Các động ngữ có trung tâm là động từ, các thành tố phụ trước biểu thị ý nghĩa về thời, thể, thức…, các thành tố phụ sau bổ sung ý nghĩa về đối tượng, cách thức, mục đích… Luận án chủ yếu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS VŨ ĐỨC NGHIỆU
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình ngiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực, chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận án
Võ Thị Minh Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể có được bản luận án này, tôi đã phải đi một chặng đường rất dài và
có những lúc tưởng chừng không thể vượt qua Trong quá trình thực hiện, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện từ tập thể ban chủ nhiệm, các nhà khoa học, cán bộ đồng nghiệp ở khoa Ngôn ngữ học; tập thể Ban giám hiệu, lãnh đạo và chuyên viên phòng Tổ chức cán bộ, phòng Đào tạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về những sự giúp
đỡ quý báu ấy
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày giáo hướng dẫn: GS TS Vũ Đức Nghiệu Thầy đã, trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận án này bằng cả sự nghiêm khắc, tấm lòng nhân từ và bằng cả những khích lệ quý báu
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã luôn khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận án
Tôi đặc biệt cảm ơn những người thân trong gia đình đã chia sẻ, gánh vác mọi khó khăn để tôi có điều kiện chuyên tâm hoàn thành luận án
Tác giả luận án
Trang 5QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
QUY ƯỚC VIẾT TẮT XUẤT XỨ TƯ LIỆU TRÍCH DẪN TRONG LUẬN ÁN
b.thien : Tài liệu viết tay năm 1659 của Bento Thiện
của hai thày cả mà trước kia còn nghi hoặc (1689)
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Kết cấu của luận án 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1 Lịch sử nghiên cứu danh ngữ và động ngữ 11
1.1.1 Vấn đề danh ngữ, động ngữ trong ngôn ngữ học 11
1.1.2 Việc nghiên cứu danh ngữ và động ngữ ở Việt Nam 13
1.2 Cơ sở lí luận về danh ngữ 19
1.2.1 Trung tâm của danh ngữ 20
1.2.2 Phần phụ trước trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt 24
1.2.3 Phần phụ sau trong danh ngữ tiếng Việt 28
1.3 Cơ sở lí luận về động ngữ 31
1.3.1 Trung tâm động ngữ tiếng Việt 31
1.3.2 Phần phụ trước trung tâm trong động ngữ tiếng Việt 36
1.3.3 Phần phụ sau trung tâm trong động ngữ tiếng Việt 40
1.4 Tiểu kết 42
Chương 2 CẤU TRÚC CỦA DANH NGỮ 44
2.1 Thành tố trung tâm của danh ngữ 44
2.1.1 Danh từ đơn vị làm trung tâm danh ngữ 44
2.1.2 Danh từ khối làm trung tâm danh ngữ 53
2.2 Thành tố phụ trước trung tâm trong danh ngữ 58
2.2.1 Lượng từ chỉ lượng 58
2.2.2.Lượng từ chỉ toàn thể 70
2.3 Thành tố phụ sau trung tâm trong danh ngữ 73
2.3.1 Định ngữ của các danh từ đơn vị có hình thức thuần túy làm trung tâm 75
2.3.2 Định ngữ của các danh từ đơn vị có hai mặt hình thức và nội dung 77
Trang 72.3.3 Các định ngữ cho danh từ khối [+ đếm được]: 82
2.3.4 Các định ngữ cho danh từ khối [- đếm được]: 84
2.3.5 Một vài trường hợp đặc biệt 85
2.4 Mô hình danh ngữ tiếng Việt 90
2.4.1 Mô hình danh ngữ tiếng Việt hiện đại: 91
2.4.2 Mô hình danh ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII 92
2.5 Tiểu kết 95
Chương 3 CẤU TRÚC CỦA ĐỘNG NGỮ 97
3.1 Thành tố trung tâm của động ngữ 97
3.1.1 Phân loại trung tâm dựa vào thành tố cấu tạo 98
3.1.2 Phân loại trung tâm động ngữ dựa vào tính chất chi phối của động từ 110
3.2.Thành tố phụ trước trung tâm trong động ngữ tiếng Việt 126
3.2.1 Nhóm chỉ sự tiếp diễn của hành động 126
3.2.2 Nhóm chỉ sự tồn tại của hoạt động trong thời gian và diễn tiến của hoạt động đối với thời gian 128
3.2.3 Nhóm các phụ từ dùng để nêu lên ý sai khiến, bảo thực hiện hay không thực hiện một hành động nào đấy 131
3.2.4 Phụ từ dùng để phủ định sự tồn tại của hành động – chẳng 132
3.2.5 Nhóm phụ từ dùng để miêu tả mức độ của trạng thái 132
3.3 Thành tố phụ sau trung tâm trong động ngữ tiếng Việt 135
3.3.1 Thành tố phụ sau trung tâm động ngữ là tính từ 135
3.3.2 Thành tố phụ sau trung tâm động ngữ là động từ 136
3.4 Mô hình động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII 144
3.4.1.Thành tố trung tâm 144
3.4.2 Phần phụ trước 144
3.4.3 Phần phụ sau 145
3.5 Tiểu kết 146
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀILUẬN ÁN 164 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng phân loại động từ trung tâm dựa vào tính chất chi phối của động từ 36
Bảng 2.1: Bảng thống kê tần số xuất hiện của các danh ngữ có danh từ đơn vị sự và danh từ đơn vị việc làm trung tâm danh ngữ 51
Bảng 2.2: Các danh ngữ sử dụng bấy nhiêu ở phần phụ trước 68
Bảng 2.3: Bảng miêu tả các thành tố phụ sau trung tâm danh ngữ 74
Bảng 2.4: Bảng miêu tả cấu trúc danh ngữ tiếng Hán giản lược 90
Bảng 2.5: Bảng miêu tả mô hình danh ngữ của M.B Emeneau 91
Bảng 2.6: Bảng miêu tả mô hình danh ngữ của Hoàng Dũng- Nguyễn Thị Ly Kha 92 Bảng 2.7: Bảng miêu tả mô hình danh ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII 94
Bảng 3.1 Bảng thống kê các tiểu loại của động từ ngoại hướng 111
Bảng 3.2 Bảng miêu tả mô hình động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII 145
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Số lượng và tần số xuất hiện của DĐV và DK trong nguồn ngữ liệu 57
Sơ đồ 2.2: Danh ngữ: nhiều của người ta lắm 79
Sơ đồ 2.3: Danh ngữ một giếng sâu và danh ngữ một rùa vàng 86
Sơ đồ 2.4: Danh ngữ: tên rất thánh Jesu 87
Sơ đồ 2.5: Danh ngữ: tin mừng này lớn 88
Sơ đồ 2.6: Danh ngữ: Cả và hai giả thư 89
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ động ngữ có động từ đơn tiết ngoại động làm trung tâm 100
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ động ngữ có động từ đơn tiết nội động làm trung tâm 103
Biểu đồ 3.3 Biểu đồ thống kê số lượng, tần số và tỉ lệ % các loại động từ 109
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ thống kê số lượng, tần số, tỉ lệ % của các động từ ngoại hướng 118
Biểu đồ 3.5 Biểu đồ số lượng, tần số, tỉ lệ % của các động từ trung tính, nội hướng và tình thái 125
Biểu đồ 3.6 Biểu đồ thống kê tần số, số lượng và tỉ lệ % của các động từ 125
làm trung tâm động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII 125
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghiên cứu lịch sử phát triển của một ngôn ngữ luôn bao hàm việc nghiên cứu lịch sử của ba bình diện quan trọng nhất: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ đó Với sự nỗ lực của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu, nhìn chung, việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt đã có những bước tiến dài và đạt được những thành tựu đáng
kể, đặc biệt là ở địa hạt ngữ âm và từ vựng Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu ngữ pháp lịch sử tiếng Việt, còn ít và còn thiếu tính hệ thống hoặc chỉ được đề cập đến với tư cách một vấn đề có liên quan trong các công trình nghiên cứu Bên cạnh đó, việc nghiên cứu lịch sử ngữ pháp nói chung, đặc biệt là cú pháp nói riêng, luôn cần
có các tài liệu thành văn để khảo chứng, nhưng trong một thời gian dài, các nghiên cứu lịch sử tiếng Việt thời kì trung đại đã bị khuyết giai đoạn khởi đầu của chữ Quốc ngữ (thế kỉ XVII; tiếp sau các công trình của A de Rhodes do thiếu tư liệu) Gần đây, các tài liệu được viết (chứ không phải dịch) bằng văn xuôi Quốc ngữ thời
kì này đã được bổ sung đáng kể nhờ công sưu tập của các nhà nghiên cứu Cách diễn đạt theo lối văn xuôi thời kì này thể hiện cú pháp tiếng Việt một cách chân thực, đa dạng hơn Các ngữ đoạn tạo câu không bị hạn chế như trong cách hành văn đăng đối, vần điệu của thời kì trước Các đơn vị tổ chức cốt lõi của câu là danh ngữ
và động ngữ, theo đó, cũng có thể được triển khai đến mức tối đa
Việc tìm hiểu hệ thống ngữ pháp trong quá trình phát triển lịch sử của tiếng Việt là mong muốn của giới nghiên cứu Việt ngữ học cũng đồng thời là một nhiệm
vụ quan trọng thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, đòi hỏi sự tham gia của nhiều người và cần thực hiện dần từng phần thì mới bao quát hết được Chính vì thế, những nghiên cứu về các hiện tượng ngữ pháp trong những lát cắt thời gian cụ thể
là tiền đề hết sức cần thiết để từ đó góp phần tạo nên bức tranh nghiên cứu toàn cảnh Việc nghiên cứu các danh ngữ, động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII thông qua một số văn bản viết bằng chữ Quốc ngữ, thiết nghĩ, hết sức cần thiết bởi có thể giúp hiểu sâu về một bình diện (bình diện ngữ pháp) trong một lát cắt của diễn tiến lịch
sử tiếng Việt, qua đó góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt
Trang 11Như vậy, từ phương diện thực tiễn, luận án là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu cấu trúc danh ngữ, động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII nhằm phác thảo lược đồ tổ chức của danh ngữ và động ngữ tiếng Việt giai đoạn này về các mặt: thành tố cấu tạo, khả năng phân bố trong tổ chức nội bộ của mối quan hệ giữa chúng Về phương diện lí thuyết, kết quả nghiên cứu của luận án không chỉ cung cấp mô hình cấu trúc danh ngữ, động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII mà còn có những đóng góp thiết thực cho mô hình danh ngữ tiếng Việt giai đoạn trung đại cũng như tiến trình lịch sử cú pháp tiếng Việt
Nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu vấn đề cú pháp tiếng Việt giai đoạn trung đại, trong điều kiện có nguồn ngữ liệu là các văn bản viết bằng chữ
Quốc ngữ, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Cấu trúc danh ngữ, động ngữ tiếng
Việt trong các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII để thực hiện trong luận án này
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu (khảo chứng và phân tích) tổ chức của danh ngữ và động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII (về các mặt: thành tố cấu tạo, sự phân bố trong tổ chức nội bộ của chúng, năng lực hoạt động và mối quan hệ giữa các thành tố với nhau…)
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án này phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Lựa chọn và xác định khung lí thuyết cho luận án về danh ngữ, động ngữ
và khả năng áp dụng khung lí thuyết đó để xử lý vấn đề hữu quan
- Khảo sát tổ chức của các danh ngữ trong các nguồn ngữ liệu, phác thảo lược đồ cấu trúc của danh ngữ thế kỉ XVII
- Khảo sát tổ chức của các động ngữ trong các nguồn ngữ liệu, phác thảo lược đồ cấu trúc của động ngữ thế kỉ XVII
- Phân tích các mối quan hệ, khả năng phân bố, sự đối đãi giữa các thành tố… trong danh ngữ, động ngữ thế kỉ XVII
- Phân tích các lớp từ vựng tham gia vào các vị trí trong danh ngữ, động ngữ
Trang 124 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là các danh ngữ, động ngữ tiếng Việt trong các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các tài liệu thành văn được viết bằng chữ Quốc ngữ trong thế kỉ XVII
5 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu nghiên cứu phục vụ cho luận án là các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII được lưu trữ và đã đượccông bố chính thức Các văn bản này có thể do người Việt hoặc người nước ngoài viết
Các văn bản do người Việt viết gồm:
- Tài liệu viết tay năm 1659 của Bento Thiện (Linh mục Đỗ Quang Chính đặt tên văn bản là Lịch sử nước Annam; và mọi người đã quen gọi như vậy)
- Thư viết tay năm 1659 của Bento Thiện gửi Linh mục Marini
- Thư viết tay năm 1659 của Ignesico Văn Tín gửi Linh mục Marini
- Thư của Domingo Hảo gửi thầy cả Gabriel (1687)
- Thư của Domingo Hảo gửi thầy cả Bispo Luys (1687)
- Thư Micheal Catechista Tunkin làm (1688)
- Thư Dionysio Catechiasta Tunkin (1688)
- Thư từ Roma gửi về cho các giáo hữu bên ta khẳng định cương vị của hai thày cả mà trước kia còn nghi hoặc (1689)
Văn bản do người nước ngoài viết gồm:
- Phép giảng tám ngày (1651) do A de Rhodes viết
Các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII đều được viết tay và có một số điểm khác biệt về mặt kí tự so với chữ Quốc ngữ của tiếng Việt hiện đại Để có thể có được nguồn ngữ liệu tốt nhất, chúng tôi dựa vào các văn bản thành văn đã được phiên chuyển sang tiếng Việt ngày nay và có đối chiếu trực tiếp với ảnh bản của từng tài liệu Ngữ liệu đều được thu thập từ các tài liệu chữ Quốc ngữ đã được xuất bản chính thức
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu
Luận án này không phải là một công trình nghiên cứu thuần túy mang tính lịch đại của ngôn ngữ học lịch sử mà mới chỉ nghiên cứu một lát cắt đồng đại trong tiến trình lịch sử của ngôn ngữ
Căn cứ vào khái niệm, lí luận về danh ngữ, động ngữ, luận án đi vào khảo sát ngữ liệu là các văn bản chữ Quốc ngữ ở thế kỉ XVII Trên cơ sở của ngữ liệu thực
tế, luận án tìm hiểu xem các danh ngữ, động ngữ thời kì này được tổ chức như thế nào (các mối quan hệ giữa các thành tố, khả năng phân bố, sự đối đãi giữa các thành tố) Cần phải nhấn mạnh rằng, luận án tuyệt đối không dựa vào mô hình danh ngữ, động ngữ tiếng Việt hiện đại đã được các nhà Việt ngữ học nghiên cứu rồi tìm ngữ liệu thế kỉ XVII để lấp đầy, minh họa Cách làm này tránh được những sai phạm về nguyên tắc phân tích, loại trừ những nhận xét phiến diện và mang tính tiên nghiệm
về danh ngữ, động ngữ tiếng Việt thời kì trung đại
Với lợi thế trong điểm nhìn về mặt thời gian, luận án sử dụng các thao tác so sánh tiền quan và hồi quan nhằm làm nổi rõ những điểm tương đồng và những sự thay đổi trong một số trường hợp của danh ngữ, động ngữ tiếng Việt (những biến đổi về chức năng, ngữ nghĩa; sự mất đi hay xuất hiện… của các yếu tố) ở các thời kì trước và sau thế kỉ XVII Bởi vì “nếu một người tiếp cận các văn bản ở hai thời kì khác nhau thì có thể nhận ra sự khác biệt và từ đó có thể chỉ ra “sự thay đổi” ngôn ngữ” [Lightfoot, 2005: 496] Các nguồn ngữ liệu về danh ngữ và động ngữ trước và sau thế kỉ XVII được thu thập, phân tích và đối sánh ở những chừng mực nhất định với nguồn ngữ liệu tương ứng ở thế kỉ XVII Cách làm này giúp có được sự hình dung sâu hơn về danh ngữ, động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII nói riêng và diễn tiến của danh ngữ, động ngữ tiếng Việt nói chung
Luận án áp dụng các thao tác của thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp để xác định các ngữ đoạn tạo câu Theo đó, ngữ đoạn có danh từ làm trung tâm là danh ngữ Ngữ đoạn có động từ làm trung tâm là động ngữ Tiếp đó, luận án phân tích, xác định các thành tố trong danh ngữ, động ngữ bằng cách dựa vào sự phân bố trên trục kết hợp (quan hệ tuyến tính) và trong thế đối đãi (quan hệ kết hợp) với thành tố trung tâm Ví dụ:
- Trung tâm là danh từ: c ác việc quân quốc (lsnan)
Trang 14- Thành tố phụ đứng trước trung tâm: c ả và bốn người (vb3)
- Thành tố phụ đứng sau trung tâm: (chúng tôi ơn nhờ) công nghiệp các Thánh
xưa nay(b.thien)
- Trung tâm là động từ: ( Ngày sau Chúa Tiên) ra Kẻ Chợ (lsnan).
- Thành tố phụ đứng trước trung tâm: ( nhà Ngô) liền thề (b.thien)
- Thành tố phụ đứng sau trung tâm: (tôi) đã chiềng bề trên(vb1)
Các thành phần phụ cho trung tâm sẽ được phân loại dựa vào vị trí phân bố
và chức năng mà chúng đảm nhiệm khi bổ sung ý nghĩa cho thành tố trung tâm Theo đó, danh ngữ sẽ có thành tố trung tâm đứng ở giữa; phía trước là các lượng ngữ biểu thị ý nghĩa về số lượng; phía sau là các định ngữ, bổ sung ý nghĩa về loại, hạng, vị trí… cho thành tố trung tâm Các động ngữ có trung tâm là động từ, các thành tố phụ trước biểu thị ý nghĩa về thời, thể, thức…, các thành tố phụ sau bổ sung ý nghĩa về đối tượng, cách thức, mục đích…
Luận án chủ yếu áp dụng các thao tác của phương pháp nghiên cứu định tính nhưng trong những trường hợp cụ thể, các thao tác của phương pháp nghiên cứu định lượng cũng được sử dụng để làm nổi rõ tính chất về số lượng, tần số xuất hiện của các vấn đề hữu quan Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng các thủ pháp phân tích quan hệ ngữ pháp, ngữ nghĩa, các thủ pháp miêu tả, so sánh để nêu bật được các đặc điểm của cấu trúc danh ngữ, động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII trong các văn bản chữ Quốc ngữ Trên cơ sở đó, luận án sẽ đi tới xây dựng lược đồ tổ chức của danh ngữ, động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII trong các văn bản chữ Quốc ngữ
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án gồm có 3 chương với các nội dung chính như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận
Trong chương này, luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu danh ngữ động ngữ ở Việt Nam cũng như trên thế giới Bên cạnh đó, các vấn đề thuộc về
cơ sở lí luận và các phương pháp làm việc căn bản cũng được trình bày nhằm tạo tiền đề cho các chương nội dung cụ thể về danh ngữ và động ngữ
Trang 15Chương 2: Cấu trúc củadanh ngữ
Xuất phát từ thực tế ngữ liệu và dựa vào cơ sở lí luận, luận án đưa ra mô hình về cấu trúc danh ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII trong các văn bản chữ Quốc ngữ
Chương 3: Cấu trúc của động ngữ
Cấu trúc động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII trong các văn bản chữ Quốc ngữ được rút ra trên cơ sở khảo sát ngữ liệu và các lí luận cơ sở
Để giản tiện trong quá trình trình bày luận án, khi không cần thiết, chúng tôi
thường chỉ nói (viết) Cấu trúc của danh ngữ và Cấu trúc của động ngữ mà không cần xác định "trong các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII" nữa, vì tên luận án đã
bao gồm tất cả
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Lịch sử nghiên cứu danh ngữ và động ngữ
1.1.1 Vấn đề danh ngữ, động ngữ trong ngôn ngữ học
a Danh ngữ và động ngữ là những ngữ đoạn phụ thuộc, hướng tâm (nội tâm) Yếu
tố chính của danh ngữ là danh từ, yếu tố chính của động ngữ là động từ
Trong các từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học nói chung, khái niệm danh ngữ
thường được hiểu là một đơn vị cú pháp, có thể đóng vai trò chủ ngữ hoặc tân ngữ
Theo cách hiểu phổ biến, danh ngữ “bao gồm tối thiểu một danh từ trung tâm
và phụ ngữnào đóđi k m Các phụ ngữ tiêu biểu cho danh từ là: định ngữ, lượng từ hay ngữ lượng từ, tính từ hay ngữ tính từ, danh từ hay danh ngữ, giới từ hay giới ngữ và mệnh đề [Brown Keith (ed.), 2008: 7470]
Cuốn Dictionary of Language teaching & applied linguistics của Nxb Longman, cho rằng: danh ngữ (trong ngôn ngữ học cấu trúc, ngữ pháp tạo sinh và
các lí thuyết ngữ pháp học có liên quan) là một nhóm từ có một danh từ hoặc đại từ làm thành phần chính (trung tâm) Danh ngữ có thể chỉ có một từ (ví dụ Gina trong Gina arrived yesterday) hoặc nó có thể dài và phức tạp (ví dụ, tất cả các từ trước must trong: The students who enrolled late and who have not yet filled in their cards must do so by Friday) [Jack C Richards and Richard Schmidt, 1992: 336]
Danh ngữ cũng có thể được hiểu theo cách chuyên biệt như cách trình bày
trong cuốn Routledge Dictionary of Language and Linguistics của Hadumod Bussman: “Danh ngữ thường gồm một danh từ (fruit, happniness, Phil) hoặc một
đại từ (I, someone, one) là trung tâm của nó và có thể được bổ ngh a b ng nhiều cách Danh ngữ có thể làm chủ ngữ hoặc tân ngữ trong câu hoặc có thể xuất hiện như là một phần của ngữ giới từ mà bản thân nó có thể đảm nhận chức năng như một tân ngữ hoặc một trạng ngữ
Cũng như danh ngữ, trong các từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học nói chung,
động ngữ thường được hiểu là “một đơn vị của cấu trúc câu bao gồm một động từ
và các thành tố khác gắn chặt với nó” [Trask, 2007: 317]
Trang 17Trong ngữ pháp cải biến tạo sinh, động ngữ được quan niệm: “là một thành tố
trực tiếp của câu và buộc phải có một động từ Tùy vào kết trị (valency)của động từ,
số lượng và chủng loại của các thành phần phụ thuộc có thể thay đổi; thêm vào đó, bất cứ thành phần tự do nào cũng có thể xen vào Thường khó vạch được ranh giới giữa thành phần tự do và thành phần bắt buộc” [Bussmann, 1998: 1264]
Động ngữ thường đảm nhiệm chức năng là phần vị ngữ của câu
Ví dụ:
ĐN
Ptr ĐN
TT Ps
(tôi) đã đi trộm xuống dưới Bankoc (vb3)
Nhìn chung, danh ngữ, động ngữ đã là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp tư biện thời kì Phục Hưng và vẫn được nghiên cứu xuyên suốt trong các thời kì của chủ nghĩa cấu trúc Kể từ thời kì của ngữ pháp ngữ đoạn và ngôn ngữ học tạo sinh đến nay, danh ngữ (NP) và động ngữ (VP) đã trở thành những đơn vị căn bản của
cú pháp
Xuyên suốt các nghiên cứu về danh ngữ và động ngữ của các thời kì, các trường phái, những vấn đề sau luôn được chú ý: a) Thứ nhất là tổ chức của danh ngữ, động ngữ (bao gồm các vấn đề về thành tố trung tâm và các thành tố phụ); b) Thứ hai là điều kiện xuất hiện và khả năng kết hợp của các thành tố phụ với thành
tố trung tâm; và c) Thứ ba là các nhân tố chi phối mối quan hệ giữa thành tố trung tâm với các thành tố phụ
b Một trong những đặc trưng dễ nhận thấy nhất của đoản ngữ là toàn bộ đoản ngữ
có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ các đặc trưng ngữ pháp của trung tâm Trong giáo trình về cú pháp
Understanding syntax (2005), Maggie Tallerman đã chỉ ra bảy đặc tính của một
trung tâm ngữ đoạn như sau: (1) Trung tâm phải chứa những thông tin cú pháp quan
Trang 18trọng nhất trong ngữ (2) Từ loại của trung tâm quyết định từ loại của toàn bộ ngữ đoạn (3) Trung tâm thường là bắt buộc (4) Trung tâm có sự phân bố cùng với toàn
bộ ngữ đoạn, trung tâm và các phần phụ thuộc (5) Trung tâm lựa chọn các ngữ phụ thuộc của một lớp từ loại cụ thể; những ngữ này đôi khi là bắt buộc (6) Trung tâm thường yêu cầu các phần phụ thuộc hợp dạng với một vài hoặc tất cả các đặc điểm ngữ pháp của trung tâm (7) Trung tâm có thể đòi hỏi các danh ngữ phụ thuộc xuất hiện trong một cách ngữ pháp cụ thể [Tallerman, 2005: 98]
Hai điều kiện cuối cùng (các yêu cầu về hợp dạng, cách ngữ pháp) không được hiện thực hóa trong tiếng Việt vì đây là một ngôn ngữ có đặc trưng đơn lập, phân tích tính điển hình Với năm điều kiện còn lại về trung tâm ngữ đoạn, có thể nhận định rằng: trong tiếng Việt, những danh từ, động từ nào thỏa mãn năm điều kiện trên thì đều có thể làm trung tâm của danh ngữ và động ngữ
1.1.2 Việc nghiên cứu danh ngữ và động ngữ ở Việt Nam
Liên quan trực tiếp đến vấn đề danh ngữ, động ngữ là các vấn đề về từ loại cũng như việc kết hợp các từ loại với nhau trong tiếng Việt Vấn đề này được một
số người châu Âu đầu tiên bàn đến trong phần đầu các cuốn từ điển đối dịch giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ phương Tây Người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu về
từ loại (và qua đó là những vấn đề liên quan đến danh ngữ, động ngữ) là Trương Vĩnh Ký Ông đã xuất phát từ đặc điểm của tiếng Việt để khảo sát và lập ra danh sách các danh từ số, danh từ khái quát và loại biệt dùng với động từ trừu tượng trong tác phẩm „Ngữ pháp tiếng Việt‟
Tiếp theo thời kì mà việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu do các nhà truyền giáo ngoại quốc thực hiện để phục vụ cho nhu cầu truyền đạo là giai đoạn gắn với các công trình nghiên cứu sâu hơn về ngữ pháp tiếng Việt với các cuốn chuyên luận riêng biệt Việc nghiên cứu từ loại tiếng Việt ở thời kì sau không phải lúc nào cũng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và không khó để nhận thấy rằng các phạm trù từ loại của tiếng Việt đã được phân loại, miêu tả kĩ hơn
cả về phương diện từ pháp, ngữ pháp và dụng pháp Có thể kể đến các tác giả và các
tác phẩm như: Việt Nam văn phạm (Trần Trọng Kim, 1936), Những nhận xét về văn
Trang 19phạm Việt Nam (để mở đầu cho quyển Văn phạm Việt Nam) (Thanh Ba Bùi Đức
Tịnh, 1948), Văn phạm Việt Nam (Bùi Đức Tịnh, 1967), Studies in Vietnamese
(Annamese) Grammar (M.B Emeneau, 1951), A Vietnamese Grammar (Laurence
C Thompson, 1965), Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam (Lê Văn Lý, 1972)… Mô hình
đơn giản về danh ngữ tiếng Việt của M.B Emeneau đã được các nhà nghiên cứu đi sau bổ sung và lấp đầy các chi tiết
Thời kì nửa sau thế kỉ XX, ngữ pháp tiếng Việt được nghiên cứu sâu hơn, gắn với các công trình chuyên biệt, với tên tuổi của các nhà nghiên cứu: Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Phú Phong, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Lý Toàn Thắng… Các nghiên cứu thời kì này không những
đã chỉ ra được tính chất cốt yếu của các đoản ngữ mà còn xây dựng được mô hình cấu trúc của các ngữ đoạn (nhất là với danh ngữ, động ngữ) Các vấn đề về ý nghĩa
và chức năng của hai loại đơn vị cú pháp này cũng đã thực sự được quan tâm
a Quá trình nghiên cứu danh ngữ tiếng Việt
Trong giai đoạn khởi đầu, các vấn đề về ngữ pháp tiếng Việt mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả các từ loại (trong phần mở đầu của các cuốn từ điển của A de Rhodes, J L Taberd) Vì thế, thời kì này mới chỉ có các miêu tả về danh từ tiếng Việt và một vài miêu tả sơ lược về sự kết hợp của danh từ với các từ loại khác
(mang đậm tính chất d Âu vi trung) Trong cuốn (Grammaire de la langue
annamite) được xuất bản năm 1883, Trương Vĩnh Ký đã xuất phát từ đặc điểm của
tiếng Việt để khảo sát tiếng Việt và lập ra danh sách các danh từ số, danh từ khái quát và loại biệt dùng với động từ trừu tượng
Những miêu tả chi tiết hơn về từ loại danh từ (thành tố cấu tạo, khả năng kết hợp, chức năng ngữ pháp…) đã được thể hiện trong công trình của Trần Trọng Kim (1941) Các vấn đề về từ loại danh từ và cấu trúc danh ngữ tiếng Việt còn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước M.B Emeneau đã bàn đến vấn đề này và là người đầu tiên đưa ra mô hình danh ngữ trong tiếng Việt
mà ông gọi là “schema of the numerated constructions” (giản đồ về cấu trúc lượng từ) [M.B Emeneau, 1951: 85] Trong công trình của mình viết về ngữ pháp tiếng
Trang 20kĩ về hai thành tố phụ cho “ngữ thực thể từ” (substantival phrase) là chỉ tố đánh dấu
số nhiều (plural markers) và chỉ tố chỉ định (demonstrative markers) [Laurence C Thompson, 1965] Lê Văn Lý phân chia nhóm tự ngữ (danh ngữ) làm nhóm tự ngữ đơn và nhóm tự ngữ phức tạp [Lê Văn Lý, 1972: 154]
Vấn đề danh ngữ trong tiếng Việt đã được giải quyết về căn bản kể từ công
trình về Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Tài Cẩn (hoàn thành
năm 1960 và được chính thức xuất bản ở Việt Nam năm 1975) Mô hình này sau đó được nhiều nhà ngữ pháp học ứng dụng trong các công trình nghiên cứu của mình
cũng đã được áp dụng giảng dạy ở phổ thông Tuy nhiên, trong cuốn Từ loại danh
từ trong tiếng Việt hiện đại, ở phần phụ lục II, Vài ý ngh hiện nay, Nguyễn Tài Cẩn
nhiệm) mới thực sự là trung tâm danh ngữ [Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 292- 293] Quan niệm này đã được chính ông tái khẳng định trong một công trình xuất bản bằng tiếng Nga vào năm 1976 [Нгуэн ТайКан: 1976]
Bên cạnh các vấn đề về thành tố trung tâm, các vấn đề về thành phần phụ trước và phụ sau của danh ngữ cũng đã được miêu tả chi tiết trong các công trình của Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban… Theo đó, tùy thuộc vào cách xác định thành tố trung tâm mà số lượng và vị trí của các thành phần phụ trước
và phụ sau có đôi chút xê dịch Dù vậy, thành phần phụ trước trung tâm danh ngữ
tiếng Việt hiện đại có ba vị trí (tính từ trung tâm vềbên trái): vị trí 1 (từ chỉ xuất cái)
vị trí 2 (lượng ngữ chỉ số lượng), vị trí 3 (lượng ngữ chỉ toàn thể) Thành phần phụ sau trung tâm có ba vị trí (tính từ trung tâmvề bên phải): vị trí 1‟ (định ngữ hạn định), vị trí 2‟ (định ngữ miêu tả), vị trí 3‟ (định ngữ chỉ vị trí)
Một số luận án trong và ngoài nước đã áp dụng lí thuyết về cấu trúc danh ngữ để nghiên cứu danh ngữ tiếng Việt như luận án của Trần Đại Nghĩa (1996), Nguyễn Hùng Tưởng (2004), Trần Thuần (2009)…
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất về mô hình chung của danh ngữ tiếng Việt với ba thành phần: thành phần phụ trước trung tâm, thành phần trung
Trang 21tâm và thành phần phụ sau trung tâm Tuy nhiên, tùy theo quan điểm thuần cấu trúc hay thiên ngữ nghĩa hoặc chiết trung mà họ có những kiến giải khác nhau về thành
tố trung tâm của danh ngữ Theo thời gian, mô hình danh ngữ tiếng Việt càng ngày càng đầy đủ và chính xác trong việc xác định các thành tố, quan hệ giữa thành tố trung tâm với các thành phần phụ và mối quan hệ trong nội bộ các thành tố phụ… Tuy nhiên, các vấn đề về danh ngữ vẫn cần được hiệu chỉnh
Có thể nói, cấu trúc danh ngữ tiếng Việt là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu cú pháp Tuy nhiên, tất cả các vấn đề đã trình bày ở trên đều là những công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt hiện đại Ở bình diện lịch đại, gần như chưa có một chuyên luận nào đề cập đến các vấn đề liên quan đến danh ngữ tiếng Việt mà mới chỉ dừng ở những bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả như: Vũ Đức Nghiệu, Đinh Văn Đức, Nguyễn Thiện Nam…
b Quá trình nghiên cứu động ngữ tiếng Việt
Có thể nhận định rằng việc nghiên cứu từ loại tiếng Việt đã được bắt đầu từ giữa thế kỉ XVII nhờ vào góc nhìn của người châu Âu khi biên soạn các cuốn từ điển đối dịch giữa tiếng La tinh, tiếng Bồ Đào Nha (những ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn- Âu) với tiếng Việt (một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á) Do cách tri nhận ngữ pháp châu Âu và năng lực miêu tả khái quát của các nhà truyền giáo mà các vấn đề
về các phạm trù từ loại phổ quát trong tiếng Việt đã được làm rõ (điều mà thời kì trước chưa làm được do tiếp xúc với tiếng Hán, một ngôn ngữ cùng loại hình, có truyền thống ngữ pháp thiên về thi pháp và cùng ở phương Đông)
Đến thế kỉ XX, một số nhà ngữ pháp học như: Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Lê Văn Lý, F Martini, M.B Emeneau… đã có những nghiên cứu cụ thể hơn
về động từ (khả năng kết hợp, các đặc điểm hình thức, chức năng ngữ nghĩa…) Trong số các nhà nghiên cứu kể trên, Nguyễn Kim Thản đã nghiên cứu sâu hơn về ngữ pháp tiếng Việt nói chung và động từ nói riêng Bên cạnh đó cũng có những chuyên luận nghiên cứu sâu về một nhóm từ loại động từ hoặc riêng về chức năng
Trang 22thể hiện các phạm trù thời thể trong tiếng Việt (Nguyễn Thị Quy, Bùi Trọng Ngoãn, Trần Kim Phượng, Huỳnh Văn Thông…)
Vấn đề động ngữ tiếng Việt đã được trình bày chi tiết trong cuốn Ngữ pháp
tiếng Việt (Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ) (1975) của Nguyễn Tài Cẩn; theo đó, với
tư cách là một loại tổ hợp tự do, có kết hợp theo quan hệ chính phụ, động ngữ bao gồm một trung tâm và các thành tố phụ bao xung quanh trung tâm đó Các công trình tiếp theo của Đinh Văn Đức (1985, 2001, 2010), Diệp Quang Ban (1991,
2005, 2009), Nguyễn Đình Hòa (1997), Cao Xuân Hạo (1998, 2001, 2000, 2005), V.S Panfilov (2008), Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp (2009)… đều đề cập đến vấn đề trên ở những mức độ khác nhau
Việc nghiên cứu động ngữ tiếng Việt có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ và tùy thuộc vào quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn và Nguyễn Đình Hòa đều tập trung miêu tả các đơn vị cấu trúc của động ngữ nhưng Nguyễn Tài Cẩn
đã có những chú ý đến các quan hệ ngữ nghĩa trong nội bộ động ngữ Hai tác giả: Diệp Quan Ban và Đinh Văn Đức, tuy cùng thiên về hướng ngữ pháp ngữ nghĩa nhưng vẫn nhấn mạnh vào phương diện từ loại Tuy nhiên, Diệp Quang Ban vẫn dựa chính vào khả năng kết hợp của các thành tố bên trong tổ chức động ngữ còn Đinh Văn Đức lại nhấn mạnh hơn đến tính tình thái của động từ trong quan hệ của chính nó với các thành tố phụ xung quanh Theo Đinh Văn Đức, trong tiếng Việt, người bản ngữ tri nhận vị ngữ thiên về đặc trưng nghĩa và thường sử dụng một chùm các phương tiện tình thái - từ vựng tạo nên một cái khung tình thái” [Đinh Văn Đức, 2010: 302] Diệp Quang Ban cũng xem xét vấn đề thiên về ngữ nghĩa với việc phân chia thành tố trung tâm thành hai loại: động từ trọn ý (động từ viên ý) và động từ không trọn ý (động từ khuyết ý) Hai thuật ngữ: động từ viên ý và động từ
khuyết ý cũng được Bùi Đức Tịnh sử dụng trong cuốn Ngữ pháp Việt Nam giản dị
và thực dụng [Bùi Đức Tịnh, 1967]
Như vậy, có thể thấy, cấu trúc động ngữ tiếng Việt đã được nghiên cứu theo nhiều khuynh hướng và trường phái Tuy nhiên, do bản chất phức tạp của động từ nên giữa các nhà nghiên cứu, giữa các khuynh hướng nghiên cứu còn có nhiều điểm
Trang 23chưa thống nhất Dù vậy, về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng động ngữ có cấu trúc gồm ba phần (tính từ trái sang phải), gồm: phần phụ trước trung tâm, phần trung tâm và phần phụ sau trung tâm
Phần phụ trước trung tâm của động ngữ có thể được chia thành các tiểu nhóm thành tố phụ: nhóm chỉ sự tiếp diễn của hành động; nhóm chỉ thời gian hành động/ quá trình; nhóm nêu lên ý sai khiến; nhóm dùng để khẳng định hay phủ định
sự tồn tại của hành động; nhóm miêu tả mức độ của trạng thái
Phần trung tâm của động ngữ được đảm nhiệm bởi các động từ Ngữ động từ
do một động từ đơn đảm nhiệm vị trí trung tâm luôn dễ nhận diện và không tạo ra bất cứ khó khăn nào trong quá trình xác định thành tố chính của động ngữ Vấn đề nhận diện đơn vị trung tâm động ngữ gặp trở ngại khi vị trí trung tâm do hơn một động từ đảm nhiệm Đó có thể là ngữ động từ do tổ hợp của động từ tình thái và một động từ đi kèm làm trung tâm, cũng có thể là các ngữ khứ hồi, các động từ song chuyển…
Phần phụ sau trung tâm của động ngữ có cấu trúc phức tạp cả về thành tố và quan hệ do bị chi phối bởi bản chất ngữ pháp phức tạp của động từ trung tâm Quan niệm về tên gọi và nội dung của các thành tố phụ sau của động ngữ cũng khá đa dạng: Diệp Quang Ban gọi các thành tố phụ sau động từ chính là các phó từ và theo
đó chia ra làm các lớp con Nguyễn Tài Cẩn và Đinh Văn Đức thì phân loại theo hình thức tổ chức, dựa vào sự kết hợp của động từ trung tâm với các thành tố phụ sau để phân ra làm hai loại là thực từ và hư từ và cấu trúc hai trung tâm (mệnh đề)
Về mặt quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ sau, Đinh Văn Đức chia ra làm hai loại kết hợp: kết hợp trực tiếp và kết hợp gián tiếp Ông nhận xét: “các thành tố phụ
ở phần cuối động ngữ, ngoại trừ những thực từ có khả năng phát triển mở rộng, còn lại là các từ thiên về ngữ pháp với những nhóm khác nhau” [Đinh Văn Đức, 2001: 153] Cao Xuân Hạo thì gọi phần phụ sau trung tâm là các bổ ngữ của ngữ vị từ, gồm: ngữ danh từ, ngữ vị từ và chia thành hai loại: bổ ngữ trực tiếp và bổ ngữ gián tiếp và các tiểu loại nhỏ trong nội bộ của bổ ngữ gián tiếp [Cao Xuân Hạo, 2005]
Các tác giả cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1983) cũng chia ra làm hai loại thành tố phụ
Trang 24sau với tên gọi: phụ tố do chính tố yêu cầu riêng và phụ tố do chính tố không yêu cầu riêng
Cấu trúc ngữ pháp và vấn đề ngữ nghĩa của động ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng do bản chất phức tạp của động từ nên việc hình thành một mô hình cấu trúc với các thành tố ổn định như của danh ngữ là một việc làm khó khăn Việc quyết định yếu tố nào thuộc về cấu trúc đoản ngữ động từ, thực sự bổ nghĩa cho động từ trung tâm cũng còn là một vấn đề chưa thực sự ngã ngũ trong giới nghiên cứu
Như vậy, danh từ và động từ là hai từ loại thực từ luôn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học từ thời Hy Lạp - La Mã, Ấn Độ cổ đại đến nay Các vấn đề về bản chất từ loại và sự mở rộng của cấu trúc của ngữ đoạn có trung tâm là danh từ hay động từ để trở thành các ngữ đoạn danh từ và ngữ đoạn động từ (các ngữ đoạn hướng tâm điển hình, với trung tâm nằm ở bên trong ngữ đoạn) đã được nghiên cứu trong khoa học ngôn ngữ học theo nhiều trường phái, trong nhiều công trình nghiên cứu về cú pháp của các ngôn ngữ riêng biệt cũng như trong các nghiên cứu ngôn ngữ mang tính đại cương Đối với Việt ngữ học, mô hình danh từ và danh ngữ về cơ bản đã được hình thành qua công trình nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn và tiếp đó là các nhà nghiên cứu ngữ pháp như Đinh Văn Đức, Nguyễn Đình Hòa, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Chính… Trong các công trình nghiên cứu cú pháp tiếng Việt hay các ngôn ngữ khác trên thế giới và trong ngôn ngữ học đại cương, danh ngữ thường được quan tâm nghiên cứu do tính chất tĩnh, dễ xác lập mô hình Mô hình của động ngữ thường không ổn định do vị trí đối đãi của nó với các thành tố khác và động từ trung tâm cũng không ổn định Sự không ổn định này có thể có nguyên nhân mang tính ngữ dụng hoặc do nguyên nhân về nhu cầu của người Việt về tính nhịp điệu hoặc/ và sự hài thanh trong phát ngôn
1.2 Cơ sở lí luận về danh ngữ
Như đã trình bày ở phần trên, danh ngữ là một ngữ, gồm có một danh từ
hoặc đại từ làm thành phần chính (trung tâm) và các thành tố phụ cho trung tâm đó
Tuy nhiên, việc nhận thức và xác định thành tố trung tâm cũng như các thành phần
Trang 25phụ không phải đã đạt được sự thống nhất hoàn toàn giữa các nhà nghiên cứu Dưới đây, chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày các vấn đề hữu quan của từng thành tố trong danh ngữ
1.2.1 Trung tâm của danh ngữ
Trung tâm của danh ngữ phải là danh từ và danh từ trung tâm là cái đại diện, thể hiện về năng lực cú pháp cho toàn bộ danh ngữ Trung tâm danh ngữ nắm vai trò điều biến các mối quan hệ trong nội bộ danh ngữ cũng như các quan hệ kết hợp ngoài danh ngữ Tuy nhiên, danh từ tiếng Việt là một lớp từ gồm các tiểu loại với các đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa không hoàn toàn như nhau Vậy có hai câu hỏi cần trả lời Một là: trong tiếng Việt có bao nhiêu tiểu loại danh từ? Hai là: năng lực làm trung tâm danh ngữ của các tiểu loại danh từ có như nhau không?
Việc nhận diện và phân loại danh từ tiếng Việt đã được tiến hành từ sớm trong các công trình ngữ pháp của A de Rhodes, A.J.L Taberd, Trương Vĩnh Kí, M.B Emeneau… với các tiêu chí như: tiêu chí [± chung]; tiêu chí [± biệt loại]; tiêu chí [± trừu tượng]; tiêu chí [± đếm được] và tiêu chí [± đơn vị] Tuy nhiên, trong số các tiêu chí phân loại đó, tiêu chí [± đơn vị] sẽ cho ra hai loại danh từ ở lần phân loại thứ nhất là: danh từ đếm được và danh từ không đếm được Các danh từ đếm được lại tiếp tục được phân loại theo tiêu chí [± đơn vị] thành: DĐV và DK Cách phân loại theo tiêu chí [± đơn vị] sẽ cho ra kết quả gồm: DĐV và DK Các DK lại được phân loại ở bậc thứ hai, bằng tiêu chí [[± đếm được], với kết quả gồm: DK [+ đếm được] và DK [- đếm được] Hai cách phân loại này không khác nhau ở kết quả cuối cùng, đều cho ra một bảng phân chia các tiểu loại danh từ trong tiếng Việt gồm: DĐV, DK [+ đếm được], DK [- đếm được]
Luận án lựa chọn cách phân loại danh từ theo tiêu chí [± đơn vị] ở bậc phân loại thứ nhất và ở bậc thứ hai, tiếp tục phân loại các danh từ [- đơn vị] thành các DK [± đếm được] Cách phân loại này gần với cách phân loại danh từ biệt loại và danh
từ tổng hợp (vốn đã quen thuộc trong giới cú pháp học)
Như vậy, với các tiêu chí về thành tố trung tâm cũng như kết quả phân loại danh từ trong tiếng Việt, dưới đây chúng tôi sẽ bàn đến những tiểu loại danh từ có thể có năng lực đảm nhiệm vai trò là đơn vị trung tâm của danh ngữ tiếng Việt
Trang 26a Danh từ đơn vị
DĐV được hiểu là “những danh từ không biểu thị chủng loại sự vật, mà chỉ
ra một vật rời, có kích thước nào đó, đồng thời được phân lập về hình thức, có thể phân lượng hoá (chia phần ra) được” [Vũ Đức Nghiệu, 2016: 368] Chính vì những đặc điểm như vậy nên DĐV không những biểu thị ý nghĩa dùng để đo đếm mà còn kết hợp được với phân lượng từ, phân lượng ngữ Về năng lực ngữ pháp, DĐV có quan hệ với các thành tố phụ trước và phụ sau trong danh ngữ Đối với các thành tố phụ trước, DĐV có „quyền‟ yêu cầu sự xuất hiện của các thành tố chỉ lượng hoặc câu hỏi về tính toàn thể: Bao nhiêu?/ Mấy? DĐV cũng luôn „yêu cầu‟ một danh từ khác đi ngay sau để hạn định cho mình Thêm vào đó, DĐV còn có năng lực cho phép sự xuất hiện/ không xuất hiện của các định ngữ miêu tả, định ngữ chỉ xuất, định ngữ trực chỉ…
Mặc dù là một tiểu loại danh từ có năng lực điển hình làm trung tâm danh ngữ nhưng tên gọi và vai trò này của DĐV không phải đã được thống nhất trong quan niệm của các nhà Việt ngữ học DĐV còn có thể được gọi là “loại từ” và có ba quan điểm về năng lực ngữ pháp của “loại từ”:
Quan điểm thứ nhất cho rằng “loại từ” là từ phụ cho danh từ trung tâm Những nhà nghiên cứu đi theo quan điểm này, có thể gọi “loại từ” là loại - tự (Trần Trọng Kim, 1940), tiền danh từ (Phan Khôi, 1955), từ chỉ loại (Lưu Vân Lăng, 1957), phó danh từ (Nguyễn Kim Thản, 2008), loại từ (Nguyễn Tài Cẩn, 1960, 1975; Nguyễn Đình Hòa, 1997), nhưng chúng đều có chung đặc điểm “rỗng nghĩa”
và là hư từ Chính vì thế, theo quan điểm của các tác giả này, danh từ đứng sau chúng mới là trung tâm của danh ngữ
Quan điểm thứ hai cho rằng “loại từ” có bản chất của danh từ Thuộc về nhóm này, có thể kể đến các nhà nghiên cứu như: M.B Emeneau (1951), L.C Thompson (1965), Nguyễn Tài Cẩn (1963), Lưu Vân Lăng (2000), Nguyễn Kim Thản (2008), V.S Panfilov (2008), Phan Ngọc (2011)… Mặc dù xác định rằng “loại từ” mang bản chất của từ loại danh từ nhưng vai trò của nó trong danh ngữ cũng không hoàn toàn giống nhau giữa các nhà nghiên cứu
Trang 27Nhà nghiên cứu người Nga - V.S Panfilov cho rằng “loại từ” thuộc vào một tập hợp lớn hơn và nghiêng về giải pháp cho rằng: “danh từ và từ đo đếm (bao gồm
cả loại từ), với tư cách là những nút của các quan hệ cú pháp, chiếm những vị trí cú pháp độc lập” [V.S Panfilov, 2008: 170]
Bên cạnh đó, khi nói về vị trí của “loại từ” trong mối quan hệ với danh từ, Lưu Vân Lăng cũng cho rằng: đây là “một loại hạn từ, phụ vào cho hạt nhân danh từ” [Lưu Vân Lăng, 2000: 11] Trong quá trình nghiên cứu về “loại từ”, ở giai đoạn đầu, khoảng 1957- 60, (…) Lưu Vân Lăng xếp “loại từ” thành một nhóm nhỏ “từ chỉ loại” cùng với nhóm từ chỉ đơn vị, làm thành nhóm “từ chỉ loại và đơn vị” nằm trong phạm trù lớn danh từ” nhưng sau đó lại “tách loại từ ra khỏi danh từ đơn vị,
để loại từ thành một nhóm nhỏ trong “hạn từ”, là những phụ từ xoay quanh hạt nhân danh từ, thể từ, theo lí thuyết tầng bậc hạt nhân” [Lưu Vân Lăng, 2000: 10] Lưu Vân Lăng cũng khẳng định: “loại từ, vốn là danh từ chỉ đơn vị, nhưng trong trường hợp đặt trước một danh từ khác, nghĩa từ vựng của nó không được giữ nguyên, ít nhiều bị giảm sút” [Lưu Vân Lăng, 2000: 11]
Cùng quan điểm cho rằng “loại từ” mang bản chất của từ loại danh từ nhưng Emeneau lại cho rằng đây là đơn vị đồng vị trí, cùng với danh từ, làm thành tổ hợp trung tâm của cấu trúc danh ngữ (xem lược đồ cấu trúc lượng từ của ông vào năm 1951) Sau đó, Nguyễn Tài Cẩn cũng đã áp dụng một thời gian khi biên soạn bộ ngữ pháp phổ thông dạy thử ở Hà Nội vào năm 1962- 1963 [Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 293] Gần đây, Diệp Quang Ban cũng đồng tình với quan niệm này [Diệp Quang Ban, 2009: 268]
Quan điểm thứ ba cho rằng: “loại từ” nằm ở vị trí trung tâm của danh ngữ
Trong phần cuối cuốn Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại (hoàn thành năm
1960 và xuất bản năm 1975) Nguyễn Tài Cẩn đã bày tỏ ý kiến cho rằng: danh từ đơn vị mới chính là trung tâm ngữ pháp của danh ngữ [Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 292
- 293] Trong một tài liệu công bố bằng tiếng Nga, Nguyễn Tài Cẩn đã một lần nữa khẳng định chắc chắn về năng lực làm trung tâm danh ngữ của danh từ đơn vị [dẫn theo Vũ Đức Nghiệu, 2016: 370] Tư tưởng này của Nguyễn Tài Cẩn cũng đã được
Trang 28Thompson (1965) đề cập từ trước đó trong cuốn A Vietnamese grammar và sau này
được Phan Ngọc, Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha… ủng hộ
Với năng lực đo đếm, chỉ loại của mình, “loại từ” mang bản chất của từ loại danh từ, là những danh từ thường “rỗng nghĩa” về mặt từ vựng Nói một cách khác,
“loại từ” chỉ là một loại danh từ trong tiếng Việt Các tên gọi: loại từ, loại tự, classifier, danh từ đơn thể hay danh từ đơn vị cũng không làm thay đổi tính chất danh từ điển hình của đơn vị này Vai trò làm trung tâm danh ngữ của “loại từ” còn
có thể được xem xét từ khía cạnh của ngôn ngữ học đại cương, thông qua cấu trúc sâu của danh ngữ (underlying structure of NP) và phổ niệm tất suy (implicational universal) Danh ngữ tiếng Việt thuộc vào mô hình phổ niệm tất suy 4b [William Croft, 2003: 123] Cấu trúc sâu của danh ngữ luôn bao gồm ba phụ ngữ: phụ ngữ về chất (Quality), phụ ngữ về lượng (Quantity) và phụ ngữ về vị trí (Locative) [J Rijkhoff, 2002: 213- 238] nên đơn vị danh từ nào thỏa mãn được yêu cầu về cấu trúc sâu của danh ngữ sẽ là trung tâm của danh ngữ Thêm vào đó, các DĐV trong tiếng Việt hoàn toàn thỏa mãn 5 tiêu chí về đặc điểm trung tâm ngữ đoạn mà M Tallerman đã đưa ra
Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng: các từ vẫn thường được gọi là “loại từ” trong tiếng Việt, về logic, chính là các trung tâm của danh ngữ Để thuận tiện cho quá trình khảo sát và miêu tả nguồn ngữ liệu, luận án đi theo hướng chấp nhận tên gọi DĐV cho các đơn vị vẫn thường được coi là “loại từ”
b Danh từ khối
Danh từ khối là “những danh từ mà sở biểu là một tập hợp những thuộc tính
khiến sự vật được biểu thị phân biệt với các sự vật được biểu thị b ng những danh
từ khối khác Đó là những danh từ chỉ chủng loại hoặc chất liệu của sự vật, chứ không trực tiếp chỉ sự vật với tính cách là những thực thể có hình thức tồn tại phân lập [Cao Xuân Hạo, 1998: 334] Chính vì những đặc điểm như vậy nên tuyệt đại
bộ phận DK không phân lượng hóa được nhưng vẫn có khả năng kết hợp với các từ chỉ lượng không mang hàm nghĩa số Dựa vào tiêu chí [± đếm được], DK còn được phân chia thành hai tiểu nhóm: DK [+ đếm được] và DK [- đếm được]
Trang 29“DK [+ đếm được] là loại DK có khả năng cá thể hóa hoặc lượng hóa bằng
từ chỉ lượng hàm nghĩa số và có khả năng chi phối mọi loại định ngữ” [Nguyễn Thị
Ly Kha, 2001b: 75] nên tiểu loại danh từ này hoàn toàn thỏa mãn các tiêu chí làm trung tâm danh ngữ Bên cạnh đó, với năng lực chỉ chủng loại hoặc chất liệu của sự vật, DK [+ đếm được] còn đảm nhiệm chức năng định ngữ hạn định cho các DĐV Tính chất lưỡng khả này của DK [+ đếm được] khiến cho nó trở thành tiểu loại danh từ trung gian giữa DĐV và DK [- đếm được] Nói một cách khác, tính [+ đếm được] đưa tiểu loại danh từ này gần với tính chất của DĐV; còn tính chất khối (hay tính chất [- đơn vị]) làm cho nó gần với DK [- đếm được]
Các DK [- đếm được] tuy không thể phân lượng hóa hay cá thể hóa được như
DK [+ đếm được] và DĐV nhưng do đặc trưng nghĩa học là từ chỉ chủng loại nên vẫn có thể kết hợp với các từ chỉ lượng không mang nghĩa số Đặc điểm này khiến cho DK [- đếm được] ít cơ hội làm trung tâm danh ngữ hơn so với hai tiểu loại danh
từ còn lại Hơn nữa, do đặc điểm chỉ chủng loại và/ quan hệ hay khái niệm trừu tượng, có tính chất [± chất liệu] nên DK [- đếm được] còn không làm trung tâm trong các danh ngữ có định ngữ miêu tả, định ngữ hàm ý phức số, định ngữ chỉ xuất
Như vậy, các DĐV, các DK [+ đếm được] và các DK [- đếm được] khi hội
đủ các điều kiện cần thiết đều có thể đóng vai trò làm trung tâm danh ngữ tiếng Việt Đây là cơ sở để xác lập danh sách các danh từ làm trung tâm danh ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII của luận án Vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể trong chương 2 của luận án
1.2.2 Phần phụ trước trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt
Trong các nghiên cứu về danh ngữ tiếng Việt từ giữa thế kỉ XX, phần phụ trước danh ngữ tiếng Việt hiện đại bao gồm các vị trí của lượng ngữ chỉ toàn thể (vị
trí 3), lượng ngữ chỉ số lượng (2) và từ chỉ xuất cái (vị trí 1) Tuy nhiên, trong thực
tế sử dụng “chúng không nhất thiết phải hiện diện đầy đủ, thậm chí có thể vắng mặt tất cả” [Diệp Quang Ban, 2009: 272] Trong phần này, chúng tôi điểm lại những vấn đề chung về các thành tố thuộc phần phụ này để góp phần nhận diện các thành phần phụ trước trung tâm danh ngữ thế kỉ XVII
Trang 30a Từ chỉ xuất cái
Phần phụ trước trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt hiện nay có sự xuất hiện
của một từ duy nhất ở vị trí 1 Đó là từ cái, đứng liền trước danh từ trung tâm về phía trái Đây là một vị trí đặc biệt, riêng có của tiếng Việt trong so sánh với cấu
trúc danh ngữ tiếng Hán - (Nguyễn Hoàng Anh 2004), tiếng Anh (Đặng Ngọc Hướng, 2010) và tiếng Lào (Nguyễn Trọng Khánh, 1999) Cần phải nói rõ rằng từ
cái ở vị trí 1 không có chức năng ngữ pháp và sự thể hiện trên cấu trúc bề nổi cũng
như ngữ nghĩa của nó hoàn toàn khác với cái - danh từ đơn vị
Vị trí 1, vị trí chỉ xuất của cái trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt hiện đại
được các nhà nghiên cứu gọi là: “definite article” (Trương Vĩnh Tống, 1932, - dẫn theo Nguyễn Đình Hòa, 1997: 179), “superarticle” (Bulteau, 1953, - dẫn theo Nguyễn Đình Hòa, 1997: 179), mạo tự (Trần Trọng Kim, 1940), mạo tự hay quán tự
(Phan Khôi, 1955), cái - “chỉ xuất” (Nguyễn Tài Cẩn, 1975; Đinh Văn Đức, 2001), extra cái (Nguyễn Đình Hòa, 1997), quán từ (Cao Xuân Hạo, 1999), cái “chỉ biệt”
(Nguyễn Phú Phong, 2002),…
Tuy nhiên, cho đến nay, việc dành cho từ cái một vị trí cú pháp chuyên biệt
trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt cũng còn không ít tác giả băn khoăn Trần Đại
Nghĩa (1996) xếp cái chỉ xuất vào cùng loại nhưng khác bậc với cái loại từ Đinh Văn Đức và Đinh Kiều Châu (1998) cho rằng: “ý nghĩa của cái trong trường hợp này (cái- chỉ xuất) thiên về quan hệ tình thái liên quan đến nhận xét của người nói
hơn là một quan hệ ngữ pháp hình thức” [Đinh Văn Đức- Đinh Kiều Châu, 1998:
46] Các tác giả ủng hộ việc coi cái là một đơn vị ngữ pháp thường nhấn mạnh chức
năng chỉ trỏ, làm cho sự vật nêu ở danh từ được nổi bật, đứng tách ra một phía với tất cả những đặc trưng khu biệt của nó, làm cho nó không thể lẫn với những sự vật khác cùng loại [Nguyễn Tài Cẩn, 1960, 1975] Trần Đại Nghĩa (1996) cho rằng, một vị trí ngữ pháp không thể chỉ do một từ đảm nhiệm mà phải có hơn một từ cùng chiếm giữ vị trí đó Hiện tượng có hơn một đơn vị từ vựng đảm nhiệm một vị trí trong cấu trúc cú pháp xảy ra với tất cả các vị trí ngữ pháp khác trong cấu trúc danh
ngữ tiếng Việt nên tác giả cho rằng: vị trí chỉ xuất trong danh ngữ tiếng Việt cho cái
đảm nhiệm cần được cân nhắc kĩ Với tư cách là một yếu tố dùng để đánh giá, nêu lên nhận định của người nói hay chỉ biệt, chỉ xuất đối tượng, vị trí 1 này của danh
Trang 31ngữ tiếng Việt hiện nay được cho là của duy nhất từ cái và khiến cho Đinh Văn
Đức, Đinh Kiều Châu cũng đề nghị: “nên được xem xét trên bình diện ngữ nghĩa học như một chỉ tố tình thái” vì “nó đã thật sự ra ngoài khuôn khổ cấu trúc danh ngữ” [Đinh Văn Đức - Đinh Kiều Châu, 1998: 46]
b Các lượng ngữ
Lượng ngữ là những đơn vị bổ sung ý nghĩa về lượng cho danh từ ở vị trí trung tâm Trong danh ngữ tiếng Việt, lượng ngữ thường nằm phía trước danh từ trung tâm (vị trí đầu tiên, tính từ bên trái sang) Lượng ngữ do lượng từ hoặc ngữ đoạn gồm: số từ + danh từ chỉ số đảm nhiệm Với tiêu chí [± toàn thể], lượng ngữ được phân chia thành lượng ngữ chỉ lượng và lượng ngữ chỉ toàn thể
Về mặt phân bố, các thành tố chỉ lượng đứng ở vị trí 2, liền trước về bên trái
của cái- chỉ xuất so với danh từ trung tâm và do các từ chỉ lượng đảm nhiệm Về
mặt thuật ngữ, vị trí này của danh ngữ có thể được gọi với các tên như: lượng số chỉ định tự (Trần Trọng Kim, 1940), numerator (từ chỉ số lượng) (M.B Emeneau, 1951: 85), plural markers (các chỉ tố số nhiều)/ numerative phrase (số ngữ)/ approximative phrase (ngữ ước lượng) (L.C Thompson, 1965), từ chỉ số lượng (Nguyễn Tài Cẩn, 1975), plurality (Nguyễn Đình Hòa, 1997), từ chỉ số lượng (Lê Biên, 1999), các yếu tố chỉ lượng (Đinh Văn Đức, 2001), từ chỉ số lượng (Diệp Quang Ban, 2009) … Cho dù có những tên gọi và sự phân định chưa hẳn đã được nhất quán trong giới Việt ngữ học nhưng vai trò và chức năng của lượng ngữ chỉ lượng đã luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm miêu tả khi nói về danh ngữ
Trong sơ đồ cấu trúc lượng từ (schema of the numerated constructions) của mình, M.B Emeneau đưa thành tố chỉ lượng lên đầu cấu trúc và trong phần miêu tả
về thực thể từ, ông đã giải thích khá rõ về ngữ thực thể từ số hóa (numerated substantive phrase) Theo ông: “một ngữ thực thể từ số hóa bao gồm số từ đứng trước danh từ với loại từ của nó, nếu đó là một danh từ biệt loại, hoặc một số từ chỉ định theo sau danh từ với loại từ của nó, nếu nó là một danh từ biệt loại hoặc có cả
số từ và một số từ chỉ định (…) Một ngữ thực thể từ số hóa có thể thiếu danh từ biệt loại nhưng lưu giữ loại từ, nếu trong ngữ cảnh trước đó, trong lời nói hoặc những thứ khác, đã xác định được trung tâm” [M B Emeneau, 1951: 84]
Trang 32Còn L.C Thompson cho rằng có ba đơn vị thể hiện ý nghĩa chỉ lượng: plural markers (các chỉ tố số nhiều), numerative phrase (số ngữ), ngữ ước chừng (approximative phrase) Số ngữ và ngữ ước chừng đều là những tiểu loại của ngữ thực thể từ (substantival phrase) và các chỉ tố số nhiều có liên quan chặt chẽ đến ngữ thực thể từ [L.C Thompson, 1965]
Về cơ bản, số từ chỉ lượng trong danh ngữ tiếng Việt là một vị trí bao gồm các lớp từ như: các từ chỉ số đếm, các từ chỉ chỉ số ước lượng, các từ với ý nghĩa phân phối, các từ có ý nghĩa phân số và các hư từ chỉ số Đây cũng là nhóm các từ
“vừa có tác dụng phân biệt danh từ với từ loại khác vừa là tiêu chí để phân chia từ loại danh từ” [Lê Biên, 1999: 26]
Về mặt phân bố, lượng ngữ chỉ toàn thể có vị trí 3 và là vị trí tận cùng về
phía trái trong cấu trúc danh ngữ tiếng Việt Vị trí này là một nhóm các từ như: tất
cả, tất thảy, cả, toàn bộ, toàn thể trong tiếng Việt hiện nay và cả các từ như: cả và, thay thảy “trước thế kỉ XIX và ngày nay các từ này đã rụng hoàn toàn” [Đinh Văn
Đức, 2001: 88] Nhóm từ này “không chỉ ý nghĩa số lượng mà chỉ ý nghĩa toàn bộ,
toàn khối” [Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 43] và “là trục đối vị của danh từ chỉ khối
lượng” [Đinh Văn Đức, 2001: 88]
Một số nhà nghiên cứu như M.B Emeneau (1951), L.C Thompson (1965), Trần Trọng Kim (1940), và Cao Xuân Hạo (1999), thường gộp nhóm các thành tố lượng ngữ chỉ toàn thể vào nhóm các lượng ngữ để gọi là nhóm từ chỉ số lượng hoặc chỉ nghiên cứu chúng trên bình diện về nét nghĩa chỉ toàn thể của đối tượng hay tập hợp chứ không thực sự tách chúng ra thành một nhóm riêng, có vị trí tận cùng về phía trước trong cấu trúc danh ngữ Các nhà nghiên cứu khác như: Nguyễn Tài Cẩn (1975), Nguyễn Đình Hòa (1997), Đinh Văn Đức (2001), Diệp Quang Ban (2009), Phan Ngọc (2011), Lê Biên (1999)… thường quy chúng về vị trí tận cùng
về phía trước của danh ngữ và nghiên cứu chúng trong mối tương quan với cả cấu trúc danh ngữ tiếng Việt
Trong nhóm các lượng ngữ chỉ toàn thể, tất cả được coi là “từ bao quát nhất
về nghĩa (và) toàn thể hay toàn bộ có thể đứng trước hay đứng sau tất cả trong đoản ngữ danh từ (do hai từ này) cũng bao quát như nó (tất cả)” [Phan Ngọc, 2011: 304]
Trang 33“Tất thảy, tất cả, cả chỉ có thể đứng trước mọi, những, các hay trước số từ” Một
đặc điểm dễ nhận biết của lượng ngữ chỉ toàn thể là sự dễ dàng kết hợp với các danh từ tổng hợp [xem Lê Biên, 1999: 43, Diệp Quang Ban, 2009: 276] và “có thể kết hợp với danh từ đơn vị chứ không bao giờ kết hợp với danh từ khối” [Cao Xuân Hạo, 1999: 393] Sự khác biệt tinh tế và sự kết hợp mang tính ngữ nghĩa giữa các từ trong cùng một nhóm từ chỉ lượng toàn thể hay từ chỉ số lượng được phân tích khá
tỉ mỉ trong các công trình của: Nguyễn Tài Cẩn (1975), Nguyễn Anh Quế (1988), V.S Panfilov (2008)… về tiếng Việt đương đại Chỉ dẫn về tiếng Việt trung đại có thể tìm thấy trong công trình của Vũ Đức Nghiệu (2011)
Những vấn đề về cấu trúc bề nổi và ngữ nghĩa của hai nhóm từ này trong các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII sẽ được chúng tôi miêu tả và phân tích trong chương 2 của luận án
1.2.3 Phần phụ sau trong danh ngữ tiếng Việt
Tiếng Việt nằm trong nhóm các ngôn ngữ có ít dấu hiệu về hình thái học nên
“hầu như không có bất kì sự đánh dấu nào về mối quan hệ ngữ pháp giữa trung tâm
và các thành tố phụ thuộc” [Maggie Tallerman, 2005: 118] Khi bàn đến phần phụ sau trung tâm, tùy vào quan niệm về danh từ trung tâm mà các nhà ngữ pháp học có những kết quả phân loại khác nhau đối với các định ngữ bổ nghĩa cho danh từ trung tâm Luận án chấp nhận quan niệm: vai trò trung tâm danh ngữ (trong mô hình đầy
đủ về danh ngữ tiếng Việt) là DĐV Vì thế, các thành tố phụ sau phần phụ sau trung tâm danh ngữ sẽ là định ngữ hạn định và tiếp đến là các định ngữ khác Số lượng của các định ngữ hạn định sau danh từ trung tâm có thể có các vị trí từ 1‟ đến 6‟ (tùy theo sự mô tả của mỗi nhà nghiên cứu)
a Định ngữ hạn định
Định ngữ hạn định phân bố ở vị trí 1‟ (xem Hoàng Dũng- Nguyễn Thị Ly Kha, 2004) và được chia thành hai hai tiểu loại: định ngữ chỉ loại và định ngữ chỉ hạng Về mặt chức năng, “định ngữ chỉ hạng đứng sau, thu hẹp ngoại diên của khái niệm do danh từ trung tâm và định ngữ chỉ loại đứng trước biểu thị” Hai nhà nghiên cứu này cho rằng, về bản chất, không cần có sự phân định nhỏ hơn trong nội
bộ định ngữ hạn định bởi “sự phân tách về loại hạng (…) chỉ là vấn đề phân loại thế giới của người Việt, tức là chuyện chủng loại dân gian (…), chứ không phải là vấn
Trang 34đề ngữ pháp” [Hoàng Dũng- Nguyễn Thị Ly Kha, 2004] Trong khi đó, theo Cao Xuân Hạo, định ngữ hạn định “là loại định ngữ nhằm chỉ rõ cái sở chỉ của danh từ” [Cao Xuân Hạo, 2005: 90], “thu hẹp ngoại diên của cái đối tượng do danh từ trung tâm biểu thị” [Cao Xuân Hạo, 1999: 276] Quan niệm về định ngữ hạn định của Cao
Xuân Hạo cũng có sự điều chỉnh theo thời gian Trong cuốn Tiếng Việt mấy vấn đề
ngữ âm, ngữ pháp, ngữ ngh a, “định ngữ hạn định có thể có ý nghĩa chỉ xuất hay ý
nghĩa biệt loại (…), có thể là một đại từ chỉ xuất hay nghi vấn, một số từ thứ tự, một danh từ, một tính từ, một kết cấu giới từ, một động từ, một động ngữ, một mệnh đề (một kết cấu chủ vị)” [Cao Xuân Hạo, 1999: 276] Cũng theo tài liệu này, Cao Xuân Hạo cho rằng có ba loại định ngữ: định ngữ hạn định, định ngữ miêu tả, định ngữ
đại từ chỉ xuất Đến năm 2005, trong cuốn Ngữ pháp chức năng tiếng Việt quyển 2 -
Ngữ đoạn và từ loại, Cao Xuân Hạo cho rằng có các loại định ngữ như: định ngữ
chỉ lượng, định ngữ chỉ loại, định ngữ hạn định, định ngữ miêu tả Định ngữ hạn
định bao gồm các “ngữ danh từ, ngữ vị từ, tiểu cú và các đại từ chỉ định (này, ấy,
kia, nọ, đó), số từ, các từ diễn đạt bao hàm nghĩa “duy nhất” (đầu tiên, cuối cùng,
thứ bảy, đẹp nhất, v.v.) đảm nhiệm” [Cao Xuân Hạo, 2005: 90] Như vậy, định ngữ hạn định ở giai đoạn sau đã bao hàm cả định ngữ đại từ chỉ xuất của giai đoạn trước
Về bản chất, định ngữ luôn có chức năng hạn định cho danh từ Việc sử dụng thuật ngữ định ngữ hạn định, như vậy, có sự khác biệt giữa các tác giả và ngay cả với cùng một nhà nghiên cứu, cũng có sự điều chỉnh nội hàm khái niệm theo thời gian
Ở đây, luận án chấp nhận thuật ngữ: định ngữ hạn định cho vị trí 1‟, ngay sát sau danh từ trung tâm, theo mô hình do Hoàng Dũng - Nguyễn Thị Ly Kha (2004) đưa
ra Do đây là vị trí của các thành phần phụ chỉ tính chất, đặc điểm của danh từ trung tâm nên “quan hệ giữa các thành tố phụ kiểu này với trung tâm là khá chặt chẽ” [Nguyễn Văn Chính, 2010: 169]
b Định ngữ miêu tả
Nếu như định ngữ hạn định trực tiếp giới hạn ngoại diên cho danh từ trung tâm, có tác dụng chỉ loại thì định ngữ miêu tả (vị trí 2‟) có tác dụng bổ sung thông tin về đối tượng biểu thị ở danh từ trung tâm [Cao Xuân Hạo, 1998: 276] Định ngữ miêu tả, với vai trò miêu tả hay trang trí, bổ sung thông tin về phẩm chất của danh
từ trung tâm, có thể được chia nhỏ ra thành các định ngữ hàm ý phức số, định ngữ
Trang 35trang trí và định ngữ chỉ xuất Vị trí trong nội bộ định ngữ miêu tả được Hoàng Dũng - Nguyễn Thị Ly Kha đề xuất: vị trí 2‟a: định ngữ hàm ý phức số, vị trí 2‟b: định ngữ trang trí, vị trí 2‟c: định ngữ chỉ xuất [Hoàng Dũng- Nguyễn Thị Ly Kha, 2004: 27] Tuy nhiên, trật tự trước sau giữa các tiểu loại định ngữ của định ngữ miêu tả không phải cố định, cũng không phải do đặc điểm quan hệ với trung tâm quy định mà còn có thể “do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn: do nhân tố danh từ được dạng thức hóa hay không được dạng thức hóa, do nhân tố số lượng âm tiết…” [Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 49]
Về vị trí, định ngữ hạn định đứng sát ngay sau danh từ trung tâm (vị trí 1‟),
vị trí tiếp theo là của định ngữ miêu tả (vị trí 2‟) Hai định ngữ này được xem là có
vị trí cố định trong cấu trúc danh ngữ
c Định ngữ chỉ trỏ vị trí
Về mặt vị trí, định ngữ chỉ trỏ vị trí có vị trí 3‟ và có tác dụng kết thúc danh ngữ Các kết quả nghiên cứu danh ngữ Những kết quả nghiên cứu về định ngữ kết thúc danh ngữ gần đây cho thấy đây là vị trí của một nhóm các định ngữ Nhóm định ngữ này được bắt đầu bằng định ngữ gồm một nhóm các từ chỉ trỏ: “thường
hay gặp nhất là những từ này, ấy, nọ, nào, kia, đó (…) ngoài ra còn có các từ nay,
nãy, đấy” [Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 50] Định ngữ này có những tên gọi: từ chỉ trỏ
[Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 50), hư từ/ từ chỉ định sự vật [Nguyễn Văn Chính, 2010: 170), định từ [Đinh Văn Đức, 2001: 95], từ chỉ định [Diệp Quang Ban, 2008: 180],
“demonstrative numerator” (từ chỉ trỏ) [Emeneau, 1951: 85] Cao Xuân Hạo gọi là
“các đại từ chỉ định” [Cao Xuân Hạo, 2005: 90] Về mặt chức năng, “những từ này
có khả năng kết hợp với tất cả mọi danh từ ở trung tâm” [Nguyễn Tài Cẩn, 1975: 50], nghĩa là chúng có thể làm định ngữ cho tất cả mọi tiểu loại danh từ ở vị trí trung tâm
Mô hình danh ngữ của các nhà ngữ pháp khác như: Nguyễn Đình Hòa (1997), Hoàng Dũng- Nguyễn Thị Ly Kha (2004), Diệp Quang Ban (2008) cũng cho thấy thành tố kết thúc danh ngữ không chỉ có định ngữ trực chỉ Mô hình danh ngữ mà Nguyễn Đình Hòa đưa ra có thành tố kết thúc là một định ngữ sở hữu, ví
dụ: Tất cả năm chiếc áo dài lụa xanh mới may của tôi [Nguyễn Đình Hòa, 1997:
175] Trong hai ví dụ về danh ngữ được đưa ra để chứng minh cho mô hình danh
Trang 36ngữ của mình, Hoàng Dũng - Nguyễn Thị Ly Kha cho thấy thành tố kết thúc danh
ngữ có thể là định ngữ chỉ vị trí, ví dụ: Tất cả những cái lũ người buôn người đông
đúc, bạc ác cuối cùng ấy trong xã hội phong kiến và thành tố kết thúc danh ngữ có
thể là một tiểu cú, ví dụ: Tất cả những cái bầy cá rô đồng bé tí xíu cuối cùng ấy của
đầm Sét mà anh vừa thấy [Hoàng Dũng- Nguyễn Thị Ly Kha, 2004]
Như vậy, có thể nói, mô hình phần phụ sau trung tâm danh ngữ khá phức tạp với một hệ thống không khép kín chặt chẽ Nếu như chấp nhận mô hình danh ngữ
do DĐV làm trung tâm danh ngữ, định ngữ hạn định sẽ là thành tố thường xuyên và gắn chặt với danh từ trung tâm Các định ngữ miêu tả (định ngữ hàm ý phức số, định ngữ trang trí, định ngữ chỉ xuất) có thể có sự thay đổi vị trí trong nội bộ, tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân Thành tố kết thúc danh ngữ tiếng Việt không chỉ đơn nhất do các từ chỉ trỏ đảm nhiệm mà nó còn chia sẻ vị trí này với các giới ngữ chỉ vị trí, giới ngữ chỉ sở hữu hoặc các tiểu cú Đây đồng thời cũng là những đặc điểm nhận diện danh ngữ tiếng Việt hiện đại trong tương quan với câu
Các cơ sở lí thuyết trên đây là những chỉ dẫn quan trọng để từ đó luận án có thể soi chiếu vào phần phụ sau trung tâm của danh ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII Các vấn đề hữu quan sẽ được chúng tôi bàn đến trong chương 2 của luận án
1.3 Cơ sở lí luận về động ngữ
Khi bàn đến động ngữ trong tiếng Việt, các nhà ngữ pháp học đều nhất trí
với định nghĩa: “Động ngữ là cấu trúc ngữ pháp của một tổ hợp tự do theo quan hệ
chính phụ do động từ làm trung tâm, chung quanh nó quây quần các thành tố phụ thuộc nhiều kiểu loại [Đinh Văn Đức, 2010: 131] Về cơ bản, các nhà nghiên cứu
đều nhất trí xác định cấu trúc của động ngữ gồm ba phần, với các thành tố: thành tố trung tâm, thành tố phụ trước và thành tố phụ sau Các thành tố trong cấu trúc động ngữ hoàn toàn bình đẳng về thứ tự miêu tả nên luận án miêu tả trung tâm trước, kế
đến là thành tố phụ trước và cuối cùng là thành tố phụ sau
1.3.1 Trung tâm động ngữ tiếng Việt
Trong ngôn ngữ học đại cương, phạm trù động từ được nhận xét là “có các
sự khác biệt xuyên ngôn ngữ trong các phạm trù ngữ pháp hơn bất cứ lớp từ loại nào khác” [Tallerman, 2005: 55] Trong tiếng Việt, trung tâm động ngữ luôn là động từ và về mặt lí thuyết, tất cả các loại động từ đều có thể đảm nhiệm vị trí trung
Trang 37tâm trong cấu trúc động ngữ Các động từ có thể được phân loại theo nội dung nghĩa biểu hiện, theo tính chất của cấu trúc hoặc theo phương thức cấu tạo Để thuận tiện cho quá trình miêu tả các động từ làm trung tâm động ngữ tiếng Việt thế
kỉ XVII (sẽ được trình bày trong chương 3), luận án lựa chọn hai bộ tiêu chí: một là tiêu chí số lượng thành tố cấu tạo; hai là dựa vào tính chất chi phối của động từ
a Phân loại động từ trung tâm động ngữ dựa vào tiêu chí số lượng thành tố cấu tạo
Trong tiếng Việt, các âm tiết có nghĩa, có tính độc lập, có khả năng tái hiện
tự do trong lời nói được gọi là từ đơn Việc ghép các âm tiết lại với nhau để tạo thành các từ đa tiết cũng là một trong những cách cấu tạo từ chủ yếu của từ vựng tiếng Việt Các động từ tiếng Việt cũng có thể được phân chia dựa vào số lượng các
âm tiết thành các động từ đơn tiết và động từ đa tiết Các động từ đa tiết lại có thể phân loại thành các động từ chỉ hai hoạt động song tồn, động từ phức và các ngữ khứ hồi
Ở vị trí trung tâm của động ngữ, đại diện cho toàn bộ động ngữ về năng lực
cú pháp nên tính chất [± ngoại động] của động từ (động từ đơn tiết và động từ đa tiết) là một tiêu chí cần được quan tâm Theo đó, với những động từ [- ngoại động], động từ trung tâm không yêu cầu sự xuất hiện của danh ngữ theo sau làm bổ ngữ Với động từ [+ ngoại động], năng lực điều biến của động từ trung tâm lại sẽ „kéo‟ vào cấu trúc động ngữ thành phần danh ngữ làm chức năng bổ ngữ cho trung tâm
Bên cạnh đó, các tiêu chí [± hoàn thành] cũng là đặc trưng thuộc về phạm trù động từ nhưng “những ngôn ngữ có ít đặc điểm hình thái học (ví dụ, tiếng Trung, tiếng Việt, Khmer, Melayu) có xu hướng sử dụng các lớp từ ngữ pháp để biểu thị các thông tin ngữ pháp” [Tallerman, 2005: 61] Vì vậy, trung tâm động ngữ tiếng Việt sẽ không có sự đánh dấu về các đặc điểm ngữ pháp, có sự phân bố trong ngữ đoạn theo trật tự cú pháp của tiếng Việt và có “quyền” lựa chọn các ngữ phụ thuộc của những lớp từ loại cụ thể Các động từ đa tiết có thể được phân thành:
Trong tiếng Việt có một nhóm các động từ được cấu tạo theo phương thức
đẳng lập hoặc cố định nhưng ý nghĩa của cả tổ hợp là ý nghĩa tổng hợp ví dụ: ngủ
ngồi, đứng khóc, n m ngủ, ngồi nghe Về mặt thuật ngữ, Đinh Văn Đức gọi chúng
là động từ tổng hợp (Đinh Văn Đức, 2001), Diệp Quang Ban thì gọi là ngữ động từ
Trang 38nửa cố định (Diệp Quang Ban, 2009), Nguyễn Kim Thản thì xếp chúng vào nhóm các động từ phức, là nhóm những động từ gồm “hai ngữ vị thật trở lên” (Nguyễn Kim Thản, 1977) Cho dù cách gọi tên của nhóm động từ này không giống nhau ở các tác giả nhưng năng lực làm trung tâm động ngữ của chúng là điều hiển nhiên bởi vì ngữ nghĩa của chúng đã có thành ngữ tính Tuy nhiên, quan hệ nội bộ của nhóm động từ này là đẳng lập hay chính phụ còn phải phụ thuộc vào ngữ cảnh, tùy vào hoàn cảnh giao tiếp mới xác định được sự tinh tế trong quan hệ giữa các động
từ trong một trung tâm của động ngữ Vai trò làm trung tâm động ngữ của nhóm động từ này được hầu hết các nhà nghiên cứu đồng tình và để giản tiện cho quá trình nghiên cứu cú pháp, sự phân biệt tinh tế của nội bộ các cặp động từ song chuyển thường được để sang một bên [Diệp Quang Ban, 2009: 282]
Trong tiếng Việt có một nhóm động từ kết hợp được với các yếu tố chỉ
phương hướng như: vào, ra, lên, xuống, theo, qua, sang tạo thành những „động từ kép‟ khá đặc biệt Ví dụ: đã trẩy về (vb2), lại trở ra Kẻ Chợ (lsnan), lại trẩy sang
Roma (b.thien)…
Hầu hết các nhà nghiên cứu ngữ pháp trước đây đều coi các yếu tố này là phó từ Một số người khác lại cho rằng đó là những giới từ có chức năng làm một
bộ phận của động từ phức Đại diện cho những người có ý kiến này là Trương Vĩnh
Ký, E.Diguet, Bùi Đức Tịnh Trong một số sách ngữ pháp dùng trong trường học trước đây, những từ này được quy vào hai loại khác nhau, tùy theo sự vắng mặt hay
sự có mặt của bổ ngữ động từ (nếu có bổ ngữ thì đó là giới từ, nếu không có bổ ngữ thì đó là “trạng từ”)
Lê Văn Lý, F Mactini, các tác giả giáo trình “Ngữ pháp Việt Nam” (Giáo trình trường đại học Tổng hợp, năm học 1957- 1958, tr 26- 28), và “Giáo trình về Việt ngữ” đều thống nhất những từ này vào một loại, không kể đến sự có mặt hay vắng mặt của bổ ngữ, và coi đó là những hình vị hoặc hư từ làm công cụ ngữ pháp của động từ chính, biểu thị phương hướng Lê Văn Lý coi đó là những động từ hao mòn “Khi là động từ, chúng đều chỉ sự vận động, cho nên khi chúng là hư từ, chúng tôi gọi đó là từ phương hướng” Tuy nhiên, sau đó ông có thêm nhận định:
Trang 39“chúng thêm vào động từ, thường cũng là động từ vận động, để cùng động từ ấy tạo thành một thứ từ ghép” [Lê Văn Lý, 1972: 215]
Cách giải quyết thứ tư có thể tìm thấy ở M.B Emeneau, ở L Cardier… Họ cho đó là những động từ đầy đủ, kết hợp với động từ chính M.B Emeneau gọi đó
là “second verb in series” L Cardier gọi là “verbe perfectif” [dẫn theo Nguyễn Kim Thản, 1977: 75] “Xét theo đặc điểm ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, những từ này không còn là những từ đầy đủ đặc điểm của động từ nữa (….) Sự thực là những từ này tuy nguồn gốc là động từ nhưng đặt sau những động từ khác, chúng đã mất những đặc điểm cơ bản về hình thức ngữ pháp của động từ đã giảm sút ý nghĩa từ vựng ban đầu, thậm chí có khi mất hẳn ý nghĩa ấy” [Nguyễn Kim Thản, 1975: 76- 77]
Bàn về các yếu tố chỉ phương hướng nói trên, Lê Văn Lý cho rằng: “những
hư tự chỉ phương hướng là những động tự mà ý nghĩa của chúng đã phai mờ đi Khi
là động tự, chúng là những động tự chỉ vận động, vì thế khi trở nên hư tự, chúng được gọi là hư tự chỉ phương hướng Những hư tự này được thêm vào sau một động
tự để thành lập một thứ động tự kép” [Lê Văn Lý, 1972: 107] Phan Ngọc thì gọi chúng là những yếu tố chỉ phương hướng của sự chuyển động Panfilov gọi các
„động từ kép‟ này là động từ chỉ hướng chuyển động và có những nhận xét rất trừu tượng về nội bộ nhóm, đặc biệt là khi có sự kết hợp với các „yếu tố hiệu chỉnh‟
(thuật ngữ của Panfilov) [Panfilov, 2008: 230] là: ra, lên, đi, lại Tập thể các tác giả
cuốn sách Ngữ pháp tiếng Việt của Ủy ban Khoa học Xã hội thì gọi đó là các phụ tố chỉ hướng, Đinh Văn Đức gọi là các từ phụ với ý nghĩa chung chỉ hướng Diệp Quang Ban thì gọi cả khối gồm động từ và yếu tố chỉ hướng là các ngữ khứ hồi Nguyễn Tài Cẩn gọi nhóm này là động từ chỉ động tác có phương hướng và cho rằng cần phải thấy được sự khác nhau giữa nhóm động từ này với nhóm động từ chỉ động tác không có phương hướng “thì mới hiểu rõ được lúc nào có thể thêm lúc nào
không thể thêm các thành tố phụ ra, vào, lên, xuống, qua, lại v.v ở phần cuối”
[Nguyễn Tài Cẩn, 1996: 254] Nguyễn Kim Thản coi các yếu tố đó là các công cụ
ngữ pháp về phương hướng của hoạt động và gọi chúng là phó động từ phương
hướng [Nguyễn Kim Thản, 1977: 88]
Trang 40Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều đặc biệt chú ý đến các thành tố phụ chỉ
phương hướng là: ra, vào, lên, xuống tuy danh sách các thành tố phụ thuộc nhóm này có thể kể đến các từ khác như: theo, qua, sang, lại, về, đi, vào Bên cạnh đó,
khác với các động từ song chuyển, vốn đã có tính thành ngữ khá ổn định, các ngữ khứ hồi có thể có sự chêm xen của danh ngữ vào giữa động từ chính và thành tố phụ chỉ phương hướng Vì thế, khi xét đến các động ngữ có sự tham gia của ngữ khứ hồi thì động từ chính được xét đến ở phần trung tâm của động ngữ, các phần sau như: thành tố phụ chỉ phương hướng và danh ngữ được đưa vào phần phụ sau để xem xét Đương nhiên, các thành tố phụ sau của ngữ khứ hồi, như thế, sẽ có đặc trưng riêng so với phần phụ sau của các tiểu loại động từ khác
Ngoài việc phân loại động từ ở vị trí trung tâm động ngữ theo số lượng các thành tố, động từ tiếng Việt ở vị trí trung tâm còn có thể được phân loại dựa vào tính chất chi phối của động từ như sẽ trình bày tiếp theo đây
b Phân loại động từ trung tâm dựa vào tính chất chi phối của động từ
Động từ là từ loại thực từ thường phải có quan hệ khăng khít với các từ loại khác và là trung tâm trong các mối quan hệ đó Khi phân chia các loại nhỏ trong nội
bộ động từ, Nguyễn Kim Thản đã “phân loại theo tính chất chi phối của động từ” Ông cho rằng “đây là cách phân loại có ích hơn cả, và phản ánh thực tế được những đặc điểm cú pháp của động từ”; nghĩa là phân loại “theo khả năng kết hợp của động
từ với những từ biểu thị đối tượng, có quan hệ phụ thuộc vào nó” [Nguyễn Kim Thản, 1977: 97] Áp dụng biện pháp phân tích cải biến, Nguyễn Kim Thản đã phân chia động từ tiếng Việt thành hai dạng thức: dạng thức cơ bản và dạng thức cải biến, dẫn đến kết quả có bốn nhóm lớn: Nhóm A: nhóm các động từ ngoại hướng; nhóm B: nhóm các động từ trung tính; nhóm C: nhóm các động từ nội hướng; nhóm D: nhóm các động từ tình thái Trên cơ sở những nhóm lớn, Nguyễn Kim Thản phân chia tiếp thành các loại nhỏ trong nội bộ động từ theo quan hệ chi phối Các tiểu nhóm (theo sự phân chia của Nguyễn Kim Thản) có thể được hình dung qua bảng phân loại dưới đây: