Tạp chí Nghề cá sông Cửu Long: Số 11/2018 trình bày các nội dung chính sau: Nghiên cứu mô phỏng tối ưu tỉ lệ ghép phối, hiệu quả chọn lọc và cận huyết giữa các quần thể cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) chọn giống, tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam, nghiên cứu sự biến đổi một số yếu tố chất lượng nước và xác định mầm bệnh trên nghêu (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) ở tỉnh Bến Tre,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG
TS PHAN THANH LÂM
Thư ký tòa soạn:
ThS HOÀNG THỊ THỦY TIÊN
Email: ria2@ mard.gov.vn
In tại: Công ty In Liên Tường
240/59-61-63 Nguyễn Văn Luông
Quận 6, TP HCM
Trang Nghiên cứu mô phỏng tối ưu tỉ lệ ghép phối, hiệu quả chọn lọc và cận huyết giữa các
quần thể cá tra (Pangasianodon
hypophthal-mus) chọn giống.
Using simulation to optimise mating proportion, selection response and inbreeding coefficiency between multiple recent tra catfish (Pangasianodon hypophthalmus) year-classes.
10-23
LÊ HỒNG PHƯỚC, NGUYỄN DIỄM THƯ, HỨA NGỌC PHÚC, PHẠM THỊ YẾN Nghiên cứu sự biến đổi một số yếu tố chất lượng nước và xác định mầm bệnh trên nghêu
(Meretrix lyrata Sowerby, 1851) ở tỉnh Bến Tre Study on the changes of environment and pathogens in white clam (Meretrix lyrata Sow- erby, 1851) in Ben Tre province.
24-31
NGUYỄN THANH HÀ, NGÔ THỊ NGỌC THỦY,
TỪ THANH DUNG, HUỲNH NGUYỄN DUY
Ảnh hưởng của β-glucan đối với tăng trưởng
và hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm thẻ
chân trắng (Litopenaeus vannamei).
Effects of β-glucan on growth performance and feed utilization of white leg shrimp (Litopenaeus vannamei).
32-42
PHẠM DUY HẢI, VÕ ĐẠI KHANG, TRẦN VĂN KHANH, LÊ HOÀNG, NGUYỄN VĂN NGUYỆN
Tối ưu hoá điều kiện lên men khô đậu nành
và đánh giá hình thái học mô ruột khi sử dụng khô đậu nành để thay thế bột cá ở
thức ăn tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei).
Optimizing fermentation conditions for soybean meal and the changes in intestine morphology as soybean meal is substituted for fish meal in white leg shrimp (Litopenaeus vannamei) diet.
43-58
NGUYỄN THÀNH TRUNG, NGUYỄN VĂN NGUYỆN, TRẦN VĂN KHANH, LÊ HOÀNG, ĐINH THỊ MẾN, NGUYỄN THỊ THU HIỀN, TRẦN THỊ HỒNG NGỌC,
LÊ THỊ NGỌC BÍCH, VÕ THỊ CẨM TIÊN,
NGUYỄN THỊ NGỌC TĨNH
Trang 2Nghiên cứu sản xuất thức ăn hỗn hợp tạo
cua lột (Scylla paramamosain) thương phẩm.
Study on formulated feed for commercial
soft shell mud crab production (Scylla
para-mamosain).
59-66
LÊ HOÀNG, NGUYỄN THÀNH TRUNG,
TRẦN THỊ LỆ TRINH, NGUYỄN VĂN NGUYỆN
Ảnh hưởng của soy protein concentrate
(SPC) tới enzyme tiêu hóa của cá cam Nhật
Bản (Seriola quinqueradiata Temminck &
Schlegel, 1845)
Effect of soy protein concentrate (SPC) on
di-gestive enzymes of yellowtail (Seriola
quin-queradiata Temminck & Schlegel, 1845).
67-76
LA XUÂN THẢO
Ứng dụng công nghệ tuần hoàn để nuôi
cá chình bông (Anguilla marmorata Quoy &
Gaimard, 1824).
Application of a recirculating aquaculture
sys-tem for marble eel (Anguilla marmorata Quoy
& Gaimard, 1824) culture.
Establishment of culture model for all-male giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii) in Ho Chi Minh city and Tay Ninh province.
87-100
NGUYỄN ĐỨC MINH, ĐỖ THỊ PHƯỢNG,
TRẦN NGỌC ANH TUẤN
Đánh giá hiện trạng nguồn lợi thủy sản và
đề xuất phân khu chức năng sử dụng và bảo
vệ đa dạng sinh học cá vùng đất ngập nước
hồ Trị An
Existing fisheries resources, exploitation and protection of fish biodiversity by setting up functional wetland habitats of Tri An reservoir.
101-111
NGUYỄN NGUYỄN DU
Trang 3NGHIÊN CỨU MÔ PHỎNG TỐI ƯU TỈ LỆ GHÉP PHỐI, HIỆU QUẢ CHỌN LỌC VÀ CẬN HUYẾT GIỮA CÁC QUẦN THỂ CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) CHỌN GIỐNG
Nguyễn Văn Sáng1*, Trịnh Quốc Trọng1, Nguyễn Thanh Vũ1TÓM TẮT
Trên cá tra, chương trình chọn giống với các quần thể ban đầu (G0-2001 và G0-2002 và G0-2003 có
số lượng gia đình lần lượt là 75, 79 và 101) được sản xuất từ cá bố mẹ thuộc 4 trại sản xuất giống ở Đồng bằng sông Cửu Long Chọn giống đã được tiến hành qua 3 thế hệ Mục tiêu của báo cáo là xác định tỉ lệ tối ưu ghép phối nội bộ và ghép phối chéo 3 quần thể (year-class) cá tra bố mẹ G2-2002, G2-2003 và G3-2001 để thành lập một quần thể chọn giống duy nhất G3 cho chọn giống dài hạn theo tính trạng tăng trưởng, ngoài ra cũng xác định tỉ lệ tối ưu ghép phối của quần thể G3 và quần thể mới thành thục G3-2002 Khi tỉ lệ đóng góp của quần thể G3-2001 dao động từ 38,5 đến 50% thì khối lượng, EBV và tỉ lệ cận huyết của quần thể tích hợp G3 không khác biệt lớn Khi tỉ lệ đóng góp của quần thể G3-2001 là 40% thì tỉ lệ cận huyết là thấp nhất (0,041 – 0,043) Quần thể đã được chọn lọc qua nhiều thế hệ hơn thì nên có tỉ lệ đóng góp lớn hơn Khuyến cáo sử dụng tỉ lệ đóng góp G3-2001 (40%), G2-2002 (35%) và G2-2003 (25%) cho việc tích hợp tạo quần thể G3, nhằm đảm bảo sự đóng góp các quần thể không quá chênh lệch Khi tích hợp quần thể G3-2002 vào G3 thì tỉ lệ đóng góp không tạo nên khác biệt lớn Khuyến cáo tỉ lệ tích hợp của G3-2002 là 5 – 10%.
Từ khóa: cá tra, mô phỏng, khối lượng, EBV, tỉ lệ cận huyết.
I GIỚI THIỆU
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là
loài cá nuôi nước ngọt quan trọng Tính đến hết
năm 2017, diện tích nuôi cá tra đạt 6.078 hécta
với sản lượng 1,26 triệu tấn, và kim ngạch xuất
khẩu (tới 142 quốc gia và vùng lãnh thổ) đạt
1,78 tỷ đô la Mỹ (VASEP, 2018) Chương trình
chọn giống cá tra đã được thực hiện từ năm 2001
với 3 quần thể chọn lọc song song (Van Sang và
ctv., 2007) Tính đến năm 2014, việc chọc lọc
đã được thực hiện qua 2–3 thế hệ Việc duy trì
nhiều quần thể chọn lọc gây ra nhiều khó khăn
cho công tác quản lý và chi phí thực hiện Việc
hợp nhất các quần thể hiện tại là cần thiết nếu
đảm bảo được các mục tiêu của chương trình
chọn giống như duy trì hệ số cận huyết, tích lũy
di truyền để phục vụ cho chọn lọc dài hạn Do
đó, mục tiêu của báo cáo là xác định tỉ lệ tối
ưu ghép phối nội bộ và ghép phối chéo giữa các quần thể cá tra bố mẹ G2-2002, G2-2003 và G3-
2001 bằng nghiên cứu mô phỏng sử dụng phần mềm QMSim (Sargolzaei và Schenkel, 2013) để thành lập một quần thể chọn giống duy nhất (G3) theo tính trạng tăng trưởng Ngoài ra nghiên cứu cũng xác định tỉ lệ tối ưu ghép phối của quần thể G3 và quần thể mới thành thục G3-2002
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Các quần thể chọn giống thực tế
Các quần thể ban đầu G0-2001, G0-2002 và G0-2003 với số lượng gia đình lần lượt là 75, 79
và 101 được sản xuất từ cá bố mẹ thuộc 4 trại sản xuất giống ở Đồng bằng sông Cửu Long Đối với quần thể 2001, đã chọn giống qua 3 thế hệ bao gồm G1-2001, G2-2001 và G3-2001 Quần thể
2002 cũng đã được chọn lọc qua 3 thế hệ tương
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
* Email: nguyenvansang1973@yahoo.com
Trang 4thành 1 quần thể chọn giống G3 duy nhất Bước
2, tích hợp quần thể G3-2002 vào quần thể G3
2.2 Phần mềm QMSim
Mô phỏng được thực hiện bằng phần mềm
QMSim (Sargolzaei và Schenkel, 2013) QMSim
là một phần mềm chuyên biệt để mô phỏng các
quần thể động vật từ mức độ di truyền đến mức
độ phân tử và chức năng mô phỏng các quần thể
ban đầu (historical populations) Mức độ phân
tử bao gồm khả năng định hình các nhiễm sắc
thể với QTL (Quantitative Trait Loci) và bản đồ
của các chỉ thị (marker maps) Tuy nhiên trong
nghiên cứu này thì QMSim chỉ được dùng để mô
phỏng các quần thể bao gồm các cá thể được sắp
xếp theo cấu trúc định sẵn, trong đó từng cá thể
có kiểu hình và giá trị chọn giống
QMSim được thiết kế để mô phỏng các
quần thể lớn, nhiều thế hệ, và có phả hệ phức
tạp Quy trình mô phỏng của QMSim có hai
bước chính Đầu tiên, một quần thể ban đầu
được mô phỏng Tiếp theo, cấu trúc các quần
thể của các thế hệ tiếp theo cho đến thế hệ hiện
tại được mô phỏng Trong quá trình mô phỏng
của các quần thể, QMSim cho phép nhiều tùy
chọn phục vụ cho chọn giống Chương trình vận
hành khá hiệu quả về thời gian tính toán và yêu
cầu về bộ nhớ trong của máy tính
được mô phỏng bằng phần mềm QMSim
(Sargolzaei và Schenkel, 2013) Tuy nhiên, các
thông số đầu vào như hệ số di truyền, phương
sai kiểu hình, số lượng cá thể chọn lọc, số lượng
cá con của từng cá mẹ/gia đình được ước tính
từ 4 quần thể chọn giống thực tế Bốn quần thể
này là quần thể ban đầu G0 và 3 quần thể chọn
giống tiếp theo G2-2002, G2-2003 và G3-2001.Tính trạng chọn lọc được mô phỏng là tăng trưởng và xác định bằng khối lượng thu hoạch Tính trạng tăng trưởng có hệ số di truyền được đặt ở mức 0,42 và phương sai kiểu hình
là 66.906 g (số liệu thực tế dựa trên các thế hệ chọn lọc từ 2001) Quần thể ban đầu được mô phỏng qua 2 thế hệ với số lượng cá thể là 20.000
cá thể trong thế hệ đầu tiên (G0) và 17.432 trong thế hệ tiếp theo (G1), với giả định là ghép phối được tiến hành ngẫu nhiên Ba quần thể thành phần là G2-2002, G2-2003 và G3-2001 với chi tiết như sau Quần thể G3-2001 được chọn lọc trước đó qua 3 thế hệ, có số lượng cá chọn lọc (những cá thể có giá trị chọn giống cao nhất)
là 110 đực và 167 cá cái, số lượng cá con được chọn để nuôi tăng trưởng là 63 (với giả định tỉ
lệ cá đực:cái = 1:1) cho mỗi gia đình Quần thể G2-2002 được chọn lọc trước đó qua 2 thế hệ, bao gồm 108 cá đực và 183 cá cái chọn lọc, số lượng cá con/gia đình là 52 (tỉ lệ đực:cái = 1:1) Quần thể G2-2003 được chọn lọc trước đó qua
2 thế hệ, bao gồm 131 cá đực và 175 cá cái chọn lọc, 60 cá con/gia đình (tỉ lệ đực:cái = 1:1) Giá trị chọn giống được ước tính bằng BLUP (Best Linear Unbiased Prediction) Ghép phối được thực hiện dựa trên giá trị chọn giống (Estimated Breeding Value, EBV) của từng cá thể, tức là,
cá thể đực có EBV cao được ghép phối với cá thể cái cũng có EBV cao, và ngược lại Phả hệ, giá trị kiểu hình (=khối lượng thu hoạch), giá trị chọn giống được ghi nhận và ước tính cho từng thế hệ/quần thể
Cho việc thành lập quần thể G3, số lượng
và tỉ lệ đóng góp của các quần thể được mô phỏng theo 14 phương án (Bảng 2) Số lượng
cá con là 75/gia đình, chọn lọc qua 5 thế hệ Giá trị chọn giống được ước tính bằng BLUP Ghép phối được thực hiện theo thứ tự EBV, tức là,
cá thể đực có EBV cao được ghép phối với cá thể cái cũng có EBV cao theo thứ tự từ cao đến thấp Phả hệ, giá trị kiểu hình, giá trị chọn giống được ghi nhận và ước tính cho từng thế hệ Các thông số chung bao gồm hệ số di truyền là 0,42
và phương sai kiểu hình là 66.906 g Tất cả các phương án mô phỏng được chạy 50 lần
Trang 5Bảng 1 Tỉ lệ đóng góp của 3 quần thể thành phần G2-2002, G2-2003 và G3-2001 cho quần thể
G3 theo 14 phương án khác nhau với số cá thể chọn lọc là 70 cá đực và 140 cá cái
Tiếp theo, mô phỏng việc tích hợp quần thể
G3-2002 vào quần thể G3 Các thông số đầu
vào tương tự như khi thành lập G3 từ 3 quần thể
G3-2001, G2-2002 và G2-2003 nêu trên Hệ số
di truyền được đặt ở mức 0,45
Bảng 2 Tỉ lệ đóng góp của hai quần thể G3
và G3-2002 cho quần thể mới
Mô phỏng sử dụng QMSim được lặp lại 50
lần Trong mỗi lần lặp lại, trung bình của giá trị
chọn giống được tính toán cho từng quần thể Sau
đó, trung bình của 50 lần lặp lại được tính cùng với
độ lệch chuẩn và sai số chuẩn cho từng phương án Chọn lọc dựa trên giá trị chọn giống do QMSim cung cấp Các kết quả so sánh bao gồm trung bình giá trị kiểu hình, giá trị chọn giống, hiệu quả chọn lọc và hệ số cận huyết sau 2 thề hệ chọn lọc được
sử dụng để so sánh hiệu quả của 6 phương án tích hợp để thành lập quần thể G3
III KẾT QUẢ 3.1 Tích hợp 3 quần thể G3-2001, G2-
2002 và G2-2003 tạo thành quần thể G3
Trung bình khối lượng, giá trị chọn giống
và hệ số cận huyết của 8 phương án tích hợp
3 quần thể G3-2001, G2-2002 và G2-2003 tạo thành quần thể G3 được trình bày trong Bảng
3 Trung bình khối lượng và giá trị chọn giống (EBV) tăng đều và khá nhanh khi tỉ lệ đóng góp của G3-2001 tăng từ 15,0 đến 37,5%, và khá ổn định khi đạt 40% (bất kể đóng góp của G2-2002
và G2-2003 có thay đổi chăng nữa) Khi tỉ lệ của G3-2001 tiếp tục tăng thì khối lượng và EBV
có tăng so với các phương án trước đó, nhưng tương đương giữa 2 tỉ lệ 50 và 70% (Bảng 3)
Trang 6Bảng 4 Trung bình khối lượng, giá trị chọn giống và hệ số cận huyết của 5 phương án tích hợp
Giá trị = trung bình của 50 lượt chạy mô phỏng ± sai số chuẩn.
Ngược lại với xu hướng của khối lượng và
EBV, hệ số cận huyết có xu hướng giảm khá đều
đặn (0,54 – 0,45) khi tỉ lệ đóng góp của G3-2001
tăng (15,0 – 37,5) Khi tỉ lệ đóng góp của
G3-2001 là từ 38,5% vào cao hơn thì hệ số cận huyết
trở nên ổn định (0,41 – 0,43), ngoại trừ có giảm
khi G3-2001 đóng góp 70% (0,38) (Bảng 3)
3.2 Tích hợp quần thể G3-2002 vào quần thể G3
Đáng chú ý là khi tích hợp quần thể G3-2002 vào quần thể G3 thì trung bình khối lượng, EBV
và hệ số cận huyết (0,42) gần như ổn định sau 2 thế hệ chọn lọc (Bảng 4) Do quần thể G3 đã bao gồm thế hệ bố mẹ (G2-2002) của G3-2002, nên
tỉ lệ ghép của G3-2002 không cần quá cao Quần thể G3 nên là đóng góp chính với tỉ lệ 90 – 95%
Bảng 3 Trung bình khối lượng, giá trị chọn giống và hệ số cận huyết của 14 phương án tích
hợp 3 quần thể G3-2001, G2-2002 và G2-2003 tạo thành quần thể G3
Phương án Tỉ lệ đóng góp
(G3-2001 : G2-2002 : G2-2003)
Khối lượng (g) Giá trị chọn giống
Trang 7IV THẢO LUẬN
Phương pháp tiến tiến nhất để ước tính giá
trị chọn giống là BLUP (Best Linear Unbiased
Prediction) (Henderson, 1984) Phương pháp
BLUP sử dụng thông tin của cá thể và họ hàng,
do đó gia tăng độ chính xác của EBV Chọn lọc
dựa trên EBV (tức là chọn những cá thể có EBV
cao nhất trong quần thể) là phương pháp chuẩn
trong chọn giống hiện nay Chọn lọc theo EBV
đem lại hiệu quả cao nhưng cũng gia tăng tỉ lệ
cận huyết, vì rằng có sự tương quan cao giữa
các EBV trong cùng một gia đình khiến cho
những cá thể chọn lọc xuất xứ từ một số ít gia
đình (Wray và Thompson, 1990) Trong nghiên
cứu này, vì các thông số đầu vào (dựa trên kết
quả chọn lọc thực tế) là chọn lọc và ghép phối
đều dựa trên EBV nên khối lượng và EBV đều
tăng nhanh qua các thế hệ Ngoài ra, do hệ số di
truyền đầu vào ở mức khá cao (0,42) nên EBV
cũng cao tương ứng, do EBV cá thể tăng khi hệ
số di truyền tăng (Henderson, 1984) Tuy nhiên,
tỉ lệ cận huyết cũng tăng nhanh (4,4 – 5,1%)
Tỉ lệ cận huyết này nằm trong mức được báo
cáo trong chương trình chọn giống cá hồi coho
(Oncorhynchus kisutch) tại Chilê (3 – 13%/thế
hệ) (Yáñez và ctv., 2014) Lưu ý rằng mức độ
này cao hơn so với mức khuyến cáo lý thuyết
1,0% (Bijma, 2000) trong chọn giống động vật
Nhìn chung, khi tỉ lệ đóng góp của các quần
thể dao động quanh 33% (tức là mức độ đóng
góp của ba quần thể là tương đương nhau và
=1/3) thì khối lượng, EBV và tỉ lệ cận huyết
không khác nhau nhiều Có thể nhận thấy xu
hướng là khi tỉ lệ đóng góp của quần thể
G3-2001 (được chọn lọc qua nhiều thế hệ hơn, do
đó có phả hệ “sâu” hơn) cao nhất (40%) thì tỉ lệ
cận huyết là thấp nhất (0,041 – 0,044 hoặc 4,1
– 4,4%) Trong bất kỳ chương trình chọn giống
nào thì điều tối quan trọng là phải duy trì tỉ lệ
cận huyết ở mức chấp nhận được (Sonesson và
ctv., 2005), vì cận huyết có ảnh hưởng tiêu cực
trực tiếp đến các tính trạng tăng trưởng, sinh sản
và sức sống (Falconer và Mackay, 1996)
Điểm thú vị là khi tăng tỉ lệ đóng góp của
quần thể G3-2001 (lên đến 50% hoặc 70%,
phương án 13 và 14) thì khối lượng và EBV tăng trong khi cận huyết lại giảm nhẹ (0,38 – 0,43) (Bảng 3) Một kết quả đáng lưu ý khác là khi tăng tỉ lệ đóng góp của 2 quần thể đã chọn lọc qua 2 thế hệ (G2-2002 và G2-2003) lên đến 70% (phương án 1 và 2) thì khối lượng và EBV
là thấp nhất, và thấp hơn hẳn so với phương án quần thể đã chọn lọc qua 3 thế hệ G3-2001 có tỉ
lệ đóng góp 70% (Phương án 14) (Bảng 3) Xu hướng tương tự cũng đúng cho hệ số cận huyết (phương án 1 và 2 có hệ số cận huyết cao hơn phương án 13 và 14), dĩ nhiên với chiều hướng ngược lại (cận huyết cao thì không tốt) (Bảng 3) Điều này cho phép nhận định rằng quần thể
đã được chọn lọc qua nhiều thế hệ hơn thì nên
có tỉ lệ đóng góp lớn hơn Nhận định này phù hợp với đặc điểm chung của chọn giống là qua nhiều thế hệ thì hiệu quả và độ chính xác của chọn lọc sẽ gia tăng (Gjedrem, 2005)
Mô phỏng một chương trình chọn giống là một công việc phức tạp Các thông số di truyền,
số lượng cá bố mẹ chọn lọc, số lượng cá con/gia đình có thể (và thường) thay đổi qua từng thế hệ, khác nhau giữa các quần thể (year-class) Các thông số đầu vào trong phần mềm QMSim bao gồm hệ số di truyền chung (cho tất cả các quần thể và thế hệ), số lượng cá bố mẹ chọn lọc của từng quần thể, số lượng cá con của từng gia đình, phương pháp chọn lọc và ghép phối Tất
cả các thông số này là cố định cho tất cả các thế hệ (không có tùy chọn liệt kê riêng rẽ cho từng thế hệ) của 3 quần thể G3-2001, G2-2002
và G2-2003 Do đó, kết quả của mô phỏng nên được kiểm chứng với số liệu thực tế của những thế hệ chọn giống sau này
Trang 8việc tích hợp tạo quần thể G3, nhằm đảm bảo
sự đóng góp các quần thể không quá chênh lệch
Khi tích hợp quần thể G3-2002 vào G3 thì tỉ lệ
đóng góp không tạo nên khác biệt lớn Khuyến
cáo tỉ lệ tích hợp của G3-2002 là 5 – 10%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Phạm Đình Khôi, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn
Sáng, Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Quyết Tâm,
N.H.N., Lê Hồng Phước, Nguyễn Thị Hiền,
Nguyễn Diễm Thư, Hà Thị Ngọc Nga, 2010
Bước đầu đánh giá một số thông số di truyền làm
cơ sở cho chọn giống kháng bệnh gan thận mủ
Báo cáo tổng kết tóm tắt 10 trang.
Nguyễn Văn Sáng, Phạm Văn Khánh, Phạm Đình
Khôi, Phan Thanh Lâm, Nguyễn Quyết Tâm,
Đặng Minh Phương, Nguyễn Thị Đang, Trần
Anh Dũng, Nguyễn Văn Ngô, 2010 Báo cáo
tổng kết đề tài ‘Đánh giá hiện trạng sản xuất
giống và xây dựng các giải pháp quản lý nhằm
nâng cao chất lượng giống cá tra ở Đồng bằng
sông Cửu Long’ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng
Thủy sản II, 105 trang.
Trịnh Quốc Trọng, Nguyễn Thanh Vũ, Ngô Hồng
Ngân, Nguyễn Huỳnh Duy, Nguyễn Thị Đang,
Trần Hữu Phúc, Phạm Đăng Khoa, 2016 Chọn
giống cá tra kháng bệnh gan thận mủ Báo cáo
tổng kết đề tài trọng điểm cấp Nhà nước thuộc
Chương trình KC06, Bộ Khoa học Công nghệ.
Tài liệu tiếng Anh
Bijma, P (2000) Long-term Genetic Contributions
Prediction of Rates of Inbreeding and Genetic
Gain in Selected Populations, Wageningen
University PhD Dissertation.
Falconer, D S and T F C Mackay (1996) Introduction to quantitative genetics Harlow, Longman.
Gjedrem, T (2005) Selection and breeding programs
in aquaculture, Springer.
Henderson, C R (1984) Applications of Linear Models in Animal Breeding University of Guelph, Guelph, Canada.
Sargolzaei, M and F Schenkel (2013) “QMSim User’s Guide Version 1.10.” Centre for Genetic Improvement of Livestock, Department of Animal and Poultry Science, University of Guelph, Guelph, Canada.
Sonesson, A K., et al (2005) Kinship, relationship and inbreeding Selection and breeding programs
in aquaculture T Gjedrem P.O Box 17, 3300
AA Dordrecht, The Netherlands, Springer: 364 Van Sang, N., et al (2007) “Selective breeding for growth and fillet yield of river catfish Pangasianodon hypophthalmus in the Mekong Delta, Vietnam.” Aquaculture Asia 12(2): 26 VASEP (2018) “VIETNAM ASSOCIATION OF SEAFOOD EXPORTERS AND PRODUCERS (VASEP) http://seafood.vasep.com.vn/ seafood/51_12505/vietnam-pangasius-exports- in-2017-totaled-us178-billion.htm”.
Wray, N R and R Thompson (1990) “Prediction
of rates of inbreeding in selected populations.” Genetical Research 55(1): 41-54.
Yáñez, J M., et al (2014) “Inbreeding and effective population size in a coho salmon (Oncorhynchus kisutch) breeding nucleus in Chile.” Aquaculture 420–421, Supplement 1: S15-S19.
Trang 9USING SIMULATION TO OPTIMISE MATING PROPORTION, SELECTION RESPONSE AND INBREEDING COEFFICIENCY
BETWEEN MULTIPLE RECENT TRA CATFISH (Pangasianodon
to establish a unique population and use this to merge with the most recent year-class (G3-2002) which was yet enough maturation to participate the former While mating percentage of year-class G3-2001 ranged 38.5 – 50.0%, the differences between merge populations regarded the weight, EBV and inbreeding coefficient were insignificant Mating proportion of G3-2001 of 40% gave lowest inbreeding values (0.041 – 0.043) Year-classes which undertaking longer selection should
be contributed more Our results proposed mating porportions were followed by G3-2001 (40%), G2-2002 (35%) và G2-2003 (25%) The percentage of G3-2002 was small (5 – 10%) for subsequent nesting to merged population according to its minor contribution
Keywords: Tra catfish, simulation, weight, EBV, inbreeding coefficent
Người phản biện: ThS Trần Hữu Phúc
Ngày nhận bài: 20/6/2018 Ngày thông qua phản biện: 30/6/2018
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018
1 Research Institute for Aquaculture No.2
* Email: nguyenvansang1973@yahoo.com
Trang 10TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG NUÔI TÔM SÚ VÀ TÔM
CHÂN TRẮNG Ở VIỆT NAM
Lê Hồng Phước1*, Nguyễn Diễm Thư1, Hứa Ngọc Phúc2, Phạm Thị Yến3TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam Số hộ nuôi tôm được phỏng vấn ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam lần lượt là 57, 60 và 90 nông hộ Các thông tin trong phiếu điều tra chủ yếu liên quan đến các loại kháng sinh sử dụng, liều lượng, tần suất sử dụng và hiệu quả phòng trị Ở miền Bắc, có 11 loại kháng sinh đã được hộ nuôi sử dụng trong nuôi tôm như oxytetracycline, Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim), tetracycline, enrofloxacin, doxycycline, ciprofloxacin, florfenicol, biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine), Cloxit (chloramphenicol), erythromycin và trifamet (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin) Trong đó oxytetracycline, tetracycline
và enrofloxacin là 3 loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất Tại miền Trung, có 71,2% nông hộ cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 10 loại kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong phòng trị bệnh tôm Oxytetracycline, ciprofloxacin, doxycycline là ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Trung Tại miền Nam, có 68,9% nông hộ cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 15 loại kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong phòng trị bệnh tôm Oxytetracycline, doxycyline và enrofloxacin là ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Nam Về hiệu quả sử dụng kháng sinh, có 20-50% hộ nuôi cho biết sử dụng kháng sinh có hiệu quả, 30% cho biết không có hiệu quả và 20%
không biết được hiệu quả mang lại khi sử dụng kháng sinh Các loại kháng sinh nhạy đối với Vibrio
parahaemolyticus là gentamicin, flofenicol, oxytetracycline, doxycycline và tetracycline.
Từ khóa: AHPND, tôm, kháng sinh.
1 Trung tâm Quan trắc Môi trường & Bệnh Thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
2 Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản III
3 Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I
* E-mail: lehongphuoc@yahoo.com
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ năm 2010, trên tôm nuôi xuất hiện hội
chứng chết sớm (Early Mortality Syndrome-
EMS) hay còn gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp
tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease
- AHPND) được ghi nhận tại Trung Quốc,
Malaysia và Thái Lan Ở Trung Quốc EMS
xuất hiện đầu tiên năm 2009 nhưng chưa được
người nuôi chú ý đến Đến năm 2011 bệnh trở
nên trầm trọng hơn ở những trang trại nuôi trên
5 năm và gần biển (Panakorn, 2012) Các trang
trại nuôi tôm ở Hainan, Guangdong, Fujian
và Guangxi bị thiệt hại trong 6 tháng đầu năm
2011 với khoảng 80% Ở Malaysia, bệnh xuất
hiện lần đầu vào giữa năm 2010 tại 2 bang
Pahang và Joho sau đó lan rộng sang các vùng
khác Sự bùng phát EMS đã làm giảm sản lượng đáng kể của tôm thẻ chân trắng (khoảng 60%) Năm 2013, ở Thái Lan, bệnh xuất hiện ở 2 tỉnh phía đông vịnh Thái Lan Bệnh được ghi nhận
và gây thiệt hại nặng trên cả tôm sú và tôm thẻ chân trắng Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn sau 15-40 ngày sau khi thả nuôi Tôm bệnh có dấu hiệu giảm ăn, khối gan tụy có nhiều biến dạng bất thường như trương to và nhũn hoặc teo nhỏ, màu sắc nhợt nhạt, dấu hiệu khác cũng được ghi nhận bao gồm mềm vỏ, sậm màu Tỷ
lệ tôm chết có thể lên đến 100% trong vài ngày hoặc kéo dài hơn Theo Lightner và ctv., (2013)
bệnh hoại tử gan tụy cấp tính do vi khuẩn Vibrio
parahaemolyticus gây ra
Trang 11Hiện nay, thuốc và các loại kháng sinh được
sử dụng rất thường xuyên trong nuôi trồng thủy
sản ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu về
vấn đề này vẫn còn rất hạn chế Theo báo cáo
của Mai Văn Tài và ctv., (2004), kháng sinh được
sử dụng trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu thuộc
nhóm oxytetracycline bao gồm: Oxytetracycline,
tetracycline và doxycycline Trong đó, có khoảng
32 loại kháng sinh được sử dụng trong các qui
trình nuôi tôm thịt, 39 loại được sử dụng trong
sản xuất tôm giống, 14 loại được sử dụng trong
ương nuôi các loại cá biển, 41 loại trong nuôi
cá lồng nước ngọt và 67 loại trong nuôi cá ao
nước ngọt Ngoài ra, theo nghiên cứu về sự tồn
dư của 4 loại kháng sinh trimethprim (TMP),
sulfamethoxazole (SMX), norfloxacin (NFXC)
và oxolinic acid (OXLA) trong nước và trong
bùn ở các ao nuôi tôm thuộc bốn khu vực khác
nhau bao gồm Thái Bình, Nam Định, Cần Giờ
và Cà Mau cho thấy cả bốn loại kháng sinh này
đều được phát hiện trong các ao nuôi tôm với
đó, không có sự khác biệt về sự hiện diện của
các loại kháng sinh này giữa các ao nuôi quảng
canh cải tiến và quảng canh nhưng lại có sự khác
biệt khá lớn giữa các vùng nuôi tôm được khảo
sát Đối với loại kháng sinh NFXC, nồng độ cao
nhất được ghi nhận trong các ao nuôi quảng canh
ở Nam Định và trong bùn ở các ao quảng canh
ở Cần Giờ và Cà Mau (Le và Munekage, 2004)
Cũng theo thông tin từ nghiên cứu này, kháng
sinh và các loại hóa chất khác thường được sử
dụng trong tháng nuôi đầu tiên và được sử dụng
với hàm lượng cao khi tôm có triệu chứng bệnh
Các loại kháng sinh thường ở dạng bột và được
trộn chung với thức ăn thương mại
Trong năm 2016, thực hiện chỉ đạo của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thú
y đã chủ trì triển khai phòng, chống dịch bệnh
trên tôm (tại Sóc Trăng và Bạc Liêu) và trên cá
tra (tại Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang) trong
đó có nội dung khảo sát trực tiếp tại các hộ nuôi
trồng thủy sản về tình hình sử dụng kháng sinh Kết quả điều tra tại 218 hộ nuôi thâm canh và bán thâm canh tại 64/66 ấp của 12/12 xã phường/thị trấn thuộc huyện Hòa Bình và Thành phố Bạc Liêu cho thấy có 66,97% (146 cơ sở) hộ nuôi
sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi, chỉ có 23,4% hộ không sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi, còn lại 9,63% hộ không biết là mình
có sử dụng kháng sinh hay không Trong số những cơ sở sử dụng kháng sinh thì có 19,86%
hộ sử dụng thuốc kháng sinh trên người, 8,91%
hộ nuôi sử dụng đồng thời cả nhân y và Thú
y, 42,47% hộ không rõ là mình sử dụng thuốc Thú y hay nhân y Nếu loại bỏ các hộ sử dụng kháng sinh nhưng không rõ nhân y hay Thú y thì tỷ lệ hộ sử dụng thuốc nhân y là 34,52%, hộ dùng cả Thú y và nhân y là 15,48%, số hộ chỉ dùng thuốc thú y là 50% Một số cơ sở nuôi đã
sử dụng chloramphenicol 250mg, doxycycline 100mg, tetracycline 500mg trong nhân y để điều trị bệnh Trong 146 hộ sử dụng kháng sinh,
có 61,64% hộ sử dụng kháng sinh để phòng bệnh, 14,38% hộ sử dụng cả phòng và trị, chỉ
có 23,97% hộ chỉ sử dụng kháng sinh khi tôm
có dấu biệu bị bệnh Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định hiện trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) của các hộ nuôi tôm tại ba miền Bắc, Trung, Nam qua điều tra nông hộ
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Đối tượng, phạm vi và quy mô điều tra
Điều tra trên mô hình nuôi tôm thâm canh
và bán thâm canh trên phạm vi 7 tỉnh trong cả
3 miền Bắc và Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long trên vùng thường xảy ra dịch bệnh hoại tử gan tụy tôm nuôi + Miền Bắc và Bắc Trung bộ: 57 hộ nuôi được điều tra tại Hải Phòng và Nghệ An, trong
đó Hải Phòng 23 hộ, Nghệ An 34 hộ, các hộ nuôi này đều có quy mô nuôi thâm canh và bán thâm canh
+ Nam Trung bộ: 60 hộ nuôi tôm tại hai tỉnh Quảng Nam và Ninh Thuận, mỗi tỉnh 30 hộ nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh
Trang 12+ ĐBSCL: 90 ao/phiếu điều tra trên 3 tỉnh
Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu
2.2 Thông tin điều tra
Dựa vào phiếu điều tra theo biểu mẫu chuẩn
bị sẵn để thu thập các thông tin, số liệu liên quan
đến tình hình bệnh tôm và việc sử dụng kháng sinh
trong vụ nuôi của các hộ nuôi tôm Điều tra được
tiến hành qua việc sử dụng phiếu điều tra soạn sẵn
gồm đặc điểm ao nuôi và các kỹ thuật quản lý ao
và dịch bệnh và việc sử dụng thuốc kháng sinh
2.3 Phương pháp điều tra
Kết hợp với Chi cục Nuôi trồng Thủy sản
(hoặc Thú Y) để nắm tình hình và diện tích ao
nuôi, xác định vùng dịch bệnh hoại tử gan tụy
hay xảy ra, điều tra trực tiếp bằng cách phỏng
vấn người nuôi Trên cơ sở số lượng ao và vùng
nuôi tôm đã xác định, điều tra viên được phân
công đến vùng nuôi để phỏng vấn trực tiếp chủ
cơ sở nuôi hoặc người đại diện trả lời phỏng
vấn để ghi vào phiếu điều tra Điều tra được
thực hiện trên những ao nuôi thường xảy ra dịch
bệnh Sau khi phỏng vấn lần đầu, người phỏng
vấn có thể hỏi thông tin về quản lý ao nuôi bằng cách điện thoại để bổ sung vào phiếu điều tra
2.4 Phương pháp kháng sinh đồ
Thử nghiệm kháng sinh đồ trên V
parahaemolyticus được thực hiện theo phương
pháp khuếch tán đĩa thạch (Ruangpan & Tendencia, 2004) Trước hết, vi khuẩn được nuôi cấy tăng sinh trên môi trường thạch Tryptic soy agar (TSA) khoảng 18-24 giờ Sau đó khuẩn lạc của vi khuẩn được hòa tan vào nước muối 2%
Bảng 1 Giới hạn đường kính vùng ức chế các loại kháng sinh theo CLSI (2014)
STT Tên kháng sinh Hàm lượng Giới hạn đường kính vùng ức chế (mm)
Trang 132.5 Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu được nhập trên Excel 2010 và phân
tích thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0 (SPSS
Inc., USA)
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm tại miền Bắc và Bắc Trung bộ
Tại miền Bắc và Bắc Trung bộ, nghiên
cứu đã thu thập thông tin từ 57 hộ nuôi trong
đó Hải Phòng 23 hộ (40,4%), Nghệ An 34 hộ
(59,6%) Có 56,1% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 31,25% sử dụng kháng
sinh với mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra
tại ao nuôi và 68,75% ao nuôi sử dụng kháng
sinh để phòng bệnh Qua điều tra cho thấy có 11
loại kháng sinh đã được hộ nuôi sử dụng trong
nuôi tôm như oxytetracycline (33,0%), Osamet
(sulfadimethoxine + ormetoprim) (16,5%),
tetracycline (11,3%), enrofloxacin (9,3%),
doxycycline (8,2%), ciprofloxacin (8,2%),
florfenicol (7,2%), biosultrim (trimethoprim +
sulfadimidine) (2,1%), Cloxit (chloramphenicol) (2,1%), erythromycin (1,0%) và trifamet (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin) (1,0%) (Hình 1) Ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trong phòng trị bệnh tôm ở miền Bắc và Bắc Trung bộ là oxytetracycline, Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim) và tetracycline Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Mai Văn Tài và ctv., (2004) với oxytetracycline và doxycycline là 2 loại kháng sinh được sử dụng chủ yếu trong nuôi trồng thủy sản Điều đáng lưu ý là enrofloxacin là loại kháng sinh đã bị cấm sử dụng nhưng cũng đang được sử dụng khá nhiều Ciprofloxaxin vẫn được hạn chế sử dụng tại thời điểm điều tra năm 2015, đến tháng 6/2016 thì kháng sinh này cũng bị Bộ NN & PTNT cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Về hiệu quả sử dụng kháng sinh có 18,8% nông hộ đánh giá loại kháng sinh
họ đang sử dụng có hiệu quả, 81,3% nông hộ đánh giá kháng sinh không hiệu quả
Hình 1 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại miền Bắc và Bắc Trung bộ
Trang 143.1.2 Tại Hải Phòng
Có 34,8% nông hộ sử dụng kháng sinh,
trong đó 75,0% sử dụng kháng sinh với mục
đích trị bệnh và 25,0% ao nuôi sử dụng kháng
sinh để phòng bệnh Có 10 loại kháng sinh
được ghi nhận qua điều tra nông hộ với các
loại kháng sinh như oxytetracycline (28,9%), osamet (26,3%), ciprofloxacin (15,8%), doxycycline (7,9%), florfenicol (5,3%), enrofloxacin (5,3%), tetracycline (2,6%), biosultrim (2,6%), erythromycin (2,6%) và trifamet (2,6%) (Hình 3)
Hình 3 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Hải Phòng 3.2 Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm tại Nam Trung bộ
Tại khu vực Nam Trung bộ đã thu thập
thông tin tại 60 ao nuôi tôm thương phẩm
(100% ao nuôi tôm thẻ) tại Quảng Nam và
Ninh Thuận Có 71,2% nông hộ cho biết có sử
dụng kháng sinh, trong đó 90% sử dụng kháng
sinh với mục đích phòng và trị bệnh và 10% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Hơn 10 loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra như oxytetracycline (57,6%), ciprofloxacin (21,2%), doxycycline (7,1%), osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim) (5,1%), enrofloxacin (2,0%), amoxicillin (2,0%), cefotaxime (1,0%), cotrim
Hình 2 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Nghệ An
Trang 15(Sulfamethoxazol và Trimethoprim) (1,0%),
streptomycin (1,0%), cefotaxime (1,0%) và
kháng sinh không nhãn mác (1,0%) (Hình 4) Ba
loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong phòng
trị bệnh tôm tại Nam Trung bộ là oxytetracycline
(57,6%), ciprofloxacin (21,2%), doxycycline (7,1%) Cũng giống như ở khu vực Bắc và Bắc Trung bộ, mặc dù enrofloxacin và ciprofloxacin
là loại kháng sinh đã bị cấm sử dụng nhưng cũng đang được sử dụng tại miền Trung
Hình 4 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại NamTrung bộ
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh theo đánh
giá của nông hộ có 47,6% đánh giá loại kháng
sinh họ đang sử dụng có hiệu quả, 52,4% nông
hộ đánh giá kháng sinh không hiệu quả
3.2.1 Tại Quảng Nam
Có 86,2% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 87,5% sử dụng kháng sinh với mục đích phòng và trị bệnh và 12,5%
ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Năm loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra là oxytetracycline (64,7%), ciprofloxacin (13,7%), doxycycline (13,7%), osamet (3,9%),
và enrofloxacin (3,9%) (Hình 5)
Hình 5 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Quảng Nam
Trang 163.2.2 Tại Ninh Thuận
Có 56,7% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 11,7% ao cho biết sử dụng
kháng sinh với mục đích phòng và trị bệnh
Hơn 8 loại kháng sinh được ghi nhận qua điều
tra nông hộ tại Ninh Thuận là oxytetracycline
(50,0%), osamet (6,3%), amoxicillin (4,2%), ciprofloxacin (29,2%), cefotaxime (2,1%), cotrim (Sulfamethoxazol và Trimethoprim) (2,1%), streptomycin (2,1%) và kháng sinh không nhãn mác (2,1%) (Hình 6)
Hình 6 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Ninh Thuận 3.3 Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm tại ĐBSCL
Nghiên cứu đã thu thập thông tin 90 hộ
nuôi tôm thương phẩm tại Cà Mau, Sóc Trăng
và Bạc Liêu Có 68,9% nông hộ cho biết có sử
dụng kháng sinh, trong đó 62% sử dụng kháng
sinh với mục đích phòng trị bệnh và 38% ao
nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Hơn
15 loại kháng sinh được các nông hộ sử dụng
như oxytetracycline (31,7%), doxycycline
sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm là oxytetracycline (31,7%), doxycyline (12,7%)
và enrofloxacin (7,9%) Qua kết quả điều tra cho thấy có trên dưới 15 loại kháng sinh được người nuôi tôm sử dụng tại khu vực ĐBSCL Điều này cũng tương thích với các kết quả điều tra về số lượng và chủng loại kháng sinh dùng trong nuôi tôm của Hùynh Thị Tú và ctv., (2006) Theo nhóm tác giả này thì có đến
19 loại kháng sinh dùng trong nuôi tôm ở Bạc Liêu và Sóc Trăng Theo Tai (2012), có đến
28 loại thuốc Thú y thủy sản có chứa kháng sinh được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
ở Việt Nam
Trang 17Hình 7 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại ĐBSCL
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh theo đánh
giá của nông hộ, 51,4% nông hộ đánh giá loại
kháng sinh họ đang sử dụng có hiệu quả, 32,4%
nông hộ đánh giá kháng sinh không hiệu quả và
16,2% nông hộ không rõ hoặc chưa rõ kháng
sinh đang sử dụng có hiệu quả hay không
3.3.1 Tại Sóc Trăng
54,5% nông hộ cho biết có sử dụng kháng
sinh, trong đó 50% sử dụng kháng sinh với mục đích trị bệnh và 50% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Năm loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra nông hộ với các loại kháng sinh như oxytetracycline (56,3%), enrofloxacin (12,5%), cotrim (sulfamethoxazol
và trimethoprim) (12,5%), ampiciline (12,5%)
và amoxicillin (6,3%) (Hình 8)
Hình 8 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Sóc Trăng
3.3.2 Tại Cà Mau
88,9% nông hộ cho biết có sử dụng kháng
sinh, trong đó 70,0% sử dụng kháng sinh với
mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra tại ao nuôi
và 30% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng
bệnh Hơn 8 loại kháng sinh được ghi nhận qua
điều tra nông hộ với các loại kháng sinh như oxytetracycline (29,6%), flophenicol (14,8%), gentamicin (14,8%), enrofloxacin (7,4%), doxycyline (7,4%), ciprofloxacin (7,4%), Erythomycine (7,4%), Cotrim (Sulfamethoxazol
và Trimethoprim) (3,7%) và kháng sinh không nhãn mác (7,4%) (Hình 9)
Trang 18Hình 9 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Cà Mau
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh có 41,7%
nông hộ đánh giá loại kháng sinh họ đang sử
dụng có hiệu quả, 37,5% nông hộ đánh giá
kháng sinh không hiệu quả và 20,8% nông hộ
không rõ hoặc chưa rõ kháng sinh đang sử dụng
có hiệu quả hay không
(11,1%), amoxicillin (11,1%), clarithromycin (5,6%), rovamycine (5,6%), lincomycin (5,6%), tetracycline (5,6%) và cefotaxime (5,6%) (Hình 10)
Hình 10 Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Bạc Liêu
Trang 19Về hiệu quả sử dụng kháng sinh có 66,7%
nông hộ đánh giá loại kháng sinh họ đang sử
dụng có hiệu quả, 25,0% nông hộ đánh giá
kháng sinh không hiệu quả và 8,3% nông hộ
không rõ hoặc chưa rõ kháng sinh đang sử dụng
có hiệu quả hay không
Tình hình chung cho cả 3 miền Bắc và Bắc
Trung Bộ, Nam Trung bộ và ĐBSCL là hầu
hết các người nuôi đều có sử dụng kháng sinh
không được phép sử dụng (chủ yếu thuộc nhóm
Fluoroquinolone) Mặc dù kháng sinh thuộc
nhóm fluoroquinolone đã bị cấm sử dụng ở Mỹ
và Canada nhưng trước đây đã được báo cáo
sử dụng ở Trung Quốc, Thái Lan (Love và ctv.,
2011) Uddin và Kader (2006) điều tra tình
hình sử dụng kháng sinh ở các trại sản xuất
tôm giống ở Bangladesh năm 2002-2003
cho thấy chloramphenicol, erythromycin,
oxytetracycline và prefuran là các loại
kháng sinh có hiệu quả cao trong kiểm soát
các bệnh do vi khuẩn Có 40% trại sản xuất
giống sử dụng chloramphenicol, 25% trại sử
dụng erythromycin, 20% sử dụng prefuran
và 15% trại sản xuất sử dụng oxytetracycline
để ngừa tôm bố mẹ nhiễm khuẩn sau khi cắt
mắt để cho đẻ Ở Ấn Độ các loại kháng sinh
thông thường được sử dụng để phòng và trị
Enrofloxacin, cephalexin, doxycycline (Mishra
và ctv., 2017) Ở Bangladesh, theo Chowdhury
và ctv., (2015) thì oxytetracycline là một trong
những kháng sinh có hiệu quả nhất trong kiểm
soát bệnh thủy sản với 80-90% hiệu quả mang
lại từ chữa trị
Các loại kháng sinh thường được sử dụng
trong nuôi trồng thủy sản để trị các bệnh
nhiễm khuẩn gồm oxytetracycline, florfenicol,
sarafloxacin và enrofloxacin (Roque và
ctv., 2001; Soto-Rodríguez và ctv., 2006)
Theo Holmström và ctv., (2003), các nhóm
kháng sinh thường được sử dụng trong thủy
sản bao gồm chlortetracycline, quinolones,
ciprofloxacin, norfloxacin, oxilinic acid,
perfloxacin, sulfamethazine, gentamicin
và tiamulin Oxytetracycline thuộc nhóm tetracycline được sử dụng rộng rãi để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn như Vibriosis và Furunculosis (Capone và ctv., 1996; Prescott
và ctv., 2000; Reed và ctv., 2006) Thông tin chính thức về việc sử dụng enrofloxacin trong nuôi tôm chân trắng rất ít, tuy nhiên có nhiều nghiên cứu về dược động học của kháng sinh
này trên tôm sú (Penaeus monodon), tôm he Trung Quốc (Penaeus chinensis) (Intorre và
ctv., 2000; Tu và ctv., 2008; Wen và ctv., 2007;
có hiệu quả trong trị các bệnh do Pasteurella
piscicida, Aeromonas salmonicida, Vibrio anguillarum và Edwardsiella tarda (Yanong
ở nam Trung Bộ là 90 mẫu (30 mẫu nước, 30 mẫu bùn và 30 mẫu tôm), ở ĐBSCL là 90 mẫu (30 mẫu tôm, 30 mẫu nước và 30 mẫu bùn) Tất cả các mẫu thu được phân lập và định danh
V parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy
cấp tính trên tôm bằng test kít API20E kết hợp với phản ứng PCR theo quy trình của Han
và ctv., (2015) Kết quả thu được 2 chủng V
parahaemolyticus ở Bắc và Bắc Trung bộ, 7
chủng ở Nam Trung bộ và 47 chủng ở ĐBSCL Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ trên tất cả các chủng vi khuẩn này đã tổng hợp được các loại kháng sinh kháng hoặc nhạy ở 3 miền Bắc, Trung và Nam (Bảng 2) làm cơ sở cho việc cảnh báo cũng như chọn lựa đúng kháng sinh trong trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính
Trang 20Bảng 2 Danh mục các kháng sinh nhạy và kháng đối với Vibrio parahaemolyticus
gian Kháng Nhạy Trung gian Kháng Nhạy Trung gian Kháng
Theo nghiên cứu của Costa và ctv., (2015),
Vibrio kháng kháng sinh nhóm β-lactam và
tetracycline trong môi trường nuôi tôm Ngoài
ra, việc phát hiện yếu tố kháng kháng sinh yếu
tố trung gian plasmid cảnh báo cho khả năng
chuyển theo truyền ngang của các gen kháng
kháng sinh trong vi khuẩn Theo nghiên cứu
của Lai và ctv., (2015), dựa trên nồng độ ức
chế tối thiểu (MIC) cho thấy cả hai chủng V
parahaemolyticus gây bệnh và không gây bệnh
đã kháng nhiều thuốc kháng sinh
Trong nghiên cứu của He và ctv., (2016),
nhóm tác giả này phân lập được 400 chủng V
parahaemolyticus từ các mẫu tôm mua từ các
chợ ở Shanghai năm 2013-2014 Kết quả kiểm
tra tính kháng kháng sinh cho thấy tỷ lệ kháng
với các loại kháng sinh lần lượt là ampicillin
(99%), streptomycin (45,25%), rifampicin
(38,25%) và spectinomycin (25,5 %) Tất cả
các khuẩn lạc đều nhạy với chloramphenicol và
tetracycline, 35/400 chủng đều nhạy với tất cả
10 loại kháng sinh thử nghiệm gồm ampicillin,
chloramphenicol, gentamicin, kanamycin,
rifampicin, spectinomycin, streptomycin, sulfamethoxazole-trimethoprim, tetracycline
và trimethoprim Han và ctv., (2015) thử
khả năng kháng kháng sinh của 8 chủng V
parahaemolyticus trong đó có 2 chủng phân lập
từ Mexico và 8 chủng từ Việt Nam Kết quả cho thấy 100% số chủng đề kháng với ampicillin, 100% nhạy với flofenicol và nalidixic acid Các chủng ở Việt Nam nhạy cảm với tetracycline và oxytetracycline trong khi các chủng ở Mexico đều kháng với 2 loại kháng sinh này
IV KẾT LUẬN
- Tại miền Bắc, có 11 loại kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong phòng trị bệnh tôm Oxytetracycline (33,0%), osamet (16,5%), tetracycline (11,3%) là ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Bắc
- Miền Trung có 71,2% nông hộ có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 10 loại kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong phòng trị bệnh tôm Oxytetracycline (57,6%),
Trang 21ciprofloxacin (21,2%), doxycycline (7,1%) là
ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong
phòng trị bệnh tôm tại miền Trung
- Tại miền Nam có 68,9% nông hộ sử
dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 15 loại
kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong
phòng trị bệnh tôm oxytetracycline (31,7%),
doxycylin (12,7%) và enrofloxacin (7,9%) là
ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong
phòng trị bệnh tôm tại miền Nam Trong đó,
enrofloxacin là loại kháng sinh đã bị cấm sử
dụng tại thời điểm điều tra năm 2015
- Trong số các loại kháng sinh được
parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp
tính nhạy với các loại kháng sinh gentamicin,
florfenicol, oxytetracycline, doxycycline và
tetracycline
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Cục Thú Y, 2016 Báo cáo tham luận tại Hội nghị
Phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ tôm nước
lợ do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tổ
chức tại tỉnh Bạc Liêu ngày 14/09/2016.
Mai Văn Tài, 2004 Đánh giá hiện trạng các loại
thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học dùng trong
nuôi trồng thủy sản nhằm đề xuất các giải pháp
quản lý Báo cáo tổng kết đề tài Hà Nội, Viện
Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Bộ Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn.
Huỳnh Thị Tú, Nguyễn Thanh Phương, Frédéric
Silvestre, Caroline Douny, Châu Tài Tảo, Guy
Maghuin-Rogister và Patrick Kestemont, 2006
Khảo sát tình hình sử dụng thuốc-hóa chất trong
nuôi tôm và sự tồn lưu của enrofloxacin và
furazolidone trong tôm sú (Penaeus monodon)
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học
Cần Thơ: 70-78.
Tài liệu tiếng Anh
Capone, D G., Weston, D P., Miller, V and
Shoemaker, C., 1996 Antibacterial residues in
marine sediments and invertebrates following
chemotherapy in aquaculture Aquaculture
145(1-4): 55-75.
Chowdhury, A.A., Uddin, MdS, Vaumi, S and Asif, A.A., 2015 Aqua drugs and 37 chemicals used
in aquaculture of Zakigonj upazilla, Sylhet Asian
Jour nal of Medical and Biological Research 1:
336-349.
Clinical and Laboratory Standards Institute, 2014 Performance standards for antimicrobial susceptibility testing, 24 th informational supplement Approved standard M100-S24 Clinical and Laboratory Standards Institute, Wayne, PA, 226 pp.
Costa, R.A., Araújo, R.L., Souza, O.V., and Silva, R.H., 2015 Antibiotic-Resistant Vibrios in
Farmed Shrimp Biomed Research International:
505914.
He, Y., Jin, L., Sun, F., Hu, Q and Chen, L., 2016
Antibiotic and heavy-metal resistance of Vibrio
parahaemolyticus isolated from fresh shrimps
in Shanghai fish markets China Environmental
Science and Pollution Research 23:15033–
15040.
Holmström, K., Gräslund, S., Wahlström, A., Poungshompoo, S., Bengtsson, B E., & Kautsky, N., 2003 Antibiotic use in shrimp farming and implications for environmental impacts and
human health International journal of food
science & technology 38(3): 255-266.
Intorre, L., Cecchini, S and Bertini, S., 2000 Pharmacokinetics of enrofloxacin in the seabass
(Dicentrarchus labrax) Aquaculture 182: 49–59.
Lai, H C., Ng, T H., Ando, M., Lee, C T., Chen,
I T., Chuang, J C and Takeyama, H., 2015 Pathogenesis of acute hepatopancreatic necrosis
disease (AHPND) in shrimp Fish & shellfish
immunology 47(2): 1006-1014.
Le, T X and Munekage, Y., 2004 Residues of selected antibiotics in water and mud from shrimp ponds in mangrove areas in Viet Nam
Marine pollution bulletin, 49(11-12:, 922-929.
Lightner, D.V., Redman, C.R., Pantoja, B.L., Noble, L.M., Nunan, Loc Tran, 2013 Documentation
of an Emerging Disease (Early Mortality Syndrome) in SE Asia & Mexico OIE Reference Laboratory for Shrimp Diseases, Department of Veterinary Science & Microbiology, School of Animal and Comparative Biomedical Sciences Love, D.C., Rodman, S., Neff, R.A., Nachman, K.E., 2011 Veterinary drug residues in seafood
Trang 22inspected by the European Union, United
States, Canada, and Japan from 2000 to 2009
Environmental Science and Technology 45 (17):
7232–7240.
Mishra, S.S., Das, R., Das, B.K., Choudhary, P.,
Rathod, R., 2017 Status of Aqua-medicines,
Drugs and Chemicals Use in India: A Sur vey
Report Journal of Aquaculture and Fisheries 1:
1-15.
Panakorn, S., 2012 Opinion article: more on early
mortality syndrome in shrimp Aqua Culture
Asia Pacific 8 (1): 8-10.
Prescott J.F., Baggot J.D., Walter D.R., 2000
Tetracyclines and Glycylcyclines Antimicrobial
Teraphy in Veterinary Medicine (Giguére,
S.; Prescott, J.F.; Baggot, J.D.; Walker, R.D.;
Dowling, P.M (Ed)), 231.
Reed L.A., Siewicki T.C., Shah A.C., 2006 The
biopharmaceutics and oral bioavailability of two
forms of oxytetracycline to the white shrimp,
Litopenaeus setiferus Aquaculture 258: 223-245.
Roque, A., Molina-Aja, A., Bolan-Mejia, C and
Gomez-Gil, B., 2001 In vitro susceptibility to
15 antibiotics of vibrios isolated from penaeid
shrimps in Northwestern Mexico International
Journal of Antimicrobial Agents 17: 383-387
Soto-Rodríguez, S.A., Simoes, N., Roque, A.,
and Gómez Gil, B., 2006 Pathogenicity and
colonization of Litopenaeus vannamei larvae by
luminescent vibrios Aquaculture 258: 109-15.
Tai, M.V., 2012 Use of veterinary medicines
in Vietnamese aquaculture: current status In: Bondad-Reantaso, M.G., Arthur, J.R., Subasinghe, R.P., (Eds.), Improving Biosecurity Through Prudent and Responsible Use
of Veterinary Medicines in Aquatic Food Production, pp 91–98.
Tu, T.H., Silvestre, F., Bernard, A., Douny, C., Phuong, T.N., Tao, T.C., Maghuin-Rogiste, G., and Kestemont, P., 2008 Oxidative stress
response of black tiger shrimp (Penaeus
monodon) to enrofloxacin and to culture system Aquaculture 285: 244-248.
Uddin, S.A and Kader, M.A., 2006 The Use of Antibiotic in Shrimp Hatcheries in Bangladesh
Journal of Fisheries and Aquatic Science 1: 64-67.
Wen, F., Shuai, Z., Kai, Z and Si-cheng L., 2007 Pharmacokinetics and tissue distribution of enrofloxacin and its metabolite ciprofloxacin
in Scylla serrata following oral gavage at two salinities Aquaculture 272: 180–187.
Xu, W., Xiaobin, Z., Xinting, W., Liping, D and Gan, Z., 2006 Residues of enrofloxacin furazolidone and their metabolites in Nile tilapia
(Oreochromis niloticus) Aquaculture 254: 1–8.
Yanong, P R and Curtis, W.E., 2005 Pharmacokinetic studies of Florfenicol in Koi Carp and threespot
gourami Trichogaster trichopterus after oral and intramuscular treatment Journal of Aquatic
Health 17: 129-137.
Trang 23CURRENT STATUS OF ANTIBIOTIC USAGE IN BLACK TIGER SHRIMP AND WHITE LEG SHRIMP FARMING IN VIETNAM
Le Hong Phuoc1*, Nguyen Diem Thu2, Hua Ngoc Phuc2, Pham Thi Yen3
1 Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemics, Research Institute for Aquaculture No.2.
2 Research Institute for Aquaculture No.3
3 Research Institute for Aquaculture No.1
* Email: lehongphuoc@yahoo.com
ABSTRACT
This study was conducted to evaluate the current status of antibiotic usage in farming of black tiger shrimp and white-leg shrimp in Vietnam Number of shrimp farmers interviewed in the Northern, Central and Southern Vietnam were 57, 60 and 90, respectively The information in the questionnaire was mainly related to the antibiotics used, the dosage, the usage frequency and the treatment effectiveness In the North, 11 types of antibiotics were used in shrimp farming such as oxytetracycline, Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim), tetracycline, enrofloxacin, doxycycline, ciprofloxacin, florfenicol, biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine), chloroform (chloramphenicol) erythromycin and trifamate (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin) Oxytetracycline, tetracycline and enrofloxacin were the most commonly used antibiotics in this region In the Central region, 71.2% of shrimp farmers reported of using antibiotics in the shrimp crop with more than ten types of antibiotics being used in treating of shrimp diseases Oxytetracycline, ciprofloxacin and doxycycline were the most commonly used antibiotics in treating shrimp diseases in the central region In the South, 68.9% of shrimp farmers reported of using antibiotics in the shrimp crop with more than 15 antibiotics being used in shrimp disease treatment Oxytetracycline, doxycyline and enrofloxacin were the three antibiotics commonly used in preventing and treating of shrimp diseases
In relation to the effectiveness of antibiotics, 20-50% of households confirmed the effectiveness of
antibiotics, 30% reported no effect and 20% could not give the answer Vibrio parahaemolyticus
causing AHPND disease was sensitive to gentamicin, florfenicol, oxytetracycline, doxycycline, and tetracycline.
Keywords: AHPND, shrimp, antibiotic
Người phản biện: TS Lý Thị Thanh Loan
Ngày nhận bài: 12/6/2018 Ngày thông qua phản biện: 29/6/2018
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018
Trang 24NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MỘT SỐ YẾU TỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC
VÀ XÁC ĐỊNH MẦM BỆNH TRÊN NGHÊU
(Meretrix lyrata Sowerby, 1851) Ở TỈNH BẾN TRE
Nguyễn Thanh Hà1*, Ngô Thị Ngọc Thủy1, Từ Thanh Dung2 và Huỳnh Nguyễn Duy3TÓM TẮT
Nghiên cứu đã xác định sự biến đổi của một số yếu tố chất lượng nước và sự hiện diện của một
số mầm bệnh trên nghêu Meretrix lyrata ở Bến Tre trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 10 năm
2016 Kết quả quan sát những dấu hiệu bất thường của nghêu trong mùa dịch bệnh cho thấy chúng thường có vỏ bị tổn thương, thịt không đầy vỏ (nghêu gầy), ngậm cát trong xoang cơ thể, màng
áo xuất hiện những đốm/mảng trắng và tuyến tiêu hóa chuyển màu vàng Chất lượng nước tại bãi nuôi: pH, NO2, NH3, H2S không có khác biệt giữa mùa mưa và mùa khô nhưng sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê được xác định ở yếu tố nhiệt độ và độ mặn (P<0,05) Mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số
trong nước dao động từ 0,33 - 4,2.10 3 cfu/ml trong đó 4 loài Vibrio parahaemolyticus, V vulnificus,
V alginolyticus và V cholerae chiếm ưu thế Sự hiện diện của Copepod bên trong xoang cơ thể và Barnacle (hà) bám bên ngoài vỏ nghêu cũng được phát hiện với tỷ lệ nhiễm thấp, lần lượt là 2,92%
và 0,83% Ngoài ra, nghiên cứu này đã xác định được ký sinh trùng nội ký sinh trên nghêu nuôi tại
Bến Tre là Perkinsus sp với tỉ lệ 35% và cường độ nhiễm 1,62 – 1.283,22 bào tử/g thịt Biểu hiện
mô học đặc trưng của nghêu bệnh là cấu trúc của mô mang, ống gan tụy và chân nghêu biến đổi có
hiện diện của ký sinh trùng Perkinsus sp., và sinh vật giống Rickettsia
Từ khoá: ký sinh trùng, Perkinsus,vibrio, nghêu Bến Tre, Meretrix lyrata
1 Phân viện Nghiên cứu Thủy sản Nam sông Hậu, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
2 Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ
3 Chi cục Chăn nuôi và Thú Y tỉnh Bến Tre
* Email: thanhha.nghean@yahoo.com.vn
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghêu Meretrix lyrata phân bố chủ yếu ở
vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương từ biển
Đài Loan đến Việt Nam Ở Việt Nam chúng
phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Nam Bộ như:
Cần Giờ (Tp.HCM), Gò Công (Tiền Giang),
Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú (Bến Tre),
Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Vĩnh Lợi (Bạc Liêu),
Ngọc Hiển (Cà Mau) và Cầu Ngang, Duyên
Hải (Trà Vinh) (Nguyễn Chính, 1996) Nghêu
là đối tượng nuôi phổ biến ở khu vực ven biển
các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và là nguồn
thực phẩm được nhiều người ưa chuộng Hiện
nay, nghêu là loài hải sản có giá trị kinh tế cao,
được tiêu thụ rộng rãi trong nước và có giá trị
xuất khẩu Tuy nhiên, trong những năm gần
đây nghề nuôi nghêu gặp trở ngại lớn do hiện
tượng nghêu chết bất thường trên diện rộng
làm ảnh hưởng đến sản lượng và thu nhập của người nuôi
Bên cạnh đó, tác nhân vi khuẩn, ký sinh trùng, virus, rickettsia…cũng được các nhà nghiên cứu
đề cập đến và được xem là nguyên nhân gây chết cho nhuyễn thể trong một số trường hợp
(Sindermann, 1990) Ký sinh trùng Perkinsus
sp (P marinus, P.olseni, P honshuensis, P
chesapeaki, P qugwadi, P mediterraneus) đã
được tìm thấy và xác định là nguyên nhân gây chết cho nhiều đối tượng nhuyễn thể khác nhau trong đó có nghêu (OIE, 2009) Vi khuẩn nội bào Ricketsia là tác nhân gây bệnh đã được tìm thấy trên các loài nghêu nuôi khác như nghêu
Mercenaria mercenaria (Fries and Grant, 1991)
và nghêu Meretrix lusoria (Wen et al., 1994).
Trên thế giới, nghiên cứu về các tác nhân gây bệnh đã được tiến hành trên nhiều đối tượng nhuyễn
Trang 25thể như hàu, vẹm, trai, điệp Ở nước ta, nghiên cứu
về bệnh trên các đối tượng thân mềm chưa nhiều
Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có báo cáo
của một số tác giả về tác nhân gây bệnh trên nghêu
nuôi như đã phát hiện ký sinh trùng Perkinsus sp
trên nghêu lụa (Paphia undulata) ở Kiên Giang và
Bà Rịa - Vũng Tàu (Ngô Thị Thu Thảo, 2008) Ngô
Thị Ngọc Thủy và ctv., 2013 đã tìm thấy Perkinsus
olseni trên nghêu Bến Tre nuôi tại Cần Giờ, thành
phố Hồ Chí Minh và xác định đây là tác nhân gây
chết nghêu trong điều kiện nhiệt độ, độ mặn môi
trường cao Vì vậy nghiên cứu được thực hiện
nhằm xác định một số tác nhân gây bệnh trên nghêu
ở tỉnh Bến Tre, từ đó có cơ sở dữ liệu phục vụ cho
việc quy hoạch đối tượng nuôi và những biện pháp
quản lý dịch bệnh một cách hiệu quả
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Vật liêu nghiên cứu
Hóa chất: nước muối sinh lý 0,85%, nước
Streptomycin Penecillin, Nystatin, Eosine,
Haematoxylin, bộ hóa chất nhuộm Gram, dung
kít API 20NE (BIOMÉRIEUX)
Môi trường: Thiosulfate Citrate Bile Salts
Sucrose Agar (TCBS, Merk), CHROMagar™
Vibrio – Merk và Ray Fluid Thioglycollate
Medium (RFTM, France)
2.2 Vị trí khảo sát và thu mẫu
Nghêu M lyrata được thu tại Bến Tre từ
tháng 2 đến tháng 12 năm 2016 Mẫu nghêu thu
gồm những cá thể khỏe và có dấu hiệu bị chết/
bệnh Số lượng mẫu thu 30 - 40 con/ mẫu
Hình 1: Sơ đồ các vị trí thu mẫu
2.3 Phương pháp phân tích Phương pháp phân lập và định danh vi khuẩn: Mẫu nghêu sau khi được tách đôi, dùng
que cấy tiệt trùng lấy một ít mẫu cấy lên môi trường đặc trưng ChromeAgar (ChromeAgar, Merk) và Thiosulfate citrate bile salt agar
Các chủng vi khuẩn được tách thuần và giữ ở
hành kiểm tra chỉ tiêu về hình thái, sinh lý và sinh hoá như catalase, oxidase, phản ứng lên men
kích thước và tính ròng của vi khuẩn được xác định bằng phương pháp nhuộm Gram (Barrow and Feltham, 1993) Tính di động của vi khuẩn được quan sát bằng cách nhỏ một giọt nước cất lên lame, trải đều lên lame một ít vi khuẩn, đậy bằng lamella và quan sát bằng kính hiển vi ở vật kính 40X Vi khuẩn được định danh theo phương pháp của Barrow và Feltham (1999) kết hợp với
sử dụng bộ kit API 20 NE (BioMérieux, Pháp)
Phương pháp mô học: Lấy toàn bộ phần
thịt cố định trong dung dịch Davidson nhuyễn thể (tỉ lệ formol:thịt nghêu là 1:10) trong 24 giờ Tiến hành rửa và xử lý mẫu Mẫu được xử
lý qua 3 giai đoạn (loại nước, làm trong và tẩm paraffin), được đúc khối, cắt lát với độ dày từ
3 - 5µm rồi nhuộm theo phương pháp Mayer’s Haematoxylin & Eosin Tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi lần lượt ở độ phóng đại 10X, 20X, 40X, 100X và chụp hình tiêu bản đặc trưng
Phương pháp nuôi cấy ký sinh trùng
biệt từng cá thể trong môi trường Ray Fluid thioglycollate medium (RFTM) có bổ sung Penicilin G (500 IU/mL), Streptomycin (500 µg/mL) và Nystatin (500 IU/mL) Mẫu nuôi
điều kiện tối, yếm khí, trong thời gian từ 5-7
ngày (Almeida et al., 1999) Sau thời gian nuôi cấy, bào tử Perkinsus sp được phân lập bằng
cách ly tâm 4.500 rpm trong 10 phút, loại bỏ môi trường RFTM Phần thịt nghêu được phân
Trang 26đó ly tâm và rửa 3 lần với nước cất vô trùng
(Choi et al., 1989) Phần mẫu thu được ở đáy
ống nghiệm được hòa đều trong khoảng 0,5 –
1,0 mL dung dịch nước muối sinh lý hay nước
cất vô trùng Xác định chính xác thể tích mẫu
bào tử đã phân lập Nhuộm bào tử với dung dịch
Lugol iodin 4% Xác định số lượng bào tử có
trong 1 ml mẫu phân lập Mức độ cảm nhiễm
Perkinsus được đánh giá thông qua chỉ số tỷ lệ
cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm Tỷ lệ cảm
nhiễm (TLCN) là phần trăm số cá thể nhiễm
Perkinsus/tổng số cá thể quan sát Cường độ
cảm nhiễm (CĐCN) được đánh giá là số lượng
bào tử /g mô thịt nghêu hoặc số bào tử nghỉ/ cá
thể vật chủ
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và vẽ đồ thị
Sử dụng phương pháp phân tích ANOVA trong SPSS 16.0 để so sánh thống kê các giá trị trung bình giữa các nghiệm thức ở mức tin cậy P < 0,05
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Yếu tố chất lượng nước
Kết quả phân tích chất lượng nước được trình bày ở bảng dưới cho thấy chất lượng nước tại bãi nuôi không có khác biệt giữa mùa mưa và mùa khô nhưng sự khác biệt có ý nghĩa thống kê được xác định ở yếu tố nhiệt độ và
độ mặn (p<0,05) Nhìn chung các yếu tố chất lượng nước đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển của nghêu
Bảng 1: Một số yếu tố thủy lý hóa của môi trường nước ở bãi nghêu
Chỉ tiêu Mùa khô (n = 6) Mùa mưa (n = 6)
3.2 Vi khuẩn Vibrio tổng cộng trong nước
Mật độ vi khuẩn Vibrio tổng trong nước tại
theo mùa và chế độ thủy triều Trong đó, mật
độ nhóm vi khuẩn Vibrio có hại ở mùa khô
(khuẩn lạc xanh 170 - 1430 cfu/mL) (chiếm
15,0 - 65,0%) và ở mùa mưa là 60 - 3900 cfu/
mL (chiếm 1,4 - 92,0%) Sự khác biệt giữa 2
mùa không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Theo
Moriaty (1999) mật độ Vibrio có hại, đặc biệt là
đến động vật thủy sản nước biển Có thể thấy rằng môi trường nước ở 2 thời điểm thu mẫu thì
hàm lượng vi khuẩn Vibrio tổng nằm trong giới
hạn cho phép không ảnh hưởng đến nghêu nuôi
3.3 Các dấu hiệu bệnh lý của nghêu chết/bệnh
Kết quả phân thu và phân tích trên 240
mẫu nghêu đã cho thấy nghêu nhiễm Perkinsus
thường không thể hiện dấu hiệu bệnh lý điển
Trang 27hình, một số dấu hiệu sau: vỏ bị tổn thương
(0,05%), nghêu gầy (0,03%), xuất hiện cát và
bùn ở mang (0,05%) (Hình 2B), màng áo xuất
hiện đốm trắng (0,12%) (Hình 2C) và tuyến
tiêu hóa chuyển sang màu vàng (0,03%) (Hình
2D) Theo Choi và Park (2010), dấu hiệu bệnh
lý điển hình của một Perkinsus sp trên bề mặt
màng áo, tuyến tiêu hóa, chân và mang do phản
úng chống lại sự viêm nhiễm của cơ thể vật chủ
Hình 2: Biểu hiện bên trong của thịt nghêu; (A):
Thịt bình thường, (B): Thịt có cát và bùn (à),
(C): Thịt màu trắng đục (à) và (D): Thịt màu
vàng (à)
3.4 Kết quả phân lập vi khuẩn
Kết quả nhuộm Gram cho thấy đa số các
chủng vi khuẩn bắt màu Gram âm, có dạng hình
que ngắn Vi khuẩn cho phản ứng oxidase và
catalase dương tính, có khả năng lên men trong
cả hai điều kiện hiếu khí và yếm khí trong môi
trường O/F và mẫn cảm với O/129 Dựa vào
đặc điểm hình thái, các chỉ tiêu sinh lý, sinh
hóa của chủng vi khuẩn được kiểm tra dựa
theo cẩm nang của Cowan và Steels (Barrow
và Feltham, 1993); xác định định danh được
đều thuộc giống vi khuẩn Vibrio sp., với tần
suất và tỷ lệ nhiễm như sau: trong đó vi khuẩn
Vibrio parahaemolitycus chiếm tỉ lệ 29%, V
alginolitycus là 25%, V vulnificus là 35% và
V cholerae là 11% Tất cả các chủng đều cho
phản ứng âm tính với β-Galactosidaza, arginine
và phản ứng Voges - Proskauer nhưng cho phản
ứng dương tính với lysine, chúng không sinh
đều mọc trên môi trường TCBS, sử dụng đường glucose và manitol nhưng không sử dụng đường inositol, sorbitol, rhamnose và arabinose
3.5 Kết quả kiểm tra ký sinh trùng
Các cá thể nghêu thu trong nghiên cứu này đều có kích cỡ thương phẩm có chiều dài trung bình 39,75 ± 5,92 mm và khối lượng thịt trung bình là 3,52 ± 1,61g Kết quả nghiên cứu của
Villaba et al., (2004), Perkinsus sp gây bệnh trên hàu (Crassostrea virginia) trên 3 tuổi và đối với nghêu (Tapes descussatus) dưới một năm
tuổi thường rất ít bị bệnh Nguyễn Văn Hảo và
ctv., (2011) cũng đã công bố mức độ cảm nhiễm Perkinsus sp có liên quan đến kích cỡ nghêu Meretrix lyrata tại vùng biển Cần Giờ (Tp
HCM) Cỡ nghêu < 20 mm thu vào thời điểm nghêu chết (2/2010) và thời điểm không có hiện tượng nghêu chết (7/2010) đều có kết quả âm
tính với Perkinsus sp Tuy nhiên ở nhóm nghêu
có kích cỡ > 30mm có tỷ lệ cảm nhiễm 59,7%.Kết quả khảo sát của chúng tôi cho thấy tỉ lệ cảm nhiễm trung bình là 35% và cường độ cảm nhiễm biến động trong khoảng 1,62 - 1283,33 bào tử/g thịt nghêu và trung bình là 66,57 ± 153,09
bào tử/g Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng Perkinsus sp
ở mùa khô là 50%, mùa mưa là 30% và cường
độ cảm nhiễm dao động từ 1,62 - 302,5 bào tử/g
và 2,2 - 1283,33 bào tử/g Theo nghiên cứu của
Chu et al., (1994) cho rằng nhiệt độ là yếu tố
quan trọng nhất theo sau là độ mặn quyết định
mức độ nhạy cảm của hàu C virginica đối với
Perkinsus sp Theo Supannee et al., (2004) thì
độ mặn giảm chính là nguyên nhân làm cho tỷ lệ
nhiễm Perkinsus thấp vào tháng 9 (66,6%) khi
so sánh với những tháng khác trong năm Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và ctv., (2011) cho thấy cường độ nhiễm Perkinsus hiện diện với tỷ lệ cảm nhiễm trung bình là 60,1%, cao nhất vào tháng 2 (98,7%) và thấp nhất vào tháng 8 (18,1%) Cường độ cảm nhiễm dao động
từ 0 – 2.387.203 bào tử/g thịt nghêu, trung bình 14.932 ± 2.053 bào tử/g, cao nhất vào tháng
3 (42.650 ± 10.741 bào tử/g) và thấp nhất vào
Trang 28tháng 8 (258 ± 50 bào tử/ g) Như vậy, cường độ
cảm nhiễm Perkinsus trong nghiên cứu này thấp
có thể là do trong thời gian thu mẫu không xảy
ra hiện tượng nghêu chết
Mẫu mô nghêu sau khi được ngâm trong
môi trường FTM khoảng 4-5 ngày, ở điều
kiện tối bào tử Perkinsus tồn tại dạng thể nghỉ
(hypnospore), có dạng hình tròn và oval bắt
màu xanh đen đậm khi nhuộm lugol (Hình 3A)
Các bào tử nghỉ được tách ra khỏi mô nuôi cấy
bằng cách sử dụng NaOH có dạng tròn, oval,
tồn tại với dạng vỏ kép dày đặc trưng của giống
Perkinsus và có kích thước khoảng 30 – 90 µm
(Hình 3B) Bên trong bào tử nghỉ có nhiều hạt
dinh dưỡng hoặc các bào tử động tùy theo từng
giai đoạn phát triển của chúng Theo nghiên cứu
của Ngô Thị Thu Thảo (2008) trên nghêu lụa (R
undulate) cho thấy kích thước bào tử là 20 – 80
µm (trung bình 35 µm) và Nguyễn Văn Hảo và
ctv., (2011) Meretrix lyrata là (30 - 80 µm)
Hình 3: Bào tử Perkinsus sau khi nuôi cấy
trong môi trường FTM (A): Bào tử Perkinsus
nhuộm lugol (10X); (B) Bào tử Perkinsus giai
đoạn vỏ kép (à) (40X)
3.6 Biến đổi cấu trúc mô học ở các cơ
quan của nghêu
Mang
Quan sát tiêu bản mô học cho thấy có sự
hiện của sinh vật giống Rickettsia trên mang
Các vi sinh vật này có hình khối tròn đến oval bắt
màu xanh tím của thuốc nhuộm hematoxyline,
bên trong có chứa nhiều vi khuẩn bắt màu gram
âm (Hình 4B) Sinh vật ký sinh làm tổn thương
nghiêm trọng cho cấu trúc mang nghêu và xuất
hiện nhiều tế bào máu Từ đó làm suy giảm chức
năng hô hấp khi bệnh xảy ra và cấu trúc mang bị phá hủy nghiêm trọng
Hình 4 Một số biếu hiện mô học trên mang
nghêu; (A): Mang bình thường, (B): Mang nhiễm sinh vật giống Rickettsia (à), (C): Bào
tử Perkinsus sp trên mô liên kết mang (à)
Quan sát tiêu bản mô mang nghêu bị tổn thương do khi có tác nhân gây bệnh kí sinh hoặc các yếu tố vật lý, hóa học kích thích gây nên một số hiện tượng như sợi mang dính lại với nhau, trương phình kèm theo hiện tượng tập trung nhiều tế bào máu và hoại tử Hiện tượng tổn thương nặng có thể dẫn tới làm biến đổi mất cấu trúc cả phiến mang, giảm diện tích tiếp xúc của mang với môi trường ngăn cản quá trình hô hấp của nghêu Kết quả ghi nhận sự biến đổi cấu trúc mô học của đề tài khá tương đồng với các kết quả nghiên cứu trước đây trên các loài nhuyễn thể nhiễm Rickettsia (Fries và Grant,
1991) và Wen et al., (1994).
Tiêu bản mô học trên mang nghêu có sự
hiện diện của ký sinh trùng Perkinsus sp Khi các bào tử Perkinsus sp ký sinh trên mô liên
kết mang, tuyến tiêu hóa và màng áo rất khó phát hiện trên tiêu bản mô học ở những cá thể
bị nhiễm bệnh Perkinsus sp tồn tại dưới dạng
trophozoit trưởng thành và chưa trưởng thành
Ở giai đoạn trưởng thành (trophozoites) chúng
có dạng hình vòng nhẫn nhân lệch cực và không bào lớn, đường kính trung bình 4 - 6 µm (Hình 4C) Các trophozoites thường tập hợp thành từng cụm gồm 2 - 8 tế bào hay tạo thành bào nang, chúng tập trung chủ yếu trên mô liên kết mang và xuất hiện nhiều tế bào máu Sự hiện
diện của Perkinsus có thể phá vỡ cấu trúc bình
thường của mô đích, làm chết tế bào vật chủ
và làm tăng cường sự hiện diện của tế bào máu khi có sự hiện diện của ký sinh trùng Kết quả nghiên cứu này cho thấy tương tự như kết quả
Trang 29quan sát của nhiều tác giả; các bào tử Perkinsus
thường có liên quan đến việc phá hủy, làm mất
cấu trúc bình thường của tế bào và từ đó làm
mất chức năng của mô nhiễm (OIE, 2009)
Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự với kết
quả của Choi et al., (2002) Perkinsus thường
tập trung trên mang nghêu Manila (Ruditapes
philippinarum) khi bị nhiễm bệnh nhẹ Biến đổi
mô học ở mang cũng được tìm thấy trên nghêu
lụa (R undulata) (Ngô Thị Thu Thảo, 2008) và
nghêu Bến Tre (Phạm Quốc Hùng và Hứa Thị
Ngọc Dung, 2016)
Tuyến tiêu hóa/ gan tụy
Kết quả phân tích mô gan tụy nghêu cho
thấy bào tử nghỉ của ký sinh trùng Perkinsus
xâm nhập vào mô liên kết tuyến tiêu hóa làm
thay đổi cấu trúc của cơ quan này Perkinsus
xuất hiện nhiều tại mô liên kết gan tụy kiến cho
cấu trúc ống gan bị thoái hóa, xung huyết tập
trung nhiều tế bào máu xung quanh ổ bệnh (Hình
5B) Kết quả này tương tự với quan sát của các
nhà nghiên cứu khác: các tế bào Perkinsus sp
thường có liên quan đến việc phá hủy, làm mất
cấu trúc bình thường và từ đó làm mất chức
năng của mô nhiễm (Bruce, 2000; OIE, 2009)
Hình 5 Một số biểu hiện mô học ở gan tụy
nghêu; (40X) (A): Mô gan tụy bình thường ống
gan mở (à), (B): Mô gan tụy ống thay đổi và
nhiễm ký sinh trùng Perkinsus (à).
Chân
Cấu trúc mô học của chân nghêu gồm
nhiều lớp: biểu bì, mô liên kết và mô cơ Các
sợi cơ tập trung tạo thành bó cơ (Hình 6A)
Trên mô chân nghêu bệnh cũng có một số biến
đổi như các bó cơ liên kết rời rạc, hoại tử, mất cấu trúc và sự xuất hiện của nhiều không bào (Hình 6B) Hiện tượng mô chân nghêu bị tổn thương có thể là do sự thay đổi về yếu tố môi trường như sự thay đổi của độ mặn giữa mùa khô và mùa mưa Kết quả tương tự cũng
được ghi nhận ở trên bào ngư (Haliotis discus
hannai) khi tiến hành thí nghiệm với các độ
mặn khác nhau (Kim et al., 2013) Khi bị tổn
thương sẽ ảnh hưởng đến chức năng của chân,
có thể dẫn tới hiện tượng nghêu chết
Hình 6 Một số biếu hiện mô học chân
nghêu (100X) (A): Mô bình thường gồm các
bó sợi cơ (à), (B): Mô tổn thương, bó cơ bị xơ (à) và xuất hiện các không bào (à)
IV KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã xác định được dấu hiệu bất thường của nghêu trong mùa dịch bệnh cho thấy chúng thường có vỏ bị tổn thương, thịt không đầy vỏ (nghêu gầy), ngậm cát trong xoang
cơ thể, màng áo xuất hiện những đốm/mảng trắng và tuyến tiêu hóa chuyển màu vàng Mật
độ vi khuẩn Vibrio tổng trong nước dao động
parahaemolyticus, V vulnificus, V alginolyticus
và V cholerae chiếm ưu thế Ký sinh trùng nội kí sinh là Perkinsus sp tỉ lệ nhiễm 35% và
cường độ cảm nhiễm 1,62 - 1283,33 bào tử/g và
ký sinh trùng Copepod bên trong xoang cơ thể
và Barnacle (hà) bám bên ngoài vỏ nghêu cũng
được phát hiện với tỷ lệ nhiễm thấp, lần lượt là 2,92% và 0,83% Cấu trúc mô học đặc trưng của nghêu bệnh là mang, ống gan tụy và chân nghêu cầu trúc mô biến đổi và có hiện diện của ký sinh
trùng Perkinsus sp., và sinh vật giống Rickettsia
Trang 30TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Nguyễn Chính, 1996 Một số loài động vật Nhuyễn
thể (Mollusca) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam
NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, Hà Nội 1996, 132
trang
Nguyễn Văn Hảo, Ngô Thị Ngọc Thủy, Tiêu Thanh
Tươi, Hoàng Thị Hiền, Phạm Lâm Chính
Văn, Nguyễn Vy Vân, 2011 Sự hiện diện của
Perkinsus sp trên nghêu (Meretrix lyrata) tại
vùng biển Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
tháng 12/2011, 97-105.
Phạm Quốc Hùng và Hứa Thị Ngọc Dung, 2016
Nghiên cứu mức độ cảm nhiễm và đặc điểm
mô bệnh học của bệnh ký sinh trùng Perkinsus
sp gây ra trên Tu hài (Lutraria rhynchaena) và
nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata)
Ngô Thị Thu Thảo, 2008 Một số đặc điểm của ký
sinh trùng Perkinsus sp lây nhiễm trên nghêu
lụa Paphia undulata ở Kiên Giang và Bà Rịa –
Vũng Tàu Tạp chí Khoa học 2008 (1): 222-230
Trường Đại học Cần Thơ
Tài liệu tiếng Anh
Anderson, I., 1993 The veterinary approach to
marine prawns In: Aquaculture for veterinarians:
fish husbandry and medicine (Editor Brown L.):
271-296.
Barrow, G.I and R.K.A Feltham,1993 Cowan an
Steel’s Manual for the Indentification of Medical
Bacteria, third edition Cambridge Unuversity
press Cambridge 331 pp.
Chu, F.L., A.K Volety and G Constantin 1994
Synergetic effects of temperature & salinity on the
responses of oysters (Crassostrea virginica) to the
pathogen, Perkinsus marinus J Shellfish Res 13:
293
Choi K.S., Wilson E.A., Lewis D.H., Powell E.N.,
Ray S.M., 1989 The energetic cost of Perkinsus
marinus parasitism in oysters: quantification of
the thioglycollate method Journal of Shellfish Research 8 :125–131.
Dame, R F (2012) Chapter 3: Physical, Environmental Interactions Ecology of Marine Bivalves: An Ecosystem Approach, Second Edition Baton Rouge, CRC Press, Taylor & Francis Group: 272.
Fries C R, Grant, D M., 1991 Rickettsiae in gill
epithelial cells of the hard clam, Mercenaria
mercenaria J Invertebr Pathol, 57: 166–171
Henry, M.; Boucaud-Camou, E and Lefort, Y (1991) Functional microanatomy of the digestive
gland of the scallop Pecten maximus (L.).Aquat
Living Resour 4: p191-202.
Ngo Thi Ngoc Thuy, 2013 Perkinsus olseni in
relation to mortality of Asiatic hard clam
Meretrix lyrata at Can Gio district, Hochiminh
city, Vietnam, Asian-Pacific Aquaculture 2013,
Ho Chi Minh city.
OIE, 2009 Manual of Diagnostic Tests for Aquatic Animals.
Sinderman C.J, 1990 Principle disease of marine fish and shellfish Second edition Volume 2 Academic Press Limited London NW17DX Supannee L., Kashane C E., Upatham S., Choi K.S., Sawangwong P., Kruatrachue M., 2004
Occurrence of Perkinsus sp in Undulated surf clams Paphia undulata from the Gulf of
Thailand Disease of Aquaculture Organisms 60: 165-171.
Villaba, A., K S Reece M C Ordas, S M Casas and Figueras (2004) Perkinsosis in molluscs: A review Aquatic Living Resourses 17, pp 411- 432.
Wen Chiou-Ming, Kou Guang-Hsiung and Chen Shiu-Nan, 1994 Rickettsiaceae-like Microorganisms in the Gill and Digestive Gland
of the Hard Clam, Meretrix lusoria Röding
Journal of Invertebrate Pathology; 64, 2; 142.
Trang 31138-STUDY ON THE CHANGES OF ENVIRONMENT AND PATHOGENS IN
WHITE CLAM (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
IN BEN TRE PROVINCE
Nguyen Thanh Ha1*, Ngo Thi Ngoc Thuy1, Tu Thanh Dung2 and Huynh Nguyen Duy3ABTRACT
This study was carried out to examine the change of water quality parameters and the presence
of pathogens in white clam (Meretrix lyrata) in Ben Tre province, during period from February
to October, 2016 The results showed that clam in mortality events revealed pale digestive gland, yellow meat and trapped sand particles in the body cavity The environmental parameters such
as pH, NO2, NH3 and H2S showed no difference between dry and rainy seasons Whereas, significant difference in temperature and salinity between the two seasons was recorded (p<0.05) The total viable Vibrio density in water was in the range of 0.33 - 4.2 x 103 cfu/mL They were identified as Vibrio parahaemolyticus, V alginolyticus, V vulnificus, and V cholerae The results also indicated two groups of parasites, copepod and barnacle, with the infection rates of 2.92% and 0.83%, respectively The presence of Perkinsus sp was detected in the clam tissue with the infection rate of 35% and the infection intensity of 1.62 - 1283 hypnospores g-1 clam tissue Finally, histological analysis indicated necrosis of gill, hepatopancreatic and foot tissues, some changes in clam’s muscles, and the presence of Perkinsus sp., rickettsia-like organisms in the internal organs.
Keywords: Bacteria, clam, Meretrix lyrata, parasites, Perkinsus, Ben Tre province.
Người phản biện: TS Đinh Thị Thủy
Ngày nhận bài: 08/6/2018 Ngày thông qua phản biện: 20/6/2018
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018
1 Research Sub-Institute for Nam Song Hau Fisheries, Research Institute for Aquaculture No.2.
2 College of Aquaculture and Fisheries, Can Tho University
3 Ben Tre Sub-Department of Animal Health.
Trang 32ẢNH HƯỞNG CỦA β-GLUCAN ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
(Litopenaeus vannamei)
Phạm Duy Hải1*, Võ Đại Khang2, Trần Văn Khanh1, Lê Hoàng1, Nguyễn Văn Nguyện1TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá ảnh hưởng của β-glucan lên khả năng tăng trưởng và
hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) ở quy mô phòng thí nghiệm
Thí nghiệm được thiết kế với 6 nghiệm thức và ba lần lặp lại bao gồm một nghiệm thức đối chứng
âm sử dụng thức ăn không bổ sung β-glucan, 4 nghiệm thức thức ăn (M-A, M-B, M-C, M-D) được
bổ sung β-glucan có nguồn gốc từ bã men bia với khối lượng phân tử lớn (1.000-5.000 KDa) với nồng độ tăng dần và một nghiệm thức đối chứng dương sử dụng β-glucan thương mại (M-E) có khối lượng phân tử khoảng 25 KDa Tôm thẻ chân trắng (trung bình 0,15 g /con) được cho ăn thức
ăn có chứa β -Glucan ở các nồng độ 0 ppm, 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm, 1000 ppm và β -Glucan thương mại (500 ppm) trong vòng 60 ngày Kết quả chỉ ra rằng tôm được cho ăn thức ăn chứa β-glucan với nồng độ 1000 ppm (M-A) và β-glucan thương mại (500 ppm) (M-E) đã cho thấy kết quả tăng trọng cao nhất (7,21 và 7,23 g), trong khi nghiệm thức có kết quả tăng trọng thấp và hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR) kém nhất khi không có sự bổ sung β-Glucan lần lượt: 6,54 g và 1,43 Mặt khác, không có khác biệt đáng kể về khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm thẻ chân trắng được ghi nhận ở các nghiệm thức có chứa 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm β-Glucan Tóm lại, tôm được cho ăn thức ăn có bổ sung β-Glucan cho thấy khả năng tăng trưởng và hiệu quả
sử dụng thức ăn tốt hơn so với thức ăn không có bổ sung β-Glucan Những phát hiện này cho thấy rằng β-glucan là một thành phần tiềm năng để bổ sung vào khẩu phần ăn trong việc cải thiện hiệu
quả sức khỏe đối với nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei).
Từ khóa: β-glucan, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng tăng trưởng, tôm thẻ chân trắng, Litopenaeus
vannamei, thức ăn
1 Trung tâm công nghệ thức ăn và sau thu hoạch thủy sản - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
2 Bộ môn quản lí nguồn lợi thủy sản - Đại học quốc tế - Đại học quốc gia TP HCM
* Email: duyhaipp@gmail.com
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, sản lượng nuôi tôm ở Việt Nam
tăng đáng kể, đó là kết quả của việc mở rộng
diện tích canh tác và nuôi trồng với mật độ cao
dựa trên ứng dụng công nghệ hiện đại Thực
tế cho thấy, diện tích nuôi tôm ở nước ta đạt
649.645 hecta với sản lượng thu được đạt
657.282 tấn vào năm 2016 (Tổng cục thủy sản,
2016) Đặc biệt, tôm thẻ chân trắng được nuôi
rộng rãi ở nước ta với nhiều ưu điểm như tăng
trưởng nhanh, khả năng thích ứng khi nuôi ở
mật độ cao, có nhu cầu protein trong thức ăn
thấp và khả năng tương thích với khoảng độ
mặn rộng
Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, điều kiện môi trường bị suy thoái bên ngoài lẫn bên trong nhiều khu vực nuôi trồng, bao gồm sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất Môi trường chịu sức ép bởi chất thải nông nghiệp thải ra vùng cửa sông và vùng vịnh Việc nuôi với mật
độ cao ở các ao nhân tạo cũng là nhân tố khiến cho vật nuôi trở nên mẫn cảm với mầm bệnh (Xu et al., 2001) Hơn nữa, ngành nuôi tôm đang đối mặt với sự phát tán của nhiều bệnh lây nhiễm, điều này gây ra thiệt hại lớn về kinh tế
và đang ảnh hưởng rất lớn đến sự tăng trưởng bền vững của ngành công nghiệp nuôi tôm Hiện nay một số bệnh phổ biến trên tôm như:
Trang 33hội chứng Taura (TSV) và hội chứng đốm trắng
vật nuôi trong nuôi trồng thủy sản là một trong
những hướng nghiên cứu và ứng dụng đang
được quan tâm của các nhà khoa học trên thế
giới Một số hợp chất như levamisole, β-glucan,
peptidoglycan, chitin, chitosan cũng như một
vài dẫn xuất khác có nguồn gốc từ thực vật và
động vật đã và đang được sử dụng để phòng và
trị bệnh trên vật nuôi thủy sản
β-glucan là hợp chất polysaccharides, đã
được sử dụng thành công như một nhân tố kích
thích miễn dịch, với các đơn vị glucose của
β-glucan được nối với nhau bằng liên kết β-1,3
glycosidic (Freimund et al., 2003) β-glucan
được tìm thấy ở nhiều nguồn khác nhau trong
tự nhiên như vi khuẩn, nấm, men, tảo và tìm
thấy nhiều hơn ở thực vật, chủ yếu là ngũ gốc
(yến mạch và lúa mạch) Trong số các loại ngũ
cốc, đơn vị cơ bản của chuỗi glucose trong
β-glucan được hình thành bởi các liên kết β-1,3
và β-1,4 (Velisek, 1999), mặt khác, β-glucan có
nguồn gốc từ vi sinh vật được hình thành bởi
trục giữa của D-Glucose kết hợp vị trí β-1,3
với các nhánh bên β-l,6 có nhiều kích thước
(Mantovani et al., 2008) Một trong những
nguồn quan trọng của β-glucan là thành tế bào
của nấm men (Saccharomyces cerevisiae), đặc
biệt là nấm men từ bánh mì và nấm men bia
Thành phần cấu trúc chính của thành tế bào nấm
men (Saccharomyces cerevisiae) là β-1,3 glucan
chiếm 30-45% khối lượng thành tế bào và β-1,6
glucan chiếm một phần nhỏ (5-10%) nhưng rất
quan trọng cho liên kết chéo (Soares , 2011)
Chang và ctv., (2000) báo cáo rằng, không
tính đến việc nuôi trong nhà hay ngoài trời, tỷ
lệ sống của tôm được cho ăn thức ăn có chứa
đáng kể đối với nghiệm thức đối chứng,
β-1-3- glucan được chứng minh có khả năng nâng
cao hoạt động thực bào, sự kết dính tế bào và sự
tạo thành anion superoxit khi bổ sung vào chế
độ dinh dưỡng của tôm sú Penaeus monodon Ngoài ra, cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss)
được cho ăn thức ăn viên có chứa β-glucan với hàm lượng 0,5% mỗi ngày và β-glucan làm tăng số lượng kháng thể đặc hiệu sản xuất ra bên ngoài tế bào và mức độ kháng thể đặc hiệu trong huyết tương (Siwicki et al., 2004) Ngoài
ra, Jung và ctv., (2007) đề xuất rằng β-glucan
từ Paenibacillus polymyxa có thể được sử dụng
như một loại thức ăn bổ sung cho động vật với
mục đích tăng cường khả năng miễn dịch
Yang và ctv., (2014) chỉ ra rằng tôm được ăn thức ăn chứa 0,05% β-glucan đã tăng đáng kể tổng lượng huyết cầu và tỷ lệ tế bào
-(intracellular superoxide anion) đã tăng đáng kể sau 14 ngày khi sử dụng thức ăn có chứa 0,05% β-glucan từ nấm men (MBG), hoạt động của enzyme phenoloxidase (PO) được tăng mạnh sau 14 ngày và tôm sử dụng thức ăn có chứa 0,1% MBG nhưng ngang bằng với nhóm đối chứng sau 28 ngày
Nhiều nghiên cứu được thực hiện liên quan đến việc sử dụng β-glucan như một nhân tố kích thích miễn dịch nhằm cải thiện phản ứng miễn dịch và khả năng kháng bệnh của vật nuôi thủy sản Một vài thí nghiệm tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của β-glucan đến khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của
tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
Trong nghiên cứu này, thức ăn thí nghiệm chứa β-glucan đã được sử dụng để khảo sát hiệu quả của β-glucan đối với khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của tôm thẻ chân trắng trong điều kiện phòng thí nghiệm
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Địa điểm
Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm
Công nghệ thức ăn và Sau thu hoạch thủy sản (APOTEC), Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Tôm post PL20 lấy từ trại tôm ở tỉnh Tiền Giang, được nuôi và chăm sóc trong bể
Trang 34composite 1 m3 tại trung tâm thực nghiệm của
APOTEC Tôm được thuần dưỡng trong vòng
1 tuần trước khi bắt đầu thí nghiệm Sau đó,
những con tôm khỏe được chọn để thả vào bể
kính và bắt đầu nuôi thí nghiệm
2.3 Vật liệu nghiên cứu
- β-glucan thương mại sử dụng cho thí
nghiệm có nguồn gốc từ Braxin
- β-glucan được dùng để bổ sung cho thức
ăn thí nghiệm rằng được chiết xuất từ nấm men bia (dried brewer’s yeast) với thành phần bao gồm protein (0,34%), lipid (0,04%), tro (1,07%),
xơ (0,85%), ẩm (6,74%) và β-glucan (90,96%), trọng lượng phân tử (1000-5000 kDa) (hình 1)
2.4 Thức ăn thí nghiệm
Nguyên liệu, thành phần của thức ăn và công
thức thức ăn thí nghiệm được thể hiện tại bảng
1 Trong đó, 6 loại thức ăn thí nghiệm được kí
hiệu như chú thích bên dưới (M-O, M-D, M-C,
M-B, M-A và M-E):
- M-O: Đối chứng âm – Không bổ
sung β-glucan
- M-A: Thức ăn thí nghiệm được bổ
sung β-glucan với nồng độ 1000 ppm
M-B: Thức ăn thí nghiệm được bổ sung β-glucan với nồng độ 750 ppm
M-C: Thức ăn thí nghiệm được bổ sung β-glucan với nồng độ 500 ppm
M-D: Thức ăn thí nghiệm được bổ sung β-glucan với nồng độ 250 ppm
M-E: Đối chứng dương – Thức ăn thí nghiệm được bổ sung β-glucan thương mại với nồng độ 500 ppm
Trang 35Bảng 1 Thành phần, nguyên liệu và công thức thức ăn
Trang 362.5 Điều kiện nuôi
Nước biển đã xử lý được cung cấp từ bể
chứa đến bể thí nghiệm Các thông số chất
lượng nước được kiểm soát ở giới hạn cho phép
(7,5-8,5) và oxy hòa tan (6-7 ppm) và được ghi
bảo ở mức ổn định dể duy trì điều kiện phù hợp
khi nuôi tôm Mỗi bể thực nghiệm được gắn hệ
thống cung cấp oxy, 5-10% nước ở mỗi bể được
thay hằng ngày để duy trì chất lượng nước ở
mức ổn định
2.6 Bố trí thí nghiệm
Tôm giống có khối lượng ban đầu 0,15g được thả vào 18 bể kính thể tích 100 lít với 20 con trên mỗi bể Thí nghiệm chia làm 6 nghiệm thức với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức Mỗi
bể được siphon hằng ngày để loại bỏ thức ăn thừa và chất thải của tôm Tôm được cho ăn thức ăn với liều lượng 3-5% trọng lượng cơ thể, cho ăn 4 lần trên một ngày vào lúc 7:30, 11:30, 16:30, 20:00 trong vòng 60 ngày Thức ăn thừa
sẽ được lấy ra và cân sau 1 đến 2 giờ kể từ lúc cho ăn
Hình 3 Hệ thống bể thí nghiệm
Khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng
thức ăn của tôm được đánh giá bằng các chỉ tiêu
như tăng trọng (WG), tốc độ tăng trưởng đặc
hiệu (SGR), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR),
tỉ lệ sống (SR), hiệu quả sử dụng protein (PER)
và tỉ lệ sử dụng thức ăn (FI), được tính toán theo
các công thức sau đây:
Tăng trọng (WG): WG (g) = Wf/Nf – Wi/Ni;
Tốc độ tăng trưởng đặc hiệu (SGR): SGR
(% per day) = 100*[Ln(Wf/Nf) – Ln(Wi/Ni)]/T;
Tỉ lệ sử dụng protein (PER): PER= WG/MP;
W f (g) : tổng khối lượng tôm thu hoạch;
W d (g) : tổng khối lượng tôm chết;
N i : số tôm thả ban đầu;
N f : số tôm thu hoạch;
I (g) : tổng lượng thức ăn tiêu thụ;
T (ngày) : số ngày nuôi
2.7 Phân tích số liệu
Số liệu được xử lý thống kê bằng chương trình one-way ANOVA và phần mềm SPSS 18,0, với mức độ ý nghĩa ở mức 0,05
III KẾT QUẢ 3.1 Thành phần của thức ăn thí nghiệm
Trang 37Bảng 2 Thành phần của thức ăn thí nghiệm
chất béo (6,47 –7,38%) trong các loại thức ăn thí
nghiệm Khi so sánh với công thức được tính toán
trên lý thuyết tại Bảng 1 thì thành phần thức ăn
thực tế (bảng 2) có sự tương đồng về chất lượng
nên có thể sử dụng nuôi thử nghiệm
3.2 Thông số môi trường
Trong quá trình nuôi, có sự dao dộng của độ
pH ở tất cả các nghiệm thức Độ pH thấp nhất
là 6,6 rơi vào nghiệm thức M-A với nồng độ
1000 ppm β-glucan ở ngày thứ 35, trong khi đó
độ pH của hầu hết các nghiệm thức có giới hạn trên là 8,2 từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 20 Chỉ tiêu nhiệt độ có sự thay đổi theo từng thời điểm
trong suốt quá trình nuôi Đối với nồng độ oxy hòa tan thì có sự giảm nhẹ trong quá trình nuôi
kể từ ngày đầu tiên (6 mg/L) đến ngày thứ 15 (4 mg/L) nhưng những ngày tiếp theo có thay đổi không đáng kể cho đến khi kết thúc thí nghiệm (4 – 4,5 mg/L)
Nồng độ NH 3 -N
Hình 4 Nồng độ NH3-N (mg/L) ở các nghiệm thức bổ sung β-glucan ở các nồng độ khác nhau
của các nghiệm thức tăng trong quá trình nuôi,
được tích tụ trong nước là do phân thải ra hòa
tan trong nước, tuy nhiên trong quá trình nuôi
có hệ thống lọc nước và được xiphon do đó
khoảng cho phép không ảnh hưởng sức khỏe của tôm
Trang 38Nồng độ NO 2 -N
Trọng lượng đầu
(g/shrimp) 0,15a± 0,03 0,15a ± 0,03 0,14a ± 0,01 0,15a ± 0,01 0,14a ± 0,02 0,14a ± 0,00 Trọng lượng cuối (g/con) 6,68a ± 0,13 7,35d ± 0,10 7,16c ± 0,05 7,20cd ± 0,14 6,95b ± 0,04 7,37d ± 0,05
WG (g) 6,54a ± 0,15 7,21cd ± 0,07 7,02c ± 0,06 7,06cd ± 0,15 6,81b ± 0,06 7,23d ± 0,06 SGR (%/ngày) 6,40a ± 0,31 6,55a ± 0,32 6,58a ± 0,13 6,53a ± 0,09 6,50a ± 0,22 6,65a ± 0,05 FCR 1,43b ± 0,02 1,25a ± 0,02 1,26a ± 0,09 1,32ab ± 0,06 1,42b ± 0,09 1,28a ± 0,07
SR (%) 53,33a ± 2,89 76,67c ± 2,89 70,00b ± 5,00 60,00a ± 5,00 53,33a ± 2,89 71,67bc ± 2,89 PER 1,80a ± 0,03 2,11c ± 0,03 2,11c ± 0,16 2,02bc ± 0,09 1,91ab ± 0,12 2,17c ± 0,12
FI (%/ngày) 4,15b ± 0,03 3,66a ± 0,03 3,69a ± 0,27 3,82ab ± 0,16 4,09b ± 0,25 3,70a ± 0,20
3.3 Tăng trưởng của tôm và hiệu quả sử
dụng thức ăn
a Tăng trưởng
Theo bảng 3, tôm sử dụng thức ăn có bổ sung
β-glucan có khối lượng sau thu hoạch cao hơn so
với tôm thuộc nhóm đối chứng, nghiệm thức M-A
(1000 ppm) và M-E (500 ppm) có khối lượng sau
và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Tôm sử dụng thức ăn bổ sung β-glucan cho thấy tăng trọng cao hơn so với nhóm đối chứng âm (6,40± 0,31)
Hình 5 Nồng độ NO2-N (mg/L) tại tất cả nghiệm thức trong quá trình thực nghiệm
đầu tiên cho đến khi thu hoạch
Bảng 3 Bảng tổng hợp kết quả nuôi thử nghiệm (mean ± SD, n=3)
Chú thích: Các chữ cái khác nhau trong cùng một hàng thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p < 0,05)
Trang 39Đặc biệt, nghiệm thức M-A với nồng độ 1000ppm
β-glucan và nghiệm thức M-E với sự bổ sung
β-glucan thương mại có sự thể hiện tăng trọng
tốt hơn lần lượt (7,21± 0,07 và 7,23± 0,06) so với
những nghiệm thức khác và không có sự khác biệt
đáng kể ở giá trị tăng trưởng riêng (SGR %/ngày)
ở tôm ở mỗi nghiệm thức
b Hiệu quả sử dụng thức ăn
Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)
Trong 60 ngày nuôi thí nghiệm, thức ăn có
bổ sung β-glucan được tôm sử dụng hiệu quả
hơn và có sự khác biệt giữa những nghiệm thức
bổ sung β-glucan so với nghiệm thức đối chứng
âm Chỉ số FCR của nghiệm thức M-A với nồng
trong khi chỉ số FCR cao nhất (1,43± 0,02)
thuộc nhóm đối chứng âm
Hiệu quả sử dụng protein (PER)
Hiệu quả sử dụng protein là khác biệt đáng
kể theo tất cả nghiệm thức, tỉ số thấp nhất thuộc
có sự khác biệt nhỏ ở hiệu quả sử dụng protein
được ghi nhận giữa các nghiệm thức có bổ sung
β-glucan, hiệu quả sử dụng protein cao nhất
nằm ở nghiệm thức M-E nơi tôm sử dụng thức
ăn bổ sung β-glucan thương mại (2,17± 0,12)
Tỉ lệ sử dụng thức ăn (FI)
Tôm ở nghiệm thức đối chứng âm có lượng
thức ăn ăn vào cao hơn có ý nghĩa về mặt thống
bổ sung β-glucan Trong nhóm các nghiệm thức
có bổ sung β-glucan, nghiệm thức M-D (250
ppm β-glucan) có lượng thức ăn ăn vào cao hơn
đáng kể so với các nghiệm thức còn lại
c Tỉ lệ sống
Tỉ lệ sống của tôm sau khi kết thúc thí
nghiệm dao động trong khoảng 53%-76% và
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm
thức Tỉ lệ sống cao nhất được ghi nhận tại
nghiệm thức M-A (1000 ppm β-glucan) (76,67
± 2,89 %) trong khi nghiệm thức đối chứng âm
và nghiệm thức M-D (250 ppm) là thấp nhất
Việc sử dụng thức ăn có bổ sung β-glucan cho thấy tôm thẻ chân trắng cải thiện đáng kể về tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn thông qua các chỉ tiêu ở bảng 3
IV THẢO LUẬN
Trong nghiên cứu này, việc sử dụng thức ăn
có bổ sung β-glucan cho tôm thẻ chân trắng đã cải thiện đáng kể tăng trưởng của tôm và hiệu quả sử dụng thức ăn Kết quả chỉ ra rằng tôm được cho ăn thức ăn có sự bổ sung β-glucan
có giá trị tăng trọng và khối lượng sau khi thu hoạch cao hơn đáng kể so với tôm thuộc nghiệm thức đối chứng âm Dựa vào bảng 3, tôm sử dụng thức ăn có bổ sung β-glucan có tốc
độ tăng trưởng và tỉ lệ sử dụng protein cao hơn hẳn so với tôm sử dụng thức ăn không bổ sung β-glucan Ngoài ra, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức có bổ sung β-glucan ở các nồng độ khác nhau
Sau 60 ngày nuôi thử nghiệm, thức ăn được
bổ sung β-glucan có hiệu quả sử dụng tốt hơn
Có sự khác biệt đáng kể về hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) giữa nghiệm thức đối chứng âm với những nghiệm thức có bổ sung β-glucan Tôm thẻ chân trắng sử dụng thức ăn được bổ sung β-glucan có chỉ số FCR tốt hơn so với nhóm đối chứng có thể là do ảnh hưởng của β-glucan làm cho tôm khỏe hơn nên hiệu quả
sử dụng thức ăn sẽ tốt hơn (Chang et al., 2000) Đặc biệt, việc tăng nồng độ β-glucan trong thức
ăn (250 ppm đến 1000 ppm) cho thấy giúp tăng khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức
ăn của tôm thẻ, những phát hiện này tương tự với kết quả được công bố bởi Sung và ctv., (1994), khi các tác giả này chỉ ra rằng tôm sử dụng thức ăn có chứa β-glucan với nồng độ 500 ppm đến 1000 ppm tăng trưởng nhanh hơn và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn
Một trong những thông số được sử dụng để đánh giá tình trạng sức khỏe của tôm là tỉ lệ sống Kết quả của nghiên cứu chứng minh rằng tôm sử dụng thức ăn có bổ sung β-glucan có
tỉ lệ sống được nâng cao đáng kể so với tôm thuộc nhóm đối chứng Kết quả cũng chỉ ra rằng tôm ở nghiệm thức được bổ sung β-glucan với
Trang 40nồng độ 1000 ppm có tỉ lệ sống cao nhất so với
những nghiệm thức khác Nguyên nhân là do
β-glucan đóng vai trò quan trọng trong việc tăng
khả năng đề kháng thông qua việc tác động đến
hệ miễn dịch không đặc hiệu của tôm thẻ, từ đó
có khả năng chống lại những mầm bệnh (Yang
et al., 2014) Việc bổ sung β–glucan vào thức
japonicus) chống lại những bệnh do vibrio gây ra
(vibriosis) (Itami et al., 1994) Tương tự, những
nghiên cứu sử dụng β–glucan để bổ sung vào
thức ăn của tôm sú (Penaeus monodon) cho thấy
sự bảo vệ chống lại vibriosis, virut hội chứng
đốm trắng (white spot syndrome virus) (Su et al.,
1995; Song et al., 1997) và cũng cải thiện tỉ lệ
sống và miễn dịch trong quá trình nuôi vỗ tôm
bố mẹ (Chang et al., 2000) Hơn nữa, Misra và
ctv., (2006) báo cáo rằng việc bổ sung sung β–
glucan có thể giúp cá chép Ấn Độ giống (Labeo
rohita) cải thiện miễn dịch và khả năng chống lại
các mầm bệnh về vi khuẩn Sung và ctv., (1994)
chứng minh rằng sự giảm tỉ lệ chết của nghiệm
thức có bổ sung β–glucan được tìm thấy ở tôm sử
dụng thức ăn có chứa β–glucan với nồng độ 0,5
và 1 mg/ml nhưng lại không phát hiện ở nghiệm
thức với nồng độ 0,25 và 2 mg/ml β-glucan
V KẾT LUẬN
Nghiên cứu này đã chứng minh rằng tôm sử
dụng thức ăn có bổ sung β-glucan cải thiện rõ
rệt khả năng tăng trưởng so với tôm thuộc nhóm
đối chứng âm Trong vòng 60 ngày nuôi thực
nghiệm, thức ăn có bổ sung β-glucan được tôm
thẻ chân trắng sử dụng một cách hiệu quả hơn
Hơn nữa, tăng trọng, hệ số chuyển hóa và tỉ lệ
sống đã được cải thiện đáng kể khi tăng nồng độ
β-glucan Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra rằng trong
số các nồng độ β-glucan được bổ sung vào thức
ăn thì thức ăn với nồng độ 1000 ppm β-glucan
cho thấy kết quả tốt nhất về mặt tăng trưởng,
hiệu quả sử dụng thức ăn và tỉ lệ sống của tôm
Tóm lại, việc bổ sung β-glucan vào thức ăn
cho tôm thẻ chân trắng cho thấy sự ảnh hưởng
tích cực đến khả năng tăng trưởng và hiệu quả
sử dụng thức ăn Việc bổ sung β-glucan vào
thức ăn nuôi tôm có tiềm năng như một giải
pháp hiệu quả để ứng dụng vào lĩnh vực nuôi
trồng thủy sản
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Boyd C E., 1998 Water quality in warm-water fish ponds Fourth Printing, J Auburn Univ., Agricultural Experiment Station, Alabama, USA 163 pp Boyd C E., Tucker C S., 1998 Pond aquaculture water quality management Kluwer Academic Publishers, Boston, Massachusetts, USA, 700 pp.
Boyd C E., 2010 Dissolved-oxygen concentrations in pond aquaculture Global Aquaculture Advocate January/February 2010, 40 pp.
Chang, C.F., Chen, H.Y., Su, M.S., Liao, I.-C., 2000 Immunomodulation by dietary a B 1-3 glucan in the brooders of the black tiger shrimp Penaeus monodon Fish Shellfish Immunol 10, 505–514 Chang C F., Su M S., Chen H Y., Liao I C., 2003 Dietary β-1,3-glucan effectively improves immunity and survival of Penaeus monodon challenged with white spot syndrome virus Fish and Shellfish Immunology 15:297-310
Chen Y Y., Chen J C., Tseng K C., Lin Y C., Huang C L., 2015 Activation of immunity, immune response, antioxidant ability, and resistance against Vibrio alginolyticus in white shrimp Litopenaeus vannamei decrease under long-term culture at low pH Fish and Shellfish Immunology 46:192-199.
Soares E V., Soares, H M V M Bioremediation
of industrial effluents containing heavy metals using brewing cells of Saccharomyces cerevisiae
as a green technology: a review Environmental Science & Pollution Research, vol 19, p 2012; 1066-1083
Furtado P S., Campos B R., Serra F P., Klosterhoff M., Romano L A., Wasielesky W., 2015 Effects
of nitrate toxicity in the Pacific white shrimp, Litopenaeus vannamei, reared with biofloc technology (BFT) Aquaculture International 23:315-327.
Gunalan B., Soundarapandian P., Dinakaran G K., 2010 The effect of temperature and pH on WSSV infection in cultured marine shrimp Penaeus monodon (Fabricius) Middle-East Journal of Scientific Research 5(1):28-33 Hirono Y., 1992 Current practices of water quality management in shrimp farming and their limitations In: Proceedings of the Special Session on Shrimp Farming Wyban J (ed), World Aquaculture Society, USA, pp 157-165 Hernández J J C., Fernandez L P S., Pogrebnyak