1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tạp chí Nghề cá sông Cửu Long: Số 13/2019

108 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Nghề cá sông Cửu Long: Số 13/2019 trình bày các nội dung chính sau: Kết quả bảo tồn và sinh sản cá chạch lấu, cá lăng vàng tại Bình Phước, thực nghiệm mô hình luân canh tôm sú – lúa xen canh tôm càng xanh toàn đực, thử nghiệm giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trên nuôi tôm thẻ thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG

TS PHAN THANH LÂM

Thư ký tòa soạn:

ThS HOÀNG THỊ THỦY TIÊN

Email: ria2@ mard.gov.vn

In tại: Công ty In Liên Tường

240/59-61-63 Nguyễn Văn Luông

Quận 6, TP HCM

Kết quả bảo tồn và sinh sản cá chạch lấu,

cá lăng vàng tại Bình Phước.

Result of conservation and spawning Mastacembelus favus, Hemibagrus nemurus

ĐOÀN VĂN BẢY, PHAN THANH LÂM, ĐINH TRANG ĐIỂM, NGUYỄN SONG HÀ,

NGUYỄN HOÀNG LINH, HUỲNH QUỐC KHỞI, LÊ KIM YẾN, ĐẶNG BÍCH DUY, PHẠM HOÀNG VŨ,

VÕ VĂN BÉ, PHAN VĂN HÀ

13-23

Thử nghiệm giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trên nuôi tôm thẻ thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Trialing technical solutions on reduction GHG emission in intensive white leg shrimp farming practices in the Mekong river delta.

NGUYỄN VĂN PHỤNG, PHAN THANH LÂM,

ĐOÀN VĂN BẢY, ĐỖ THÚY HÀ,

PATRIK HENRIKSSON ĐINH XUÂN LẬP, NGUYỄN THẾ DIỄN

24-34

Độ an toàn của cao chiết khổ sâm (Croton tonkinensis) đối với tôm thẻ (Penaeus vannamei) ở điều kiện in vitro.

Safety of Croton tonkinensis extract with respect to white-leg shrimp (Penaeus vannamei) under in vitro

TRƯƠNG HỒNG VIỆT, ĐỖ THỊ CẨM HỒNG, TRẦN BÙI TRÚC QUÂN, VŨ THIÊN ÂN

35-44 Trang

Trang 2

2 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Nghiên cứu điều kiện tối ưu nuôi cấy thu

nhận bào tử Bacillus S5 bằng phương

pháp đáp ứng bề mặt (RSM).

Fermentation conditions for optimization of

spore production in Bacillus S5 using response

surface method (RSM).

VÕ HỒNG PHƯỢNG, ĐẶNG NGỌC THÙY,

NGUYỄN THỊ LAN CHI, NGUYỄN THANH TRÚC,

CHU QUANG TRỌNG, PHẠM THỊ HUYỀN DIỆU

45-56

Khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố môi

trường đến sự phát triển của vi tảo biển

Thalassiosira sp trong điều kiện phòng thí

nghiệm.

A study of some environmental factors effects

on the growth of Thalassiosira sp in the

laboratory conditions.

VÕ TRƯỜNG GIANG, HỒ HỒNG NHUNG,

NGUYỄN THỊ MAI ANH VÀ NGUYỄN HỮU THANH

57-65

Hiện trạng chất lượng nước vùng nuôi

cá tra trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu

Long năm 2018.

Current situation of water quality in Pangasius

farm areas in the Mekong delta in 2018.

NGUYỄN THANH TRÚC, LÊ HỒNG PHƯỚC,

THỚI NGỌC BẢO, ĐẶNG NGỌC THÙY,

TRẦN MINH THIỆN, ĐẶNG THỊ NGỌC HÂN

66-78

Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung bã sữa đậu nành lên men bán rắn đến tăng trưởng và hình thái ruột của cá rô phi

(Oreochromis niloticus).

Effect of fermented soy milk residues supplementation on growth perfomance and distal intestine morphology in Tilapia.

NGUYỄN THÀNH TRUNG, NGUYỄN VĂN NGUYỆN,

TRẦN VĂN KHANH, LÊ HOÀNG, TRẦN THỊ LỆ TRINH, ĐINH THỊ MẾN, NÔNG THỊ NƯƠNG, HUỲNH THỊ THẢO QUYÊN,

NGUYỄN THỊ NGỌC TĨNH

79-87

Nghiên cứu quy trình thủy phân tế bào nấm men thu nhận beta glucan từ bã men bia khô.

Optimization of yeast cells hydrolysation to obtain beta-glucan from spent brewer’s yeast residue.

PHẠM DUY HẢI, NGUYỄN QUỐC CƯỜNG,

LÝ HỮU TOÀN, NGUYỄN VĂN NGUYỆN

88-95

Nghiên cứu bổ sung chế phẩm ecdysone

tạo cua (Scylla serrata) lột.

Study on ecdysone supplementation to produce soft shell mud crab (Scylla serrata).

TRẦN VĂN KHANH, LÊ HOÀNG, NGUYỄN THÀNH TRUNG, TRẦN THỊ LỆ TRINH,

NGUYỄN VĂN NGUYỆN

96-107

Trang 3

3TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

KẾT QUẢ BẢO TỒN VÀ SINH SẢN CÁ CHẠCH LẤU,

CÁ LĂNG VÀNG TẠI BÌNH PHƯỚC

Nguyễn Văn Hiệp1*, Đặng Văn Trường1, Nguyễn Tấn Phước2,

Nguyễn Mạnh Hùng2, Nguyễn Thị Trinh Lưu2

TÓM TẮT

Bảo tồn và sinh sản nhân tạo cá chạch lấu, cá lăng vàng được tiến hành tại Trung tâm Giống Thủy sản Bình Phước từ năm 2017-2019 Cá bố mẹ được tập hợp từ nguồn tự nhiên ở các hồ lớn tại Bình Phước Cá chạch lấu được nuôi vỗ trong giai đặt trong ao, và cá lăng vàng được nuôi vỗ trong ao;

và cả hai loài cá này đều được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp Mùa vụ sinh sản trong năm bắt đầu từ tháng 3-8, tập trung vào tháng 6-7, tỷ lệ thành thục của cá chạch lấu là 50-63%, cá lăng vàng

là 15-22% Chất kích thích sinh sản được sử dụng là HCG kết quả cho thấy HCG hiệu ứng tốt trên

cá chạch lấu và cá lăng vàng Thời gian hiệu ứng thuốc ở cá chạch lấu và cá lăng vàng lần lượt là 16-18 giờ và 10-12 giờ ở nhiệt độ 28-32 o C Trứng cá được gieo tinh bằng phương pháp nửa khô và

ấp dính trên khung lưới Tỉ lệ thụ tinh thấp nhất 60% ở cá chạch lấu và 80% ở cá lăng vàng Trứng

cá chạch lấu nở sau 46-55 giờ và cá lăng vàng sau 28-32 giờ ở nhiệt độ 28-30 o C Sau 72 giờ, cá bột được chuyển đến bể ương, cá chạch lấu được ương với mật độ 1.000-1.500 con/bể 2 m 3 và cá lăng vàng được ương ở mật độ 10.000-15.000 con/m 3 Thức ăn trong giai đoạn ương là Artemia, Moina, trùn chỉ và thức ăn công nghiệp Tỷ lệ sống thấp nhất ở cá chạch lấu là 44,6% và cá lăng vàng là 62,5% Kết quả khảo sát đặc điểm sinh học cá chạch lấu và cá lăng vàng ở Bình Phước cho thấy đây

là 2 loài cá phân bố rộng rãi ở Việt Nam.

Từ khóa: Mastacembelus, Hemibagrus, sinh sản nhân tạo, HCG, cá giống.

1 Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

2 Trung tâm Giống Thủy sản Bình Phước.

*Email: nguyenvanhiep1979@gmail.com

I MỞ ĐẦU

Cá lăng vàng (Hemibagrus nemurus) có

kích thước nhỏ hơn lăng nha, những con lớn

thường gặp có trọng lượng khoảng 300-500 g

Tuy nhiên, cá lăng vàng có giá thương phẩm

cao và rất được ưa chuộng trên thị trường, thịt

thơm ngon Loài cá này có sức sinh sản tự nhiên

không cao nhưng khai thác nhiều nên số lượng

ngày một khan hiếm Cá lăng vàng có thể nghiên

cứu và sinh sản nhân tạo được ngay trên địa bàn

tỉnh Bình Phước Đây cũng là cơ sở khả quan

cho việc phục hồi đàn cá trong tự nhiên.

Cá chạch lấu (Mastacembelus favus)

là loài có kích thước lớn nhất trong giống

Mastacembelus Thịt cá dai, thơm ngon, không

xương dăm Cá chạch lấu phân bố rộng rãi ở các

tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, có thể chưa là

đối tượng có nguy cơ tuyệt chủng của những địa phương này, nhưng đối với tỉnh Bình Phước thì nguy cơ tuyệt chủng là rất cao

Ở khu vực tỉnh Bình Phước, một số loài thủy sản quý hiếm cần được bảo vệ như cá lăng nha, lăng vàng, trèn bầu, lóc bông và chạch lấu, trèn kết, trèn kính, v.v Nếu 2 đối tượng cá lăng vàng, cá chạch lấu được lưu giữ, chúng sẽ góp phần quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học

Để duy trì lâu dài thì động vật thủy sản lưu giữ đã già cần được tái tạo quần đàn Việc thăm dò sinh sản rất quan trọng trong nhiệm vụ lưu giữ và bảo tồn, là cơ sở tốt phục vụ công tác tái tạo Do đó, việc lưu giữ bảo tồn và thăm dò kích thích sinh sản nhân tạo cá chạch lấu và cá lăng vàng là việc cấp thiết hiện nay Nghiên cứu này với mục tiêu chính là i) Tập hợp nguồn gen cá chạch lấu và

Trang 4

4 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

cá lăng vàng trên địa bàn tỉnh Bình Phước phục

vụ cho việc bảo tồn và lưu giữ, và ii) Thăm dò

sinh sản nhân tạo, tái tạo nguồn lợi tự nhiên từ

02 nguồn gen đã thu thập cho các hồ trên địa

bàn tỉnh Bình Phước

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Vật liệu

Cá chạch lấu và cá lăng vàng được tiến

hành thu mẫu tại 08 hồ bao gồm: hồ thủy điện

Sookpumiêng, hồ thủy điện Thác Mơ, hồ Cần

Đơn, hồ Đồng Xoài, hồ Phước Hòa, hồ Suối

Giai, hồ Nông Trường 6, hồ Long Tân trên địa

bàn tỉnh Bình Phước

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Tập hợp và thuần dưỡng

Cá lăng vàng được nuôi trong ao đất có diện

tích 1.000 m2, độ sâu 1,5 m tại Trung tâm Giống

Thủy sản Bình Phước Cá chạch lấu được nuôi

trong giai (3×4×1 m) đặt trong ao cá lăng vàng

Mật độ nuôi cá chạch lấu 1 kg/m2 giai và cá lăng

vàng là 0,5 kg/m2 Ao được thay nước 3 ngày/

lần, mỗi lần 20-30% thể tích nước ao Cá được

cho ăn bằng thức ăn viên Greenfeed chứa 42%

chất đạm Khẩu phần ăn 2,6% khối lượng thân

cho cá chạch lấu và 2% khối lượng thân cho cá

lăng vàng, cho ăn 3 lần/ngày Theo dõi các chỉ

tiêu thủy lý hóa như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan,

NH3 và NO2 ngày 2 lần

2.2.2 Thăm dò sinh sản

Cá chạch lấu và cá lăng vàng được kích

thích sinh sản bằng HCG Đối với cá chạch lấu,

cá cái được tiêm 03 liều Liều dẫn 500 IU/kg;

liều sơ bộ dao động từ 1.200-2.000 IU/kg tùy

mức độ thành thục; Liều quyết định 3.000 IU/

kg Cá đực tiêm 1 liều bằng 1/3 liều của cá cái

và tiêm cùng thời gian tiêm liều quyết định Đối

với cá lăng vàng, cá cái được tiêm 02 liều, liều

sơ bộ 1.000 IU/kg; Liều quyết định 3.000 IU/kg

Cá đực tiêm 1 liều 1.300 IU/kg và tiêm cùng thời

điểm tiêm liều quyết định

2.2.3 Ấp trứng và ương cá bột lên giống

Trứng được rải trên giá thể lưới đặt trong

bể composit Trong quá trình ấp, cho nước chảy

nhẹ để thay nước thường xuyên và có sục khí

để cung cấp đủ oxy Sau khi trứng nở xong thì vớt giá thể ra và xi phông loại bỏ trứng hư Cá bột ương lên cá giống trên bể composite 2 m3, mật độ là 1.000-1.500 con/m3 (cá chạch lấu), 10.000-15.000 con/m2 (cá lăng vàng) Thức ăn gồm có Moina, trùn chỉ, thức ăn công nghiệp

2.2.4 Tìm hiểu đặc điểm sinh học

Cá chạch lấu và cá lăng vàng được tìm hiểu

một số đặc điểm sinh học như hình thái, dinh dưỡng và sinh trưởng, sinh sản theo Nikolsky (1963) và hướng dẫn nghiên cứu cá của Pravdin (1973) Cá chạch lấu có số mẫu n = 70, cá lăng vàng có số mẫu n = 30

III KẾT QUẢ 3.1 Tập hợp thuần dưỡng cá bố mẹ

Trang 5

5TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Bảng 1 Khối lượng và số lượng cá chạch lấu đã thu thập

Thời gian ĐVT Khối lượng Số con Chết khi vận chuyển

- Cá lăng vàng thu thập được 300 con, tổng

khối lượng là 210 kg Khối lượng trung bình 259 g, khối lượng lớn nhất thu thập được 0,7 kg/con (Bảng 2)

Bảng 2 Khối lượng và số lượng cá lăng vàng đã thu thập

Thời gian ĐVT Khối lượng Số lượng con Chết khi vận chuyển

- Tỷ lệ sống sau giai đoạn thuần dưỡng: Cá

chạch lấu đạt tỷ lệ sống 95% Cá lăng vàng đạt tỷ lệ sống trên 90% (Bảng 3)

Bảng 3 Tỷ lệ sống cá chạch lấu và cá lăng vàng

Loại cá Khối lượng trung bình (g) Số cá thể Số cá chết Tỉ lệ sống %

Trang 6

6 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

3.2 Kết quả nuôi vỗ cá chạch lấu và cá lăng

vàng

Các yếu tố môi trường trong ao nuôi vỗ dao

động trong khoảng thích hợp Nhiệt buổi sáng

dao động 29,3±1oC, buổi chiều 31,2±1oC; pH

buổi sáng 7,7±0,5 buổi chiều 8,1±0,3

Tỷ lệ thành thục của cá chạch lấu dao động từ 52,6-63,2% đối với cá cái, và cá đực dao động từ 37,9-50,5% (Bảng 4) Tỷ lệ thành thục của cá lăng vàng dao động từ 15-22% đối với cá cái, và cá đực dao động từ 15-22% (Bảng 4)

Bảng 4 Hệ số thành thục cá chạch lấu và cá lăng vàng Loại cá Năm Giới tính Tỷ lệ thành thục (%)

- Cá chạch lấu được thăm dò cho sinh sản 5

đợt bằng HCG, liều dẫn 500 IU/kg cá cái, liều

sơ bộ 1.000-1.200 IU/kg cá cái, liều quyết định 3.000 IU/kg cá cái Cá đực tiêm 1/3 liều cá cái Kết quả đạt được theo Bảng 5

Bảng 5 Tổng hợp kết quả thăm dò sinh sản cá chạch lấu

Thời gian đẻ Cái SL cá bố mẹ Đực HCG (IU) Tỷ lệ thụ tinh Tỷ lệ nở SL bột (con)

tuyệt đối từ 4.500 – 4.700 trứng/cá cái

Kết quả từ Bảng 5 cho thấy, HCG có tác

dụng khá tốt khi dùng để kích thích sinh sản

cá chạch lấu thông qua tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở

khá cao và ổn định Nếu so với các kết quả sinh

sản nhân tạo của các tác giả trước đây của Đặng

Văn Trường (2009) hoặc Phan Phương Loan

(2010)thì HCG có tác dụng ổn định và tốt nhất đối với cá chạch lấu

3.3.2 Cá lăng vàng

- Cá lăng vàng được thăm dò cho sinh sản

2 lần bằng HCG, liều sơ bộ 1.000 IU/kg cá cái, liều quyết định 3.000 IU/kg cá cái Cá đực tiêm 1.300 IU/kg Kết quả đạt được thể hiện trong Bảng 6

Trang 7

7TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Bảng 6 Tổng hợp kết quả thăm dò sinh sản cá lăng vàng

tuyệt đối từ 54.820 trứng/cá cái

- Kết quả từ Bảng 6 cho thấy, cá lăng vàng

dễ thích nghi với điều kiện nuôi nhốt và có thể

dùng HCG để kích thích cá lăng vàng sinh sản

Tuy nhiên, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở chưa cao,

điều này có thể là do chất lượng trứng chưa đạt

giai đoạn IV đồng đều Kết quả này có thể thấy

rõ hơn ở kết quả nuôi vỗ thành thục của cá lăng vàng khá thấp chỉ đạt từ 15% đến 22%

Thời gian hiệu ứng của kích thích sinh sản dài hay ngắn còn phụ thuộc vào các yếu tố như loài cá, nhiệt độ nước Đối với cá chạch lấu thời gian hiệu ứng nằm trong khoảng 10-12 giờ, thời gian khá dài so với các tác giả khác đã thực hiện trên hai đối tượng này (Bảng 7)

Bảng 7 Thời gian hiệu ứng thuốc của một số tác giả đã thực hiện

Loài cá Kích dục tố Thời gian hiệu ứng (giờ) Nguồn (tác giả)

3.4 Kết quả ương cá bột lên cá giống

Cá chạch lấu được ương mật độ 1.000 con/

m3, trong 15 ngày đầu cá bột được cho ăn Moina,

ngày 16 đến ngày 30 cho ăn trùn chỉ, từ ngày 31

đến ngày 41 vừa cho ăn trùn chỉ và tập cho ăn

thức ăn công nghiệp và từ ngày 42 trở đi cho ăn

thức ăn công nghiệp 40% đạm Cá được cho ăn

theo khả năng bắt mồi Trong tháng đầu thay nước

1-2 ngày/lần phụ thuộc chất lượng nước Sau đó

định kỳ thay nước 3 ngày/lần Sau 2 tháng ương

ăn công nghiệp 40% đạm Cá được cho ăn theo khả năng bắt mồi Trong tháng đầu thay nước 1-2 ngày/lần phụ thuộc chất lượng nước Sau

đó định kỳ thay nước 3 ngày/lần Sau 2 tháng ương cá lăng vàng đạt tỷ lệ sống 62,5-66,7% (Bảng 8)

Bảng 8 Tỷ lệ sống giai đoạn ương cá chạch lấu và cá lăng vàng.

Loài cá Ngày Số lượng cá bột

(con)

Số lượng cá giống (con)

Tỷ lệ sống (%)

Trang 8

8 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

+ Tốc độ tăng trưởng của cá chạch lấu và cá lăng vàng thể hiện trong Bảng 9

Bảng 9 Tăng trưởng cá chạch lấu và cá lăng vàng giống

Sinh trưởng và dinh dưỡng: Dạ dày to và

thành dạ dày rất dày giúp cá nghiền thức ăn động vật rất tốt Ruột cá ngắn, tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài chuẩn (Li/Lo) trung bình 0,9 (dao động từ 0,7 đến 1,1) (Bảng 10) Tỷ lệ Li/Locủa cá phụ thuộc vào kích cỡ cá và cá ăn động vật càng mạnh khi càng lớn Cá có thể sử dụng tốt thức ăn viên công nghiệp dạng nổi Cá bột sau 2 đến 3 ngày tuổi hết noãn hoàng, thức ăn

ưa thích của chúng là Rotifer, Artemia và Moina mới nở Khi được 5 ngày tuổi cá ăn được Moina lớn và trùn chỉ, ngoài ra chúng còn có thể ăn cá tạp xay nhuyễn Khi cá trên 20 ngày tuổi có thể

ăn thức ăn công nghiệp dạng viên > 0,5 mm Sau 1 tháng tuổi cá có thể đạt chiều dài 4-5 cm Ngoài tự nhiên, cá có kích thước lớn lên đến 60

cm Trong điều kiện nuôi cá có thể đạt đến 100g sau 3 tháng nuôi

Phân bố: Cá lăng vàng xuất hiện ở khu vực

nước ngọt và lợ như cửa sông, độ mặn dưới 6‰,

thuộc lưu vực sông Bé, sông Đồng Nai, sông Sài

Gòn, sông Tiền và sông Hậu Cá thích sống ở

những nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh, hang hóc

Tại Bình Phước, cá lăng vàng phân bố ở các

hồ lớn bao gồm: hồ thủy điện Sookpumiêng, hồ

thủy điện Thác Mơ, hồ Cần Đơn, hồ Đồng Xoài,

hồ Phước Hòa, hồ Suối Giai, hồ Nông Trường

6, hồ Long Tân

Hình thái: Cá lăng vàng có thân hình thon dài

và hơi dẹp bên về hướng đuôi Đầu có dạng hình

chóp, xương đầu dẹp ngang và tương đối bằng

Miệng rộng và dạng miệng dưới Răng thuộc

loại răng lá mía, tạo thành một dãy hơi cong Hai

mắt lớn trung bình Cá lăng vàng có 4 đôi râu, 2

đôi râu hàm trên và 2 đôi râu hàm dưới Râu hàm

trên kéo dài đến vây hậu môn Vây ngực và vây

Bảng 10 Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài chuẩn cá lăng vàng

Khối lượng (g) Chiều dài (L, cm) Chiều dài (L

o, cm) Chiều dài ruột (L i, cm) L i /L o

Trang 9

9TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Sinh sản: Đây là loài được phân biệt giới

tính ngay từ khi còn nhỏ khi cá 5 tháng tuổi trở

đi có thể phân biệt cá đực và cá cái bằng các chỉ

tiêu hình thái bên ngoài Đối với cá cái: Cá có lỗ

sinh dục dạng tròn to hơi lồi ra ngoài Đến mùa

sinh sản, đối với cá cái, dùng que thăm trứng

để xác định độ thành thục của từng con Ngoài

ra, còn dựa vào một số yếu tố cảm quan như:

bụng to và mềm đều; lỗ sinh dục to và có màu

ửng hồng; Trứng căng tròn và có độ rời; trứng

màu vàng nhạt, đường kính trứng 1,2-1,3 mm

Đối với cá đực: Cá đực có gai sinh dục dài và

nhọn Đến mùa sinh sản cá đực có gai sinh dục

dài màu ửng hồng; cá đực có thân hình thon dài,

không quá mập Theo kết quả theo dõi của đề

tài, mùa vụ sinh sản cá lăng vàng từ tháng 3-9

Phân bố: Cá chạch lấu (Mastacembelus

favus) là loài cá nước ngọt thuộc họ cá chạch,

phân bố ở vùng Đông Nam Á thuộc hạ lưu sông

Mêkông như Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt

Nam.Tại Bình Phước, cá chạch lấu phân bố ở

các hồ như: hồ thủy điện Sookpumiêng, hồ thủy

điện Thác Mơ, hồ Cần Đơn, hồ Đồng Xoài, hồ Phước Hòa, hồ Suối Giai, hồ Nông Trường 6,

hồ Long Tân

Hình thái: Cá chạch lấu có thân dài, đầu nhỏ

nhọn, mõm kéo dài, phía trước có nếp nhăn hoạt động được, gai lưng nằm rời nhau phía trước, công thức vây lưng là (XXXV) và vây hậu môn

là (III) liền nhau với vây đuôi, vây ngực (24) tròn và ngắn Trên thân có các vân hình mạng lưới, màu nâu đậm bao quanh các đốm màu nâu nhạt hơn; dạng hình yên ngựa trên lưng, hình tròn ở bên hông và mặt dưới các đốm này có thể dính liền nhau Trên đầu có một vân dọc màu nâu thẩm

Sinh trưởng và dinh dưỡng: Miệng cá

chạch lấu có thể co duỗi được, vách miệng kéo dài gần tới mắt Răng hàm nhỏ, mịn, rải đều trên

cả 2 hàm Lược mang thưa Thực quản ngắn, mặt trong thực quản có nhiều nếp gấp nên co giãn được Dạ dày có hình chữ J, kích thước không lớn, vách dày, mặt trong có nhiều nếp gấp Ruột gấp khúc và có vách dày Tỉ lệ giữa chiều dài chuẩn với chiều dài cơ thể cá chạch lấu trung bình là 0,38 (Bảng 11) Cá sử dụng thức ăn là động vật như cá con, giun, giáp xác Theo Nikolsky (1963), những loài cá có tính ăn thiên về động vật sẽ có trị số Li/Lo≤1, cá ăn tạp

có Li/Lo=1-3 và ăn thiên về thực vật Li/Lo>3, đối chiếu với kết quả nghiên cứu có thể kết luận rằng cá chạch lấu thuộc loài cá ăn động vật và chủ động tìm mồi

Bảng 11 Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài chuẩn cá chạch lấu

Khối lượng (g) Chiều dài (L, cm) Chiều dài

Đặc điểm sinh học sinh sản cá chạch lấu:

Đây là loài phân biệt giới tính ngay từ khi còn

nhỏ, tuy nhiên, giai đoạn cá chưa thành thục rất

khó phân biệt cá chạch lấu đực và cá cái bằng

các chỉ tiêu hình thái bên ngoài Đối với cá cái:

Cá chạch lấu cái thành thục thường có chiều dài thân ngắn hơn cá chạch lấu đực, lỗ sinh dục to hơi lồi ra ngoài Đối với cá đực thành thục có thân thon, dài hơn cá cái, lỗ sinh dục nhỏ tròn hơi lõm Theo kết quả theo dõi của đề tài cho

Trang 10

10 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

thấy, mùa vụ sinh sản của cá chạch lấu trong số

mẫu khảo sát trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5

đến tháng 9 trong năm và tập trung vào tháng

6-7 Trong điều kiện nhân tạo cá có thể tham gia

sinh sản từ tháng 3

3.6 Kết quả khảo sát bệnh.

Kết quả theo dõi bệnh định kỳ trên hai loài

cá chạch lấu và cá lăng vàng được lưu giữ cho

thấy, cá bố mẹ và giống thường nhiễm một số

bệnh nhiễm ký sinh bởi trùng bánh xe và trùng

quả dưa

IV THẢO LUẬN

Theo kết quả khảo sát, cá chạch lấu và cá

lăng vàng ngoài tự nhiên tại Bình Phước còn

tương đối ít, để đạt được kết quả về số lượng và

chất lượng đàn cá bố mẹ về chỉ tiêu hình thái và

hiện trạng sức khỏe cá lưu giữ như mong muốn,

cần phải thu thập cá trong thời gian khá dài Tuy

nhiên, do cá được thu thập trong tỉnh, quãng

đường vận chuyển ngắn nên tỷ lệ sống cá khá

cao Bên cạnh đó, việc quản lý, chăm sóc tốt nên

cá không xảy ra bệnh trong quá trình lưu giữ

góp phần tăng tỷ lệ sống (Bảng 3)

Qua thời gian nuôi vỗ, tỷ lệ thành thục của

cá chạch lấu dao động từ 52,6-63,2% đối với

cá cái và cá đực dao động từ 37,9-50,5% (Bảng

4) Tỷ lệ thành thục của cá lăng vàng dao động

từ 15-22% đối với cá cái và cá đực dao động

từ 15-22% (Bảng 4) Theo kết quả Bảng 4 cho

thấy tỷ lệ thành thục của cá chạch lấu nuôi tại

Bình Phước thấp hơn so với kết quả nghiên cứu

của Đặng Văn Trường và ctv., (2009) tỷ lệ thành

thục trong đàn đối với cá đực là 92% và con cái

là 87% và tỷ lệ thành thục của cá lăng vàng nuôi

tại Bình Phước thấp hơn so với kết quả nghiên

cứu trước đây của Nguyễn Chung (2008) tỷ lệ

thành thục cá lăng vàng trên 80%

Kết quả thăm dò sinh sản cho thấy, cá chạch

lấu cho tỷ lệ thụ tinh 60-80%, tỷ lệ nở 30-90%

(Bảng 5) và tỷ lệ sống 45-75% (Bảng 8) So

với kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Trường

(2009)thì tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ sống tương đương

nhau (tỷ lệ thụ tinh 68,5-73,3% và tỷ lệ sống

ở mật độ 1.000 con/m2 là 58,6%) Tuy nhiên,

so với kết quả của Phan Phương Loan (2010)

sử dụng trên cá chạch lấu (Mastacembelus

armatus) thì thấp hơn (tỷ lệ nở đạt 91% trở lên)

có thể do điều kiện ở Bình Phước thời tiết nóng hơn nên kết quả cũng có phần thấp hơn Đối với

cá lăng vàng cho tỷ lệ thụ tinh 80-85%, tỷ lệ nở 50-60% (Bảng 6) và tỷ lệ sống 62-66% (Bảng 8) Kết quả cho thấy so với các kết quả trước đây là cao hơn, theo Nguyễn Chung (2008) thụ tinh 50%, nở 70-80% tỷ lệ sống 30%

Kết quả khảo sát đặc điểm sinh học cá chạch lấu và cá lăng vàng ở Bình Phước cho thấy tương đối tương đồng với kết quả trước đây của Nguyễn Chung (2008).Ở Việt Nam, cá chạch lấu và cá lăng vàng không chỉ phân bố

ở Đồng bằng sông Cửu Long mà còn phân bố rộng rãi lên tận Bình Phước

V KẾT LUẬN

Tổng số cá đang lưu giữ tại Trung tâm Giống Thủy Bình Phước đến tháng 5 năm 2019 là: Cá lăng vàng 273 con, đạt tỷ lệ sống 91%; cá chạch lấu 190 con, tỷ lệ sống đạt được là 95%.Tốc độ tăng trưởng của cá tương đối chậm, khối lượng trung bình mới thu thập cá lăng vàng

là 259 g, đến tháng 5 năm 2019 khối lượng trung bình là 361,9 g Khối lượng trung bình cá chạch lấu khi thu thập là 210,9 g, đến tháng 5 năm

2019 khối lượng trung bình là 371,3 g

Tỉ lệ thành thục của cá lăng vàng cao nhất

Trang 11

11TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

Nguyễn Tường Anh,1999 Một số vấn đề về nội

tiết sinh học cá Nhà xuất bản Nông nghiệp, 238

trang.

Nguyễn Tường Anh, 2005 Kỹ thuật sản xuất giống

một số loài cá nuôi Nhà xuất bản Nông nghiệp.

Nguyễn Chung, 2008 Kỹ thuật sản xuất giống và

nuôi thương phẩm cá lăng nha, cá lăng vàng Nhà

xuất bản Nông nghiệp.

Nguyễn Quốc Đạt, 2007 Thử nghiệm sản xuất

giống nhân tạo cá chạch sông (Macrognathus

siamensis) Luận văn thạc sĩ, Đại học Cần Thơ;

Bùi Lai, 1985 Cơ sở sinh lý sinh thái Nhà xuất bản

Nông nghiệp,180 trang.

Ngô Văn Ngọc, 2005 “Quy trình công nghệ sản

xuất giống cá lăng vàng (Mystus nemurus

Valenciennes, 1839)”, Khoa thủy sản, Đại học

Nông Lâm Tp HCM Tuyển tập Quy trình công nghệ sản xuất giống Thủy sản, Trung tâm khuyến ngư Quốc gia, 2005.

Đặng Văn Trường, Phạm Văn Khánh, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thanh Nhân, Trần Hữu Phúc,

2009 “Kết quả bước đầu sinh sản nhân tạo cá

chạch lấu (Mactacembelus favus Hora, 1923)” Tuyển tập nghề cá sông Cửu Long, 2009, trang

208-214.

Nikolsky G.V., 1963 Sinh thái học cá (Phạm Thị Minh Giang dịch) Nhà xuất bản Đại học, 156 trang.

Pravdin, 1973 Hướng dẫn nghiên cứu cá Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Hà Nội Phạm Thị Minh Giang dịch 276 trang.

Tài liệu tiếng Anh

Rainboth, W J., 1996 Fishes of the Cambodian Mekong FAO, Rome 265 pp.

Trang 12

12 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

RESULT OF CONSERVATION AND SPAWNING

Mastacembelus favus, Hemibagrus nemurus IN BINH PHUOC

Nguyen Van Hiep1*, Đang Van Truong1, Nguyen Tan Phuoc2,

Nguyen Manh Hung2, Nguyen Thi Trinh Luu2

ABSTRACT

The conservation anh artificial spawning of Mastacembelus favus, Hemibagrus nemurus was carried

out in Binh Phuoc Aquaculture Breeding Center from 2017 to 2019 Broodstocks were collected

from the wild source in large lakes in Binh Phuoc province M favus was cultured in cage placed in the pond, and H nemurus was cultured in the pond; both fish species were fed industrial feed The

breeding season often starts from March to August, concentrating during June and July The rate

of M favus maturation was from 50% to 63%, while H nemurus was from 15% to 22% Inducing

agent was HCG(Human Chorionic Gonadotropin), HCG results have good effect on both M favus and H nemurus The time of drug effects in M favus and H nemurus at 28-32 o C were 16-18 and 10-12 hours, respectively Eggs are fertilized by semi-dry method and incubated on the grid net

The lowest rate of fertilization is 60% of M favus and 80% of H Nemurus Eggs of M favus and

H nemurus hatched at 28-30o C after 46-55 and 28-32 hours, respectively After 72 hatching hours,

fry fish were moved to nursing tank, M favus were stocked with density from 1,000 to 1,500 fry/

tank 2 m 3 and nursing density of H nemurus from 10,000 to 15,00 fry/tank 1 m3 Feeds including Artemia, Moina, worms and industrial feed were used in the nursery stage The lowest survival rate

of M favus is 44.6% and 62.5% for H nemurus The study results on biological characteristics of

M favus and H nemurus in Binh Phuoc show that these are two fish species widely distributed in

Vietnam.

Keywords: Mastacembelus, Hemibagrus , artificial spawning, HCG, fingerling.

Người phản biện: TS Nguyễn Tuần

Ngày nhận bài: 20/5/2019 Ngày thông qua phản biện: 20/6/2019

Ngày duyệt đăng: 26/6/2019

1 National Breeding Center for Southern Freshwater Aquaculture, Research Institute for Aquaculture No.2.

2 Binh Phuoc Aquaculture Breeding Center.

*Email: nguyenvanhiep1979@gmail.com

Trang 13

13TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

THỰC NGHIỆM MÔ HÌNH LUÂN CANH TÔM SÚ – LÚA XEN CANH

TÔM CÀNG XANH TOÀN ĐỰC

Đoàn Văn Bảy1*, Phan Thanh Lâm1, Đinh Trang Điểm1, Nguyễn Song Hà2, Nguyễn Hoàng Linh2, Huỳnh Quốc Khởi3, Lê Kim Yến3, Đặng Bích Duy3, Phạm Hoàng Vũ3, Võ Văn Bé4, Phan Văn Hà4

TÓM TẮT

Thực nghiệm này nhằm cải tiến kỹ thuật ương và nuôi xen canh tôm càng xanh (TCX) trong ruộng lúa từ đó nâng cao hiệu quả của mô hình tôm - lúa TCX được ương 30-45 ngày với mật độ 13 con /m 2 Mật độ nuôi trên ruộng lúa là 1-2 con/m 2 Tại Bạc Liêu, TCX nuôi trong ruộng lúa năng suất đạt 441 kg/ha/vụ, kích cỡ 30-35 con/kg, lợi nhuận 3-11 triệu đồng/ha/vụ Năng suất lúa 4,5 tấn/ha/

vụ, lợi nhuận từ TCX và lúa đạt 6,1-14,6 triệu đồng/ha/năm Tại Sóc Trăng, năng suất TXC từ 576-

796 kg/ha/vụ, kích cỡ 25-30 con/kg, lợi nhuận đạt từ 21,5-48,9 triệu đồng/ha/vụ Năng suất lúa đạt 5,14-6,71 tấn/ha/vụ, lợi nhuận từ TCX và lúa đạt từ 25,4-57,4 triệu đồng/ha Ngoài ra mô hình này còn thu được lợi nhuận từ tôm sú, cua và cá trong cùng ao nuôi.

Từ khóa: Nuôi tôm càng xanh, mô hình tôm - lúa.

1 Phòng Sinh thái nghề cá và Tài nguyên thủy sinh vật, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

2 Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam

3 Trung tâm khuyến nông tỉnh Bạc Liêu

4 Trung tâm khuyến nông tỉnh Sóc Trăng

*Email: dvbayvn@icloud.com

I GIỚI THIỆU

Vùng tôm sú-lúa (T-L) tại Mỹ Xuyên được

biết đến là vùng T-L tiêu biểu của tỉnh Sóc Trăng

với diện tích khoảng 10.000 ha trên diện tích

17.700 ha nuôi tôm nước lợ Sản xuất tôm và

lúa theo mô hình này dựa trên sự xâm nhập mặn

vào mùa khô (nuôi tôm từ tháng 2 đến tháng

8) và trồng lúa vào mùa mưa, khi có đủ lượng

nước ngọt để rửa mặn (từ tháng 9 đến tháng 1

năm sau) Năng suất tôm sú tương đối ổn định,

giai đoạn năm 2010-2014 dao động ở mức

400-550 kg/ha (Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Sóc

Trăng, 2015)

Vùng T-L của tỉnh Bạc Liêu tập trung tại

phía Bắc quốc lộ 1A gồm huyện Phước Long,

Hồng Dân và một phần của huyện Giá Rai

Diện tích T-L gia tăng từ 5.851 ha năm 2001

lên 29.607 ha năm 2014, định hướng đến năm

2030 là 43.000 ha Mô hình T-L canh tác luân

phiên 2 vụ tôm và 1 vụ lúa Vụ tôm sú bắt đầu

thả giống từ tháng 2-3 và kết thúc vào khoảng

tháng 7 với trung bình 2 lần thả giống/vụ/năm,

vụ lúa xuống giống bắt đầu từ tháng 8-9 nếu sạ

giống dài ngày và từ tháng 9-10 nếu sạ giống ngắn ngày trong thời gian này có thể thả nuôi xen TCX vào ruộng lúa nếu điều kiện phù hợp Diện tích canh tác T-L trung bình từ 1,0-2,5 ha/

hộ, mật độ thả tôm sú giống dao động 2-3 con/

m2, năng suất bình quân tôm sú 350-400 kg/ha/

vụ, chi phí sản xuất 30-35 triệu đồng/ha/vụ, mỗi

hộ lãi từ 35-50 triệu đồng/ha/vụ tính cả tôm và lúa (Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bạc Liêu, 2015) Trong những năm gần đây, TCX toàn đực được đưa vào mô hình nuôi xen canh trong

vụ lúa đã nâng cao hiệu quả đáng kể cho người nuôi, tại Bạc Liêu, mật độ thả TCX trung bình

từ 0,5-1 con/m2, giống được ương trước khi

sạ lúa từ 1-1,5 tháng, năng suất tôm thu được khoảng 90-100 kg/ha Lợi nhuận trung bình từ 10-15 triệu đồng/ha/năm

Nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác thông minh này, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II thực hiện Dự án nuôi tôm sú luân canh với trồng lúa và xen canh TCX toàn đực trong vụ lúa tại

Trang 14

14 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu và huyện

Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Dự án đã cung cấp

các thông số kinh tế và kỹ thuật có thể áp dụng

trong thực tế sản xuất tại địa phương Mục tiêu

cụ thể của dự án là xen canh TCX trong ruộng

lúa nhằm đạt 500-600 kg/ha/vụ/năm; lúa đạt 5-6

tấn/ha/vụ/năm tại Sóc Trăng Tại Bạc Liêu năng

suất TCX 100 kg/ha/vụ/năm; lúa đạt 4,5 tấn/ha/

vụ/năm

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Chọn hộ thực hiện mô hình

Tại tổ hợp tác (THT) Tiến Phát, ấp Phước

Trường, xã Phước Long, huyện Phước Long,

tỉnh Bạc Liêu chọn được 05 hộ thực hiện mô

hình và 03 hộ đối chứng, mỗi hộ có tham gia với

diện tích là 1 ha Tại THT Tôm - Lúa - Màu, ấp

Hòa Lời, xã Ngọc Đông, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh

Sóc Trăng chọn 05 hộ thực hiện mô hình và 03

hộ đối chứng, mỗi hộ có tham gia với diện tích

là 1 ha (Hình 1)

Hình 1 Vị trí thực hiện mô hình T-L tại Phước

Long, Bạc Liêu và Mỹ Xuyên, Sóc Trăng

2.2 Xây dựng và thử nghiệm mô hình

Phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Sóc Trăng xây dựng phương pháp nuôi TCX trong mô hình luân canh T-L

Về mùa vụ:

Bảng 1 Lịch thời vụ nuôi TCX trong ruộng lúa

Áp dụng tại Phước Long, Bạc Liêu

THÁO CHUA, RỬA MẶN

TRỒNG LÚA

Gieo sạ/cấy từ tháng 9, thu hoạch

vào tháng 12 (4 tháng)

NUÔI TÔM CÀNG XANH

Ương vào giữa tháng 8

(30-45 ngày)

Nuôi trong ruộng từ giữa tháng 9

đến tháng 01 năm sau (4,5 tháng)

Áp dụng tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng

NUÔI TÔM CÀNG XANH

Trang 15

15TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

4

Về thiết kế hệ thống ao nuôi/ruộng:

Hình 2 Thiết kế ruộng nuôi tôm, cua, cá, TCX- lúa tại Phước Long, Bạc Liêu

(Hình mô tả cho 1 ha diện tích)

Ao ương/lắng: Chiếm 10-15% diện tích, tại Bạc Liêu, ao này dùng ương tôm sú trong tháng 2, ương TCX trong giữa tháng 8, đóng vai trò là ao lắng trữ/cấp nước cho ao nuôi tôm

sú từ tháng 2-7, sử dụng trồng lúa tháng 9-12 Tại Sóc Trăng, dùng ương TCX từ tháng 7-10

Là ao lắng trữ/cấp nước cho ao nuôi tôm sú từ tháng 4-10, sử dụng trồng lúa tháng 10-01 năm

sau

Hình 3 Thiết kế ruộng nuôi tôm, cua, cá, TCX - lúa tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng

(Hình mô tả cho 1 ha diện tích) Mương/ruộng nuôi tôm sú/cua/TCX/cá: Chiếm 60-70% diện tích, tại Bạc Liêu dùng nuôi tôm sú/cua-cá từ tháng 2-7, trồng lúa trên trảng từ tháng 9-12 xen canh với

nuôi TCX/cá Tại Sóc Trăng, dùng nuôi tôm sú từ tháng 4-10, trồng lúa từ tháng 10-01

năm sau TCX được chuyển từ ao ương/lắng sang ruộng lúa sau khi sạ/cấy lúa 3-4 tuần

Mương bao nuôi tôm/cá chiếm 10% diện tích (1.000m 2 ) Ao ương/lắngchiếm

15% diện tích (1.500m 2 ) :

- Ương tôm càng xanh

- Trồng lúa vào mùa mưa

Mặt trảng trồng lúa chiếm 45% diện tích

Mương bao nuôi tôm/cá chiếm 10% diện tích (1.000m 2 ) Ao ương/lắng

chiếm 15% diện tích (1.500m 2 ) :

- Ương tôm càng xanh

- L à ao lắng cấp nước cho ao nuôi tôm

- Trồng lúa vào mùa mưa

Mặt trảng trồng lúa chiếm 60% diện tích

4

Về thiết kế hệ thống ao nuôi/ruộng:

Hình 2 Thiết kế ruộng nuôi tôm, cua, cá, TCX- lúa tại Phước Long, Bạc Liêu

(Hình mô tả cho 1 ha diện tích)

Ao ương/lắng: Chiếm 10-15% diện tích, tại Bạc Liêu, ao này dùng ương tôm sú trong tháng 2, ương TCX trong giữa tháng 8, đóng vai trò là ao lắng trữ/cấp nước cho ao nuôi tôm

sú từ tháng 2-7, sử dụng trồng lúa tháng 9-12 Tại Sóc Trăng, dùng ương TCX từ tháng 7-10

Là ao lắng trữ/cấp nước cho ao nuôi tôm sú từ tháng 4-10, sử dụng trồng lúa tháng 10-01 năm

sau

Hình 3 Thiết kế ruộng nuôi tôm, cua, cá, TCX - lúa tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng

(Hình mô tả cho 1 ha diện tích) Mương/ruộng nuôi tôm sú/cua/TCX/cá: Chiếm 60-70% diện tích, tại Bạc Liêu dùng nuôi tôm sú/cua-cá từ tháng 2-7, trồng lúa trên trảng từ tháng 9-12 xen canh với

nuôi TCX/cá Tại Sóc Trăng, dùng nuôi tôm sú từ tháng 4-10, trồng lúa từ tháng 10-01

năm sau TCX được chuyển từ ao ương/lắng sang ruộng lúa sau khi sạ/cấy lúa 3-4 tuần

Mương bao nuôi tôm/cá chiếm 10% diện tích (1.000m 2 ) Ao ương/lắngchiếm

15% diện tích (1.500m 2 ) :

- Ương tôm càng xanh

- Trồng lúa vào mùa mưa

Mặt trảng trồng lúa chiếm 45% diện tích

Mương bao nuôi tôm/cá chiếm 10% diện tích (1.000m 2 ) Ao ương/lắng

chiếm 15% diện tích (1.500m 2 ) :

- Ương tôm càng xanh

- L à ao lắng cấp nước cho ao nuôi tôm

- Trồng lúa vào mùa mưa

Mặt trảng trồng lúa chiếm 60% diện tích

Tại Phước Long, Bạc Liêu:

• Tháo chua rửa mặn cho ruộng lúa sau

vụ nuôi tôm sú vào tháng 7-8

• Gieo sạ/cấy lúa vào tháng 9 thu hoạch

Tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng:

• Ương TCX trong ao ương 30-45 ngày trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 10

• Gieo sạ/cấy lúa vào tháng 10 thu hoạch vào tháng 01 năm sau

Về thiết kế hệ thống ao nuôi/ruộng:

Hình 2 Thiết kế ruộng nuôi tôm, cua, cá, TCX- lúa tại Phước Long, Bạc Liêu

(Hình mô tả cho 1 ha diện tích)

Ao ương/lắng: Chiếm 10-15% diện tích, tại

Bạc Liêu, ao này dùng ương tôm sú trong tháng

2, ương TCX trong giữa tháng 8, đóng vai trò

là ao lắng trữ/cấp nước cho ao nuôi tôm sú từ

tháng 2-7, sử dụng trồng lúa tháng 9-12 Tại Sóc Trăng, dùng ương TCX từ tháng 7-10 Là ao lắng trữ/cấp nước cho ao nuôi tôm sú từ tháng 4-10, sử dụng trồng lúa tháng 10-01 năm sau

Hình 3 Thiết kế ruộng nuôi tôm, cua, cá, TCX - lúa tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng

(Hình mô tả cho 1 ha diện tích)Mương/ruộng nuôi tôm sú/cua/TCX/cá:

Chiếm 60-70% diện tích, tại Bạc Liêu dùng

nuôi tôm sú/cua-cá từ tháng 2-7, trồng lúa trên

trảng từ tháng 9-12 xen canh với nuôi TCX/cá

Tại Sóc Trăng, dùng nuôi tôm sú từ tháng 4-10,

trồng lúa từ tháng 10-01 năm sau TCX được

chuyển từ ao ương/lắng sang ruộng lúa sau khi

sạ/cấy lúa 3-4 tuần

Kỹ thuật nuôi TCX toàn đực:

Cải tạo ao ương TCX: Dọn vệ sinh, gia cố

bờ bao Bón vôi CaO đáy và bờ ao, liều lượng khoảng 1-2 tấn/ha Phơi ao, thời gian phơi từ 10-15 ngày tùy điều kiện từng ao

Cải tạo mương/ruộng nuôi: Sau khi thu hoạch lúa/TCX/cá, xả hết nước, phơi se khô mặt

Trang 16

16 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

ruộng (để nguyên gốc rạ); Ngâm - rửa phèn 2-3

ngày, sau đó vệ sinh mặt trảng trong thời gian

5-7 ngày; Phơi vuông từ 2-3 ngày, rải vôi CaO

với liều lượng 50-80 kg/1.000 m2

Chuẩn bị nước cho ao ương: Lấy vào

khoảng 1,2-1,4 mét Để cho trứng cá tạp nở,

sau 3-5 ngày tiến hành diệt khuẩn bằng 25 kg

chlorin/1.000 m2; Sau 7-10 ngày tiếp theo bón

phân gây màu Phân vô cơ: Urea, NPK, DAP

với liều lượng 1-3 kg/1.000m3

Chuẩn bị nước cho mương/ruộng nuôi: Lấy

nước vào khoảng 1,2-1,4 mét, chuyển tôm từ ao

ương sang

Mật độ ương TCX: 13 con/m2 Nuôi trên

ruộng lúa: 1-2 con/m2

Thức ăn viên công nghiệp sử dụng cho ương

TCX Giai đoạn ương giống cho ăn 4 lần Lượng

thức ăn trong ngày đầu là 1-1,5 kg/100.000 tôm

Sau đó mỗi ngày tăng 250 gr/ngày Giai đoạn

nuôi ngoài ao nuôi cho ăn 2 lần/ngày kết hợp

bón phân định kỳ để tạo thức ăn tự nhiên

Sau 1,5 tháng từ khi chuyển TCX từ ao

ương sang cấp/thay 10-20% nước từ ao lắng

Thu hoạch: Tiến hành thu tỉa khi đạt trọng

lượng thương phẩm Sau vụ nuôi tiến hành bơm

cạn nước thu hoạch toàn bộ

Kỹ thuật trồng lúa:

Thực hiện rửa mặn, làm đất trước khi sạ ít

nhất 30 ngày

Tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng sử dụng giống

lúa RVT, OM4900, tại Phước Long, Bạc Liêu

sử dụng giống lúa lai BTE1

Ngâm ủ hạt giống cho đến khi mầm mọc từ

Tại Sóc Trăng, sử dụng 30% phân hữu

cơ Bioway Hitech thay thế dần phân hóa học

(30% phân hữu cơ + 70% phân hóa học) so

với tập quán canh tác trước đây sử dụng 100%

phân hóa học

Tại Phước Long, Bạc Liêu vào giai đoạn

18 và 45 ngày sau sạ, sử dụng Hydrophos để hạ phèn Phun HT Casi bổ sung vào 30 và 45 ngày sau sạ để tăng khả năng chống chịu mặn cho cây lúa và để kích thích rễ phát triển

Thu hoạch: Rút khô ruộng lúc 15 ngày sau khi trổ sẽ giúp lúa chín nhanh; Cắt và tuốt hạt sau khi có 90% hạt lúa chín vàng; Không phơi

mớ ngoài đồng, tập trung phơi khô nhất sau khi tuốt hạt; Không phơi trên sân xi măng, phơi cho

đủ độ khô cần thiết ẩm độ khoảng 14%

2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế và kỹ thuật của mô hình thử nghiệm

Áp dụng các công thức tính sau để xác định các chỉ tiêu kinh tế:

• Tổng chi phí (TC): TC = TFC + TVC

• Tổng thu nhập (TR): TR = TVP = Q x P

• Tổng lợi nhuận (PR): PR = TR – TC Trong đó: TFC: tổng chi phí cố định (triệu đồng/ha/vụ)

TVC: tổng chi phí biến đổi (triệu đồng/ha/vụ)

Tổng thu nhập (TR) được tính bằng cách nhân giá (P) và sản lượng (Q)

III KẾT QUẢ 3.1 Một số yếu tố kỹ thuật khi nuôi xen canh TCX trong mô hình T-L

3.1.1 Tại Phước Long, Bạc Liêu

Trong quá trình cải tạo ao ương dùng vôi CaCO3 với liều lượng 10 kg/100m2 bón để cải tạo đáy Tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong bón phân bằng DAP với liều lượng 2kg/1.000m2 Các yếu tố môi trường lúc thả giống: pH = 7,8,

độ mặn = 1%o, độ trong = 350 cm, NH3 = 0, tiến hành thả giống

Thời gian ương TCX trung bình là 45 ngày, trước khi thả ra ruộng lúa trọng lượng trung bình đạt 5 g/con, tỷ lệ sống 85% Sau thời gian nuôi trong ruộng lúa là 4,5 tháng, trọng lượng trung bình đạt 32 con/kg, tỷ lệ sống đạt 60%.Đối với trảng trồng lúa, xới đất và bón 300

kg vôi CaCO3 để rửa mặn, rửa tầng đất mặt và cả

ở tầng sâu, giúp rễ lúa phát triển tốt về sau Thực

Trang 17

17TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

hiện 6 lần bơm nước ngọt vào ruộng, ngâm đất 7

ngày, sau đó xổ nước để rửa mặn, phèn Độ mặn

trong nước là 0%o tiến hành sạ lúa

3.1.2 Tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng

Cả 05 hộ đều thả giống TCX toàn đực vào

ngày 3/9/2016, số lượng thả 13.000 con/hộ

Thời gian ương từ 30-45 ngày, trước khi thả ra ruộng lúa trọng lượng trung bình đạt 4-5,5 g/con, tỷ lệ sống giai đoạn ương 80-90% Thời gian nuôi từ 185-188 ngày, tỷ lệ sống giai đoạn nuôi trong ruộng lúa từ 58-64% (Bảng 2)

Bảng 2 Một số thông số kỹ thuật vụ nuôi TCX tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng Ngày thả giống Ngày nuôi Hộ Trọng lượng

(gr)

Trọng lượng (con/kg) Tỷ lệ sống (%)

Mỗi hộ xuống giống 45,5 kg (7,5

kg/1.000m2) Năm 2016 tại ấp Hòa Lời, xã

Ngọc Đông, vụ đông xuân 2016 nhiều hộ dân

bỏ không trồng lúa, chỉ tập trung vào nuôi tôm

sú và tôm thẻ nên vụ lúc của mô mình gặp nhiều

khó khăn về địch hại như chim, chuột …

3.2 Hiệu quả kinh tế khi nuôi xen canh

TCX trong mô hình T-L

Kết quả vụ nuôi cho thấy, tại Phước Long,

Bạc Liêu năng suất TCX đạt trung bình 441

kg/ha/năm, kích cỡ tôm đạt 30-35 con/kg, lợi

nhuận đạt từ 3-11 triệu đồng/ha Năng suất lúa đạt trung bình 4,5 tấn/ha, lợi nhuận từ TCX

và lúa đạt từ 6,1-14,6 triệu đồng/ha (Bảng 3) Ngoài ra trong mùa khô tôm sú cũng được nuôi trên diện tích này đạt năng suất 410 kg/ha, lợi nhuận đạt 18,7 triệu/ha Thu nhập từ cá rô phi đạt 100-150 kg/năm (2-3 triệu đồng/ha) và 100 kg/năm cua tương đương 11-12 triệu đồng/ha/năm (Số liệu tham khảo từ tôm sú, cua và cá rô phi trong mô hình)

Bảng 3 Kết quả vụ lúa/TCX của các hộ mô hình tại Phước Long, Bạc Liêu

Nội dung Văn Út Phạm Văn Lâu Dương Chúc Lệ Lê Thị Phan Tiến Hoàng Sơn Phạm Chi phí vụ TCX 21.165.000 21.165.000 21.265.000 21.700.000 21.900.000

Thức ăn (đ/ha) 5.100.000 5.100.000 5.200.000 5.200.000 5.500.000 Con giống TCX

(đ/ha) 11.700.000 11.700.000 11.700.000 11.700.000 11.700.000 Hóa chất, thuốc,

Trang 18

18 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Lợi nhuận từ

TCX (đ/ha) 8.697.000 6.947.000 3.017.000 7.316.000 10.904.000 Chi phí vụ lúa 7.074.000 7.119.000 6.264.000 7.839.000 7.479.000

Lúa giống (đ/ha) 1.539.000 1.539.000 1.539.000 1.539.000 1.539.000 Phân, thuốc (đ/ha) 3.375.000 3.240.000 3.060.000 4.725.000 4.140.000 Công lao động

(dặm lúa) (đ/ha) 1.800.000 2.250.000 1.575.000 1.125.000 1.350.000 Nhiên liệu (dầu

bơm nước) (đ/ha) 360.000 90.000 90.000 450.000 450.000

và lúa (đ/ha) 12.153.000 9.656.000 6.113.000 11.177.000 14.657.000

* Năng suất TCX chỉ tính trên diện tích mặt nước là 5.500 m2

** Năng suất lúa chỉ tính trên diện tích trảng 4.500 m2

Trong các hộ tham gia thực hiện mô hình,

hộ Phạm Hoàng Sơn có năng suất TCX cao nhất

(505 kg/ha/năm) do hệ thống kênh cấp thoát

nước tốt nhất, thường xuyên thay nước theo

thuỷ triều Đối với TCX nếu điều kiện nước tốt

được thay thường xuyên tôm sẽ phát triển tốt

hơn, cỡ tôm cũng lớn hơn

So với các hộ đối chứng, những cải tiến về ương, cho ăn trong giai đoạn ương TCX làm chi phí của những hộ mô hình cao hơn trung bình

là 7.300.000 đ/ha nhưng lợi nhuận đạt cao hơn, trung bình 6.500.000 đ/ha Trong khi đó năng suất lúa chênh lệch không có ý nghĩa (Bảng 4)

Bảng 4 Kết quả vụ lúa/TCX của các hộ đối chứng tại Phước Long, Bạc Liêu

(Tính trên diện tích canh tác là 1ha, thả TCX thường)

Nội dung Lê Văn Tám Trần Văn Nhị Phạm Thị Huyền Chi phí vụ TCX (đ/ha) 16.425.000 13.550.000 12.425.000

Trang 19

19TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Lợi nhuận từ tôm 3.195.000 3.930.000 (4.625.000) Chi phí vụ lúa (đ/ha) 13.950.000 15.400.000 13.500.000

Công lao động (dặm lúa) 1.500.000 1.200.000 1.500.000 Nhiên liệu (dầu bơm nước) 500.000 450.000 750.000

Thu từ lúa (đồng/ha) 20.800.000 24.440.000 21.840.000

Lợi nhuận từ lúa 6.850.000 9.040.000 8.340.000 Lợi nhuận từ tôm và lúa 10.045.000 12.970.000 3.715.000

* Năng suất TCX chỉ tính trên diện tích mặt nước là 5.500m2

** Năng suất lúa chỉ tính trên diện tích trảng 4.500m2

Qua Bảng 5 cho thấy, tại Sóc Trăng, năng

suất TXC thu hoạch đạt từ 576-796 kg/ha/năm

(kích cỡ 25-30 con/kg), lợi nhuận đạt từ

21,5-48,9 triệu đồng/ha Năng suất lúa đạt trung bình

5,14-6,71 tấn/ha, lợi nhuận thu từ lúa đạt 3,5-8,5

triệu/ha, lợi nhuận từ TCX và lúa đạt từ

25,4-57,4 triệu đồng/ha Năng suất tôm sú từ 1.210 kg/ha/năm, FCR = 1,3, lợi nhuận 43,18-53,5 triệu đồng/ha/năm Thu nhập từ cá rô phi 150-250 kg cá/năm tương đương 2-3 triệu đồng/ha/hộ (Số liệu tham khảo từ tôm sú, cua và cá rô phi trong mô hình)

1.050-Bảng 5 Kết quả vụ lúa/TCX của các hộ mô hình tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng

Nội dung Thái Văn Quận Đỗ Văn Minh Lê Minh Lanh Ngô Công Văn Võ Minh Chánh Chi phí vụ TCX 48.048.933 42.899.733 47.846.400 51.305.644 46.669.156

Thức ăn (đ/ha) 23.160.000 19.178.000 22.880.000 25.561.000 21.547.000 Con giống TCX

(đ/ha) 10.111.000 10.111.000 10.111.000 10.111.000 10.111.000 Hóa chất, thuốc,

vôi (đ/ha) 14.778.000 13.611.000 14.855.000 15.633.000 15.011.000

Thu từ TCX 82.211.1000 64.462.000 81.713.000 100.240.000 74.690.000

Sản lượng TCX

(kg/hộ/năm) 470 403 481 557 453 Năng suất TCX

Lúa giống (đ/ha) 1.169.000 1.169.000 1.169.000 1.169.000 1.169.000

Nội dung Lê Văn Tám Trần Văn Nhị Phạm Thị Huyền

Trang 20

20 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Phân, thuốc (đ/ha) 6.428.000 6.034.000 6.199.000 6.428.000 6.309.000Công lao động

(dặm lúa) (đ/ha) 2.571.000 2.743.000 2.829.000 2.914.000 2.691.000Nhiên liệu (dầu

bơm nước) (đ/ha) 1.714.286 1.628.571 1.800.000 1.885.714 1.629.000

Thu từ lúa

(đồng/ha) 18.000.000 15.429.000 17.271.000 20.949.000 15.377.000

Sản lượng lúa

(tấn/hộ/năm) 3,60 3,09 3,45 4,03 3,34 Năng suất lúa

(tấn/ha/năm)** 6,00 5,14 5,76 6,71 5,57 Giá bán (đ/kg) 5.000.000 5.000.000 5.000.000 5.200.000 4.600.000

Lợi nhuận từ lúa

(đ/ha) 6.117.000 3.854.000 5.275.000 8.551.000 3.579.000 Lợi nhuận từ tôm

và lúa (đ/ha) 40.279.000 25.416.000 39.142.000 57.485.000 31.600.000

* Năng suất TCX chỉ tính trên diện tích mặt nước là 7.000m2

** Năng suất lúa chỉ tính trên diện tích trảng 6.000m2

Trong các hộ tham gia thực hiện mô hình

tại Sóc Trăng, hộ Ngô Công Văn có năng suất

TCX cao nhất (796 kg/ha/năm), cũng giống như

ở Bạc Liêu, hộ này có hệ thống kênh cấp thoát

nước tốt, thường xuyên thay nước theo thuỷ

triều nên tôm sẽ phát triển tốt hơn và cỡ tôm

lớn hơn

So với các hộ đối chứng, những cải tiến về ương, cho ăn trong giai đoạn ương TCX làm chi phí của những hộ mô hình cao hơn trung bình

là 17.500.000 đ/ha nhưng lợi nhuận đạt cao hơn trung bình 33.300.000 đ/ha Bên cạnh đó, năng suất lúa của các hộ thuộc mô hình cao hơn 4,1 tấn/ha/vụ (Bảng 5 và Bảng 6)

Bảng 6 Kết quả vụ lúa/TCX của các hộ đối chứng tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng

(Tính trên diện tích canh tác là 1ha, thả TCX thường)

Nội dung Nguyễn Văn Điếu Lê Văn Thái Võ Thanh Tuấn Chi phí vụ TCX 35.150.000 35.000.000 19.315.000

Hóa chất, thuốc, vôi (đ/ha) 13.000.000 12.500.000 11.350.000

Nội dung Thái Văn Quận Đỗ Văn Minh Lê Minh Lanh Ngô Công Văn Võ Minh Chánh

Trang 21

21TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Công lao động (dặm lúa) (đ/ha) 1.500.000 1.200.000 1.500.000 Nhiên liệu (dầu bơm nước) (đ/ha) 1.000.000 1.000.000 1.000.000

Thu từ lúa (đồng/ha) 9.100.000 8.216.000 9.464.000

Lợi nhuận từ lúa 1.900.000 1.366.000 2.214.000 Lợi nhuận từ tôm và lúa 7.800.000 7.439.000 12.334.000

* Năng suất TCX chỉ tính trên diện tích mặt nước là 7.000m2

** Năng suất lúa chỉ tính trên diện tích trảng 6.000m2

Kết quả thực hiện mô hình đã cho thấy nuôi

TCX xen trong ruộng lúa có tính khả thi và hiệu

quả cao, góp phần đa dạng hóa thêm đối tượng

sản xuất và tận dụng khai thác tốt hơn diện

tích canh tác Việc thực hiện ương nuôi TCX 1

tháng trước khi thả ra ruộng lúa là cách tiếp cận

hợp lý, và cũng cần dành một phần diện tích để

tiếp tục nuôi TCX khi thu hoạch lúa (tiếp tục

nuôi 1-2 tháng) do thời gian canh tác lúa chỉ

khoảng 3-4 tháng, trong khi chu kỳ phát triển

của TCX đến lúc thu hoạch kéo dài khoảng 5-6

tháng Việc bố trí, thiết kế một ao ương và tiến

hành ương tôm (kể cả TCX và tôm sú) trước khi

chuyển ra ruộng nuôi giúp kiểm soát tốt hơn tỷ

lệ sống, giúp đầu tư hợp lý hơn, hạn chế rủi ro

và dễ quản lý ao nuôi hơn

IV THẢO LUẬN

Hiện nay, tại Bạc Liêu, tập quán nuôi của

người dân là ít đầu tư đến các kỹ thuật ương

tôm và nuôi trong điều kiện hở, phụ thuộc lớn

vào các yếu tố môi trường và thời tiết bên ngoài,

không giống như các mô hình nuôi thâm canh

khác nên tỉ lệ sống thấp, năng suất TCX trong

mô hình T-L hiện tại khoảng 90-110 kg/ha, mật

độ thả trung bình từ 0,5-1 con/m2 (Huỳnh Kim

Hường và ctv., 2016; Sở Nông nghiệp và PTNT

tỉnh Bạc Liêu, 2015) Kết quả thực nghiệm này

năng suất đạt 441 kg/ha/năm cho thấy tôm được

ương với mật độ 13 con/m2 trong thời gian từ

30-45, mật độ thả ra ruộng nuôi là 1-2 con/m2

ngày là giải pháp kỹ thuật cần thiết nhằm nâng

cao tỷ lệ sống của tôm trong giai đoạn đầu của

vụ nuôi

Từ 2014, TCX bắt đầu được thả nuôi xen canh với tôm sú trong ruộng lúa tại các tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng (Phạm Anh Tuấn

và ctv., 2015), tại Thới Bình, Cà Mau mô hình nuôi TCX xen canh trong ruộng lúa đã được người dân thực hiện từ năm 2012 Chi phí nuôi tôm càng xanh chỉ chiếm 11,8 % tổng chi phí sản xuất, nhưng đạt đến 22,7 % tổng lợi nhuận của cả mô hình tôm càng xanh – lúa và luân canh với tôm sú (Huỳnh Kim Hường và ctv., 2016) Tuy nhiên, trong mô hình canh tác T-L truyền thống, nông dân thường mua tôm giống (tôm sú và TCX) rồi thả trực tiếp vào trong ruộng lúa để nuôi lớn, kết quả là tỷ lệ sống của tôm đến khi thu hoạch thường thấp Năng suất TCX 179,1±96,6 kg/ha/vụ, cỡ 26±7,7 con/kg,

tỷ lệ sống đạt 41,8±17,5% (Đinh Trang Điểm và Trần Văn Việt, 2016) so với năng suất 576-796 kg/ha/năm, tỉ lệ sống đến khi thu hoạch từ 70-75% tại Mỹ Xuyên Sóc Trăng là còn hạn chế, như vậy việc ương tôm trong giai đoạn đầu sẽ góp phần tăng tỉ lệ sống từ đó cải thiện được năng suất tôm nuôi

V KẾT LUẬN

Thiết kế và tỉ lệ trảng/mương nuôi tại mỗi tỉnh thực hiện mô hình khác nhau nhưng áp dụng chung quy trình ương TCX trước khi thả

ra ruộng lúa với mật độ ương TCX là 13 con/m2 Mật độ nuôi trên ruộng lúa là 1-2 con/m2, thời gian ương là 30-45 ngày, trước khi thả ra ruộng lúa trọng lượng trung bình TCX đạt 5 g/con, tỷ

lệ sống 85%.Tại Bạc Liêu, thời gian nuôi trong ruộng lúa 4,5 tháng, tỷ lệ sống đạt 60%, năng

Nội dung Nguyễn Văn Điếu Lê Văn Thái Võ Thanh Tuấn

Trang 22

22 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

suất TCX 441 kg/ha/năm, cỡ tôm thu hoạch

30-35 con/kg, lợi nhuận 3-11 triệu đồng/ha Năng

suất lúa 4,5 tấn/ha, lợi nhuận từ TCX và lúa

6,1-14,6 triệu đồng/ha/năm So với hộ đối chứng,

năng suất TXC từ 60-180 kg/ha/năm, cỡ tôm

thu hoạch 26-35 con/kg, 2 trong 03 hộ nuôi có

lãi Tại Sóc Trăng, thời gian nuôi ngoài ruộng

lúa là 5 tháng, năng suất TCX từ 576-796 kg/

ha/năm, cỡ tôm thu hoạch 25-30 con/kg, lợi

nhuận đạt từ 21,5-50 triệu đồng/ha Năng suất

lúa 5,14-6,71 tấn/ ha, lợi nhuận 3,5-8,5 triệu/ha,

lợi nhuận từ TCX và lúa đạt từ 31,6-57,4 triệu

đồng/ha So với hộ đối chứng, năng suất TCX

từ 169-203 kg/ha/năm, cỡ tôm thu hoạch 32-37

con/kg và chỉ có 01 hộ có lãi

Từ kết quả trên cho thấy việc nuôi xen canh

TCX trong ruộng lúa đã góp phần nâng cao hiệu

quả sử dụng đất canh tác và tăng thu nhập cho

mô hình tôm-lúa, đây có thể xem là giải pháp

nhằm đa dạng hơn các đối tượng sản xuất mô

hình tôm-lúa so với trước đây

LỜI CẢM ƠN

Báo cáo này được chuẩn bị với sự tài trợ

kinh phí từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp

của Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam Các số

liệu sử dụng trong báo cáo này được tổng hợp

từ kết quả vụ nuôi TCX và lúa thuộc 2 mô hình

triển khai tại Sóc Trăng và Bạc Liêu Chúng tôi

cảm ơn lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Bạc

Liêu và Sóc Trăng các chuyên gia kỹ thuật: anh

Khởi, anh Hùng, chị Yến, anh Vũ, anh Thuỳ

(Bạc Liêu), anh Bé, anh Hà (Sóc Trăng) những

người đã tham gia trực tiếp với chúng tôi khi

thực nuôi TCX-lúa tại đây Chúng tôi cũng xin

gửi lời cảm ơn đến anh Song Hà, anh Hoàng

Linh, chị Minh Hương và anh Hưng (cán bộ FAO) về những hỗ trợ nhiệt tình trong cho thời gian chuẩn bị đề cương đế bố trí thực nghiệm Cuối cùng chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã cho phép chúng tôi tham gia thực hiện nhiệm này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Sóc Trăng, 2015

“Thực trạng phát triển mô hình Tôm – Lúa và giải pháp phát triển mô hình Tôm – Lúa tại tỉnh Sóc Trăng” Báo cáo tham luận tại Hội nghị “sản xuất tôm – lúa vùng ĐBSCL và định hướng phát triển” do Tổng cục Thủy sản tổ chức tại Kiên Giang ngày 23/9/2015.

Đinh Trang Điểm và Trần Văn Việt, 2016 “Đánh giá hiệu quả các mô hình nuôi tôm ở huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau” Kỷ yếu Hội nghị Khoa học trẻ Thuỷ sản toàn quốc lần thứ VII Viện NCNTTS II, trang 216-223.

Huỳnh Kim Hường, Lê Quốc Việt, Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Ngọc Hải, 2016 “Phân tích khía cạnh kỹ thuật và hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm càng xanh - lúa luân canh với tôm sú ở vùng nước lợ tỉnh Bạc Liêu” Tạp chı́ Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 43 (2016): 97- 105.

Phạm Anh Tuấn, Trần Ngọc Hải, Võ Nam Sơn và Trịnh Quang Tú, 2015 “Hiện trạng phát triển Tôm-Lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long” Báo cáo tư vấn, Viện Quản Lý & Phát Triển Đông Nam Á (AMDI) 81 trang.

Sở Nông nghiệp & PTNT Bạc Liêu, 2015 Báo cáo tham luận tại Hội nghị “sản xuất tôm – lúa vùng ĐBSCL và định hướng phát triển” do Tổng cục Thủy sản tổ chức tại Kiên Giang ngày 23/9/2015.

Trang 23

23TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

EXPERIMENTING INTERCROP ALL MALE GIANT FRESHWATER PRAWN IN ROTATION RICE - SHRIMP FARMING SYSTEMS

Doan Van Bay1*, Phan Thanh Lam1, Dinh Trang Diem1, Nguyen Song Ha2, Nguyen Hoang Linh2, Huynh Quoc Khoi3, Le Kim Yen3, Dang Bich Duy3, Pham Hoang Vu3, Vo Van Be4, Phan Van Ha4

ABSTRACT

This study aims to improve the nursery and aquaculture technical process of giant freshwater shrimp in rice fields, therefore improving effectiveness of the rotation shrimp- rice farming system Giant freshwater prawn were nursed from 30 to 45 days with density of 13 ind/m 2 and cultured in rice field with density of 1-2 ind/m 2 In Bac Lieu province, productivity was 441 kg/ ha/year, harvested size reached 30-35 ind/kg, and profit was 3-11 million/ha Rice productivity was 4.5 tonnes/ha, total profit from Giant freshwater prawn and rice was 6.1-14.6 million/ha/ year In Soc Trang province, Giant freshwater prawn yield reached 576 - 796 kg/ha/year, with harvested size at 25-30 ind/kg, and net return was 21.5-48.9 million/ha Rice productivity was 5.1-6.7 tonnes/ha, profit was 3.5-8.5 million/ha, and total profit from Giant freshwater prawn and rice was 25,4-57,4 million VND /ha In addition, this model also has profited from black tiger shrimp, crab, and fish culture in the same pond.

Keywords: Giant freshwater prawn, rotation of shrimp- rice farming system.

Người phản biện: PGS.TS Võ Nam Sơn

Ngày nhận bài: 18/5/2019 Ngày thông qua phản biện: 20/6/2019

Ngày duyệt đăng: 26/6/2019

1 Fisheries Ecological and Aquatic Resources Division, Research Institute for Aquaculture No.2

2 Food and Agriculture Organization of the United Nations, Vietnam.

3 Agricultural extension centre of Bac Lieu province.

4 Agricultural extension centre of Soc Trang province.

*Email: dvbayvn@icloud.com

Trang 24

24 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II

THỬ NGHIỆM GIẢI PHÁP GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TRÊN

NUÔI TÔM THẺ THÂM CANH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Nguyễn Văn Phụng1*, Phan Thanh Lâm1, Đoàn Văn Bảy1,

Đỗ Thúy Hà2, Patrik Henriksson3, Đinh Xuân Lập4,Nguyễn Thế Diễn4

TÓM TẮT

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là nhằm đo lường các chỉ số giảm phát thải khí nhà kính (GHGs)

trong nuôi tôm thâm canh thông qua việc thực hiện mô hình trình diễn với các giải pháp cải tiến về

kỹ thuật và quản lý trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (TCT) tại Đồng bằng sông Cửu Long

TCT được thả trong ao đất với mật độ là 80-90 con/m 2 ở hai nhóm nghiệm thức thí nghiệm Thời

gian nuôi trung bình kéo dài khoảng 2 đến 3 tháng Phương pháp đánh giá vòng đời (LCA) và phần

mềm chuyên dụng CMLCA được hỗ trợ để phân tích và đánh giá tác động môi trường từ hoạt động

sản xuất Các loại tác động môi trường bao gồm nóng lên toàn cầu (GW), chua hóa (Acd) và phú

dưỡng hóa (Eut) được phân tích và tính toán Kết quả phân tích LCA cho thấy, để sản xuất 1 tấn tôm

thương phẩm thì ao thí nghiệm cho các chỉ số: tác động nóng lên toàn cầu là 10.187 kg CO2-eq, tác

động chua hóa là 69 kg SO2-eq và tác động phú dưỡng hóa là 55 kg PO4-eq có khác biệt đáng kể và

thấp hơn so với ao đối chứng Trong các tác động phát thải khí nhà kính thì quá trình sản xuất thức

ăn đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ lệ đóng góp cao nhất, kế đến là quá trình vận hành ao nuôi

Tác động gây phát thải phú dưỡng hóa chiếm tỷ lệ cao nhất trong quá trình vận hành tại trang trại

nuôi tôm Các giải pháp tác động kỹ thuật trong quá trình vận hành ao nuôi đã góp phần làm giảm

tỷ lệ phú dưỡng hóa so với canh tác truyền thống lần lượt là 43,66 và 47,13%

Từ khóa: LCA, tôm thẻ, nóng lên toàn cầu, chua hóa, phú dưỡng hóa

1 Phòng Sinh thái nghề cá & Tài nguyên Thủy sinh vật, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.

2 Tổ chức Oxfam Việt Nam, 22 Lê Đại Hành, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

3 Trung tâm nghiên cứu phục hồi Stockholm, Kraftriket 2B, 114 19 Stockholm, Thụy Điển

4 Trung tâm hợp tác quốc tế nuôi trồng và khai thác thủy sản bền vững, 10 Nguyễn Công Hoan, Quận Ba Đình, Hà Nội

* Email: nguyenvanphung_ts2003@yahoo.com

I GIỚI THIỆU

Qua nhiều thập kỷ phát triển, nghề nuôi tôm

nước lợ đã trở thành hoạt động ngày càng quan

trọng và đóng vai trò chính trong nền kinh tế

- xã hội của đất nước, tạo ra sinh kế cho hàng

triệu nông hộ vùng ven biển và góp phần quan

trọng vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt

Nam Diện tích nuôi tôm nước lợ trên cả nước

tăng từ 455.786 ha năm 2001 lên đến 736.000

ha năm 2018, trong đó năm 2018 diện tích nuôi

tôm sú đạt 632.000 ha, diện tích nuôi tôm thẻ

chân trắng (TCT) đạt 104.000 ha Sản lượng đạt

được tương ứng năm 2018 khoảng 762.000 tấn

(trong đó sản lượng nuôi TCT chiếm khoảng

60%) mang lại kim ngạch xuất khẩu khoảng

3,6 tỷ USD (Tổng cục Thủy sản, 2018; VASEP, 2018)

Tuy nhiên, việc nhanh chóng mở rộng diện tích nuôi tôm ở quy mô thâm canh để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu đã gây ra những tác động tiêu cực ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh Các nguồn nước thải và chất thải trong hoạt động sản xuất nuôi tôm là các tác nhân chính góp phần làm ô nhiễm môi trường Một

số nguồn thải chính như: i) nước thải từ nguồn

thức ăn dư thừa, phân và các chất bài tiết của

tôm; ii) bùn thải chứa các loại hóa chất, thuốc

kháng sinh tích tụ và tồn lưu cho môi trường;

iii) phát thải từ việc sử dụng nhiên liệu: điện,

dầu từ các thiết bị vận hành như máy bơm, máy

Trang 25

25TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II

THỬ NGHIỆM GIẢI PHÁP GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH TRÊN

NUÔI TÔM THẺ THÂM CANH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Nguyễn Văn Phụng1*, Phan Thanh Lâm1, Đoàn Văn Bảy1,

Đỗ Thúy Hà2, Patrik Henriksson3, Đinh Xuân Lập4,Nguyễn Thế Diễn4

TÓM TẮT

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là nhằm đo lường các chỉ số giảm phát thải khí nhà kính (GHGs)

trong nuôi tôm thâm canh thông qua việc thực hiện mô hình trình diễn với các giải pháp cải tiến về

kỹ thuật và quản lý trong quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (TCT) tại Đồng bằng sông Cửu Long

TCT được thả trong ao đất với mật độ là 80-90 con/m 2 ở hai nhóm nghiệm thức thí nghiệm Thời

gian nuôi trung bình kéo dài khoảng 2 đến 3 tháng Phương pháp đánh giá vòng đời (LCA) và phần

mềm chuyên dụng CMLCA được hỗ trợ để phân tích và đánh giá tác động môi trường từ hoạt động

sản xuất Các loại tác động môi trường bao gồm nóng lên toàn cầu (GW), chua hóa (Acd) và phú

dưỡng hóa (Eut) được phân tích và tính toán Kết quả phân tích LCA cho thấy, để sản xuất 1 tấn tôm

thương phẩm thì ao thí nghiệm cho các chỉ số: tác động nóng lên toàn cầu là 10.187 kg CO2-eq, tác

động chua hóa là 69 kg SO2-eq và tác động phú dưỡng hóa là 55 kg PO4-eq có khác biệt đáng kể và

thấp hơn so với ao đối chứng Trong các tác động phát thải khí nhà kính thì quá trình sản xuất thức

ăn đóng vai trò quan trọng và chiếm tỷ lệ đóng góp cao nhất, kế đến là quá trình vận hành ao nuôi

Tác động gây phát thải phú dưỡng hóa chiếm tỷ lệ cao nhất trong quá trình vận hành tại trang trại

nuôi tôm Các giải pháp tác động kỹ thuật trong quá trình vận hành ao nuôi đã góp phần làm giảm

tỷ lệ phú dưỡng hóa so với canh tác truyền thống lần lượt là 43,66 và 47,13%

Từ khóa: LCA, tôm thẻ, nóng lên toàn cầu, chua hóa, phú dưỡng hóa

PO4) làm gia tăng tác động của biến đổi khí hậu

Hiện nay, chủ trương của Nhà nước là phát triển bền vững nghề tôm nước lợ để góp phần tái cơ cấu ngành thủy sản, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (QĐ 1648/QĐ-BNN-TT, 2013) Do đó, các yếu tố canh tác trong sản xuất nuôi tôm thâm canh và nhận thức

về tác động nguồn phát thải cần được quan tâm

để sản xuất nghề tôm bền vững hơn Các kết quả nghiên cứu về phát thải khí CO2, SO2 và

PO4 trong quá trình vận hành hoạt động sản xuất tại trang trại/nông hộ ở Việt Nam còn rất hạn chế và chỉ dừng lại ở mức độ ước lượng thông qua phương pháp điều tra phỏng vấn hộ/trang trại nuôi thủy sản và chưa có nghiên cứu thực nghiệm để tính toán chi tiết lượng phát thải ra ngoài môi trường từ hệ thống ao tôm thâm canh (Henriksson và ctv., 2017) Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm

đo lường các chỉ số giảm phát thải khí nhà kính (GHGs) trong nuôi tôm thông qua việc thực hiện mô hình trình diễn với các giải pháp cải tiến về kỹ thuật và quản lý trong quy trình nuôi tôm TCT tại Đồng bằng sông Cửu Long Dựa trên kết quả nghiên cứu này để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp cải tiến kỹ thuật và tăng cường nhận thức về tác động từ môi trường

để phát triển nghề tôm bền vững hơn

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Vật liệu nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành bố trí thực nghiệm tại các ao nuôi tôm TCT thâm canh và thu thập các dữ liệu bao gồm:

- Mẫu nước và bùn ao nuôi được thu định

kỳ 2 tuần/lần và thu trước khi thả tôm và sau khi thu hoạch tôm để phân tích các yếu tố thủy

lý hóa

- Các nguyên liệu yếu tố đầu vào và đầu ra

sử dụng trong quá trình vận hành ao tôm TCT thâm canh được ghi nhận vào logbook đã được thiết kế sẵn cho nông hộ theo dõi

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Mô tả hệ thống ao thí nghiệm

Thí nghiệm này được thiết kế gồm 2 nghiệm thức và 3 lần lập lại Nghiệm thức thí nghiệm (TN): tác động các giải pháp kỹ thuật trong quy trình ao nuôi tôm để giảm ảnh hưởng đến môi trường, với mật độ 80-90 con/m2 Hệ thống ao nuôi tôm thẻ thâm canh đã tồn tại trong khu vực nghiên cứu trước đây được thiết

kế và cải tiến lại hệ thống công trình ao nuôi gồm có: ao lắng, ao nuôi tôm, ao xử lý nước thải Rà soát và ứng dụng các thiết bị vận hành

hệ thống ao nuôi giảm tiêu thụ năng lượng

và đảm bảo nhu cầu oxy cho tôm bằng cách:

i) thiết kế, lắp đặt và vận hành hệ thống quạt nước hợp lý; ii) ứng dụng hộp giảm tốc và con lăn để giảm tiêu thụ điện năng Ao lắng (chứa) thả cá rô phi với mật độ 1-2 con/m2 để gây nuôi

tảo Chlorella nhằm cung cấp nguồn tảo có lợi

và nguồn thức ăn tự nhiên trong giai đoạn đầu của quá trình nuôi thương phẩm Quản lý và kiểm soát thức ăn với khẩu phần cho ăn hợp lý nhằm giảm thấp hệ số tiêu tốn thức ăn (eFCR)

Nước thải trong ao nuôi tôm từ việc thay nước, siphon sẽ được chuyển sang ao xử lý nước thải có thả cá rô phi với mật độ 1-2 con/m2

để xử lý ô nhiễm hữu cơ trước khi thải ra môi trường bên ngoài hoặc tái sử dụng cho các đợt nuôi tiếp theo Ở nghiệm thức đối chứng (ĐC):

áp dụng quy trình truyền thống theo tập quán canh tác của người dân địa phương, với mật độ 80-90 con/m2 Quy trình nuôi tôm này không chú trọng và quan tâm đến việc giảm thiểu tác động đến môi trường xung quanh

2.2.2 Các thông số về sản lượng tôm thu hoạch và hiệu quả kinh tế

Các thông số theo dõi bao gồm: tỷ lệ sống, kích cỡ tôm thu hoạch, hệ số tiêu tốn thức ăn (eFCR), lượng nhiên liệu tiêu thụ dầu và điện, sản lượng và lợi nhuận được theo dõi ở hai nghiệm thức thí nghiệm

2.2.3 Phương pháp đánh giá vòng đời (LCA)

Phương pháp đánh giá tác động vòng đời (LCA) được sử dụng để đánh giá những tác động môi trường mà quá trình sản xuất nuôi

Trang 26

26 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II

tôm thâm canh gây ra trong suốt chu kỳ nuôi,

phương pháp LCA thực hiện theo hướng dẫn

ISO 14044 (ISO 14044, 2006)

Xác định mục tiêu và phạm vi đánh giá

- Mục tiêu nghiên cứu là xác định các tác

động môi trường xảy ra trong quá trình canh tác

nuôi tôm thâm canh từ khâu chuẩn bị ao cho đến

khi thu hoạch

- Phạm vi của nghiên cứu LCA chủ yếu bao

gồm ranh giới hệ thống, đơn vị cơ sở, số liệu

canh tác và các giá trị tham khảo từ tài liệu Đơn

vị cơ sở trong nghiên cứu được xác định là một 1 tấn tôm sản xuất ra trong điều kiện canh tác của nông dân Ranh giới hệ thống bao gồm từ khâu chuẩn bị ao, cải tạo ao cho đến lúc thu hoạch tôm Các công đoạn bảo quản sau thu hoạch và chuyên chở sản phẩm đến người tiêu dùng, đại lý/vựa thu mua hoặc nhà máy chế biến thủy sản không bao gồm trong nghiên cứu này (Hình 1)

3

để giảm tiêu thụ điện năng Ao lắng (chứa) thả cá rô phi với mật độ 1-2 con/m để gây nuôi

tảo Chlorella nhằm cung cấp nguồn tảo có lợi và nguồn thức ăn tự nhiên trong giai đoạn đầu

của quá trình nuôi thương phẩm Quản lý và kiểm soát thức ăn với khẩu phần cho ăn hợp lý nhằm giảm thấp hệ số tiêu tốn thức ăn (eFCR) Nước thải trong ao nuôi tôm từ việc thay nước, siphon sẽ được chuyển sang ao xử lý nước thải có thả cá rô phi với mật độ 1-2 con/m2

để xử lý ô nhiễm hữu cơ trước khi thải ra môi trường bên ngoài hoặc tái sử dụng cho các đợt nuôi tiếp theo Ở nghiệm thức đối chứng (ĐC): áp dụng quy trình truyền thống theo tập quán canh tác của người dân địa phương, với mật độ 80-90 con/m2 Quy trình nuôi tôm này không chú trọng và quan tâm đến việc giảm thiểu tác động đến môi trường xung quanh

2.2.2 Các thông số về sản lượng tôm thu hoạch và hiệu quả kinh tế

Các thông số theo dõi bao gồm: tỷ lệ sống, kích cỡ tôm thu hoạch, hệ số tiêu tốn thức

ăn (eFCR), lượng nhiên liệu tiêu thụ dầu và điện, sản lượng và lợi nhuận được theo dõi ở hai nghiệm thức thí nghiệm

2.2.3 Phương pháp đánh giá vòng đời (LCA)

Phương pháp đánh giá tác động vòng đời (LCA) được sử dụng để đánh giá những tác

động môi trường mà quá trình sản xuất nuôi tôm thâm canh gây ra trong suốt chu kỳ nuôi,

phương pháp LCA thực hiện theo hướng dẫn ISO 14044 (ISO 14044, 2006)

Quy trình kỹ thuật

- Chuẩn bị ao

- Xử lý nước

- Chăm sóc và quản lý -Thu hoạch

Hình 1 Sơ đồ về ranh giới đánh giá tác động môi trường trong nuôi tôm thâm canh

Phân tích kiểm kê vòng đời (LCI)

Số liệu cơ bản về các yếu tố bên trong

trang trại/hộ nuôi tôm

Mô hình nuôi tôm thẻ thâm canh trong ao

đất được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 8 năm

2018 Sử dụng sổ nhật ký (logbook) cung cấp

cho người quản lý trang trại tham gia mô hình

trình diễn để ghi chép lại các thông tin liên

quan đến quá trình nuôi tôm Các số liệu sử

dụng trong quy trình nuôi tôm thâm canh như:

loại thức ăn, thành phần thức ăn và lượng thức

ăn tiêu thụ; sử dụng các loại thuốc và hóa chất;

tiêu thụ nhiên liệu như điện, xăng và dầu; các

yếu tố chất lượng nước được phân tích và tính

toán cho 1 đơn vị cơ sở là 1 tấn tôm nguyên

liệu Phát thải các chất dinh dưỡng đa lượng

vào nước liên quan đến nuôi tôm được ước

tính thông qua mô hình cân bằng dinh dưỡng

Các tính toán về lượng khí thải nitơ (N) và

phốt pho (P) dựa theo nghiên cứu của

Funge-smith và Briggs (1998).Tốc độ bay hơi từ các

ao được giả định là 0,7% dinitrogen monoxide

và 1% ammonia của tất cả nitơ dư thừa, tương ứng (Zimmo và ctv., 2003; Henriksson và ctv., 2015) và 533 kg methane/ha (CV = 0,4) (Astudillo và ctv., 2015)

Số liệu cơ bản về các yếu tố bên ngoài trang trại/hộ nuôi

Do các dữ liệu gây tác động môi trường bên ngoài như các phát thải từ quy trình sản xuất thức ăn, sản xuất xăng dầu, thuốc và hóa chất không thể thu thập được nên chúng được tính

toán từ nghiên cứu trước đây của Henriksson và

ctv., (2015) theo giả định là không thay đổi trong

điều kiện Việt Nam Sử dụng năng lượng: thành phần tiêu thụ điện ở Việt Nam được mô hình hóa dựa trên dữ liệu từ Hiệp hội Năng lượng Quốc tế (iea.org) Khí thải từ quá trình đốt cháy diesel được dựa trên quy trình sinh thái "diesel" được đốt trong máy xây dựng, nhưng được điều chỉnh theo nguồn cung cấp dầu tại Việt Nam Tính toán trực tiếp về tác động môi trường của việc sử dụng nguyên liệu thô và đất nông nghiệp được đề cập đến bởi Henriksson và ctv., (2015)

Trang 27

27TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Bảng 1 Nguồn nguyên liệu đầu vào và đầu ra để sản xuất 1 tấn tôm của mô hình nuôi tôm

TCT thâm canh trong ao đất

Chỉ tiêu Đơn vị Thí nghiệm Đối chứng Nguyên liệu đầu vào

kết quả chính từ phân tích kiểm kê số liệu (LCI)

và đánh giá tác động (LCIA) được diễn giải để đưa ra các kết luận và đề nghị cho nghiên cứu Phân tích các đóng góp của các yếu tố đầu vào đến các chỉ số phát thải cũng được rà soát để đưa ra các đề xuất phát triển quá trình sản xuất theo hướng giảm phát thải hiệu ứng nhà kính

2.2.4 Phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010

để tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.Phân tích tác động môi trường LCIA được

hỗ trợ bởi cơ sở dữ liệu kiểm kê ecoinvent (v2.2)

và phần mềm CMLCA (Đại học Leiden)

Đánh giá tác động vòng đời (LCIA)

Đánh giá tác động vòng đời nhằm mục đích

để đánh giá tác động môi trường từ hoạt động

sản xuất nuôi tôm thâm canh, bằng cách sử dụng

các kết quả từ phân tích kiểm kê (LCI) theo tiêu

chuẩn về môi trường sinh thái Ba loại tác động

môi trường được nghiên cứu đánh giá: Sự nóng

lên toàn cầu (GW, đơn vị kg CO2-eq), Chua hóa

( Acd, đơn vị kg SO2-eq) và Phú dưỡng hóa (Eut,

đơn vị kg PO4-eq) được phát triển bởi Guinee và

ctv., (2002)

Diễn giải số liệu phân tích LCA

Kết quả từ những phân tích từ số liệu thu

thập được trong quá trình thực nghiệm và các

Trang 28

28 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

III KẾT QUẢ

3.1 Kết quả sản xuất tôm

Với mật độ thả trung bình 83,33 con/m2, dao

động từ 80-90 con/m2 tương đồng ở hai nghiệm

thức thí nghiệm Thời gian thu hoạch trong suốt

chu kỳ nuôi tôm ở nghiệm thức đối chứng và thí

nghiệm lần lượt có giá trị trung bình là 66 đến

85 ngày nuôi Tỷ lệ sống trung bình của tôm

đạt khoảng 88,33 đến 91,67% Kích cỡ tôm thu

hoạch đạt trọng lượng trung bình là 7,14 đến 17,59 g/con Hệ số eFCR trung bình từ 1,06 (ao TN) đến 1,46 (ao ĐC) Lượng nhiên liệu dầu và điện được tiêu thụ trong suốt chu kỳ nuôi lần lượt là 159,33 lít/ao TN/vụ, 5.675,67 kWh/ao TN/vụ và 192,67 lít/ao ĐC/vụ, 5.908,33 kWh/

ao ĐC/vụ Năng suất thu hoạch ao ĐC và ao TN đạt lần lượt là 11.849,75 và 13.944,44 tấn/ha/vụ (Bảng 2)

Bảng 2 Các thông số kỹ thuật nuôi tôm TCT thâm canh trong ao đất

Lượng dầu tiêu thụ (lít/ao/vụ) 159,33±17,93 192,67±78,49

Lượng điện tiêu thụ (kWh/ao/vụ) 5.675,67 ± 3730.97 5.908,33±3486.92

Năng suất (tấn/ha/vụ) 13.944,44 ± 9416.79 11.849,75±8.735,77

3.2 Đánh giá tác động vòng đời

Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động nóng

lên toàn cầu (GW) trong sản xuất 1 tấn tôm ở

nghiệm thức thí nghiệm và đối chứng có giá

trị lần lượt là 10.187 kg (CO2-eq) và 13.567

kg (CO2-eq) Tác động chua hóa (Acd) trong

sản xuất 1 tấn tôm 69 kg (SO2-eq) và 93 (kg

SO2-eq) Tác động phú dưỡng hóa (Eut) trong sản xuất 1 tấn tôm là 55 kg (PO4-eq) và 80 kg (PO4-eq) Tất cả các tác động GW, Acd, Eut ở ao thí nghiệm có lượng khí thải phát ra với giá trị trung bình thấp hơn so với ao đối chứng (Hình 2a, b, c)

6

bình của tôm đạt khoảng 88,33 đến 91,67% Kích cỡ tôm thu hoạch đạt trọng lượng trung bình là 7,14 đến 17,59 g/con Hệ số eFCR trung bình từ 1,06 (ao TN) đến 1,46 (ao ĐC) Lượng nhiên liệu dầu và điện được tiêu thụ trong suốt chu kỳ nuôi lần lượt là 159,33 lít/ao TN/vụ, 5.675,67 kWh/ao TN/vụ và 192,67 lít/ao ĐC/vụ, 5.908,33 kWh/ao ĐC/vụ Năng suất thu hoạch ao ĐC và ao TN đạt lần lượt là 11.849,75 và 13.944,44 tấn/ha/vụ (Bảng 2)

Bảng 2 Các thông số kỹ thuật nuôi tôm TCT thâm canh trong ao đất

Lượng dầu tiêu thụ (lít/ao/vụ) 159,3317,93 192,6778,49

Lượng điện tiêu thụ (kWh/ao/vụ) 5.675,67  3730.97 5.908,333486.92

Năng suất (tấn/ha/vụ) 13.944,44  9416.79 11.849,758.735,77

3.2 Đánh giá tác động vòng đời

Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động nóng lên toàn cầu (GW) trong sản xuất 1 tấn tôm ở nghiệm thức thí nghiệm và đối chứng có giá trị lần lượt là 10.187 kg (CO2-eq) và 13.567 kg (CO2-eq) Tác động chua hóa (Acd) trong sản xuất 1 tấn tôm 69 kg (SO2-eq) và 93 (kg SO2-eq) Tác động phú dưỡng hóa (Eut) trong sản xuất 1 tấn tôm là 55 kg (PO4-eq) và 80

kg (PO4-eq) Tất cả các tác động GW, Acd, Eut ở ao thí nghiệm có lượng khí thải phát ra với giá trị trung bình thấp hơn so với ao đối chứng (Hình 2a, b, c)

(a)

0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000 16000 18000

Trang 29

29TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

7

(b)

(c)

Hình 2 (a) So sánh tác động nóng lên toàn cầu (GW) khi sản xuất 1 tấn tôm ở mô hình thử

nghiệm và đối chứng, Giá trị trung bình và sai số chuẩn với độ tin cậy 95% (b) So sánh tác

động chua hóa (Acd) khi sản xuất 1 tấn tôm ở mô hình thử nghiệm và đối chứng, Giá trị trung

bình và sai số chuẩn với độ tin cậy 95% (c) So sánh tác động phú dưỡng hóa (Eut) ở thí

nghiệm và đối chứng khi sản xuất 1 tấn tôm, Giá trị trung bình và sai số chuẩn với độ tin cậy 95%

Tỷ lệ đóng góp của quá trình sản xuất thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất đạt từ 52,61 đến 88,36% ở hầu hết các nguồn đóng góp tạo ra tác động lên chua hóa (Acd), phú dưỡng hóa (Eut) và nóng lên toàn cầu (GW) ở nghiệm thức thí nghiệm và đối chứng Trong đó, tác động Acd chiếm tỷ lệ đóng góp cao nhất với giá trị từ 87,07 đến 88,36% Kế tiếp của tỷ lệ đóng góp đến phát thải GHGs là quá trình vận hành trang trại đạt từ 10,47 đến 47,13%, liên quan đến tác động phú dưỡng hóa có tỷ lệ đóng góp cao nhất từ 43,66 đến 47,13% Cuối cùng, nguồn nguyên liệu sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ đóng góp thấp nhất khoảng <1% gây tác động trên ba hình thức Acd, Eut và GW (Bảng 2) Sở dĩ có sự khác biệt này là do nghiệm thức thí

0 20 40 60 80 100 120

chua hóa (Acd) khi sản xuất 1 tấn tôm ở mô hình thử nghiệm và đối chứng, Giá trị trung bình và

sai số chuẩn với độ tin cậy 95% (c) So sánh tác động phú dưỡng hóa (Eut) ở thí nghiệm và đối

chứng khi sản xuất 1 tấn tôm, Giá trị trung bình và sai số chuẩn với độ tin cậy 95%

xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ đóng góp thấp nhất khoảng <1% gây tác động trên ba hình thức Acd, Eut và GW (Bảng 2) Sở dĩ có sự khác biệt này là do nghiệm thức thí nghiệm có sự quản lý các nguồn vật tư đầu vào và đầu ra tốt hơn so với đối chứng Trong đó, việc chú trọng kiểm soát khẩu phần cho tôm ăn hàng ngày trong quá trình vận hành ao nuôi đã góp phần làm giảm

hệ số eFCR và ứng dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng như: hộp giảm tốc và con lăn đã giúp giảm tiêu thụ nhiên liệu đáng kể trong suốt chu kỳ nuôi

Tỷ lệ đóng góp của quá trình sản xuất thức

ăn chiếm tỷ lệ cao nhất đạt từ 52,61 đến 88,36%

ở hầu hết các nguồn đóng góp tạo ra tác động lên

chua hóa (Acd), phú dưỡng hóa (Eut) và nóng

lên toàn cầu (GW) ở nghiệm thức thí nghiệm

và đối chứng Trong đó, tác động Acd chiếm tỷ

lệ đóng góp cao nhất với giá trị từ 87,07 đến

88,36% Kế tiếp của tỷ lệ đóng góp đến phát

thải GHGs là quá trình vận hành trang trại đạt từ

10,47 đến 47,13%, liên quan đến tác động phú

dưỡng hóa có tỷ lệ đóng góp cao nhất từ 43,66

đến 47,13% Cuối cùng, nguồn nguyên liệu sản

Trang 30

30 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Bảng 2 Tỷ lệ phần trăm (%) đóng góp đến phát thải GHGs của các nguồn nguyên liệu đầu vào để

IV THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng

việc tác động các giải pháp kỹ thuật trong vận

hành ao nuôi đã làm thay đổi các thông số năng

suất tôm Mô hình thử nghiệm được thả nuôi

tôm TCT thâm canh trong ao đất với mật độ

trung bình 83,33 con/m2, tương tự với kết quả

nghiên cứu trước đây (Phùng Thị Hồng Gấm

và ctv., 2014; Nguyễn Thanh Long và Huỳnh

Văn Hiền, 2015); nhưng tỷ lệ sống cao hơn,

đạt 81,94 - 83,54% Hệ số chuyển hóa thức ăn

(eFCR) có sự khác biệt đáng kể giữa ao đối

chứng (1,46) và ao thí nghiệm (1,06) Điều này

chứng tỏ rằng việc quản lý thức ăn là rất quan

trọng, ảnh hưởng lớn đến kết quả năng suất của

vụ nuôi Ở cấp độ nông hộ, việc điều chỉnh

khẩu phần thức ăn cho tôm ăn thường dựa vào

kinh nghiệm của người quản lý ao, do đó việc

ước tính bao nhiêu thức ăn đang được tiêu thụ

có thể là vấn đề Cho ăn quá nhiều có thể gây

tốn kém cho nông dân bằng cách tạo ra các chi

phí thức ăn không cần thiết, trong khi cho tôm

ăn dưới mức tăng trưởng có thể dẫn đến giảm

sản lượng và lợi nhuận sản xuất Trong nghiên

cứu này, kiểm soát lượng thức ăn bằng cách

dựa vào sàng ăn, ước lượng tỷ lệ sống và kiểm

tra tốc độ tăng trưởng tôm để điều chỉnh khẩu

phần cho ăn hàng ngày nhằm giảm thất thoát lượng thức ăn trong quá trình nuôi Ngoài thức

ăn thì lượng tiêu thụ nhiên liệu điện năng cũng

là yếu tố góp phần làm tăng chi phí biến đổi Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù nghiệm thức thí nghiệm với thời gian nuôi tương đối dài hơn so với nghiệm thức đối chứng, tuy nhiên lượng nhiên liệu tiêu thụ điện năng thấp hơn nhiều so với đối chứng Ở mô hình thử nghiệm việc áp dụng con lăn và thiết bị giảm tốc vào vận hành quạt nước giúp giảm tiêu thụ điện năng đáng kể do đó dẫn đến sự khác biệt trên Theo kết quả nghiên cứu của Võ Nam Sơn

và ctv., (2019) lượng tiêu thụ điện năng trung bình là 2.914 kWh/tấn tôm ở mô hình nuôi tôm TCT trên ao đất; ao lót bạt có tiêu hao điện là 3.235 kWh/tấn tôm Với kích cỡ tôm thu hoạch

ở ao thí nghiệm trung bình đạt 17,59 g/con và năng suất đạt 13.944 kg/ha/vụ, đạt lợi nhuận cao gần gấp đôi so với ao đối chứng Kết quả này cho thấy năng suất thấp hơn nghiên cứu trước đây của Phùng Thị Hồng Gấm và ctv., (2014) là 15,9 tấn/ha/vụ, nhưng cao hơn Đỗ Minh Vạnh và ctv., (2016) là 10,9 tấn/ha/vụ Như vậy, để tăng lợi nhuận trong nuôi tôm thì ngoài việc kiểm soát các yếu tố kỹ thuật nhằm giúp tôm tăng cao năng suất thì cần phải duy

Trang 31

31TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

trì tăng trưởng để đạt kích cỡ tôm lớn và giá

bán cao Bên cạnh đó, việc hạn chế các nguyên

liệu đầu vào thuốc, hóa chất và tiết kiệm nhiên

liệu điện năng và thức ăn là cần thiết để đạt lợi

nhuận cao nhất

Hiện nay, một trong những mối quan tâm

chính về môi trường có liên quan đến biến đổi

khí hậu đó là việc phát thải GHGs từ hệ thống

nuôi trồng thủy sản (Williams và Crutzen,

2010) Trong nghiên cứu này tác động ấm

lên toàn cầu có giá trị 10.187 kg CO2-eq thấp

hơn so với đối chứng, trong đó tỷ lệ đóng

góp từ nguồn sản xuất thức ăn cũng có giá trị

(73,26%) thấp hơn đối chứng Như vậy, nguồn

nguyên liệu sản xuất thức ăn góp phần quan

trọng trong hệ thống nuôi tôm thâm canh Kết

quả này cho thấy tương tự với nghiên cứu của

Henriksson và ctv., (2017) là 12-15 tấn CO2

-eq Ở Trung Quốc, kết quả phân tích của LCA

chỉ ra rằng trong nuôi tôm thâm canh có tác

động môi trường trên mỗi đơn vị sản xuất cao

hơn so với canh tác bán thâm canh trong tất

cả các loại hình tác động Những tác động này

chủ yếu là do sản xuất thức ăn, sử dụng điện

và nước thải ở cấp độ trang trại (Cao và ctv.,

2011) Để giảm phát thải thì các giải pháp được

tập trung chủ yếu là việc quản lý tốt cách cho

ăn và quản lý sử dụng thức ăn nhằm giảm thiểu

hệ số thức ăn

Tác động chua hóa khi sản xuất 1 tấn tôm

trong nghiên cứu này ở nghiệm thức thí nghiệm

có giá trị trung bình thấp nhất là 69 kg SO2-eq

và đối chứng là 93 kg SO2-eq, tương tự kết quả

của Henriksson và ctv., (2017) là 60-80 kg SO2

-eq, cao hơn nghiên cứu của Cao và ctv (2011)

là 23,1 kg SO2-eq Nguồn nguyên liệu đóng góp

từ việc sản xuất thức ăn chiếm tỷ lệ cao nhất

(87,07-88,36%) gây ra lượng khí thải làm chua

hóa Mặc dù, ao thí nghiệm có thời gian nuôi

kéo dài hơn nghiệm thức đối chứng, tỷ lệ đóng

góp đến phát thải từ nguồn nguyên liệu sản xuất

thức ăn khác biệt không lớn Do đó, việc điều

chỉnh lượng khẩu phần cho tôm ăn, giảm thất

thoát thức ăn có thể làm giảm bớt khí thải gây

tác động chua hóa

Các chất dinh dưỡng từ ao nuôi tôm là nguồn chính chứa nitơ, phốt pho gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa Theo nghiên cứu của Avnimelech và Ritvo (2003) cho rằng động vật thủy sản có khả năng chuyển hóa được 25-30% lượng protein trong thức ăn thành sinh khối của

cơ thể, khoảng 70-75% lượng dinh dưỡng còn lại sẽ được thải ra ngoài môi trường nuôi Đối với các trang trại nuôi tôm thâm canh thì hầu hết các chất dinh dưỡng này có nguồn gốc từ thức ăn tôm Kết quả tác động phú dưỡng hóa

ở nghiệm thức thí nghiệm là 55,0 kg (PO4-eq) khi sản xuất 1 tấn tôm thấp hơn so với ao đối chứng 80,0 kg PO4-eq, thấp hơn kết quả của Henriksson và ctv (2017) là là 80-90 kg (PO4-eq), cao hơn nghiên cứu của Cao và ctv., (2011)

là 36,9 kg PO4-eq Trong nghiên cứu này, tác động phú dưỡng hóa được gây ra nhiều nhất

do việc sản xuất thức ăn (52,61-55,54%), trong

đó quá trình vận hành trang trại có tỷ lệ đóng góp cao nhất từ 43,66 đến 47,13% trong ba loại nguồn gây tác động Những cải tiến được

đề xuất cho nuôi tôm ở Trung Quốc bao gồm thay đổi thành phần thức ăn, quản lý trang trại, nguồn phát điện và xử lý nước thải trước khi thải ra ngoài môi trường Kết quả nghiên cứu

có thể được sử dụng để tối ưu hóa chuỗi cung ứng tôm định hướng thị trường và thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ tôm bền vững hơn (Cao và ctv., 2011) Ngoài ra, các chất dinh dưỡng quá mức nên được tái chế trong nông nghiệp hữu cơ tích hợp cùng với các giải pháp sục khí hiệu quả được cung cấp bởi các nguồn năng lượng tái tạo (Henriksson và ctv., 2015) Để giảm tác động phú dưỡng hóa thì cần có giải pháp hiệu quả để

xử lý bùn thải hoặc giảm bùn thải từ ao nuôi tôm nhằm giảm ô nhiễm môi trường, chẳng hạn ứng dụng hệ thống tuần hoàn khép kín để ngăn chặn các vấn đề phú dưỡng khi xả thải Bên cạnh đó, phần nước thải trong ao nuôi tôm thương phẩm

từ việc thay nước, siphon sẽ được chuyển sang

ao xử lý nước thải có thả cá rô phi với mật độ 1-2 con/m2 để xử lý ô nhiễm hữu cơ trước khi thải ra môi trường bên ngoài hoặc tái xử dụng cho các đợt nuôi tiếp theo

Trang 32

32 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

IV KẾT LUẬN

Trong các tác động phát thải khí nhà kính thì

quá trình sản xuất thức ăn chiếm tỷ lệ đóng góp

cao nhất, kế đến là quá trình vận hành ao nuôi

Tác động kỹ thuật trong quá trình vận hành ao

nuôi góp phần làm giảm tỷ lệ phú dưỡng hóa

so với canh tác truyền thống Để giảm tiêu thụ

điện, dầu trong quá trình vận hành hoạt động

trang trại thì cần rà soát: 1) rà soát thiết kế lắp

đặt hệ thống quạt nước hiện tại; 2) áp dụng hộp

giảm tốc và con lăn để giảm tiêu thụ điện; và

3) cải thiện công tác quan trắc DO để vận hành

chế độ quạt nước hợp lý Để tiết kiệm nhiên liệu

trong quá trình vận hành trang trại thì việc sử

dụng hệ thống năng lượng mặt trời trong sản

xuất là cần thiết và nhiều tiện ích Để giảm tác

động phú dưỡng hóa thì giải pháp mang tính

khả thi và phù hợp với các trang trại nuôi tôm

hiện nay chuyển sang các hệ thống tuần hoàn

khép kín để ngăn chặn các vấn đề phú dưỡng

khi xả thải

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu này được thực hiện với sự hỗ

trợ tài chính từ Oxfam Việt Nam, xin chân thành

cảm ơn Chúng tôi xin cảm ơn đến các chuyên

gia kỹ thuật từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh

Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau đã giúp chúng

tôi liên hệ với cộng đồng địa phương ở các tỉnh

của họ để chọn trang trại thực hiện thí nghiệm

Chúng tôi xin cảm ơn các cố vấn kỹ thuật của

Oxfam đã cho ý đóng góp cho báo cáo dự thảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

Đỗ Minh Vạnh, Trần Hoàng Tuân, Trần Ngọc Hải

và Trương Hoàng Minh, 2016 Đánh giá hiệu

quả nuôi tôm chân trắng thâm canh theo các hình

thức tổ chức ở Đồng bằng sông Cửu long Khoa

học Chính trị, Kinh tế và Pháp luật, Trường Đại

học Cần Thơ: 42 (2016): 50-57.

Nguyễn Thanh Long và Huỳnh Văn Hiền, 2015.Phân

tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô hình

tôm thẻ chân trắng tỉnh Cà Mau Khoa Thủy sản,

Trường Đại học Cần Thơ: 37 (2015)(1): 105-111.

Phùng Thị Hồng Gấm, Võ Nam Sơn và Nguyễn

Thanh Phương, 2014 Phân tích hiệu quả sản

xuất các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm

sú thâm canh ở tỉnh Ninh Thuận.

Tổng cục Thủy sản, 2018 Báo cáo tình hình sản xuất, tiêu thụ tôm nước lợ năm 2018 và nhiệm vụ giải pháp năm 2019 Báo cáo tham luận tại Hội nghị Triển khai kế hoạch ngành tôm năm 2019

tổ chức bởi Bộ NN &PTNT (trang 1-16), ngày 13/3/2019 tại Tp Sóc Trăng.

VASEP., 2018 Mục tiêu xuất khẩu tôm đạt 4,2 tỷ USD năm 2019 và những giải pháp Báo cáo tham luận tại Hội nghị Triển khai kế hoạch ngành tôm năm 2019 tổ chức bởi Bộ NN&PTNT (trang 16-22), ngày 13/3/2019 tại Tp Sóc Trăng.

Võ Nam Sơn, Nguyễn Thanh Phương, Đào Minh Hải, Nguyễn Thế Diễn, Vũ Văn Thùy, Đinh Xuân Lập, Nguyễn Đỗ Quỳnh, 2019 Phân tích hiệu quả sản xuất và sử dụng năng lượng điện

trong nuôi tôm sú (Penaeus monodon) và thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) thâm canh và

quảng canh cải tiến ở Đồng bằng sông Cửu Long Tập 55, Số 1 (2019) Trang: 69-79.

Tài liệu tiếng Anh

Avnimelech, Y., Ritvo, G., 2003 Shrimp and fish pond soils: processes and management Aquaculture 220, 549–567

Astudillo M.F., Thalwitz G., Vollrath F., 2015 Modern analysis of an ancient integrated farming arrangement: life cycle assessment of a mulberry dyke and pond system Int J Life Cycle Assess 20:1387–1398.

Cao, L., Diana, J.S., Keoleian G., et al., 2011 Life Cycle Assessment of Chinese Shrimp Farming Systems Targeted for Export and Domestic Sales Environ Sci Technol 45:6531–6538

Funge-smith SJ, Briggs MRP., 1998 Nutrient budgets in intensive shrimp ponds :implications for sustainability Water 117–133.

Guinée J B., Gorrée M., Heijungs R, et al.,

2002 Handbook on Life Cycle Assessment: Operational Guide to the ISO Standards Kluwer Academic Publishers, Dordrecht.

Henriksson, P.J.G, Rico, A,, Zhang W, et al., 2015, Comparison of Asian Aquaculture Products

by Use of Statistically Supported Life Cycle Assessment, Environ Sci Technol 49:14176– 14183.

Henriksson, P.J.G., Phan, L.T., Doan, B.V., Nguyen, P.V., Do, H.T., 2017 Life cycle assessment

of Vietnamese shrimp farming systems in the Mekong Delta Technical report, Oxfam Vietnam,

Ha Noi.

ISO 14044, 2006 Environmental management— Life cycle assessment— Requirements and guidelines, Geneva, Switzerland.

Trang 33

33TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

Verdegem, M.C.J., Bosma, R.H.M., 2009 Water

withdrawal for brackish and inland aquaculture,

and options to produce more fish in ponds with

present water use Water Policy 11 (Suppl 1),

52–68.

Zimmo O R., van der Steen N.P., Gijzen H.J., 2003

Comparison of ammonia volatilisation rates in algae and duckweed-based waste stabilisation ponds treating domestic wastewater Water Res 37:4587–94

Williams, J., Crutzen, P.J., 2010 Nitrous oxide from aquaculture, Nat, Geosci, 3, 143.

Trang 34

34 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

TRIALING TECHNICAL SOLUTIONS ON REDUCTION OF GHG EMISSION IN INTENSIVE WHITE LEG SHRIMP FARMING

PRACTICES IN THE MEKONG RIVER DELTA

Nguyen Van Phung1*, Phan Thanh Lam1, Doan Van Bay1, Do Thuy Ha2,

Patrik Henriksson3, Dinh Xuan Lap4, Nguyen The Dien4

ABSTRACT

The aim of this study is to make measurement on the reduction of GHG emission in shrimp farming through demonstration of technology and management improvement solutions in the Mekong River Delta White leg shrimp was stocked in earth ponds with density of 80-90 individuals/m 2 in two treatment groups The average number of grow-out culture days ranged from 2 to 3 months Life cycle assessment method (LCA) and specialized software CMLCA were applied to analyze and assess environmental impacts from production activities Environmental impact categories included global warming (GW), acidification (Acd) and eutrophication (Eut) were analyzed and calculated The LCA results show that,

to produce 1 ton of commercial shrimp production in the treatment shrimp pond the global warming was 10,187 kg CO2-eq, the acidification was 69 kg SO2-eq and the eutrophication was 55 kg PO4-eq, which were significantly differents and lower than that of the control shrimp pond In the greenhouse gas emission impacts, the feed manufacturing process accounted for the highest contribution and followed

by the emission on-site Eutrophication impact acounted for the highest rate in shrimp farming operation Trialing technical solutions for improving shimp farming practices contributed to reduce the rate of eutrophication compared to traditional cultivation, 43.66 and 47.13% respectively.

Keywords: LCA, white leg shrimp, global warming, acidification, eutrophication.

Người phản biện: PGS.TS Võ Nam Sơn

Ngày nhận bài: 18/5/2019 Ngày thông qua phản biện: 20/6/2019

Ngày duyệt đăng: 26/6/2019

1 Fisheries Ecological and Aquatic Resources Division, Research institute for Aquaculture No.2

2 Oxfam Vietnam, 22 Le Dai Hanh, Hai Ba Trung, Ha Noi

3 Stockholm Resilience Centre, Kraftriket 2B, 114 19 Stockholm, Sweden

4 International Collaborating Centre for Aquaculture and Fisheries Sustainability, 10 Nguyen Cong Hoan, Ba Dinh, Ha Noi

*Email: nguyenvanphung_ts2003@yahoo.com

Trang 35

35TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

ĐỘ AN TOÀN CỦA CAO CHIẾT KHỔ SÂM (Croton tonkinensis) ĐỐI VỚI TÔM THẺ (Penaeus vannamei) Ở ĐIỀU KIỆN IN VITRO

Trương Hồng Việt1*, Đỗ Thị Cẩm Hồng1, Trần Bùi Trúc Quân2, Vũ Thiên Ân1

TÓM TẮT

Các loại thảo mộc và cây thuốc hứa hẹn sẽ trở thành nguồn cung cấp các liệu pháp chữa bệnh cho nuôi tôm cá vì các sản phẩm này cung cấp với giá rẻ hơn để điều trị và không gây độc Dịch chiết

từ cây khổ sâm (Croton tonkinensis) được cho là có chứa các lớp chất chủ yếu là các hợp chất hữu

cơ như flavonoid, alkaloid, polyphenol Mục tiêu của nghiên cứu này là kiểm tra tính an toàn của cao chiết khổ sâm trong điều kiện in vitro để làm cở sở ứng dụng trong ao nuôi Thí nghiệm kiểm tra độc tính của cao chiết khổ sâm qua đường ăn được thực hiện với các nồng độ trộn vào thức ăn

từ 0 đến 45% (450 g/kg thức ăn) Đối với thí nghiệm ngâm cao chiết vào nước nuôi tôm được thực hiện với các nồng độ từ 0 đến 160 ppm Kết quả nghiên cứu cho thấy cao chiết khổ sâm gây độc yếu đối với tôm nuôi qua đường ăn Ở nồng độ cao chiết 45%, tỷ lệ trung bình tôm bị chết sau 48 giờ là 15% và tỷ lệ trung bình tôm chết là 21,67% sau 96 giờ Đối với thí nghiệm ngâm cao chiết khổ sâm vào nước nuôi tôm cho thấy ở nồng độ 20 ppm, tôm sống 100% sau 96 giờ tiếp xúc với cao chiết

và tỷ lệ tôm chết 100% sau 96 giờ ở nồng độ 150 ppm Giá trị LC50 của cao chiết khi cho trực tiếp vào nước nuôi tôm được xác định ở các thời điểm 48, 72 và 96 giờ rất cao, với nồng độ lần lượt là 93,02; 81,25, và 81,25 ppm Trong khi LC50 của các nồng cao chiết được trộn vào thức ăn không được xác định do tỷ lệ gây chết tôm thí nghiệm < 50% Từ các kết quả trên, chúng tôi kết luận cao chiết khổ sâm an toàn đối với tôm thẻ chân trắng ở điều kiện in vitro.

Từ khoá: Cao chiết, Croton tonkinensis, khổ sâm, LC 50 , tôm thẻ chân trắng.

1 Trung tâm Quan trắc Môi trường và Bệnh Thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.

2 Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

*Email: truonghongviet@yahoo.com

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, việc sử dụng kháng

sinh và hoá chất để phòng trị bệnh nhiễm khuẩn

đã gây ra tình trạng bất lợi trong lĩnh vực nuôi

trồng thủy sản Điều này có thể làm xuất hiện

nhiều chủng vi khuẩn có khả năng kháng kháng

sinh Ngoài ra, dư lượng của nó không những

làm hại môi trường nuôi thuỷ sản mà còn ảnh

hưởng không tốt đến sức khoẻ của con người

(Syahidah, 2014) Các loại thảo mộc và cây

thuốc hứa hẹn sẽ trở thành nguồn cung cấp

các liệu pháp chữa bệnh cho nuôi cá vì các sản

phẩm này cung cấp với giá rẻ hơn để điều trị và

chính xác hơn mà không gây độc (Madhuri &

ctv., 2012) Các chế phẩm thảo dược có vai trò

quan trọng trong kiểm soát dịch bệnh vì chúng

có chứa các thành phần hoạt tính bao gồm chất

chống oxy hoá, chống vi khuẩn, chống stress,

kích thích tăng trưởng, kích thích sự thèm ăn

và tăng cường miễn dịch ở cá và tôm (Citarasu

& ctv., 2001) Theo Lee & Gao (2012), các loại thảo dược hoạt động như là một hương vị nên nó

có khả năng ảnh hưởng đến sự thèm ăn của vật nuôi như tiết dịch tiêu hóa và tăng lượng thức ăn

ăn vào, đồng thời cũng là một trong những yếu

tố góp phần làm giảm hệ số chuyển hoá thức ăn (Venketramalingam & ctv., 2007) Theo Đỗ Tất Lợi (2004), trong rễ, thân và lá của cây khổ sâm

(Croton tonkinensis) có chứa các lớp chất chủ

yếu là các hợp chất diterpenoid như flavonoid, alcaloid, polyphenol Nó thuộc nhóm cây thuốc

và vị thuốc được dùng làm thuốc bổ, thuốc bồi dưỡng, có tác dụng tốt với tiêu hóa và bệnh đau dạ dày Trong hầu hết các trường hợp, các hoạt chất như là polyphenol, polysaccharides, proteoglycans và flavonoids đóng một vai trò

Trang 36

36 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

chính trong việc ngăn ngừa hoặc kiểm soát các

vi khuẩn lây nhiễm (Citarasu & ctv., 2003) Để

làm cơ sở cho sự an toàn của cao chiết trong

việc ứng dụng phòng bệnh tôm, chúng tôi thực

hiện các thí nghiệm đánh giá độ an toàn của

cao chiết khổ sâm qua đường ăn và qua đường

nước nuôi để xác định liều gây chết 50% sau

96 giờ thí nghiệm (APHA, 2005)

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Vật liệu

+ Cao chiết thô khổ sâm được cung cấp bởi

Viện hoá học và các hợp chất thiên nhiên Dịch

thô được tách chiết bằng cồn tuyệt đối, cô đặc

và được bảo quản ở nhiệt độ phòng

+ Tôm thẻ chân trắng được ương nuôi từ

tôm ấu trùng đến khi đạt trọng lượng từ 2-3

gram, có nguồn gốc từ Trung tâm Giống Hải

sản Nam Bộ thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi

trồng Thuỷ sản II Tôm được thu mẫu kiểm

tra các mầm bệnh bao gồm WSSV (White

Spot Syndrome Virus), TSV (Taura Syndrome

Virus), IHHNV (Infectious Hypodermal and

Haematopoietic Necrosis Virus), YHV (Yellow

Head Virus) và bệnh hoại tử gan tuỵ cấp -

AHPND (Acute Hepatopancreatic necrosis

disease) bằng phương pháp PCR Ngoài ra,

bệnh hoại tử gan tuỵ cấp được kiểm tra bằng

phương pháp mô học

+ Nước biển được khử trùng bằng chlorine

với liều 30 ppm, sục khí mạnh và liên tục trong

1 tuần (để trung hoà chlorine) trước khi dùng

+ Các thông số chất lượng nước như là

nhiệt độ (28-29°C), độ mặn (20‰), oxi hoà tan

(sục khí mạnh và liên tục, DO > 6 mg/l) và pH

(7,5-8,5) được duy trì trong suốt thời gian thí

nghiệm

+ Tôm trước khi làm thí nghiệm được nuôi

thuần 7 ngày tại phòng thí nghiệm thuộc Trung

tâm Quan trắc Môi trường và Bệnh Thủy sản

Nam Bộ

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Trộn cao chiết thô vào thức ăn

Thức ăn tôm được nghiền thành bột mịn

Cao chiết được pha thành dung dịch gốc 0,5 g/

ml trong cồn thực phẩm, lấy với lượng xác định rồi trộn vào thức ăn, sau đó thêm nước vào với

tỷ lệ nước và thức ăn 1:1 Bột thức ăn sau khi trộn đều được đưa vào máy quay để tạo thành hạt, rồi quạt gió cho khô ở nhiệt độ phòng trong vòng 24 giờ Thức ăn được tách thành hạt riêng

lẻ và được bảo nơi thoáng mát đến khi làm thí nghiệm

2.2.2 Xác định tính an toàn của cao chiết khổ sâm trộn vào thức ăn tôm

2.2.2.1 Thí nghiệm thăm dò để xác định khoảng gây độc của cao chiết khổ sâm trộn vào thức ăn

Thí nghiệm được thực hiện với 6 nồng

độ cao chiết khổ sâm là 0, 2, 4, 8, 16 và 20% lượng thức ăn tôm Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần trong bể nhựa 90 lít có chứa 30 lít nước biển, mỗi bể thí nghiệm có 20 con tôm

cỡ 3-4 g/tôm Tôm được cho ăn 3 lần/ngày với

tỷ lệ 3% trọng lượng thân, các bể được sục khí liên tục, không thay nước trong suốt thời gian thí nghiệm, và tôm chết được vớt ra ngay để không ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước trong suốt thời gian thí nghiệm Ghi nhận số tôm chết hàng ngày và theo dõi trong 96 giờ để xác định khoảng gây độc (nồng độ cao nhất mà tôm sống 100% và nồng độ thấp nhất gây chết tôm 100%)

2.2.2.2 Thí nghiệm xác định nồng độ gây chết 50% (LC 50 ) của cao chiết khổ sâm trộn vào thức ăn

Thí nghiệm được thực hiện dựa theo phương pháp của APHA (2005) Thí nghiệm được bố trí 5 nồng độ cao chiết khổ sâm nằm trong khoảng gây độc được xác định từ thí nghiệm thăm dò Nghiệm thức đối chứng, tôm được cho ăn thức ăn trộn 0% cao chiết Phương pháp thực hiện giống như thí nghiệm thăm dò ở mục 2.2.2.1 Ghi nhận số tôm chết hàng ngày và theo dõi trong suốt 96 giờ

để xác định nồng độ gây chết 50% (LC50)bằng chương trình máy tính (Stephan & Rodgers, 1985) theo hướng dẫn của ASTM (American Society for Testing and Materials, Philadelphia) (1993)

Trang 37

37TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

2.2.3 Xác định tính an toàn của cao chiết

khổ sâm ngâm vào nước nuôi tôm

2.2.3.1 Thí nghiệm thăm dò để xác định

khoảng gây độc của cao chiết khổ sâm ngâm

vào nước nuôi tôm

Thí nghiệm được thực hiện với 6 nồng

độ cao chiết khổ sâm là 0, 20, 40, 80, 160 và

180 ppm cho trực tiếp vào bể thí nghiệm Mỗi

nghiệm thức được lặp lại 3 lần trong bể nhựa 90

lít có chứa 30 lít nước biển, mỗi bể thí nghiệm

có 20 con tôm Tôm được cho ăn với thức ăn

thương mại 3 lần/ngày với tỷ lệ 3% trọng lượng

thân Các bể được sục khí liên tục, không thay

nước trong suốt thời gian thí nghiệm, và tôm

chết được vớt ra ngay để không ảnh hưởng

xấu đến chất lượng nước trong suốt thời gian

thí nghiệm Ghi nhận số tôm chết hàng ngày và

theo dõi trong suốt 96 giờ để xác định khoảng

gây độc (nồng độ cao nhất mà tôm sống 100%

và nồng độ thấp nhất gây chết tôm 100%)

2.2.3.2 Thí nghiệm xác định nồng độ gây

chết 50% (LC 50 ) của cao chiết khổ sâm ngâm

vào nước nuôi tôm

Thí nghiệm được thực hiện dựa theo phương

pháp của APHA (2005) Thí nghiệm được bố trí

5 nồng độ cao chiết khổ sâm nằm trong khoảng

gây độc được xác định từ thí nghiệm thăm dò

Nghiệm thức đối chứng không ngâm cao chiết

Phương pháp thực hiện giống như thí nghiệm

thăm dò ở mục 2.2.3.1 Ghi nhận số tôm chết

hàng ngày và theo dõi trong suốt 96 giờ để xác

định nồng độ gây chết 50% (LC50).

2.2.4 Phương pháp mô học

Quy trình xử lý mô học được thực hiện dựa theo phương pháp được mô tả bởi Bell & Lightner (1998) Tôm lờ đờ sắp chết (tôm nằm nghiêng một bên) hoặc tôm sống sau khi kết thúc thí nghiệm được cố định ngay vào dung dịch Davidson (330 ml ethanol 95%, 220 ml formalin 100%, 115 ml axít acetic đậm đặc, và 335 ml nước cất) trong suốt 24 giờ, sau đó chuyển qua dung dịch ethanol 70% để bảo quản lâu hơn

Mô gan tuỵ tôm được khử nước, được đúc vào khối parafin, được cắt thành lát mỏng 5 μm, và được nhuộm với hai thuốc nhuộm hematoxylin

và eosin Kết quả quan sát cấu trúc mô bệnh học được kiểm tra bằng cách quan dưới kính hiển vi

III KẾT QUẢ 3.1 Kết quả thử nghiệm độc tính của cao chiết khổ sâm qua đường ăn

3.1.1 Thí nghiệm thăm dò để xác định khoảng nồng độ gây độc của cao chiết

Tỷ lệ chết trung bình của tôm thí nghiệm

ở các thời điểm 24, 48, 72, và 96 giờ khi cho tôm ăn với các nồng độ cao chiết khổ sâm được trộn vào thức ăn bao gồm 0, 2, 4, 8, 16, và 20%, được trình bày ở Bảng 1 Không có tôm chết ở các nghiệm thức đối chứng (0%), nghiệm thức 2% và nghiệm thức 4% trong suốt 96 giờ thí nghiệm Ở nồng độ 8%, tỷ lệ tôm chết trung bình từ 5±5% đến 8,33±5,77% sau 24 đến 96 giờ.Tỷ lệ trung bình tôm bị chết giống nhau ở

72 và 96 giờ ở các nồng độ cao chiết 8, 16 và 20% lần lượt là 8,33±5,77%; 13,33±2,89% và 16,67±2,89%; và các tỷ lệ này không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (P > 0,05) (Bảng 1)

Bảng 1: Tỷ lệ chết (trung bình ± sai số chuẩn) của tôm thí nghiệm thăm dò sau khi tôm được

cho ăn cao chiết khổ sâm với các nồng độ khác nhau

Trang 38

38 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

chiết trộn vào thức ăn

Từ kết quả thí nghiệm thăm dò với các nồng

độ cao chiết trộn vào thức ăn từ 0 đến 20% cho

thấy tỷ lệ tôm chết rất thấp < 17% sau 96 giờ, vì

vậy thí nghiệm tiếp theo được thực hiện với các

nồng độ cao hơn Tôm được cho ăn hàng ngày

với các nồng độ cao chiết khổ sâm được trộn

vào thức ăn bao gồm 0, 25, 30, 35, 40, và 45%

Tỷ lệ chết trung bình của tôm thí nghiệm ở các

thời điểm 24, 48, 72, và 96 giờ được trình bày ở

bảng 2 Kết quả thí nghiệm cho thấy không có

tôm chết ở nghiệm thức đối chứng (0%) trong

suốt 96 giờ thí nghiệm Ở tất cả các nghiệm thức

ăn cao chiết, tôm chết sau 24 giờ, có tỷ lệ chết trung bình từ 1,67±2,89% đến 5±0%.Tỷ lệ trung bình tôm bị chết sau 48 giờ ở nồng độ cao chiết cao nhất (45%) là 15±5% Ở thời điểm 72 và

96 giờ, tỷ lệ trung bình tôm chết ở nồng độ cao nhất của thí nghiệm (45%) là tương đương nhau (21,67±2,89%) Kết quả phân tích thông kê cho thấy tỷ lệ trung bình tôm chết không khác biệt ý nghĩa thống kê (P>0,05) giữa các nghiệm thức cho tôm ăn các nồng độ cao chiết trong suốt 96 giờ thí nghiệm Do các kết quả tỷ lệ tôm chết

<50%, nên số liệu này không xác định được giá trị LC50 ở các thời điểm quan sát (Bảng 2)

Bảng 2: Tỷ lệ chết (trung bình ± sai số chuẩn) của tôm thí nghiệm xác định LC50 sau khi tiếp

xúc với cao chiết khổ sâm với các nồng độ khác nhau

Nồng độ

cao chiết

Tỷ lệ (%) trung bình tôm chết theo thời gian thí nghiệm

Các chữ cái thể hiện khác biệt ý nghĩa thống kê P < 0,05 theo cột (Tukey’ HSD)

3.1.3 Ảnh hưởng của cao chiết đến gan

tụy tôm qua đường ăn

Sau 96 giờ tôm được cho ăn cao chiết khổ

sâm, tôm sống được cố định bằng dung dịch

Davidson để phân tích cấu trúc mô học, kết quả

được trình bày ở Hình 1 Gan tuỵ tôm ở nhóm

đối chứng (Hình 1A1) có cấu trúc bình thường

bao gồm có nhiều tế bào tiết hay tế bào B (chứa một không bào lớn) Gan tuỵ của tôm ăn thức ăn

có trộn 2% cao chiết của khổ sâm (Hình 1B1), 4% (Hình 1C1) và 45% (Hình 1D1) vẫn duy trì cấu trúc bình thường như nhóm đối chứng Các kết quả trên cho thấy cao chiết khổ sâm không gây ảnh hưởng đến cấu trúc gan tụy của tôm

Trang 39

39TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

3.2 Kết quả thử nghiệm độc tính của cao

chiết khổ sâm qua đường nước nuôi

3.2.1 Thí nghiệm thăm dò để xác định

khoảng nồng độ của cao chiết khổ sâm ngâm

vào nước nuôi tôm

Tỷ lệ chết trung bình của tôm thí nghiệm

khi tiếp xúc với các nồng độ cao chiết khổ sâm

khác nhau ở các thời điểm 24, 48, 72, và 96 giờ

được trình bày ở Bảng 3 Không có tôm chết

ở đối chứng (0 ppm) và nghiệm thức 20 ppm

trong suốt 96 giờ thí nghiệm Ở nồng độ 40

ppm, tôm không chết sau 24 giờ tiếp xúc với

cao chiết, tỷ lệ chết trung bình được quan sát

sau 48 giờ rất thấp (16,67±2,89%), và tỷ lệ này không thay đổi sau 96 giờ Ở các nồng 80, 160

và 180 ppm, tỷ lệ trung bình tôm bị chết sau 24 giờ tăng dần theo nồng độ cao chiết, lần lượt là 13,33±7,64%; 21,67±7,64% và 38,33±2,89%;

và tỷ lệ tôm chết ở nghiệm thức 180 ppm có khác biệt ý nghĩa thống kê (P<0,05) với các nghiệm thức 80 và 160 ppm Tỷ lệ trung bình tôm chết 100% sau 72 giờ ở nồng độ 160 ppm Trong khi đó, ở nồng độ 180 ppm, tỷ lệ trung bình tôm chết 100% sau 48 giờ Tỷ lệ chết trung bình của các nghiệm thức có khác biệt ý nghĩa thống kê (P<0,05) sau 48, 72, và 96 giờ ở các nồng độ từ 40 đến 180 ppm

Bảng 3: Tỷ lệ chết (trung bình ± sai số chuẩn) của tôm thí nghiệm thăm dò sau khi tiếp xúc

với cao chiết khổ sâm với các nồng độ khác nhau

Nồng độ

cao chiết

Tỷ lệ (%) trung bình tôm chết thời gian thí nghiệm

* Các chữ cái thể hiện khác biệt ý nghiã thống kê P < 0,05 theo cột (Tukey’ HSD)

Hình 1 Cấu trúc mô học của gan tuỵ tôm được ăn cao chiết khổ sâm trộn vào thức ăn với liều 0, 2,

4 và 45% sau khi kết thúc thí nghiệm ở 96 giờ

và (D1) nhóm ăn cao chiết khổ sâm 45% vẫn có cấu trúc gan bình thường với nhiều tế bào B như nhóm đối chứng Mũi tên: tế bào B có chứa một không bào lớn (X200).

(A1) nhóm đối chứng hiện diện nhiều tế bào B,

(B1) nhóm ăn cao chiết khổ sâm 2%,

(C1) nhóm ăn cao chiết khổ sâm 4%,

Trang 40

40 TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019

chiết được ngâm vào nước nuôi tôm

Tỷ lệ chết của tôm thí nghiệm khi tiếp xúc

với các nồng độ cao chiết khổ sâm khác nhau ở các thời điểm 24, 48, 72, và 96 giờ, được trình bày ở Bảng 4

Bảng 4: Tỷ lệ chết (trung bình ± sai số chuẩn) của tôm thí nghiệm xác định LC50 sau khi tiếp

xúc với cao chiết khổ sâm với các nồng độ khác nhau

Nồng độ

cao chiết

Tỷ lệ (%) trung bình tôm chết thời gian thí nghiệm

(-) không xác định; Các chữ cái thể hiện khác biệt ý nghĩa thống kê P < 0,05 theo cột (Tukey’ HSD).

Số liệu cho thấy không có tôm chết ở

nhóm đối chứng (0 ppm) trong suốt 96 giờ

thí nghiệm Ở nồng độ 30 ppm, tôm không

chết sau 24 giờ tiếp xúc với cao chiết, tỷ lệ

chết trung bình được quan sát sau 48 giờ rất

tôm chết này không có khác biệt ý nghĩa

thống kê (P>0,05) Tỷ lệ trung bình tôm chết

100% sau 72 và 96 giờ ở nồng độ 150 ppm

Trong khi đó, ở nồng độ 120 ppm, tỷ lệ trung

bình tôm chết 93,33±7,64% sau 72 và 96 giờ

Ở các thời điểm 48, 72, và 96 giờ thí nghiệm,

tỷ lệ trung bình tôm chết của nghiệm thức

cho tôm ăn các nồng độ cao chiết có khác

biệt ý nghĩa thống kê (P<0,05) Từ số liệu tỷ

lệ gây chết tôm được thu nhận, giá trị LC50

được xác định ở các thời điểm 48, 72 và 96

giờ lần lượt là 93,02; 81,25; và 81,25 ppm

(Hình 2, 3, và 4) Trong khi, ở thời điểm 24

giờ, giá trị LC50 không xác định được do tỷ

lệ chết thấp

Hình 2 Đồ thị phân tích hồi quy để xác định

LC50 sau 48 giờ tiếp xúc với cao chiết khổ sâm

Hình 3 Đồ thị phân tích hồi quy để xác định

LC50 sau 72 giờ tiếp xúc với cao chiết khổ sâm

Ngày đăng: 18/05/2021, 14:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm