1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn từ CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN DIỆU

109 169 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Khái niệm về từ chỉ thời gian và cách phân loại 1.3 Thời gian nghệ thuật Chương II: Từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu 2.1 Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu 2.2 Nhận xét chung

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN -–0— -

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ MỸ XUYÊN

TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN DIỆU

Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn / Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: CÔ BÙI THỊ TÂM

Cần Thơ, 5 - 2008

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô trong Bộ môn Ngữ Văn

đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu, cảm ơn tất cả các bạn lớp Sư phạm Ngữ Văn khóa 30 đã giúp đỡ và cùng tôi vượt qua những khó khăn trong suốt bốn năm học để đến hôm nay tôi có thể thực hiện được một đề tài nghiên cứu khoa học

mà mình hằng mong ước

Thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học là một công việc hết sức khó khăn đòi hỏi nhiều nỗ lực của bản thân người viết trong quá trình nghiên cứu và viết

đề tài Trong suốt quá trình nghiên cứu, dù gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại nhưng

đã được sự tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ của cô Bùi Thị Tâm để cuối cùng tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tuy nhiên, do kiến thức có hạn nên luận văn này không thể tránh khỏi những hạn chế và sai sót Người viết rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để luận văn này được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Mỹ Xuyên

Trang 3

1.2 Khái niệm về từ chỉ thời gian và cách phân loại

1.3 Thời gian nghệ thuật

Chương II: Từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

2.1 Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu

2.2 Nhận xét chung về từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

2.3 Phân loại từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

Chương III: Sự độc đáo trong việc sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

3.1 Sự độc đáo trong việc sử dụng các danh từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

3.2 Sự độc đáo trong việc dùng phụ từ và đại từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

3.3 Sự độc đáo trong cách dùng một số từ chỉ thời gian khác của nhà thơ Xuân Diệu

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BẢNG PHỤ LỤC

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 5

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Xuân Diệu là một nhà thơ lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, ông có sáng tác đều đặn ở cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng 8-1945 Cho dù ở giai đoạn nào, cũng đem đến cho ông nhiều thành công rực rỡ Trên con đường nghệ thuật, ông luôn bền bỉ, dẻo dai, giàu sức tìm tòi để đem đến cho thơ Việt Nam bao điều mới mẻ cả nội dung và hình thức nghệ thuật, mà đặc sắc ở thơ Xuân Diệu là mảng thơ viết về tình yêu Ông được mệnh danh là ông hoàng của thơ tình, con người nặng tình đời, tình thơ và là nhà thơ mới nhất trong phong trào thơ mới Bên cạnh

đó Xuân Diệu đã dành một bộ phận không nhỏ trong sáng tác của mình để trực tiếp hoặc gián tiếp nói về thời gian với những khuynh hướng tìm tòi và thể hiện đa dạng, phong phú, nhiều màu sắc

Thời gian đối với Xuân Diệu là một bộ phận quan trọng kết thành hệ thống quan điểm về cuộc sống, thế giới quan, nhân sinh quan của nhà thơ Đồng thời ông đã khái quát lên thành tư tưởng, quan điểm mới mẻ về thời gian Trong thơ Xuân Diệu,

từ chỉ thời gian được sử dụng hết sức phong phú, đa dạng, thể hiện cách nhìn đa chiều về cuộc sống, muôn hình, muôn vẻ về thế giới Tất cả đã làm nên một diện mạo Xuân Diệu rất riêng, biểu hiện một cái tôi nghệ sĩ đầy tài năng và sáng tạo Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Xuân Diệu, nhưng người viết nhận thấy, vấn đề từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu vẫn còn bỏ ngỏ, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ Với xu thế, nghiên cứu văn học ở nhiều gốc độ, đặc biệt là soi rọi văn chương dưới ánh sáng ngôn ngữ học ngày càng phổ biến thường xuyên Chính vì thế, người viết quyết định chọn đề tài

“ Từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu” trên bình diện ngôn ngữ học, tạo cơ sở tiếp

cận thơ Xuân Diệu dễ dàng và chính xác hơn

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:

Có một thời gian, thơ mới không được chấp nhận, điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau Nhưng cơ bản là chúng ta không chấp nhận được cái mới, “cái Tây” một cách nhanh chóng Thế rồi, thơ mới vẫn được chấp nhận và có chỗ đứng vững chắc trên văn đàn Việc nhìn nhận và đánh giá lại toàn bộ thơ mới trở thành một nhu cầu cần thiết, Xuân Diệu là một trong những người mở đầu cho trào lưu văn học này và ông đã trở thành điểm thu hút và chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Trong mấy chục năm hòa mình vào cuộc sống mới, gần năm mươi năm cầm bút, với hơn bốn mươi tác phẩm gồm thơ, văn xuôi, tiểu luận, phê bình văn học và dịch thơ, là những con số đầy ý nghĩa về một tài năng và tấm gương lao động sáng tạo của nhà thơ Xuân Diệu Riêng lĩnh vực thơ ca, Xuân Diệu được rất nhiều giới nghiên cứu và bạn đọc nhìn nhận sáng tác của ông từ nhiều gốc độ khác nhau như

Lê Tiến Dũng, Mã Giang Lân, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đăng Mạnh, Thế Lữ, Hoàng Trung Thông, Lê Quang Hưng, Nguyễn Thị Hồng Nam,… Nhiều ý kiến đã lý giải được quá trình vận động, cảm hứng sáng tạo của Xuân Diệu qua các tập thơ, phác thảo những đặc điểm cơ bản trong phong cách thơ Xuân Diệu

Trong “Thi nhân Việt Nam”, nói về vị trí của Xuân Diệu, Hoài Thanh-Hoài

Chân khẳng định: “ Trong số 46 nhà văn được đưa vào tuyển tập này, Xuân Diệu

Trang 6

có số lượng bài thơ được tuyển nhiều nhất” Hoài Thanh đã nói lên cái năng lực

cảm nhận tinh tế bằng tấm lòng, tâm hồn của nhà thơ về cuộc sống

Vũ Ngọc Phan với bài viết “Một thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu”, Nguyễn Đăng Mạnh với “Xuân Diệu và niềm khát khao giao cảm với đời”, Lê Đình Kỵ với

“Thơ mới những bước thăng trầm”, Hà Minh Đức với “Thơ thơ và Gửi hương cho gió – những mùa hoa hương sắc một thời trong thơ”, dường như không ai

không nói đến: “nguồn sống rào rạt, lòng say mê yêu đời”, “niềm khát khao giao

cảm với đời”, “độ nồng nàng tha thiết” trong thơ Xuân Diệu

Các bài viết “Những cách tân về tư duy nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai

đoạn 1932-1945” của tác giả Lê Tiến Dũng và “Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam Các tác giả này

đánh giá cao về những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu so với thơ cổ Đó là chuyển từ tính ước lệ sang tư duy cá thể hóa, đặc biệt thơ Xuân Diệu nghiêng về cảm giác thế giới Con người trong quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu là con người mộng tưởng, cô đơn lạc loài, nhưng cũng là một con người sống nhiệt thành tha thiết, gần với con người trong cuộc sống mới Hai tác giả có chú ý cái hay, cái độc đáo trong hệ thống âm thanh, câu chữ trong thơ Xuân Diệu so với các nhà thơ lớp trước

Các tác giả như Hoàng Trung Thông với “Một Xuân Diệu – nhà thơ”, Mã Giang Lân với “Xuân Diệu sau cách mạng 1945” và Lê Tiến Dũng cùng bài viết

“Xuân Diệu một đời người một đời thơ” Các tác giả giới thiệu chung về cuộc đời

và quá trình sáng tác của Xuân Diệu qua các chặng đường Bên cạnh đó, có sự phân tích nội dung và hình thức nghệ thuật của từng tập thơ ở cả hai giai đoạn sáng tác Tác giả Mã Giang Lân còn đánh giá rất cao những đóng góp của Xuân Diệu ở các lĩnh vực: phê bình, giới thiệu thơ, dịch thơ của Xuân Diệu

Huy Cận trong “Các nhà văn được giải thưởng Hồ Chí Minh” đánh giá cao sự

đóng góp độc đáo của Xuân Diệu ở mảng thơ tình: “Bất cứ bài thơ nào của Xuân

Diệu cũng mang theo âm hưởng, cộng hưởng của cuộc đời Đọc xong bài thơ tình nào của Xuân Diệu, ta thấy yêu người, yêu cả ta đến thế, yêu cuộc đời đến thế, yêu tình yêu đến thế Thơ tình Xuân Diệu ngẫm cho kỹ là bài ca sự sống”

Qua “Xuân Diệu nhà thơ lãng mạn tiêu biểu”, tác giả Lê Đình Kỵ nhận xét:

“Sau Tản Đà, Xuân Diệu có lẽ là thi sĩ nhất trong các nhà thơ hiện đại Đã là thi sĩ

ít nhiều đều lãng mạn Tiêu biểu cho tiền lãng mạn là Tản Đà Tiêu biểu cho thơ lãng mạn toàn thịnh là Xuân Diệu” Hoài Thanh cũng cho rằng: Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, Đoàn Thị Đặng Hương nhận định: “Xuân Diệu hoàng tử của thi ca Việt Nam hiện đại”

Nghiên cứu riêng về nội dung trong thơ Xuân Diệu thì có các bài viết của những tác giả: Lý Hoài Thu, Lê Quang Hưng, Lưu Khánh Thơ, Trần Thanh Mại Các tác giả này cho rằng: nội dung thơ Xuân Diệu thể hiện một nỗi buồn và sự cô đơn, một cái tôi khát khao sự sống, sự cảm nhận cuộc sống bằng mọi giác quan,… Bên cạnh

đó, tác giả Trần Thanh Mại có nói đến hạn chế của nhà thơ Xuân Diệu: mặc dù là nhà thơ mới nhưng có những bài thơ, câu chữ, vần điệu, Xuân Diệu vẫn còn gần với các nhà thơ cổ một cách không cần thiết.[37, tr131]

Đa phần những ý kiến của các nhà nghiên cứu đã lý giải, đánh giá nhiều vấn đề trong thơ Xuân Diệu như: thế giới về con người, nhà thơ lãng mạn tiêu biểu, nhà thơ mới nhất, niềm khát khao giao cảm với đời, tinh thần phục hưng trong lý tưởng thẩm mỹ, một tâm hồn khát khao sự sống và tình yêu,…Bên cạnh đó, cũng có những bài viết mang tính chất tổng quát, tổng kết về sự nghiệp thơ ca và cuộc đời

Trang 7

của nhà thơ Xuân Diệu Các công trình của những tác giả kể trên rất đáng quan tâm

và trân trọng, nó bổ ích đối với những ai quan tâm đến nhà thơ Xuân Diệu

Khi bàn về vấn đề từ chỉ thời gian trong thơ ông, cũng có nhiều ý kiến khác nhau Qua quá trình khảo sát, nghiên cứu, người viết thu thập một số ý kiến của các nhà nghiên cứu bàn về từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu Cụ thể như sau:

Tác giả Hà Minh Đức có hai bài nghiên cứu về thời gian trong thơ Xuân Diệu:

Với “Thơ thơ và Gửi hương cho gió – những mùa hoa hương sắc một thời

trong thơ”, tác giả Hà Minh Đức cho rằng: thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân

Diệu là thời gian hiện tại Hiện tại luôn miêu tả tương quan với quá khứ, so sánh với

quá khứ “Xưa và nay, quá khứ và hiện tại được miêu tả trong không gian và thời

gian nghệ thuật gợi hình, gợi cảm” [19,tr135]

Ông cho rằng, chính lòng yêu đời, ham sống, mà nhà thơ Xuân Diệu quan tâm đến nhiều thời khắc, nhịp đời và phút giây hạnh phúc nhưng cũng rất lo lắng về sự mong manh, ngắn ngủi của những phút giây hiện tại:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn nòn, nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất

(Vội vàng)

Thời gian trong thơ Xuân Diệu như một triền gió thổi, nhân lên sức mạnh bên trong để cho tạo vật sinh sôi, nảy nở và đến được độ chin của hoa thơm cỏ ngọt, nhưng đồng thời cũng chính thời gian xóa đi tất cả Thời gian trong thơ Xuân Diệu tuyệt đối hóa hiện tại, chính vì thế ít nói đến tương lai:

Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai,

Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn

(Giục giã)

Trong “Gửi hương cho gió”, Xuân Diệu đã một lần thoát vãng hiện tại nhưng đó

là phút giây thoáng qua mà thôi

Xuân Diệu ý thức về thời gian và không gian của sự sinh sôi nảy nở, của sự sống

và tình yêu Nhà thơ lấy tuổi trẻ làm thước đo thời gian Chính vì thế, thơ Xuân Diệu rơi vào quan niệm sống gấp gáp, hưởng thụ

Như vậy, thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu chủ yếu là thời gian thực tại, mặc dù diễn ra trên ba trục quá khứ - hiện tại – tương lai, nhưng thơ Xuân Diệu ít nói về tương lai và cũng ít lần quay về quá khứ, nhất là đối với hai tập thơ trước cách mạng này

Riêng “Một thời đại trong thi ca”, tác giả Hà Minh Đức nói về thời gian trong

thơ tình Xuân Diệu Thời gian ở đây không theo trật tự tuyến tính, không chia đều cho năm tháng, mà nó quy tụ, dồn nén rồi bùng cháy, dữ dội:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

( Giục giã)

Xuân Diệu dường như chạy đua với thời gian, ông muốn tận hưởng tất cả.Trong

tình yêu cũng thế, Xuân Diệu kêu gọi người yêu nhanh chóng sống gấp vì“Tình non

sắp già rồi” Với tâm hồn luôn rộng mở, Xuân Diệu sẵn sàng mở rộng trái tim yêu

để thu về tiếng nói yêu thương Với tình yêu, người trong cuộc cũng phải vội vàng, giục giã vì thời gian không bao giờ đứng đợi một ai

Tác giả Lê Quang Hưng với bài “Cảm xúc thời gian trong thơ Xuân Diệu”

Với bài viết này, tác giả đã khái quát nên chủ thể cảm xúc thời gian trong thơ Xuân Diệu ở cả hai giai đoạn sáng tác:

Trang 8

Trước cách mạng, Xuân Diệu là người thù ghét thời gian, luôn lo sợ quy luật tàn

tạ của đời sống: “Hoa nở để mà tàn Trăng tròn để mà khuyết”, cũng như “ Người

gần để ly biệt”, khi mùa thu tới thì: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang”, rồi những

“Bông hoa rứt cánh, rơi không tiếng”

Thời gian trong thơ Xuân Diệu ở giai đoạn này là thời gian ngắn, cảnh sắc vận động chậm Xuân Diệu thường hay tả những buổi chiều, những mùa thu lặng, cảnh vật ít vận động và màu sắc thường bàng bạc ít nổi sáng:

“Sau đại thắng muà xuân năm 1945, Xuân Diệu vẫn bàng hoàng bâng khuâng, một khoảng thời gian dài mà kỷ niệm còn in dấu Đâu đây thời gian như dòng sông bồi đắp nên sự sống vĩnh hằng bao la” [25,tr105]

Với quan niệm tích cực về thời gian góp phần đổi mới chất thơ ca, cách thức

miêu tả và biểu hiện ở Xuân Diệu Mùa thu giờ đây không phải:“Với áo mơ phai

dệt lá vàng” mà mang theo ánh nhuộm thắm của tình yêu:

Mùa thu vàng sáng tới rồi đây

Áo nắng còn phơi gió thổi đầy

Áo trắng hai tà phơ phất hóa,

Áo vàng em mặc cánh thu bay

(Mùa thu vàng sáng)

Nhìn chung, cảm xúc trong thơ Xuân Diệu sau cách mạng vẫn giữ được cảm xúc hồn nhiên Đồng thời, Xuân Diệu ngày càng có ý thức vận dụng nhiều đại lượng

thời gian như một phương tiện, một biện pháp nghệ thuật: “khác hẳn với thời kỳ thơ

mới, thơ Xuân Diệu sau cách mạng, thời gian thực tế dài được chế ngự bởi tầm nhìn bao quát chủ động Nói khác đi những cảm xúc mới vẫn luôn tràn đầy, cùng với tầm tư tưởng mới, cùng với cái nhìn nghệ thuật mới về thời gian, về cuộc đời, đã làm thay đổi thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu” [65,tr245]

Trong bài viết “Thời gian và không gian nghệ thuật của Thơ thơ và Gửi

hương cho gió”, tác giả Lý Hoài Thu cho rằng: trong đội ngũ các nhà thơ mới có lẽ

Xuân Diệu là người duy nhất đã dành một bộ phận không nhỏ trong sáng tác của mình để đàm đạo trực tiếp về thời gian, đồng thời qua đó, khái quát thành những tư tưởng mang ý nghĩa triết học

Tác giả Lý Hoài Thu khẳng định hai phạm trù khác nhau trong thơ Xuân Diệu: Thứ nhất là quan niệm về thời gian như là một bộ phận quan trọng cấu thành quan điểm về vũ trụ và nhân sinh của nhà thơ

Thứ hai, phạm trù thời gian đã được xử lí như một yếu tố hình thức để kiến tạo nên từng tác phẩm cụ thể

Tác giả khẳng định: đọc “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”, dễ dàng nhận ra

một Xuân Diệu đang cô đơn chống trả lại sự tàn phá của thời gian Ông tìm cách chống đỡ, ngăn cản không cho thời gian cướp đi lạc thú của tuổi trẻ, tình yêu Một

mặt, ông cho rằng, thời gian không bao giờ đứng đợi “Tuổi trẻ chẳng hai lần thắm

lại”

Từ góc nhìn thời gian này, Xuân Diệu rút ra nhiều triết lý về tuổi trẻ, tình yêu thật thú vị:

Sự thật ngày nay không thật đến ngày mai

Thì ân ái có bao giờ lại cũ

(Phải nói)

Xuyên suốt hai tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”, thời gian là người điểm

nhịp, là chất “xúc tác” kỳ diệu, tạo nên độ nồng nàn đắm đuối riêng mà chỉ thật sự

lưu luyến, nuối tiếc đến từng giọt thời gian như Xuân Diệu mới có được

Trang 9

Tác giả Lý Hoài Thu cũng khẳng định: Xuân Diệu không giống các nhà thơ cùng thời, mà Xuân Diệu luôn say sưa với thời gian thực tại Dù có nói đến cái

“ngày xưa” hay cái “ngày mai” là chủ ý ông thiên về khẳng định cuộc sống ngay ở

trục thời gian thực tại:

Cần chi biết ngày mai hay bữa trước

Gần hôm nay thì yêu dấu là nên…

Gặp nhau đây ai biết từ thuở nào

Xa nhau nữa ai đoán ngày tái hội

( Mời yêu)

Thời gian sống và yêu trong thơ Xuân Diệu cứ rút dần khoảng cách, từ một đời, một thời, đến từng năm, từng tháng, từng ngày, thậm chí đến từng phút, từng giây, từng khoảnh khắc

Tác giả Lê Tiến Dũng với hai bài viết về thời gian trong thơ Xuân Diệu

Bài viết “Xuân Diệu một đời người – một đời thơ”, bài viết này nội dung cũng

chỉ nói về sự hốt hoảng lo âu của Xuân Diệu trước thời gian bởi: “Ông nhận ra các

giới hạn của con người, cái giới hạn tưởng vô phương vượt qua cứ lặp đi lặp lại trong thơ ông như một nỗi ám ảnh Đó là giới hạn về thời gian”.[14,tr276] Cho

nên, trong thơ Xuân Diệu có sự vội vàng, giục giã, hối hả,…tất cả muốn cướp lấy tận hưởng hết những khoảng thời gian ngắn ngủi của đời người Như vậy, tác giả Lê Tiến Dũng cũng giống tác giả Hà Minh Đức Cả hai đều cho rằng: Xuân Diệu ý thức được giới hạn của thời gian, và như thế, nó chi phối quan niệm sống của nhà thơ Xuân Diệu

Với “Thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932-1945 cái nhìn nghệ thuật mới về thế giới

và con người”, tác giả Lê Tiến Dũng cho rằng: Xuân Diệu nhìn thế giới ở trạng thái

luôn vận động Sự vận động đổi thay đó là qui luật tất yếu vĩnh hằng của tạo hóa trong nhịp điệu thời gian Tất cả như một lời nhắn nhủ cái xanh tươi sẽ qua mau, cái tàn tạ, già nua sẽ vĩnh viễn:

Vĩnh viễn già nua xuân ngắn ngủi

Mái xanh hương đượm chốc sương đầy

Trong “Xuân Diệu” tác giả Vũ Tiến Quỳnh cho rằng: nhà thơ Xuân Diệu luôn

khát khao sự sống, luôn lo âu sợ mất mát Chính vì thế, Xuân Diệu ra cái giới hạn cho con người, một cái giới hạn như vô phương vượt qua, cứ lặp đi lặp lại trong thơ ông như một nỗi ám ảnh thời gian Tác giả Vũ Tiến Quỳnh cũng khẳng định: Xuân Diệu luôn vội vàng, giục giã, hối hả để cướp lấy tận hưởng, khắc phục giới hạn của thời gian

Tác giả Lê Đình Kỵ trong “Xuân Diệu nhà thơ lãng mạn tiêu biểu” cũng cho

rằng: Xuân Diệu vội vàng sống, giục giã yêu, tận hưởng những giờ phút hiện tại Vì đời người ngắn ngũi mà thời gian thì không đứng lại:

Mau với chứ vội vàng lên với chứ…

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi…

Em phải nói, phải nói và phải nói…

Trang 10

Xuân Diệu luôn cố níu giữ, giành giật ra khỏi cái vô hình của thời gian Và tác giả Lê Đình Kỵ cho rằng chỉ đến với thơ mới, nên Xuân Diệu mới có cái say sưa, hối hả quyết liệt như vậy:

Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ

Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lọi

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm

(Gịuc giã)

Với “Xuân Diệu”, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: nhà thơ Xuân Diệu

nhận thức được thế giới đang vận động, thời gian luôn luôn trôi chảy, tất cả đều không vĩnh viễn Chính vì thế, nhà thơ cố níu giữ thời gian:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

( Vội vàng)

Sự ý thức về thời gian như thế đã tạo nên một quan niệm sống vội vàng giữa

cuộc đời và vũ trụ: “Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”

Bài viết “Xuân Diệu nỗi ám ảnh thời gian” của tác giả Đỗ Lai Thúy có phần

tương đối đầy đủ hơn Nhưng bài viết này chủ yếu nói về thơ Xuân Diệu trước cách mạng Tác giả Đỗ Lai Thúy cho rằng:Xuân Diệu khác các nhà thơ cổ, ông sử dụng

rất nhiều từ chỉ thời gian quen thuộc như: xuân, hạ, thu, đông,…ông còn dùng cái

vô hình như “ngọn gió” để chỉ cái vô hình kia là thời gian Thế nhưng, không vì thế

mà thời gian trong thơ Xuân Diệu trở nên trừu tượng

Thời gian trong thơ Xuân Diệu mang tính lưỡng trị, một mặt nó đem đến tuổi trẻ, tình yêu, một mặt cũng đem đến sự phôi phai tàn úa Xuân Diệu ý thức được sự trôi chảy của thời gian, chính vì thế mà ông bám riết lấy trần thế, níu lấy cuộc sống mà chống lại với thời gian Tức biết sống với hiện tại, coi trọng hiện tại và Xuân Diệu muốn chiến thắng bằng cách lấy cái chủ quan để chiến thắng cái khách quan

Đặc biệt, từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu thể hiện rất rõ trong những mảng thơ viết về tình yêu, tình yêu trong thơ Xuân Diệu đồng nghĩa với tuổi trẻ, với muà xuân

Cuối cùng, tác giả Đỗ Lai Thúy kết luận: thơ Xuân Diệu là một thế giới rộng mở,

đa âm Trong bản giao hưởng âm thanh này nói lên những giai âm như “mùa thu”:

sự nhận thức thời gian, “vội vàng”: một ứng xử với thời gian, một triết lý thời gian

“Gửi hương cho gió”:tình yêu như là sự chiến thắng thời gian và sau cùng là “Thơ thơ”: nghệ thuật như sự vĩnh cửu hóa thời gian [63,tr 76]

Có thể nói rằng, đã có nhiều công trình nghiên cứu dành cho thơ Xuân Diệu, nhưng đa phần mang tính khái quát, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể và riêng

biệt về “Từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu” Người viết tiếp tục khai thác vấn

đề này với mong muốn tìm hiểu, khám phá cái hay riêng trong thơ ông trong lĩnh vực nghiên cứu này Người viết hy vọng có thể góp phần vào việc khám phá và khẳng định sức sáng tạo đa dạng và phong phú của hồn thơ Xuân Diệu về cách dùng từ chỉ thời gian trong thơ ông

Trang 11

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Với việc thực hiện đề tài: “Từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu”, người viết

có dịp đi sâu khám phá và lí giải những nét độc đáo, mới lạ, những đóng góp mới về phương diện sử dụng từ chỉ thời gian của Xuân Diệu

Thêm vào đó, việc nghiên cứu đề tài này còn góp phần khẳng định tầm quan trọng của từ chỉ thời gian trong việc tạo nên những thành công về phương diện nội dung và nghệ thuật thơ Xuân Diệu Trên cơ sở đó, góp phần khẳng định những giá trị đích thực và đặc sắc trong sáng tác của ông Giúp người viết có cái nhìn toàn diện hơn về những đóng góp lớn lao của nhà thơ cho nền văn học nước nhà

Mặt khác, đi vào nghiên cứu vấn đề này, người viết còn có dịp làm quen với một phương pháp nghiên cứu và thực hiện đề cương khoa học, làm nền tảng cho những bước nghiên cứu tiếp theo

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Dựa vào những công trình đã nghiên cứu trước đây Với đề tài này, người viết đi sâu tìm hiểu sự vận dụng từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu.Yêu cầu đặt ra là phải có tiêu chí nhận diện từ chỉ thời gian và phân loại chúng Qua đó, bước đầu phân tích và chỉ ra hiệu quả sử dụng từ chỉ thời gian trong việc hình thành phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà thơ Xuân Diệu

Song song với việc phân tích, lí giải việc sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu, người viết có mở rộng vấn đề, so sánh với một số nhà thơ khác Đồng thời, có sự mở rộng lí giải những cụm từ chỉ thời gian có giá trị, có ý nghĩa, đã có vai trò khẳng định phong cách đặc trưng riêng của nhà thơ Xuân Diệu

Với đề tài này, phạm vi tư liệu mà người viết sử dụng bao gồm các tập thơ tiêu biểu của Xuân Diệu ở cả hai giai đoạn sáng tác:

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trong phạm vi đề tài này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thống kê:

Với phương pháp này, người viết thống kê từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu qua các tập thơ trong phạm vi khảo sát Từ đó phân loại từ chỉ thời gian, người viết đưa ra những số liệu, tỷ lệ cụ thể từ chỉ thời gian được Xuân Diệu sử dụng trong thơ làm cơ sở, phân tích, chỉ ra cách sử dụng từ chỉ thời gian độc đáo của nhà

Trang 12

thơ Xuân Diệu Đồng thời, qua đó giúp người viết có cái nhìn bao quát, khách quan

về cách vận dụng từ chỉ thời gian trong thơ ông

Phương pháp phân tích, chứng minh:

Người viết dùng phương pháp phân tích, chứng minh, đưa ra những dẫn chứng

cụ thể, tiêu biểu Sau đó, người viết đi vào phân tích cụ thể những dẫn chứng được lựa chọn nhằm làm nổi bật những nét độc đáo trong việc sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu

Phương pháp so sánh:

Với phương pháp so sánh, người viết so sánh từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu với việc sử dụng từ chỉ thời gian ở một số nhà thơ mới cùng thời như: Huy Cận, Hàn Mạc Tử,…Để từ đó, thấy được những nét riêng trong việc vận dụng từ chỉ thời gian vào ngôn ngữ thơ của nhà thơ Xuân Diệu

Phương pháp qui chiếu:

Dùng phương pháp qui chiếu, giúp người viết rút ra được những cái khác biệt độc đáo trong việc sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu so với các nhà thơ khác

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn sử dụng một số biện pháp, thủ pháp như: tập hợp tư liệu, phân loại tư liệu, lập biểu mẩu,… Để làm cơ sở cho các luận điểm được trình bày trong luận văn

Các phương pháp trên đây không phải thực hiện một cách riêng lẻ, biệt lập, mà

nó được vận dụng, phối hợp với nhau trong quá trình khảo sát phân tích thơ Xuân Diệu cùng với việc đánh giá các vấn đề nội dung trong luận văn

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

Trang 14

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Hiện nay, trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học vẫn chưa có sự thống nhất các định nghĩa về từ, còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau Trong số những quan niệm khác nhau đó, có thể nhận ra hai khuynh hướng chính:

Từ Tiếng Việt trùng với âm tiết :

Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác giả: M.B.Emenneu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp

- M.B.Emenneu định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu

- Cao Xuân Hạo: Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết

vị (Syllabophoneme), hình tiết (Morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word) Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ

và tất cả là đồng thời Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì

cơ cấu của tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết

- Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền

Từ tiếng Việt không trùng âm tiết:

Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác giả Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê, Đái Xuân Ninh, Lưu Vân Lăng, Đỗ Hữu Châu

- Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử

- Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp

- Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa

- Đái Xuân Ninh: Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh

- Lưu Vân Lăng:… Những đơn vị dùng tách biệt nhỏ nhất mới là từ Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất

Từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do hoặc chỉ một tiếng tự do hay nhiều tiếng tự

do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp tiếng Việt

- Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu [62,tr10]

Trang 15

1.1.2 Đặc điểm của từ tiếng Việt :

Qua các định nghĩa nêu trên, ngươì viết nhận thấy các nhà Việt ngữ học đều có sự thống nhất chung về từ ở một số đặc điểm chính:

- Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ gồm một hoặc nhiều âm tiết

- Từ có cấu tạo hoàn chỉnh, có nghĩa nhỏ nhất và được vận dụng tự do

1.2 KHÁI NIỆM VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN VÀ CÁCH PHÂN LOẠI:

Trong sự nhận thức về thời gian, người Việt chúng ta thường sử dụng từ để

biểu thị các khoảng thời gian ngắn như: khắc, canh, giây, phút, giờ,…đến những từ chỉ các khoảng thời gian dài như: năm, thập kỷ, thế kỷ,…Đó là những từ chỉ thời

gian

Tuy nhiên, việc phân loại từ chỉ thời gian hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất cao giữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học về kết quả phân loại và thuật ngữ để gọi tên Sau đây là một số nhóm quan điểm của các tác giả về từ chỉ thời gian:

1.2.1 Nhóm 1: Các tác giả Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Hữu Ngọc và Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia

Các tác giả này cho rằng, từ chỉ thời gian gồm 3 loại: danh từ, phó từ và đại

từ

Quan điểm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên:

Theo tác giả, từ chỉ thời gian gồm 3 loại: danh từ, phó từ và đại từ

- Danh từ chỉ thời gian: hôm, ngày, bữa, năm, thời, giờ, lúc, thế kỷ, thời

Và anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu anh phun theo lửa đạn vòng cầu

(Lê Anh Xuân)

Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mong ước, Tôi sẽ về sông nước của quê hương

(T ế Hanh) [35,tr 63]

- Đại từ chỉ thời gian:

+ Đại từ nghi vấn không gian – thời gian: bao giờ, bấy giờ, đâu, bao lâu + Đại từ thay thế chỉ ý nghĩa không gian – thời gian: bao lâu, bấy lâu, bao

giờ, bấy giờ, đến đâu, đến đó,…

Ví dụ:

Anh đi bao lâu, tôi sẽ đợi bấy lâu Anh đi bao giờ, tôi cũng sẽ đi bấy giờ Giặc đi đến đâu, chúng giết hại đồng bào ta đến đó

Trang 16

[35, tr 60]

Quan điểm của tác giả Nguyễn Hữu Ngọc:

Từ chỉ thời gian gồm 3 loại:

- Danh từ: ngày, hôm, tuần, tháng, năm, mùa, thời kỳ, tối, sáng, trưa, ban trưa, buổi trưa, buổi tối, ban đêm, khi, hồi, lúc, dạo

- Phó từ: đang (đương), đã, vừa, mới, sẽ

Ví dụ:

Đã nghe nước chảy lên non

(Tố Hữu)

- Đại từ: nay, nãy, giờ, bây giờ, bấy giờ, xưa [39,tr 158]

Quan điểm của các tác giả thuộc trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn

quốc gia:

Từ chỉ thời gian gồm 3 loại: danh từ, phụ từ và đại từ

- Danh từ chỉ thời gian:

+ Danh từ đơn vị thời gian xác định: năm, tháng, giờ, phút, giây, canh,… + Danh từ đơn vị thời gian không xác định: khi, lúc, hồi,…

Ví dụ:

Một giờ nghỉ, mấy phút suy nghĩ [68, tr 97]

- Phụ từ thời gian tức là phụ từ để biểu thị các nghĩa ngữ pháp về thời gian

như: đã, sẽ, đang, vừa, mới, sắp, từng, liền, bèn, rồi,…

Ví dụ: Anh ấy đã về rồi

Tôi đã xem vỡ kịch này

Về nhà mới thấy vui

[68, tr 112]

- Đại từ không gian, thời gian: đây, đấy, đó, kia, ấy, nọ, này, nay, bây giờ, bấy

giờ,…

1.2.2 Nhóm 2 : Quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Dân

Với tác giả Nguyễn Đức Dân, ông quan niệm từ chỉ thời gian gồm 3 loại: phụ từ, đại từ và trạng từ (trạng ngữ) Cụ thể như sau:

- Ý nghĩa thời gian được đánh dấu qua các phụ từ, đó là những từ hư: rồi,

xong, vừa, mới, vẫn, như, liền, bèn, nữa,…

Ví dụ:

Ông ở Việt Nam bao lâu rồi ?

Ông ở Việt Nam bao lâu nữa ?

Ông ở Việt Nam bao lâu ?

[11, tr 119]

- Đại từ chỉ thời gian: ngày nào, hôm nào

Ví dụ:

Anh về ngày nào ?

Anh về hôm nào ?

[11,tr121]

- Trạng từ và trạng ngữ thời gian: Tuần trước, tháng sau, ngày sau, dạo nọ,

lúc này, hồi đó, mới đây, ban sáng

Trang 17

Tôi vào viếng lăng Bác trong chuyến đi Hà Nội mới đây

Tối qua anh đang làm gì ?

[11,tr122]

1.2.3 Nhóm 3: Quan điểm của tác giả Hữu Đạt:

Theo tác giả Hữu Đạt, từ chỉ thời gian gồm 2 loại: danh từ và động từ:

- Danh từ trỏ thời gian như dạo, khi, hồi, chốc, lúc, giây, phút, giờ, buổi,

ngày, tháng, vụ, mùa, năm,…[15,tr107]

- Động từ có ý nghĩa trỏ thời gian của vận động gồm các từ: từng, đã, vừa,

mới, đang, sẽ,…[15,tr108]

1.2.4 Nhóm 4: Quan điểm của các tác giả Nguyễn Kim Thản, Bùi

Đức Tịnh, Đào Thản, Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt tập 2)

Theo quan điểm của các tác giả này, từ chỉ thời gian gồm có hai loại: danh từ

và phụ từ (phó từ)

Quan niệm của tác giả Nguyễn Kim Thản

Theo tác giả, từ chỉ thời gian được chia làm 2 loại: danh từ chỉ thời gian và phụ từ chỉ thời gian

- Danh từ chỉ thời gian là một nhóm nhỏ thuộc lớp danh từ không chỉ cá thể

Có các danh từ chỉ thời gian như sau: khi, hồi, lúc,…Đặc điểm là bao giờ chúng

cũng được đặt trực tiếp sau số từ

- Phó từ chỉ thời gian gồm: sẽ, đã, từng, có, vừa, mới, rồi, vẫn, còn, lại,

sắp,…là những phó từ có tác dụng làm dấu hiệu thời gian [53,tr 318]

Quan điểm của tác giả Bùi Đức Tịnh:

Tác giả này có quan điểm, từ chỉ thời gian gồm 2 loại: danh từ chỉ thời gian

và phó từ chỉ thời gian

- Một số danh từ khái quát hợp với định từ chỉ thị: kia hoặc các phụ từ: nay,

trước tạo thành phụ từ chỉ thời gian: Hôm kia, ngày kia, hôm nay, ngày nay, hôm trước, ngày trước, thuở trước,…

- Phụ từ chỉ lúc xảy ra các giới hạn của các hành động và trạng thái: mai sau , bao giờ,…

Ví dụ:

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này

(Nguyễn Du)

- Phụ từ chỉ lúc xảy ra: bỗng, thoạt, thoắt,…

- Phụ từ chỉ thời gian: mau, lâu, mãi mãi, luôn luôn,…

- Phụ từ nghi vấn dùng để hỏi về thời gian: bao giờ, bao lâu, chừng nào

Ví dụ:

Bao giờ anh trở lại

- Giới từ chỉ sự tương quan về thời gian: Trước, sau, ngay, chính, đang, giữa,

đến, cho đến, mãi đến, trong suốt, nơi, từ, đến [64, tr 289]

Quan niệm của tác giả Đào Thản:

Từ chỉ thời gian gồm hai loại: danh từ và phó từ

- Danh từ chỉ thời gian: khi, lúc, này, chốc, lát, năm, tháng, giây, phút, giây

Trang 18

Càng âu duyên mới, càng giàu tình xưa

(Nguyễn Du)

- Lúc và khi như vậy chỉ đồng nhất với nhau khi cùng biểu thị thời điểm

Nhưng cùng để biểu thị thời điểm không phải lúc nào chúng cũng được dùng như nhau [52, tr 48]

+ Nói chung, khi thường dùng thích hợp hơn để chỉ thời điểm xảy ra trong

sự việc, thời điểm của một hoạt động hoặc quá trình: khi làm lụng, khi nghỉ ngơi,

khi suy nghĩ, khi ăn, khi nói

Ví dụ:

Khi đi trúc chửa mọc măng,

Khi về trúc đã cao bằng ngọn tre

- Chốc và lát đều là danh từ biểu thị một khoảng thời gian rất ngắn, khoảng

thời gian này có tính chất ước chừng, không chính xác [52, tr 63]

- Giây lát, đó chỉ là khoảng thời gian rất ngắn, trong một giây một lát: gặp

nhau giây lát rồi lại chia tay, chỉ trong một giây lát, đâu phải là việc giây lát,…

- Giây phút, vừa có thể dùng để chỉ thời đoạn, lại vừa có thể dùng để chỉ thời điểm: chần chừ giây phút, chỉ trong một giây phút, trong những giây phút ngắn

ngủi, giây phút chạnh lòng, chỉ đợi có giây phút đó, giây phút xúc động được gặp Bác lần đầu,…

- Phó từ chỉ thời gian: sẽ, sắp, mãi,…

+ Sẽ và sắp là hai phó từ thường được dùng với động từ để biểu thị thời gian

Trang 19

Sắp phán đoán về khả năng sự việc xảy ra vào một thời điểm rất gần với lúc

nói

Ví dụ:

Trời sắp mưa

Cỏ non sắp mọc

Anh sắp phải đi xa [52, tr 52]

+ Mãi là một phó từ thường được dùng để biểu thị sự kéo dài thời gian của

Quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban (trong Ngữ pháp tiếng Việt – tập 2):

Theo tác giả Diệp Quang Ban, từ chỉ thời gian gồm có:

- Danh từ đơn vị thời gian:

Bao gồm danh từ chỉ đơn vị thời gian xác định và danh từ chỉ khoảng

thời gian không xác định: thiên niên kỷ, thế kỷ, thập kỷ, năm, tháng, tuần, ngày, giờ,

phút, giây,…, dạo, khi, hồi, lúc, chốc, hôm, vụ, mùa

Ví dụ:

Hai thế kỷ này, hai tháng ấy, một đôi khi, dạo nọ

Trong số những danh từ chỉ khoảng thời gian không xác định, có những từ thường không xuất hiện trực tiếp sau số từ số đếm xác định Những từ này chỉ đứng

sau: những, một (với ý nghĩa phiếm định) và một đôi (phiếm định), nhưng tuyệt đại

đa số đứng trước các từ chỉ định: ấy, nọ, này [2, tr 30]

Đi ngay, đi liền, giảm dần,…

- Ý chỉ sự duy trì trong thời gian như: nữa, hoài, luôn, mãi,…

Ví dụ:

Học, học nữa, học mãi

( Lênin ) [2 tr 89]

1.2.5 Nhóm 5: Quan điểm của các tác giả Lê Biên, Nguyễn Hữu

Quỳnh, Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung (trong Ngữ pháp tiếng Việt – tập 1)

Theo quan điểm của các tác giả thuộc nhóm 5, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể phân chia thành hai mảng lớn: thực từ và hư từ Trong đó, có chứa từ chỉ thời gian

Quan điểm của tác giả Lê Biên:

Theo tác giả Lê Biên thì:

Thực từ gồm: Danh từ, động từ, tính từ và số từ Trong đó, đại từ không phải là thực từ đích thực, mà chỉ có tính chất thực từ

Hư từ gồm: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ và thán từ

Trong đó có: danh từ, phụ từ và đại từ chỉ thời gian

Trang 20

- Danh từ đơn vị chỉ phạm vi, khoảng thời gian và không gian:

Gồm các từ như: vùng, miền, khoảnh, nơi, chỗ, chốn, xứ, phía, phương,

hướng, lúc, dạo, khi, hồi, thửa, khắc, canh, buổi

Ví dụ:

Một khoảnh vườn

Một miền sa mạc

Đêm năm canh, ngày sáu khắc

Cần lưu ý là các từ khi, lúc, có thể lâm thời dùng như quan hệ từ, có tác dụng

Nhóm: đã, đang, sẽ, từng mang ý nghĩa ngữ pháp chỉ thời thế

Phụ từ đã với ý nghĩa về thời có đặc điểm:

*Hoạt động bắt đầu trong quá khứ, kết thúc rồi (so với thời điểm phát ngôn)

Ví dụ:

Tôi đã xem phim này

*Hoạt động bắt đầu trong quá khứ và chưa kết thúc (đến thời điểm phát ngôn, sự việc còn tiếp diễn)

Ví dụ:

Từ sáng hôm nay, chị ấy đã sốt li bì

*Hoạt động bắt đầu trong quá khứ, đang tiếp diễn, còn có thể kéo dài trong tương lai

Ví dụ:

Cháu Lan đã vào đại học

Phụ từ đang chỉ về thời hiện tại, thường mang ý nghĩa chỉ thời tương đối

hơn là tuyệt đối (so với thời điểm phát ngôn)

Ngược lại, phụ từ sẽ chỉ thời tương lai thường dùng với ý nghĩa chỉ thời

gian tuyệt đối nhiều hơn

Ví dụ:

Chiều mai, bố sẽ đi công tác

Phụ từ từng cũng mang nhiều ý nghĩa thời thế, từng chỉ thời quá khứ (so

với thời điểm phát ngôn) sự việc, hoạt động đã xảy ra Về ý nghĩa “thời”, phụ từ

từng chỉ ra sự việc, hành động trong quá khứ và đến nay (thời điểm phát ngôn) thì

đã kết thúc hẳn

Ví dụ:

Anh ấy (đã) từng ở Liên Xô bốn năm

Ngoài ra, từng còn có thể chỉ ý nghĩa hành động có giới hạn, hành động chỉ

xảy ra một lần:

Ví dụ:

Tôi chưa từng đến nước Nga

Tôi chưa từng gặp anh ấy [6, tr 155]

- Đại từ:

Đại từ chỉ định: đó là những đại từ trỏ nơi chốn, thời điểm xác định (định

vị về thời gian, không gian) Sự định vị này lấy vị trí, thời điểm người nói làm điểm

gốc để giới hạn vị trí, thời đoạn như: đây, đó, đấy, nãy, này, nó, ấy,

Trang 21

* Nay thường đi kèm, hạn định thời gian hiện tại (theo nghĩa rộng)

Ví dụ:

Hôm nay, ngày nay, buổi nay,…

* Nãy hạn định thời gian gần mà sự việc vừa xảy ra

Ví dụ:

Hồi nãy, lúc nãy, khi nãy,…

* Nọ chỉ định thời gian thuộc về quá khứ, thời gian xảy ra trước so với thời

*Ngày kia chỉ thời gian sau thời điểm nói một ngày (thuộc về tương lai)

+ Đại từ để hỏi: bao giờ

Quan điểm của tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh:

Theo tác giả này cho rằng, trong tiếng Việt có thể phân chia các loại từ sau đây: Thực từ gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, hư từ gồm phó từ, quan hệ

từ, tình thái từ gồm trợ từ và thán từ

- Danh từ chỉ thời gian là danh từ biểu thị các khái niệm về thời gian Các

danh từ chỉ thời gian thường dùng là: ngày, hôm, tuần, tháng, năm, mùa, thời, thời

kỳ, đời, sáng, trưa, chiều, tối, đêm, buổi sáng, buổi trưa, ban trưa, chiều tối, ban đêm, ban ngày, khi, hồi, lúc, dạo,…

Danh từ chỉ thời gian cũng như các danh từ khác, cũng có thể kết hợp với các

từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ, đó và hai từ chỉ định chuyên dùng kết hợp với các danh

từ chỉ thời gian: nay, nãy

Ví dụ:

Ngày này, ngày nay, ngày kia, ngày đó, ngày ấy

Hôm nay, hôm kia, hôm nọ, hôm đó, hôm ấy

Các danh từ thời gian kết hợp với nay: ngày, bữa, năm, tháng, đời, thời, trưa,

chiều, tối, đêm

Các danh từ thời gian kết hợp với nãy: hồi, khi, lúc, ban

Danh từ chỉ thời gian cũng có thể kết hợp với số từ

Ví dụ:

Một ngày, hai tháng, một đời, ba đời, một thời, một tối, năm đêm, vài

buổi, dăm bữa,…

Các tổ hợp: một lúc, một hồi, một dạo, đôi khi, đôi hồi là những cụm từ cố

định, biểu thị ý nghĩa chỉ một khoảng thời gian ngắn hoặc thời gian bị mất quãng [44, tr150]

- Nhóm phó từ biểu thị ý nghĩa thời gian – không gian thường đi kèm với

động từ, tính từ: đang (đương), đã, vừa, mới, sẽ Trong đó:

Trang 22

* Đang thường chỉ thời gian hiện tại

Đang mùa gặt Đang độ trưởng thành Đang tuổi thanh niên

* Đã thường biểu thị ý nghĩa quá khứ

Ví dụ:

Đã nghe nước chảy lên non

Đã nghe đất chuyển thành con sông dài

Đã nghe gió ngày mai thổi lại

Đã nghe hồn thời đại bay cao

( Nguyễn Du)

* Vừa, mới chỉ thời gian vừa xảy ra

Ví dụ:

Sách mới mua

Báo vừa mới phát hành

Sẽ chỉ thời gian tương lai

Ví dụ:

Em sẽ đứng trên đôi chân tuổi trẻ

Đôi gót đỏ lại trở về quê mẹ

Em sẽ đi trên đường ấy thênh thang

Như những ngày xưa rực rỡ sao vàng

( Tố Hữu)

- Về đại từ chỉ thời gian gồm các loại sau:

Đại từ để hỏi vị trí và thời gian: đâu, nào, bao giờ

Ví dụ:

Anh định bao giờ mới đi ?

Anh lên bao giờ ?

Hôm nào thì lên đường ?

Đại từ chỉ định thời gian: nãy, này, giờ, bây giờ, bấy giờ

Ví dụ:

Nay ta bảo thật các người

(Trần Quốc Tuấn)

Làm cho rõ mặt phi thường

Bây giờ ta sẽ rước nàng nghi gia

( Nguyễn Du) [44, tr 165]

Trang 23

Quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung (trong Ngữ pháp tiếng Việt – tập 1)

Thực từ gồm: danh từ, động từ, đại từ

Trong đó:

- Danh từ chỉ ý nghĩa sự vật là thời gian: hồi, dạo, buổi, vụ, mùa

Ví dụ:

Má ước sao được một bữa anh về phép Hồi chiều má đương nhắc hồi

nào anh đi (…) [3, tr 86]

- Động từ chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian: bắt đầu, tiếp tục, kết thúc,

thôi hết,…

Ví dụ:

Tôi liền thôi không gắng ngủ nữa

Câu chuyện về người cha của bà kết thúc ở chi tiết bi tráng nhất [3, tr 96]

- Đại từ:

Đại từ xác chỉ trỏ thời gian: bây giờ, giờ, bấy giờ, bấy, nãy,…

Ví dụ:

Bây giờ cũng là buổi chiều của một ngày ẩm ướt giữa mùa thu

Vậy mà bây giờ chú nỡ mắng anh như vậy

Bấy giờ là mùa đông

Từ bấy đến nay tôi không gặp lại anh [3, tr 115]

Đại từ phiếm chỉ thời gian: bao lâu, bao giờ,…

Ví dụ:

Bao giờ thì ta bắt đầu được ?

Thường thì phải nói khoảng bao lâu ? [3, tr117]

Hư từ gồm: phó từ và kết từ

Trong đó:

- Phó từ thời gian: đã, từng, mới, sẽ, sắp,…

Phó từ thời gian chỉ quan hệ về thời gian với quá trình hay đặc trưng trong cách phản ánh của tư duy Quan hệ thời gian được xác định theo một điểm mốc tương ứng với thời điểm thực tại, hoặc tương ứng với thời điểm phản ánh, hoặc

tương ứng với thời gian giữa các quá trình hay các đặc trưng Phó từ thời gian còn

xác định tính hiện thực hoặc phi hiện thực của hành động, trạng thái, tính chất theo quan hệ thời gian

Ví dụ:

Có lẽ đã hai ba giờ sáng (…) Nghe tiếng đôi chim trống mái gọi nhau đã

gần hơn

Nếu em muốn, toàn bộ những bức tranh này và cả những cái anh sẽ vẽ,

tất cả đều thuộc về em

Tuy nhiên, có những vấn đề thì có tác giả trình bày kỹ lưỡng, cặn kẽ, nhưng cũng có tác giả trình bày một cách sơ lược, khái quát Bên cạnh đó, người viết nhận thấy, giữa các tác giả vẫn chưa có sự thống nhất ở một số vấn đề:

Trang 24

Về việc phân loại: các tác giả Hữu Đạt, Đào Thản,… thì lại cho rằng có 2 loại từ chỉ thời gian, tác giả Nguyễn Đức Dân, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Nguyễn Hữu Ngọc, Đỗ Thị Kim Liên, …với công trình phân loại từ chỉ thời gian gồm 3 loại, có trường hợp lên đến 4 loại như quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt – tập 1 Thậm chí, có trường hợp, cùng một tác giả nhưng ở hai công trình khác nhau lại đưa ra những quan điểm không giống nhau Đó là trường hợp của tác giả Điệp Quang Ban trong hai quyển: Ngữ pháp tiếng Việt-tâp 1 và Ngữ pháp tiếng Việt-tập 2

- Ở quyển Ngữ pháp tiếng Việt-tập 1, ông phân từ chỉ thời gian làm 4 loại

- Ở quyển Ngữ pháp tiếng Việt-tập 2, ông lại phân từ chỉ thời gian thành 2 loại

Về tiêu chí phân loại: cùng một từ, nhưng các tác giả lại xếp vào các từ loại

khác nhau Chẳng hạn, trường hợp từ “đã”, “đang”, thì có tác giả lại xếp vào lớp

động từ chỉ thời gian (Hữu Đạt), có tác giả lại xếp vào lớp phó từ (hay phụ từ) chỉ thời gian (Đỗ Thị Kim Liên, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Hữu Ngọc)

Ngoài ra, việc gọi tên cũng chưa có sự thống nhất giữa các tác giả Cùng một

từ chỉ thời gian nhưng một số tác giả gọi là phụ từ chỉ thời gian (Lê Biên, Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt-tập 2), Nguyễn Đức Dân, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn) Một số tác giả khác lại gọi là phó từ chỉ thời gian (Đỗ Thị Kim Liên, Hữu Quỳnh) Cũng có trường hợp như ở tác giả Diệp Quang Ban, ông vẫn chưa có sự thống nhất trong việc gọi tên Chẳng hạn, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt-tập 1, ông gọi là phó từ, đến quyển Ngữ pháp tiếng Việt-tập 2, ông lại gọi là phụ từ

Như vậy:

Qua việc phân loại về từ chỉ thời gian chúng ta thấy vẫn còn khá phức tạp, chưa có sự thống nhất giữa các tác giả Việt ngữ học Đối với luận văn này, người viết sử dụng quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung trong

quyển “Ngữ pháp tiếng Việt - tập1” Song, người viết phân từ chỉ thời gian gồm 3

loại: danh từ, đại từ, phụ từ

Phân loại từ chỉ thời gian

Danh từ chỉ thời gian Phụ từ chỉ thời gian Đại từ chỉ thời gian Ngày, giờ, giây,

phút, lúc, khi, sáng, chiều,

đêm, hoàng hôn, tháng,

mùa, năm, hồi, canh, thế

kỷ, dạo, buổi, thuở, ngày

mai, hôm nay, xuân, hè,

thu, đông, quá khứ, tương

lai,…

Đã, đang, sẽ, sắp, vừa, mới, mãi,…

Bây giờ, bấy giờ, bao lâu, bao giờ, nay,…

1.3 THỜI GIAN NGHỆ THUẬT:

Trong cuốn “Thi pháp học hiện đại”, tác giả Trần Đình Sử quan niệm:

“Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật thể hiện phương thức

tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” thì thời gian bao gồm hai yếu tố:

Trang 25

– Thể hiện sự miêu tả trần thuật xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian

– Cái được trần thuật diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật

Với tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh, thì “Thời gian nghệ thuật luôn luôn

mang tính cảm xúc (tâm lí) và tính quan niệm, do đó đầy tình cảm chủ quan Nó là thời gian của thế giới hình tượng vì nó là hình tượng thời gian [27, tr 123]

Như vậy, nếu như không gian và thời gian thực tại vận động theo quy luật tự nhiên, thì người nghệ sĩ cũng sử dụng những chất liệu của thời gian không gian vận hành theo quy luật ấy Nhưng khi đi vào thế giới nghệ thuật, thông qua cảm xúc của người nghệ sĩ mà thời gian có sự chọn lọc, tổ chức, sắp xếp, sáng tạo lại Chính vì vậy, các yếu tố thời gian hoàn toàn mang một chất liệu mới, nội dung thẩm mỹ mới,

đó chính là thời gian nghệ thuật

Bằng những tư tưởng và tình cảm của mình, các tác giả đã nhào nặn và tái tạo lại một thời gian nghệ thuật phù hợp với một thế giới quan, một phương pháp sáng tác, một thể loại hay một truyền thống nghệ thuật nhất định Và vì thế, thời gian nghệ thuật thấm đậm tính sáng tạo của người sáng tác và mang tính quan niệm của tác giả

Đặc điểm của thời gian nghệ thuật:

Thời gian nghệ thuật là thời gian được cảm nhận bằng tâm lí và bị chi phối bởi tâm lí, nên thời gian nghệ thuật hết sức linh động, đa chiều Trong nghệ thuật, thời gian được tái tạo lại, có thể là một đời người, nhưng có thể chỉ là một vài ngày, thậm chí trong một khoảnh khắc Nghĩa là trong nghệ thuật có độ dài, có nhịp độ, có

chiều chuyển động tùy theo tâm lí mỗi người Tác giả Hà Minh Đức cho rằng: “Sự

vận động của thời gian trong tác phẩm văn học phản ánh nhịp độ của cuộc sống

Có lúc trong một thời gian ngắn chất chứa biết bao sự kiện làm biến đổi nhanh chống cuộc sống và đời người… Thực chất việc tái hiện thời gian trong văn học là miêu tả sự vận động của cuộc sống, là tái hiện quan niệm của con người về sự tồn tại, là sự biểu hiện về tâm lí của con người trước các biến cố, sự kiện Lúc nhớ nhung, khắc khoải, một phút đợi chờ có thể dài bằng mấy năm, còn lúc sống hạnh phúc thì thời gian thật ngắn ngủi” [17,tr 87]

Thời gian nghệ thuật được tái tạo mang tính chủ quan của tác giả, phụ thuộc vào tác giả, luôn mang ý nghĩa cảm xúc và nhân sinh Tính chất này giúp ta nhận thức hiện thực cuộc sống đối với con người Ngoài thời gian tuyến tính một dòng từ quá khứ - hiện tại – tương lai Nhưng đối với thời gian nghệ thuật, người nghệ sĩ có thể ép mỏng hoặc kéo căng thời gian tùy theo yêu cầu nghệ thuật nhất định

Tác giả có thể đi ngược thời gian từ hiện tại trở về quá khứ, để thấy được hình ảnh của người mẹ thân thương, tần tảo mà bấy giờ đã không còn nữa:

Mẹ ta không có yếm đào Nón mê thay nón quai thao đội đầu

(Ng ồi buồn nhớ mẹ ta xưa –Nguyễn Duy)

Hay có lúc thời gian được miêu tả từ quá khứ đi tới tương lai, có lúc cả quá khứ và tương lai có thể đồng hiện trong cùng một thời điểm hiện tại

Với tính chủ quan của tác giả, nhịp độ thời gian nghệ thuật có thể trôi nhanh hay chậm, đều đặn hay cuống quýt, êm đềm, hạnh phúc hay khổ đau Có thể cảm

nhận ngày vui thì ngắn ngủi, trôi nhanh quá: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du) Nhưng cũng có thể cảm thấy một ngày dài dằng dặc

Trang 26

vô tận: “Đời người thử ngẫm mà hay, Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê” ( Tản

Đà)

Tất cả đều bị chi phối bởi cái nhìn đầy tâm trạng của nhân vật trữ tình

Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kỳ, lịch sử, từng giai đoạn phát triển Chúng ta chỉ hiểu nghệ thuật khi đứng trong một thời gian nào đó Muốn người đọc hiểu mình, tác giả phải đặt người đọc vào thời gian của mình trong tác phẩm, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong cuộc sống

Thời gian nghệ thuật biểu hiện bằng nhiều phương tiện, trước hết là các từ

chỉ thời gian như: ngày xửa, ngày xưa, dạo ấy, hồi ấy, hôm qua, ngày qua, khi đó,

lúc đó, hôm nay, này mai,…

Cần chi biết ngày mai hay bữa trước

Gần hôm nay thì yếu dấu là nên (M ời yêu – Xuân Diệu)

Cũng có khi, thời gian nghệ thuật được biểu hiện bằng những dấu hiệu thời

gian: tuổi trẻ, tuổi già, xuân – hạ - thu – đông, bằng hoa mai nở, bằng tiếng chuông

chùa, bằng tiếng đỗ quyên kêu, bằng lá ngô đồng rụng,…

Mùa cúc năm nay sắc đã già

Ai tìm ta hộ dáng thu qua

(Ngẩn Ngơ – Xuân Diệu)

Thời gian nghệ thuật có tính liên tục, cũng có hiện tại, quá khứ, tương lai, đồng thời, đồng hiện,… nhưng nó cũng là sự liên tục của những đổi thay có ý nghĩa

và những khoảng thời gian có ý nghĩa

Trang 27

CHƯƠNG II: TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN

DIỆU:

2.1 PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ XUÂN DIỆU:

Với tài năng sáng tạo và sự cần mẫn trong lao động nghệ thuật, Xuân Diệu

đã phát huy năng lực vốn có của mình Gần năm mươi năm cầm bút với hơn bốn mươi tác phẩm thơ, văn xuôi, tiểu luận, phê bình văn học và dịch thơ, những con số

ấy nói lên rất nhiều về sự lao động, bền bỉ và sung sức không hề vơi cạn của đời thơ Xuân Diệu Ông không phải là một nhà thơ của một bài hay của một tập thơ, mà đa phần sáng tác của ông đều có giá trị và đã đạt được những giải thưởng cao qúi, tất

cả những đều đó đã làm rạng danh một thi sĩ tài năng Hơn nữa còn góp phần làm rạng rỡ nền thi ca Việt Nam hiện đại

Trong trào thơ mới, mỗi nhà thơ có một thế giới nghệ thuật và phong cách riêng Thể hiện sức sáng tạo của cá nhân không trộn lẫn với cái chung mờ nhạt và công thức, Xuân Diệu tiêu biểu cho một phong cách riêng như thế

Xuân Diệu luôn gắn bó và sống hết mình cho cuộc sống Ông quan sát tỉ mỉ những đổi thay của cuộc sống xung quanh Ông hăm hở say mê sáng tạo với trách nhiệm của một công dân trước cuộc sống Thơ ông bám lấy thực tại, đưa sự vật vào thơ, mở rộng cửa thơ cho cuộc sống tràn vào Do vậy, thơ ông bề bộn của những chi tiết hiện thực Ông muốn thơ phải có một sức chứa lớn và sức phản ảnh rộng lớn,

phong phú Có lẽ vì thế, Xuân Diệu đặt tên cho tập thơ của mình là “Tôi giàu đôi

mắt” để quan sát cuộc đời không mỏi mệt:

Giàu đôi con mắt, ta ơi!

Đêm canh không mỏi, ngày soi chẳng tà

(Tôi giàu đôi mắt)

Hồn thơ Xuân Diệu có sự tinh tế và nhạy cảm Đó là yếu tố bền vững trong thơ Xuân Diệu trước và sau cách mạng Nói cách khác, sức thanh xuân luôn tràn đầy trong tâm hồn thơ ông Tươi trẻ, hăng say như cái thuở ban đầu yêu và đang yêu là nét nổi bật trong thơ Xuân Diệu Sự nhạy cảm của tâm hồn đã tạo cho thơ ông thêm giàu hương vị cuộc đời, tác động mãnh liệt đối với nhận thức của người đọc:

Khi tôi chưa biết khôn, mà da tôi đã biết mát rờn theo gió

Hiu hiu gió nồm, lo ló vừng trăng

( Miền Nam quê ngoại )

Đọc thơ Xuân Diệu, ta thấy tồn tại hai phong cách xen kẽ nhau: phong cách lãng mạn và phong cách tượng trưng Ở phong cách lãng mạn, tác giả trực tiếp bày tỏ ý

nghĩ, tâm trạng cảm xúc của mình (“Ca tụng”) Với phong cách tượng trưng, tác giả ẩn mình đi để cho biểu tượng tự phát ngôn (“Nguyệt cầm” ) Sự xen kẽ giữa hai

phong cách này đem đến cho người đọc một phong cách riêng biệt, thể hiện rõ trong

các bài thơ nói về trăng: “Buồn trăng”, “Trăng”,…

Hồn thơ Xuân Diệu bộc lộ một cái “tôi” phong phú và độc đáo Đó là cái “tôi” trữ tình nhập vào đối tượng phản ánh như: “Lời kỹ nữ”, “Đây mùa thu tới”, …Ở

đây nhà thơ hóa thân vào hình ảnh người phụ nữ để thể hiện một tình yêu chân thành, e ấp, trinh nguyên, vừa gần gũi, vừa xa vời Sự hóa thân không có gián cách

về mặt cảm xúc thẩm mỹ đã làm nên cái hồn riêng trong thơ Xuân Diệu Bên cạnh

đó, thơ Xuân Diệu còn bộc lộ một sự đồng nhất giữa cái “tôi” trữ tình với thiên

nhiên, đều này đem đến cho thơ ông một sinh khí mới, thể hiện cái tôi yêu đời, yêu

sự sống, hòa nhập với thiên nhiên,với đời

Trang 28

Hồn thơ Xuân Diệu mang một nỗi buồn và sự cô đơn, đây cũng là một tâm thế chung của cả một thời đại thơ mới Tuy nhiên, Xuân Diệu không có cái ảo não, thê thiết như Huy Cận, không lâm vào bi kịch đớn đau như Hàn Mạc Tử, không chán chường tuyệt vọng như Vũ Hoàng Chương Đọc thơ Xuân Diệu ta thấy một nỗi

buồn: buồn khi chiều buông lưới, buồn khi thu đến, buồn khi gió sớm bay về, buồn

khi viễn khách đi, buồn có cớ và buồn không cớ,… cái buồn trong thơ Xuân Diệu cứ

thoắt đến thoắt đi, buồn đó rồi lại vui đó

Cái làm nên tố chất đặc biệt của hồn thơ Xuân Diệu là nỗi cô đơn, Xuân Diệu không giống Huy Cận phải cầu thượng đế đến giải thoát cho mình, mà Xuân Diệu

cứ bám lấy nỗi “sầu đơn muôn vạn kiếp” và tự chôn mình trong cô độc giữa cuộc đời, có lẽ lớn nhất là bi kịch tinh thần trong tình yêu Từ “Thơ thơ” đến “Gửi

hương cho gió”, tình yêu trong thơ Xuân Diệu càng lún sâu vào trạng thái cô đơn

Có thể gọi nỗi buồn và sự cô đơn trong thơ Xuân Diệu “là mặt trái của lòng yêu đời,

của những say mê không được đáp ứng”(Lê Đình Kỵ), “là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống” theo sự thú nhận của chính tác giả

Thơ Xuân Diệu đậm đà một hồn thơ truyền thống của dân tộc Đó là mượn thiên

nhiên để gửi gắm tình người Các bài thơ: “Một buổi sớm mai”, “Hoa nở sớm”,

“Cây thông đứng trước biển”, “Hoa anh ơi”, “Hoa ngọc trâm”,… làm cho người

đọc bỗng nhớ đến những bài thơ cổ điển của chúng ta vẫn thường tính sự chuyển vận của thời gian và tâm hồn con người qua sự đổi thay của hoa lá, cỏ cây:

Hây hây những bóng xanh cây ổi

Cong một bờ đê đã bật chồi

( Xuân bên Hồ Tây )

Xuân Diệu là nhà thơ có ý thức sáng tạo, thể hiện trên nhiều phương diện

Nhà thơ xây dựng cấu tứ thơ hết sức độc đáo Tứ thơ chi phối cả bài được định hình ngay từ đầu cho đến khi kết thúc, nó thường sử dụng để biểu hiện một trạng

thái nhất quán ( “Giục giã” ) Bên cạnh loại tứ thơ xuyên suốt toàn bài là tứ thơ bộc

lộ ở phần kết gây bất ngờ và đạt hiệu quả mạnh ( “Thăm hồ Ritxa”, “Đời anh em

đã đi qua”), loại cấu tứ này thường xuất hiện không nhiều trong thơ Xuân Diệu,

nhưng để lại những ấn tượng đậm nét Và loại tứ ngầm không bộc lộ rõ trong bài, tứ thơ không được định hình rõ, tùy theo đối tượng cảm thụ khác nhau mà tứ thơ được

xác định với những góc độ khác nhau ( “Đây mùa thu tới”, “Nguyệt Cầm” )

Xuân Diệu tài tình trong việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật láy, vần điệu, làm cho câu thơ trở nên du dương, trầm bổng như một nốt nhạc được cất lên:

Những nguồn rung rẩy rung rinh lá

(Đây mùa thu tới) Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

(Nguyệt Cầm)

Ngôn ngữ thơ mang màu sắc mới lạ được Xuân Diệu sử dụng một cách tài tình

như: chiều lỡ thì (Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì), đêm thủy tinh (Mây vắng

trời trong đêm thủy tinh), xuân quá vãng (Chỉ còn lại của mùa xuân quá vãng),…

tạo cho câu thơ, bài thơ hương vị rất “Tây” và không kém phần duyên dáng

Về mặt giọng điệu, Xuân Diệu trước cách mạng và sau cách mạng, đều tự nhiên, nhẹ nhàng Văn ông không sa vào biền ngẫu, song lại luôn luôn tạo được âm hưởng

riêng: “Câu văn như lời trò chuyện dung dị, thỉnh thoảng lại có cái đột ngột của

một thứ đối thoại tâm tình” (Vương Trí Nhàn)

Trang 29

Tuy nhiên, “thơ Xuân Diệu vẫn còn nặng về kể, giải bày, ít ẩn ý, thiếu hàm xúc,

dễ dãi, dài dòng trong nhạc điệu và từ ngữ Điều đó, đã tạo nên những phần nào hạn chế về sức truyền cảm và hấp dẫn trong thơ Xuân Diệu” [16, tr 57]

Nhìn chung: Với những cống hiến trong sáng tác của mình qua bao nhiêu năm, Xuân Diệu chứng tỏ tiềm năng sáng tạo dồi dào của chính ông Thơ ông đa dạng, rộng đề tài, bao quát nhiều phạm vi đời sống với nhiều hình thức thể hiện phong phú Từ thế giới thơ ông, ta thấy một con người luôn nhiệt thành, sống hết mình cho cuộc sống, lắng nghe mọi biểu hiện tinh vi, nhiều tầng, nhiều lớp của cuộc đời bằng mọi giác quan, nghĩ suy và bằng cả sự giàu có của vốn văn hóa Tất cả đã làm nên một hồn thơ Xuân Diệu không hòa lẫn với các nhà thơ cùng thế hệ, đều này đã đem đến cho ông một vị thế xứng đáng trên văn đàn nghệ thuật nước nhà

2.2 NHẬN XÉT CHUNG VỀ TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ

XUÂN DIỆU:

Xuân Diệu rất tâm đắc và nhạy cảm với phạm trù không gian và thời gian mà ông gọi chung là kích thước của toàn vũ trụ Ông đã dành một bộ phận không nhỏ trong sáng tác của mình để nói về thời gian Đối với Xuân Diệu, từ chỉ thời gian còn

là một phương tiện để nhà thơ bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của chính chủ thể trữ tình

và bộc lộ tính sáng tạo của nhà thơ Xuân Diệu đã rất thành công trong việc sử dụng

từ chỉ thời gian như một công cụ đắc lực, góp phần thể hiện những nhận thức của mình về thời gian trước thế giới khách quan Cái tài dùng đúng lúc, đúng chỗ đã tạo nên phong cách riêng, độc đáo của nhà thơ Xuân Diệu

Quá trình sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu đã trải qua hai giai đoạn trước và sau cách mạng, gắn liền với những biến đổi, phát triển của lịch sử dân tộc và sự vận động của nền văn học nước nhà Trước cách mạng, thơ Xuân Diệu thể hiện rõ tấm

lòng của một con người nặng tình đời, tình người, bộc lộ một cái “tôi” nồng nhiệt những ham muốn của cái “tôi” trong thanh niên tiểu tư sản Song, cái “tôi” đó có

lúc trở nên bế tắc, cô đơn đến rợn ngợp Sau cách mạng, Xuân Diệu hướng mạnh vào thực tế đời sống, và thơ ông giai đoạn này giàu tính thời sự, đánh dấu một bước chuyển biến lớn về tư tưởng và giọng điệu, thơ Xuân Diệu góp phần vào tiếng thơ đánh địch và cổ vũ chiến đấu, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Nam

Nhà thơ nhấn mạnh một chân lý: “Chúng ta chính là sự sống”, “Sự sống chẳng bao

giờ chán nản”, nhất định sẽ vượt lên mọi sự tàn bạo của kẻ thù Để thực hiện mọi

khuynh hướng tình cảm đó, ngôn ngữ thơ Xuân Diệu có sự thay đổi trong từng thời

kỳ và từ chỉ thời gian trong thơ ông cũng có sự thay đổi một cách hợp lý

Như vậy: từ chỉ thời gian được Xuân Diệu sử dụng trong thơ, một mặt nó thể hiện sự tồn tại của thời gian vật lý, một mặt thể hiện ý nghĩa đặc trưng riêng, định hình thành phong cách Nó giúp cho người đọc phân biệt được những nét riêng trong việc sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu so với các nhà thơ khác Đồng thời, góp phần phân biệt cảm thức thời gian của chính ông ở hai giai đoạn sáng tác khác nhau Sau đây là bảng thống kê số lần sử dụng từ chỉ thời gian trong một số tập thơ của Xuân Diệu:

Thời kỳ Tên tập thơ Danh từ Phụ từ Đại từ Tổng thể

Thơ Thơ 101 52 7 160 Trước

cách mạng Gửi Hương Cho Gió 66 35 8 109

Hội Nghị Non Sông 32 18 0 50 Dưới Sao Vàng 181 84 5 270

Sau cách

mạng

Riêng Chung 68 55 7 130

Trang 30

Mũi Cà Mau - Cầm Tay 102 56 6 164 Một Khối Hồng 61 32 5 98 Tôi Giàu Đôi Mắt 78 52 10 140 Hồn Tôi Đôi Cánh 197 128 21 346 Qua bảng thống kê cho thấy, hầu hết các tập thơ của nhà thơ Xuân Diệu được người viết khảo sát đều có sự hiện diện của từ chỉ thời gian Có những tập thơ, số lần xuất hiện của từ chỉ thời gian lên đến 346 lần/tập Có không ít những câu thơ Xuân Diệu dùng đến 2 từ thậm chí 3 từ chỉ thời gian Những từ chỉ thời gian được Xuân Diệu sử dụng hầu hết là có sẵn trong kho từ vựng tiếng Việt Cái độc đáo là Xuân Diệu đã sử dụng nó để đem lại những hiệu quả, ý nghĩa đặc sắc trong thơ Trong ba loại từ chỉ thời gian, thì danh từ chỉ thời gian được sử dụng nhiều nhất với 886 từ, chiếm 60,4% Còn phụ từ chỉ thời gian chiếm 34,9% Đại từ chỉ thời gian chiếm 4,7% Cả ba loại từ chỉ thời gian đều là những công cụ đắc lực góp phần thể hiện sự cảm nhận về thời gian hết sức tinh tế của nhà thơ Xuân Diệu

Nhìn chung, từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu khá đa dạng và phong phú Điều này thể hiện việc Xuân Diệu khai thác tất cả các loại từ chỉ thời gian trong tiếng Việt Mỗi sự lựa chọn sắp xếp của nhà thơ thể hiện một quá trình lao động siêng năng, sáng tạo trong nghệ thuật, nhằm phát huy hiệu quả của các lớp từ chỉ thời gian cũng như triệt để hóa tâm trạng nhà thơ trong từng thời điểm nhất định Xuân Diệu đặt đúng vị trí cho từng loại thuộc lớp từ chỉ thời gian, góp phần to lớn trong việc thể hiện cảm xúc về nhận thức thời gian của nhà thơ

2.3 PHÂN LOẠI TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN

DIỆU:

2.3.1 Danh từ chỉ thời gian:

Qua quá trình khảo sát chín tập thơ của nhà thơ Xuân Diệu, ta thấy từ chỉ thời gian gồm ba loại với số lượng nhiều ít khác nhau Mỗi từ loại đều có vai trò riêng làm nổi bật cảm thức thời gian trong thơ Xuân Diệu Trong ba loại từ chỉ thời gian

đó, danh từ chỉ thời gian chiếm một tỉ lệ rất cao Riêng từ loại này đã chiếm đến 886

từ, gấp 1,7 lần so với phụ từ chỉ thời gian, gấp 12,8 lần so với đại từ chỉ thời gian Điều này hoàn toàn xuất phát từ thực tế ngôn ngữ Trong kho từ vựng tiếng Việt, so với đại từ và phụ từ chỉ thời gian, danh từ chỉ thời gian chiếm số lượng gần như tuyệt đối Xuất phát từ thực tế đó, Xuân Diệu đã vận dụng rất nhiều từ chỉ thời gian trong thơ để diễn đạt tâm trạng, tình cảm của nhà thơ khi đứng trước khoảnh khắc thời gian nào đó Chính vì thế, mà những thành công về sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu tập trung nhiều ở lớp từ này

Trang 31

Người viết nhận thấy, có những danh từ chỉ thời gian được Xuân Diệu lặp đi lặp

lại nhiều lần như mùa: Xuân, Thu, chỉ buổi: Chiều, Đêm, Ngày, chỉ mốc thời gian:

Năm, Tháng Sự xuất hiện khá dầy đặc của các từ này không phải ngẫu nhiên mà

trên thực tế, đã gây nhiều ấn tượng, hướng sự chú ý của người đọc vào ý nghĩa nghệ thuật của từng thời điểm mà nhà thơ nói đến

Sau đây là bảng thống kê về những danh từ chỉ thời gian được Xuân Diệu sử dụng với tầng số cao:

Trước cách mạng, danh từ chỉ thời gian “Đêm” xuất hiện trong thơ Xuân Diệu

khá cao (21 lần), góp phần thể hiện sự hòa đồng với tạo vật, thiên nhiên, đồng thời cũng biểu hiện tâm trạng của nhà thơ trước cuộc sống Sau cách mạng, từ chỉ thời

gian “Đêm” còn xuất hiện nhiều hơn (128 lần) Sự xuất hiện của danh từ chỉ thời gian “Đêm”, một mặt nó thể hiện thời điểm quan trọng giúp nhà thơ khám phá

những bí ẩn, huyền diệu của thế giới về đêm, thể hiện sự nhạy cảm tinh tế của các giác quan và chiều sâu của một tâm hồn luôn rộng mở để khám phá thế giới và con người, một mặt, nó cũng thể hiện một ý niệm rộng lớn vô cùng, vô tận của thời gian

Các danh từ chỉ thời gian “Ngày”, “Năm”, “Tháng”, cũng xuất hiện thường xuyên ở giai đoạn trước cách mạng “Ngày” (22 lần), “Năm” (5 lần), “Tháng” (9

lần), thể hiện phạm trù thời gian trừu tượng mơ hồ Sau cách mạng, các danh từ này

cũng xuất hiện nhiều hơn “Ngày” (104 lần), “Năm” (75 lần), “Tháng” (30 lần) Sự

góp mặt của lớp từ này vừa thể hiện thời gian dường như mơ hồ, lặng lẽ trôi chảy nhưng cũng thể hiện sự thúc giục, hối hả của lòng người Các danh từ này dùng ở hai giai đoạn sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu có khác nhau Khó định hình (Trước cách mạng), gắn với mỗi thời gian cụ thể (Sau cách mạng)

Danh từ chỉ thời gian “Chiều” xuất hiện với tầng số cao ở giai đoạn trước cách

mạng (22 lần), góp phần thể hiện hai tâm trạng vừa vui tươi, hạnh phúc, đồng thời

cũng ẩn chứa một nỗi buồn Sau cách mạng, danh từ chỉ thời gian “Chiều” xuất

hiện thường xuyên hơn (40 lần) thể hiện một sắc thái khác trong tâm hồn Xuân Diệu, biểu hiện niềm vui trước cuộc sống mới

Riêng danh từ chỉ thời gian “Xuân” thì có một vị trí đặc biệt trong thơ Xuân

Diệu ở cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám (được sử dụng đến 102 lần) Trước cách mạng, nó góp phần khẳng định sự đọng lại của tình đời, tình người

trước thiên nhiên, cuộc sống Sau cách mạng “Xuân” được dùng nhiều vào sự tái

Danh từ chỉ thời gian Thời

kỳ Tên tập thơ Đêm Ngày Xuân Năm Chiều Tháng Thu

Thơ Thơ 14 16 13 2 12 7 2 Trước

cách

mạng Gửi Hương Cho Gió 7 6 9 3 10 2 5

Hội Nghị Non Sông 1 8 2 6 0 3 0 Dưới Sao Vàng 38 27 25 18 6 7 16 Riêng Chung 11 9 4 9 1 5 3 Mũi Cà Mau-Cầm

Tay 22 18 8 5 12 3 1 Một Khối Hồng 6 6 7 5 6 3 1 Tôi Giàu Đôi Mắt 20 17 7 4 2 4 4

Sau

cách

mạng

Hồn Tôi Đôi Cánh 30 19 27 29 13 7 7 Tổng cộng 149 126 182 81 62 39 39

Trang 32

sinh của hồn người, tạo vật trong cái phấp phới long lanh của cuộc đời mới Ngoài

ra, nó còn thể hiện tâm trạng rạo rực của chính nhà thơ Xuân Diệu

Và danh từ chỉ thời gian “Thu” xuất hiện với số lượng tương đối Trước cách

mạng (7 lần) thể hiện một nỗi buồn của nhân vật trữ tình trước sự trôi chảy của thời

gian Sau cách mạng, “Thu” được gắn liền với cảm xúc trào dâng, mang niềm vui

tươi mát vào lòng người, vào cuộc sống mới, vào những đổi thay của đất nước Như vậy: Qua lớp danh từ chỉ thời gian, người viết nhận thấy, Xuân Diệu dùng danh từ chỉ thời gian ở giai đoạn trước cách mạng ít hơn so với giai đoạn sau cách mạng Không hẳn là trước cách mạng số tập thơ ít hơn, mà càng về sau ý thức dùng

từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu càng tăng

Danh từ chỉ thời gian được dùng trong thơ Xuân Diệu gắn liền với cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ trước cuộc sống Trước cách mạng, thường mang một nỗi buồn,

cô đơn, đôi khi bế tắc Sau cách mạng thì lại phấp phới một hồn thơ yêu đời, nồng nhiệt trước cuộc sống đổi thay Điều này hoàn toàn xuất phát từ thực tế của đất nước Cách mạng tháng Tám thành công, đem đến niềm tin yêu, sự sinh sôi đầy hứa hẹn Đất nước, con người, tạo vật, mọi thứ đều thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp, thì hồn thơ Xuân Diệu và cả chính nhà thơ Xuân Diệu tất yếu phải đổi thay

Với lớp danh từ chỉ thời gian này, chúng ta thấy được sự tinh tế trong việc sử dụng gắn với từng chặng đường của nhà thơ Xuân Diệu Ở mỗi một thời điểm, với từng đối tượng, từng tâm trạng khác nhau, thì nhà thơ có sự vận dụng các danh từ chỉ thời gian khác nhau, khó thay thế bằng một từ hay một cách diễn đạt khác Điều

đó làm cho thơ Xuân Diệu vô cùng hấp dẫn đối với người đọc bởi những cảm nhận mới lạ, bất ngờ về thời gian

Ngoài những danh từ chỉ thời gian được Xuân Diệu sử dụng mà người viết thống kê ở bảng trên Xuân Diệu còn sử dụng các danh từ chỉ thời gian khác như:

phút, giây, buổi, lúc, thuở, hôm mai, quá khứ, mùa hè, mùa đông, giờ, hoàng hôn,

khuya, canh, khắc, hôm nay, thế kỷ, tối, hôm ấy, sớm mai,… nhưng chúng xuất hiện

trong thơ ông không nhiều, nên người viết không đưa chúng lên bảng thống kê Tuy nhiên, không phải bỏ hẳn lớp từ này đi, mà người viết sẽ chọn lọc để phân tích thêm

ở mục “Sự độc đáo trong cách dùng một số từ chỉ thời gian khác của nhà thơ Xuân

Diệu” trong luận văn này

2.3.2 Phụ từ chỉ thời gian:

Phụ từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu thể hiện rất linh hoạt Ngoài ý nghĩa thông thường, có những câu thơ, Xuân Diệu dùng phụ từ chỉ thời gian mang ý nghĩa tình thái, ông rất tài năng và sáng tạo trong việc sử dụng những phụ từ này đúng lúc, đúng chỗ để giải bày thật chính xác những cảm xúc tâm trạng của mình So với danh từ chỉ thời gian, phụ từ chỉ thời gian có số lượng ít hơn với 512 từ, chiếm 34,9% Quan niệm nghệ thuật của nhà thơ trên từng chặng đường thơ có khác nhau, nên phụ từ chỉ thời gian được dùng trong thơ cũng có sự thay đổi

Sau đây là bảng thống kê về phụ từ chỉ thời gian được Xuân Diệu sử dụng qua các tập thơ mà người viết khảo sát:

Phụ từ chỉ thời gian Thời

kỳ Tên tập thơ Đã Đang Sẽ Vừa Mới Sắp Mãi

Thơ Thơ 25 3 8 8 3 3 2 Trước

cách

mạng Gửi Hương Cho Gió 26 0 1 3 2 1 2

Hội Nghị Non Sông 13 0 1 1 3 0 1 Sau

Trang 33

Riêng Chung 35 2 6 4 5 0 3 Mũi Cà Mau-Cầm Tay 23 5 0 5 7 2 3 Một Khối Hồng 18 5 4 0 0 0 5 Tôi Giàu Đôi Mắt 23 10 2 5 0 1 12 mạng

Hồn Tôi Đôi Cánh 73 11 5 10 5 0 23 Tổng cộng 267 40 34 39 35 8 77

Phụ từ “Đã” là một phụ từ chỉ thời gian, biểu thị mốc thời điểm trong quá khứ

của sự việc, hiện tượng nói đến Phụ từ này xuất hiện cao trong thơ Xuân Diệu (Với

267 lần) Trước cách mạng tháng Tám, phụ từ “Đã” được nhà thơ sử dụng qua hai tập “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” là 51 lần, thể hiện sự cô đơn hụt hẫng, bế

tắc trước cuộc đời Sau cách mạng, lớp từ này xuất hiện thường xuyên hơn, mang một màu sắc hoàn toàn mới, cũng thể hiện thời điểm quá khứ, nhưng đó chỉ là sự nhìn nhận lại quá khứ hào hùng để tự hào, chiêm nghiệm trước thực tại cuộc sống Với quan niệm đổi mới về nghệ thuật, từ sau cách mạng, Xuân Diệu dùng nhiều

phụ từ chỉ thời gian hơn trước Ngoài phụ từ chỉ thời gian “Đã”, các phụ từ chỉ thời gian như: Đang, sẽ, vừa, mới, sắp, mãi, được sử dụng rất nhiều Phụ từ “Đang” nhằm khẳng định thời gian hiện tại, đầy ý nghĩa, phụ từ “Sẽ” thể hiện niềm tin về một tương lai tươi sáng, phụ từ “Vừa”, “Mới” thể hiện tâm trạng, thái độ của nhà thơ trước những sự kiện vừa diễn ra đầy ý nghĩa Phụ từ “Sắp” thể hiện sự gần kề của thời gian, sự kiện một cách nhanh chóng và phụ từ “Mãi” nhằm khẳng định sự trường tồn Các phụ từ chỉ thời gian: Đang, sẽ, vừa, mới, sắp, mãi, được Xuân Diệu

sử dụng phổ biến hơn, đã góp phần tạo nên những vần thơ tràn đầy tình yêu, tin tưởng vào cuộc đời mới

Phải chăng, việc sử dụng phụ từ chỉ thời gian của Xuân Diệu ngày càng trở nên thường xuyên, nó gắn với trách nhiệm của một thi sĩ trong lao động nghệ thuật Điều này còn thể hiện một tấm lòng phơi phới hòa đồng tuyệt đối trong cuộc đời đổi mới của đất nước – một bước chuyển biến mới, một âm hưởng chính của hồn thơ Xuân Diệu sau cách mạng

2.3.3 Đại từ chỉ thời gian:

So với danh từ và phụ từ chỉ thời gian, đại từ chỉ thời gian trong thơ Xuân Diệu xuất hiện không nhiều lắm, chỉ sử dụng với 69 lần, chiếm 4,7% Nhưng nó có vai trò quan trọng giúp cho người đọc hiểu thêm những cung bậc tâm trạng, nỗi niềm của nhà thơ một cách đầy đủ hơn ở cả hai giai đoạn sáng tác Dưới đây là bảng thống kê về đại từ chỉ thời gian qua một số tập thơ của Xuân Diệu:

Đại từ chỉ thời gian Thời kỳ Tên tập thơ

Đại từ xác định Đại từ không xác định

Trước

cách mạng Gửi Hương Cho Gió 0 6

Trang 34

Qua bảng thống kê, người viết nhận thấy việc dùng đại từ chỉ thời gian có sự không đồng đều qua các giai đoạn sáng tác

Trước cách mạng, Xuân Diệu thiên về sử dụng những đại từ chỉ thời gian không

xác định, góp phần thể hiện cái “tôi” bơ vơ, lạc loài, bế tắc Xuân Diệu tuy là người

yêu đời, khát khao và sống hết mình vì cuộc sống, nhưng ông vẫn không thoát khỏi nỗi đau buồn, cô đơn của thế hệ Đó là nỗi thất vọng không tìm được hướng đi cho chính mình Có lẽ vì thế, mà đại từ chỉ thời gian không xác định chiếm số lượng cao

ở giai đoạn này (13 lần)

Sau cách mạng, một khi hồn thơ đã đổi khác, Xuân Diệu sử dụng đại từ chỉ thời gian có sự mở rộng về loại và mang sắc thái ý nghĩa mới Bên cạnh đại từ chỉ thời gian không xác định, Xuân Diệu sử dụng sâu rộng hơn đại từ chỉ thời gian xác định.Việc sử dụng đại từ chỉ thời gian sau cách mạng hướng đến khẳng định và ca ngợi cuộc sống đi lên của đất nước

Như vậy: Qua quá trình khảo sát, thơ Xuân Diệu sử dụng với nhiều những từ chỉ thời gian khác nhau Cái độc đáo là Xuân Diệu đã sắp xếp, lựa chọn hoàn toàn phù hợp với nội dung tư tưởng cần diễn đạt, đều đó đã đem đến một sự mạch lạc và sức gợi cảm nhất định Với tài sử dụng từ chỉ thời gian trong thơ, ông đã đem đến cho người đọc một ấn tượng khó phai mờ Chính vì thế, Xuân Diệu đã in đậm dấu ấn sáng tạo của mình trên những trang thơ

Trang 35

CHƯƠNG III: SỰ ĐỘC ĐÁO TRONG VIỆC SỬ DỤNG TỪ

CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN DIỆU:

3.1 SỰ ĐỘC ĐÁO TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC DANH TỪ CHỈ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN DIỆU:

3.1.1 Danh từ chỉ thời gian “Đêm” trong thơ Xuân Diệu:

Trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu nói chung và chín tập thơ mà

người viết khảo sát nói riêng Danh từ chỉ thời gian “Đêm” được Xuân Diệu sử

dụng lặp đi lặp nhiều lần (149 lần) Nhà thơ rất sáng tạo trong việc sử dụng hàng

loạt các từ ngữ để chỉ về “Đêm” như: đêm hè, đêm khuya, đêm tối, đêm nay, đêm

thanh, đêm trăng, đêm mưa, đêm thứ nhất, đêm thủy tinh, đêm xám, miếng đêm,…

Tất cả đem đến những dấu ấn mạnh mẽ về cảm xúc thời gian và nhận thức của chính nhà thơ

Thời gian về đêm là khoảng thời gian vắng lặng và yên tĩnh nhất Với khoảng không này, con người sống thật với lòng mình hơn, dễ dàng bung ra những liên tưởng của chính tâm hồn mình Có biết bao thi nhân đã thổ lộ những tâm sự thầm

kín của mình trong những đêm yên lặng như thế Đối với nhà thơ Tú Xương, “Đêm

hè” làm cho ông thổn thức, bâng khuâng vì:

Bối rối tình duyên cơn gió thoảng

Nhạc nhèo quang cảnh bóng trăng suông

(Đêm hè)

Hay nhà thơ Nguyễn Khuyến, thơ ông đầy đêm tối, bộc lộ rõ tâm trạng chủ thể trữ tình:

Thâu đêm ròng rã kêu ai đó

Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ

(Cuốc kêu cảm hứng)

Với Huy Cận, thì “Đêm mưa” thể hiện sự cô đơn trong chính tâm hồn:

Đêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

(Buồn đêm mưa)

Đối với Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới, thời gian về đêm

cũng tràn ngập trong hồn thơ của ông Có thể nói, “Đêm” trở thành một thời điểm

tuyệt vời đối với Xuân Diệu , giúp nhà thơ hòa nhập với thiên nhiên tạo vật và bộc

lộ tâm trạng của mình

Thời gian “Đêm” trong thơ Xuân Diệu trước tiên gây ấn tượng về bối cảnh,

phong nền cho lý tưởng, cảm xúc tâm trạng thăng hoa Tấm lòng ông nặng với cuộc

sống, tạo vật, thiên nhiên,… nên phải đặt trong thời khắc “Đêm” mới nói hết những

đều ông suy ngẫm:

Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá

Linh hồn yểu điệu của đêm thanh

(Trăng)

Trăng vừa đủ sáng để gây mơ

Gió nhịp theo đêm không vội vàng

(Nhị hồ)

Hay đó là một “Đêm” trong và thanh, như thủy tinh, gây nhiều sự thơ mộng,

huyền diệu của lòng người:

Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh

(Nguyệt cầm)

Trang 36

Qua đó, chúng ta thấy Xuân Diệu có sự tinh tế, nhạy cảm của các giác quan Bằng tâm hồn tha thiết với tình đời, tình người, tạo vật, Xuân Diệu đã đem đến những vần thơ nhẹ nhàng, độc đáo bằng những cảm nhận của chính tâm hồn Nhưng

không phải thơ Xuân Diệu luôn có những đêm trăng đẹp, mà còn có những đêm xa,

những đêm làm thinh, miếng đêm u uất,…Trên cái phong nền cảnh vật đó, là tâm

trạng của chủ thể trữ tình đang cô đơn Ở cảnh “Đêm” ấy, cái lạnh lùng của cảnh

vật như thấm sâu vào lòng người:

Đêm đêm trời nhạt với trăng sao

Đêm nay rằm yến tiệc sáng trên trời

Khách không ở lòng em cô độc quá

(Nguyệt cầm)

Sau cách mạng tháng Tám, danh từ chỉ thời gian “Đêm” được Xuân Diệu sử

dụng nhiều hơn, nhưng hoàn toàn mang một sắc thái khác, đó là đêm của thái bình đất nước, đêm của cuộc sống mới, của hạnh phúc tình yêu lứa đôi, những thời khắc quan trọng có ý nghĩa:

Mười tháng chẵn vẫn nửa đêm truyền hịch!

Đêm nước Việt lạ như ngày Bắc Cực

………

Đêm phát động muôn bức thành sức lực

Như khuya, cành đêm nở lộc xanh tươi

(Trận trường kỳ)

Đêm đất đai, đêm rộng dài đất nước

Đêm ruộng đồng, đêm thở hơi vườn tược

Như thuở tình yêu gọi trái tim

(Đêm ở Thái Bình)

Bằng khả năng vận dụng từ ngữ đúng lúc, đúng chỗ, danh từ chỉ thời gian

“Đêm” đi vào thơ Xuân Diệu hết sức đa dạng và linh hoạt Lần xem lại các trang

thơ của Xuân Diệu, người đọc có thể thấy những biến hóa không ngừng trong cách

vận dụng danh từ chỉ thời gian “Đêm” của nhà thơ, tạo nên phong cách nghệ thuật

đặc sắc trong thơ Xuân Diệu Để đạt được hiệu quả diễn đạt cao nhất, Xuân Diệu rất

linh hoạt và uyển chuyển trong việc thay đổi vị trí của danh từ chỉ thời gian “Đêm”

vào các vị trí đầu câu, cuối câu Mỗi một vị trí đều là kết quả của một quá trình lựa chọn ngôn từ Nếu thay đổi, hoán chuyển sẽ làm lạc mất mạch thơ, làm đứt quảng mạch liên tưởng của nhà thơ

Danh từ chỉ thời gian “Đêm” đặt ở đầu câu, tác giả đưa ra bối cảnh của thế giới

khách quan để hướng tới tâm trạng của con người:

Trang 37

Đêm lặng như nghe cả tiếng lòng

Khẽ hỏi: Bảy ngày trôi dằng dặc

Người thương có nhớ đến anh không?

( Em về )

Đêm xé ra, gối chẳng êm đầu

Mấy tháng nay – ruột đốt như dầu

(Căm giận)

Ngược lại, “Đêm” đặt ở cuối câu thơ, góp phần thể hiện sự cảm nhận tinh tế của

nhà thơ về ngoại cảnh, và từ ngoại cảnh để bộc lộ cảm xúc của chủ thể trữ tình:

Anh bộ đội đứng gác trong đêm khuya

Cổng mênh mang đường vắng chẳng ai về

(Tạc theo hình cảnh cụ Hồ)

Công trình hẹn sớm mong đêm

Ta trao tất cả nỗi niềm cho ai?

(Ta trao)

Xuân Diệu sử dụng danh từ chỉ thời gian “Đêm” mang màu sắc mới lạ, độc đáo,

tạo cho câu thơ đầy ấn tượng:

Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối

Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành

(Tương tư chiều)

Có lẽ Xuân Diệu là nhà thơ đầu tiên dùng từ ngữ “Miếng đêm”, “Đêm” trở nên

nhỏ nhoi như một mảnh, một miếng, hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của con

người Ở đây, nhà thơ khoác cho “Đêm” tâm trạng của một con người mang niềm u

uất, đầy cảm xúc, đó cũng chính là tâm trạng của chủ thể trữ tình trước thiên nhiên Ông rất tài năng và linh hoạt tạo ra những bức tranh sinh động, những hình ảnh bất ngờ tạo ra những ấn tượng thẩm mỹ phong phú và sâu sắc

Xuân Diệu rất tài tình trong vệc dùng danh từ chỉ thời gian “Đêm” trong câu thơ

với những biện pháp nghệ thuật so sánh Trong so sánh, lời thơ Xuân Diệu thiên về miêu tả cảm xúc trừu tượng trở nên hiện hữu:

Và đêm nay lòng tôi lạnh lẽo

Như sáng trăng trên mặt nước thu lờ

( Thở than )

Cái lạnh lẽo đơn côi ấy như đã được tích tụ lâu rồi và đêm nay nó liên tục và bộc

phát mạnh mẽ Cái tôi “lòng tôi” như một người lữ khách tha hương trong một đêm

thu trăng sáng trên chiếc thuyền dập dềnh giữa sóng nước Chàng u buồn đôi mắt dõi xa xăm, cảm giác lòng mình sao hoang vắng, cô liêu quá Trăng soi xuống mặt nước ánh lên những ánh bạt, những luồng gió giá băng cứ thổi vào lòng người lữ khách đơn côi

Xuân Diệu luôn có những tâm trạng bất thường, khi vui thì vui cuồng nhiệt, nhưng khi buồn cũng hết sức thê lương Chính vì thế, trong thơ ông số lượng câu

cảm có chứa danh từ chỉ thời gian “Đêm” chiếm số lượng khá nhiều, thể hiện sự

khắc khoải mong chờ hạnh phúc:

Đêm thứ bảy chính là đêm thứ nhất!

(Đêm thứ nhất) Phải duyên phải lứa thì thương

Để chi đêm thẳm ngày trường, hỡi em!

(Hỏi)

Trang 38

Mặt dù khoác lên mình chiếc áo phương Tây tân tiến, nhưng Xuân Diệu lại phát huy được cái hay, cái đẹp trong thơ Việt Nam, đó là lối gieo vần gián cách trong thơ

Đường luật Danh từ chỉ thời gian “Đêm” hiệp vần lại với các âm tiết khác mang

thanh bằng, góp phần tạo cho thơ có chất nhạc âm vang lan tỏa:

Mặt em ở giữa kho trời đất

Vô tận thời gian có mặt em

Đóng thẳng tâm hồn anh đã cắt

Mặt em hoa vĩnh viễn ngày đêm

(Mặt em)

Sao muôn chấm cứ mơ hồ tỏa rộng

Anh đưa em vào nghỉ giữa lòng đêm

Giữa lòng anh tơ giăng như mắc võng

Em nằm đi – anh ru giấc êm đềm

(Bóng đêm biếc)

Qua việc sử dụng danh từ chỉ thời gian “Đêm”, thơ Xuân Diệu cho thấy rất rõ

biểu hiện của một cái tôi trữ tình, đó là thanh nam châm cuốn hút giữa thời gian và cuộc đời Sự ám ảnh và ý thức sâu sắc về sự trôi chảy của thời gian chính là biểu hiện của một tâm hồn gắn bó với cuộc đời Có thể nói, chính việc sử dụng thành

công danh từ chỉ thời gian “Đêm” phối hợp với các biện pháp tu từ đã đem đến cho

thơ ông những nét nghĩa mới trong mỗi văn cảnh Đôi khi nó trở nên phi lý về hình thức ngữ pháp, những hoàn toàn phù hợp theo logic tâm trạng – một phong cách riêng trong thơ Xuân Diệu

3.1.2 Danh từ chỉ thời gian “Xuân” trong thơ Xuân Diệu:

Trong sáng tác thơ ca cần phải trải qua một quá trình khổ công lựa chọn từ ngữ mới có được những tác phẩm đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ hàm xúc, nói ít, gợi nhiều Do đó, muốn khám phá thơ Xuân Diệu, trước hết phải tiếp cận hệ thống ngôn ngữ thơ của tác giả Không phải ngẫu

nhiên mà nhà thơ đưa vào trong sáng tác của mình một số lượng lớn từ “Xuân” (102 lần), hoặc những từ, cụm từ chỉ về mùa xuân Điều đó cho thấy,“Xuân” là cái

mạch lớn khơi nguồn cho những sáng tác của Xuân Diệu Không chỉ thế, sự lặp đi,

lặp lại của từ chỉ thời gian “Xuân” còn bao hàm cả niềm tin thiết tha với sự sống,

nhạy cảm với tình người của nhà thơ

Hồ Xuân Hương cũng sử dụng danh từ “Xuân” làm từ chỉ thời gian Nhưng

“Xuân” trong thơ Hồ Xuân Hương không “nở nét tươi cười” mà nó chuyên chở

tâm trạng của con người mang nhiều cay đắng Thơ bà “mang nặng tinh thần chống

lễ giáo phong kiến và yêu đời”:

Ngán nỗi xuân đi lại lại

Ngày xuân con én đưa thôi

(Câu 39 – Truyện Kiều) Thưa hồng rậm lục đà chừng xuân qua

(Câu 370 – Truyện Kiều)

Xuân Diệu là nhà thơ vốn có năng lực đặc biệt nhạy cảm, nên “Xuân” đi vào

thơ ông đã được phát huy những tiềm năng có sẵn, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng

Trang 39

người đọc “Xuân” còn được nhà thơ khai thác với những cảm nhận riêng, thành

hình tượng có tính nhân bản

Xuân tình trong thơ Xuân Diệu đầy nhựa sống và sức trẻ, nồng nàn và dào dạt Xuân Diệu tạo ra những mùa xuân đầy nhựa sống âm vang, thể hiện sự tinh vi của việc thức trọn giác quan Ông cảm nhận trực tiếp bằng tim, bằng hồn, từ đó, tạo ra

một lớp từ vựng theo cách riêng của mình Chỉ một chữ “Xuân”, ông đã tạo ra hàng loạt các đơn vị: xuân hồng, xuân chín ửng, xuân tươi, xuân rụng, xuân đầu, xuân thì,

xuân không mùa,… tạo cảm giác mới lạ trong sự tiếp nhận của người đọc

Trước cách mạng, mùa xuân trong thơ Xuân Diệu là bước chuyển mùa, cảm thức về mùa xuân trong thơ ông là cảm thức về sự sinh sôi nảy nở, muôn màu, muôn sắc của tuổi trẻ và tình yêu:

Hoa thứ nhất có một mùa trinh bạch

Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ

(Tình thứ nhất)

“Xuân” đến bất ngờ trong thơ Xuân Diệu, không định trước bao giờ Ông biến

cái mùa xuân giới hạn, định kỳ của thiên nhiên thành mùa xuân vĩnh cửu, xuân không mùa:

Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;

Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,

Chim trên cành há mỏ hát ra thơ;

Xuân là lúc gió về không định trước

Đông đang lạnh, bỗng một hôm trở ngược,

Mây bay đi, để hở một khung trời

Thế là xuân Ngày chỉ ấm hơi hơi,

Như được nắm một bàn tay son trẻ

(Xuân không mùa)

Một nhà thơ luôn gắng bó với cuộc sống với tình người, nên không cần có một

mùa xuân của đất trời mới dạt dào tha thiết Mà đối với Xuân Diệu, “Xuân” trong

lòng ông đó là sự sống, là tuổi trẻ, là cảm xúc tràn đầy để nhà thơ có thể gắn bó sâu sắc hơn với cuộc đời:

Xuân của đất trời nay mới đến;

Trong tôi, xuân đến đã lâu rồi:

Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi

Trong vườn thơm ngát của hồn tôi

(Nguyên đán)

Xuân ta đã cất trong thơ phú

Tuổi trẻ trong thơ thắm với đời

(Tặng bạn bây giờ)

Chính lòng say mê, yêu đời mà Xuân Diệu lo sợ thời gian qua nhanh, đem cả tình yêu và tuổi trẻ Ông ý thức được sự trôi chảy của dòng thời gian, dòng đời Bằng cách dự đoán trước mà Xuân Diệu có thái độ sống vồ vập, muốn tận hưởng tất cả:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Và xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất

…………

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi

(Vội vàng)

Trang 40

Tuy nhiên, trong giai đoạn sáng tác này, mùa xuân đôi lúc trở nên vô vị, tẻ nhạt,

nó không là “Mùa xuân chín ửng trên đôi má” ( Nụ cười xuân ), hay “Sẵn kho

xuân quên cả túi không tiền” ( Đêm thứ nhất ), mà có lúc trở nên “Mùa xuân khó chịu quá đi thôi” ( Đơn sơ ), hay “Mùa xuân tôi chưa hề có hoa tươi” ( Dối trá )

Có lẽ điều này có thể giải thích được, mặc dù Xuân Diệu là người cuồng nhiệt, hiến dâng cho cuộc sống, nhưng ông lại tiêu biểu cho một nhà thơ mới trong giai đoạn giao thời, lúc mà các nhà thơ chưa tìm được hướng đi cho mình thì cho dù có tha thiết bao nhiêu, cũng trở nên cô đơn, lạc lõng, mùa xuân giờ đây cũng trở nên khó chịu, đơn côi Nhưng Xuân Diệu không giống Chế Lan Viên luôn khắc khoải suy tư:

Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa

danh từ chỉ thời gian “Xuân” trong thơ Xuân Diệu giai đoạn này thể hiện sự hối hả

vì hạnh phúc cuộc đời mỏng manh quá, thể hiện sự trôi chảy của dòng thời gian

Sau cách mạng, “Xuân” được thể hiện mang một sắc thái mới, đó là những rung

động tươi sáng của ban mai, bình minh cuộc đời gắn liền với sự phơi phới,thắm tươi của đất nước Thành quả tươi đẹp của cách mạng được thể hiện qua hàng loạt kiểu

kết hợp mang ý nghĩa tượng trưng: mùa xuân chiến thắng đời đời, mùa xuân mãi

mãi, mùa xuân xã hội,…Trên cơ sở đó, ông ca ngợi những thành quả cách mạng và

những con người anh hùng đã chiến đấu vì đất nước:

Sang xuân đất nước sang đà

Xây dựng mùa xuân xã hội

(Mùa xuân trong rừng Cúc Phương) Anh giải phóng quân, anh giải phóng quân

Anh là tác giả của mùa xuân

(Một chân trời hững sáng)

Cùng với quan niệm đổi mới về nghệ thuật, hồn thơ Xuân Diệu gắn liền với nhịp

quay của cuộc đời mới Mùa xuân gắn liền với những hạnh phúc giản dị “Sáng

xuân trời đất mở liên hoan” (Sáng xuân sang) Sự nhạy cảm tinh tế của các giác

quan trong Xuân Diệu ngày càng cao, càng tinh hơn, ông lắng nghe được khi vị thần gõ cửa đem mùa xuân đến, ngọn gió xuân đem đến mùa xuân phơi phới, phù hợp với tâm trạng con người trước thiên nhiên tạo vật:

Gió xuân động khẽ cành trên

Ngỡ ong say chạm vào bên hoa cười

(Cành hoa mận)

Khi “Gió xuân khẽ động trên cành” thì ta bắt gặp “Mùa xuân dưa chuột, cà

chua, cam vàng thơm giây” (Bài thơ những đồ hợp hoa quả)

Thơ Xuân Diệu không chỉ xuất hiện những từ ngữ chỉ “Xuân” như: “mùa

Xuân”, mà còn xuất hiện hàng loạt các từ: sắc xuân, gió xuân, lúa xuân, sớm mai xuân, góp phần thể hiện sự rạo rực trong chính tâm trạng của chủ thể trữ tình, sự

xuất hiện của những từ ngữ này đem đến cảm giác vui tươi, phơi phới, tươi mát của cảnh vật, của hồn người

Xuân Diệu luôn nhìn đời bằng cặp mắt “xanh non” nồng nàn và tươi trẻ.Vì thế, ông rất thành công trong việc diễn đạt rất tinh tế của một cái “tôi” lẻ loi, đơn côi,

hay thiên nhiên trầm tính thành một con người có dáng vóc, có nét cười xinh đẹp

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtôt, Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn học nghệ thuật, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Arixtôt
Nhà XB: Nxb Văn học nghệ thuật
Năm: 1984
2. Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt – tập 2, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – tập 2
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung, Ngữ pháp tiếng Việt – tập 1, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – tập 1
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Nguyễn Bao (Sưu tầm, biên soạn và giới thiệu), Toàn tập Xuân Diệu – tập 1, Nxb Văn học, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập Xuân Diệu – tập 1
Nhà XB: Nxb Văn học
5. Lê Bảo, Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường: Xuân Diệu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Lê Biên, Từ loại Tiếng Việt hiện đại, Nxb giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại Tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1999
7. Huy Cận – Hà Minh Đức, Nhìn lại một cuộc Cách mạng trong thi ca 60 năm phong trào thơ mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc Cách mạng trong thi ca 60 năm phong trào thơ mới
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
8. Huy Cận và Xuân Diệu, Hồi ký song đôi: Tuổi nhỏ Huy Cận – Xuân Diệu, Nxb Hội nhà văn, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký song đôi: Tuổi nhỏ Huy Cận – Xuân Diệu
Tác giả: Huy Cận, Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
9. Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
10. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
11. Nguyễn Đức Dân, Logich và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logich và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Xuân Diệu,Tác phẩm Văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh, Nxb Văn học, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm Văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Văn học
13. Lê Tiến Dũng, Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 – 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932 – 1945
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Lê Tiến Dũng, Xuân Diệu một đời người một đời thơ, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu một đời người một đời thơ
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
15. Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Nguyễn Lâm Điền – Trần Văn Minh, Giáo trình Văn học Việt Nam 1945 – 1975, Trường Đại Học Cần Thơ, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam 1945 – 1975
Tác giả: Nguyễn Lâm Điền, Trần Văn Minh
Nhà XB: Trường Đại Học Cần Thơ
Năm: 2004
17. Hà Minh Đức, Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Hà Minh Đức, Một thời đại trong thi ca về phong trào thơ mới, Nxb khoa học, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại trong thi ca về phong trào thơ mới
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb khoa học
Năm: 1998
19. Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
20. Hà Minh Đức, Thời gian và trang sách, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian và trang sách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1987

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w