1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

GIAO AN TU CHON 10

26 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 52,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

=> Bài ca dao là tiếng hát đầy yêu thương, của một tấm lòng đòi hỏi phải được yêu thương, nỗi nhớ không hề bi lụy mà vẫn chan chứa tình người như một nét đẹp tâm hồn của các cô gái V[r]

Trang 1

Ngày soạn: 05/09/2011 Tiết 1 – 2 – 3 – 4: Chủ đề 1:

KHÁI QUÁT MỘT số vấn đề của văn học dân gian việt nam

I Những đặc điểm chính của một số thể loại văn học dân gian đã học.

1 Sử thi dân gian:

a) Định nghĩa: Những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần nhịp, xây dựng những hình tợng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cả dân gian thời cổ đại

b) Đặc điểm

- Là một cách giải thích nguyên nhân việc mất nớc Âu Lạc nhằm nêu lên bài học lịch sử về tình thần cảnh giác với kẻ thù trong và giữ nớc, và về cách xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng

- Hình tợng nhân vật (An Dương Vương, Mị Chõu, Trọng Thủy, Rựa V ng) mang nhiều chi àtiết h cấu nhng vẫn bảo đảm phần cốt lõi lịch sử

3 Truyện cổ tích:

a) Định nghĩa: Những tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện mà hình tợng đợc h cấu có chủ

định, kể về số phận con ngời bình thờng trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhõn dõn lao động

b) Đặc điểm:

- Sự biến hóa của Tấm -> Thể hiện sức sống, sức chuỗi dạy mãnh liệt của con ngời trớc sự vùi dập của kẻ ác -> Chứa đựng triết lí dân gian về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác.Mõu thuẫn và xung đột là sự khúc xạ mõu thuẫn và xung đột trong gia đỡnh phụ quyền thời cổ

- Nghệ thuật: miêu tả sự chuyển biến của nhân vật Tấm từ yếu đuối, thụ động đến kiên quyết,chủ động đấu tranh giành lại quyền sống, quyền hởng hạnh phúc chính đáng của mình

4 Truyện cời

a) Định nghĩa: Những tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể

về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cời, nhằm mục đích giải trí, phê phán

b) Đặc điểm

- Tam đại con gà

+ Phê phán sự dốt nát và thói sĩ diện của ông thầy đồ( cái dốt càng cố che đậy càng lộ ra, ờng làm trò cời cho thiên hạ)

+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua các tình huống liên tiếp xảy ra, trong quá trình giải quyết tình huống, cái dốt của thầy đồ dần tự lộ ra

- Nhng nó phải bằng hai mày:

+ Phê phán sự tham nhũng thể hiện qua tính 2 mặt của quan lại địa phơng khi xử kiện

+ Nghệ thuật: kết hợp cử chỉ với lời nói (gây cời) trong đó có sử dụng lối chơi chữ

5 Ca dao:

a) Định nghĩa: Những lời thơ trữ tình dân gian, thờng kết hợp âm nhạc khi diễn xớng, đợc sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con ngời

b) Đặc điểm:

* Chùm ca dao than thân, yêu thơng tình nghĩa

- Nội dung cảm xúc của những bài - câu ca dao là nỗi niềm chua xót đắng cay khi ngời bình dân nghĩ về số phận, cảnh ngộ và những hoàn cảnh yêu thơng, chung thủy của họ trong quan

hệ bạn bè, trong mối quan hệ với xóm làng, quê hơng, đất nớc

- Bộc lộ vừa chân thành, vừa tinh tế, kín đáo qua nghệ thuật diễn đạt giàu hình ảnh, đậm màu

Trang 2

sắc dân tộc và dân dã của ca dao.

* Chùm ca dao hài hớc

- Nội dung: giải trí, tự hào, châm biếm, phê phán, qua đó thể hiện lòng yêu đời, tinh thần lạc quan, triết lí sống lành mạnh của ngời lao động

- Điều đú đợc bộc lộ bằng những lối diễn đạt thông minh, hóm hỉnh

II Những giá trị cơ bản của văn học dân gian qua các tác phẩm đã học

1 Giá trị nội dung

- Phản ánh chân thực cuộc sống lao động, chiến đấu để dựng nớc và giữ nớc của dân tộc

VD: Trong “An Dương Vương và Mị Chõu – Trọng Thủy”

- Thể hiện truyền thống dân chủ và tinh thần nhân văn của nhân dân

VD: Trong Tấm Cám“ ”

- Bộc lộ đời sống tâm hồn phong phú, tinh tế, sâu sắc của nhân dân (yêu đời, lạc quan, yêu cái thiện, cái đẹp trong cuộc sống; căm ghét cái xấu, sự độc ác; sống tình ngời, thủy chung) VD: Bộc lộ + Tình yêu quê hơng

“ Anh đi anh nhớ quê nhà …”

+ Tình yêu đôi lứa:

“ Bây giờ mận…”

“ Hôm qua tát nớc…”

+ Tình yêu lao động

“ Kéo lên rồi căng buồm ta lái…”

- Tổng kết những tri thức, kinh nghiệm của nhân dân về mọi lĩnh vực trong mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên, xó hội và chính bản thân mình

2 Giá trị nghệ thuật

- Xây dựng những mẫu hình nhân vật đẹp, tiêu biểu cho truyền thống quý báu của dân tộc.VD: + Đăm Săn tiêu biểu cho tinh thần bất khuất, chiến đấu dũng cảm của ngời anh hùng vì hạnh phúc cộng đồng;

+ An Dương Vương dù bị thất bại trớc âm mu của Triệu Đà vẫn tiêu biểu cho tinh thần

bất khuất của dân tộc

+ Tấm: Tiêu biểu cho lòng yêu đời, ham sống của những ngời lao động bị áp bức trong

XH cũ

- Văn học dân gian là nơi hình thành nên những thể loại văn học cơ bản và tiêu biểu của dân tộc do nhân dân lao động sáng tạo nên Đời thờng nó còn là” khó” lu giữ những thành tựu ngôn ngữ nghệ thuật mang đậm đà bản sắc dân tộc mà các thế hệ sau cần học tập và phát huy

III Vai trò và tác dụng của văn học dân gian trong đời sống tinh thần của XH v trong à nền văn học dân tộc

1 Vai trò và tinh thần trong đời sống tinh thần của xã hội

- Văn học dân gian nêu cao những bài học về phẩm chất tinh thần, đạo đức, truyền thống tốt

+ Niềm tin bất diệt vào cái thiện…

- Văn học dân gian góp phần quan trọng bồi dỡng cho con ngời những tình cảm tốt đẹp, chách nghĩ, lối sống tích cực và lành mạnh

2 Vai trò, tác dụng trong nền văn học dân gian

- Nhiều tác phẩm văn học dân gian đã trở thành những mẫu mực về nghệ thuật của thời đại đã qua mà các nhà văn cần học tập để sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị

VD: Nguyễn Du, Hồ Xuõn Hương, Nguyễn Khuyến, Tố Hữu… có những tiếp thu sáng tạo văn học dân gian trong sáng tạo của mình

- Văn học dân gian mãi mãi là nguồn nuôi dỡng, là cơ sở của văn học viết về phơng diện đề tài, thể loại, văn liệu…

IV Một số dạng về cỏc tỏc phẩm (đoạn trớch) đó học:

1 Phõn tớch truyện cổ tớch “Tấm Cỏm”

Dàn ý

a) Mở bài :

Trang 3

- Giới thiệu về những quan niệm đạo đức truyền thống liên quan đến thiện -ác trong dân gian

- Giới thiệu truyện cổ tích Tấm Cám và bài học đạo đức về sự chiến thắng của cái thiện.b) Thân Bài:

- Đặc trưng thể loại cổ tích phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội

- Mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác trong truyên Tấm Cám: Gì ghẻ,Cám >< Tấm ,giai cấp bóc lột>< giai cấp bị bóc lột, cái ác><cái thiện

- Cái ác đã chà đạp lên cái thiện và cái thiện đã vùng lên đấu tranh :Mẹ con Cám bóc lột Tấm ,bốn lầm giết Tấm :chặt cau,giết vành anh,chặt cây xoan đào,đốt khung cửi->Tấm hóa kiếp nhắc nhở "phơi áo chồng tao "., giành lại hạnh phúc (vua mắc võng lên cây xoan

đào ),đe dọa kẻ thù "Kẽo ca kẽo kẹt chị móc mắt ra"

- Ý nghĩa cuộc đấu tranh của cái thiện với cái ác :tăng tiến về mức độ ,từ thụ dộng đến chủ động

- Rút ra bài học :

+ Muốn chiến thắng cái ác phải kiên quyết ,không thể nhu nhược ,nhún nhường

+ Con người phải biết hướng thiện tránh xa cái ác

c) Kết Luận:

- Khẳng định đạo lí "ở hiền gặp lành"," gieo gió gặp bão", của dân gian

2 Một số bài ca dao than thân và yêu thương tình nghĩa:

a) Tiếng hát than thân: Bài 1:

- Bài ca dao mở đầu bằng “Thân em như ” (hình thức lặp lại) => khẳng định đây lời than thân ngậm ngùi, xót xa của người phụ nữ: thân phận bị phụ thuộc, nhỏ bé, không tự quyết định được số phận đời mình

- Người phụ nữ ý thức được sắc đẹp, tuổi xuân và giá trị của mình (như tấm lụa đào) nhưng

số phận của họ thật chông chênh không có gì đảm bảo, không biết sẽ nỗi đau bị phụ thuộc hoàn toàn vào người  vào tay ai (Phất phơ… vào tay ai) mua, người sử dụng mình như một món hàng

- Nghệ thuật: Hình ảnh so sánh ẩn dụ và câu miêu tả bổ sung :“Tấm lụa đào phất phơ” đã gợi lên nỗi khổ cực sâu sắc nhất của người phụ nữ

=> Bài ca dao không chỉ nói lên thân phận người phụ nữ bị phụ thuộc mà còn là tiếng nói khẳng định giá trị, phẩm chất của họ

b) Tiếng hát yêu thương tình nghĩa: bài 4

“Nhớ ai em những khóc thầm

Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa”

Yêu đi liền với nỗi nhớ Khao khát được yêu, hạnh phúc trong ước nguyện thuỷ chung, đó là nét đẹp trong tâm hồn người VN ta Điều đó được nói nhiều ở những bài ca dao yêu thương tình nghĩa về tình yêu nam nữ:

* Nỗi thương nhớ người yêu:

Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu đã được biểu hiện một cách cụ thể, sinh động bằng các biểu tượng khăn, đèn và mắt

- Hình ảnh chiếc khăn:

+ Cái khăn thường là vật trao duyên:

“Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”.

“Nhớ khi khăn mở trầu trao

Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình”

+ Hình ảnh vận động của chiếc khăn diễn tả tâm trạng ngổn ngang trăm mối “nhớ ai bổi hổi…như ngồi đống than” Và nỗi nhớ ấy đã dẫn đến cảnh khóc thầm “khăn chùi nước mắt” như biết bao cô gái trong ca dao thuở xưa “nhớ ai em những…đầm đầm như mưa”.

+ Khăn thương nhớ ai: rơi xuống đất / vắt lên vai / chùi nước mắt

Trang 4

+ Nỗi nhớ trải ra trên nhiều chiều không gian: khăn rơi xuống đất, khăn vắt lên vai, khăn chùinước mắt => nỗi nhớ quay quắt, quanh quất mọi nơi, mọi hướng, tâm trạng ngổn ngang trăm mối.

-> Nghệ thuật:

+ Điệp từ, điệp ngữ, nhân hoá thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết

+ Sáu câu 16 thanh Bằng (chủ yếu là thanh không) diễn tả nỗi nhớ bâng khuâng, da diết mang màu sắc nữ tính (không ồn ào, dễ dãi)

- Biểu tượng “Đèn”:

+ Chừng nào ngọn lửa tình vẫn cháy sáng trong trái tim người con gái thì ngọn đèn kia làm sao tắt được “Đèn không tắt” hay chính người con gái đang trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng với thời gian

+ Đèn không tắt -> hình ảnh nhân hoá: ngọn lửa tình yêu mãi bùng cháy trong lòng cô gái , nỗi nhớ như thao thức cùng đêm khuya

- Biểu tượng “Đôi mắt”:

+ Mắt ngủ không yên -> hình ảnh hoán dụ, diễntả nỗi nhớ trằn trọc ưu tư nặng trĩu trong cả tiềm thức

+ Nỗi nhớ trải dài từ không gian đến thời gian và cuối cùng bộc lộ trực tiếp : nhớ cả trong tiềm thức

=> Cô gái hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi mắt chính là cô tự hỏi lòng mình Nỗi nhớ được nói đến liên tiếp dồn dập trong 10 câu thơ 4 chữ Cô chỉ hỏi mà không có lời đáp Nhưng chính câu trả lời

đã được khẳng định từ trong điệp khúc “thương nhớ ai” vang lên, xoáy sâu vào lòng ta một niềm khắc khoải

Ngoài tâm trạng nhớ nhung ra, cô gái trong bài cd còn có một tâm sự khác: tâm trạng lo lắng xuất phát từ thân phận bấp bênh :

* Nỗi lo phiền:

- “Lo vì một nỗi, không yên một bề” -> nhớ thương người yêu nhưng vẫn lo lắng cho số phận

của mình, cho duyên phận đôi lứa với hạnh phúc bấp bênh

=> Bài ca dao là tiếng hát đầy yêu thương, của một tấm lòng đòi hỏi phải được yêu thương, nỗi nhớ không hề bi lụy mà vẫn chan chứa tình người như một nét đẹp tâm hồn của các cô gái

VN (giàu giá trị nhân văn cao cả)

c) Tình nghĩa thủy chung: bài 6

- Muối và gừng là những gia vị trong bữa ăn của nhân dân ta,là vị thuốc của những người lao động nghèo trong lúc đau ốm.Sự gắn bó tự nhiên của các hình ảnh đó tượng trưng cho tình nghĩa con người gắn bó thủy chung:

“Tay bưng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.”

“Muối càng mặn, gừng càng cay

Đôi ta tình nghĩa nặng dày em ơi.”

- “Muối mặn” – “gừng cay” => hương vị, nghĩa tình con người => biểu trưng cho sự gắn bó thủy chung của con người Tình người có trải qua mặn mà,cay đắng thì mới sâu đậm, nặng nghĩa nặng tình, mới thật thương nhau

- Đôi ta: nghĩa nặng tình dày -> ba vạn sáu ngàn ngày mới xa -> lối nói kết cấu theo thời gian:

độ mặn của muối, độ cay của gừng còn có hạn nhưng tình nghĩa đôi ta là mãi mãi, đến trăm năm, một đời người mới xa

=> Nội dung: chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa đã thể hiện rất sâu sắc nỗi niềm chua xót,đắng cay và tình cảm yêu thương, chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ

Trang 5

Ngày soạn: 09/10/2011 Tiết 5 – 6 – 7: Chủ đề 2:

KHÁI QUÁT VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Câu 1: Văn học Việt Nam từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII:

a Bối cảnh lịch sử:

- Chiến thắng giặc Minh, nhà Lê thành lập lấy Nho giáo làm quốc giáo

- Nội chiến xảy ra, đất nước bị chia cắt

b Về mặt văn học:

- Hình thức :xuất hiện chữ Nôm

- Thể loại: thơ lục bát, song thất lục bát, sử kí, tựa thơ, bạt, phú…

- Nội dung: Tư tưởng nhân nghĩa , chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng

- Tác phẩm, tác giả tiêu biểu:

+ Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

Trang 6

+ Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông

+ Bạch Vân quốc ngữ thi – Nguyễn Bỉnh Khiêm

+ Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ

Câu 2: Văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX:

a Bối cảnh lịch sử:

- Chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng

- Phong trào đấu tranh của nhân dân nổ ra khắp nơi ( tiêu biểu là phong trào Tây Sơn)

b Về mặt văn học:

- Hình thức: Chữ Nôm phát triển đến đỉnh cao

- Thể loại: truyện thơ nôm và ngâm khúc nở rộ

- Nội dung:

+ Phơi bày hiện thực xã hội bất công

+ Quan tâm đến số phận con người, đấu tranh đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnhphúc

- Tác phẩm, tác giả tiêu biểu:

+ Truyện Kiều – Nguyễn Du

+ Hoa tiên – Nguyễn Huy Tự

+ Sơ kính tân trang – Phạm Thái

+ Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn

+ Cung oán Ngâm – Nguyễn Gia Thiều

+Hoàng lê nhất thống chí – Ngô Văn Gia Phái

+ Xuân Hương thi tập – Hồ Xuân Hương

+ Thơ Huyện Thanh Quan

Câu 3: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX:

a Bối cảnh lịch sử:

- Thực dân Pháp sang xâm lược

- Chế độ thực dân nửa phong kiến

b Về mặt văn học:

- Hình thức: chữ quốc ngữ xuất hiện

- Thể loại: văn xuôi chữ quốc ngữ phát triển mạnh

+ Thơ văn chống tư tưởng bảo thủ, phong kiến

- Tác phẩm, tác giả tiêu biểu:

+ Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

+ Thơ văn Nguyễn Khuyến

+ Thơ văn Trần Tế Xương

Câu 4: Các đặc điểm của VHTĐ Việt Nam:

- Gắn bó với vận mệnh đất nước và số phận của con người

- Luôn hấp thụ nguồn mạch văn học dân gian

- Hấp thụ tinh hoa văn học Trung Hoa trên tinh thần Việt hóa, tạo nên những giá trị vănhọc đậm bản sắc dân tộc

Trong khuôn khổ thi pháp trung đại, văn học vẫn luôn vận động theo hướng dnâ tộc hóavà dân chủ hóa

Câu 5: Vì sao gọi VHVN từ thế kỉ X đến hết TK XIX là VHTĐ?

Trang 7

Trước hết VHVN thề kỉ X đến thế kỉ XIX không phải là tiếng nói riêng của giai cấp thốngtrị mà đại diện cho tiếng nói của dân tộc, cho những nhà tư tưởng, những người đại diệnnhân dân tiếng bộ Vì vậy không thể gọi là văn học phong kiến.

Khái niệm cổ cũng hết sức mơ hồ về thời gian Cổ là cái đã qua, cái đã trở thành quá khứ.Cái gì đã qua một thời gian vài chục năm đều trở thành cổ TK XX trở thành cổ đối với

TK XXI Do vậy, gọi văn học cổ không phù hợp với văn học TK X đến hết TK XIX.Thời kí trung đại là giai đoạn ứng với chế độ phong kiến Chế độ xã hội phong kiến VNhình thành từ TK X và suy tàn ở cuối TK XIX đầu TK XX vì vậy nên gọi VHVN TK Xđến hết TK XIX là văn học trung đại

Câu 6: Hãy cho biết các tác gia Việt Nam thời trung đaị dùng chữ Hán theo phương thức nào?

Chữ Hán có hai loại: Văn ngôn và bạch thoại Người VN dùng chữ Hán văn ngôn để ghichép và sáng tác văn học Văn ngôn về cơ bản là loại văn viết bằng chữ Hán thời Chu –Tần (TKXXI đến TK II TCN) Thời đó người ta dùng doa để khắc chữ vào đá hoặc trênthẻ tre, dùng sơn để viết vào da thú hoặc vải,… nên gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy vănphải hàm súc, cô đọng, Hơn nữa ngôn ngữ thời bấy giờ chưa phát triển Người đời Đườngthì dùng thì dùng chữ Hán thời Chu – Tần làm cơ sở; thời Tống thì dùng Chữ Hán đờiĐường làm cơ sở ; thời Minh Thanh lại dùng chữ Hán thời Tống – Nguyên làm cơ sở,nghĩa là dùng văn tự của thời đại đã qua Bởi vậy người ta còn gọi Chữ Hán là văn ngôntử ngữ

Người Việt dùng chữ Hán văn ngôn đọc theo âm Hán Việt bằng cách đó, chúng ta táchdần khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa mình đối với đất nước Đó cũng là biểu hiện của khátvọng muốn đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp chung

Câu 7: Hãy cho biết vài nét về chữ Nôm.

- Chữ Nôm là loại hình ghi âm kết hợp với phương thức biểu ý bằng cách dùng chữ Hán,các bộ chữ Hán và một số kí hiệu biểu ý khác

- Chữ Nôm có thể xuất hiện sớm nhưng đến TK XIII mới được định hình và được dùng đểsáng tác văn học

- Từ giữa TK XIX trở về trước, cha ông ta gọi loại văn tự này là quốc ngữ, quốc âm.Những khái niệm quốc âm, quốc ngữ được dùng trong các tác phẩm như Quốc âm thi tậpcủa Nguyễn Trãi, Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm…

- Từ giữa TK XVII, quốc ngữ ghi âm bằng chữ cái Latinh và thịnh hành vào cuối TK XIXđầu TK XX

Để phân biệt được chữ quốc ngữ ghi âm bằng chữ cái La-tinh với chữ quốc ngữ trước đây,người ta bắt đầu gọi chữ quốc ngữ ghi âm bằng chữ Hán và bộ chữ Hán là chữ Nôm

Trang 8

Ngày soạn: 05/09/2011 Tiết 8 - 9 - 10: Chủ đề 3:

CHỦ ĐỀ YÊU NƯỚC TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

I Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão)

Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “Hào khí Đông A” Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào vềchí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng Phạm Ngũ Lão

Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng mãnh Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều dài lịch sử (kháp

kỷ thu) Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện qua một vần thơ cổ

Trang 9

kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.

Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược Khí thế của đội quân

ấy ào ào ra trận Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời

Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:

“Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

Từ “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công Đó không phải là thứ “côngdanh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵnsàng chiến đấu

“Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Giọng thơ hùng tráng, mạnh mẽ Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm, mang phong vị anh hùng ca Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”

II Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi)

Nguyễn Trãi (1380 -1442) là đại thi hào dân tộc, người anh hùng cứu quốc thuở “Bình Ngô”, danh nhân văn hoá Đại Việt Thơ chữ Hán cũng như thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi đẹp đẽ, sâu sắc, biểu tượng cao quý của nền văn hiến Việt Nam

“Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi hiện còn 254 bài thơ, được chia nhiều loại, nhiều thể tài khác nhau Đây là bài thơ số 43 trong “Bảo kính cảnh giới” Các bài thơ trong “Bảo kính cảnhgiới” hàm chứa nội dung giáo huấn trực tiếp, nhưng bài thơ này rất đậm đà chất trữ tình, cho

ta nhiều thú vị

Mở đầu bài thơ là câu lục ngôn nói lên một cảnh sống của thi nhân Câu thơ bình dị như một lời nói vui vẻ, thoải mái, hồn nhiên:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Ngày trường” là ngày dài “Rồi” là tiếng cổ, nghĩa là rỗi rãi, thong thả, nhàn hạ, cả trong công việc lẫn tâm hồn Câu thơ phản ánh một nếp sinh hoạt nhàn nhã: trong buổi ngày dài rỗi rãi, lấy việc hóng mát làm niềm vui di dưỡng tinh thần Ta có thể phán đoán Ức Trai viết bài thơ này khi ông đã lui về Côn Sơn ở ẩn

Năm câu thơ tiếp theo tả cảnh hè làng quê Việt Nam xa xưa Các câu 2, 3, 4 nói về cảnh sắc, hai câu 5, 6 tả âm thanh chiều hè Cảnh sắc hè trước hết là bóng hòe, màn hòe Lá hòe xanh thẫm, xanh lục Cảnh hòe sum sê, um tùm, lá “đùn đùn” lên thành chùm, thành đám xanh tươi, tràn đầy sức sống:

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”

Tán hòe tỏa bóng mát, che rợp sân, ngõ, vườn nhà, “giương” lên như chiếc ô, chiếc lọng căng tròn Mỗi từ ngữ là một nét vẽ màu sắc tạo hình gởi tả sức sống của cảnh vật đồng quê trong những ngày hè: lục, đùn đùn, tán, rợp giương Ngôn ngữ thơ bình dị, hàm súc và hình tượng

Trang 10

Câu tiếp theo nói về khóm thạch lựu ở hiên nhà trổ hoa rực rỡ:

“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”.

Thức tiếng cổ chỉ màu vẻ, dáng vẻ Trong cành lá xanh biếc, những đóa hoa lựu như chiếc đèn lồng bé tí phóng ra, chiếu ra, “phun” ra những tia lửa đỏ chói, đỏ rực Chữ “phun” được dùng rất hình tượng và thần tình

Hè rất đẹp, rộn ràng trong khúc nhạc làng quê Ngoài tiếng cuốc tiếng chim tu hú, tiếng sáodiều còn có tiếng ve, tiếng cười nói “lao xao” của đời thường:

Hai câu luận gợi tả thêm cho ta biết về cảnh sắc ngày hè qua ngòi bút tinh tế của Nguyễn Trãi

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Sau khi tả hòe màu “lục”, lựu “phun thức đỏ”, sen hồng đã “tiễn mùi hương”, nhà thơ nói đến âm thanh mùa hè, khúc nhạc đồng quê Tiếng “lao xao” từ một chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời dân đã đầy muối mặn và mồ hôi Hòa điệu với tiếng lao xao chợ

cá là tiếng ve vang lên rộn rã, nhịp nhàng “Cầm ve”, hình ảnh ẩn dụ, tả âm thanh tiếng ve kêu như tiếng đàn cầm “Dắng dỏi” nghĩa là inh ỏi, âm sắc tiếng ve trầm bổng, ngân dài vang

xa Ngôi lầu buổi xế chiều trở nên náo động rộn ràng Nhà thơ lấy tiếng ve để đặc tả khung cảnh một chiều hè làng quê lúc hoàng hôn buông dần xuống mái lầu (lầu tịch dương) là một nét vẽ tinh tế đầy chất thơ làm nổi bật cái không khí êm ả một chiều hè nơi thôn dã

Hai câu kết diễn tả ước mong nhà thơ:

“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương”.

Hai câu kết toát lên một tình yêu lớn Con người Ức Trai lúc nào cũng hướng về nhân dân, mong ước cho nhân dân được ấm no và nguyện hy sinh phấn đấu cho hoà bình, hạnh phúc của dân tộc:

Trong thơ Ức Trai, hai câu kết luôn luôn là sự hội tụ bừng sáng những tư tưởng tình cảm cao cả, đẹp đẽ

Bài thơ nôm ra đời gần 600 năm về trước miêu tả cảnh tình mùa hè nơi đồng quê, đã đem đến cho chúng ta nhiều thú vị văn chương Một giọng thơ thâm trầm, hồn hậu đáng yêu Cảnhsắc và âm thanh mùa hè quê ta xa xưa như sống dậy qua những vần thơ nhuần nhị đầy cá tính sáng tạo Ức Trai đã gửi gắm một tình yêu thiên nhiên nồng hậu, một tấm lòng thiết tha với cuộc sống, một niềm ước mong tốt đẹp cho hạnh phúc của nhân dân Vĩ đại thay Ức Trai Bài học thương yêu nhân dân mà ông nói đến lúc nào cũng mới mẻ và đậm đà

III Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế

độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân , vừabảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhântình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho “Nhàn” là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi

Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy

Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị :

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Trang 11

Thơ thẩn dù ai vui thú nào”

Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khác, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ thẩn được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự

Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người kiếm chốn lao xao”

Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào vềranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ xưng Ta một cách ngạo nghễ, một bên là Người; một bên là dại của Ta, một bên là khôn của người; một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao Mượn cách nói ấy,nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoagiữa chốn lao xao Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản :

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hoà hợp với tự nhiên Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư

Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định :

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý Bài thơ Nhàn bao quát toàn bộ triết trí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vi thối nát Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính

Trang 12

2 Kiểm tra bài cũ:

Kết hợp trong bài dạy

- GV: Nội dung yêu nước có những biểu

hiện như thế nào? Nêu VD cụ thể?

- GV: Đặc điểm và biểu hiện của CNNĐ

trong VHTĐVN? Nêu VD?

Nhìn một cách kháI quát, VHTĐ VN có nhữngnội dung chính:

- Chủ nghĩa yêu nước:

- CN nhân đạo

- Cảm hứng thế sự

1 Chủ nghĩa yêu nước :

CN yêu nước là nội dung lớn, xuyên suốt quátrình hình thành và phát triển của VHTĐVN

- Đặc điểm : Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữatruyền thống yêu nước của dân tộc và tưtưởng trung quân ái quốc Tuy nhiên sự li tâmvới tư tưởng này càng về sau càng rõ nét

- Biểu hiện :+ Khi đất nước có giặc ngoại xâm :Lòng căm thù giặc

Tinh thần quyết chiến quyết thắng với kẻ thùxâm lược

Ý thức độc lập dân tộc, niềm tự hào dân tộc -> Tác phẩm : Tỏ lòng, Phú sông BĐ, Đại cáobình Ngô

+ Khi đất nước hoà bình:

Tình yêu thiên nhiên, đất nước, sự gắn bó thathiết với quê hương

Ý thức giữ gìn và chấn hưng nền VHDT-> Tác phẩm: Quy hứng, Cảnh ngày hè, Tựa

“Trích diễm thi tập”…

2 Chủ nghĩa nhân đạo:

- Cũng là một nội dung lớn xuyên suốt củaVHTĐ VN

- Đặc điểm: Truyền thống nhân đạo VN kếthợp với tư tưởng nhân văn tích cực vốn có của

NG, PG, Lão Trang

- Biểu hiện:

+ Tình yêu thương đối với con người+ Sự lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tànbạo

+ Tiếng nói khẳng định, đề cao con người vàkhát vọng chân chính (sống, hạnh phúc, công

lí, chính nghĩa)

Trang 13

- GV: Biểu hiện của cảm hứng thế sự

+ Bài thơ làm tháng 6 năm Nhâm Dần(TrầnNguyên Đán)

+ Thơ NBK+ Thượng kinh kí sự…

- Cảm hứng thế sự trong VHTĐ góp phần tạotiền đề cho sự ra đời của VH hiện thực thời kìsau”

4 Củng cố:

- Những nét chính về ND của VHTĐ VN

5 Hư ớng dẫn HS chuẩn bị bài:

- Những nét chính về NT

Ngày đăng: 19/05/2021, 13:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w