1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đối lứa

105 224 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các tác phẩm văn học dân gian, đặc biệt là ở thể loại ca dao, các từ ngữ chỉ thời gian xuất hiện đa dạng, phong phú, nhiều tầng bậc góp phần thểhiện thế giới tâm tư tình cảm của ng

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p:// w ww.lrc.tnu e du v n

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



NGUYỄN THỊ HẠNH

TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG CA DAO

VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ht t p:// w ww.lrc.tnu e du v n

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



NGUYỄN THỊ HẠNH

TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG CA DAO

VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

Chuyên ngành : Ngôn ngữ Việt Nam

Mã ngành : 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS PHẠM HÙNG VIỆT

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các

số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong cáccông trình khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Hạnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐiHTN ht t p:// w ww.lrc.tnu e du v n

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

-*** -Trước tiên, với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn tới thầygiáo - PGS.TS Phạm Hùng Việt đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ emhoàn thành tốt luận văn này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các phòng ban chứcnăng, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văntốt nghiệp

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và các bạnhọc viên lớp Cao học ngôn ngữ K21 đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốtthời gian vừa qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 04 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Hạnh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐiiHTN ht t p:// w ww.lrc.tnu e du v n

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐiiHi

TN

ht

t p:// w ww.lrc.tnu e du v n

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC .iii

DANH MỤC BẢNG iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Khái niệm thời gian 7

1.1.1 Các quan niệm về thời gian 7

1.1.2 Thời gian trong nghệ thuật 9

1.2 Sơ lược về từ và ngữ 12

1.2.1 Về khái niệm từ, ngữ 12

1.2.2 Từ ngữ chỉ thời gian 15

1.3 Ca dao và ca dao về tình yêu đôi lứa 17

1.3.1 Khái niệm ca dao 17

1.3.2 Ca dao về tình yêu đôi lứa 18

1.4 Tiểu kết 20

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG CA DAO VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA 21

2.1 Đặc điểm nguồn gốc và cấu tạo 21

2.1.1 Về nguồn gốc 21

2.1.2 Về cấu tạo 23

2.2 Đặc điểm ngữ pháp 25

2.2.1 Về từ loại 25

2.2.2 Về Khả năng kết hợp 37

2.2.3 Về khả năng tham gia vào các thành phần câu 46

2.3 Một số cấu trúc thường gặp có sự tham gia của từ ngữ chỉ thời gian 52

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệ u – N ht t p:// w ww.lrc.tnu e du v n

ĐHiv T

2.3.1 Cấu trúc lặp 52

2.3.2 Cấu trúc so sánh 55

2.3.3 Cấu trúc đối 59

2.4 Tiểu kết 63

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG CA DAO VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA 64

3.1 Thời gian liên quan đến cảnh quan tự nhiên trong ca dao về tình yêu đôi lứa 65

3.1.1 Thời gian xác định 65

3.1.2 Thời gian không xác định 66

3.2 Thời gian hiện tại hay thời gian diễn xướng 68

3.3 Thời gian tâm lý 73

3.3.1 Thời gian gợi liên tưởng đến giai đoạn tỏ tình 73

3.3.2 Thời gian gợi liên tưởng đến giai đoạn tình yêu 77

3.3.3 Thời gian gợi liên tưởng đến những lời thề nguyền 79

3.3.4 Thời gian gợi liên tưởng đến sự hận tình 83

3.4 Tiểu kết 87

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

TrangBảng 2.1 Bảng thống kê các danh từ chỉ thời gian tiêu biểu trong Ca dao về tình yêu đôi lứa 26Bảng 2.2 Bảng thống kê từ ngữ chỉ thời gian trong Ca dao về tình yêu đôi lứa 27

Bảng 2.3 Bảng cấu trúc so sánh trong Ca dao về tình yêu đôi lứa 56

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

1.1 Trong thế giới khách quan, mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với

hệ tọa độ không gian – thời gian xác định, nên những cảm nhận của con người

về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian Từ sự đổi thaycủa không gian, thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong chính mình Vìvậy, bên cạnh không gian, thời gian trở thành một trong những đối tượng phảnánh phổ biến của tác phẩm văn học, một phạm trù thẩm mỹ Không có hìnhtượng nghệ thuật nào lại không tồn tại trong không gian, thời gian của chủ thể

sáng tạo “Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian, không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người”

(Trần Đình Sử) [43] Thời gian trong nghệ thuật cũng được coi là một hiệntượng nghệ thuật Thời gian gắn với những quan niệm về nghệ thuật, về conngười, về thế giới của chủ thể Thời gian là sản phẩm của nghệ sĩ nhằm biểuhiện về con người, về thế giới, đồng thời thể hiện quan niệm nhân sinh Thờigian còn là một yếu tố quan trọng làm nền cho tác phẩm góp phần bộc lộ chủ đềtác phẩm Thời gian trong nghệ thuật có mô hình và ngôn ngữ riêng của mình vì

nó thể hiện quan niệm về trật tự thế giới, về sự lựa chọn của con người

1.2 Trong các tác phẩm văn học dân gian, đặc biệt là ở thể loại ca dao, các

từ ngữ chỉ thời gian xuất hiện đa dạng, phong phú, nhiều tầng bậc góp phần thểhiện thế giới tâm tư tình cảm của người nghệ sĩ; cũng là một phần trong phongcách, quan niệm sáng tác của mỗi tác giả Tìm hiểu các tác phẩm ca dao dướigóc độ ngôn ngữ, không thể bỏ qua việc khảo sát các từ ngữ chỉ thời gian Bởivậy; việc khảo sát, nghiên cứu đặc điểm lớp từ ngữ chỉ thời gian trong các tácphẩm của các tác giả cụ thể đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, nhiềuhọc viên ngôn ngữ

1.3 Ca dao Việt Nam được xem là tấm gương phản ánh trung thực hìnhảnh thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam Đó là kho tài liệu phong phú vềphong tục, tập quán trong các lĩnh vực vật chất và tinh thần của nhân dân laođộng Trong đó, ca dao về tình yêu đôi lứa được coi là một tiểu loại chiếm vị trí

Trang 9

quan trọng trong kho tàng ca dao của dân tộc Tìm hiểu và nghiên cứu ca dao vềtình yêu đôi lứa, ta sẽ thấy cách thể hiện độc đáo và sâu sắc của tác giả dân gian

về đời sống tâm hồn con người Việt Nam qua bao thế hệ Nghiên cứu ca dao vềtình yêu đôi lứa theo hướng tiếp cận thi pháp, chúng ta có thể tìm hiểu được cácphương diện đề tài, cảm hứng sáng tác, nhân vật trữ tình, không gian- thời giannghệ thuật, hình thức diễn xướng Trong đó, thời gian nghệ thuật là yếu tố quantrọng trong việc thể hiện nội dung và ý đồ nghệ thuật của tác phẩm Thời gianđược diễn tả trong ca dao về tình yêu đôi lứa là thời gian nghệ thuật Mỗi thểloại văn học đều mang nét đặc thù riêng về thời gian nghệ thuật Nếu như trong

sử thi là thời gian “khuyết sử”, mang đậm chất thần thoại; thời gian trong cổtích là thời gian của quá khứ không xác định, mang tính hoang đường thì thờigian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, có nghĩa là "thời gian của tácgiả và thời gian của người đọc (người thưởng thức) hòa lẫn với thời gian củangười diễn xướng”

Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lớp từ ngữchỉ thời gian trong ca dao nói chung, trong ca dao về tình yêu đôi lứa nói riêng

Trong tình hình như vậy, chúng tôi chọn đề tài “Từ ngữ chỉ thời gian trong

ca dao về tình yêu đôi lứa” để nhằm làm rõ vai trò của lớp từ ngữ này trong ca

dao, góp phần làm rõ thêm một cái nhìn, một cách tiếp cận về phong cách sángtác của các tác giả dân gian

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu về ca dao

Những công trình nghiên cứu về ca dao trong mấy thập kỷ qua là vô cùngphong phú và đa dạng với số lượng ngày càng tăng Tuy nhiên, các công trình

có tính chất sưu tầm vẫn chiếm đa số Có thể kể ra một số công trình nghiên

cứu như: Cấu trúc ca dao trữ tình của Lê Đức Luận, Bình giảng ca dao của tác giả Triều Nguyên, Ngôn ngữ ca dao Việt Nam của Mai Ngọc Chừ,…

Với Chuyên luận Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã đi vào tìm hiểu

các vấn đề ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu, thể thơ, thi pháp diễn xướng, thờigian và không gian nghệ thuật của ca dao truyền thống

Trang 10

Trong Những thế giới nghệ thuật trong ca dao, tác giả Phạm Thu Yến đã

đề cập đến vấn đề “Thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao” Viết về

vấn đề này, tác giả khẳng định, không gian nghệ thuật trong ca dao gồm khônggian vật lý và không gian tâm lý Từ việc khảo sát những lời ca dao cổ truyền,tác giả đã rút ra đặc điểm và ý nghĩa của yếu tố nghệ thuật này

Tác giả Nguyễn Hằng Phương nghiên cứu Ca dao cổ truyền người Việt với tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ văn học đã làm rõ những biểu

hiện tiêu biểu của tính mơ hồ đa nghĩa trong một số lời ca dao cổ truyền, nhằmmục đích nhận diện tính mơ hồ đa nghĩa trên bình diện ngôn ngữ cùng vai tròcủa nó ở những lời ca dao cổ truyền, làm tiền đề cho sự bình giá có cơ sở và sựtiếp nhận sâu sắc tác phẩm

Tác giả Lê Thị Nguyệt trong Luận văn Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt đã góp phần vào việc tìm hiểu quan điểm thẩm mỹ

của nhân dân lao động về vẻ đẹp của người phụ nữ xưa Đồng thời, khẳng địnhnhững giá trị đã tạo nên vẻ đẹp, sức sống của người phụ nữ nói riêng, con ngườiViệt Nam nói chung Từ đó, phát huy những vẻ đẹp vốn có để giữ gìn bản sắcvăn hóa dân tộc

Như vậy, qua các bài nghiên cứu về ca dao, chúng tôi nhận thấy các tác giả

đã có khá nhiều đóng góp trong việc phát hiện một số đặc điểm về nội dung,nghệ thuật nổi bật của ca dao Song, tiếp cận các tác phẩm ca dao trên bình diệnngôn ngữ học còn ít và chưa có đề tài nào khảo sát, nghiên cứu đặc điểm lớp từngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa

2.2 Sơ lược về nghiên cứu Từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao

Thời gian nghệ thuật là một yếu tố thi pháp được một số nhà nghiên cứu

quan tâm D.X.Likhachop trong cuốn Thi pháp văn học Nga cổ đã nói: “Thời gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả, là sự ý thức và cảm giác về sự vận động và đổi thay của thế giới trong các hình thức đa dạng của thời gian xuyên suốt tác phẩm văn học” Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “Thời gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [4] Trong Giáo trình Dẫn luận thi pháp học, giáo sư Trần

Trang 11

Đình Sử cho rằng “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể nghiệm được trong tác phẩm với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tai, quá khứ hay tương lai” [43] Thời gian nghệ thuật là sản

phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nó gợi lên trong trí tưởng tượng của chúng ta quacác tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét Để tạo nên thời gian nghệthuật cho mỗi tác phẩm luôn có những lớp từ ngữ mang nét đặc trưng riêng Đã

có việc khảo sát, nghiên cứu các từ ngữ chỉ thời gian nghệ thuật trong tác phẩmcủa một vài tác giả

Về cách diễn đạt thời gian, trong bài Về một phương diện trong ca dao,

Trần Thị An đã đưa ra nhận xét rằng trong ca dao tình yêu, thời gian cá nhânriêng biệt, thời gian khách quan, thời gian xã hội bị nhạt nhòa Do đó, trongviệc miêu tả thời gian, người bình dân thường sử dụng những cách nói ước lệ,công thức

Tác giả Lý Thơ Phúc trong bài viết Không gian và thời gian nghệ thuật trong ca dao tình yêu đôi lứa ở Phú Yên đã trình bày những đặc trưng cơ bản

của không gian và thời gian trong các bài ca dao về tình yêu đôi lứa, làm nổi bậtcác kiểu thời gian và không gian được sử dụng, những phương tiện nghệ thuậtnhằm giãi bày tình cảm, cảm xúc của con người Phú Yên

Trên cơ sở nguồn tư liệu quí báu có tính gợi mở, định hướng của các bài

nghiên cứu, thẩm bình, lựa chọn đề tài “Từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về

tình yêu đôi lứa”, chúng tôi cố gắng tìm ra cách tiếp cận ca dao tình yêu đôi lứa

ở một góc độ mới: tìm hiểu cách tổ chức ngôn từ của tác giả dân gian trong việcbiểu hiện thời gian nghệ thuật

3 Đối tượng và phạm vi

3.1 Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các từ ngữ chỉ thời

gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa

3.2 Phạm vi tư liệu: Các tư liệu khảo sát trong Luận văn được thu thập từ

những bài ca dao về Tình yêu đôi lứa trong Kho tàng ca dao người Việt (Tập 1,

Tập 2) Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên, do NXB Văn hóaThông tin tái bản năm 2001

Trang 12

4.2 Nhiệm vụ: Luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Hệ thống hóa các quan điểm về các từ chỉ thời gian trong ca dao để có cơ

sở vững chắc cho việc thực hiện các thao tác nghiên cứu về từ ngữ chỉ thời giantrong ca dao về tình yêu đôi lứa

- Xác định và phân tích các đặc điểm về cấu tạo và các nội dung ngữ nghĩacủa từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa

- Trên cơ sở khảo sát, thống kê, phân loại các từ ngữ chỉ thời gian trong cadao về tình yêu đôi lứa, chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong cách tổ chức ngôn

từ của tác giả dân gian khi biểu hiện thời gian nghệ thuật

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này được sử dụng để thống kê và phân loại các đơn vị từngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở phạm vi nguồn tư liệukhảo sát đã xác định

5.2 Phương pháp miêu tả

Được sử dụng để miêu tả các đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của từ ngữchỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa, từ đó rút ra các kết luận về đốitượng nghiên cứu

5.3 Phương pháp phân tích

Được sử dụng để phân tích nội dung các bài ca dao về tình yêu đôi lứa có

sử dụng từ ngữ chỉ thời gian từ đó làm rõ vai trò của lớp từ ngữ này trong việcbiểu hiện các chủ đề trong ca dao về tình yêu đôi lứa

Trang 13

6 Đóng góp của Luận văn:

Luận văn đưa ra cách tiếp cận mới trên cơ sở vận dụng kiến thức ngôn ngữhọc vào việc nghiên cứu ca dao về tình yêu đôi lứa Cung cấp các cứ liệu về đặcđiểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa cũng như giá trị của lớp từ ngữ chỉ thời giantrong ca dao về tình yêu đôi lứa Từ những kết quả khảo sát của đề tài, luận vănđóng góp thêm một cách tiếp cận về ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học, giúp choviệc phân tích và giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian trong nhà trườngphổ thông có cơ sở và có sức thuyết phục hơn

7 Bố cục Luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Chương 2: Đặc điểm cấu trúc của từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa;

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao

về tình yêu đôi lứa

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm thời gian

1.1.1 Các quan niệm về thời gian

Ngay từ thời xa xưa, con người đã hiểu rằng, bất kì khách thể vật chất nàocũng chiếm một vị trí trong khoảng không gian, thời gian nhất định A.Ja

Gurevich trong cuốn “Các phạm trù văn hóa trung cổ” đã chỉ ra cách lý giải của người trung cổ về khái niệm thời gian: “Thời gian và không gian có tính chất khách quan, những phẩm chất của chúng độc lập với chất liệu được chứa trong chúng” [22] Chính vì vậy, thời gian đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều

ngành khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội, trong đó có Ngôn ngữ học.Trong lịch sử triết học, thời gian (cùng với không gian) là một phạm trùxuất hiện sớm Cùng với không gian, thời gian gắn liền với vật chất và làphương thức tồn tại của vật chất Không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bênngoài thời gian và không gian Ngược lại, cũng không thể có thời gian và không

gian ở bên ngoài vật chất Lê nin cho rằng: “Trong thế giới khách quan không

có gì khác tồn tại ngoài vật chất chuyển động và vật chất không thể chuyển động ở đâu khác ngoài không gian và thời gian”[44] Ăng ghen cũng khẳng định: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian Tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian”[44] Như

vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Duy vật, thời gian và không gian tồn tạihoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người và là những kháiniệm hoàn toàn độc lập với nhau

Nhìn nhận thời gian trong ngôn ngữ xét ở góc độ mối quan hệ ngôn ngữ

-văn hóa - tư duy, Eichinger phát biểu: “Các cách thức nói về không gian và thời gian trong một ngôn ngữ được hiểu như là những sự trừu tượng hóa có tính chức năng và được tiến hành theo quy tắc các kinh nghiệm trong cuộc sống của

Trang 15

các cộng đồng văn hóa nói ngôn ngữ đó” [47, tr 51] Không gian và thời gian

là những yếu tố định vị bắt buộc của mọi hành động, sự kiện diễn ra trong hiệnthực khách quan Mỗi một dân tộc cảm nhận và thể hiện không gian và thờigian vào trong ngôn ngữ của mình theo những cách thức riêng biệt Theo

Wendorff: “thời gian ở những nền văn hóa khác nhau thì được cảm nhận và đánh giá khác nhau” [46].

Nhà toán học Hermann Minkowski lại cho rằng thời gian không tồn tại độclập mà phụ thuộc vào không gian tạo thành một thể thống nhất và là chiều thứ

tư của không gian Quan điểm này có liên quan tới thuyết tương đối củaEinstein trong vật lý hiện đại Eintein cho rằng, không gian cùng với thời gianthông qua tốc độ của ánh sáng tạo thành một thể thống nhất gọi là không gianbốn chiều

Theo quan điểm của khoa học tự nhiên (vật lý học) thời gian là một k h áini

ệm đ ể diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài củachúng Thời gian được xác định bằng số lượng các chuyển động của các đốitượng có tính lặp lại (sự lượng hoá các chuyển động lặp lại) và thường có mộtthời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó

Theo cuốn Hán Việt – giản yếu từ điển (Đào Duy Anh biên soạn): “Thời gian chỉ ba trạng thái quá khứ, hiện tại và vị lai lưu chuyển với nhau vô cùng” [

2 ]

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa: “Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian), trong đó vật chất vận động và phát triển liên tục, không ngừng” [39].

Theo thi pháp học, thời gian là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, làsản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện mộtquan niệm nhất định về cuộc sống Thời gian trong nghệ thuật thể hiện quanniệm về trật tự, thế giới và sự lựa chọn của con người

Như vậy, mỗi ngành khoa học có một phương pháp, mục đích nghiên cứukhác nhau nên có cách nhìn nhận, quan niệm không giống nhau về thời gian

Trang 16

Khoa học ngôn ngữ xem xét thời gian trong tác phẩm văn học với tư cách là mộtphạm trù nghệ thuật nên cũng sẽ có những đặc thù riêng Bên cạnh thuộc tínhvật lý tự nhiên, thời gian trong tác phẩm văn học còn mang tính biểu trưng vàtính quan niệm.

1.1.2 Thời gian trong nghệ thuật

Như chúng ta đã biết, thời gian nghệ thuật cũng được coi là một hiện tượngnghệ thuật, không có hình tượng nghệ thuật nào có thể tồn tại ngoài thời gian

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao: “Thời gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật” [28; tr 28].

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật” [4; tr 322].

Trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể nghiệm được trong tác phẩm với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tai, quá khứ hay tương lai” [43] Trên thực tế không có hình tượng nghệ

thuật nào không tồn tại trong thời gian và bản thân người kể chuyện hay nhà thơtrữ tình cũng nhìn sự vật bằng một điểm nhìn nhất định trong thời gian Khácvới thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật cóthể đảo ngược quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn

Trang 17

nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành

vô tận

Như vậy, có thể thấy rằng thời gian nghệ thuật là một dạng tồn tại đặc biệt,

có quan hệ mật thiết với thời gian vật lý Nếu như thời gian vật lý tồn tại mộtcách khách quan bên ngoài ý thức của con người thì thời gian nghệ thuật lạimang đậm dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo Đó là thời gian tinh thần củacon người, là thời gian sống mà con người cảm nhận Hay nói cách khác, thờigian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nó gợi lên trong trí tưởngtượng của chúng ta qua các tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét

Ví dụ:

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà

Thời gian trong bài ca dao Hôm qua tát nước đầu đình đều là thời gian mang tính chất phiếm chỉ: hôm qua, đã lâu, mai, đến lúc lấy chồng mà tác giả

dân gian sử dụng làm phương tiện để giãi bày, thể hiện tình cảm của mình mộtcách ý nhị, sâu sa, nhưng cũng vô cùng thông minh, dí dỏm Để có dịp thổ lộtình yêu với cô gái, chàng trai mượn cớ quên áo, hỏi xin, nhân đó gợi chuyệnlàm thân rồi lân la ngỏ ý cầu hôn

Câu chuyện bỏ quên áo trong bài ca dao Tát Nước Ðầu Ðình trên là hoàntoàn hư cấu Hư cấu từ thời gian nghệ thuật cho đến các tình tiết diễn ra trongbài ca dao Nhưng cũng chính nhờ vào tài đặt chuyện và dẫn chuyện một cáchkhéo léo, dí dỏm ấy mà chàng trai ở đây đã bộc lộ được một sự thực, rất thực, làtình yêu trong sáng, thơ mộng, lãng mạn và cũng rất trân trọng, đằm thắm củachàng đối với người bạn gái mà chàng muốn cưới làm vợ Điều này chứng tỏ bài

ca dao trên đã rất thành công cả về nghệ thuật dựng chuyện, cũng như nghệthuật sử dụng những phương thức diễn đạt, trong đó có thời gian nghệ thuật

Trang 18

Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặplại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ,chia tay, mùa này, mùa khác,… tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm Thời giannghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật Khi nàongòi bút nghệ sĩ chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nàodừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lại.

Ví dụ:

Trăm năm dẫu lỗi hẹn hò Cây

đa bến cũ, con đò khác đưa Cây

đa, bến cũ còn lưa Con đò năm ngoái, năm xưa đâu rồi?

Năm ngoái - thời gian mới đây, khi trở về, cô gái vẫn là của chàng trai Vậy mà cái năm xưa lại được đặt ở sau gây ra một nỗi buồn hun hút, một sự hụt

hẫng không diễn tả thành lời

Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới

Có thời gian nghệ thuật không tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện như truyện

cổ tích, có thời gian nghệ thuật xây dựng trên dòng tâm tưởng và ý thức nhưtiểu thuyết, có tác phẩm dừng lại chủ yếu trong quá khứ, khép kín trong tươnglai, có thời gian nghệ thuật trôi trong các diễn biến sinh hoạt, có thời gian nghệthuật gắn với các vận động của thời đại, lịch sử, lại có thời gian nghệ thuật cótính vĩnh viễn, đứng ngoài thời gian như thần thoại

Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trongtừng thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độcđáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới Trong thếgiới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu có tínhtiêu đề được giấu kín để miêu tả đời sống trong tác phẩm cho thấy đặc điểm tưduy của tác giả Tác giả có thể chọn điểm bắt đầu và kết thúc, có thể kể nhanhhay chậm, có thể kể xuôi hay đảo ngược, có thể chọn điểm nhìn từ quá khứ,

Trang 19

hiện tại, tương lai, có thể chọn độ dài một khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiềucuộc đời Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo của nghệ thuật.

Tóm lại, thời gian nghệ thuật là mô hình thời gian của thế giới nghệ thuật.Thời gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với không gian nghệ thuật vàchính mối quan hệ đó đã đem lại cho người thưởng thức nghệ thuật sức liêntưởng mạnh mẽ Thời gian nghệ thuật không chỉ mang tính chủ quan mà cònmang tính tượng trưng, quan niệm Nghĩa là chủ thể sáng tạo luôn tạo ra thờigian nghệ thuật để thể hiện một quan niệm nhất định của mình về thế giới vàcuộc sống con người Không những vậy, thời gian nghệ thuật còn mang một cấutrúc đặc biệt, nó gắn liền với điểm nhìn của con người trong tác phẩm văn học

1.2 Sơ lược về từ và ngữ

1.2.1 Về khái niệm từ, ngữ

a Theo cuốn Từ vựng, ngữ nghĩa, tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số ấm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [8].

Các thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo, thànhphần ý nghĩa không độc lập đối với nhau mà quy định lẫn nhau, thống nhất vớinhau thành một hợp thể gọi là từ Một mình thành phần ngữ âm không thể cho tabiết nó có phải là từ hay không hoặc không thể cho ta biết nó là một hay là nhiều

từ Khi một thành phần nào đó thay đổi thì có khi chúng ta phải thừa nhận là cónhiều từ khác nhau mặc dầu các thành phần kia - nhất là thành phần ngữ âm vẫngiữ nguyên

Các thành phần của từ, trừ thành phần ngữ âm không phải là riêng của mỗi

từ Thành phần cấu tạo, thành phần ngữ pháp và thành phần ý nghĩa xuất hiệntrong từ này cũng có thể xuất hiện trong một số từ khác

Ví dụ: Từ Máy bay cũng có thành phần cấu tạo chung với các từ máy ủi, máy súc, máy cày, máy gặt,… Thành phần ngữ pháp của từ cối cũng là thành

Trang 20

phần ngữ pháp của các từ súng, súng lục, súng trường, đại bác, pháo, B40, khẩu cối, khẩu súng, khẩu đại bác… và ý nghĩa vũ khí của nó cũng là ý nghĩa của các

từ vừa dẫn

Nói một cách khác, các thành phần cấu tạo, thành phần ngữ pháp và thànhphần ý nghĩa của từ có tính đồng loạt chứ không phải chỉ có tính riêngbiệt Chính nhờ tính đồng loạt của các thành phần mà khi gặp một hình thức ngữ

âm nào đó, chúng ta mới có thể quyết định nó là từ nào và sử dụng theo cáchnào Dựa vào mặt cấu tạo có thể phân loại từ tiếng việt thành hai loại: Từ đơn và

từ phức (từ láy và từ ghép)

Theo Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng, ngữ nghĩa, tiếng Việt”: Từ đơn là

những từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa, chúng không lập thành những hệthống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta chỉ lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa củatừng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnhhội ý nghĩa của từ

Từ phức bao gồm hai tiểu loại: từ láy và từ ghép Từ láy là những từ đượccấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phậnhình thức âm tiết của một hình vị hay đơn vị có nghĩa Từ ghép được sản sinh

do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ,độc lập đối với nhau

b Ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ,cấu tạo là cấu tạo của cụm từ) nhưng đã cố định hóa cho nên cũng có tính chấtchặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính chất xã hội như từ Tính thành ngữ có nhữngmức độ từ thấp đến cao

Ví dụ: ngữ cố định: Chờ hết nước hết cái khác với nghĩa của các cặp từ ghép biệt lập hay ghép phân nghĩa Động từ chờ vẫn giữ nguyên tính chất nghĩa của nó Cụm từ hết nước hết cái được hiểu là sự chờ đợi đã kéo dài khá lâu vượt

mức nhẫn nại của người phải chờ, khiến cho người đó phải sốt ruột, bực dọc

Trang 21

Do sự cố định hóa và tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều cótính thành ngữ Cuốn Từ vựng, ngữ nghĩa Tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu địnhnghĩa tính thành ngữ như sau: Cho một tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị A, B,C… mang ý nghĩa lần lượt s[1], s[2], s[3]… tạo nên, nếu như nghĩa S không thểgiải thích bằng các ý nghĩa s[1], s[2], s[3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ.

Ví dụ: Hết nước hết cái là tổ hợp có tính thành ngữ vì ý nghĩa “quá dài, quá

mức chịu đựng, bực dọc, sốt ruột” của nó không thể giải thích được bằng các

nghĩa của hết nước, hết cái…

Ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa, tuy nhiên có nhiều ngữ cố định có

hình thức cấu tạo là các câu như: Chuột chạy cùng sào, Chim sa cá lặn, Chó ngáp phải ruồi; có cấu tạo là câu ghép như: Gió chiều nào che chiều ấy, Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng… Do đó, căn cứ để xác định ngữ cố định là tính tương

đương với từ của chúng về chức năng cấu tạo câu

Có những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do như: Nói cách khác, Một mặt thì, Trước hết, Nghĩa là, Tức là… Đây là các cụm từ tự do

đã được cố định hóa do nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyênphải lặp đi lặp lại vì cần thiết cho sự suy nghĩ và diễn đạt

Ngữ cố định có tính chất chặt chẽ, cố định nhưng chúng vẫn có khả năng

rút gọn Ví dụ: chết nhăn răng rút gọn thành nhăn răng, tốt mã giẻ cùi rút gọn thành tốt mã Hoặc chúng có thể được mở rộng, thêm thành phần như: Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng có thể mở rộng thành Ăn cơm nhà mà lại đi thổi tù và hàng tổng… Hoặc được thay thế bằng các từ cùng trường nghĩa hay đồng nghĩa như: Đi guốc trong bụng thành lê dép quèn quẹt trong bụng… Tuy nhiên, dù có

biến đổi thế nào thì các biến thể của ngữ cố định vẫn không được phép vượt quákết cấu và các liên hệ ngữ nghĩa vốn có trong ngữ quá xa

Trang 22

1.2.2 Từ ngữ chỉ thời gian

Cũng như một số ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt, thời gian có thểđược biểu thị bằng nhiều từ ngữ khác nhau Để định vị và định lượng thời

gian (tức xác định thời điểm và thời lượng), người Việt thường dùng các từ ngữ

chỉ thời gian, trong đó thông thường là các danh ngữ mà thành phần trungtâm là các danh từ chỉ thời gian

Các danh từ có ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt thường là: ngày, hôm, tuần, tháng, năm, thời (đời), thuở, sáng, trưa, chiều, tối, đêm, ban, khi, lúc, chừng, hồi, dạo (độ), lần, phút, giây, chốc, lát, trước, sau…

Khi cấu tạo danh ngữ biểu thị thời gian, chỉ cần thêm vào trước loại danh

từ này một từ định lượng (một, hai, ba, bốn, mấy, các, những…) hoặc một từ định vị (này, kia, nọ, ấy, đó…).

Ngoài ra, các danh từ có ý nghĩa thời gian này có thể kết hợp với nhau tạo

thành những tổ hợp từ có ý nghĩa khái quát như: ngày ngày, ngày đêm, hôm sớm, sáng khuya, trước nay, nay mai, mai sau,… Các danh từ, danh ngữ dùng

làm chỉ tố định vị thời gian này có thể phân loại như sau:

* Các từ ngữ chỉ thời điểm, tức là những từ ngữ dùng để định vị thời gian

như: nay, mai, trước, sau, sáng, trưa, chiều, tối, chiều chiều, đêm đêm,… Các

từ ngữ chỉ thời điểm lại có thể chia ra làm ba loại nhỏ:

- Từ ngữ chỉ thời điểm có tính chất định vị thời gian khái quát, bao gồm:

mai, sau, hiện, giờ, trước, sáng, trưa, chiều, tối, v.v…

- Từ ngữ chỉ thời điểm có tính chất định vị thời gian phỏng định, bao gồm:

sáng sáng, trưa trưa, chiều chiều, tối tối (các từ này có nghĩa là gần sáng, gần

trưa, gần chiều, gần tối một chút)

- Từ ngữ chỉ thời điểm có tính chất định vị thời gian lặp lại, bao gồm: sáng sáng (với nghĩa là sáng nào cũng), trưa trưa (với nghĩa là trưa nào cũng), chiều chiều (với nghĩa là chiều nào cũng), tối tối (với nghĩa là tối nào cũng), đêm đêm

Trang 23

(với nghĩa là đêm nào cũng), ngày ngày (với nghĩa là ngày nào cũng), tháng tháng (với nghĩa là tháng nào cũng).

* Các từ ngữ chỉ thời đoạn, tức là những từ ngữ dùng để định lượng thời

gian, gồm: ngày, đêm, buổi (bữa), tuần, tháng, năm, mùa, giây phút, trước sau, ngày đêm, sớm khuya, sớm tối, sáng tối, sáng đêm,…

Trong số các từ được dùng để chỉ thời đoạn nêu trên (ngày, đêm, buổi hoặc bữa, tuần, tháng, năm, mùa,…), chỉ có những từ nào có khả năng kết hợp với những định ngữ đứng sau (thường là những từ chỉ định như: này, đó, kia, trước, sau … hoặc một số định ngữ khác) và những từ ngữ chỉ thời lượng có tính chất

cụ thể như: 8 giờ, 8 giờ đến 10 giờ, năm 1975, năm 1945 đến năm 1954,…thì

mới được xem là những từ ngữ chỉ thời điểm có khả năng định vị thời gian cụ

thể Còn các từ như: ngày đêm, sớm khuya, sớm tối, sáng tối,…có khả năng

định hướng thời gian mang tính khái quát

* Các từ ngữ có ý nghĩa thời gian phi thời điểm - phi thời đoạn, bao gồm:

hôm, ban, thời, thuở, khi, lúc, hồi, dạo, lần, thời gian, Các từ có ý nghĩa phi

thời điểm - phi thời đoạn chỉ có khả năng chỉ thời điểm định vị thời gian khi

chúng kết hợp với định ngữ đứng sau chúng, chẳng hạn như: hôm đó, khi ấy, lúc nãy, thời trước, thời sau, thuở xưa, đời trước, đời sau, dạo này, hồi còn đi học, thuở còn thơ, thời gian này, giây phút đó, …

Trang 24

1.3 Ca dao và ca dao về tình yêu đôi lứa

1.3.1 Khái niệm ca dao

Theo cuốn Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia Khánh chủ biên) thì:

“Ca dao vốn là thuật ngữ Hán Việt, theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…”[ 27].

Theo Từ điển Tiếng Việt, "ca dao là thơ ca dân gian được truyền miệng

dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc Ca dao là thể loại văn vần, thường làm theo thể thơ lục bát" [39; tr 132].

Vũ Ngọc Phan định nghĩa về ca dao như sau: "Ca dao là một thể thơ dân gian, có thể phân nhỏ các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao"[38].

Nguyễn Xuân Kính cho rằng: "Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững trong phong cách Và ca dao đã thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian" [29; tr 56].

Như vậy, ca dao có thể được hiểu là một thể loại trữ tình của văn học dângian, về hình thức, nó là thơ có nhịp điệu, có tiết tấu

Nội dung cơ bản của ca dao nhằm phản ánh tâm tư, tình cảm, tâm hồn củacon người Việt Nam (tình cảm gia đình; tình yêu đôi lứa; thân phận con người;tình yêu quê hương, đất nước…); phản ánh lịch sử và đời sống xã hội thờiphong kiến; phản ánh cuộc sống lao động, kinh nghiệm sản xuất; phản ánh triết

Trang 25

kiểu cấu tứ này có thể làm xuất nhiều biến thể khác Ngôn ngữ trong ca dao vừa

có tính dân tộc, vừa có tính địa phương, vì vậy, nó vừa đa dạng, vừa thống nhất.Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại và mang tính phiếm

chỉ, thường được miêu tả bằng những mô típ quen thuộc: sáng ngày, chiều chiều, ngày ngày, hôm qua, bây giờ, đêm trăng thanh, đêm khuya, đêm qua…

Không gian nghệ thuật trong ca dao vừa là không gian thực tại khách quan,vừa là không gian trong trí tưởng tượng mang tính chất tượng trưng của tác giảdân gian, đó là không gian làng quê bình dị gắn với những địa điểm sinh hoạt

quen thuộc của người dân lao động như: cây đa, bến nước, sân đình, cây cầu…

1.3.2 Ca dao về tình yêu đôi lứa

Từ xưa đến nay, tình yêu luôn là đề tài muôn thủa của con người Tình yêuđôi lứa trong văn học nói chung và trong ca dao nói riêng chiếm số lượng lớn.Trong kho tàng ca dao dao người Việt, ca dao viết về tình yêu đôi lứa là mảng

đề tài phong phú nhất Hầu hết những bài ca dao này được sáng tác ra trongnhững điều kiện của mối quan hệ nam nữ ở nông thôn Việt Nam trước đây.Trong ca dao người Việt, tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưngcũng rất chân thành, giản dị Trai gái ở nông thôn thường gặp gỡ, tìm hiểu nhau,thổ lộ tình cảm với nhau trong khi cùng nhau lao động, trong những ngày hội hè,vui xuân

Ca dao về tình yêu đôi lứa có nội dung phản ánh mọi biểu hiện của tìnhyêu trong tất cả các giai đoạn của nó: giai đoạn gặp gỡ ướm hỏi nhau, giai đoạngắn bó, trao đổi những lời thề nguyền, những tặng vật cho nhau, giai đoạn hạnhphúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung hoặc sự thất bại đau khổvới những lời than thở oán trách… Nói chung, ca dao tình yêu chứa đựng mọicung bậc tình cảm của con người khi yêu và là mảng văn nghệ dân gian rất giàugiá trị Có thể chia Ca dao về tình yêu đôi lứa thành các chủ đề cụ thể:

* Ca dao tỏ tình: Hầu hết những nam nữ thanh niên ngày xưa họp mặt vào

những dịp lễ hội, đình đám Tuy nhiên, dịp thuận lợi phổ biến nhất để học gặpnhau thường là trong công việc đồng áng Vì thế, họ thổ lộ tâm tình trong

Trang 26

những câu ca, bài hát thì những tâm tình ấy thường gắn liền với ruộng vườn Tabắt gặp những vần thơ rất đẹp:

Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

* Ca dao tương tư - yêu đương: Sau giai đoạn tỏ tình là đến giai đoạn

tương tư - yêu; và đây là quãng thời gian thơ mộng nhất cũng như đầy thửthách nhất Nào yêu thương, nào nhớ nhung, nào giận hờn, nào xa cách, nàođợi chờ Đó là tâm trạng rạo rực nhớ nhung của nhân vật trữ tình:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than

* Ca dao thề nguyền: Tình yêu vốn có nhiều cung bậc, có buồn vui, ngọt

bùi, đắng cay…và cũng có sự bất hạnh nữa Bên cạnh những lời tỏ tình, traoduyên thì những lời thề nguyền gắn bó keo sơn lại càng không thể thiếu được

Nó được xem như là chất keo dính, là một sự khẳng định cho tình yêu đôi lứa.Lời thề nguyền ấy nhằm thể hiện ý chí, nghị lực của hai bên nhằm làm động lựcvượt qua chông gai, thử thách để mong ước được đến với nhau Nói khác hơn,lời thề nguyền ấy có tính chất lằm tăng sức mạnh cho hai người trong việchướng về lý tưởng cả hai cùng đang thêu dệt

Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày Dẫu xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.

* Ca dao hận tình: Khi bao nhiêu mộng ước không thành, đôi lứa không

đến được với nhau thì một trong hai trách móc, hận thù nhau; hoặc đã đến đượcvới nhau nhưng không tìm thấy được hạnh phúc trong đời sống hôn nhân nhưnhững mộng ước thật đẹp mà hai người trước kia hằng mơ ước Hận trách đó,

có khi trách móc Ông trời, trách móc ông Tơ bà Nguyệt, ông mai bà mối và

Trang 27

luôn có một một thức nhất định: trách người…trách ai… tiếc công… Đó có thể

là tâm trạng đầy tiếc nuối của nhân vật trữ tình:

Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nồ ra xanh biếc

Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!

1.4 Tiểu kết

Trong Chương 1, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề mang tính lý thuyết

và thực tiễn có liên quan đến đề tài Các vấn đề được trình bày gồm: các quanniệm, ý kiến, các khái niệm, nghiên cứu về thời gian, thời gian nghệ thuật,những đặc trưng của thời gian nghệ thuật cũng như nét khác biệt của thời giannghệ thuật với thời gian vật lý; một số điểm sơ lược về từ ngữ và từ ngữ chỉthời gian; những đặc điểm cơ bản của ca dao trữ tình Đồng thời; ở chương 1,chúng tôi cũng nêu một vài đặc điểm của thời gian nghệ thuật trong ca dao đểlàm cơ sở khảo sát đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ thời giantrong những chương sau

Trang 28

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG

CA DAO VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

2.1 Đặc điểm nguồn gốc và cấu tạo

2.1.1 Về nguồn gốc

Trong Tiếng Việt, xét về nguồn gốc, từ chia làm hai loại: từ thuần Việt và

từ vay mượn Trong ca dao về tình yêu đôi lứa, từ ngữ chỉ thời gian chủ yếu làcác từ ngữ thuần Việt Từ vay mượn chiếm tỉ lệ nhỏ với các từ Hán Việt

2.1.1.1 Từ thuần việt

Từ thuần trong thuần Việt có nghĩa là bản ngữ (ngôn ngữ bản địa) hay

thuần chủng không pha tạp Từ thuần Việt là lớp từ cơ sở được người Việt sửdụng từ xa xưa đến nay Phan Ngọc cho rằng, từ thuần Việt có thể không phải

là những từ do bản thân người Việt sáng tạo ra và khẳng định bất kì từ nào đơntiết cũng có thể là từ thuần Việt Từ thuần Việt vì thế có một sắc thái riêng khi

sử dụng trong các sáng tác văn chương, đó là sự mộc mạc, giản dị, gần với lời

ăn tiếng nói dân dã thường ngày của nhân dân lao động

Trong Ca dao về tình yêu đôi lứa, từ thuần Việt chỉ thời gian xác định vàphiếm định với 2.717/2.978 lượt từ, chiếm 91,2 %

Xét về cấu tạo, các từ ngữ thuần Việt chỉ thời gian xuất hiện khá đa dạng ở

cả từ đơn âm tiết và đa âm tiết:

- Từ đơn âm tiết: ngày, mai, xưa, nay, đêm, trước, sau…

- Từ đa âm tiết: một mai, bây chừ, bây giờ, ngày mai, ngày xưa, …

Ca dao nói chung và ca dao về tình yêu đôi lứa nói riêng là những sáng tácvăn học truyền miệng của tầng lớp bình dân, do đó các tác giả dân gian thường

sử dụng các từ ngữ thuần Việt có tính chất giản dị, suồng sã, gần gũi với lối nóikhẩu ngữ trong sinh hoạt hàng ngày của người dân lao động

Ví dụ:

Chiều chiều khăn bận áo ôm

Đi tìm người bạn từ đầu hôm tới giừ

Trang 29

Bấy lâu vắng mặt khát khao Giờ đây thấy mặt mừng sao hỡi mừng

Tay cầm tấm lụa đi tìm thợ may

Tìm người ba, bảy hai mươi mốt ngày rày chẳng thấy người đâu…

Hầu hết các câu ca, bài ca nói về tình yêu đôi lứa trong ca dao đều sử dụngcác từ thuần Việt Việc sử dụng các từ thuần Việt góp phần tạo nên sắc thái bình

dị, mộc mạc, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người của ca dao về tình yêu đôi lứa nóiriêng và ca dao nói chung

2.1.1.2 Từ Hán Việt

Về nguồn gốc, trong tiếng Việt, số lượng các từ vay mượn gốc Hán rất lớn,

có thể chia làm hai loại là Hán cổ và Hán Việt, trong đó từ Hán Việt giữ vai tròquan trọng và theo các nhà nghiên cứu, chiếm số lượng khá lớn, khoảng trên 60

%

Trong Ca dao về tình yêu đôi lứa, từ ngữ vay mượn xuất hiện không nhiều,chủ yếu là từ Hán Việt Chúng tôi đã tiến hành khảo sát được 261/2.978 lượt,chiếm tỉ lệ 8,8 %

Ví dụ:

Đêm đông trường, em nghe con vượn cầm canh

Nghe chim mến tổ, nghe anh khuyên nàng

Bốn mùa xuân hạ thu đông

Thiếp ngồi canh cửi chỉ trông bóng chàng

Bốn mùa rồi lại bốn phương Thiếp ngồi canh cửi trông chàng bấy lâu

Nhớ ai nhất nhật một ngày

Đêm tơ tưởng dạ, lòng rày nhớ trông

Việc sử dụng từ ngữ Hán Việt góp phần tạo nên sắc thái trang trọng cho lờinói Trong ca dao về tình yêu đôi lứa, các từ ngữ Hán Việt chỉ thời gian xuất

Trang 30

hiện khá ít, chủ yếu là các từ chỉ mùa: xuân, hạ, thu, đông Đặc biệt, việc sử

dụng các từ ngữ Hán Việt luôn đồng hành, đi kèm với các từ ngữ thuần Việt

như: Nhất nhật một ngày, đêm đông trường khiến cho câu ca dao rất giản dị,

mộc mạc, phù hợp với nhận thức của người bình dân

2.1.2 Về cấu tạo

2.1.2.1 Từ đơn âm tiết

Trong tổng số 2.978 lượt từ, có 387 lượt từ đơn âm tiết, chiếm 13 % Có

thể liệt kê các từ ngữ đơn âm tiết như: sáng, trưa, chiều, tối, ngày, đêm, mai, xưa, nay, trước, sau… Các từ đơn âm tiết này xuất hiện với tần số cao.

Ví dụ:

Công anh đi sớm về trưa

Mòn đường chết cỏ, vẫn chưa gặp tình

Dầu xa dầu cách tự trời

Tới đây em cũng chiếu trải, miệng cười như xưa

Sáng ra xách chén mua tương

Thấy anh học trong trường cầm bút ngó ra…

Nhớ chàng sáng đứng trông xuôi

Trưa đi ngó ngược, tối ngồi trông ra

Việc sử dụng các từ ngữ đơn âm tiết trong các câu ca, bài ca dao về tìnhyêu đôi lứa chủ yếu giúp tác giả định vị một thời điểm trong ngày có liên quanđến các sự việc xảy ra trong ngày, đặc biệt là gắn liền với tâm trạng của nhânvật trữ tình ở thời điểm đó

Trang 31

2.1.2.2 Từ đa âm tiết

Từ ngữ đa âm tiết chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa chiếm tỉ lệ

87 % Đây là những từ được kết hợp từ hai âm tiết có nghĩa trở lên, tạo nên sựkết dính hòa quện hoặc đông cứng Số từ ngữ đa âm tiết phổ biến như các từ

ngữ: hôm nay, hôm qua, chiều qua, đêm qua, ngày ngày, chiều chiều, đêm khuya, sớm mai, khi nãy, từ khi, đêm ngày, năm ngoái, năm nay, …

Ví dụ:

Công em gánh đá tạc bia

Công em trò chuyện sớm khuya với chàng

Bây giờ bác mẹ bàn ngang

Công em trò chuyện với chàng mất không…

Đêm năm canh giấc ngủ tư lương

Nghĩ đi, nghĩ lại năm canh trường khóc than

Kể từ canh một kể qua

Tay bưng chén cơm, nước mắt nhỏ sa ròng ròng

Canh hai ăn uống bỉ bàng

Em ngồi nhìn ngọn đèn tàn hiu hiu

Canh ba ai nấy ngủ đều

Tai nghe con dế nó kêu thảm sầu

Qua khảo sát có thể thấy, từ ngữ đa âm tiết xuất hiện phong phú trong cadao về tình yêu đôi lứa Điều đó phần nào thể hiện một phần nào mong muốn sửdụng nhiều từ ngữ để diễn đạt tối đa những suy nghĩ của người bình dân Việc

sử dụng các từ đa tiết không chỉ góp phần tạo nên những cách thể hiện thời gianquen thuộc mà còn sáng tạo nên những thời gian nghệ thuật mới mẻ, phù hợpvới tâm trạng, tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình

Trang 32

2.2 Đặc điểm ngữ pháp

2.2.1 Về từ loại

Các từ loại Tiếng Việt được xác định dựa trên những đặc điểm từ loại khác

nhau “Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu, thực hiện những chức vụ ngữ pháp khác nhau” [ 22 ].

Hiện nay có nhiều quan niệm về từ loại trong tiếng Việt Luận văn chấpnhận quan niệm về phân chia từ loại của tác giả Diệp Quang Ban Theo Diệp

Quang Ban (trong Ngữ pháp Việt Nam, NXB Giáo dục, 2009) thì từ loại tiếng Việt được chia thành hai nhóm lớn với các từ loại cụ thể: Thực từ bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, còn hư từ bao gồm: phụ từ ( định từ, phó

từ), kết từ, tiểu từ ( trợ từ, tình thái từ) Trong đó số từ và đại từ là trung giangiữa thực từ và hư

Trong Ca dao về tình yêu đôi lứa, các tác giả dân gian sử dụng đa dạngnhiều từ loại khác nhau Nhưng, từ ngữ chỉ thời gian lại chủ yếu thuộc vềdanh từ, có một phần nhỏ là đại từ và các từ loại liên quan như: động từ, số

từ, tính từ, …

2.2.1.1 Danh từ

Danh từ là loại từ cơ bản, chiếm số lượng lớn trong kho từ vựng tiếng Việt

Danh từ được định nghĩa là: “lớp từ có ý nghĩa phạm trù, sự vật, biểu thị những đơn vị có thể nhận thức được trên cơ sở tồn tại của chúng dưới hình thức những hiện tượng trong tự nhiên và xã hội hoặc trong sự suy nghĩ của con người.” [ 22 ].

Thống kê về danh từ chủ yếu, chúng tôi có bảng tổng kết sau:

Trang 33

Bảng 2.1 Bảng thống kê các danh từ chỉ thời gian tiêu biểu

trong Ca dao về tình yêu đôi lứa

Các danh từ bao giờ, bây giờ, bấy lâu, chiều chiều, hôm qua… là những

khoảnh khắc trữ tình thường gặp và trở thành mô típ quen thuộc trong ca dao

nói chung và ca dao về tình yêu đôi lứa nói riêng Nếu như Bao giờ, Bấy lâu thường diễn đạt những ý muốn xa xôi thì bây giờ lại phản ánh cái hiện thực đời sống cũng như tâm trạng của nhân vật trữ tình Đặc biệt, khoảnh khắc chiều chiều trở đi trở lại trong rất nhiều câu ca, bài ca, đó là khoảng thời gian dễ tạo

ra những rung cảm, nhớ nhung trong lòng người

Có thể thấy rằng, trong Ca dao về tình yêu đôi lứa, các từ ngữ chỉ thời gian

là danh từ hoặc cụm danh từ chiếm 90% được thể hiện theo các nhóm chính làdanh từ biểu thị thời gian xác định và danh từ biểu thị thời gian phiếm định.Qua khảo sát, thống kê, phân loại, tổng hợp các từ ngữ chỉ thời gian trong cadao về tình yêu đôi lứa, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Trang 34

Bảng 2.2 Bảng thống kê từ ngữ chỉ thời gian trong Ca dao

về tình yêu đôi lứa

a Nhóm danh từ, cụm danh từ biểu thị thời gian xác định:

Thời gian xác đinh la thơi gian co thê đo, đếm; đươc tính bằng năm, thang,tuần, ngày, giơ, phut, giây Các từ ngữ biểu thị thời gian xác định thường gặp

trong Ca dao về tình yêu đôi lứa như: hôm qua, hôm nay, bây giờ, năm canh, sáu khắc, ngày tháng giêng, ba năm, mười bốn, hôm rằm…

* Các danh từ chỉ thời điểm: tức là những từ ngữ dùng để định vị thời gian

như: sáng, trưa, chiều, tối, đêm,… Vi du:

Đã mang lấy cái thân tằm Không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ

Đêm nằm tơ tưởng tưởng tơ

Chiêm bao thấy bậu, dậy sờ chiếu không

* Các danh từ chỉ thời đoạn, tức là những từ ngữ dùng để định lượng thời

gian, gồm: ngày, đêm, buổi (bữa), tuần, tháng, năm, mùa, sớm, khuya,…

Trong số các từ được dùng để chỉ thời đoạn nêu trên , chỉ có những từnào có khả năng kết hợp với những định ngữ đứng sau (thường là những từ

chỉ định như: này, đó, kia, trước, sau … hoặc một số định ngữ khác) và cac số tư đê đinh lương thơi gian, vi du như: năm canh, sau khắc, ngay mươi

Trang 35

bốn, thang ba,…thì mới được xem là những từ ngữ chỉ thời điểm có khả

năng định vị thời gian cụ thể Trong Ca dao về tình yêu đôi lứa có rất nhiềudanh từ chỉ thời đoạn loại này

Còn các từ như: ngày, đêm, sớm, khuya, sớm, tối,…có khả năng định vi

thời gian mang tính khái quát

Ví dụ:

Ngày quạt ước khi phong khi cất Đêm chén thề khi rót khi vơi

Đâu ngày dựa bóng trăng trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song

Trắng da vì bởi phấn dồi

Đen da vì bơi em ngồi chợ trưa

Hôm nay mười bốn mai rằm Chín tháng cũng đợi, mười năm cũng chờ Trăm năm quyết đợi, quyết chờ

Dẫu mà tóc bạc như tơ cũng đành

Trên thưc tế, qua khao sat về tư ngư chi thơi gian trong ca dao về tinh yêuđôi lưa cho thấy, rất nhiều tư ngư chi thơi gian xac đinh nhưng lai mang y nghia

phiếm đinh Cac tư ngư chi thơi gian như: ba năm, mươi bốn, hôm rằm, ngay, đêm, ban thân no dung đê đinh lương môt khoang thơi gian xác đinh, nhưng

Trang 36

khi đăt vao văn canh cua cac bai ca dao thi mốc thơi gian đo không chi đơnthuần đê chi môt khoang thơi gian vât ly cu thê ma lại mang ý nghĩa phiếm địnhnhằm diên đat nhưng biến đôi tinh vi trong tâm trang nhân vât trư tinh Người

đọc cũng khó có thể xác định được rõ ràng Hôm qua, hôm nay là hôm nào, ngày mười bốn, ngày hôm rằm đó là của tháng nào, năm nào, Mùa xuân, mùa hạ đó

là của năm nào, thời gian trăm năm được nhắc đến trong ca dao là thời gian của

đời người và thời gian của sự vĩnh cửu gắn liền với những hứa hẹn tình cảm lâudài, thắm thiết của nhân vật trữ tình Như vậy, ta thấy rằng, thời gian trong cadao về tình yêu đôi lứa dù là xác định hay phiếm định cũng đều mang tínhphiếm chỉ Nó không có giá trị chỉ rõ hay ghi lại một mốc thời gian chính xác

mà góp phần tạo nên ngữ cảnh sinh động cho lời ca và thể hiện cách nghĩ, cáchcảm của người bình dân xưa

b Nhóm danh từ, cụm danh từ biểu thị thời gian không xác định:

Thời gian không xác định là thời gian không đo đếm được, không đượctính rõ ràng bằng năm, thang, tuần, ngay, giơ, phut, giây Các từ ngữ biểu thị

thời gian không xác định thường gặp trong Ca dao về tình yêu đôi lứa như: xưa kia, bao giờ, bấy lâu, từ thuở, hồi trước, một mai, mai sau…

Ví dụ:

Từ khi anh phải duyên mình

Để lòng vò võ một mình sớm khuya

Khi xưa một hẹn thì nên

Bây giờ chín hẹn em quên cả mười

Một mai nên vợ nên chồng

Ta đi một lối, về chung một đường

Trang 37

Mình đưa khăn trắng cho tôi gắn chữ đồng

Mai sau mình có thác trước, tôi trọn lòng để tang

Ngoài ra, còn có các từ ngữ chỉ thời gian không xac đinh có tính chất lặp

lại, bao gồm: sáng sáng (với nghĩa là sáng nào cũng), trưa trưa (với nghĩa là trưa nào cũng), chiều chiều (với nghĩa là chiều nào cũng), tối tối (với nghĩa là tối nào cũng), đêm đêm (với nghĩa là đêm nào cũng), ngày ngày (với nghĩa là ngày nào cũng), tháng tháng (với nghĩa là tháng nào cũng)

Ví dụ:

Chiều chiều ra đứng cửa ngăn

Nhìn sang bên xã như ăn phải bùa

Đêm đêm chớp bể mưa nguồn

Hỏi người quân tử có buồn hay không?

Ngày ngày ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn trông sao sao mờ…

Đây là những từ có khả năng định hướng thời gian mang tính khái quát, lànhững chỉ tố thời gian chỉ sự tình trong câu xảy ra kéo dài từ thời gian quá khứđến hiện tại và thậm chí kéo dài đến tương lai, đó là những tư ngư chi thời gian

chiều chiều, đêm đêm, ngày ngày trong các ví dụ trên.

2.2.1.2 Đại từ đi với từ ngữ chỉ thời gian

Đại từ là dùng để chỉ trỏ, xưng hô, thay thế cho sự vật, hoạt động, tính chất

sự việc hay một bộ phận nào đó trong câu đã nói đến trong phần tiền ngôn, bộphận đó có thể là một đại từ cũng có thể là một đơn vị lớn hơn từ

Đại từ gồm nhiều nhóm khác nhau và trong từng nhóm các đại từ cũngmang ý nghĩa và đặc điểm khác nhau Nhóm đại từ đi với từ ngx chỉ thời giancũng vậy Đó là những từ dùng để chỉ quan hệ thời gian giữa người nói và đối

Trang 38

tượng được nói tới trong phát ngôn Các đại từ: đây, này, kia, đấy, ấy, đó được

dùng để đi với cả các từ ngữ chỉ thời gian xác định và không xác định

Đại từ thực ra không trực tiếp chỉ thời gian, nó chỉ kết hợp với danh từ chỉthời gian để xác định thời gian Nhóm đại từ đi với từ ngữ chỉ thời gian trong

Ca dao về tình yêu đôi lứa bao gồm các từ: (hôm) đó, (năm) kia, (hôm) này, (bữa) ấy… nhằm để chỉ định về thời gian; (hôm) nào, (năm) nào, (khi) nào, (hồi) nào… nhằm để nghi vấn về thời gian; ngày đi – ngày về, khi xưa – bây giờ… biểu thị các cặp thời gian tương phản.

Đại từ xuất hiện khá nhiều trong ca dao về tình yêu đôi lứa, chúng đi kèmvới những ý nghĩa thời gian khác nhau, có thể chia đại từ chỉ thời gian trong cadao về tình yêu đôi lứa thành những nhóm sau:

a Nhóm đại từ đi với từ ngữ chỉ ý nghĩa thời gian xác định:

Do đại từ chỉ có ý nghĩa thay thế mà không có ý nghĩa thực từ (mặc dù nó

là thực từ) nên khi biểu thị - chỉ định một thời gian nào đó, có thể thấy rằng, nóđang thực hiện chức năng xác định một dạng thức, thời điểm, giới hạn thời

gian Nhóm đại từ này bao gồm các từ: này, kia, ấy, đó, đấy….

Ví dụ:

Cau xiến ngang, trầu vàng ngắt ngọn

Thời buổi nà y kén chọn làm

chi

Bấy lâu vắng mặt khát khao

Giờ đâ y thấy mặt mừng sao hỡi

mừng

Khuyên anh ăn ở cho lành

Kiếp nà y chưa gặp để dành kiếp

sau

Xưa ki a ngọc ở tay

ta

Trang 39

Bởi ta chểnh mảng ngọc ra tay người

Trang 40

Cac đai tư nay, kia, ấy, đo được sư dung góp phần làm cho thơi gian

trong cac bai ca dao đươc đinh vị ro rang hơn

b Đại từ đi với từ ngữ chỉ thời gian không xác định, nghi vấn về thời gian:

Đó là trường hợp đại từ nào: (ngày) nào, năm (nào), khi (nào)…

Ví dụ:

Khi n à o thanh vắng một mình

Thì tôi lại dở đôi hình ra xem

Em về giục mẹ cùng thầy

Cắm sào đục nước biết ngày nào trong?

Khi n à o thiếp đón chàng đưa

Bây giờ li biệt, thảm chưa hỡi trời

Nước hồ Tây biết bao giờ cạn Nhị vườn đào biết vạn nà o hoa

Chừng n à o cho mõ xa đình

Hạc xa hương án, chung tình mới xa Cac tư ngữ : ngay nao, khi nao, biết bao giơ, biết van nao là các cụm từ gồm từ ngữ chỉ thời gian đi với đai tư nghi vấn nào để diên ta môt khoang thơi

gian ơ thơi điêm tương lai xa xôi hoặc quá khứ đã trơ nên xa xăm, không xácđinh đươc ro ràng la bao giờ Co khi các từ ngữ ấy diễn ta ươc nguyên đươc gắn

bó, chung thủy bên nhau cua cac chàng trai, cô gai; co khi lai la nôi niềm xot xakhi nhân vât trư tinh tương nhơ về nhưng ki niêm xưa cu

Trong ca dao về tình yêu đôi lứa, thời gian không xác định hay nghi vấn vềthời gian tạo nên một nét độc đáo cho thời gian nghệ thuật Bên cạnh thời gianvật lý, xác định, hữu hạn, tác giả dân gian đã đưa vào sáng tác của mình thời

Ngày đăng: 11/10/2018, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (1990), Về một phương diện nghệ thuật của thơ ca tình yêu, Tạp chí văn học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một phương diện nghệ thuật của thơ ca tình yêu
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1990
2. Đào Duy Anh (2005) , Hán Việt giản yếu từ điển, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt giản yếu từ điển
Nhà XB: NXB Văn hóa thôngtin
3. Lại Nguyên Ân (biên soạn), 150 thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Diệp Quang Ban (2010) , Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nguyễn Tài Cẩn (2003) , Ngữ pháp tiếng việt, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
6. Đỗ Hữu Châu (1974), Trường Từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật, Tạp chí ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữtrong tác phẩm nghệ thuật
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1974
7. Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán (1993) , Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếngViệt
Nhà XB: NXB KHXH
8. Đỗ Hữu Châu (1999) , Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Đỗ Hữu Châu (1998) , Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Đỗ Hữu Châu (2003) , Cơ sở ngữ dụng học, tập I, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Nhà XB: NXB ĐHSP
11. Đỗ Hữu Châu (1997) , Từ vựng học tiếng Việt, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: NXB ĐHSP
12. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đạihọc Quốc gia
Năm: 1999
13. Trần Tùng Chinh, “Chiều chiều” trong ca dao dân ca trữ tình, Thông tin khoa học số 19, tháng 9/2004, Đại học An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiều chiều” trong ca dao dân ca trữ tình
14. Mai Ngọc Chừ (1991) , Ngôn ngữ ca dao Việt Nam, NXB Văn hoá - Thôngtin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thôngtin
15. Mai Ngọc Chừ (Chủ biên) (1998), Nhập môn ngôn ngữ học, NXB Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w