nghiên cứu khoa học là nội dung bắt buộc trong nhà trường và cơ quan của mọi người. thực hiện đúng đủ quy trình. Mang lại sự thành công cho người đọc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI KIỂM TRA CUỐI KỲ (TIỂU LUẬN MÔN HỌC)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Giảng viên phụ trách: PGS TS Trịnh Văn Minh
Lớp: Cao học Quản lý Giáo dục QH-2020-S6
Hà Nội - 2021
Trang 2Nhận xét của giảng viên chấm bài:
Hạn nộp bài theo quy định: ngày……tháng 3 năm 2021 Thời gian nộp bài: ngày … tháng 3 năm 2021
Nhận xét của giảng viên chấm bài
Điểm:………Giảng viên (kí tên)………
Trang 3BÀI THƯỜNG XUYÊN Câu 1: Hãy phân tích vai trò của nghiên cứu khoa học trong giáo dục.
BÀI LÀM
Theo tiếp cận hoạt động, nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu thu thập được, tài liệu, kiến thức đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về giới tự nhiên và xã hội và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu
Theo tiếp cận nhận thức, nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức hướng vào việc khám phá những thuộc tinh bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan nhằm phát triển nhận thức khoa học và thế giới, đó là hoạt động trí tuệ nhằm cải tạo hiện thực Cùng theo cách tiếp cận này, Phạm Viết vượng, “bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhàm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới”
Cách mạng 4.0 - xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết nối internet - đang thách thức ý niệm của chúng ta về vai trò thực sự của con người, trong đó có người thầy Vai trò giảng viên trong thế kỉ XXI trở nên phức tạp ở một thế giới thay đổi nhanh chóng, nơi mà tri thức hầu như vô tận
Sự thay đổi nhanh chóng do cuộc cách mạng này đã tạo ra nhiều thay đổi về cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực ấy không chỉ cần kiến thức, kinh nghiệm, mà còn cần có khả năng giải quyết nhanh các vấn đề thực tiễn và tư duy sáng tạo Muốn bắt kịp xu hướng này, ngành Giáo dục và đào tạo, đặc biệt các giảng viên cần phải có những thay đổi toàn diện để phù hợp với xu thế mới
Giảng viên phải xác định nghiên cứu khoa học trong giai đoạn hiện nay khác xa về chất so với giai đoạn trước Do vậy, phải có cách tiếp cận mới để đáp ứng được yêu cầu của công việc Để đáp ứng yêu cầu đó, giảng viên phải thực
Trang 4hiện tốt ba chức năng quan trọng: Chức năng sáng tạo, chức năng phản biện và chức năng giáo dục Sự hòa quyện giữa trình độ trí tuệ của nhà khoa học với nhà giáo ở bậc đại học là nền tảng để người giảng viên trụ vững trong tương lai
Tóm lại, Nghiên cứu khoa học giúp giảng viên mở rộng được vốn kiến thức của mình và vận dụng những kiến thức lý luận ấy vào trong thực tiễn giảng dạy Đồng thời nghiên cứu khoa học còn giúp cho người giảng viên có được phong cách và phương pháp làm việc khoa học, đặt các vấn đề trong một khung tác động đa chiều với cách nhìn khách quan, chính xác.Nghiên cứu khoa học không chỉ cung cấp cho sinh viên cơ hội tiếp cận với lĩnh vực chuyên môn yêu thích, mà còn tạo cho sinh viên một tác phong làm việc khoa học, rèn luyện cho sinh viên cách nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, tiếp cận từnhiều phía./
Câu 2: Nêu sự khác biệt giữa hiểu biết thông thường và tri thức khoa học, mối liên hệ giữa hai loại tri thức.
BÀI LÀM
Tri thức kinh nghiệm là gì?
Trong khi tiếp xúc với tự nhiên và xã hội; bằng các giác quan, tri giác, con người cảm nhận được về bản thân, về thế giới và xã hội xung quanh, thu được kinh nghiệm sống và những hiểu biết nhiều mặt Đó là tri thức thông thường, tri thức này được tạo ra từ phép quy nạp đơn giản; chưa chỉ ra được bản chất bên trong, chưa phát hiện được quy luật của sự vật/hiện tượng quan sát được, do đó chưa tạo thành hệ thống tri thức vững chắc và có hệ thống Theo G.I Ruzavin [23] tri thức kinh nghiệm hay tri thức thông thường được nhận thức một cách trực tiếp, là tư duy thực tế không có hệ thống và không có phương pháp
Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua quan sát sự lặp
đi lặp lại của các hiện tượng trong đời sống hằng ngày Nhờ có tri thức kinh nghiệm mà con người có được những hình dung thực tế về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, từ đó biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng
xử trong các mối quan hệ xã hội Tuy nhiên dù kinh nghiệm cho biết một hiện tượng lặp đi lặp lại bao nhiêu lần thì cũng không thể chác chán rằng hiện tượng
đó sẽ lặp lại trong tương lai
Trang 5Ví dụ: Theo dõi nhiều năm về lũ lụt người nông dân rút ra: “Tháng bảy nước nhảy lên bờ”, để lo thu hoạch mùa màng trước tháng đó Tuy nhiên vào một năm cụ thể nào đó không ai chắc chán được rằng lũ lụt sẽ diễn ra đúng như thế
Dân gian lại có câu “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ
mà lên” Họ rút ra điều đó từ nhiều lần quan sát thấy hiện tượng: khi lúa chiêm đang lên mà trời có sấm chớp thì lúa sẽ tăng trưởng rất nhanh Hiện tượng này có lặp đi lặp lại mãi không? Chỉ có thể trả lời câu hỏi này nếu giải thích được nó, có thế làm thí nghiệm mô phỏng và rút ra quy luật về mối quan hệ nhân quả giữa lúa lớn nhanh và sấm chớp, tức là biến tri thức kinh nghiệm thành tri thức khoa học
Bản thân tri thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, chứa đựng những mặt đúng đắn, nhưng riêng rẽ, chưa thể đi sâu vào bản chất các sự vật, và do vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ giúp con người phát triển đến một trình độ nhất định Mặc dù vậy, tri thức kinh nghiệm vẫn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng cho sự hình thành tri thức khoa học
Tri thức kinh nghiệm mang những đặc điểm sau:
Không chặt chẽ, không bền vững;
Phản ánh cái hiện tượng, cái đơn nhất, cái cụ thể, cái trực tiếp, bề ngoài của sự vật; Mang tính cá nhân, tính văn hóa, vùng miền;
Tính phổ quát thấp;
Không giải thích được bằng lý luận
Tri thức khoa học khác với tri thức kinh nghiệm, đó là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, là loại hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học Tri thức khoa học không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm mà là sự tổng hợp các số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hóa thành lý thuyết về các liên hệ bản chất, được gọi
là quy luật
Tri thức khoa học được phát triển theo logic cụ thể (hình 1) Bắt nguồn từ các ý tưởng khoa học, phương hướng khoa học sẽ được hình thành Từ những
Trang 6phương hướng khoa học đó sẽ tạo ra các trường phái khoa học, theo các lĩnh vực, các bộ môn khoa học như triết học, lịch sử, kinh tế học, toán học, vật lý, hóa học, sinh học, công nghệ, ; Những bộ môn khoa học lớn này có thể phân chia thành những bộ môn khoa học nhỏ hơn như trong vật lý thì có cơ học, nhiệt học, điện- từ học, quang học, vật lý hạt nhân, vật lý lý lượng tử
Tri thức khoa học không chỉ tìm ra các sự kiện mới mà còn nhầm giải thích các hiểu biết mới này bàng các giả thuyết, lý thuyết, định luật đã có, hoặc
đề ra các lý thuyết mới để giải thích chúng Hơn nữa, con người chỉ có thể đạt đến tri thức khoa học thông qua những phương pháp nghiên cứu nhất định, dựa trên những quy luật nhất định của thế giới khách quan./
Trang 7BÀI CUỐI KỲ Tên đề tài: “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường sĩ quan Thông tin hiện nay”
1 Tính cấp thiết của đề tài (Lý do chọn đề tài)
Phát triển kinh tế, phát triển xã hội, nâng cao chất lượng sống cho con người là mục tiêu hàng đầu mà mọi dân tộc trên thế giới đều khát khao hướng tới Để đạt được mục tiêu tốt đẹp đó, nhân loại đã ý thức được rằng: trí tuệ, tri thức là nhân tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sự phát triển của một quốc gia.Ph Angghen đã khẳng định: Một dân tộc muốn đứng lên trên đỉnh cao của nền văn minh nhân loại, dân tộc đó phải có tri thức Các quan điểm triết học tiến
bộ trên thế giới luôn khẳng định giáo dục chính là đòn bẩy để phát triển kinh tế
xã hội, xã hội muốn phát triển nhanh thì phải hết sức quan tâm đến giáo dục, đầu
tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển, chỉ có chiến lược phát triển con người đúng đắn, nhân loại mới đạt được mục tiêu về phát triển kinh tế xã hội Trên con đường CNH - HĐH của nước ta, Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng đến vấn đề phát triển con người, phát triển giáo dục, đồng thời đặc biệt quan tâm
về vấn đề nguồn nhân lực, vấn đề phát huy nhân tố con người.“Con người là nguồn lực quý báu nhất đồng thời là mục tiêu cao cả nhất, trong đó trí tuệ là tài nguyên lớn nhất của quốc gia, giáo dục đào tạo là vấn đề chiến lược góp phần quan trọng để xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Trong giáo dục và đào tạo, vấn đề nổi lên hàng đầu là giáo viên, giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục “Giáo viên giữ vị trí quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục - đào tạo và được xã hội tôn vinh” (Nghị quyết TW2 khoá VIII) Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004, Ban bí thư trung ương Đảng nói rõ: “Mục tiêu là: Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt là chủ trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo Thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng
và cá hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân
Trang 8lực, đáp ứng những đòn lái ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Nghị quyết trung ương 8 khoá XI đã chỉ rõ, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phũng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, cả năng lực
sư phạm Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý
Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; ưu tiên đầu tư xây dựng một
số trường sư phạm, trường sư phạm kỹ thuật trọng điểm; khắc phục tình trạng phân tán trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm
Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp
Có chế độ ưu đái đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Việc tuyển dụng, sử dụng, đái ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên
cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác Có chế độ
ưu đãi và quy định tuổi nghỉ hưu hợp lý đối với nhà giáo có trình độ cao; có cơ chế miễn nhiệm, bố trí công việc khác hoặc kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào
Trang 9tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Đội ngũ nhà giáo có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Sứ mệnh của nhà giáo có ý nghĩa cao cả đặc biệt Họ là bộ phận lao động tinh hoa của đất nước Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay rất quan tâm xây dựng đội ngũ nhà giáo Ngay từ những ngày đầu của nền giáo dục mới, Đảng và Nhà nước ta đã xem đội ngũ nhà giáo là những chiến sĩ cách mạng trên mặt trận tư tưởng văn hoá Đội ngũ này có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách mạng chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hoá của dân tộc và của nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quí và năng lực sáng tạo, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo viên với vai trò của nhà giáo dục được xem là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này, tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo, là người vẻ vang nhất” [34, tr.331]
Vì vậy, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay là một trong những nhiệm vụ vừa cơ bản vừa cấp thiết của ngành Giáo dục - Đào tạo nói chung và của mỗi nhà trường nái riêng Để làm được việc này cần thiết
Trang 10phải nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận làm chỗ dựa cho quá trình thực hiện.
Trường sĩ quan thông tin là một nhà trường nằm trong hệ thống nhà trường quân sự, trực thuộc Bộ tư lệnh Thông tin Liên lạc; là cơ sở đào tạo đội ngũ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp có trình độ đại học, cao đẳng cho các đơn
vị trong Binh chủng Thông tin Liên lạc và các đơn vị trong toàn quân
Thực tế trong thời gian qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư của Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Thông tin Liên lạc, Nhà trường đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo trình độ đại học được giao; khẳng định được chức năng đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và phục vụ cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu của Quân đội và Binh chủng Tuy nhiên, để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ hiện tại cũng như những năm tới, đội ngũ giáo viên của Nhà trường vẫn còn nhiều bất cập nhất là Nhà trường được công nhận là trường đại học:
Chiến lược, kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên chưa được xác định rõ ràng; số lượng giáo viên còn thiếu so với yêu cầu và quy mô đào tạo Chất lượng đội ngũ giáo viên không đều, nhìn chung còn thấp Năng lực sư phạm (đa số giáo viên của Nhà trường không được đào tạo ngành sư phạm) khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên còn nhiều hạn chế Cơ cấu đội ngũ giáo viên chưa đồng bộ, nhiều khoa, bộ môn còn thiếu giáo viên so với biên chế
Những vấn đề nêu trên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng đào tạo của Nhà trường Để giải quyết những bất cập đó, tác động của yếu tố quản lý là rất quan trọng
Về phương diện lý luận, vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên đã được một số tác giả ngoài quân đội nghiên cứu ở cấp độ, mức độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình, đề tài nào trong quân đội nghiên cứu việc quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Trường sĩ quan Thông tin
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường sĩ quan Thông tin hiện nay” để nghiên cứu