1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở đồng bằng sông cửu long

182 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm học tập cộng đồng, một trong những cơ sở của giáo dục thường xuyên được hình thành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người trong cộng đồng tại các xã, phường, thị trấn được

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6

4 Giả thuyết khoa học 6

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu 7

7 Luận điểm bảo vệ 8

8 Đóng góp mới của luận án 8

9 Bố cục của luận án 9

CHƯƠNG 1 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 10

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu 10

1.1.1 Về học tập suốt đời và xã hội học tập 10

1.1.2 Về trung tâm học tập cộng đồng và quản lý phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng 13

1.2 Một số khái niệm cơ bản 18

1.2.1 Quản lý 18

1.2.2 Quản lý giáo dục 18

1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng và phát triển TTHTCĐ 19

1.2.3.1 Trung tâm học tập cộng đồng 19

1.2.3.2 Phát triển trung tâm học tập cộng đồng 20

1.2.3.3 Quản lý phát triển trung tâm học tập cộng đồng 21

1.2.4 Phát triển bền vững và quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ 23

1.2.4.1 Phát triển bền vững 23

1.2.4.2 Quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ 24

1.3 Trung tâm học tập cộng đồng trong việc xây dựng XHHT và phát triển

Trang 2

kinh tế- xã hội 26

1.3.1 Xã hội học tập- đòi hỏi cấp thiết 26

1.3.2 Đặc trưng của XHHT 27

1.3.3 Vai trò của trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng XHHT và phát triển kinh tế- xã hội 28

1.3.3.1 Đặc trưng của TTHTCĐ 28

1.3.3.2 Vai trò của TTHTCĐ trong việc xây dựng xã hội học tập 29

1.3.3.3 Vai của TTHTCĐ trong việc phát triển kinh tế- xã hội 32

1.4 Quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển bền vững 36

1.4.1 Bối cảnh thời đại và xu thế phát triển của giáo dục suốt đời 36

1.4.1.1 Mục đích học tập 36

1.4.1.2 Đặc điểm học tập 37

1.4.1.3 Về nội dung học tập 37

1.4.1.4 Về chương trình học tập 43

1.4.1.5 Những cam kết hành động toàn cầu về giáo dục vì sự phát triển bền vững tại các TTHTCĐ 45

1.4.2 Mục tiêu, nguyên lý và tiến trình quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển bền vững 48

1.4.3 Phương thức quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển bền vững 49

1.4.4 Tính chất quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển bền vững 51

1.4.5 Nội dung quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển bền vững 54

1.4.5.1 Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng hoạt động của TTHTCĐ 54

1.4.5.2 Quản lý các chương trình đáp ứng nhu cầu của người học tại TTHTCĐ 57 1.4.5.3 Quản lý các mối liên kết, phối hợp của TTHTCĐ 58

1.5 Bộ tiêu chuẩn đánh giá quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển bền vững 60 1.6 Các yếu tố tác động đến quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển

Trang 3

bền vững 61

Kết luận chương 1 64

CHƯƠNG 2 66

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CƯU LONG 66

2.1 Khái quát về quản lý phát triển trung tâm học tập cộng đồng tại các nước trên thế giới và Việt Nam 66

2.1.1 Trên thế giới 66

2.1.2 Ở Việt Nam 74

2.2 Khái quát về địa lý tự nhiên, kinh tế- xã hội, giáo dục đào tạo, xây dựng và phát triển TTHTCĐ ở Đồng bằng sông Cửu Long 80

2.2.1 Về địa lý tự nhiên 80

2.2.2 Về kinh tế- xã hội 81

2.2.3 Về giáo dục đào tạo 84

2.2.4 Về xây dựng và phát triển TTHTCĐ 85

2.3 Thực trạng quản lý phát triển TTHTCĐ ở Đồng bằng sông Cửu Long 88

2.3.1 Tổ chức khảo sát 88

2.3.2 Khảo sát thực trạng quản lý phát triển TTHTCĐ ở ĐBSCL 89

2.3.2.1 Các điều kiện đảm bảo chất lượng hoạt động của TTHTCĐ 90

2.3.2.2 Về xây dựng các chương trình (chủ đề học tập) và tổ chức các hoạt động ở trung tâm 102

2.3.2.3 Về các mối liên kết, phối hợp của TTHTCĐ 109

2.3.2.4 Về hỗ trợ công tác kiểm tra, đánh giá quản lý phát triển TTHTCĐ 110 2.4 Đánh giá chung thực trạng quản lý phát triển TTHTCĐ ở ĐBSCL 110

2.4.1 Thành tựu 110

2.4.2 Hạn chế 111

Kết luận chương 2 113

CHƯƠNG 3 115

Trang 4

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG 115

3.1 Định hướng phát triển TTHTCĐ ở ĐBSCL 115

3.2 Các giải pháp quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ góp phần xây dựng XHHT ở ĐBSCL 117

3.2.1 Những nguyên tắc đề xuất giải pháp 117

3.2.2 Các giải pháp 119

Giải pháp 1: Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng hoạt động của TTHTCĐ 119

Giải pháp 2: Quản lý các chương trình đáp ứng nhu cầu của người học tại các TTHTCĐ 132

Giải pháp 3: Quản lý các mối liên kết, phối hợp của TTHTCĐ 136

Giải pháp 4 Bộ tiêu chuẩn đánh giá quản lý phát triển bền vững trung tâm HTCĐ 138

3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp 143

3.4 Thử nghiệm giải pháp đề xuất 147

Kết luận chương 3 154

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 155

1 Kết luận 155

2 Khuyến nghị 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 158

PHỤ LỤC 171

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trước những xu thế của thời đại cũng như thực tiễn của nước ta trong tiến trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta chủ trương và nhấn mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

để phát triển nhanh và bền vững Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực với ý nghĩa như một yếu tố cơ bản của nội lực kinh tế - xã hội sẽ đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu phát triển Nguồn nhân lực đó chỉ có thể phát triển đầy

đủ, có hệ thống và bền vững thông qua việc phát triển giáo dục và đào tạo Trong

đó, việc quản lý phát triển TTHTCĐ là rất quan trọng

Trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục thường xuyên tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình; bước đầu hình thành xã hội học tập Chất lượng giáo dục thường xuyên được nâng cao, giúp người học có kiến thức, kỹ năng thiết thực để tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần ”

Trung tâm học tập cộng đồng, một trong những cơ sở của giáo dục thường xuyên được hình thành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người trong cộng đồng tại các xã, phường, thị trấn được học tập, được trang bị kiến thức nhiều mặt góp phần tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, làm lành mạnh các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng Hiện nay cả nước đã có trên 11 ngàn TTHTCĐ đang hoạt động và các trung tâm này đã thực sự trở thành trường học của nhân dân lao động, là công cụ thiết yếu để xây dựng XHHT từ cơ sở Điều đó cho thấy việc phát triển các TTHTCĐ

là cần thiết và đã trở thành xu thế tất yếu của xã hội

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sông nước, trên 80% sản xuất nông nghiệp, mặt bằng dân trí còn thấp so với cả nước, nên sự đóng góp của giáo dục đào tạo nói chung và các TTHTCĐ nói riêng có ý nghĩa rất lớn Nhìn lại quá trình xây dựng và phát triển các TTHTCĐ của vùng từ năm 2002 đến nay cho thấy các TTHTCĐ đã phát triển và có những đóng góp đáng kể vào thành tích chung của vùng Tuy vậy,

Trang 6

bên cạnh những trung tâm hoạt động có hiệu quả và phát triển, vẫn có không ít những trung tâm hoạt động kém hiệu quả do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như các điều kiện đảm bảo chất lượng hoạt động; các điều kiện đáp ứng nhu cầu người học; sự phối hợp và nhất là tiêu chuẩn giám sát, đánh giá của TTHTCD còn nhiều khó khăn, hạn chế Chính vì vậy, làm thề nào để quản lý phát triển bền vững các TTHTCĐ ở ĐBSCL là rất cấp thiết

Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở đồng bằng sông Cửu Long” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh gia thực trạng việc quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ ở ĐBSCL, đề xuất những giải pháp quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ góp phần xây dựng XHHT ở Đồng bằng sông Cửu Long

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Vấn đề quản lý phát triển TTHTCĐ

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các giải pháp quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ ở ĐB sông Cửu Long

4 Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý phát triển TTHTCĐ ở ĐBSCL sẽ đạt được kết quả bền vững góp phần xây dựng XHHT ở Đồng bằng sông Cửu Long, nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp của đề tài mang tính hệ thống, toàn diện dựa trên những đặc trưng của TTHTCĐ, đồng thời chú ý đến đặc điểm kinh tế- xã hội, truyền thống văn hóa

và thực tiễn giáo dục ở ĐB sông Cửu Long

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ góp phần xây dựng XHHT;

- Đánh giá thực trạng xây dựng, tổ chức quản lý phát triển TTHTCĐ ở ĐBSCL;

Trang 7

- Đề xuất các giải pháp quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ ở ĐBSCL

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu các giải pháp quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ, đối tượng là CBQL, GV/HDV, người học tại TTHTCĐ xã/phường/thị trấn và các tổ chức, đoàn thể, cơ quan quản lý có liên quan đến TTHTCĐ

- Nghiên cứu thực tiễn xây dựng, tổ chức quản lý phát triển TTHTCĐ và tổ chức khảo nghiệm, thử nghiệm một số biện pháp quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ ở ĐBSCL Về địa bàn khảo sát thực trạng quản lý phát triển TTHTCĐ ở ĐBSCL được thực hiện tại 3 tỉnh/thành phố: An Giang, Kiên Giang và Cần Thơ

6 Phương pháp tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp tiếp cận

- Tiếp cận hệ thống: TTHTCĐ là tiểu hệ thống trong hệ thống GDQD Do đó,

mỗi sự thay đổi của tiểu hệ thống cũng ảnh hưởng tới hệ thống và ngược lại

- Tiếp cận phát triển: TTHTCĐ cần có sứ mạng, tầm nhìn, mục tiêu chiến lược

và thích ứng với môi trường luôn thay đổi

- Tiếp cận nhu cầu học tập: nhu cầu học tập của người dân trong cộng đồng rất

đa dạng Hệ thống GDCQ chưa đáp ứng được nhu cầu này nên GDKCQ trong đó có TTHTCĐ là một trong những thành phần nòng cốt cần được quan tâm, phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời của người dân

- Tiếp cận quản lý sự thay đổi: thế giới luôn thay đổi với tốc độ nhanh chóng

và đó là quy luật tất yếu của sự phát triển Cho nên nhà quản lý phải nắm bắt được

sự thay đổi và điều chỉnh nó đi theo hướng có lợi cho tổ chức

6.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, khái quát các tài liệu, các công trình

nghiên cứu có liên quan đến đề tài,… nhằm xây dựng những nguyên tắc, xác định các khái niệm cơ bản có liên quan và nội dung quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ, hình thành khung lý thuyết về tiêu chuẩn đánh giá quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ góp phần xây dựng XHHT

- Nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, để điều tra thực

Trang 8

trạng hoạt động quản lý phát triển TTHTCĐ và các tác động của nó đối với việc xây

dựng XHHT; Phương pháp phỏng vấn, phỏng vấn lãnh đạo cấp uỷ đảng, chính

quyền địa phương; CBQL, giáo viên và người học tại một số TTHTCĐ, nhằm thu thập những thông tin về thực trạng hoạt động và quản lý phát triển TTHTCĐ;

Phương pháp quan sát, các báo cáo, trao đổi ở TTHTCĐ và quan sát trực tiếp về đối tượng nghiên cứu để thu được những thông tin về đối tượng nghiên cứu; Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm, để khẳng định tính khả thi, tính hiệu quả của việc vận dụng các đề xuất; Phương pháp so sánh và tổng kết kinh nghiệm, tổng kết kinh

nghiệm trong nước và quốc tế và so sánh công tác quản lý phát triển TTHTCĐ ở các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL qua các tài liệu thu thập được

6.3 Phương pháp thống kê

Sử dụng phương pháp thống kê để phân tích định lượng và định tính kết quả điều tra và các số liệu thống kê được thu thập trong quá trình nghiên cứu

7 Luận điểm bảo vệ

Trung tâm HTCĐ là cơ sở GDKCQ bằng chính vai trò và đặc điểm của mình

đã góp phần đắc lực vào việc xây dựng XHHT ở cơ sở Quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ là quá trình nhằm cung cấp các cơ hội và điều kiện học tập trong cộng đồng cùng với việc cải thiện chất lượng học tập đáp ứng yêu cầu của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng góp phần xây dựng XHHT

Trong thời gian qua, việc quản lý phát triển TTHTCĐ ở ĐBSCL còn nhiều hạn chế Để quản lý phát triển TTHTCĐ góp phần xây dựng XHHT ở ĐBSCL được bền vững phù hợp với đặc thù hoạt động học tập của người học và đặc điểm KT - XH

của vùng, theo chúng tôi cần tập trung quản lý các nội dung cơ bản sau: 1) Các điều kiện đảm bảo chất lượng hoạt động của TTHTCĐ 2) Các chương trình đáp ứng nhu cầu của người học tại các TTHTCĐ 3) Các mối liên kết, phối hợp của TTHTCĐ

và 4) Có được bộ tiêu chí để đánh giá quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ góp phần xây dựng XHHT ở Đồng bằng sông Cửu Long

8 Đóng góp mới của luận án

8.1 Về mặt lý luận

Trang 9

- Đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận của mô hình TTHTCĐ như một thiết chế giáo dục - xã hội với những đặc trưng của nó

- Tiếp cận lý thuyết quản lý vào việc quản lý phát triển TTHTCĐ ở ĐB sông Cửu Long trong điều kiện hiện nay, từ triết lý TTHTCĐ là của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng, đáp ứng nhu cầu HTSĐ của mọi người dân trong cộng đồng

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý phát triển TTHTCĐ trong

sự tác động qua lại của chúng

8.2 Về mặt thực tiễn

- Đã nghiên cứu thực trạng xây dựng và quản lý phát triển TTHTCĐ trên thế giới và ở Việt Nam Trên cơ sở đó khảo sát và đánh giá thực trạng việc xây dựng và quản lý phát triển phát triển TTHTCĐ ở ĐB sông Cửu Long

- Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá và một số giải pháp quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ góp phần xây dựng XHHT ở ĐBSCL

9 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập

- Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở đồng bằng sông Cửu Long

- Chương 3: Giải pháp quản lý phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng xã hội học tập ở đồng bằng sông Cửu Long

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu

1.1.1 Về học tập suốt đời và xã hội học tập

Năm 1996, với tên gọi “Học tập, một kho báu tiềm ẩn” UNESCO công bố công trình của Jacque Delors, nguyên chủ tịch Ủy ban châu Âu (EU) [150] và được thế giới thừa nhận như một triết lý của giáo dục thế kỷ XXI Trong công trình này tác giả đã phân tích việc HTSĐ Với triết lý của một nền giáo dục cần thiết cho thế kỷ XXI: “Giáo dục phải dựa trên 4 trụ cột: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người” Bốn trụ cột này phải được đặt trên nền tảng HTSĐ và xây dựng XHHT Từ đây xuất hiện 2 đặc trưng mới của giáo dục thế kỷ XXI là:

HTSĐ và XHHT HTSĐ được coi như là chìa khóa để bước vào thế kỷ XXI, nó hình thành một quan niệm mới về giáo dục là giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục

HTSĐ gắn với quan niệm mới tiên tiến quan niệm về một XHHT Ở một XHHT có thể tạo ra cơ hội học tập và phát huy mạnh mẽ tiềm năng của mỗi con người

Cùng với công trình đã nêu ở trên, còn có nhiều nghiên cứu đề cập và nhấn mạnh tới xu thế HTSĐ trong điều kiện hiện nay Ví dụ, các nhà tương lai học, giáo dục học trên thế giới như Toffler Alvin, Bennis, Warren Stephen Covey, Gary Hamel, Kevin Kelly, Philip Kotler, John Kotter Michael Porter, Perer Senge, Thomas L.Friedman, Raja RoySingh, Viên Quốc Chấn, Các nhà tương lai học trên đã đưa ra dự báo nền giáo dục mới hoàn toàn khác với nền giáo dục truyền thống

mà đặc trưng cơ bản của nó là sự lỗi thời nhanh chóng của kiến thức cũng như của các ngành sản xuất trong xã hội Do đó, nền giáo dục mới phải hướng đến sự giáo dục suốt đời

Đi liền với việc nghiên cứu về xu thế HTSĐ của nền giáo dục mới, nhiều nhà khoa học đã tập trung làm sáng tỏ vấn đề XHHT Các nhà khoa học đã tiếp cận về XHHT theo nhiều cách khác nhau, có thể kể đến ba cách tiếp cận chính: Cách tiếp

cận logic Điển hình cho cách tiếp cận logic là Faure và cộng sự Faure, Torsten

Trang 11

Husen và Steward Ranson Theo cách tiếp cận quá trình, Donald Schon [163] trong

các năm 1963, 1967, 1973 đã cho rằng xã hội và tất cả các cơ quan, tổ chức trong nó

có những quá trình biến đổi liên tiếp Do đó, cần phải hiểu, định hướng, gây ảnh

hưởng và quản lý được những sự thay đổi liên tiếp đó Tiêu biểu cho cách tiếp cận theo nhu cầu là Rober M Hutchins [160] Năm 1968, Rober M Hutchins khẳng định

sự cấp thiết cần phải hình thành XHHT và giáo dục phải tạo điều kiện cho việc học

tập của con người diễn ra liên tục

Công trình của Donal Schon, với ý tưởng các công ty, các phong trào xã hội và các cơ quan đều phải là “các hệ thống học tập” (learning system) Trong các công trình của mình, Robert M.Hutchins đã phân tích cơ sở xã hội của của một XHHT Một trong những công trình nghiên cứu về XHHT đáng quan tâm nhất là của Hutsen, nghiên cứu vai trò của sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật với sự ra đời của XHHT, đặc biệt từ những năm 40 của thế kỷ trước Một trong những công trình được nhiều người đánh giá cao là của Richard Edwards [156] Theo Richard Edwards, XHHT

là một xã hội đảm bảo tự do dân chủ và bình đẳng cho mọi người, đặc biệt là mọi người dân đều tạo cho mình khả năng tự học và tự học suốt đời, từ đó nẩy sinh ra động cơ học tập, nhu cầu học tập là một động lực quan trọng thúc đẩy sự học ngày càng cao

Về mô hình XHHT, Roger Boshier đề xuất một mô hình XHHT cho phép con người có thể tham gia học tập trong suốt cuộc đời của họ Hughes bằng cách tiếp cận theo nguồn cảm hứng, mô tả XHHT như là một xã hội mà các quốc gia và khu vực đòi hỏi cần phải có để duy trì cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu ngày càng tăng Còn Edwards, năm 1997 đưa ra các mô hình XHHT tuy có nhiều điểm khác nhau nhưng tổng hợp lại chúng đều đề cập tới các khía cạnh nhu cầu và nghĩa vụ

học tập; cơ hội và điều kiện học tập của người dân

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên, đã giải quyết được các nội dung cơ bản của vấn đề xu thế HTSĐ và xây dựng một XHHT như tính tất yếu của thời đại Đến những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, xu thế HTSĐ và một XHHT đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Đơn cử một số nước như sau:

Trang 12

Tại Mỹ, trong báo cáo của Ủy ban Giáo dục chất lượng cao đã gửi Quốc hội tháng 4 năm 1984, trong đó nhấn mạnh: Cần phải dốc sức vào việc giáo dục suốt đời, mở ra phong trào giáo dục với mục tiêu xã hội hóa giáo dục Ngày 18 tháng 4 năm 1991, trong chiến lược GD của kế hoạch năm 2000 lại nhấn mạnh thêm: HTSĐ kiến thức, kỹ thuật và hô hào mở cuộc vận động cả nước thành “cả nước đi học” Tại Pháp, tư tưởng HTSĐ lần đầu tiên được đề xuất vào năm 1960 bởi Paolo Langơ, nhà quản lý giáo dục Năm 1972 Ủy ban quốc tế do Thủ tướng Pháp chủ trì

đã đưa ra báo cáo với tên gọi: “Sự tồn tại của học hội thế giới, giáo dục hôm nay và ngày mai” đã chính thức xác nhận tính pháp lý của tư tưởng HTSĐ không chỉ ở Pháp

mà trên phạm vi quốc tế Từ đó quan niệm HTSĐ ngày càng thâm nhập vào thực tiễn giáo dục của nhiều nước trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến

Tại Hàn Quốc, Hội đồng của Tổng thống về cải cách giáo dục đã xuất bản cuốn sách “Hệ thống giáo dục mới” ngày 31 tháng 5 năm 1995, quan điểm cơ bản là xây dựng một xã hội giáo dục sống động và mở cửa Hướng ưu tiên của chương trình cải cách là đa dạng hóa các loại hình giáo dục, tạo ra nhiều cơ hội giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân lựa chọn Từ đó thành lập Trung tâm đa phương tiện Quốc gia tạo điều kiện cho nhiều người dân được tiếp cận và các phương tiện thông tin hiện đại vào việc học tập của mình

Tại Nhật Bản, có thể nói đây là nước đi đầu trong việc triển khai tư tưởng HTSĐ

và xây dựng XHHT Ngay từ những năm 70 Nhật Bản đã công bố cuốn sách trắng, trong đó khẳng định: Nhật Bản đang đối diện với mục tiêu của việc cải cách giáo dục thế kỷ XXI: “Thực hiện một XHHT suốt đời” Trong lĩnh vực triển khai XHHT, Nhật Bản cũng là nước đi đầu với hệ thống TTHTCĐ (KO-MIN-KAN)

Ở Việt Nam, Các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập tới xu thế HTSĐ và xây dựng một XHHT Có thể nêu một số trong các nhà nghiên cứu về vần đề này: Phạm Minh Hạc, Vũ Ngọc Hải [35,37,38], Nguyễn Vinh Hiển [45], Nguyễn Minh Đường [28,29], Phạm Tất Dong [11,12,13,14,16,17], Đặng Quốc Bảo [5], Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Ngọc Phú [58], Mai Văn Trang [68], Tô Bá Trượng [71], Nguyễn Hồng Sơn [62], Phạm Đỗ Nhật Tiến [66,67], Thái Xuân Đào [21], Bế Hồng Hạnh,

Trang 13

Nguyễn Hoàng Hải, Bùi Minh Hiền [44], Trần Khánh Đức, Nguyễn Tiến Đạt đã nhấn mạnh quan điểm, cơ sở lý luận về nền giáo dục hiện đại và XHHT suốt đời, những vấn đề cơ bản để xây dựng XHHT ở nước ta, quan niệm mới về việc học Phạm Tất Dong đã đề cập đến nội dung phát triển các thiết chế giáo dục trên địa bàn

xã, phường, thị trấn theo hướng xây dựng XHHT và những điều kiện để xây dựng XHHT ở xã, phường, thị trấn

Trong các năm 2004 và 2005, Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã tổ chức hai cuộc Hội thảo toàn quốc với chủ

đề xây dựng XHHT ở Việt Nam Hội thảo đã thu hút rất nhiều nhà khoa học giáo dục và xã hội Nhiều vấn đề cơ bản về tư tưởng HTSĐ và xây dựng XHHT ở Việt Nam đã được làm sáng tỏ như các khái niệm về HTSĐ về XHHT, cơ sở phương pháp luận của việc xây dựng XHHT, vai trò của XHHT trong thời đại mới, đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục để xây dựng XHHT Cũng từ đây, vấn đề HTSĐ

và xây dựng XHHT đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đưa vào các nghị quyết của Đảng và chủ trương chính sách của Nhà nước

1.1.2 Về trung tâm học tập cộng đồng và quản lý phát triển bền vững trung tâm học tập cộng đồng

Vào cuối thập kỷ 60, khi khoa học và công nghệ phát triển nhanh, hầu hết các nước trên thế giới đều nhận thấy hệ thống GDCQ không đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Xu hướng tập trung hoá, đô thị hoá giáo dục đã làm mất cân đối về trình độ dân trí và nguồn nhân lực giữa các vùng miền, cơ cấu ngành nghề,…

Năm 1972, Edgar Faure [158 ] xuất bản cuốn sách “Học để tồn tại” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt là giáo dục người lớn và đặt trong khuôn khổ

“Giáo dục suốt đời” Từ đó, các quan điểm khác nhau về GDSĐ, HTSĐ, XHHT được đưa ra bàn luận, nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đã thấy cần thiết phải có quan niệm rộng hơn về giáo dục: Giáo dục người lớn, GDTX, giáo dục không chính quy phải được coi là một bộ phận chủ yếu, quan trọng cùng với nhà trường chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho nhân dân

Giáo dục không chỉ là giai đoạn tức thời, chỉ diễn ra một lần, chỉ giới hạn ở độ

Trang 14

tuổi học sinh, sinh viên mà là một quá trình diễn ra liên tục trong suốt cả cuộc đời Học tập suốt đời là một quá trình học tập có mục đích, có định hướng, không phải học tuỳ hứng, ngẫu nhiên Tuỳ theo nhu cầu của mỗi người mà có mục đích học riêng của mình: Học để biết, học để làm việc, học để cùng chung sống, để hoà nhập, học để tồn tại và học để khẳng định mình

Năm 2001, Hội Khuyến học Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học tại Gia Lâm,

Hà Nội, là nơi có TTHTCĐ hoạt động tốt để phân tích đánh giá ưu, khuyết điểm của các loại hình thức học tập cộng đồng như TTHTCĐ, TT Khuyến học cộng đồng, TT Giáo dục cộng đồng Từ đó, xác định rõ tên gọi khác nhau nhưng đều là những cơ sở giáo dục đa chức năng, ngoài công lập, không chính quy của dân, do dân, vì dân, cần

gì học nấy một cách thường xuyên, liên tục, suốt đời

Năm 2002-2003, Bộ GDĐT phối hợp với Hội Khuyến học Việt Nam tổng kết hoàn chỉnh mô hình, xây dựng thể chế, biên soạn tài liệu, hướng dẫn và huấn luyện cán bộ, tranh thủ sự ủng hộ của các ngành, các cấp nhằm đẩy mạnh việc thành lập TTHTCĐ ở xã, phường, thị trấn

Nhiều địa phương như tỉnh Thái Bình, Thanh Hoá, Hải Dương, Phú Thọ, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tây… đã có nhiều biện pháp sáng tạo, chủ động huy động sức mạnh tổng hợp của xã hội để tận dụng những tiềm lực sẵn có phát triển nhanh chóng TTHTCĐ Qua đó, đã tạo cơ hội và điều kiện cho các đối tượng ở bên ngoài nhà trường được học một cách thường xuyên, liên tục; được nâng cao dân trí; góp phần phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, khôi phục nghề truyền thống, phát triển nghề mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH thông qua hoạt động chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ, hướng nghiệp, học nghề,…

Việc thực hiện HTSĐ và xây dựng XHHT phải được gắn kết chặt chẽ với các phương thức giáo dục mở: GDCQ, giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy hay giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục hay là giáo dục thường xuyên với đặc trưng là giáo dục cộng đồng và được thực hiện bởi trung tâm học tập cộng đồng UNESCO xem mô hình TTHCĐ là một công cụ, một cơ chế có hiệu quả nhất trong việc thực hiện giáo dục cho mọi người và mọi người cho giáo dục Trung tâm

Trang 15

HTCĐ nổi lên như là mô hình lý tưởng để thực thi HTSĐ và tạo lập một XHHT Năm 2007, Victor Odoner, nguyên Tổng giám đốc UNESCO khu vực châu Á

- Thái Bình Dương, đã đề cập đến việc quản lý phát triển mô hình TTHTCĐ như là một phần của giải pháp giáo dục thích hợp cho mọi người Như vậy, quản lý phát triển TTHTCĐ là con đường tất yếu để thực hiện mục tiêu HTSĐ và xây dựng XHHT ở bất kỳ một quốc gia nào

Nhật Bản là nước đi đầu trong nghiên cứu và triển khai quản lý phát triển mô hình TTHTCĐ trên thế giới Ra đời từ thế kỷ XVII, từ phong trào XMC cho người dân, các địa phương đã tự tổ chức hình thành các cơ sở XMC với tên gọi là Têrakôya Đến sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Nhật Bản hình thành mô hình giáo dục xã hội mới, gọi là Kôminkan Quản lý phát triển các Kôminkan không những do nhu cầu của cộng đồng mà còn được người dân tham gia tích cực Bên cạnh sự quản lý chỉ đạo của Nhà nước về Kôminkan còn có các phong trào của quần chúng với khẩu

hiệu: Phát triển Kôminkan trước hết để xây dựng làng xã Chính nhờ những chủ trương đó mà Kôminkan phát triển không ngừng, năm 1947 mới chỉ có 3.537 trung

tâm, đến năm 2002 là 17.947 và trên khắp nước Nhật đã có 18.000 Kôminkan hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước trung ương và địa phương, 76.883 Kôminkan

do người dân quản lý Điều đáng chú ý là việc quản lý phát triển các Kôminkan của Nhật Bản ở thôn (làng), gắn liền với đời sống của cộng đồng dân cư

Năm 1977, Chính phủ Thái Lan đã triển khai Đề án GDKCQ, trong đó đề cập ngay đến việc quản lý phát triển nhanh các TTHTCĐ Đến năm 2006, Thái Lan đã phát triển được 7.000 TTHTCĐ cấp xã Các trung tâm này chịu sự quản lý của dân làng Trong các trung tâm có thư viện, phòng đọc sách báo, phòng hội họp, sinh hoạt câu lạc bộ, xem ti vi hoặc các sinh hoạt cộng đồng khác

Ở Ấn Độ, Chính phủ đã xác định muốn đẩy nhanh chiến lược xóa mù chữ, trước hết phải xây dựng được các cơ sở hạ tầng của giáo dục người lớn Năm 1988, Chính phủ đã ra quyết định thành lập hàng loạt các TTHTCĐ trong cả nước Những trung tâm này chủ yếu do cộng đồng tự cam kết thành lập và quản lý, cũng là nơi chính thức tổ chức các hoạt động xóa mù chữ và giáo dục cộng đồng

Trang 16

Tóm lại, tùy theo điều kiện phát triển KT-XH của mỗi nước mà việc quản lý phát triển TTHTCĐ có khác nhau, nhưng đều chung mục đích là làm sao có được những cơ sở giáo dục của cộng đồng để cho mọi người dân được học tập và HTSĐ

Về phương thức quản lý, một số nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách của một số quốc gia như Myanmar, Thái Lan, Ấn độ, Banglades, Nhật Bản, Trung

Quốc… đã nghiên cứu về quản lý phát triển TTHTCĐ đã đưa ra Phương thức quản

lý phát triển TTHTCĐ là sự tổng hợp 2 hình thức quản lý: Quản lý công và tự quản Phương thức quản lý phát triển TTHTCĐ của Myanmar và Ấn Độ là quản lý công; của Thái Lan là Cộng đồng quản lý (tự quản lý); của Banglades và Trung Quốc là Quản lý dựa vào cộng đồng Riêng tại Nhật Bản tồn tại song song hai phương thức quản lý TTHTCĐ là Quản lý dựa vào cộng đồng và Cộng đồng tự quản lý

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu quản lý phát triển TTHTCĐ đã được triển khai

từ rất sớm Năm 1995-1996, được sự hỗ trợ của UNESCO Băng Cốc, Trung tâm NC XMC và GDTX đã tổ chức thử nghiệm 4 TTHTCĐ tại Cao Sơn (Hòa Bình), Pú Nhung (Lai Châu), Việt Thuận (Thái Bình) và An Lập (Bắc Giang) Cũng trong thời gian này, Trung tâm NC XMC và GDTX đã tổ chức nghiên cứu đề tài cấp bộ: “Xây dựng mô hình thí điểm trung tâm học tập cộng đồng cấp xã ở nông thôn Bắc bộ” Đây chính là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc quản lý phát triển TTHTCĐ

ở Việt Nam Sau đó, Bộ GDĐT đã cho phép triển khai đến các tỉnh và thành phố:

Hà Nội, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Tiền Giang, Long An Tại hai huyện Tủa Chùa Và Phong Thổ của tỉnh Lai Châu đã xây dựng 40 TTHTCĐ Những năm tiếp theo, được

sự phối hợp của Hội Khuyến học Việt Nam, mô hình quản lý phát triển TTHTCĐ

đã phát triển mạnh mẽ trong toàn quốc Năm 2006, cả nước đã có 7.384 TTHTCĐ quy mô xã phường/thị trấn, trong đó có nhiều tỉnh 100% xã phường trong tỉnh có TTHTĐ như Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Đồng Tháp Đến nay số TTHTCĐ đã trên 11 ngàn trung tâm, có thể nói gần như 100% xã phường/thị trấn trong cả nước đều có TTHTCĐ

Ngoài việc xây dựng, phát triển về số lượng, các tổ chức, các nhà khoa học Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu và đóng góp lớn trong việc xây dựng cơ sở lý luận cho

Trang 17

việc quản lý phát triển TTHTCĐ: Tô Bá Trượng, Thái Xuân Đào [69,23,74], Bế Hồng Hạnh [41], Trịnh Minh Tứ, Hoàng Minh Luật [54], Ngô Quang Sơn, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Phú, Tạ Ngọc Sỹ [64],

Hội Khuyến học Việt Nam, trong thời gian vừa qua đã đi đầu trong việc quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước, đã triển khai các đề tài nghiên cứu, tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học về xây dựng và phát triển TTHTCĐ ở Việt Nam

như: Hội nghị Sơ kết 5 năm xây dựng và phát triển TTHTCĐ (1999-2004),… Từ

những hoạt động đó, Hội Khuyến học Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn mấu chốt trong xây dựng XHHT nói chung, quản lý phát triển TTHTCĐ nói riêng

Vụ GDTX, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Hiệp hội Quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ) tổ chức biên soạn cuốn “Sổ tay thành lập và quản lý TTHTCĐ” Nội dung của cuốn sách bao gồm những kiến thức rất cụ thể, thiết thực, giúp cho cán bộ lãnh đạo TTHTCĐ có thêm tài liệu để quản lý điều hành các TTHTCĐ ngày càng hiệu quả hơn

Gần đây, trong công trình nghiên cứu Định hướng chiến lược phát triển GDTX và xây dựng TTHTCĐ, tác giả Hoàng Minh Luật đã đề cập đến một số vấn đề về tình hình

phát triển TTHTCĐ, quản lý phát triển TTHTCĐ trong khu vực và ở Việt Nam, Tóm lại, điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề nêu trên có thể khẳng định rằng nghiên cứu các biện pháp quản lý phát triển TTHTCĐ đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục quan tâm tìm hiểu và đã đề xuất được nhiều biện pháp đảm bảo tính khoa học, hiệu quả và khả thi Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ, nhưng nội hàm của nó đều đề cập đến nội dung, biện pháp, cách thức tổ chức quản

lý phát triển bền vững để phát triển TTHTCĐ Vì thế, khi nói đến quản lý phát triển TTHTCĐ ở các nước, thì đã được hiểu là quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ Kế thừa và phát triển các nội dung những người đi trước đã làm được, đề tài “Quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ góp phần xây dựng xã hội học tập ở Đồng bằng sông Cửu Long” được tổ chức triển khai nghiên cứu với mục đích sẽ góp phần tìm ra các

Trang 18

biện pháp quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ phù hợp với đối tượng, đặc điểm kinh tế-xã hội và khả thi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.2 Một số khái niệm cơ bản

Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý

là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”

Các khái niệm trên về quản lý tuy được trình bày khác nhau về ngôn từ, nhưng chúng có những dấu hiệu chủ yếu sau:

- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội

- Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích

- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

- Hoạt động quản lý phải phù hợp với quy luật khách quan

Theo chúng tôi, quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một nhóm (hay nhiều

nhóm xã hội) cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ và mục đích chung Quản lý giữ vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của xã hội

1.2.2 Quản lý giáo dục

Xung quanh khái niệm này có một số định nghĩa sau đây:

- “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất”

Trang 19

- “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục”

- “Quản lý giáo dục là thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục, bao gồm: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá quá trình giáo dục”

Thực chất của quản lý giáo dục là quá trình tổ chức, điều chỉnh sự vận hành của các yếu tố cơ bản sau đây:

- Đường lối, chiến lược phát triển giáo dục của đất nước

- Tập hợp những chủ thể và khách thể quản lý, bao gồm cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh…

- Cơ sở vật chất (đồ dùng, trang thiết bị dạy học trường lớp…)

Nội dung quản lý giáo dục là quản lý tất cả các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục, bao gồm: mục tiêu giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp giáo dục; tổ chức giáo dục; người dạy; người học; trường sở và trang thiết bị; môi trường giáo dục, các lực lượng giáo dục; kết quả giáo dục

Theo Trần Kiểm, xét về cấp độ có thể hiểu khái niệm quản lý giáo dục như sau: Ở cấp vĩ mô, “quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” Ở cấp vi mô, “quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường”

1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng và phát triển TTHTCĐ

1.2.3.1 Trung tâm học tập cộng đồng

Theo quan niệm của Unesco: “Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục không chính quy của xã, phường, thị trấn, do cộng đồng thành lập và quản lý nhằm

Trang 20

nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng thông qua việc tạo cơ hội học tập suốt đời của người dân trong cộng đồng Khác với nhà trường chính quy, ban quản lý và giáo viên, cộng tác viên của TTHTCĐ là những người tự nguyện, không hưởng lương (có thể có phụ cấp) Hoạt động của trung tâm không bị ràng buộc chặt chẽ bởi thời gian và cho mọi người ở mọi lứa tuổi Chương trình và phương thức hoạt động linh hoạt, đáp ứng nhu cầu kịp thời của cộng đồng Có thể nói một cách ngắn gọn rằng: TTHTCĐ là thiết chế giáo dục không chính qui của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng

Ở Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu, TTHTCĐ là một tổ chức (thiết chế) cơ

sở GDKCQ được tổ chức trên địa bàn xã, phường, thị trấn TTHTCĐ là tổ chức giáo dục đã đưa đến tận những người dân, đặc biệt là những lao động không có điều kiện tới trường lớp chính quy và những người nghèo, những người trong các nhóm yếu thế có cơ hội học tập Cũng có thể hiểu TTHTCĐ là một thiết chế giáo dục người lớn quan trọng trong thế kỷ XXI; là một loại thiết chế GDTX được tổ chức trên địa bàn xã, phường, thị trấn và với quan niệm TTHTCĐ cũng là một cơ sở giáo dục thì

khái niệm TTHTCĐ trong luận án này được hiểu như sau: Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, hoạt động dưới sự hỗ trợ, giám sát của Nhà nước; đồng thời có sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư Cơ chế hoạt động của TTHTCĐ là Nhà nước và nhân dân cùng làm

Trung tâm HTCĐ có 4 chức năng cơ bản: Chức năng giáo dục và huấn luyện; Chức năng thông tin và tư vấn; Chức năng phát triển cộng đồng; Chức năng liên kết phối hợp

1.2.3.2 Phát triển trung tâm học tập cộng đồng

Theo triết học duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học chỉ khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật

Phát triển liên quan đến 2 khía cạnh: i) Sự tăng lên về số lượng và chủng loại, chẳng hạn như tăng số lượng TTHTCĐ và các cơ sở giáo dục khác nhằm mục đích

Trang 21

tăng cơ hội học tập cho mọi người ở tất cả các xã, phường, thị trấn: ii) Sự thay đổi

về chất lượng, chẳng hạn như việc thực hiện một cách hiệu quả việc đổi mới chương trình giáo dục; nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên; và đầu tư trang bị các bộ đồ dùng dạy học, thiết bị thí nghiệm, thực tập, nhằm cải thiện về chất lượng giáo dục Như vậy, phát triển là quá trình biến đổi về số lượng, là sự tăng trưởng; còn về mặt phẩm chất thì nhất định phải có sự biến đổi về mặt chất lượng theo hướng tiến bộ Dựa vào lý luận chung về phát triển, quan niệm phát triển TTHTCĐ trong luận

án được thể hiện như sau: Phát triển TTHTCĐ là quá trình tăng việc cung cấp các

cơ hội và điều kiện học tập của cộng đồng cùng với việc cải thiện chất lượng học tập đáp ứng sự tiến bộ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng theo hướng xây dựng

xã hội học tập

Phát triển TTHTCĐ là những tiến trình, qua đó nỗ lực của người dân kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện học tập đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của cộng đồng và giúp cộng đồng đó hòa nhập và đóng góp vào sự phát triển chung của địa phương và của đất nước

Sự tham gia của người dân với sự tự lực tối đa (chẳng hạn như việc người dân tham gia vào việc đề xuất nhu cầu học tập, lập kế hoạch phát triển TTHTCĐ); người dân tham gia vào việc quản lý (các địa điểm học tập, nguồn tài liệu học tập, các nguồn lực khác phục vụ cho học tập); sự hỗ trợ kỹ thuật và các nguồn lực để khuyến khích sáng kiến, sự tương trợ để các nỗ lực học tập của người dân có hiệu quả cao ( chẳng hạn như việc chính quyền và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ việc xây dựng CSVC - KT của TTHTCĐ, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ nâng cao năng lực CBQL-GV và các cộng tác viên tham gia giảng dạy, hỗ trợ phát triển các dịch vụ khuyến nông, )

Như vậy, mục đích của phát triển TTHTCĐ là tiến trình giải quyết vấn đề của cộng đồng Thông qua đó cộng đồng được gia tăng sức mạnh do nâng cao kiến thức

và kỹ năng, huy động các nguồn lực để giải quyết bằng hành động chung

1.2.3.3 Quản lý phát triển trung tâm học tập cộng đồng

Năm 1996, Thomas Alan [166,167], đã đưa ra quan niệm của mình về quản lý phát triển dựa trên ý kiến thảo luận của: i) Nhóm nghiên cứu (thuộc Open

Trang 22

University, Milton Keynes, UK) hướng đến việc phát triển một chương trình Thạc

sĩ Quản lý phát triển cấp Văn bằng toàn cầu ii) Hội nghị của Tập đoàn Nghiên cứu quản lý phát triển của Hiệp hội Nghiên cứu phát triển quốc tế, tổ chức tại Ripa ngày 18/2/1994 iii) Góp ý của David Wield, Chris Cornforth và Hội thảo Chương trình đào tạo toàn cầu về quản lý phát triển được tổ chức tại London vào ngày28/6/1994 Trong quan niệm của mình, Alan Thomas đã nhấn mạnh hai khía cạnh của quản lý

phát triển: Một là, quản lý trong bối cảnh phát triển của việc thay đổi trong tiến trình lịch sử Hai là, quản lý của những nỗ lực có chủ ý theo tiến trình thực hiện

nhiệm vụ phát triển

Tiếp đó, năm 1999 với chủ đề “Điều gì làm cho quản lý phát triển tốt?” Alan

Thomas đã phát triển định nghĩa quản lý phát triển thêm một khía cạnh thứ ba: “một phong cách quản lý với định hướng phát triển, có nghĩa là một định hướng thay đổi tiến bộ Có ý kiến cho rằng nội dung thứ ba này cho phép một định nghĩa có tính quy phạm về quản lý phát triển Vì vậy, một khái niệm đặc biệt của quản lý phát triển tốt là những gì nó luôn cần thúc đẩy các giá trị của phát triển ở tất cả các cấp, thậm chí nếu điều này không phải là cách đơn giản nhất để nhận được việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể phát triển thành công”

Theo mô hình của Lê Nin, quản lý phát triển/thay đổi TTHTCĐ có 3 giai đoạn: Bắt đầu: Chúng ta muốn thay đổi cái gì? Hãy tập trung vào phân tích môi trường (bên ngoài và bên trong), lựa chọn vấn đề thay đổi của trung tâm hướng đến xây dựng cộng đồng học tập phục vụ mục tiêu kinh tế - xã hội của cộng đồng; Làm sao có thể vượt qua các cản trở? Nhấn mạnh vào việc lựa chọn cho đúng việc để khắc phục các cản trở; Làm sao có được sự ủng hộ từ các thành viên của cộng đồng? Thực hiện: Thay đổi bằng cách nào? Cần phải làm gì? Phương pháp và cách tiếp cận nào?

Củng cố và giữ vững những kết quả đạt được của từng bước: Củng cố sự tham gia và nỗ lực của tất cả các thành viên cộng đồng vào sự tiến bộ; Hỗ trợ, động viên; Giám sát và thẩm định

Quản lý phát triển là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển hay trì trệ

Trang 23

đối với mọi tổ chức, trong đó có TTHTCĐ Mỗi TTHTCĐ chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có được một tập hợp những quyết định và hành động hướng mục tiêu;

sử dụng các năng lực của TTHTCĐ, nguồn lực của cộng đồng, nắm bắt cơ hội và vượt qua các thách thức trong môi trường đầy biến động nhằm nâng cao năng lực, tăng cường cơ hội học tập và nâng cao chất lượng, hiệu quả cho TTHTCĐ

Trong bối cảnh đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta, sau khi phân tích những sự phức tạp của quan niệm phát triển và quản lý sự phát triển xã hội trong thời đại ngày nay, do môi trường thay đổi dẫn đến giáo dục và tổ chức giáo dục phải thay đổi để thích ứng, tiếp đó và do đó phải quản lý sự thay đổi về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội diễn ra nhanh chóng hơn bao giờ hết và chúng có tác động to lớn đến cuộc sống thường nhật của tất cả mọi người Chúng ta, không thể cưỡng lại được những thay đổi đó, cũng không thể lờ chúng đi, mà vấn đề là: có thể và cần kiểm soát những thay đổi đó sao cho có hiệu quả nhất và tìm kiếm những nguồn lợi

từ bối cảnh do những thay đổi đó tạo ra Các mức độ thay đổi: i) Cải tiến (improvement) là tăng lên hay giảm đi những yếu tố nào đó của sự vật để cho phù hợp hơn; không phải là sự thay đổi về bản chất; ii) Đổi mới (Innovation) là thay cái cũ bằng cái mới; làm nảy sinh sự vật mới; còn được hiểu là cách tân; là sự thay đổi một phần về bản chất của sự vật; iii) Cải cách (Reform) là loại bỏ cái cũ, bất hợp lý của sự vật thành cái mới có thể phù hợp với tình hình khách quan; là sự thay đổi về bản chất toàn diện và triệt để hơn so với đổi mới; iv) Cách mạng (Revolution) là sự thay đổi trọng đại, biến đổi tận gốc; là sự thay đổi căn bản Thay đổi bao gồm cả sự biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu

1.2.4 Phát triển bền vững và quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ

1.2.4.1 Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm mới, định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Năm 1980, thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự

Trang 24

tác động đến môi trường sinh thái học”

Khái niệm phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi từ năm 1987 từ báo cáo Brundtland (còn gọi là báo cáo tương lai chung) của Uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới (WCED), nay là Uỷ ban Brundtland Báo cáo ghi rõ: Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai , hay nói cách khác, phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay cùng

nhau thực hiện

1.2.4.2 Quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ

Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam đã tổ chức lễ phát động Thập kỷ của Liên Hiệp Quốc về Giáo dục vì sự phát triển bền vững (2005- 2014) và ra mắt Uỷ ban Quốc gia thập kỷ giáo dục vì sự phát triển bền vững của Việt Nam vào ngày 15/2/2006 Thủ tướng Phạm Gia Khiêm - Chủ tịch Uỷ ban khẳng định Chính phủ Việt Nam luôn nhấn mạnh: “Con người là trung tâm của sự phát triển bền vững” Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành chương trình Nghị sự 21 về “định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam”, trong đó giáo dục được coi là chìa khóa,

là công cụ chủ chốt khơi dậy nhận thức và thay đổi cách hành vi ứng xử của mỗi người dân Theo cựu Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển, Bộ ưu tiên thực hiện đổi mới chương trình, nội dung phương pháp học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ, tích hợp các nội dung giáo dục vì sự phát triển bền vững vào giảng dạy trong và ngoài nhà trường, tiến tới nâng cao dân trí, huy động toàn dân tham gia thực hiện phát triển bền vững

Công trình “ Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp” (1997) của Phạm Xuân Nam làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội; Phát triển kinh tế; Bảo vệ môi trường; Phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ; Và chỉ báo quốc tế về phát triển Khái niệm phát triển bền vững đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội,

Trang 25

chính trị, văn hoá để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với sự phát triển của mỗi quốc gia đó Việt Nam với chính sách: “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” (vì giáo dục là con đường ngắn nhất dẫn đến văn minh nhân loại, dẫn đến kinh tế, văn hoá, chính trị ), tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội học tập công bằng, thực hiện nhu cầu học tập suốt đời của bản thân và cùng tạo một xã hội học tập lành mạnh vì sự phát triển lâu dài, phát triển bền vững tri thức của bản thân, của xã hội và của nhân loại nói chung

Trung tâm HTCĐ là một tập con của hệ thống giáo dục quốc dân, nằm trong luồng phát triển chung của nền giáo dục toàn cầu và TTHTCĐ cũng đang trong đà phát triển bền vững cùng với ngành giáo dục Căn cứ khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland, giáo dục đáp ứng được sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa

Như trên đã nêu TTHTCĐ có 4 chức năng cơ bản: Chức năng giáo dục và huấn luyện; Chức năng thông tin và tư vấn; Chức năng phát triển cộng đồng; Chức năng liên kết phối hợp Nếu không có sự quản lý, thiết kế, tổ chức của các nhà quản lý, của tổ chức, của cộng đồng và của cán bộ, giáo viên thì các chức năng của TTHTCĐ cũng không còn nữa

Phương thức quản lý phát triển TTHTCĐ là sự kết hợp chặt chẽ giữa phương thức quản lý công với phương thức tự quản Nhà nước đóng vai trò là cơ quan công quyền (người quản lý công), các tổ chức xã hội đóng vai trò người tham gia quản lý hoặc tự quản, kết hợp giữa quản lý vi mô (hoạt động trong một trung tâm) và quản

lý vĩ mô (hoạt động của cả một hệ thống)

Cơ chế vận hành để giải quyết các vấn đề quản lý phát triển TTHTCĐ là cơ chế hành chính và cơ chế xã hội Quản lý phát triển TTHTCĐ vừa tuân thủ các yêu cầu của công tác quản lý; đồng thời xuất phát từ những yêu cầu của phát triển xã hội gắn với thực tiễn đất nước, với đặc điểm cụ thể của kinh tế - xã hội và với những truyền thống văn hóa của địa phương

Phạm vi quản lý TTHTCĐ, bao gồm quản lý trong nội bộ TTHTCĐ (vi mô), chủ thể quản lý là cán bộ quản lý (giám đốc, phó giám đốc) TTHTCĐ, còn đối

Trang 26

tượng quản lý là giảng viên, học viên, quá trình dạy học - giáo dục, cơ sở vật chất, trang thiết bị của TTHTCĐ và quản lý của các cấp, ngành, tổ chức đối với TTHTCĐ (vĩ mô), chủ thể quản lý là UBND, Hội Khuyến học, cơ quan giáo dục các cấp, đối tượng quản lý là TTHTCĐ, với tư cách là một thiết chế giáo dục

Đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm đưa ra các giải pháp quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển bền vững ở tầm vi mô

1.3 Trung tâm học tập cộng đồng trong việc xây dựng XHHT và phát triển kinh tế- xã hội

1.3.1 Xã hội học tập- đòi hỏi cấp thiết

GDĐT là hoạt động trực tiếp tác động đến việc nâng cao trí tuệ sự hiểu biết và năng lực vận dụng sáng tạo những tri thức, các thành tựu của KH - CN vào sản xuất, tạo dựng, động viên và phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực mà trước hết là nguồn lực con người cho sự phát triển kinh tế - xã hội; là động lực thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, giúp cho con người phát triển cả về trí tuệ, tay nghề, kỹ năng Ngược lại, kinh tế tri thức đòi hỏi mỗi người phải luôn bổ sung tri thức mới, đòi hỏi và tạo điều kiện cho con người phát triển, coi trọng cá tính và bản lĩnh, phát huy tiềm năng Xây dựng XHHT để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức đã được nhiều học giả trong nước và quốc tế đề cập Dựa trên những kết quả nghiên cứu, theo tác giả Nguyễn Mạnh Cầm [7]: “Bước sang thề kỹ XXI, nền kinh tế công nghiệp chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn thế giới trong điều kiện tri thức nhân loại phát triển vượt bậc, cách mạng KH-CN tiếp tục đạt được những thành tựu

kỳ diệu” Do đó nhiều quốc gia đã có chiến lược xây dựng XHHT, trong đó mọi người dân đều có cơ hội, có điều kiện học tập và ai cũng có thể HTSĐ nên thời gian gần đây việc xây dựng và phát triển đã trở thành yêu cầu cấp thiết của nhiều quốc gia trên thế giới

Do tiến bộ KH-CN, nhất là sự phát triển của công nghiệp ngày càng dựa vào công nghệ; sự phát triển các hoạt động xã hội ngày càng dựa vào những tri thức, để

sự tăng trưởng và phát triển xã hội một cách bền vững thì phải dựa vào việc học hành và tu dưỡng của con người

Trang 27

Tóm lại, nhờ những thành thành tựu của KH - CN, nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức thì một xã hội "hậu công nghiệp" sẽ xuất hiện với việc học tập diễn ra suốt đời, xã hội này chính là XHHT

1.3.2 Đặc trưng của XHHT

Đề án “Xây dựng XHHT giai đoạn 2012 - 2020” đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước: 1) Trong XHHT, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; 2) Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh

tế, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được HTSĐ; 3) Xây dựng XHHT dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên

Quán triệt các quan điểm chỉ đạo trên, cũng như các kết quả nghiên cứu gần đây về XHHT của các nhà khoa học Việt Nam, các đặc trưng cơ bản của XHHT được thể hiện:

- Mức độ tham gia học và cách học của người dân trong cộng đồng, trong đó

mọi người đều học, học thường xuyên học suốt đời dưới nhiều hình thức và phương thức khác nhau nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân

- Có hệ thống giáo dục mở nhằm tạo điều kiện thực sự cho mọi người được HTSĐ cung cấp các chương trình giáo dục đa dạng có chất lượng, mà trước hết là tạo ra những cơ hội học tập cho mọi đối tượng có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính và tín ngưỡng tôn giáo, mềm dẻo và đa dạng, khả thi trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau Nhờ

đó, sẽ tạo ra những cơ hội và điều kiện để mỗi con người luôn luôn được hưởng những thành tựu KH - CN, được cập nhật những tri thức mới và được ứng dụng những tri thức mới vào công việc và vào cuộc sống

- Huy động các lực lượng tham gia xây dựng XHHT Để xây dựng được một

XHHT cần huy động, tận dụng mọi khả năng cung cấp và sự cam kết chính trị về tạo điều kiện cho mọi người được HTSĐ Nhà nước đảm bảo cho ai cũng được học

Trang 28

hành, học thường xuyên, học suốt đời, trong đó ý thức tự học, học một cách tự giác

là yếu tố quyết định nhất

- Phải có tác động của XHHT đến phát triển kinh tế - xã hội Một XHHT phải

là một xã hội phát triển, bền vững và phải có tác dụng thực sự đối với cải thiện chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng đồng

1.3.3 Vai trò của trung tâm học tập cộng đồng góp phần xây dựng XHHT và phát triển kinh tế- xã hội

1.3.3.1 Đặc trưng của TTHTCĐ

a) TTHTCĐ là cơ sở của GDKCQ tại xã, phường, thị trấn, do cộng đồng thành lập và quản lý để phục vụ cho lợi ích của mọi người dân trong cộng đồng Vì vậy, TTHTCĐ là thiết chế giáo dục của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng TTHTCĐ hoạt động theo quy chế riêng được Bộ GDĐT ban hành (Quyết định số 09/QĐ-BGDĐT ngày 24/3/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT) Những quy định trong quy chế này đã cho thấy những khác nhau cơ bản giữa GDCQ và GDKCQ

Khác với các cơ sở giáo dục thuộc nhà nước, toàn bộ nhân sự của TTHTCĐ như: CBQL và giáo viên/hướng dẫn viên, cộng tác viên…đều là những người tham gia tự nguyện và không hưởng lương của nhà nước hoặc trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định, những người này có thể được hưởng một số kinh phí hỗ trợ

Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho TTHTCĐ cũng đều do nhân dân đóng góp hoạc vận động sự hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân tại địa phương Trụ sở của TTHTCĐ thường được mượn hoặc thuê của địa phương, nhà văn hóa, các cơ sở hoạt động xã hội khác, tại nhà người dân hoặc trong các trường học Các lớp học tổ chức rất

đa dạng có thể tại nhà văn hóa, thư viện, hội trường UBND hoặc trong các lớp học của trường phổ thông khi có thể

Chương trình giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo nghề của TTHTCĐ rất mềm dẻo, đa dạng, hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của những người dân tại địa phương và khả năng đáp ứng của TTHTCĐ Việc dạy học tại TTHTCĐ thực hiện theo phương châm

“cần gì học nấy” Thời gian hoạt động của TTHTCĐ cũng rất mềm dẻo, phụ thuộc vào

sự thống nhất của CBQL, giáo viên và học viên Nghĩa là không có giới hạn cố định về

Trang 29

thời lượng hay thời gian biểu trong ngày TTHTCĐ không cấp chứng chỉ hoặc bằng cấp cho người học Tài liệu và sách được sử dụng tại TTHTCĐ cũng rất đa dạng, phụ thuộc vào nhu cầu của người học và khả năng có sẳn của người dạy hoặc của TTHTCĐ Điều quan trọng là làm sao các tài liệu đó có thể đáp ứng được nhu cầu hiểu biết, học tập của người dân và mang lại niềm vui, hiệu quả lao động sản xuất cho họ

Kinh phí dành cho các hoạt động của TTHTCĐ có thể đến từ các nguồn khác nhau như: hỗ trợ của nhà nước, của địa phương hay do các nhà hảo tâm, các cá nhân tổ chức quan tâm tài trợ hoặc do thực hiện địch vụ giáo dục, đào tạo, chuyển giao công nghệ hoặc do đóng góp của người dân

1.3.3.2 Vai trò của TTHTCĐ trong việc xây dựng xã hội học tập

Các nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng cuộc cách mạng KH- CN hiện đại đã làm thay đổi căn bản kỹ thuật và công nghệ sản xuất, giúp loài người tạo ra một lượng của cải vật chất công nghiệp, từ năm 1970 trở lại đây bằng lượng của cải công nghiệp được làm trong suốt 270 năm trước đó Chính cuộc cách mạng KH- CN này

đã tạo ra những điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa, đồng thời buộc chúng ta phải đổi mới tư duy cho ngang tầm với trình độ tư duy kinh tế và tư duy kỹ thuật của thời đại Cụ thể:

- Các ngành sản xuất hiện đại đã đưa yếu tố thông tin và tri thức cùng với phương thức tiến hành sản xuất theo qui mô nhỏ và vừa lên hàng đầu, đẩy các yếu

tố cạnh tranh truyền thống xuống thứ yếu Yếu tố thông tin và tri thức trở thành điều kiện hết sức cơ bản của các quốc gia vươn lên trong cuôc chạy đua phát triển, trước hết là cuộc chạy đua về kinh tế, mà sự thể hiện tập trung là cạnh tranh khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao (high tech)

- Việc đề cao yếu tố thông tin và tri thức đã dẫn đến yêu cầu coi trọng chất lượng và số lượng về tư bản người hay vốn con người (Human Capital) Nói cách khác, các quốc gia phải xây dựng chiến lược con người, trong đó, chiến lược giáo dục được đặt ở vị trí trung tâm

- Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tạo ra “năm thế giới công nghệ”

mà sự tiếp cận với chúng không thực hiện được sẽ tạo ra bước tụt hậu quá lớn với

Trang 30

thế giới hiện đại: Thế giới công nghệ điều khiển (Cyber); Thế giới công nghệ gen (Gennomique), đặc biệt phải kể đến công nghệ nhân bản (Clonage); Thế giới công nghệ phỏng sinh học (bionique); Thế giới công nghệ nano (Nanotechnologie); Thế giới công nghệ lượng tử (Quantique)

- Vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, xu thế toàn cầu hóa kinh tế biểu hiện ngày càng rõ nét thông qua những hiện tượng quy tụ các quá trình xuyên quốc gia, làm tăng dòng giao lưu toàn cầu về vốn đầu tư, hàng hóa, lao động, dịch vụ, ngân hàng, thông tin Các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng đổ về những nước

có lợi thế về tri thức và tay nghề cao của nguồn nhân lực

Như vậy, để sống với thế giới hiện đại và theo kịp các nước phát triển, các quốc gia khác phải tự xây dựng cho mình một kho tàng trí tuệ đồ sộ và phong phú, phải

có được nguồn nhân lực chất lượng cao, có đủ năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, có đội ngũ lao động tri thức (knowledge worker) thích ứng cao với thế giới công nghệ hiện đại Muốn vậy, mỗi con người phải lấy sự học làm lẽ sống của mình, đúng như Lênin đã kêu gọi: “ Học, học nữa, học mãi!”

Việc xây dựng xã hội học tập gồm hai giai đoạn:

- Giai đoạn đầu: phải gắn liền với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển xã

hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội

Phát triển xã hội học tập để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững phải dựa vào khoa học và công nghệ, dựa vào một nền sản xuất bền vững Sự gia tăng kinh tế phải đi cùng với một nền sản xuất bền vững bảo đảm sự công bằng xã hội Tăng trưởng kinh tế chưa hẳn đã mang lại sự phát triển xã hội, bởi thu nhập tăng nhưng xã hội thiếu công bằng, thiếu dân chủ, thiếu văn minh thì chỉ là xã hội lạc hậu Xã hội phát triển phải là xã hội có nhiều khả năng lựa chọn đối với người dân trong cuộc sống hàng ngày của họ

- Giai đoạn thứ hai: xây dựng xã hội học tập để phát triển kinh tế tri thức

Để phát triển kinh tế tri thức phải có được nguồn nhân lực chất lượng cao mà hướng đầu tư như sau: 1) Nhanh chóng phát triển hệ thống giáo dục sau trung học trong cộng đồng để trí thức hóa công, nông, tạo ra đội ngũ lao động trí thức Đại

Trang 31

chúng hóa giáo dục sau trung học là một hướng phát triển giáo dục quan trọng 2) Tăng đầu tư cho giáo dục để tăng tư bản người (hay vốn con người) Tư bản người

là tổng hợp các khả năng sản xuất của người lao động và đồng thời là các khoản chi phí của nhà nước, của doanh nghiệp và của mỗi người cho việc hình thành và thường xuyên hoàn thiện những khả năng đó 3) Phải có đội ngũ nhân tài đông đảo về các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, khoa học, công nghệ, quân sự, quản lý kinh tế và quản

lý xã hội, có đủ năng lực sáng tạo ra những công nghệ mới, làm chủ những công nghệ cao, bình đẳng với các quốc gia trong vấn đề trao đổi, chuyển giao công nghệ, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm động lực cho sự phát triển xã hội học tập, xây dựng con người Việt Nam hiện đại 4) Thực hiện một nền giáo dục hiện đại cho 100% dân cư với yêu cầu phát triển hết mọi năng lực sẵn có trong mỗi con người như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn Đó là một nền giáo dục phát triển mạnh mẽ cá tính con người, phát huy mạnh mẽ năng lực con người, làm cho mỗi con người là một chủ thể sáng tạo trong một xã hội văn hóa và văn minh (Phạm Tất Dong, 2011) Sự tăng trưởng và phát triển XH một cách bền vững phải dựa vào việc học hành và tu dưỡng của con người Nói một cách khác,

GD trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi quá trình phát triển KT-XH, nhờ những thành thành tựu của KH - CN, nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức thì một xã hội "hậu công nghiệp" sẽ xuất hiện với

việc học tập diễn ra suốt đời, xã hội này được gọi là XHHT

Tóm lại, TTHTCĐ góp phần đắc lực vào việc xây dựng XHHT bằng chính đặc trưng riêng có của nó TTHTCĐ là thiết chế GDKCQ của cộng đồng; do cộng đồng

và vì cộng đồng; khai thác được các nguồn lực trong xã hội hỗ trợ cho hoạt động học tập tại cộng đồng; chương trình học đa dạng; được chia sẻ các nguồn đào tạo, tri thức của nhân loại Sự tiến bộ của mỗi cá nhân nhận được sự ủng hộ bởi các hoạt động học tập trao đổi tương tác với nhau trong các tổ chức học tập trong cộng đồng;

Có sự tiếp cận xã hội phổ biến với các công nghệ học tập, với mạng lưới học tập và làm việc trong các cộng đồng; được nghiên cứu về các chương trình, cách thức học tập, về sức khỏe, chính sách pháp luật, về chất lượng cuộc sống,…đã tạo ra nhu cầu,

Trang 32

động lực học tập cho mọi người và mọi người đã được tạo cơ hội được học tập

thường xuyên, HTSĐ Như vậy, có thể thấy xây dựng, phát triển TTHTCĐ là cần thiết, quan trọng để góp phần xây dựng thành công XHHT ở nước ta

1.3.3.3 Vai của TTHTCĐ trong việc phát triển kinh tế- xã hội

Theo tác giả Phạm Tất Dong cho rằng, TTHTCĐ có 4 chức năng chính: chức năng giáo dục và huấn luyện, chức năng thông tin và tư vấn, chức năng phát triển cộng đồng và chức năng liên kết phối hợp

Chức năng giáo dục và huấn luyện

Để tạo cơ hội cho mọi người dân trong cộng đồng nhất là người lao động đang thiếu thông tin, những người thiệt thòi nhiều trong cuộc sống như nghèo đói, ở vùng hẻo lánh, trẻ mồ côi không có điều kiện đi học…TTHTCĐ phải có nhiều chương trình học tập để ai cũng tìm được một chương trình phù hợp Mặt khác, TTHTCĐ còn phải biết tư vấn và tìm thông tin để cung ứng cho người dân Điều đặc biệt là muốn nhập học, người dân không phải thực hiện những thủ tục chặt chẽ, không có yêu cầu về bằng cấp và không cần cấu tạo chương trình học với tính liên tục khiến cho học viên khó theo hết một bài học hoặc một chuyên đề

Sự đa dạng về chương trình, về bài học, về chuyên đề là hết sức cần thiết cho “cần

gì học nấy” Hiện nay, các TTHTCĐ thường thực hiện chức năng giáo dục và huấn luyện ở những chương trình sau:

- XMC cho thanh niên và người lớn

- Các lớp học tình thương cho trẻ em thất học

- Các chương trình sau XMC

- Các chương trình tương đương (giáo dục bổ túc tiểu học, THCS)

- Các chương trình tạo thu nhập (dạy nghề ngắn hạn, tập huấn về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ…)

- Các chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống (chuyên đề về sức khỏe, dinh dưỡng, dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội, pháp luật…)

- Các chương trình đáp ứng sở thích cá nhân (chụp ảnh, cắm hoa, thêu ren, nấu

Trang 33

nướng, vẽ…)

- Các chương trình chuẩn bị cho tương lai (ngoại ngữ, tin học…)

Sự phối hợp trong giáo dục là rất cần, bởi cán bộ có thể làm việc thường xuyên của TTHTCĐ thì rất ít, mà những vấn đề huấn luyện giáo dục lại rất đa dạng Do vậy, TTHTCĐ luôn phải phối hợp với các lực lượng khác như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ

nữ, trại chăn nuôi, cán bộ khuyến nông…để tiến hành các bài giảng, các chuyên đề khoa học và công nghệ…

Chức năng thông tin và tư vấn

Nhu cầu thông tin và cách thức tìm kiếm thông tin của người dân là rất đa dạng

Để cung ứng thông tin, giới thiệu nguồn tin, cách thức tiếp cận với thông tin thường phải dựa vào đội ngũ làm công tác văn hóa, khoa học, kỹ thuật ở địa phương hoặc nhờ

sự giúp đỡ của chuyên gia ở gần TTHTCĐ Việc tiến hành công việc này càng bức thiết khi địa phương không có thư việc hoặc bưu điện văn hóa Ở nhiều tỉnh, thành phố, các TTHTCĐ có tủ sách Tuy nhiên, với nguồn kinh phí của TTHTCĐ rất hạn hẹp, số sách báo thường rất ít ỏi

Những vấn đề mà người dân cần được TTHTCĐ tư vấn là bảo vệ sức khỏe, chữa bệnh, cách dùng thuốc, tìm kiếm việc là, giá cả thị trường, tín dụng, hôn nhân - gia đình, chăn nuôi, trồng trọt

Các hình thức cung cấp thông tin cũng rất đa dạng, như:

- Tổ chức giới thiệu sách;

- Thông báo về các nguồn tin;

- Sử dụng hệ thống truyền thanh của xã, phướng, thị trấn;

- Làm bảng tin…

Chức năng tổ chức, hỗ trợ các hoạt động để phát triển cộng đồng

Thực hiện chức năng này, TTHTCĐ thường tổ chức các hoạt động như:

- Biểu diễn thể dục, thi đấu thể thao, luyện tập dưỡng sinh;

- Tổ chức trao đổi, mạn đàm về công việc;

- Xem chiếu bóng, băng video, phim đèn chiếu;

- Dịch vụ khám cữa bệnh;

Trang 34

- Hỗ trợ các dự án đang triển khai ở địa phương như chương trình xóa đói giảm nghèo, dự án cho vay vốn với lãi suất thấp, chương trình xây dựng quỹ khuyến học, chương trình chống suy dinh dưỡng, chương trình tiêm chủng dự phòng…

Chức năng liên kết phối hợp

Rất nhiều công việc ở địa phương cần được tiến hành với sự liên kết hoặc phối hợp giữa TTHTCĐ với các tổ chức khác, các lực lượng xã hội như với Hội người cao tuổi điều tra nhu cầu học tập của người lớn tuổi, với Đoàn Thanh niên tổ chức huấn luyện cho thanh niên làm trang trại, phối hợp với Hội Phụ nữ về kế hoạch hóa gia đình, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em…

Mặt khác, trong quá trình xây dựng và phát triển TTHTCĐ đã xuất hiện nhiều

mô hình khác nhau của cơ sở giáo dục này, tuỳ thuộc hoàn cảnh thực tế của từng nước Nhìn chung có các mô hình TTHTCĐ:

- TTHTCĐ nằm trong trường phổ thông hoặc trường đại học, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên bổ sung kiến thức, kỹ năng để nhận các bằng cấp chuyên môn

- TTHTCĐ của xã/phường/thị trấn: đây là cơ sở giáo dục của cộng đồng, vì cộng đồng và do cộng đồng tự quản lý, là nơi mọi người dân có thể thực hiện việc học tập suốt đời của mình Loại mô hình TTHTCĐ này hiện được UNESCO khuyến cáo phát triển và đang rất phổ biến ở Việt Nam

- TTHTCĐ mang tính tổng hợp

Mô hình TTHTCĐ mang tính tổng hợp vừa phản ánh những đặc trưng của hai loại mô hình nói trên, vừa thể hiện tính xã hội hoá cao trong giáo dục Với mô hình này, tất cả các tổ chức xã hội đều là nơi cung ứng giáo dục và xã hội là XHHT Khi các quốc gia chuyển nền giáo dục của mình sang hệ thống giáo dục suốt đời thì TTHTCĐ mang tính tổng hợp sẽ trở thành một mô hình giáo dục lý tưởng Đối với Việt Nam, trong giai đoạn hiện tại, mô hình TTHTCĐ, theo chúng tôi cần bao gồm các đặc điểm như sau:

i) TTHTCĐ là cơ sở học tập của cộng đồng, được thành lập ở xã/phường/thị trấn, hoạt động theo phương thức giáo dục không chính quy

ii) TTHTCĐ chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của cấp uỷ Đảng, chính quyền

Trang 35

cơ sở; sự phối hợp của các ban ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội; Ngành Giáo dục thực hiện chức năng quản lý Nhà nước

iii) Mỗi TTHTCĐ có một Ban quản lý bao gồm đại diện cấp uỷ, chính quyền, các ban, ngành đoàn thể và các tổ chức xã hội…

iv) Đội ngũ giáo viên của TTHTCĐ là cán bộ chuyên môn của các ban, ngành, đoàn thể, cán bộ kỹ thuật, giáo viên về hưu…

v) Các nguồn lực cho hoạt động của TTHTCĐ được huy động từ sự đóng góp của cộng đồng, sự hỗ trợ của tỉnh và Sở GDĐT

Sự ra đời của các TTHTCĐ đã tạo cơ hội cho mọi người, mọi lứa tuổi, tầng lớp, mọi nơi, mọi lúc được học tập, được tạo cơ hội để tăng hiểu biết, được phổ biến để có thể nắm và ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào lao động, sản xuất Nhiều TTHTCĐ đã triển khai rất hiệu quả các chuyên đề về thành tựu khoa học kỹ thuật, chuyển giao ứng dụng công nghệ vào thực tế sản xuất đã góp phần thúc đẩy sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế tạo điều kiện phát triển kinh tế ở các địa phương Không ít hoạt động học tập về kiến thức văn hóa xã hội được triển khai trong các TTHTCĐ, thông qua các chuyên đề xây dựng nếp sống mới ở nông thôn, chăm sóc sức khỏe trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, các chương trình đọc sách báo, sinh hoạt CLB thơ, dạy hát quan họ, hát chèo Phong trào học tập của các TTHTCĐ đã thực

sự gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng TTTHTCĐ tham gia đào tạo nghề cho nông dân, nâng cao năng suất lao động góp phần xây dựng nông thôn mới Trong đó, việc đào tạo nghề cho nông dân là một thành phần cơ bản để xây dựng nông thôn mới và là cơ sở để xây dựng XHHT và cơ hội để mỗi nông dân được HTSĐ Học suốt đời và xây dựng XHHT ở nông thôn nước ta là để phát huy nhân tố nông dân, động lực phát triển trực tiếp nông thôn Việt Nam trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là lợi ích của từng nông dân, từng gia đình và của từng cộng đồng làng, xóm

Tóm lại, từ việc nghiên cứu về chức năng và mô hình của TTHTCĐ nêu trên,

chúng ta có thể thấy TTHTCĐ là thiết chế giáo dục quan trọng nhất, đáp ứng nhu cầu GDCMN một cách thường xuyên và trong suốt cả cuộc đời Vì vậy, để xây dựng

Trang 36

XHHT và phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam cần gắn chặt với quản lý phát triển bền vững TTHTCĐ

1.4 Quản lý phát triển TTHTCĐ theo hướng phát triển bền vững

1.4.1 Bối cảnh thời đại và xu thế phát triển của giáo dục suốt đời

Bối cảnh thời đại và xu thế phát triển của giáo dục suốt đời tác động đến sự phát triển của TTHTCĐ nói chung, quản lý phát triển TTHTCĐ nói riêng Chúng vừa tạo

cơ hội, vừa đặt ra những thách thức đối với công tác quản lý phát triển TTHTCĐ

1.4.1.1 Mục đích học tập

Đối tượng học tập ở các TTHTCĐ thường là những người lớn Người lớn có những đặc điểm về tâm - sinh lý, nhu cầu, điều kiện học tập nhất định cần phải được quan tâm khi tổ chức hoạt động học tập cho họ ở các TTHTCĐ Người lớn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như Sinh học, Xã hội học, Chính trị học, Tâm lý học, Giáo dục học…Dưới góc độ Tâm lý học - Giáo dục học, người lớn được xem là những người trưởng thành về mặt tâm - sinh lý và về mặt xã hội là những người có khả năng lao động tự lập, có khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm trước những hành vi của mình; là những người đã tự lập về kinh tế, đã

có gia đình, con cái…

Tác giả Thái Xuân Đào [21] đã nêu lên một số đặc điểm của học viên người lớn, đó là:

Khác với trẻ em, người lớn là những người tự lập, có lòng tự trọng cao Họ muốn được người khác tôn trọng;

Khác với trẻ em, người lớn có vốn kinh nghiệm sống và sản xuất Vốn kinh nghiệm của người lớn là những tư liệu thực tế rất có giá trị, giúp quá trình nhận thức của họ nhanh hơn, dễ dàng hơn Tuy nhiên, kinh nghiệm cũng thường tạo cho người lớn “ tính bảo thủ”, “cảm giác biết rồi” làm cản trở việc học tập của họ;

Nhu cầu học tập của người lớn khác trẻ em Người lớn đi học do đòi hỏi của công việc, của vai trò mà người lớn đảm nhận (vai trò của người sản xuất, người vợ, người chồng, cha mẹ, người công dân…);

Mục đích học tập của người lớn là học những cái thiết thực, những cái có khả

Trang 37

năng vận dụng được ngay

1.4.1.2 Đặc điểm học tập

Tính mục đích trong hoạt động học tập rất rõ ràng: khi tham gia học tập, bao giờ người học cũng đặt ra cho mình một mục đích nhất định.Thông thường, mục đích đó gắn liền với những công việc mà họ đang tiến hành hàng ngày Người học thường đặt ra những câu hỏi như: những điều được học có ích lợi gì ? dùng để làm

gì ? có dùng được không ?

Tính chủ động trong học tập cao: khác với trẻ em, người lớn thường chủ động hơn trong học tập Họ mong muốn được tham gia vào các hình thức học tập phong phú để có thể tự thể hiện mình

Tính thực hành trong hoạt động học tập đậm nét: người lớn, học luôn gắn với hành Những kiến thức mà họ tiếp thu được trong quá trình học tập được áp dụng ngay vào công việc, vào giải quyết các vấn đề đang đặt ra đối với họ

Chịu sự chi phối của những trạng thái tâm lý khác nhau: trong quá trình học tập, người học có thể chịu sự chi phối của hai trạng thái tâm lý đối lập nhau: tự ti và

tự tôn Cả hai trạng thái tâm lý này đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của người lớn Ngoài ra, những trạng thái tâm lý khác, như không yên tâm học tập, không tập trung tư tưởng cho học tập cũng tác động đến học viên người lớn

1.4.1.3 Về nội dung học tập

Trên thế giới, vấn đề học tập tại cộng đồng dân cư có nội dung hết sức phong phú với cách thức tổ chức đa dạng Tại nhiều nước ở Châu Á, người ta tổ chức các TTHTCĐ, nhất là ở Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Philippines, Malaysia, Việt Nam , còn ở nhiều quốc gia khác, họ phát triển mạnh các hình thức học gắn với cộng đồng nhưng thường tổ chức thành những dự án như học tập tại nơi làm việc, học tập tại nhà, học tập điện tử… Tuy nhiên, hầu như các quốc gia đều tổ chức học tập suốt đời cho người dân gắn với các cộng đồng dân cư, xoay quanh 4 trụ cột giáo dục như UNESCO khuyến cáo:

Học để biết (Learning to Know)

Học để làm (Learning to do)

Trang 38

Học để chung sống (Learning to live together)

Học để làm người (Learning to be)

Bốn trụ cột giáo dục này được Jacques Delors [125] trình bày trong báo cáo

của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đệ trình UNESCO, có tiêu đề: Học tập - một kho báu tiềm ẩn (Learning: The Treasure within)

Trước Jacques Delors, vào những năm 60 của thế kỷ XX, Donal Alan Schon

[118] đã đưa ra khái niệm “Xã hội học tập” (The Learning Society) khi bàn đến một

hệ thống giáo dục trong xã hội, trong đó, con người được HTSĐ (Life long Learning) Vấn đề trung tâm ở đây là tổ chức học tập của người lớn sao cho có hiệu nghiệm ngay trong từng cộng đồng dân cư Những người quan tâm và thúc đẩy việc học của người lớn là M.Hutchino, Turten Husen [122,123] và nhiều người khác

Nói đến việc HTSĐ, Edgar Faure - người lãnh đạo Ủy ban Quốc tế về phát triển

giáo dục thế kỷ XXI - đã nhấn mạnh đến khái niệm “Learning to be” (Học để tồn tại, mà ý nghĩa sâu xa là học để làm người) Trong ý tưởng này, Edgar Faure cho rằng, kiến thức giáo dục ban đầu không bao giờ đủ dùng trong suốt cuộc đời

Khi một số nước Châu Á phát triển một loại thiết chế giáo dục không chính quy gắn với cộng đồng, gọi là TTHTCĐ thì UNESCO đã coi đây là một phát kiến vĩ đại,

mở ra một hướng học tập suốt đời dựa vào cộng đồng, gắn với cộng đồng và vì sự phát triển của cộng đồng

Roberto Carneiro [138] đã viết bài với nhan đề “Làm sống lại tinh thần cộng

đồng: Một cách nhìn về vai trò xã hội hóa của nhà trường trong thế kỷ tới” Nội dung bài đã đề cập tới một vấn đề quan trọng: Bất cứ thiết chế giáo dục nào cũng phải coi như một lĩnh vực hành động công cộng Chính vì thế, trường học, trong đó có TTHTCĐ - một loại hình trường học nằm trong cộng đồng dân cư dành cho người lớn, đều phải được tổ chức trong sự liên kết và cơ động xã hội cũng như trong việc phục vụ đời sống của cộng đồng

Các thiết chế giáo dục tại cộng đồng luôn phải đồng hành với xã hội hóa và đi theo việc học tập suốt đời của mỗi người dân

Trong bài viết: “Sự gắn kết, đoàn kết và sự loại trừ” Bronislaw Geremet [117]

Trang 39

cho rằng, việc tổ chức học tập trong cộng đồng phải được tổ chức và quản lý sao cho mỗi người học có được sự gắn bó với người khác và luôn có cơ hội để học tập, không

bị loại trừ ra khỏi việc học Đó là yêu cầu tối thượng đối với việc thực hiện ý tưởng học tập suốt đời Chẳng hạn, thất nghiệp là hiện tượng loại trừ xã hội, mà một trong những nguyên nhân là do con người bị loại trừ ra khỏi giáo dục Vì vậy, xã hội phải tạo mọi điều kiện và cơ hội cho bất cứ ai cũng được học tập, nhất là những người nghèo khó đang sống trong những cộng đồng nhiều khó khăn.Việc học tập được tổ chức trong cộng đồng sẽ luôn luôn đối lập với sự loại trừ

Cùng với quan điểm này, Alexsandra Korhauser [115] đã có bài “Tạo các cơ hội”, trong đó, khái niệm “Phát triển con người bền vững” được nhấn mạnh Muốn đạt mục tiêu này thì việc học tập phải được tổ chức và điều chỉnh để cung cấp những

kỹ năng và tích hợp những giá trị cần thiết cho người học

Một trong những điều Alexsandra Korhauser muốn nói đến là việc tổ chức học tập trong cộng đồng phải coi khoan dung như một giá trị cần thiết Khoan dung phải thể hiện ở sự chung sống cùng nhau và hợp tác tích cực Sự tôn trọng người khác và nền văn hóa khác là yếu tố cốt lõi của khoan dung

Để phát triển con người bền vững, việc tổ chức học tập tại cộng đồng phải gắn việc học tập của người dân với việc làm Ngay trong các thiết chế nằm giữa cộng

đồng, việc học tập không chỉ cung cấp những kiến thức phổ thông, mà phải cố gắng hướng tới giáo dục bậc ba thông qua các chương trình chuyển giao tri thức và công nghệ

Những lý luận gia về HTSĐ có sự quan tâm tới việc tạo nên sự đồng thuận xã hội và gắn kết xã hội như một kết quả nhất thiết của tổ chức học tập ở cộng đồng Michael Manley [130] tác giả bài viết “Giáo dục, sự tự chủ và sự hàn gắn xã hội” Ông cho rằng, trong xã hội hiện đại, sự phân tầng xã hội và hiện tượng chia rẽ cộng đồng này với cộng đồng khác đang diễn ra, vấn đề là, giáo dục phải góp phần giải quyết vấn đề này, mà trước là mang lại những tri thức mới để con người thoát ra khỏi sự nghèo hèn và những chuẩn mực sống cũng như những kỹ năng xã hội để mỗi người dân tự chủ được trong xã hội đang biến động mạnh mẽ và mau chóng

Trang 40

Nhiều tác giả cho rằng, chương trình giảng dạy, đào tạo tại cộng đồng phải được nhà quản lý giáo dục chăm lo, nội dung đưa vào các lớp học, các hội nghị tập huấn… cần có sự định hướng vào những giá trị lớn có tính toàn cầu Karan Singh [127] đã viết một bài về “Giáo dục vì một xã hội toàn cầu” Học viên của các cộng đồng học tập cần có những tri thức sau:

+ Trái đất là một ngôi nhà toàn cầu, đang bị chấn động Nói cho cùng, loài người là một gia đình mở rộng toàn cầu, có trách nhiệm bảo vệ nhau khỏi những chấn động;

+ Hệ sinh thái của trái đất cần được bảo vệ để tránh bị phá hoại một cách không suy nghĩ, tài nguyên không bị khai thác bừa bãi, mà phải ngày càng phong phú hơn; + Lòng hận thù giữa một số quốc gia, một số dân tộc, chủ nghĩa cuồng tín, lòng tham và sự đố kỵ phải được hạn chế lại - Giáo dục có trách nhiệm trong việc này

Để chung sống, thông qua học tập, con người biết chấp nhận và tôn trọng hiện trạng đa văn hóa trên thế giới Rododfo Stavenhagen [139] cho rằng, “Giáo dục phải

vì một thế giới đa văn hóa” Luận điểm của ông là: Người hàng xóm của tôi có lẽ không còn là người giống tôi nữa, phải tôn trọng họ, tôn trọng cái không giống tôi của họ Các quốc gia hiện đại ngày nay không còn thuần nhất một dân tộc, vì thế trong mỗi quốc gia, tính đa dạng về văn hóa đang hiện lên ngày càng rõ nét Chung sống phải là mục tiêu cuối cùng của giáo dục Đó là nội dung chính trong một tác phẩm có tên “Mở rộng hiểu biết của chúng ta vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người” của Myong Won Suhr [134] M.W.Suhr, người lớn (những công dân) cần nhận thức rằng, chính sách đóng cửa của nhiều quốc gia sẽ hạn chế sự hiểu biết lẫn nhau trong cộng đồng thế giới, và đây là một trở ngại cho việc xây dựng lý tưởng về một nền hòa bình chung, về an ninh quốc gia và an ninh con người, về hợp tác và đoàn kết quốc tế

Vấn đề chuyển kỹ năng thành năng lực

Thập kỷ xóa mù chữ của Liên Hiệp quốc (2003 - 2012) tập trung vào việc xóa

mù chữ cơ bản cho người lớn Tuy nhiên, công việc này dù có những thành quả lớn nhưng nạn mù chữ cơ bản vẫn là vấn đề nhức nhối Thế giới chuyển sang trọng tâm

Ngày đăng: 29/12/2018, 08:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w