Trên cái nền rộng lớn, phong phú của thơ Xuân Diệu, từ những lý do trên,luận văn này tìm hiểu ngôn ngữ thơ Xuân Diệu, cụ thể là tìm hiểu Đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa các từ ngữ chỉ thời
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuân Diệu (1916 - 1985) là một tác gia lớn của Văn học Việt Namhiện đại Suốt một đời sáng tạo nghệ thuật không biết mệt mỏi, từ thời Thơ mới
đến các giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám, ông đã để lại một di sản khá đồ
sộ thuộc nhiều thể loại: thơ, văn xuôi, tiểu luận, phê bình, dịch thuật Lĩnh vựcnào, ông cũng có những thành tựu xuất sắc Sự nghiệp của một tài năng đa dạng,một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn, chất chứa biết bao giá trị cần đợc khámphá
1.2 Các sáng tác của Xuân Diệu, trong đó có thơ, đã đặt ra hàng loạt vấn
đề cần đợc nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau: các loại đề tài, nội dung t ởng, thi pháp thơ, phong cách ngôn ngữ… Dù đã có những thành tựu nghiên cứu,nhng những vấn đề ấy còn ẩn chứa biết bao giá trị cần đợc tiếp tục tìm hiểu Nét
t-đặc sắc của thơ Xuân Diệu là thơ về tình yêu, là cảm thức sâu sắc về thời gian
Thời gian - yếu tố có vai trò biểu đạt nhiều nội dung ngữ nghĩa trong thơ Xuân
Diệu, trở thành một “nỗi ám ảnh” trong thơ ông
1.3 Là cây bút có một vị trí xứng đáng trong văn học Việt Nam hiện đại,Xuân Diệu là một tác gia quan trọng trong nhà trờng Các sáng tác của ông từlâu đã đợc đa vào giảng dạy ở bậc đại học nh là một trong những tác gia tiêubiểu của văn học hiện đại Ông cũng thuộc số không nhiều tác gia văn học lớn
đợc giảng dạy trong trờng phổ thông ở cả thơ và văn xuôi với số lợng khá lớn(Đây mùa thu tới, Vội vàng, Thơ duyên, Nguyệt cầm, Toả nhị kiều…) Nh vậynghiên cứu Xuân Diệu không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thựctiễn đối với việc giảng dạy văn học trong nhà trờng
Trên cái nền rộng lớn, phong phú của thơ Xuân Diệu, từ những lý do trên,luận văn này tìm hiểu ngôn ngữ thơ Xuân Diệu, cụ thể là tìm hiểu Đặc điểm
ngữ pháp - ngữ nghĩa các từ ngữ chỉ thời gian trong thơ tình Xuân Diệu.
Trang 22 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
a) Khảo sát lớp từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian trong thơ tình XuânDiệu qua các giai đoạn sáng tác nhằm làm rõ các đặc điểm về ngữ pháp, nộidung ngữ nghĩa của lớp từ này
b) Trên cơ sở khảo sát thống kê phân loại các từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thờigian trong thơ tình Xuân Diệu, luận văn nhằm lý giải và phân tích những đặc tr-
ng đã làm nên sức sống, sức hấp dẫn của thơ tình Xuân Diệu, góp phần làm rõ
đặc trng phong cách và thi pháp thơ Xuân Diệu
2.2 Nhiệm vụ
a) Tổng kết những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
b) Thống kê, hệ thống hoá các từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian trong thơtình Xuân Diệu trớc và sau Cách mạng
c) Miêu tả, phân loại các từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian, so sánh số ợng, tần số xuất hiện, đặc điểm ngữ pháp của nhóm từ đó
l-d) Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian
và hiệu quả nghệ thuật của chúng đối với nội dung tác phẩm; so sánh thời giantrong thơ Xuân Diệu với thời gian trong Thơ mới…
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Những bài viết và công trình bàn trực tiếp về thơ tình Xuân Diệu
Xuân Diệu là nhà thơ nổi tiếng từ trớc năm 1945 đợc mệnh danh là nhà thơ
“ mới nhất trong các nhà thơ mới” và sau 1945 ông vẫn tiếp tục giữ vị trí hàng
đầu trong nền thơ ca Cách mạng Từ trớc tới nay, thơ Xuân Diệu trở thành đối ợng nghiên cứu từ nhiều góc độ và đã thu đợc nhiều thành tựu quan trọng Điều
t-đó khẳng định giá trị to lớn của tác phẩm Xuân Diệu trong lịch sử văn học ViệtNam hiện đại Trong các sáng tác của Xuân Diệu, mảng thơ tình chiếm một vịtrí đặc biệt quan trọng, làm cho ông nỗi tiếng tạo nên một phong cách “ thơ tìnhXuân Diệu” Bởi vậy cũng đã có rất nhiều công trình phân tích, đánh giá riêng
về mảng thơ tình này Chẳng hạn:
Trang 3- Nhân đọc một bài thơ tình của Xuân Diệu ( Lu trọng L, Văn nghệ số 4,
- Thơ tình Xuân Diệu (Lu Khánh Thơ, Luận án phó tiến sĩ, 1995)
- Thơ tình Xuân Diệu nồng và trẻ (Vũ Quần Phơng , Tạp chí Văn học số12- 1995)
- Thơ tình Xuân Diệu (Ngô Văn Phú , Xuân Diệu- Về tác gia và tác phẩm,
Nhà xuất bản Giáo dục)
- Xuân Diệu nhà thơ tình (Vũ Ngọc Phan , Tạp chí Văn học số 1/1987)
Lu Trọng L đã chỉ ra rằng: "Qua thơ tình của Xuân Diệu, ta không thấy rõbóng ngời yêu của nhà thơ, mà chỉ thấy nhà thơ, nói đúng hơn, chỉ thấy tình yêucủa nhà thơ, một tình yêu điên cuồng ngấu nghiến Vì thực ra, ngời yêu đối vớinhà thơ, chỉ coi nh tuyệt đối là một đối tợng yêu của mình" [40 ,tr15] Trong bàiviết thơ tình của Xuân Diệu, Huy Cận đã điểm qua quá trình sáng tác thơ tìnhcủa Xuân Diệu từ lúc mới xuất hiện cho đến khi nhà thơ qua đời [12] Những
đặc điểm lớn tạo nên phong cách thơ tình Xuân Diệu cũng đợc phân tích vàchứng minh trong bài viết
Những năm gần đây, nhiều tác giả đã đi sâu vào nhận xét về t duy nghệthuật, t tởng nghệ thuật trong thơ ca nói chung, thơ tình Xuân Diệu nói riêng Đitheo hớng này Nguyễn Đăng Mạnh nghiên cứu thơ tình Xuân Diệu ở hai vấn đề:
T tởng nghệ thuật và đặc điểm độc đáo của thi pháp thơ Xuân Diệu Ông viết:
"Trong lịch sử văn học Việt Nam, Xuân Diệu là ngời đầu tiên trong thơ tình" đã
Trang 4biểu hiện tính nhục dục và những thèm muốn nhục dục thật là lành mạnh và ờng tráng” [43, tr81].
c-Đỗ Lai Thuý lại đi tìm "chất Xuân Diệu'', phong cách thơ Xuân Diệu trongNỗi ám ảnh thời gian: "Thơ Xuân Diệu là một thế giới rộng mở, đa thanh mùa
thu: sự thức nhận thời gian, vội vàng: một triết lý thời gian, Gửi hơng cho gió:
tình yêu nh là nh chiến thắng thời gian, và sau cùng Thơ thơ: nghệ thuật nh là sựvĩnh cửu hoá thời gian" [54, tr76]
Lu khánh Thơ cho rằng : “ở vị trí đỉnh cao, thơ tình Xuân Diệu biểu đạthoàn hảo cái tha thiết, say đắm của tình yêu, trong nhiều trạng thái và cung bậccủa tình yêu ở vị trí đỉnh cao, thơ tình Xuân Diệu biểu đạt cả hai mặt trần tục
và lý tởng, hạnh phúc và đau khổ, gần gũi và xa cách của tình yêu ” [51, tr132]Nhìn chung, việc nghiên cứu thơ tình Xuân Diệu đã đạt đợc nhiều thànhtựu đáng kể: chỉ ra đợc những đặc sắc của t tởng và phong cách của Xuân Diệu,nhận diện đợc về căn bản diện mạo của thế giới nghệ thuật Xuân Diệu, chỉ ranhiều nét riêng trong lĩnh vực thơ tình yêu của Xuân Diệu, mô tả và bớc đầu lýgiải nhiều khía cạnh trong ngôn ngữ thơ Xuân Diệu Tóm lại những thành tựu
ấy vừa đánh dấu một đoạn đờng miệt mài của những ngời đi trớc, vừa tạo đà,làm cơ sở cho ngời đến sau tiến vào miền mới, những miền sâu hơn nữa trong disản nghệ thuật Xuân Diệu
2.2 Những công trình và bài viết về thời gian trong thơ tình Xuân Diệu
Trong khi tìm hiểu thơ Xuân Diệu nói chung, mảng thơ tình nói riêng, cókhá nhiều bài nghiên cứu, phê bình đề cập đến vấn đề thời gian trong thơ XuânDiệu trên nhiều phơng diện và mức độ khác nhau Trớc Cách mạng, vấn đề này
đã đợc chú ý, nhng cha có những phân lập thật rạch ròi minh định khái niệm “thời gian”
Có lẽ Thế Lữ là ngời đầu tiên nhận thấy quan hệ khá riêng tây giữa cái
"tôi" Xuân Diệu với thời gian Trong lời "Tựa" cho Thơ thơ (1938), ông viết:
"Là ngời sinh ra để mà sống, Xuân Diệu rất sợ cái chết, sợ im lặng và sợ bóngtối, hai hình ảnh của h vô Mục đích của ngời đời có phải là hạnh phúc đâu !Mục đích chính là sự sống mà còn gì làm cho cuộc sống đầy đủ hơn Xuân và
Trang 5Tình Nhng Xuân không dài dặc, Tình có bền đâu Xuân với Tình vô định nh sựthực không bền và lại còn mong manh hơn cuộc đời chảy trôi Bởi thế, XuânDiệu vội vàng, bao giờ cũng lo âu, thắc mắc Luôn luôn tận tâm, siêng năng màsống, ông mau mau đem hết cả tâm hồn tặng cho đời, và ông cũng dời hết cảtâm hồn của ngời yêu dấu, trời đất, của mọi sự vật trên trần gian" Nhất là cái ý
"Tất cả nỗi cuống quýt sảng sốt của thi nhân giơ tay với lấy những giây phútqua, bám lấy bầu xuân hồng [41,tr200] Nh vậy ngời đỡ đầu cho Thơ thơ đã xemthời gian thuộc về nguồn cảm hứng bao trùm chi phối cả điệu sống đặc thù củacái "tôi" Xuân Diệu
Cùng một cảm nhận tơng tự, năm 1942, trong "Việt Nam văn học sử yếu"Dơng Quảng Hàm nhận định: "Xuân Diệu là một thanh niên có tâm hồn đầy thơmộng khao khát sự yêu thơng lại cảm thấy thời gian vùn vụt thoáng qua màmuốn vội vàng tận hởng cái cảnh vui đẹp của tuổi xanh hiện tại" [31,tr82].Nghĩa là, tác giả Việt Nam văn học sử yếu cũng xem việc quan tâm đến thờigian thuộc về cảm hứng chủ đạo của hồn thơ Xuân Diệu
Sau Cách mạng, yếu tố thời gian trong thơ Xuân Diệu vẫn đợc tiếp tụcquan tâm Cả ngời khen lẫn ngời chê Xuân Diệu, ít ai làm ngơ trớc điều đó Cóbài viết riêng về thời gian, có bài điểm qua thời gian trong công trình Đó là cácbài viết của Vũ Đức Phúc, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, HàMinh Đức, Vũ Quần Phơng, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Quốc Tuý Trong các ý kiến
ấy thời gian trong thơ Xuân Diệu đợc xem nh yếu tố thuộc về thi hứng, cảmhứng chủ đạo của ngời nghệ sĩ
Ngời đầu tiên xem thời gian nh một đề tài phải kể đến Hoàng TrungThông Trong lời giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu, ông đã xem nó thuộc vào đềtài hàng đầu của thi sĩ này, khi viết "Tuổi trẻ, tình yêu, thời gian là một đề tài cósức hấp dẫn lớn trong thơ Xuân Diệu"
Cũng nhìn nhận thời gian, nhng ở một thời đoạn cụ thể trong thời gian của
đời ngời là tuổi trẻ, Nam Chi lại có ý đa ra những cảm nhận hơi khác với HoàngTrung Thông Trong bài Hành Trình Xuân Diệu (báo Văn nghệ H.1986), ôngcho rằng "Tuổi trẻ, đợc Xuân Diệu thể hiện phong phú và sâu sắc, nhng nó
Trang 6không hẳn là đề tài độc lập Trớc Cách mạng, thơ Xuân Diệu không chỉ khẳng
định, ca ngợi tuổi trẻ mà còn luôn đặt tuổi trẻ trong sự đối sánh với tuổi già, vớicái chết, ngợi ca tuổi trẻ cũng chính là tiếc thơng tuổi trẻ” Đây cũng chính làcảm hứng chính rất riêng của Xuân Diệu khi đề cập tới vấn đề này Dù nhìnnhận "tuổi trẻ", nh một hiện thân đầy đủ nhất cho thời gian của ngời, dù nhìn nó
độc lập hay không độc lập với "tuổi già" thì về thực chất, cả hai ý kiến đều xemthời gian là một đề tài nỗi bật trong thơ Xuân Diệu
Khoảng từ đầu những năm 80 của thế kỷ trớc, nhiều ngời đã tiếp cận yếu
tố thời gian trong thơ Xuân Diệu từ góc độ phong cách học, thi pháp học Năm
1992, trong cuốn Con mắt thơ viết về một số nhà thơ thuộc phong trào Thơmới, Đỗ Lai Thuý có bài viết tìm tòi, phân tích những khía cạnh độc đáo trongphong cách nghệ thuật Xuân Diệu ở bài viết này, tác giả đã thấy rằng cảm xúcbuồn, nỗi lo âu, hối hả trớc thời gian, các cách thức thắng vợt thời gian là nhữngnét đặc sắc của Xuân Diệu; nhấn mạnh một số đặc trng nghệ thuật tiêu biểu củathơ Xuân Diệu, trong đó có vai trò của yếu tố thời gian Cái tựa đề "Xuân Diệu
sự ám ảnh thời gian" của bài viết chính là thể hiện nhận định chung ấy
ở một mức độ nào đó Lý Hoài Thu đã phân tích từ cái "tôi" trữ tình đếnthời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật và phơng thức thể hiện trong thơXuân Diệu trớc Cách mạng [53]
Lê Quang Hng quan tâm đến sự vận động thời gian của Xuân Diệu ''Quanniệm cảm xúc về thời gian trong thơ Xuân Diệu là một hệ thống đa dạng, phongphú trong đó vừa có yếu tố bất biến bền vững vừa có yếu tố khả biến, pháttriển ở thơ mới, thời gian đồng nghĩa cùng sự nảy nở phát triển vô tận của sựsống" [34, tr28]
Chu Văn Sơn trong cuốn Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu, Nguyễn Bính,Hàn Mặc Tử, trong phần viết về Xuân Diệu, tác giả có nhiều khám phá về thờigian của Xuân Diệu, ví nh cách chia mùa độc đáo của Xuân Diệu: "Đáng nói làXuân Diệu chia lại bốn mùa trong năm thành hai thôi: Mùa xuân và mùa còn lại
mà phần còn lại hầu nh không có, vì bốn mùa đều có thể thành Xuân", [47, tr60] Bốn mùa đều có thể là xuân nếu bốn mùa đều dậy men tình ái, đều dâng
Trang 7tràn khát khao luyến ái Và vì thế thời gian với Xuân Diệu về thực chất chỉ cómột mùa: Mùa tình Tác giả viết "Với Xuân Diệu mùa xuân là mùa tình" [47,tr60] Đồng thời tác giả cũng phát hiện rằng Xuân Diệu có một cánh đo đếm thờigian rất riêng là "thời sắc" Với Xuân Diệu, thời gian ba thì (quá khứ, hiện tại, t-
ơng lai) không ráo riết bằng thời gian hai thì: "thời tơi", và "thời phai" [47,tr 60]Cũng xem thời thuộc phạm trù thi pháp, nhng tác giả này đã thấy thời gian còn
là một hiện thân khá độc đáo của cả t tởng phong cách và cá tính Xuân Diệu vớinhững biểu hiện phong phú và cụ thể
Nh vậy điểm qua các công trình nghiên cứu về thơ Xuân Diệu, ta có thểthấy: các mặt về nội dung, nghệ thuật, phong cách, các đề tài về tình yêu, về thờigian trong thơ ông đã đợc giới nghiên cứu quan tâm và có nhiều đánh giá,phân tích quan trọng Chúng là cơ sở để có thể nhìn nhận đầy đủ những cốnghiến của Xuân Diệu trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, góp phần nghiên cứuphong cách Xuân Diệu từ những phơng diện khác nhau
Dới góc độ ngôn ngữ, trong luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát hệthống ngôn từ trong thơ tình Xuân Diệu, nhằm tìm ra những giá trị, những nét
đặc thù về cách sử dụng, về đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa cúa các từ ngữ liênquan đến nghĩa thời gian trong thơ tình của ông
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát thơ tình yêu của Xuân Diệu, khoảng hơn 300 bài, introng “Tuyển tập thơ tình Xuân Diệu” Ngoài ra, luận văn có tham khảo thêmmột số tác phẩm tiêu biểu trong phong trào thơ mới của các tác giả khác để làm
t liệu so sánh trong quá trình phân tích thơ Xuân Diệu
5 Phơng pháp nghiên cứu
5.1 Phơng pháp thống kê
Thời gian trong thơ Xuân Diệu vô cùng sống động và phong phú với muônvàn biểu hiện khác nhau Muốn nhận diện đợc thời gian, khái quát đợc quanniệm riêng của ông về thời gian, không thể không xuất phát từ việc hệ thống hoánhững từ ngữ, hình ảnh chi tiết cụ thể để tiến hành khảo sát Vì thế chúng tôi
Trang 8phải sử dụng thống kê phân loại nh một trong những phơng pháp làm việc cótính tiên quyết.
5.2 Phơng pháp miêu tả
Trên cơ sở thống kê phân loại, luận văn đi vào miêu tả hoạt động ngữ phápcác loại từ ngữ thể hiện thời gian trong thơ tình Xuân Diệu, tần số xuất hiện cácloại từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian Đồng thời luận văn cũng tiến hành miêutả phân tích các nét nghĩa chỉ thời gian trong mỗi loại, mỗi lớp
5.3 Phơng pháp so sánh đối chiếu
Phơng pháp so sánh đối chiếu đợc sử dụng nhằm làm rõ giữa đối tợngkhảo sát (từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian) của Xuân Diệu với ngôn ngữ biểuhiện ý nghĩa thời gian của các tác giả khác, của ca dao…có sự giống và khácnhau nh thế nào, từ đó làm rõ thêm đặc điểm ngôn ngữ thơ Xuân Diệu
tr-ợc đặc sắc trong thơ ông, góp phần nghiên cứu phong cách của ngôn ngữ thơ,của thi pháp học nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn triển khai thành 3 chơng.Chơng 1- Những tiền đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2- Đặc điểm ngữ pháp của từ ngữ chỉ thời gian trong thơ tình Xuân Diệu
Ch-ơng 3 - Đặc điểm về nội dung ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ thời gian trong thơ tình XuânDiệu
Trang 9Chơng 1 Những tiền đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1 Thơ và đặc trng ngôn ngữ thơ
1.1.1 Khái niệm “thơ ca“ trong quan niệm truyền thống
Thơ là một thể loại văn học nẩy sinh từ rất sớm trong đời sống con ngời,thuộc phơng thức biểu hiện trữ tình thơ gắn liền với sự rung động, với cảm xúc t-
ơi mới, trực tiếp của cái tôi trữ tình trớc mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp củacuộc đời Có thể nói, bản chất của thơ ca rất đa dạng, phong phú và nhiều biếnthái.Thơ tác động đến ngời đọc vừa bằng nhận thức cuộc sống, vừa bằng khảnăng gợi cảm sâu sắc, vừa tác động trực tiếp với nhiều cảm xúc, suy nghĩ vừagián tiếp qua liên tởng và tởng tợng phong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ,vừa bằng sự rung động của ngôn ngữ giàu nhạc điệu Chính vì những phẩm chấtkhác nhau đó của thơ mà đã có nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau
và thậm chí đối lập về bản chất của thơ ca
Khuynh hớng thứ nhất, thần thánh hoá thơ ca, cho thơ là một cái gì đóthuộc về tinh thần tối cao, huyền bí, do thợng đế sáng tác tạo ra và nhập vào conngời Platôn xem bản chất thể hiện trong tình cảm - những cảm xúc thiêng liêngnhất giữa thế giới linh thiêng cao xa và thế giới con ngời, nhà thơ là ngời cónăng lực cảm nhận đặc biệt và có thể biểu đạt chúng
Khuynh hớng thứ hai là khuynh hớng hình thức chủ nghĩa, xem bản chấtthơ thuộc về những nhân tố hình thức So với các loại hình văn học nghệ thuậtkhác, thơ tự bộc lộ mình bằng chính ngôn ngữ của đời sống một cách trực tiếp,không có sự hỗ trợ nào của các sự kiện, cốt truyện, tình huống Từ tiếng nóiquen thuộc của đời sống, ngôn ngữ thơ ca đã tạo thêm cho mình những năng lựcmới rất kì diệu và họ đi đến khẳng định: thơ là sáng tạo ngôn ngữ, hoặc tổ tổchức kết cấu hơn là những nhân tố nội dung
Khuynh hớng thứ ba gắn sứ mệnh và bản chất thơ với xã hội, hoạt độngthơ ca là hoạt động t tởng Thơ là tiếng nói tình cảm nhng tình cảm phải gắn trựctiếp với một chủ đề t tởng nào đó Theo "Khái niệm về nghiên cứu cứu văn học”
Trang 10(NXB Cao Đẳng, Matxcơva, 1976), t tởng chủ đề là t duy của nhà văn, nhà thơ
về các tính cách xã hội đã đợc miêu tả trong tác phẩm T duy này thể hiện ở chỗnhà văn, nhà thơ chia cắt và làm mạnh thêm những mặt bản chất của tính cáchxã hội, mặt khác, quan hệ của các tính cách đợc miêu tả xuất phát từ thế giớiquan đã từng thực sự tồn tại Không có cuộc sống, không có thơ
Những quan niệm trên tuy đã có khác nhau nhng đã có chú ý làm rõ bảnchất của thơ ca và vai trò của con ngời sáng tác trong sáng tạo nghệ thuật Tuynhiên về cơ bản, những quan niệm trên vẫn cha nêu lên đợc đặc trng riêng biệtcủa thơ ca
Cách chúng ta hơn 1.500 năm, theo Bạch C Dị, các yếu tố then chốt tạonên thơ phải là: " Cái cảm hoá đợc lòng ngời chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm,chẳng gì đi trớc đợc ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâusắc bằng ý nghĩa với thơ gốc là tình cảm, mầm lá, hoa là âm thanh, quả là ýnghĩa” (Th gửi Nguyên Chẩn) Nh vậy, theo lý thuyết Bạch C Dị thì thơ vừa cónội dung (tình cảm, ý nghĩa) vừa tơng đơng với phơng diện hình thức (ngôn ngữ,
âm thanh) và mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa chúng, giữa gốc rễ, mầm, lá,hoa, quả tựa nh một "cây thơ" hoàn chỉnh và sống động
Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã đợc chứng kiến rất nhiều địnhnghĩa về thơ Theo chúng tôi, định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học có thể xem làchung nhất "Thơ là hình thức trong tác phẩm văn học phản ánh cuộc sống, thểhiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh
Trang 11Là một thể loại văn học, cũng nh ngôn ngữ của tác phẩm trữ tình khác,ngôn ngữ thơ đợc tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng hàm súc và đặcbiệt gợi cảm, cụ thể hơn, nó đợc hiểu là một đặc trng về ngữ âm, từ vựng, ngữpháp nhằm biểu trng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo các tổ chứcriêng của thơ ca.
1.1.2.1 Về ngữ âm
Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trng tínhnhạc Trong thơ, việc tổ chức các phơng tiện ngữ âm rất đợc chú ý Thế giới nộitâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn cả âmthanh, nhịp điệu, các thành tố tham gia tạo nên nhạc thơ gọi là “tham số thanhhọc của ngôn ngữ”
Nếu nh văn xuôi thờng kiêng kỵ lặp đi lặp lại các phơng tiện ngữ âm thì ởthơ sự lặp đi lặp lại trở thành một thủ pháp nghệ thuật ở đây tính tơng đồng củangôn ngữ đợc dùng để xây dựng thông báo Các biện pháp tu từ: đối, điệp, láy,lặp tạo nên nhạc tính là nét khu biệt để khẳng định mình của ngôn ngữ thơ ca
so với văn xuôi
Nhạc tính đem lại sự duyên dáng sang trọng, khoái cảm thẩm mỹ cho thơ:
“Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dỡ, nhà thơ vẫn có thểquyến rũ ngời nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” [Isokrates - dẫn theo NguyễnPhan Cảnh - 7 tr 133]
Vần và nhịp cũng góp phần quan trọng tạo nên tính nhạc cho ngôn ngữthi ca Các văn bản ngôn ngữ, đặc biệt thơ chủ yếu đợc xây dựng bằng hệ lựachọn: Vần sẽ tạo nên nhịp điệu cho thơ, liên kết các dòng thơ và tạo nên hiện t-ợng hoà âm trong thơ
Chính tính nhạc của ngôn ngữ đã đa thơ ca xích lại gần với âm nhạc Vần
điệu, tiết tấu đợc tạo thành bởi các nguyên âm, phụ âm, thanh điệu bằng - trắc,bổng - trầm, vang - tắc sẽ không những làm cho câu thơ vang lên tiếng nhạc kỳdiệu mà còn lan toả giữa các câu thơ, dòng thơ và lên toàn bộ bài thơ Trong thơ
ca Việt Nam hiện đại, nhiều bài thơ đã đợc các nhạc sĩ phổ nhạc và chính nhạc
Trang 12thơ kết hợp với nhạc nhạc đã làm nên những rung động diệu kỳ, lay động hàngtriệu triệu trái tim con ngời.
1.1.2.2 Về ngữ nghĩa
Khác với văn xuôi và ngôn ngữ giao tiếp thông thờng, ở địa hạt thơ, mỗi từ, ngữkhi đa vào sử dụng đều hoạt động rất linh hoạt và đa dạng, chữ và nghĩa trongthơ mang những giá trị khác ngoài giá trị biểu niệm Về điều này, văn xuôi ít khi
đợc chú ý bởi nó không giới hạn về số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ còn trongthơ tuỳ theo từng thể loại với những áp lực cấu trúc khác nhau, nên việc lựa chọn
từ ngữ bao giờ cũng đợc đặt lên hàng đầu Thực tế nghiên cứu cho thấy có nhiều
từ, ngữ khi đa vào thơ ngoài nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó, quabàn tay tài năng của nhà thơ bổng mở ra những ý nghĩa mới tinh tế hơn, đa dạnghơn, hấp dẫn hơn nhiều Đó chính là nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ hay là nghĩa biểutrng của ngôn ngữ thơ ca
Quá trình chuyễn nghĩa này trong thơ diễn ra nh một đặc trng khu biệt nóvới các loại hình nghệ thuật khác, làm cho thơ ca có một sức cuốn hút kỳ lạ đốivới ngời đọc, ngời nghe mọi thời đại Tiếp nhận văn học, đặc biệt là tiếp nhậnthơ không phải là sự tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà quá trình ấy diễn ra nh mộttác động kép Bởi ngời đọc, ngời nghe không chỉ để nghe đọc mà còn tiếp nhậnbằng cảm xúc, bằng trí tởng tợng tức bằng tâm thế của một ngời tiếp nhận sángtạo trên một văn bản thơ cụ thể Điều này chứng tỏ ngôn ngữ thơ không chỉ làphơng tiện để giao tiếp, để giải bày đơn thuần mà con cho phép ngời sáng tạo
và tiếp nhận gặp nhau ở một tầng nghĩa cao hơn, khi đó ngôn ngữ thơ "là ngônngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ Đó là cái vợt ra ngoài giới hạn"(Ôcxtaviiôtpat, Văn nghệ,s ố 21, 22/5/1983)
Thơ ca là "ý tại ngôn ngoại" là dồn nén chữ nghĩa, là cái biểu đạt và cái
đợc biểu đạt đã xâm nhập chuyển hoá vào nhau, cùng nhau đẩy thơ lên mộttầng nghĩa cao hơn Khoảng không ngữ nghĩa của ngôn ngữ thơ ca là vô tận, Vìvậy muốn khảo sát thơ chúng ta phải có một trí tởng tợng phong phú, kinhnghiệm dồi dào Chính vì điều này mà ngôn ngữ thơ ca luôn luôn là địa hạt tơi
Trang 13mới, lung linh, hấp dẫn cho hành trình của loài ngời đi tìm những thế giới nghệthuật thơ.
đảo lộn trật tự, các từ nhiều lúc không sắp xếp theo trật tự nh bình thờng và điềunày hoàn toàn không xẩy ra với câu văn xuôi Đặc điểm này thể hiện rất rõ quahiện tợng vắt dòng trong thơ ca Việt Nam hiện đại
Trong thơ, các dòng, các vế câu, các ý nghĩa khi trông qua hình nh không
có mối liên hệ logic gì với nhau, nhiều khi trái nghĩa nhau về lôgic lập luận,thậm chí có khi thật “phi lý” nhng ngời đọc vẫn hiểu đợc mạch ngầm các ýtrong câu, hiểu đợc ý ẩn náu ngữ nghĩa đằng sau tầng cấu trúc ngữ pháp tởng
nh không lý giải đợc để tạo nên một sự hợp lý nhất định có thể chấp nhận đợc,
và "vờn cấm", này chỉ dành riêng nhất cho thơ
Những kết hợp không bình thờng trong kiến trúc dòng thơ diễn ra rất đadạng và phức tạp Có khi một dòng thơ chứa nhiều câu thơ, có khi một dòng lạichỉ là môt vế câu Do vậy, nhà thơ có thể sử dụng đa dạng những kiểu câu "bấtthờng" Câu chỉ một âm tiết đến nhiều âm tiết, câu tách biệt, câu vắt dòng, câutrùng điệp, đảo cú không những không làm ảnh hởng đến quá trình tiếp nhậnngữ nghĩa của văn bản mà còn mở ra những chân trời ngữ nghĩa mới
Từ những đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp nh vậy ta thấy ngôn ngữthơ quả là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật rất đặc thù Bởi nó không chỉ là sảnphẩm thể hiện tài năng của ngời sáng tác mà còn là đối tợng đợc lựa chọn khôngkém phần gắt gao để tiếp tục sáng tạo của ngời thởng thức Ngôn ngữ thơ có khảnăng diễn đạt những tình ý sâu xa không chỉ qua việc lựa chọn từ ngữ mà còn cảcách kết hợp chúng, tạo nên những khả năng vô cùng trong việc sáng tạo cũng
Trang 14nh khám phá những trạng thái tình cảm, tinh thần vô cùng phong phú, bí ẩn củacon ngời.
1.2 Vấn đề thời gian và thời gian trong tác phẩm văn học
1.2.1 Vấn đề thời gian
1.2.1.1 Khái niệm thời gian nhìn từ các góc độ khác nhau
Thời gian cũng nh không gian là hai phạm trù lớn của triết học, là hìnhthức tồn tại cơ bản của vật chất Thời gian và không gian là hai thực tại kháchquan gắn liền với vật chất và quá trình vận động với vật chất Hay nói khác đikhông có vật chất nào tồn tại ngoài thời gian và không gian
Nh vậy thời gian là một trong những khái niệm cơ bản trong nhận thứccủa con ngời, nó không những chỉ nhận thức đợc về mặt vật lý học mà còn đợcnhận thức về mặt ngôn ngữ học
- Theo “Từ điển Tiếng Việt,, (Hoàng Phê chủ biên) thời gian có 3 nghĩacơ bản
Nghĩa 1: Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng vớikhông gian), trong đó vật chất vận động sự phát triển liên tục, không ngừng
Nghĩa 2: Khoảng thời gian nhất định xét về mặt dài, ngắn, nhanh, chậmcủa nó
Nghĩa 3: Khoảng thời gian trong đó diễn ra sự việc từ đầu cho đến cuối.[58,tr tr 956]
- Theo "Từ điển Hán Việt" của Đào Duy Anh thì quan niệm về thời gian
là quá khứ, hiện tại, tơng lai, vị lai ba cái trạng thái ấy lu chuyển với nhau vôcùng gọi là thời gian [2,tr432]
Theo Từ điển biểu tợng văn hoá thế giới: “Thời gian là biểu tợng của giớihạn trong sự kéo dài và của ranh giới dễ cảm nhận nhất ngăn cách cuộc sốngtrần thế và cuộc sống của thế giới bên kia, thế giới vĩnh hằng Trong định nghĩa,thời gian của ngời trần là hữu hạn, còn thời gian của thánh thần là vô hạn, haynói đúng hơn là vô thời gian, là vô khởi, vô tận” [16, tr905]
Trên thực tế ngời ta cảm nhận đợc thời gian là những thay đổi biến cốtrong tự nhiên nh (sáng, tra, chiều, tối, xuân, hạ, thu, đông ), trong các lễ hội
Trang 15phong tục của dân tộc (các ngày lễ hội, các phiên chơ, kỵ, giỗ, tết ), trong cuộc
đời con ngời (lọt lòng, lớn lên, lấy vợ, lấy chồng, già, chết ), trong đời sốngchính trị (triều đại, mốc lịch sử, bớc ngoặt lịch sử ) Thời gian qua sự cảm nhận
đó là thời gian vật lý và thời gian vật lý thì tuân theo quy luật tất yếu: Có tínhliên tục, nó chỉ đo đếm đợc trên một chiều mà thôi Thời gian vật lý trùng vớithời gian lịch sử đều là thời gian liên tục không cho phép đứt đoạn
Ngời ta nói đến thời gian trong ngôn ngữ bởi vì điều này gắn với đặc điểmtín hiệu của ngôn ngữ Tín hiệu của ngôn ngữ đợc lần lợt xuất hiện theo trình tựthời giangọi là tính hình tuyến Ngời ta không thể phát âm cùng một lúc các tínhiệu chồng lên nhau mà phải đi từ A lần lợt B rồi C
Nh vậy thời gian trong ngôn ngữ chính là sự phản ánh một hiểu biết củacon ngời về các thuộc tính và quy luật của thời gian khách quan Đây là mộtphạm trù có tính phổ quát trong nhiều ngôn ngữ Với "bức tranh thế giới riêng,mô hình thế giới, hình ảnh thế giới”, trong từng cộng đồng ngời khác nhau nênphạm trù thời gian cũng có cách thể hiện, mà ngời bản ngữ không giải thích nổi
Ngời ta có thể xem thời gian trong ngôn ngữ trùng với thời gian trong đờisống thực tiễn Và nh vậy thời gian đợc coi là một đại lợng cần đợc phân chia,cần đợc hình thành các đơn vị để đo đếm Do đó có khái niệm về thời đoạn (cáckhoảng thời gian) Thời gian đợc hình dung nh một chuỗi vận động liên tục theomột trục mà trên đó ngời ta có thể đánh dấu để ghi nhớ các mốc, các sự kiện, tức
là các khoảng thời gian ngắn đợc hạn định một cách chính xác, coi nh một điểmtrên trục thời gian Vì thế có khái niệm thời điểm (mốc thời gian)
Thời gian còn đợc coi nh là một sự vận động có chiều hớng xác định vàtrong quan hệ với sự tồn tại bản thân mình, con ngời có nhu cầu sắp xếp nó vàomột khu vực từ đây có khái niệm về thì (các miền thời gian) Nh vậy thời đoạn,
thời điểm và thì là ba nội dung biểu hiện cụ thể của khái niệm chung về thời
gian đã đợc nhận thức trong lịch sử phát triển t duy của loài ngời nói chung vàcủa mỗi dân tộc nói riêng
1.2.1.2 Những thuộc tính của thời gian
a) Thời gian và tình thái
Trang 16Thời gian luôn luôn đợc xác định bởi một tình thái nhất định Thời giandài hay ngắn, sớm hay muộn tất cả là do nhận thức đánh giá của ngời nói vàchỉ đợc bộc lộ một phần trong tình thái của câu Theo Cao Xuân Hạo: Tình tháicủa câu phản ánh thái độ của ngời nói đối với điều mình nói ra, cách ngời nói
đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của tính hiện thực (trongthời gian chẳng hạn - phạm trù thì) mức độ của tính xác thực, của tính tất yếu(khách quan hay đạo lý), tính khả năng (vật chất hay tinh thần), tính chất đángmong muốn hay đáng tiếc của điều đợc thông báo [29, tr51]
Nh vậy tình thái của câu là nội dung chỉ mối quan hệ giữa ngời nói và
ng-ời nghe còn gọi là tình thái liên cá nhân Nếu chỉ thái độ, cách đánh giá của ngng-ờinói đối với sự việc nêu lên trong câu đối với phần nghĩa miêu tả sự việc còn gọi
là tình thái chủ quan Nếu chỉ mối quan hệ của sự việc nêu lên trong câu vớihiện thực khách quan nh thời gian, cách thức diễn ra hành động còn gọi là tìnhthái khách quan
Trong thơ tình Xuân Diệu, những nội dung tình thái này nhiều khi đanquyện vào nhau trong một yếu tố ngôn ngữ, khó bề tách bạch ra một cách rạchròi: Mùa cúc năm nay sắc đã già./ Ai tìm ta hộ dáng thu qua ?/ Những buồn x-
a cũ nay đâu mất ?/ Ôi! Phợng bao giờ lại nở hoa! (Ngẩn ngơ) Từ "đã", "nay",
"qua" “bao giờ” vừa chứa tình thái khách quan chỉ quan hệ của sự việc "trớc kia"với thời gian hiện tại, vừa chứa đựng tình thái chủ quan "luyến tiếc" những tìnhcảm trớc đó
b) Thời gian gắn liền với ngữ cảnh
Ngữ cảnh là yếu tố quan trọng để biểu thị thời gian Ngữ cảnh của một từchính là chuỗi kết hợp các từ ngữ xung quanh nó để làm cho nó đợc cụ thể hoá
và xác định về nghĩa Ngữ cảnh có thể tối thiểu là một từ, tối đa là một chuỗi lớnhơn có khả năng ứng với một câu, một phát ngôn Khi dùng ngôn ngữ để giaotiếp, ngời ta nói ra những câu, những phát ngôn chứ không phải là những từ rờirạc, ở đó các từ kết hợp với nhau theo quy tắc và chuẩn mực ngôn ngữ Trongmỗi ngữ cảnh cụ thể từ thể hiện khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết hợpngữ pháp của mình và cũng chính trong câu hay trong phát ngôn ngời ta mới
Trang 17biết đợc rằng trong trờng hợp hoàn cảnh cụ thể từ có nghĩa gì Chẳng hạn phụ từ
“ đã ”biểu thị ý nghĩa thời gian quá khứ nhng trong hoàn cảnh cụ thể , “đã” cóthêm những nét nghĩa khác:Anh biết yêu em đã muộn màng / Nhng mà ai cỡng
đợc tình thơng (Muộn màng) “ Đã” có nét nghĩa chấp nhận sự việc hiển nhiên,
đã rồi Vừa nắng mai sao đã đến sơng chiều?/ Em hờ hững, để cho lòng anh
lạnh (Kỷ niệm) “Đã” có nét nghĩa quá khứ gần với hiện tại, mới xảy ra.
Trong thơ tình Xuân Diệu, ngữ cảnh có quan hệ chặt chẽ với thời gian.Thông qua ngữ cảnh ngời ta mới liên tởng đến yếu tố thời gian có xuất hiện rõnét hay không rõ nét trong các câu thơ Thời gian trong thơ tình Xuân Diệu chủyếu là thời gian mang tính biểu trng, khó xác định Chính vì vậy ngữ cảnh rấtquan trọng, góp phần tăng thêm ý nghĩa lời thơ: Gốc cây là một gốc cây/ Chiều
hôm là khoảng bóng dầy chiều hôm (Mợn nhà vũ trụ).
c) Thời gian tuyến tính
Thời gian tuyến tính là thời gian khi các tín hiệu ngôn ngữ đi vào hoạt
động giao tiếp, chúng xuất hiện ra lần lợt cái này tiếp sau cái kia làm thành mộtchuỗi, một tuyến theo bề rộng một chiều của thời gian F de Saussure viết: "Lộ
rõ ngay khi ta biểu hiện các yếu tố đó bằng chữ viết và đem tuyến không gianbằng những tín hiệu văn từ thay thế cho sự kế tiếp trong thời gian” [59, tr132].Với ngôn ngữ, ngời ta không thể nào nói ra hai yếu tố cùng một lúc Chúng phải
đợc phát âm nối tiếp nhau trong ngữ liệu, hết cái này đến cái kia: Dới thuyền
n-ớc trôi / Trên nn-ớc thuyền chuối / Và nn-ớc và thuyền /Xuôi dòng đi xuôi (Đi
thuyền)
d) Thời gian gắn với khung vị từ
Khung vị từ là cấu trúc vị từ tham thể đợc tổ chức theo yêu cầu diễn đạtcủa câu Hay nói một cách khác khung vị từ là dạng biểu hiện cụ thể trong câucủa cấu trúc vị từ tham thể Cấu trúc vị từ tham thể một mặt phản ánh cấu trúcnòng cốt của sự việc, mặt khác phản ánh cốt lõi trong cấu trúc miêu tả của câu.Các tham thể đợc xác định theo vai trò của mình trong mối quan hệ với đặc trngcủa sự việc nêu ở vị từ
Ví dụ Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm
Trang 18Bữa nay lạnh: Tham thể thời gian
Nh buổi sáng đầu ngày: Tham thể thời gian
Ví dụ: ánh sáng vấn vơng chiều uể oải
ánh sáng: Tham thể làm chủ ngữ
Vấn vơng: Vị từ (vị ngữ)
Chiều uể oải: Tham thể thời gian
Nh vậy, khi xét nghĩa thời gian ta phải gắn các đơn vị biểu thị thời gianvới khung vị từ thì mới hiểu hết đợc ý nghĩa của câu
Trong Tiếng Việt, vị từ là một từ có chức năng làm thành một vị ngữ hoặclàm trung tâm ngữ pháp, hay làm hạt nhân ngữ nghĩa của một vị ngữ biểu thị nộidung của sự việc Vị từ có thể một động từ hay tính từ Trong giao tiếp các đơn
vị biểu thị thời gian là phụ từ có khả năng đứng trớc động từ và tính từ
Ngoài ra, vị từ còn đợc biểu hiện dới dạng là một cụm từ Trong trờng hợp
đó thì cụm thờng đợc đánh dấu bằng các phụ từ trong đó có nhóm phụ từ biểuhiện ý nghĩa thời gian: đã, đang, vừa, còn các phụ từ này có thể xuất hiện từngyếu tố một cùng với động từ hay tính từ
Ví dụ: Em đã vào nhà anh còn thấy bóng em in trên trời rộng.(Bức ợng)
t-e) Thời gian và trật tự sắp xếp các thành tố
Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái, vì thế
ph-ơng thức trật tự là phph-ơng thức rất quan trọng biểu thị ý nghĩa ngữ pháp
Trong câu, nếu thay đổi vị trí của từ thì ý nghĩa thay đổi và chức năng cúpháp của các thành phần câu cũng thay đổi
Rồi một ngày mai tôi sẽ đi: Hành động đi cha diễn ra
Sao ngày tháng trôi đi vội vã: Hành động đi đã và đang diễn ra
Trang 19Thay đổi vị trí của từ chính là thay đổi trật tự từ từ ở trong câu Cần phảiphân biệt phép trật tự từ và phép tuyến tính Tuyến tính là một đặc điểm vô cùngquan trọng của ngôn ngữ Nó là một đặc điểm phổ quát tồn tại trong mọi ngônngữ không phụ thuộc vào truyền thống, tập quán chân lý dân tộc Còn phép trật
tự từ thì ngợc lại, về hình thức thì giống với đặc điểm tuyến tính của ngôn ngữnhng nó lại mang dấu vết về truyền thống văn hoá, tập quán của dân tộc
Trong Tiếng Việt, dựa vào quan hệ giữa các phát ngôn, ta có thể thấynhiều trật tự sắp xếp các thành tố biểu thị thời gian khác nhau Có thể là trật từsắp xếp các thành tố theo thời gian nghĩa là sự kiện hay hành động xẩy ra theotrình tự thời gian: áo em ngày nhớ đêm thơng / áo em chín nắng mời sơng anh
chờ (áo em)
g) Thời gian và không gian
Không gian là tất cả những gì của vật chất tồn tại, có các thuộc tính vềhình thể, khối lợng, kích thớc, có độ sâu, chiều cao, bề dày Không gian baogồm mọi vật tách biệt cái này với cái kia Đã từ lâu mối quan hệ giữa khônggian - thời gian đợc xem xét trên nhiều lĩnh vực triết học, vật lý học, và đã đợcchứng minh bằng nhiều cứ liệu khoa học
L P Jakubínky cho biết: "Không có một giới từ thời gian nào mà nguồngốc của nó lại không phải là giới từ thuộc về không gian" V.v Vinogadov cũngnhận định rằng: "Những ý nghĩa thời gian đợc hoà nhập với những ý nghĩakhông gian và đợc phát triển trên cơ sở của chúng"
Trong Tiếng Việt, cứ liệu về mối quan hệ thời gian và không gian cũng
đặc biệt phong phú và đa dạng Chúng đợc xem xét trên ba phơng diện:
a Có những từ vừa dùng để biểu thị quan hệ không gian vừa để biểu thịquan hệ thời gian
b Có những từ biểu thị thời gian đợc mợn trong số những từ chỉ khônggian
c Có những từ phát sinh ngữ nghĩa không gian - thời gian
Trong thơ tình Xuân Diệu mối quan hệ thời gian - không gian rất phong phú vàsinh động: Trong buổi chiều hôm bóng nhá nhem / Anh ra trớc cổng đứng chờ
Trang 20em / Nhận từng vóc dáng từ xa tới / Lọc lấy một hình anh thuộc quen (Đứng
chờ em)
Buổi chiều hôm : Thời gian vào lúc gần tối
Buổi chiều hôm : cũng có thể hiểu là một không gian vắng lặng
Nh vậy ở đây có sự liên quan thống nhất giữa nét nghĩa biểu thị thời gian với cácnét nghĩa biểu thị thuộc tính không gian, chứng tỏ sự thống nhất của khái niệmthời gian với khái niệm không gian về mặt nhận thức
1.3.2 Thời gian trong tác phẩm văn học
1.3.2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học thì "Thời gian nghệ thuậtphản ánh sự cảm thụ thế giới của con ngời trong từng thời kỳ lịch sử, từng giai
đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm nhận độc đáo của tác giả về phơng thứctồn tại của con ngời trong thế giới Trong thế giới nghệ thuật, thời gian nghệthuật xuất hiện nh một hệ quy chiếu có tính chất tiền đề đợc giấu kín, miêu tả
đời sống trong tác phẩm, cho thấy đặc điểm t duy của tác giả gắn với phơngthức, phơng diện thể hiện Mỗi thể loại văn học có kiểu thời gian nghệ thuậtriêng"[30,tr 323]
Từ định nghĩa trên có thể thấy, trớc hết thời gian nghệ thuật là một phơngdiện của thi pháp học hình tợng Nó vừa là phơng diện của đề tài vừa là mộttrong những nguyên tắc cơ bản tổ chức tác phẩm Về điểm này nhà nghiên cứuTrần Đình Sử viết: "Là phơng thức tồn tại của thế giới vật chất, thời gian cũng
nh không gian đi vào nghệ thuật cùng với cuộc sống đợc phản ánh nh là một yếu
tố của nó Nếu nh mọi hiện tợng của thế giới khách quan khi đi vào nghệ thuật
đợc soi sáng bằng t tởng và tình cảm, đợc nhà văn nhào nặn và sáng tạo để trởthành một hiện tợng nghệ thuật, phù hợp với một thế giới quan, phơng pháp sángtác, phong cách, truyền thống và thể loại nghệ thuật nhất định, thì thời gian nghệthuật cũng thế Nó có thể đợc gọi là thời gian nghệ thuật nh ta đã quen gọi tínhcách nghệ thuật, xung đột nghệ thuật [48,tr157] Để cụ thể hoá hơn, thời giannghệ thuật là một tập hợp của nhiều thời gian cá biệt Các thời gian này tác độngvào nhau, liên hệ nhau tạo thành cái nhịp độ chung của sự vận động đời sống"
Trang 21[48,tr157] "Thời gian nghệ thuật có thể nhanh hay chậm, dài hay ngắn, liên tụchay ngắt quãng theo một lôgic riêng không hoàn toàn trùng khớp với thời giankhách quan," Nh các nhà nghiên cứu văn học đã nói: "Thời gian trong tácphẩm văn học đợc chuyển hoá thành thời gian nghệ thuật, thành một ký mã nghệthuật không đồng nhất với thời gian hiện thực".
Đồng thời, thời gian nghệ thuật trong một tác phẩm là sản phẩm của cáchnhìn nhận, của cảm xúc và t tởng nhà văn Nếu thời gian khách quan vận độngtheo trật tự trớc sau không thể đảo ngợc thì thời gian nghệ thuật trong văn học đ-
ợc soi sáng bởi t tởng, tình cảm nhà văn Là hình thức tồn tại của hình tợng nghệthuật, thời gian nghệ thuật phản ánh thế giới khách quan, nó có độ dài, có nhịp
độ, có ba chiều: quá khứ - hiện tại -tơng lai và có sự vận động theo chiều trớcsau liên tục Trong đó tác phẩm văn học "Sự cảm thụ thời gian gắn liền với ýthức về ý nghĩa của cuộc đời đối với quan niệm về thế giới, cuộc sống ớc mơ, lýtởng và năng lực hoạt động của con ngời"
Trong thực tế không phải mọi thứ liên quan đến thời gian trong tác phẩm vănhọc đều là thời gian nghệ thuật Trong tác phẩm thi ca, thời gian chỉ chuyển hoáthành thời gian nghệ thuật khi nó cùng các yếu tố khác nh kết cấu lời thơ thểhiện cái nhìn của tác giả về con ngời và cuộc đời Vì lẽ đó nhà nghiên cứu Nga
Đ.Li kha chốp cho rằng: "Thời gian nghệ thuật là nhân tố nằm trong mạng lớinghệ thụât nó buộc thời gian cú pháp và quan niệm triết học về thế giới phảiphục vụ cho những nhiệm vụ nghệ thuật của nó" [23, tr 61 ] Trong cuốn Thi
pháp thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử cũng khẳng định: "Thế giới nghệ thuật trong
văn học không phải giản đơn chỉ là quan điểm của tác giả về thời gian mà là mộthình tợng và hành động, gợi cảm, là sự cảm thụ, ý thức về thời gian đợc dùnglàm hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm" [48, tr190].Thời gian nghệ thuật có thể đảo ngợc về quá khứ hoặc vợt qua hiện tại đến tơnglai, có thể dồn lại hoặc kéo dài vô tận Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào cũng viết:
" Thời gian thật sự có tính chất nghệ thuật đó là thời gian của hành động kểchuyện và thời gian của văn bản [4,tr 72]
Trang 22Tóm lại, điểm qua một số ý kiến trên, có thể hiểu thời gian nghệ thuật làmột phạm trù của thi pháp học, thể hiện cái nhìn mang màu sắc tâm lý chủ quancủa nghệ sĩ Vì vậy nó mang tính chất đa dạng, phong phú, biểu hiện chất sángtạo nghệ thuật của ngời nghệ sĩ, cách cảm nhận ứng xử đối với cuộc sống theoquan điểm ý đồ riêng của tác giả Trong thế giới nghệ thuật của nhà văn thì
"Thời gian là một trong những phơng tiện hữu hiệu để tổ chức nội dung củanghệ thuật” Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tợng nghệ thuật,
nó là thuộc tính tất yếu của hình tợng nghệ thuật Vận động trên cả ba chiều:Quá khứ - hiện tại - tơng lai, nhng thời gian nghệ thuật không nhất thiết phảitheo trật tự vốn có của nó mà có thể đảo ngợc trình tự thời gian, thay đổi nhịp
độ, thậm chí có thể bỏ qua một hoặc hai chiều vận động của nó Có nhiều cáchchiếm lĩnh thời gian khác nhau
Nh vậy, là một phạm trù của thi pháp học, thời gian nghệ thuật là yếu tốquan trọng góp phần thể hiện t tởng, t duy, tính cách, cái nhìn của nhà thơ vềcuộc đời
1.3.2.2.Các cấp độ của thời gian nghệ thuật
Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật có nhiều cấp độ khác nhau ở đâychỉ đề cập đến một số tơng quan thời gian chủ yếu
- Thời gian nhân vật: Là thời gian gắn liền với sự tồn tại nhân vật, nó làmngời đọc ý thực đợc sự tồn tại của nhân vật
- Thời gian nội tâm nhân vật (Cũng gọi là thời gian tâm lý)
- Thời gian tập thể: Là thời gian của từng nhóm ngời
- Thời gian lịch sử: Là thời gian gắn liền với tầng giai đoạn lịch sử của đấtnớc
- Thời gian sự kiện: Là thời gian năng động nhất trong tác phẩm nghệthuật, loại thời gian này vận động theo quy luật nhân quả
Trong thơ tình Xuân Diệu thời gian tâm trạng là chủ yếu Thời gian tâm trạngcủa nhân vật thờng gắn với thời gian hiện tại Đó là khoảng thời gian con ngời ýthức đợc sự tồn tại của mình,đang đợc sống, đợc yêu,đợc nếm trải Một phút
gặp thôi là muôn buổi nhớ / Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo (Yêu mến)
Trang 231.3.2.3 Các điều kiện của thời gian nghệ thuật
Đợc nhận biết qua các dấu hiệu sau:
a Chiều hớng thời gian: so với trong thực tế thì thời gian nghệ thuật có
những điều khác biệt Nó còn đợc gọi là trình tự thời gian Trong văn học khi táitạo lại nhà văn đã làm biến cải đi rất nhiều, thay đổi trật tự chiều hớng
b Nhịp độ và sự vận động thời gian nghệ thuật: xác định bằng các đại
l-ợng, độ dài khoảng cách, các sự kiện, bằng độ dài thời gian cảm nhận các sựkiện, cách sắp xếp bố trí mật độ các sự kiện có tác dụng tạo ấn tợng, tiết tấu cáctác phẩm
1.3.2.4 Các chiều của thời gian nghệ thuật
Thời gian thực tế chỉ vận động theo một chiều duy nhất, nhng trong tácphẩm nghệ thuật, quan niệm về thời gian phức tạp, phong phú hơn Nó gồmnhiều chiều hớng thời gian khác nhau
a Quá khứ
Có nhiều cách để thể hiện quá khứ, nhng phổ biến nhất là hồi tởng Hồi ởng đợc trình bày qua nhiều hình thức Thời gian hồi tởng chỉ xuất hiện khi mà
t-ý thức bên trong xuất hiện Trong thơ tình Xuân Diệu, thời gian quá khứ chủ yếu
là thời gian sát gần với hiện tại, không xa lắm và thờng đợc biểu hiện bằng các
từ : hôm qua, bữa trớc
b Tơng lai
Tơng lai gắn bó với viễn cảnh phơng hớng phát triển của đời sống củanhân vật Tơng lai cũng đợc thể hiện bằng nhiều cách, có khi nó đợc thể hiệnbằng ớc mơ, bằng viễn tởng, bằng dự cảm về tơng lai Trong thơ tình Xuân Diệu,những ớc mơ về cuộc sống về tình yêu cũng đợc thể hiện rất phong phú: Nguyện
em nh đèn soi tỏ dạ / Nguyện anh là tất cả năm canh
(Nguyện ).“Nguyện ” trong các câu thơ tuy không phải là từ chỉ thời gian chânchính nhng nó lại hàm nghĩa chỉ thời gian tơng lai
C Hiện tại
Hiện tại là khái niệm thời gian có nhiều cách biểu hiện nhất Nó thể hiện
rõ dới hình thức miêu tả, đối thoại, chuyển đổi quan hệ thời gian
Trang 24Thời gian trong tác phẩm của Xuân Diệu nghiêng về trục hiện tại Đó làkhoảng thời gian con ngời ý thức đợc sự tồn tại của mình, đang đợc sống, đợcyêu, đợc nếm trải Dù trong những câu thơ có yếu tố thời gian qua khứ nhngcũng là cái cớ để nói về hiện tại Trời ơi, trời ơi, đâu rồi tuổi nhỏ / Hôm xa
đâu rồi, trời ơi ! trời ơi (Xuân đầu).
Nh vậy khi nghiên cứu tiếp cận với thế giới nghệ thuật cần phải tìm từngyếu tố thời gian và mối tơng quan thời gian đó để phát hiện ra từng tầng ý nghĩangầm trong tác phẩm Tác phẩm nghệ thuật là một chỉnh thể xác định cùng vớiyếu tố khác góp phần làm nên hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Bởi thếnghiên cứu thời gian nghệ thuật có ý nghĩa rất quan trọng
1.3 Xuân Diệu và thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu
1.3.1 Những nét chung về cuộc đời Xuân Diệu
Xuân Diệu sinh v o mùa xuân năm Bính Thìn ( 2-2-1916 ) sinh tại Vạnà
Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phớc, tỉnh Bình Định Đó là quê má ông, bàNguyễn Thị Hiệp, ngời “ Đàng Trong ”, làm nớc mắm Ông cụ thân sinh ra ông,
cụ Ngô Xuân Thọ, lại là ngời “Đàng Ngoài ”, ở xã Trảo Nha (nay là xã ĐạiLộc), huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Đôi lúc sau này Xuân Diệu ký là Trảo Nha,chính là đã lấy mảnh đất quê cha để đặt bút danh cho mình Cụ thân sinh ra nhàthơ đỗ tú tài kép Hán học (hai lần đỗ tú tài, làm thầy đồ dạy học chữ Hán vàchữ quốc ngữ ở Bình Định)
Dòng máu chung hoà giữa “cha ở đàng ngoài” và “mẹ ở đàng trong” phầnnào ảnh hởng đến tâm tồn ông; ông Đồ Nghệ “Cha đàng ngoài” đã truyền cho
ông dòng máu cần cù, hiếu học, nghị lực khác thờng, truyền cho ông lòng nhiệthuyết với sự nghiệp để có thể sống mãi với đời; và bản tính của ngời mẹ đã đem
đến cho ông những nồng nàn của gió, sóng biển Quy Nhơn Nơi Xuân Diệu học
từ ban đầu với mảnh trời trong và nớc biển biếc đã dội vào ông những gợn sónglãng mãn đầu tiên góp phần làm phong phú tâm hồn ông Hơn nữa, ông là con
vợ lẽ, phải xa mẹ từ nhỏ, thiếu tình thơng, nên càng khao khát tình thơng Điềunày là cơ sở để ta hiểu thêm ở Xuân Diệu một trái tim vồ vập bám lấy cuộc sốnghiện tại, giao cảm hết mình với mọi ngời và mong muốn mọi ngời hãy chia sẽ
Trang 25với mình Vì lẽ đó ta thấy Xuân Diệu đã phơi trải tâm hồn mình trên mỗi trangthơ.
Mời tám tuổi (1934), Xuân Diệu đỗ Thành chung Năm sau ông ra HàNội học tiếp tú tài phần một ở trờng trung học Bảo Hộ Lại một lần nữa, tâm hồn
ông rộng mở trớc những cảnh sắc mới, con ngời mới : “Khi tôi ra Hà Nội, tôi cómột sự nảy nở lần thứ hai, lớn hơn cả khi tôi từ miền quê xuống Qui Nhơn Tôi ởQui Nhơn, bốn mùa không rõ rệt lắm Núi và biển ở Quy Nhơn rất đẹp, nhất lànhững hôm có gió nồm thì Quy Nhơn rất nên thơ ; nhng sự thay đổi thiên nhiên
từ mùa đông sang mùa xuân, thì khi ra ở xứ Bắc tôi mới thấy rõ Trên đê YênPhụ một buổi chiều mùa đông, đi vào những trang trại trồng hoa ở Ngọc Hà,xem những cây hoa đào ở Nhật Tân đối với tôi ở tuổi 18, 19 nh một sự bừng nở,
nh mùa xuân mới về ”[ 2 ] Sự bừng nở ấy cũng dờng nh làm cho thơ Xuân Diệubừng nở theo
Niên học sau, 1936-1937, Xuân Diệu vào Huế học tú tài phần hai tạitrung học Khải Định Lại một lần nữa, tâm hồn Xuân Diệu đợc bồi đắp thêm cáichất thơ sâu lắng của xứ Huế Sau này, nhớ lại những tháng năm này, ông đã cónhững dòng thật thiết tha : “ Rồi tôi vô Huế học tú tài phần thứ hai Đối với tôithật sự may mắn Tôi cảm ơn cuộc đời, cảm ơn những ngời xung quanh tôi, tôimuốn đền đáp ơn cuộc sống Học ở Huế năm 1936-1937, tôi biết thêm một xứ
đã tạo cho tôi cái mê ly, cái lả lớt đắm đuối rất cần thiết, đã bồi dỡng tâm hồntôi với những Nam ai, Nam bằng, với Sông Hơng màu nớc ấy, và nhất là màumắt của ngời con gái Huế Cho nên cái thiên nhiên và con ngời Huế cho tôi mộtkhía cạnh mới, cộng thêm với thiên nhiên và con ngời ở Bắc”[2]
Cũng tại mảnh đất thần linh này, Xuân Diệu gặp và kết bạn với Huy Cận,học sau hai lớp Tình bạn, tình thơ Xuân - Huy ấy đã trở nên thắm thiết và bềnchặt tới mãi sau này
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Xuân Diệu vừa ở tuổi 30 Ông đeo ba lôtheo kháng chiến Những năm tháng này ông công tác ở đài tiếng nói Việt Nam,phụ trách mỗi tuần một câu chuyện văn hóa Ông đợc kết nạp vào Đảng Cộngsản (1949), đợc bầu vào Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam
Trang 26Kháng chiến thắng lợi, Xuân Diệu về lại Hà Nội sống ở phố Cột Cờ (nay
là đờng Điện Biên Phủ ) cho đến cuối đời
Năm 1975, giải phóng miền Nam, Xuân Diệu “đi thăm khắp cả miềnNam ” Ông trở về thăm quê má Bình Định rồi Sài Gòn, Mỹ Tho, Cà Mau,Huế sau hơn 30 năm xa cách
Cuối tháng 12 năm 1985, Hội Nhà văn tổ chức Hội nghị các nhà văn trẻtại Hà Nội Xuân Diệu hăm hở chuẩn bị tham luận “ Sự uyên bác với việc làmthơ”để đọc tại Hội nghị Nào ngờ ông bị đau tim đột ngột phải đi cấp cứu Tráitim ông ngừng đập vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 18tháng 12 năm 1985 tại bệnhviện Hữu Nghị Việt Xô, Hà nội Chỉ còn 13 ngày nữa thì ông bớc sang tuổi bảymơi Nhà nớc ta tặng ông nhiều huân chơng cao quý Nhà nớc Đức bầu ông làmViện sĩ thông tấn(1938) Nhng có lẽ với Xuân Diệu phần thởng lớn nhất của đời
ông chính là lòng yêu mến của triệu triệu trái tim độc giả đối với thơ văn ông
1.3.2 Những nét chính về nghiệp thơ
Xuân Diệu là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam Sự nghiệpsáng tác thơ văn của Xuân Diệu rất phong phú: ông viết thơ, viết văn, nóichuyện thơ, viết phê bình tiểu luận… Sự nghiệp thơ văn của Xuân Diệu trải quahai giai đoạn: trớc và sau Cách mạng tháng Tám Thành tựu xuất sắc nhất, đợc
độc giả trong và ngoài nớc yêu chuộng là thơ Mời lăm tập thơ (đã in) khẳng
định ông là một nhà thơ lớn
Trớc Cách mạng, Xuân Diệu là một nhà thơ lãng mạn “nhà thơ mới nhấttrong các nhà thơ mới”, “ông hoàng của thơ tình”… Cái tôi trữ tình trong thơXuân Diệu thể hiện lòng thiết tha yêu đời, yêu cuộc sống, đồng thời cũng thểhiện tâm trạng chán nản, hoài nghi, cô đơn… Xuân Diệu có những cách tân táobạo về cảm hứng, thi tứ, bút pháp… ông mở đầu sự nghiệp và nổi tiếng trên thi
đàn Việt Nam bằng hai tập: Thơ thơ (1938), Gửi hơng cho gió (1945) Nhữngchủ đề chính của thơ ông trong thời kỳ này là: Niềm say mê ngoại giới, khaokhát giao cảm với đời và tình yêu cuộc sống (Vội vàng, Giục giã) Nỗi cô đơn,rợn ngợp của cá thể trớc cái không gian mênh mông, thời gian xa thẳm (Lời kỹ
Trang 27nữ) Một khát vọng tình yêu vô biên và tuyệt đích, nổi đau của một trái tim đắm
say, nồng nhiệt mà không đợc đền đáp ứng đáng (Dại khờ, Nớc đổ lá khoai)
Sau Cách mạng, chân trời thơ Xuân Diệu mở rộng tới những quan hệ xãhội rộng lớn, “từ chân trời của một ngời đến chân trời của tất cả” (P.Êluya) Từmột nhà thơ lãng mạn bậc nhất của phong trào thơ mới, ông trở thành nhà thơcách mạng và có thơ hay ngay từ những ngày đầu cách mạng Xuân Diệu chàomừng cách mạng với Ngọn quốc kỳ (1945), Hội nghị non sông (1946), đây lànhững áng thơ đợc viết bởi tấm lòng hân hoan tràn đầy và chất men say lý tởngcủa ngời nghệ sĩ trong “mối duyên đầu với cách mạng”
Cùng với sự đổi mới của đất nớc, Xuân Diệu đã có một sự đổi mới trongtâm hồn và trong thơ Tình cảm yêu nớc và trách nhiệm công dân cũng nh lòngthiết tha ca ngợi cuộc đời mới đã nâng sáng tác của nhà thơ lên Ông say sa viết
về Tổ quốc, Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nớc nhà… Nhà thơ đã mở rộng diện phản
ánh và hệ thống đề tài để viết về cuộc sống mới (Các tập thơ: Riêng chung(1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962), Hai đợt sóng (1967), Hồn tôi đôi cánh(1976)…
Từ năm 1960, Xuân Diệu làm tiếp thơ tình yêu Trớc kia, thơ ông hay nói
đến xa cách, cô đơn, đỗ vỡ, chia ly thì nay lại nói nhiều hơn đến sự chung thuỷ,sum vầy Sau cách mạng tháng Tám, thơ tình Xuân Diệu không vơi cạn mà lại
có những nguồn mạch mới Tình yêu của lứa đôi không còn là tình cảm giữa hai
vũ trụ nhỏ cô đơn mà đã có sự hoà hợp với mọi ngời Thơ tình lúc này của XuânDiệu ít sôi sục, say đắm, nồng nhiệt nhng lại có thêm những phẩm chất mới:tình cảm vợ chồng gắn bó, thủy chung, có nhiều niềm vui gắn với cuộc đời
(Biển, Giọng nói, Đứng chờ em, Dấu nằm…) Xuân Diệu là một tài năng nhiều
mặt nhng trớc hết vẫn là một nhà thơ lớn của dân tộc Ngay từ trớc cách mạng
“Xuân Diệu là ngời đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất” (VũNgọc Phan) Bên cạnh việc đa đến cho thi đàn Việt Nam một nguồn cảm hứngyêu đời dào dạt, một quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ mới mẻ, một cái tôi giàubản sắc; Xuân Diệu còn là ngời tìm ra nhiều kiểu cấu trúc hiện đại cho câu thơ
Trang 28Việt Nam, làm phong phú thêm hình thức thơ bằng những hình ảnh độc đáo,những nhạc điệu tân kỳ… Những cống hiến và ảnh hởng của Xuân Diệu trongthơ Việt Nam hiện đại là rất to lớn và sâu đậm.
1.3.3 Thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu
Đối với thơ, thời gian nghệ thuật gắn với nguồn cảm hứng của thi nhânbởi hình tợng thơ là hình tợng của cảm xúc Sự cảm thụ thời gian trong thơ làcảm xúc của nhà thơ trớc sự tồn tại và ý nghĩa chung của đời sống nhân sinh.Trong thơ truyền thống yếu tố thời gian đã đợc “cân, đo, đong, đếm” và thể hiệntheo mạch suy ngẫm riêng của từng nhà thơ “Sầu đong càng lắc càng đầy ,”
Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Tản Đà “Đời ng ời thử ngẫm mà hay / Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê ”
Đến Thơ mới và nhất là thơ Xuân Diệu, thời gian không còn đợc tính theochiều vĩ mô nh trong thơ cổ nữa mà chủ yếu đợc tính bằng thời gian đời t, thờigian tâm trạng Với quan niệm sống “gấp gáp, vội vàng” trong thơ Xuân Diệuthời gian trở thành “nỗi ám ảnh” (Đỗ Lai Thúy) “Thời gian là đại lợng tiêu cực,
là thù địch với tuổi xuân” (Trần Đình Sử) Thơ Xuân Diệu trớc cách mạng thấm
đẫm một nỗi đau thời gian, tạo nên một nét rất riêng trong phong cách nghệthuật của Xuân Diệu
Tìm hiểu thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu, trớc hết cần lu ý haiphạm trù thời gian khác nhau trong thơ ông: một là, thời gian nghệ thuật nh một
bộ phận, quan trọng cấu thành hệ thống quan điểm, về vũ trụ nhân sinh của nhàthơ; hai là phạm trù thời gian đã đợc xử lý nh một yếu tố hình thức để kiến tạonên từng tác phẩm cụ thể Xuân Diệu rất nhạy cảm với phạm trù “không gian -thời gian” Ông chỉ ra “thời gian cũng là một chiều của không gian và khônggian cũng là một chiều của thời gian… Mọi vật luôn chuyển động cho nên chúng
ta sống trong một vũ trụ có bốn chiều và chiều thứ bốn là thời gian” Do vậytrong tâm hồn, trí tuệ của thi sĩ phải thật sự dồi dào, phong phú về không gian,thời gian Xuân Diệu là ngời đã dành một phần lớn sáng tác của mình để đàm
đạo trực tiếp quan niệm nghệ thuật về thời gian và từ đó khái quát thành t tởngmang ý nghĩa triết học
Trang 29Ông viết về dòng thời gian - dòng đời - luôn chuyển động, thay đổi không
ngừng Trong bài Đi thuyền Xuân Diệu mợn hình tợng “nớc - thuyền” để diễn tả
nhịp điệu sinh học của thời gian vũ trụ và muốn nhấn mạnh thời gian vũ trụ làtuyệt đối vĩnh hằng, thời gian của một đời ngời là tơng đối hữu hạn Con ngờibất lực trớc sức mạnh chế ngự của thời gian vũ trụ và luôn có nguy cơ bị cuốntrôi hoặc nhấn chìm Ông sáng tạo nên hình ảnh “ngọn gió thời gian” với nhữngbớc đi tàn nhẫn: Ngọn gió thời gian không ngớt thổi / Giờ tàn nh những cánh
hoa rơi (Giờ tàn).
Càng tha thiết với cuộc đời, ông càng thấy thời gian trôi đi với nhịp độchóng mặt “rồi đi” “cứ thế mà bay”… có lẽ cha có một nhà thơ nào luyến tiếcthời gian nh Xuân Diệu Ông cũng nh các nhà thơ cùng thời, ý thức rằng thờigian trôi là tuổi trẻ mất và tuổi già đang chờ đón Xuất phát từ ý thức về sự mấtmát ông quan niệm thời gian tuyến tính: Hoa nở để mà tàn / Trăng tròn để mà
khuyết (Hoa nở để mà tàn).
Lo sợ, ám ảnh trớc sự chảy trôi của thời gian “một đi không trở lại” XuânDiệu luôn tìm cách chống đỡ, ngăn cản không để thời gian cớp đi mọi lạc thúcủa tuổi trẻ tình yêu Xuân Diệu khao khát tận huởng cuộc sống và kêu gọi mọingời cam đảm “nhập cuộc” “dấn thân” vào đời sống Trong khi đa số các nhàthơ lãng mạn cùng thời tìm về quá khứ, xa rời thực tại thì Xuân Diệu kiên quyếtbám riết, hoà nhập cuộc đời “Lẫn với đời quay tôi cứ đi” Ông quan niệm đểchống lại phần nào sự huỷ hoại của thời gian con ngời phải tận hởng nhịp sốnghối hả, vội vàng, gấp gáp Vì vậy thờng trực trong thơ ông là t thế “Mau đi thôi ! Mùa cha ngả chiều hôm ”
Yếu tố thời gian trong thơ Xuân Diệu trớc cách mạng dờng nh tạo nên
“chất men say” của hồn thơ “đa tình”, nó đem lại luồng rung động đặc biệttrong cảm hứng sáng tạo, thôi thúc ông viết nhiều những vần thơ có sức kháiquát cao, với những hình ảnh gợi cảm
Thời gian nghệ thuật trong thơ là thời gian vũ trụ bị đồng hoá và khúc xạqua cái nhìn chủ quan của thi sĩ Do vậy tuỳ theo hớng nghệ thuật khác nhau mà
sự lựa chọn các chiều thời gian tất yếu cũng khác nhau Nếu các nhà thơ hiện
Trang 30thực xã hội chủ nghĩa chọn tơng lai là đối tợng thời gian đang đợc hớng tới, làbiểu tợng rực rỡ của khát vọng đổi đời, và các gơng mặt tiêu biểu của thơ lãngmạn: Thế Lữ, Chế Lan Viên, Vũ Đình Liên… quay về quá khứ thì Xuân Diệu ởgiữa thời cực thịnh của trào lu thơ ca lãng mạn lại say sa với hiện tại Với ông,hiện tại có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với đời ngời, nhất là trong tình yêu: Cần
chi biết ngày mai hay bữa trớc/ Gần hôm nay thì yêu dấu là nên/… Gặp nhau
đây ai biết tự thuở nào /Xa nhau nữa ai đoán ngày tái hợp (Mời yêu).
Say sa với hiện tại, Xuân Diệu không chỉ thờ ơ với quá khứ mà còn hoàinghi tơng lại, Xuân Diệu “sợ ngày mai” theo ông “ngày mai” là tất cả những gìcủa hôm nay đã chuyển sang độ phai tàn héo hắt
Nếu Tố Hữu đã tạo ra một hình tợng thời gian lịch sử với những bớc vận
động mang tính thời đại hào hùng, các nhà thơ mới tập trung khám phá thời giantrong quĩ đạo cá nhân khép kín, thì Xuân Diệu ý thức sâu sắc về thời hiện tại vàthể hiện nó dới nhiều dạng thức khác nhau Với “con mắt thời gian” khoa học,nhạy cảm, Xuân Diệu nhận ra thời tuổi trẻ “thời tơi” của đời ngời vô cùng ngắnngủi, mỏng manh Vì thế, cảm nhận thời gian trong thơ ông rút dần khoảng cách(từ một đời, một thời đến từng năm, từng tháng, từng phút…)
Xuân Diệu đã vợt khỏi giới hạn truyền thống, ông thành công trong việcdiễn tả trạng thái chuyển động của thời gian Cùng với hệ thống quan niệm vàphơng thức chiếm lĩnh thời gian nghệ thuật, khả năng diễn tả những bớc chuyển
động của thời gian qua cảm xúc đã khẳng định một hiện tợng độc đáo, đa dạngtrong thơ Xuân Diệu
Sau cách mạng, toàn bộ đời sống xã hội thay đổi, đem lại sự hồi sinh chodân tộc và cho văn nghệ Hầu nh các văn nghệ sĩ hớng ngòi bút về cách mạng,
về nhân dân, đất nớc Cách mạng đã khiến họ bừng tỉnh, thay đổi lý tởng thẩm
mỹ, đa văn chơng về với mảnh đất hiện thực Xuân Diệu không chỉ bừng tỉnh màcòn tham gia Cách mạng, làm thơ ngợi ca đất nớc, mừng nhân dân đợc giảiphóng, đả kích bọn tay sai, phản động… Theo sát bớc đi của Cách mạng, XuânDiệu miệt mài sáng tạo nghệ thuật Nếu trớc kia thời gian là lực lợng thù địchcủa cá thể lãng mạn thì giờ đây thời gian là đồng minh của sự sống Ông mở
Trang 31rộng các dòng thời gian Thời hiện tại là tin yêu cuộc sống, là thời gian củacông việc, thời gian tồn tại của nhân vật trữ tình, thời gian tồn tại của xã hội.Sống trong hiện tại, thi nhân liên tởng về quá khứ, hớng tới tơng lai để khẳng
định sự hiện diện của hiện tại và ca ngợi sự trờng sinh, tính vĩnh cửu của nó
Nh vậy, thời gian trong vũ trụ thì muôn đời vẫn thế Chỉ có cảm nhận củacon ngời về thời gian thì mỗi thời một khác Sự khác nhau này có thể do trình độnhận thức khoa học, ý thức triết học, ý thức thẩm mỹ… của mỗi thời, mỗi ngờikhác biệt nhau Trong hai chặng đờng sáng tác, Xuân Diệu đã thể hiện một diệnmạo thời gian rất mới
1.4 Tiểu kết
Khái niệm thời gian đã đợc lý giải ở các góc độ khác nhau Ngôn ngữ thờigian trong tác phẩm văn học là một vấn đề quan trọng trong ngôn ngữ nghệthuật, nó mang những đặc điểm dễ dàng nhận diện ở mặt hình thức, ngữ nghĩa
và vai trò trong việc hình thành phong cách tác giả
Xuân Diệu là nhà thơ “ mới nhất trong các nhà thơ mới”.Đợc các nhànghiên cứu đánh giá ở mọi phơng diện, đề tài, ngôn ngữ Với quan niệm sống “vội vàng, gấp gáp” trong thơ Xuân Diệu thời gian trở thành “nỗi ám ảnh” tạonên một nét rất riêng, trong phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu, một diệnmạo thời gian rất mới
Trang 32Chơng 2
Đặc điểm về mặt ngữ pháp của từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian trong thơ tình Xuân Diệu
2.1 Các loại từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian trong thơ tình Xuân Diệu
Thời gian là một mảng hiện thực khách quan và tất yếu nên trong cácngôn ngữ đều có cách thể hiện và nhận diện nó Có thể nói trong bất cứ ngônngữ nào cũng có những từ ngữ gọi tên các đơn vị thời gian (tức là thời đoạn )hoặc những trạng thái cảm nhận về thời gian Tuy nhiên mỗi ngôn ngữ có những
đặc trng riêng về kiểu cấu tạo (từ, ngữ, câu), về cách diễn đạt các ý nghĩa ngữpháp liên quan đến thời gian Chẳng hạn, ở các ngôn ngữ biến hình Châu Âu, bộphận đuôi động từ (với các biến dạng của nó trong câu) là cách thức chủ yếu đểdiễn đạt các ý nghĩa phạm trù thời - một phạm trù ngữ pháp rất quan trọng Còn
ở tiếng Việt - ngôn ngữ tiêu biểu cho loại hình đơn lập - do từ không có bộ phậnphụ tố, nên các ý nghĩa ngữ pháp về thời gian đều đợc thể hiện bằng phơng tiện
từ vựng, tức là nhờ dùng các thực từ (hoặc các h từ đi kèm với động từ, tính từ)trong câu
Qua khảo sát thống kê phân loại, tổng hợp về các từ ngữ biểu hiện ý nghĩathời gian trong thơ tình Xuân Diệu, chúng tôi có những kết quả thu đợc nh sau:
Trang 33Qua bảng thống kê, chúng tôi thấy: Trớc cách mạng, Xuân Diệu dùngnhiều lợt từ chiều , đêm: (thời điểm dễ gợi lên trong lòng cảm giác buồn) : Êm
êm chiều ngẩn ngơ chiều / Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn, và đặt chốc lát, phút, giây, trong tơng quan đối lập với cái vô tận của một đời ngời, của cả
Trang 34dòng thời gian Sau cách mạng, Xuân Diệu lại dùng nhiều lợt từ mãi mãi, vĩnh
viễn, muôn đời, bây giờ Xuân Diệu đặt khoảng khắc thời gian trong tơng quan
thống nhất với dòng thời gian tự nhiên, có ý nghĩa nhấn mạnh một thời điểm đặcbiệt giá trị trong dòng thời gian chung Có thể nói, từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thờigian trong thơ tình Xuân Diệu trớc và sau Cách mạng hết sức phong phú và đadạng Đó là sự khai thông dòng thời gian tâm lý (ở chơng 3 chúng tôi sẽ làm rõkhái niệm này)
Để thấy đợc cái nhìn vừa toàn diện, vừa cụ thể về các từ ngữ nói trênchúng tôi đi vào khảo sát từng loại từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian trong thơtình Xuân Diệu phần tiếp sau
Ví dụ : Xuân còn hè đã thoảng bay/ Một niềm xa vợi ngất ngây khí trời(Chớm sang vị hè), Sớm trông mặt đất thơng xanh núi / Chiều vọng chân mây
nhớ tím trờ (Tứ tuyệt tơng t).
2.2.1.2 Số từ ghép (200/280từ) chiếm 71,42% Đó hầu hết là những từ
đ-ợc kết hợp từ hai âm tiết có nghĩa, tạo sự kết dính hòa quyện (hoặc đông cứng):thế kỷ, đợi chờ, ngàn năm, muôn thuở, vĩnh viễn, mãi mãi, mùa xuân, mùa hạ,mùa đông, mùa thu, bây giờ, bao giờ, bấy lâu, chủ nhật, ngàn thuở, hôm qua,hôm nay, hoàng hôn, ngày sau, ngày nào, vạn kiếp, chốc lát, thời khắc, mai mốt,vạn kiếp,
Trang 35Ví dụ: Mới còn nắng gắt hôm qua thế / Ngây ngất hôm nay một ánh
mờ (Chiều đầu thu) Một buổi chiều mùa xuân lồng lộng / Đã thầm mang rạo rực mùa hè (Một buổi chiều).
Điều này chứng tỏ thời gian trong thơ Xuân Diệu không còn đợc tính theochiều vĩ mô nh trong thơ cổ nữa mà chủ yếu đợc tính bằng thời gian đời t, thờigian tâm trạng nhờ kết hợp với những yếu tố khác Chẳng hạn: Chiều xanh,chiều mộng, chiều tha, ngày yêu, ngày nhớ, ngày sầu, tháng thảm, xuân tơi,xuân biếc, máu xuân, đêm thanh, đêm thẳm, đêm trăng, thu êm, thu đi Ai
hay tuy lặng bớc thu êm (Thơ duyên), Phải duyên, phải lứa thì thơng / Để chi
đêm thẳm ngày trờng hỡi em (Hỏi), Nghìn buổi sáng, bình minh xe chỉ thắm /
Đem lòng tôi ràng rịt với xuân tơi (Đa tình)…
2.2.2 Về từ loại của từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian trong thơ tình Xuân Diệu
Các từ loại tiếng Việt đợc xác định dựa trên những đặc điểm ngữ phápkhác nhau “Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, đợc phân chia theo ýnghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu, thực hiện chứcnăng ngữ pháp khác nhau [39 ,tr44]
Trong thơ tình Xuân Diệu, cũng nh mọi thể loại khác, có nhiều từ loạikhác nhau đợc sử dụng Việc nhìn nhận, miêu tả lớp từ biểu hiện ý nghĩa thờigian theo tiêu chí phân định từ loại là việc làm hết sức cần thiết và lý thú Đểviệc khảo sát có căn cứ và thuận lợi, chúng tôi chấp nhận cách phân chia tiếngViệt thành 9 từ loại: Danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, quan hệ từ, tình thái
từ, phụ từ, thán từ [39, tr37]
Qua thống kê phân loại, chúng tôi đã xác định bảng từ loại của từ chỉ thờigian trong thơ tình Xuân Diệu nh sau:
Trang 362.2.3.1 Những từ ngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian trong thơ tình Xuân Diệu là thực từ
a) Nhóm danh từ chỉ thời gian
Danh từ là loại từ cơ bản chiếm số lợng lớn trong kho từ vựng tiếng Việt.Danh từ đợc định nghĩa: “ Là lớp từ có ý nghĩa phạm trù, sự vật biểu thị những
đơn vị có thể nhận thức đợc trên cơ sở tồn tại của chúng dới hình thức nhữnghiện tợng trong tự nhiên và xã hội hoặc trong sự suy nghĩ của con ngời” [39,tr44]
Số liệu thống kê về những danh từ chỉ thời gian chủ yếu thể hiện qua bảngsau:
Số liệu Danh từ chỉ Thời gian
Trang 37a1) Nhóm danh từ biểu hiện các khoảng thời gian chính xác
- Nhóm danh từ biểu thị thời gian chính xác gồm các từ : Thế kỷ, năm,tháng, tuần, giờ, ngày, phút,
Ví dụ: Sau một ngày đẩy việc / Chúc em tôi giấc lành (Anh thơng em khingủ) Tuyến lửa em đi đà một tháng / Không th về, anh ngóng trông tin (Em đi
tuyến lửa), Sáu năm lệ tới đôi tròng / Lệ tơi cời với não nùng lệ đau (Trăm ba
mơi đóa )
a2) Nhóm danh từ biểu thị thời đoạn không chính xác gồm các từ
+ Thời đoạn ngắn : Chốc lát, chút, thời khắc
Ví dụ : Ngó em không dám ngó lâu / Ngó em một chút đỡ sầu mà thôi(Im lặng)
+ Thời đoạn dài : Mãi mãi, vạn thuở, muôn đời
Ví dụ: Đã hôn rồi hôn lại / Cho đến mãi muôn đời (Biển )Tìm giúp
anh với em ơi ! / Sắc hoa vạn thuở, tình ngời muôn năm (Tìm )
Nhóm danh từ biểu thị thời điểm (các mốc thời gian ) có thể chia làm hainhóm nhỏ
- Nhóm biểu thị một thời điểm cụ thể gồm các từ : lúc, khi
Khi : lúc , thời điểm
Trang 38Ví dụ : Những khi xa cách một mình / Nhớ em đàn, nhớ hồn thanh cây
đàn (Đàn ) Tiếc lúc trăng vàng soi bóng biếc / Khổ khi hoa nở một mình anh(Nguyện )
Lúc: Khoảng thời gian ngắn, thời điểm gắn với hoạt động hay sự kiện nào
Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi / Trong vờn thơm ngát của hồn tôi (Nguyên
đán)
- Nhóm biểu thị thời gian chung gồm các từ : thuở, độ, hồi
Thuở : thời gian nào đó đã khá lâu so với hiện tại lúc nói đã lùi xa trong
quá khứ
Ví dụ : Hoa cúc nở có ngời chờ đợi trớc / Ngời thuở ấy du dơng từng
kiểu bớc (Mơ xa ) Hãy uống thơ tan trong khúc nhạc / Ngọt ngào kêu gọi thuở
xa khơi (Huyền diệu).
Hồi : Là khoảng thời gian tơng đối ngắn, xem nó nh là một thời điểm đã
diễn ra một sự việc nào đó
Ví dụ : Ngời sẽ nằm êm không nhớ tôi, / Đêm đêm hoa biếc nở đôi hồi(Giã từ thân thể)
Sự xuất hiện các danh từ không đều Những từ có tần số xuất hiện caotrong thi phẩm nói chung là : đêm (114lần), ngày (77 lần), chiều( 72 lần), xuân(62 lần) năm (40lần), khi (40lần), tháng (36lần), tối (15lần), lúc (18lần), hồi(1lần) Tuy nhiên mỗi lần xuất hiện nh thế nó gắn với những ý nghĩa tâm trạngkhác nhau Chẳng hạn :
- Thời gian với ý nghĩa xác định :
Ngẩng đầu ngắm mãi cha xong nhớ / Hoa bởi thơm rồi: đêm đã khuya
(Buồn trăng)
- Thời gian trong sự so sánh mới lạ, không còn tuân theo qui luật hợp
nghĩa của ngôn ngữ, thời gian đợc mở ra không gian trong cái nhìn hớng ngoại:
Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ / Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo.
Có thể thấy, các danh từ biểu hiện ý nghĩa thời gian xuất hiện dày đặctrong mỗi câu thơ, dòng thơ, bài thơ tình của Xuân Diệu Chúng là những chấtliệu có sẵn, không lạ lẫm nhng qua cách sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Xuân
Trang 39Diệu, đã làm nên sự đa dạng, muôn vẻ cho thơ anh, thể hiện t duy độc đáo, mộttrái tim yêu thơng luôn khao khát Phải chăng, vì thế mà chỉ nói riêng vềkhoảng thời gian không còn ánh sáng mặt trời cũng đã biến hóa kỳ diệu (đêmtối, bóng tối, tối thêm, giữa tối, tối đầy, chiều vàng, chiều say, chiều hôm, chiềuêm ).
b) Nhóm động từ biểu hiện ý nghĩa thời gian
Động từ là một trong hai từ loại cơ bản trong hệ thống từ loại tiếng Việt
Động từ có số lợng khá lớn trong vốn từ vựng và có vai trò hoạt động ngữ pháphết sức quan trọng trong việc tổ chức cấu tạo câu tiếng Việt
Về đặc điểm ý nghĩa: động từ biểu thị ý nghĩa hoạt động có quá trình haynhững trạng thái nhất định của sự vật
Về đặc điểm ngữ pháp: động từ làm thành tố trung tâm trong ngữ động từ.Khi làm trung tâm động từ có khả năng kết hợp với các thành tố phụ đứng trớchoặc đứng sau
Ví dụ: Ngày nào em bé cỏn con / Bây giờ em đã lớn khôn thế này (Cadao)
Trong thơ tình Xuân Diệu các động từ hàm nghĩa thời gian cũng xuất hiệntơng đối nhiều, gồm các từ : bắt đầu, chờ đợi, chờ, qua,
Ví dụ: Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh / Từ đây anh
không đợc yêu em ở trong sự thật / Một cái gì đã qua , một cái gì đã mất (Anh
đã giết em)
Động từ xuất hiện với số lợng tơng đối lớn 41 lợt để bổ trợ, kết nối các từngữ biểu hiện ý nghĩa thời gian Trong thời gian các sự vật bao giờ cũng đợcxuất hiện một cách trình tự Do vậy sự có mặt của đa dạng các động từ làm tăngthêm vẻ phong phú, sinh động của các trạng thái, hoạt động thời gian, làm cho “nhân vật” mà nhà thơ gửi gắm hấp dẫn hơn, khơi gợi hơn
c) Nhóm tính từ biểu hiện ý nghĩa thời gian
Trong tiếng Việt tính từ cũng là một loại từ cơ bản có vị trí quan trọng saudanh từ và động từ
Trang 40Về đặc điểm ý nghĩa: Tính từ là từ loại chỉ tính chất sự vật của hoạt động
và trạng thái
Về đặc điểm ngữ pháp: phần lớn tính từ tiếng Việt không tự thân có nghĩa
về mức độ, vì vậy nó thờng kết hợp với phụ từ chỉ mức độ Ví dụ:Rất tốt Khá đẹp Yêu ghê…
Tính từ cũng bao gồm nhiều nhóm, trong đó có nhóm tính chất, trạng tháimức độ của thời gian Đó là: khuya, sớm, lâu, nhanh, chậm, muộn, Trong thơtình Xuân Diệu, tính từ thời gian này gồm có: khuya, sớm, lâu dài, lê thê, mau,muộn, vĩnh viễn, thoáng, thỉnh thoảng
Ví dụ : Mau đi thôi mùa cha ngả chiều hôm,(Vội vàng), Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn (Giục giã)
Tính từ thời gian có khả năng bộc lộ cảm xúc sự đánh giá về vòng quaycủa con ngời trong chuỗi thời gian từ quá khứ đến tơng lai
d) Nhóm đại từ chỉ thời gian
Đại từ là từ loại dùng để chỉ trỏ, xng hô và thay thế cho sự vật hoạt động, tínhchất, sự việc hay một bộ phận nào đó trong câu đã nói đến trong phần tiền ngôn( bộ phận đó có thể là một từ, cũng có thể là một đơn vị lớn hơn từ )
Nhóm đại từ biểu hiện ý nghĩa thời gian có mặt trong thơ tình Xuân Diệu baogồm các từ : bây giờ, bấy giờ, tự bấy, bấy lâu, từ đây, bao giờ, nay Tất thảy xuấthiện 30 lợt (3,8%)
- Đại từ “bây giờ” thay thế cho khoảng thời gian hiện tại: Cho đến bây
giờ ruột anh vẫn thắt / Tim anh vẫn đập nh vấp thời gian (Anh đã giết em)
- Đại từ “ bấy lâu ” thể hiện ý nghĩa từ một thời điểm nào đó theo cách ghinhận của ngơì nói đến nay: Khuôn mặt nhìn nghiêng dáng mũi cao/Bấy lâu
trong nhớ đẹp làm sao(Bức tợng).
- Đại từ “ tự bấy” tơng đơng nghĩa với cụm “ từ bây giờ”: Thôi rồi em
chẳng thờ ơ nữa / Nh dối cùng ta tự bấy nay (Bên ấy bên này).
- Đại từ “ bao giờ” gợi ý nghĩa tơng lai trong cụm “ đến bao giờ”: Bao
giờ có đợc ngời yêu dấu !/ Chứa chất trong lòng vạn đắng cay (Muộn màng).