm” [5, tr 781] Các mô típ như trầu – cau; bến – thuyền; mây – nước, có những đặc điểm gần với ước lệ tượng trưng nhưng chúng được đổi mới trong các tác phẩm của các tác giả khác nhau và trong từng thời đại khác nhau “Không phải chỉ các ước lệ, tượng trưng hay mô típ văn học mới là các tín hiệu thẩm mĩ Đại bộ phận các tín hiệu thẩm mĩ trong bất cứ tác phẩm văn học nào cũng phải mới, được tác giả lựa chọn từ thế giới hiện thực mà xây dựng nên, sáng tạo ra” [5, tr 781]

Trong luận án của mình, Trương Thị Nhàn đã cho rằng “tất cả những yếu tố hiện thực, những chi tiết những sự vật hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ thì là tín hiệu thẩm mĩ” [30, tr 15] Tuy nhiên thì để những yếu tố hiện thực, những chi tiết, những sự vật của đời sống đó trở thành tín hiệu thẩm mĩ thì bà cũng đưa ra hai 4 điều kiện:

Trang 20

Thứ nhất là điều kiện học, để các yếu tố hiện thực trở thành tín hiệu thẩm mĩ phải đảm bảo có một cái biểu hiện mang tính vật chất, mang một vỏ vật chất nhất định Đó là các hình thức vật chất được sử dụng trong các ngành nghệ thuật: âm thanh có nhịp điệu trong âm nhạc, có đường nét, màu sắc trong hội họa, ngôn ngữ trong văn học…

Thứ hai là điều kiện về nội dung Tín hiệu thẩm mĩ phải đảm bảo mang một nội dung tinh thần, cái được biểu hiện không giống với bản thân hiện

thực được nói tới Con mèo con chó có lông/ Cây tre có đốt nồi đồng có quai Nếu chỉ có thế thì không phải là nghệ thuật Những tín hiệu con chó, con mèo,

cây tre, nồi đồng chưa gợi ra được một cái gì hơn thế nên chúng không thể là

tín hiệu thẩm mĩ

Thứ ba là chủ thể lí giải Một yếu tố hiện thực trở nên mang tính thẩm

mĩ, đó là do vai trò của sự liên tưởng trong tư duy của chủ thể tiếp nhận Những nội dung ý nghĩa thẩm mĩ có được tiếp nhận, được mở rộng, được đổi mới hay không qua các thời đại, cộng đồng, cá nhân phải thuộc ở những điều kiện lịch sử, tâm lý, xã hội, cá nhân liên quan đến sự liên tưởng của chủ thể tiếp nhận

Và cuối cùng là nó phải nằm trong một hệ thống nhất định Một yếu tố hiện thực được coi là tín hiệu thẩm mĩ chỉ khi nó tham gia vào hệ thống chức năng thẩm mĩ, tham gia vào một chỉnh thể nhất định vì mục đích thẩm mĩ

Bên cạnh đó thì Trương Thị Nhàn cũng đề cập đến những đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ:

1) Tính đẳng cấu 2) Tính tác động 3) Tính biểu hiện 4) Tính biểu cảm 5) Tính biểu trưng

Trang 21

6) Tính trừu tượng và cụ thể 7) Tính truyền thống và cách tân 8) Tính hệ thống

9) Tính cấp độ

[ 30, tr 17- 25]

Đỗ Việt Hùng và Nguyễn Thị Ngân Hoa cho rằng một tín hiệu thẩm mĩ phải là “một tín hiệu đặc biệt, được tổ chức lại từ hình ảnh, sự vật, hoạt động (tín hiệu thẩm mĩ nguyên cấp) và tín hiệu ngôn ngữ” [19, tr 73] Như vậy khi xét tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học chúng ta phải xét đến những đặc trưng văn hóa của các tín hiệu thẩm mĩ nguyên cấp đó, đó là tính nhân loại và tính dân tộc, tính truyền thống và tính hiện đại

Từ những định nghĩa về tín hiệu thẩm mĩ của các tác giả đi trước, Bùi Trọng Ngoãn đã cụ thể hóa sự biểu hiện của tín hiệu thẩm mỹ là ở đâu Ông chỉ ra được các phương tiện ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ: “Xét về phương tiện ngôn ngữ, tín hiệu thẩm mĩ có thể được xây dựng từ các yếu tố ngữ âm,

từ vựng, cú pháp, văn bản” [ 27, tr 18]:

+ Về lí thuyết, rõ ràng là không thể có tín hiệu thẩm mĩ ở phương diện ngữ âm Bởi ngữ âm vốn là cái biểu đạt ở cấp cơ sở Thế nhưng với người bản ngữ, những kiểu kết hợp âm như thế nào đó lại có khả năng gợi tả, làm xuất hiện ở người đọc những hình ảnh, những xúc cảm về một điều gì đó khác với bản thân các yếu tố ngữ âm kia

+ Tín hiệu thẩm mĩ được thể hiện bằng phương tiện từ vựng

Ví dụ: - Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp (Huy Cận)

- Bài hay xen lẫn với bài vừa (Hồ Chí Minh)

“gợn” và “xen” đóng vai trò là những tín hiệu thẩm mĩ + Tín hiệu thẩm mĩ được thể hiện bằng phương tiện cú pháp

Ví dụ câu thơ của Xuân Quỳnh:

Trang 22

Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn Hôm nay yêu mai có thể xa rồi

( Sẽ có mãi cô bé mười sáu tuổi) + Tín hiệu thẩm mĩ được thể hiện bằng đoạn văn, đoạn thơ

Ví dụ: Trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi, đoạn thơ

về đất nước đau thương và tâm tư của người ra trận:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

Như vậy thông qua những khái niệm về tín hiệu thẩm mĩ trên đây ta có thể hiểu về tín hiệu thẩm mĩ thông qua sơ đồ sau:

Cái biểu đạt: ngữ âm Tín hiệu ngôn ngữ

Cái được biểu đạt: ý nghĩa

Ngữ âm Cái biểu đạt: Tín hiệu

Tín hiệu

thẩm mĩ

Cái được biểu đạt: Ý nghĩa thẩm mĩ

Từ sơ đồ này, có thể thấy rằng cả cái hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện tạo thành tín hiệu ngôn ngữ đã trở thành cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới là ý nghĩa thẩm mĩ của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học Chính vì thế, trong văn học không được đồng nhất phương tiện văn học tín hiệu thẩm mĩ với tín hiệu ngôn ngữ thông thường được sử dụng làm chất liệu của tác phẩm văn học Điều đáng lưu ý ở đây là nếu mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện trong ngôn ngữ tự nhiên có thể là võ

Trang 23

đoán thì mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện trong tín hiệu thẩm mĩ lại luôn có lí do Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên muốn trở thành tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm nghệ thuật thì phải trải qua một quá trình khái quát hóa nghệ thuật mang tính biểu trưng để đạt đến ý nghĩa thẩm mĩ nhất định

Trong luận văn này chúng tôi dựa trên quan điểm của Đỗ Hữu Châu và Bùi Trọng Ngoãn để đưa ra một cái nhìn chung nhất về tín hiệu thẩm mĩ làm

cơ sở cho việc giải quyết đề tài Theo đó tín hiệu thẩm mĩ là hệ thống tín hiệu thứ hai được xây dựng trên cơ sở tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, hệ thống thứ nhất được dùng làm phương tiện biểu đạt cho hệ thống thứ hai Tín hiệu thẩm

mĩ cũng bao gồm hai mặt cái biểu hiện và cái được biểu hiện Trong đó hợp thể cái biểu hiện và cái được biểu hiện của ngôn ngữ thông thường lại trở thành cái biểu hiện cho một cái được biểu hiện mới – ý nghĩa thẩm mĩ

Vấn đề đặt ra ở đây là cần phân biệt tín hiệu thẩm mĩ với các hình tượng văn học Không thể đồng nhất tín hiệu thẩm mĩ với hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương Khrapchenko chỉ ra điểm khác biệt giữa tín hiệu thẩm mĩ với hình tượng nghệ thuật như sau: “Tín hiệu thẩm mĩ bao giờ cũng có tính chất quy ước, trong khi đó hình tượng nghệ thuật chứa đựng cái mới, cái bất ngờ, nó phá hủy và làm biến đổi những quan niệm cố định về thực tại Tính quy ước của tín hiệu thẩm mĩ là do bản chất nội tại của nó quyết định, là sự biểu thị những sự vật, hiện tượng, tư tưởng Nó chỉ có thể hoạt động trong một môi trường xã hội nào đó hoặc ít ra là một nhóm người nào

đó có thể hiểu được nó, thừa nhận nó Tín hiệu thẩm mĩ có thể rộng rãi hoặc khá hẹp Tín hiệu thẩm mĩ thường là thuộc về những tầng lớp xã hội khác nhau, của một số đông người nhưng nhiều khi nó cũng chỉ phục vụ hạn chế cho những người am hiểu nó mà thôi” (Xem [ 20, tr 138- 139])

Khác với tín hiệu thẩm mĩ, bản chất của hình tượng nghệ thuật không chỉ đơn giản là sự ghi lại những nét bề ngoài của hiện tượng trong thực tại mà

Trang 24

còn là sự khám phá ra những phẩm chất bề sâu bên trong Tất nhiên để những hình tượng nghệ thuật đó có thể hoạt động được thì tất yếu phải có người sử dụng và người am hiểu chúng Tuy nhiên, việc sử dụng và am hiểu hình tượng nghệ thuật không phải là sự quy ước của xã hội mà là sự lĩnh hội hay đó là sự cảm của mỗi người

Sự khác nhau căn bản giữa tín hiệu thẩm mĩ và hình tượng nghệ thuật còn được thể hiện cả trong cấu trúc ý nghĩa của chúng Đặc trưng của tín hiệu thẩm mĩ là ý nghĩa của chúng thường mang tính cố định Bất cứ một tín hiệu thẩm mĩ thường có một nghĩa chống lại tính nhiều nghĩa còn hình tượng nghệ thuật thường mang tính đa trị

Tuy tín hiệu thẩm mĩ và hình tượng nghệ thuật mang những điểm khác nhau nhưng Khrapchenko đã chứng minh giữa chúng có một cái chung rất quan trọng: “Cái chung đó biểu hiện ở chỗ cả những kí hiệu thẩm mĩ cũng có những nét của tính độc đáo Hiển nhiên là ý muốn tác động tích cực vào trí tưởng tượng của người đọc khiến họ kinh ngạc, làm rung động những sợi tơ lòng của họ - ý muốn ấy thể hiện rõ trong cấu trúc của kí hiệu thẩm mĩ” [ 20,

tr 152]

1.2 TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN

1.2.1 Từ ngữ chỉ thời gian trong tiếng Việt

Thời gian là một trong những khái niệm cơ bản đối với sự nhận thức của con người Thời gian về mặt vật lí, triết học, là một đại lượng có tính liên tục được đo một chiều, không được phép đứt đoạn Thời gian trong tự nhiên luôn có một hướng vận động duy nhất đó là đi từ quá khứ hiện tại, tương lai gắn liền với những biến đổi của thế giới Đó có thể là sự biến đổi của tự nhiên như sáng, trưa, chiều, hay đó còn là sự biến đổi của xã hội như biến đổi qua các chế độ xã hội của loài người

Trang 25

Từ ngữ chỉ thời gian trong tiếng Việt, trước tiên, đó là những tín hiệu ngôn ngữ Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê “Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất, trong đó vật chất vận động và phát triển không ngừng

Đó là khoảng thời gian nhất định xét về mặt dài ngắn, nhanh chậm hay đó cũng là khoảng thời gian trong đó một sự việc gì diễn ra từ đầu đến cuối” [31,

tr 1129]

Trong tiếng Việt có rất nhiều từ ngữ có trường nghĩa biểu vật về thời gian khác nhau Có từ biểu thị thời gian một cách trực tiếp cũng có từ biểu thị thời gian một cách gián tiếp

Những từ biểu thị thời gian một cách trực tiếp Để định vị và định lượng thời gian (tức xác định thời điểm và thời lượng), người Việt thường

dùng các từ ngữ chỉ thời gian như giờ, phút, giây, ngày, tháng, năm, đêm,

hôm, sáng, chiều, xuân, hạ, thu, đông, hồi, khi, lúc, dạo, chốc, lát, tí…

Ví dụ ca dao có câu:

Tháng Giêng là tháng ăn chơi Tháng Hai trông đậu, trồng khoai, trồng cà Tháng Ba thì đậu đã già

Ta đi, ta hái về nhà phơi khô Tháng Tư đi tậu Trâu bò

Để ta sắp sửa làm mùa tháng Năm

Những từ ngữ biểu thị thời gian một cách gián tiếp như sen, lựu, chim

én, cúc… Trước tiên những từ ngữ này có phạm vi biểu vật là hoa, là động

vật tuy nhiên thì tùy thuộc vào từng loại hoa nở vào những thời gian khác nhau trong một năm mà ta có thể dễ dàng biết đó là thời gian nào

Ví dụ: Sen tàn cúc lại nở hoa Mục đích của câu thơ không phải nói đến sen tàn, cúc nở hoa mà muốn

ám chỉ thời gian cuối hạ đầu thu

Trang 26

Hay như câu thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du:

Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

lúc này mang ý nghĩa thông báo thời gian

Như vậy từ ngữ chỉ thời gian trong tiếng Việt thuộc về lớp:

+ Những từ ngữ chỉ thời gian có phạm vi biểu vật là thời gian như ngày

tháng năm, giây, phút…

+ Những từ ngữ có phạm vi biểu vật không phải là thời gian nhưng có

khả năng biểu thị về thời gian

1.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian trong văn chương

Tín hiệu thẩm mĩ trong một tác phẩm văn chương là chìa khóa để mở ra

bí ẩn của nội dung, nghệ thuật Đối với tác phẩm văn chương, hình thức vật chất của tín hiệu thẩm mĩ chính là ngôn ngữ Thông qua ngôn ngữ mà các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nền văn hóa dân tộc được người cầm bút quan sát, chiêm nghiệm và phát hiện ra ý nghĩa thẩm

mĩ tiềm tàng ở chúng từ đó họ biến chúng trở thành những tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm của mình Cấu trúc đặc biệt của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ cho phép chứa đựng trong mỗi ngôn từ của tác phẩm một phạm vi nào đó của đời sống hiện thực Tuy nhiên thì không thể đồng nhất tín hiệu thẩm mĩ với tín hiệu ngôn ngữ Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương bao giờ cũng

có hình thức vật chất của nó, đó là hình thức ngôn ngữ Các yếu tố hiện thực được đưa vào tác phẩm với vai trò là những tín hiệu thẩm mĩ bao giờ cũng

Trang 27

được diễn đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ Nhưng ngược lại những tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên ngay khi sử dụng vào tác phẩm cũng chưa hẳn đã làm thành tín hiệu thẩm mĩ

Mỗi tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương đều có ý nghĩa và chức năng của nó Bản chất đặc biệt của loại tín hiệu này thể hiện trên các phương diện cái biểu hiện và cái được biểu hiện có quan hệ có thể giải thích được Tín hiệu thẩm mĩ của tác phẩm văn chương có tính ước lệ - gián tiếp - phi vật thể Do vậy, chỗ mạnh của nó là gợi ra các hiện tượng hết sức phong phú, sâu sắc về đối tượng Lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ được vận dụng để nghiên cứu tác phẩm văn chương, xem như một con đường tìm hiểu, phân tích tác phẩm Người viết sử dụng các biểu tượng, các tín hiệu thẩm mĩ để tăng cường sức biểu hiện và phản ánh, đưa đến nhiều giá trị mới mẻ Tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương gắn với yếu tố thời gian, không gian, hình tượng nhân vật, tạo ra những giá trị biểu nghĩa phong phú, do đó chức năng thẩm mĩ của tác phẩm được nâng cao rõ rệt

Trong văn chương, sự miêu tả, trần thuật bao giờ cũng được xuất phát

từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Khác với thời gian khách quan, thời gian trong tác phẩm văn chương có thể đảo ngược về quá khứ hay có thể vượt lên tới tương lai Thời gian trong văn chương được đo bằng nhiều thước

đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức như sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia ly, mùa này, mùa khác Phạm trù thời gian trong văn chương sẽ cung cấp một cơ sở để phân tích nội dung, tư tưởng của tác giả gửi vào trong tác phẩm của mình

Về các tín hiệu thẩm mĩ thời gian đó là những sự vật, hiện tượng hay một hình ảnh nào đó mang những thuộc tính của thời gian ( thời gian trôi đi nhanh, chậm, thời gian đó có thể là quá khứ, hiện tại, tương lai) Trong văn chương thì các tín hiệu thẩm mĩ thời gian trước hết đó là những tín hiệu ngôn

Trang 28

ngữ có trường nghĩa biểu vật về thời gian một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chúng tôi đã nói về từ ngữ biểu thị thời gian ở trên, được đưa vào trong tác phẩm nhưng không biểu đạt ý nghĩa đơn thuần như ý nghĩa vốn có của những đơn vị thời gian đó mà nó đã được người cầm bút khái quát hóa, trở thành một đại lượng thời gian trong tâm tư, tình cảm của riêng tác giả chứ nó không phải là thời gian của chung tất cả mọi người ( thời gian vật lí, thời gian

tự nhiên) Lúc này những tín hiệu ngôn ngữ đó đã mang một ý nghĩa khác, không còn là nó nữa (ý nghĩa thẩm mĩ) nhằm phản ánh một nội dung tư tưởng nào đó của riêng tác giả muốn gửi gắm

Những tín hiệu thẩm mĩ thời gian có thể được cấu tạo như là một từ, cụm từ, câu hay liên câu Có một số tín hiệu ngôn ngữ biểu thị về thời gian khi đưa vào trong tác phẩm văn chương thì bản thân nó đã có thể trở thành một tín hiệu thẩm mĩ thời gian Tuy nhiên cũng có một số tín hiệu ngôn ngữ biểu thị về thời gian nhưng phải kết hợp với những tín hiệu ngôn ngữ xung quanh nó, kết hợp với ngữ cảnh thì mới có thể trở thành tín hiệu thẩm mĩ về thời gian

Ví dụ như trong câu thơ của Xuân Quỳnh:

Dưới một trời phượng đỏ Trong những ngày đạn bom Vẫn có những người con Mong tới ngày họp mặt

( Thành phố quê anh)

Ở đây chúng ta có tín hiệu thẩm mĩ thời gian là “ngày họp mặt” Nếu

để riêng tín hiệu “ngày” thì bản thân nó là một tín hiệu ngôn ngữ biểu thị về thời gian chứ chưa thể là một tín hiệu thẩm mĩ thời gian “Ngày” phải kết hợp với “họp mặt” để trở thành tín hiệu thẩm mĩ thời gian biểu thị về thời gian của

Trang 29

sự đoàn tụ, thống nhất giải phóng miền Nam chứ không phải biểu thị về thời gian nào đó để mọi người có thể gặp mặt nhau ( ý nghĩa ngôn ngữ)

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng quan niệm rằng chỉ có những thực từ mới

có thể trở thành những tín hiệu thẩm mĩ thời gian còn những hư từ thể hiện ý nghĩa thời không thể trở thành tín hiệu thẩm mĩ thời gian được như các từ

bỗng, lúc, khi, chợt, vừa, mới, sắp, từng…bởi chúng không có chức năng định

danh, không có khả năng độc lập làm thành thành phần câu mà chúng chỉ được dùng để biểu thị mối quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ trong câu mà thôi

Trang 30

CHƯƠNG 2

KHẢO SÁT CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN

TRONG THƠ XUÂN QUỲNH

Từ những lí luận về tín hiệu thẩm mĩ mà chúng tôi đã trình bày ở chương 1, ở chương 2 này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát các tín hiệu thẩm

mĩ thời gian trong thơ Xuân Quỳnh và rút ra những đặc điểm của những tín hiệu thẩm thời gian đó về mặt cấu tạo

2.1 TÍN HIỆU THẨM MĨ THỜI GIAN LÀ TỪ

2.1.1 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian là từ đơn

Theo kết quả khảo sát của chúng tôi thì trong thơ Xuân Quỳnh có 33 từ

đơn ( 17 thực từ và 16 hư từ) biểu thị ý nghĩa về thời gian như mai, trưa, phút,

giờ, bỗng, đã, mới, thu, xuân… với 163 lần xuất hiện Như trên chúng tôi đã

nói, những hư từ biểu thị quan hệ về thời gian không thể làm thành tín hiệu thẩm mĩ thời gian được cho nên chúng tôi sẽ không tiến hành khảo sát ở đây Trong số 17 thực từ thì không phải tất cả 17 từ đó đều là tín hiệu thẩm mĩ thời gian Chỉ có 5 từ đóng vai trò là những tín hiệu thẩm mĩ thời gian chiếm 29,41% trên tổng số 17 thực từ Năm tín hiệu thẩm mĩ thời gian là từ đó xuất

hiện 7 lần trong thơ Xuân Quỳnh Đó là các tín hiệu phút, mai, đêm, năm,

Tỉ lệ % xuất hiện của từng tín hiệu thẩm mĩ so với tổng

số 7 lần xuất hiện của các tín hiệu thẩm mĩ thời gian là

từ đơn

Trang 31

phút: “Phút” xuất hiện một lần trong thơ Xuân Quỳnh

- Nghĩa từ điển: “ Đơn vị đo thời gian, bằng 60 giây” [ 31, tr 1019]

- Ý nghĩa thẩm mĩ : Khoảnh khắc gặp gỡ ngắn ngủi

Ví dụ : Mưa trên cọ rồi bàng hoàng vụt tạnh

Phút gặp nhau đã kịp nói gì đâu

(Trung du) mai: “Mai” xuất hiện 2 lần trong thơ Xuân Quỳnh Cả hai lần xuất hiện này đều là những tín hiệu thẩm mĩ thời gian

- Nghĩa từ điển: “ Ngày liền sau ngày hôm nay” [ 31, tr 861]

- Ý nghĩa thẩm mĩ : Thời gian tương lai gần, thời gian của riêng Xuân Quỳnh, thời gian của sự chia li

Ví dụ : Nghe thao thức giữa hai đầu gió thổi

Mai xa rồi anh có nhớ về không

( Trung du)

Thương gì người đói lang thang

Xin ăn trên khắp phố phường ngoài kia Ngủ đi anh hãy ngủ đi

Rồi mai họ sẽ trở về quê thôi

( Hát ru chồng những đêm khó ngủ)

Trang 32

đêm: “Đêm” xuất hiện 2 lần Cả hai lần đều là tín hiệu thẩm mĩ

- Nghĩa từ điển: “ Khoảng thời gian từ tối cho đến sáng” [31, tr 410]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Thời gian tâm trạng nhớ thương da diết của Xuân Quỳnh

Ví dụ : Thương cây lúa ngoài đồng

Đêm nằm không ngủ được

( Lịch mới)

Đêm phương Nam em nằm thức nhớ về anh

( Nghe rét đến nhớ về Hà Nội) năm: “Năm” xuất hiện một lần trong thơ Xuân Quỳnh

- Nghĩa từ điển: “ Khoảng thời gian trái đất di chuyển hết một vòng quanh mặt trời, bằng 365 ngày 5 giờ 48 phút 40 giây, là khoảng thời gian 12 tháng [ 31, tr 846]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Thời gian được dùng để đo đếm hạnh phúc lứa đôi

Ví dụ : Hạnh phúc tình bằng năm

Cây tính bằng mùa trái

( Đêm cuối năm) xưa: “Xưa” xuất hiện một lần trong thơ Xuân Quỳnh

- Nghĩa từ điển: “Thuộc về thời gian đã qua từ rất lâu rồi” [ 31, tr 1428]

- Ý nghĩa thầm mĩ: Một đại lượng thời gian chứa đựng nỗi đau đớn của riêng Xuân Quỳnh

Ví dụ : Như chưa hề có nỗi đau xưa

Lòng thanh thản trong tình yêu ngày mới

( Lại bắt đầu)

Trang 33

2.1.2 Tín hiệu thẩm mĩ thời gian là từ ghép

Các từ là từ ghép biểu thị thời gian trong thơ Xuân Quỳnh chiếm một

số lượng khá lớn với 37 từ với 264 lần xuất hiện Tuy nhiên thì trong 37 từ ghép đó chỉ có 20 từ là tín hiệu thẩm mĩ thời gian chiếm 54,05% trong tổng số

37 từ ghép với 47 lần xuất hiện Trong đó có các tín hiệu thẩm mĩ thời gian

như: ngày đêm, tuổi thơ, tuổi trẻ, mùa xuân, ngày xa, ngày qua, mùa thu, mùa

đông, ngày mai, ngày xưa, giây phút, ngày ấy, thuở nhỏ, năm tháng, thơ trẻ, ngày trước, sớm trưa, ngày tháng, ngày nao, quá khứ, buổi chiều, muôn thuở, tiếng ve, mùa hạ…

Bảng 2.1.2: Bảng thống kê các tín hiệu thẩm mĩ thời gian là từ ghép

xuất hiện

Tỉ lệ % xuất hiện của từng tín hiệu thẩm mĩ so với tổng số 47 lần xuất hiện của các tín hiệu thẩm mĩ thời gian là từ ghép

Trang 34

ngày đêm: “Ngày đêm” xuất hiện một lần

- Nghĩa từ điển: “ Ngày cũng như đêm, liên tục, không ngừng” [ 31, tr 410]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Một đại lượng thời gian liên tục đằng đẵng

Ví dụ : Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

( Sóng) tuổi thơ: “Tuổi thơ” xuất hiện 5 lần trong thơ Xuân Quỳnh với tư cách

là những tín hiệu thẩm mĩ thời gian

- Nghĩa từ điển: “ Độ tuổi còn nhỏ, còn non dại” [ 31, tr 1365]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Quãng đời niên thiếu của Xuân Quỳnh

Ví dụ : Em gửi lại cho anh tất cả

Thành phố tuổi thơ vỉa hè đã cũ

( Em có đem gì theo đâu)

Dưới mái nhà thầm lặng

Nghe nắng trời ngoại ô

Trang 35

Nghe gió mạnh về xô Niềm xào xạc của lá Nghe hạt mưa nho nhỏ Từng động lòng tuổi thơ

( Mái phố)

Tôi không có một căn phòng

Lang thang suốt những năm ròng tuổi thơ

( Thơ viết tặng anh)

Tôi trở về tìm lại tuổi thơ

Hoa sấu rụng bên trái nhà đã cũ

( Những năm tháng không yên)

Tuổi thơ tôi trong vạt áo của bà

Chuyện cổ tích chẳng xua tan nỗi sợ

( Những năm tháng không yên) tuổi trẻ: “Tuổi trẻ” xuất hiện 2 lần trong thơ Xuân Quỳnh Cả 2 lần đều

là những tín hiệu thẩm mĩ

- Nghĩa từ điển: “Độ tuổi thanh niên, thiếu niên” [ 31, tr 1365]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Toàn bộ quãng đời trẻ trung sôi nổi của Xuân Quỳnh

Ví dụ : Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn hết

Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển Qủa ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa

( Mùa hạ)

Trong giấc mơ đêm đêm

Lại mơ về tuổi trẻ

( Hoa ti gôn) mùa xuân: “Mùa xuân” xuất hiện 1 lần

Trang 36

- Nghĩa từ điển: “ Phần của năm, phân chia theo những đặc điểm về thiên văn, là mùa đầu tiên trong năm” [ 31, tr 831]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Những ngày tháng ngập tràn hạnh phúc của Xuân Quỳnh

Ví dụ : Sao không là mười lăm

Em năm nay mười bảy Vừa mừng lại vừa lo Sáng nay bừng mắt ra Gặp mùa xuân trước nhất

( Mười bảy tuổi) mùa thu: “Mùa thu” xuất hiện một lần trong thơ Xuân Quỳnh

- Nghĩa từ điển: “Phần của năm, phân chia theo những đặc điểm về thiên văn” [ 31, tr 831]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Một đại lượng thời gian chứa đựng những kỷ niệm đáng nhớ riêng của Xuân Quỳnh

Ví dụ: Em xao xuyến trong lòng

Nhớ về nơi ta ở Mùa thu vàng đường phố

Lá bay đầy lối qua

( Sân ga chiều em đi) mùa đông: “Mùa đông” xuất hiện một lần trong thơ Xuân Quỳnh

- Nghĩa từ điển: “Phần của năm, phân chia theo những đặc điểm về thiên văn” [ 31, tr 831]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Một đại lượng thời gian chứa đựng những kỷ niệm

ám ảnh trong tâm tưởng của Xuân Quỳnh

Ví dụ: Ngày em đi thường là trời rét

Trang 37

Không đủ chăn trằn trọc suốt mùa đông

( Những năm ấy) ngày mai: “Ngày mai” xuất hiện 7 lần trong thơ Xuân Quỳnh với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ

- Nghĩa từ điển: “Ngày liền sau ngày hôm nay” [ 31, tr 861]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Một đại lượng thời gian ở phía trước không xác định được một cách cụ thể, gắn liền với những gì đang chờ đợi, đang được hình dung từ điểm nhìn thực tại

Ví dụ: Anh không ngủ được anh yêu

Nghe chi con lũ đang chiều nước dâng Ngày mai cây lúa lên đòng

Lại xanh như đã từng không mất mùa

( Hát ru chồng những đêm khó ngủ)

Mải nghĩ đến bây giờ, mải nghĩ đến ngày mai

( Những năm ấy)

Nhớ các em dẫu chưa hề gặp Hẹn các em ngày mai sum họp

( Nếu ngày mai em không làm thơ nữa)

Ngày mai thôi nhìn quãng đời này xa lạ

Trang 38

Trong lòng mình khi tình ái đã đi qua

( Không đề IV) ngày xưa: “ Ngày xưa” xuất hiện 5 lần trong thơ Xuân Quỳnh với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ thời gian

- Nghĩa từ điển: “ Thời gian đã qua, cách ngày nay rất lâu” [ 31, tr 862]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Một đại lượng thời gian chứa đựng những kỷ niệm

đã qua

Ví dụ: Đêm phố huyện lại nhớ về phố huyện

Phố huyện nào anh ở những ngày xưa

( Sẽ có mãi cô bé mười sáu tuổi)

Bài hát nói về bao điều khao khát Vẫn tình yêu muôn thuở tự ngày xưa

( Sẽ có mãi cô bé mười sáu tuổi)

Hoa tường vi của những ngày xưa Tôi vẫn nhớ một màu mây phiêu lãng

( Hoa tường vi) tiếng ve: “Tiếng ve” xuất hiện một lần

- Nghĩa từ điển: “ Tiếng kêu của con bọ có cánh trong suốt, con đực kêu ve ve về mùa hè” [ 31, tr 1415]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Mùa hạ nồng nàn còn vương vất trong trời thu

Ví dụ: Sang thu rồi gió vẫn nồng da mặt

Trang 39

Tiếng ve nào còn sót trong lùm cây

( Hoa dại núi Hoàng Liên) mùa hạ: “Mùa hạ” xuất hiện 2 lần trong thơ Xuân Quỳnh với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ thời gian

- Nghĩa từ điển: “Phần của năm, phân chia theo những đặc điểm về thiên văn” [ 31, tr 831]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Quãng thời gian ấm áp nồng nàn đã qua của Xuân Quỳnh

Ví dụ: Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa

Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn hết

( Mùa hạ) quá khứ: “Qúa khứ” xuất hiện 7 lần trong thơ Xuân Quỳnh với tư cách

là những tín hiệu thẩm mĩ thời gian

- Nghĩa từ điển: “ Thời gian đã qua, thuộc về dĩ vãng” [ 31, tr 1026]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Một đại lượng chứa đựng nỗi đau đã qua, không thời gian, không còn ý nghĩa gì hết

Ví dụ: Phố xá xanh trong chiều dậy gió

Phông màn nhung quá khứ của đời em

( Sẽ có mãi cô bé mười sáu tuổi)

Những vui buồn khát khao đã từng qua

Cửa bệnh viện ngoài kia là quá khứ

…………

Quá khứ em không chỉ ngày xưa

Mà ngay cả hôm nay thành quá khứ

( Thời gian trắng)

Như chưa hề có nỗi đau xưa

Lòng thanh thản trong tình yêu ngày mới

Trang 40

Một quá khứ ra đi cùng gió thổi Thời gian trôi ký ức sẽ phai nhòa

- Nghĩa từ điển: “ Khoảng thời gian dài không xác định, thường là trong quá khứ” [ 31, tr 847]

- Ý nghĩa thẩm mĩ: Sự chuyến biến của dòng chảy thời gian, thời gian của chiến tranh tàn khốc

Ví dụ: Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc

( Bàn tay em)

Anh nói cùng em Những năm tháng không yên Cây rừng ngã, cây rừng lửa cháy Chất độc Mỹ trải đầy nương rẫy Những đám mây mang hình nấm chết người

( Những năm tháng không yên)

Năm tháng đi qua những mùa lúa mùa sim

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w