1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tạp chí Nghề cá sông Cửu Long: Số 15/2019

93 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát tính kháng khuẩn của cao chiết quế (Cinnamomum verum) và gừng (Zingiber officinale Rose) tách chiết bằng ethanol đối với các chủng vi khuẩn Streptococcus agalactiae phân lập trên cá rễ phi giống (Oreochromis spp.)
Tác giả Đoàn Văn Cường, Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, Mã Tú Lan, Nguyễn Thành Nhân
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Sáng, TS. Phan Thanh Lâm, ThS. Hoàng Thị Thủy Tiến
Trường học Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2019
Thành phố thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 4,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Nghề cá sông Cửu Long: Số 15/2019 trình bày các nội dung chính sau: Khảo sát tính kháng khuẩn của cao chiết quế (Cinnamomum verum) và gừng (Zingiber officinale Rose) tách chiết bằng ethanol đối với các chủng vi khuẩn Streptococcus agalactiae phân lập trên cá rô phi giống (Oreochromis spp.), tổng quan về bệnh columnaris trên cá nước ngọt, đánh giá biến động thành phần loài, mật độ cá bột và cá con ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2019,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG

TS PHAN THANH LÂM

Thư ký tòa soạn:

ThS HOÀNG THỊ THỦY TIÊN

Email: ria2@ mard.gov.vn

In tại: Công ty In Liên Tường

240/59-61-63 Nguyễn Văn Luông

Quận 6, TP HCM

Khảo sát tính kháng khuẩn của cao chiết quế (Cinnamomum verum) và gừng (Zingiber officinale Rose) tách chiết bằng ethanol đối với các chủng vi khuẩn Streptococcus agalactiae phân lập trên cá

rô phi giống (Oreochromis spp.).

Antibacterial activity of cinnamon bark (Cinnamomum verum) and ginger (Zingiber officinale rose) ethanol extract against Streptococcus agalactiae isolated from tilapia fingerlings (Oreochromis spp.)

ĐOÀN VĂN CƯỜNG, NGUYỄN THỊ NGỌC TĨNH,

MÃ TÚ LAN, NGUYỄN THÀNH NHÂN

Sự hiện diện của white spot syndrome virus, Vibrio parahaemolyticus và Enterocytozoon hepatopenaei trên tôm giống và tôm nuôi nước lợ ở Đồng bằng sông Cửu Long.

The prevalence of white spot syndrome virus (WSSV), Vibrio parahaemolyticus and Enterocytozoon hepatopenaei in postlarvae and grow-out brackish-water shrimps in the Mekong delta.

LÊ HỒNG PHƯỚC, NGUYỄN HỒNG LỘC

Tổng quan về bệnh columnaris trên cá nước ngọt.

A review of columnaris disease on freshwater fish.

NGUYỄN NGỌC DU

Thử nghiệm ương cá chẽm giống (Lates calcarifer Bloch, 1790) cỡ 3 - 10 cm trên bể composite ở các mật độ khác nhau.

Rearing sea bass fingerlings (Lates calcarifer Bloch, 1790) with total length of 3-10 cm in composite tank at different density.

TRẦN VĂN NHIÊN, NGUYỄN XUÂN HÙNG, NGUYỄN VĂN LƯƠNG, NGUYỄN HỮU THANH

Trang 3-14

15-23

24-33

34-42

Trang 2

Phân tích hiệu quả kỹ thuật của mô hình

nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại

Đồng bằng sông Cửu Long.

Analysis of technical efficiency of intensive

white-leg shrimp farming in Mekong delta.

NGUYỄN VĂN PHỤNG, PHAN THANH LÂM

Đề xuất phương án sắp xếp vùng nuôi cá

lồng bè trên hồ Trị An

Proposal project on arrangements of fish

cage culture area in Tri An reservoir.

NGUYỄN NGUYỄN DU, PHAN THANH LÂM

Đánh giá biến động thành phần loài, mật

độ cá bột và cá con ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2019.

Evaluate variation on composition, density

of fish larvae and fingerling in the Mekong river delta in 2019.

TRẦN THÚY VY, NGUYỄN NGUYỄN DU, HUỲNH

HOÀNG HUY VÀ ĐINH TRANG ĐIỂM

Ứng dụng GIS thể hiện sự phân bố, biến động thành phần loài và sản lượng khai thác cá vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2017 – 2019.

Applications of GIS to display distribution, fluctuation on species composition and fish catch in the Mekong delta during the peri- ods of 2017 – 2019.

HUỲNH HOÀNG HUY, NGUYỄN NGUYỄN DU

83-93 57-70

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên cá rô phi, bệnh lồi mắt, xuất huyết

thường xuất hiện vào mùa mưa và các tháng

giao mùa ở Đồng bằng sông Cửu Long và

Đông Nam Bộ, với tỷ lệ chết cao (gần như

100% từ khi phát hiện bệnh), gây thiệt hại

kinh tế nghiêm trọng cho người nuôi, bệnh

này được xác định do vi khuẩn Streptococcus

agalactiae gây ra (Đặng Thị Hoàng Oanh và

ctv., 2012) Vi khuẩn Streptococcus agalactiae

được biết đến như là tác nhân gây bệnh và gây

chết nghiêm trọng trên nhiều loài cá nước ngọt

và nước mặn như: cá hồi vân (Oncorhynchus

mykiss), cá rô phi (Oreochromis sp.), cá cam

(Seriola quinquerodiata), cá phèn (Upeneus

moluccensis) , cá chim (Stromateoides) Tháng

7-9/2009, dịch bệnh xảy ra gây chết với tỷ lệ cao

86,5-100% tại Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương,

Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hà Giang

(Viện NCNT Thuỷ sản I, 2017) S agalactiae là

một trong hai loài vi khuẩn chính ảnh hưởng đến việc sản xuất cá rô phi trên thế giới, loài còn lại

là S iniae (Evans và ctv., 2006) Nghiên cứu của Brian cho thấy, bệnh do vi khuẩn Streptococcus

gây ra trên cá rô phi ở các nước Châu Á như: Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Philippines,

Thái Lan là S agalactiae type 2 (Brian Sheehan

và ctv., 2009) Chủng vi khuẩn S agalactiae

type 2 cũng được phân lập từ các mẫu cá rô phi

đỏ có dấu hiệu xuất huyết và phù mắt tại Việt Nam (Đặng Thị Hoàng Oanh và ctv., 2012) Hiện nay, giải pháp phổ biến để phòng trị bệnh nhiễm khuẩn trên cá là sử dụng kháng sinh hay hóa chất Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh, hóa chất vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, gây nên hiện tượng kháng kháng sinh ở các loài vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản,

và truyền các gene kháng kháng sinh cho các loài vi khuẩn trong môi trường và vi khuẩn gây bệnh trên người Ngoài ra, việc tích lũy kháng

KHẢO SÁT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA CAO CHIẾT QUẾ

TÁCH CHIẾT BẰNG ETHANOL ĐỐI VỚI CÁC CHỦNG VI KHUẨN

Streptococcus agalactiae PHÂN LẬP TRÊN CÁ RÔ PHI GIỐNG

(Oreochromis spp.)

Đoàn Văn Cường 1*, Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh 1, Mã Tú Lan1, Nguyễn Thành Nhân1

TÓM TẮT

Vi khuẩn Streptococcus agalactiae được biết đến như là tác nhân gây bệnh và gây chết nghiêm

trọng trên nhiều loài cá nước ngọt và nước mặn Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát hiệu quả

kháng khuẩn đối với hai chủng vi khuẩn Streptococcus agalactiae được phân lập từ cá rô phi bị

bệnh lồi mắt, xuất huyết thu tại thành phố Hồ Chí Minh bởi cao chiết quế và gừng, được tách chiết bằng phương pháp ngấm kiệt với dung môi ethanol ở 3 nồng độ riêng rẻ (96%, 72%, 48%) và liên tục (96% tiếp đến 72% và 48%) Kết quả cho thấy cao chiết quế trong dung môi ethanol 96% cho đường kính vòng kháng khuẩn 29-34 mm, giá trị MIC = 2 mg/ml, MBC = 8 mg/ml; cao chiết gừng trong dung môi ethanol 96% cho đường kính vòng kháng khuẩn 14-17 mm, giá trị MIC = 1 mg/ml, MBC = 2 mg/ml Cao chiết quế và gừng trong ethanol 96% là hai loại cao thảo dược tiềm năng có

khả năng ứng dụng để phòng trị bệnh do Streptococcus agalactiae gây ra trên cá rô phi.

Từ khóa: cá rô phi, cao chiết gừng, cao chiết quế, phương pháp ngấm kiệt, Streptococcus agalactiae

1 Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II

* Email: vancuongdisaqua@gmail.com

Trang 4

sinh trong động vật thủy sản có thể gây hại cho

môi trường và cho người tiêu thụ Vì vậy, các

nhà khoa học đang tìm kiếm các giải pháp thay

thế (vaccine, probiotic…) trong việc kiểm soát

bệnh nhiễm khuẩn trong nuôi trồng thủy sản

Trong thời gian gần đây, việc sử dụng thảo dược

trong phòng trị bệnh nhiễm khuẩn đang ngày

càng trở nên phổ biến do những ưu điểm: dễ tìm

kiếm, giá thành thấp, hoạt tính kháng khuẩn cao,

có khả năng kích thích hệ miễn dịch tự nhiên

của vật chủ, thân thiện với môi trường, không

gây nên hiện tượng đề kháng thuốc và đặc biệt

đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với con

người (Rattanachaikunsopon và ctv., 2009)

Một số nghiên cứu đã chứng minh hoạt tính

kháng khuẩn của các loại thảo dược: cây xương

cá (Stella aquatic), hoa móc tay (Impatiens

biflora), cây anh thảo (Oenothera biennis), cây

ngải cứu (Artemisia vulgaris) và cây kim ngân

(Lonicera japonica) giúp kháng lại các bệnh do

vi khuẩn và virus ở cá (Shangliang, 1990) Dịch

chiết của cây ổi (Psidium guajava) có thể kiểm

soát bệnh xuất huyết do Aeromonas hydrophila

gây ra trên cá nước ngọt (Pachanawan và ctv.,

2008) Các nghiên cứu về cây dược liệu cũng

cho thấy rằng, củ hành tím (Allium ascalonicum)

có tác dụng kháng viêm và tiêu diệt các vi

khuẩn lây nhiễm (bao gồm cả vi khuẩn E.coli và

Salmonella), giúp tăng cường miễn dịch và được

xem như là loại thảo dược chứa các chất kháng

sinh tự nhiên cực kỳ an toàn và hiệu quả Đối

với nhóm vi khuẩn Streptococcus, đã có nhiều

nghiên cứu tìm ra một số loại thảo dược có tác

dụng kháng Streptococcus cũng như xác định

được loại dung môi tạo dịch chiết đạt hiệu quả

kháng Streptococcus mạnh nhất Dịch ép của cỏ

lào (Eupatorium odoratum) đã được đánh giá

là có khả năng kháng khuẩn đối với vi khuẩn

Streptococcus sp gây bệnh trên cá rô phi vằn

Dịch chiết lá hẹ (Allium tuberosum) có khả năng

kháng vi khuẩn Streptococcus sp cao, trong đó

nước, ethanol và methanol là các loại dung môi

cho dịch chiết có tác dụng kháng S.agalactiae

cao (Trương Thị Mỹ Hạnh, 2008) Dịch chiết

lá cây hương thảo (Rosmarinus officinalis) có

hiệu quả trị bệnh nhiễm khuẩn do Streptococcus

sp trên cá rô phi (Oreochromis spp.) (Abutbul

và ctv., 2004) Nghiên cứu thực hiện trên cá rô

phi lai (O niloticus x O aureus) trong 4 tuần với khẩu phần ăn có 0,5% tỏi (Allium sativum)

cho thấy có tác dụng nâng cao miễn dịch và tính đề kháng bệnh của cá (Ndong và ctv., 2007) Dịch chiết bằng nước của lá chùm ngây

(Moringa oleifera) có tác dụng kháng vi khuẩn

S agalactiae type 2 mạnh nhất, theo sau là chiết xuất bằng dung môi Chloroform của lá sầu đâu

(Azadirachta indica) (Kamble và ctv., 2014)

Dịch chiết vỏ quế (Cinnamomum verum), củ tỏi (Allium sativum), hoa đinh hương (Eugenia caryphyllus) , cỏ xạ hương (Thymus vulgaris) cũng có tác dụng kháng S agalactiae (Alsaid và ctv., 2010) Tác dụng kháng S agalactiae của

6 loại dịch chiết thảo dược muồng trâu (Cassia alata L) , măng cụt (Garcinia mangostana), xuyên tâm liên (Andrographis paniculata), ổi (P guajava) , duối nhám (S.asper), tỏi (Allium sativum) trong 3 dung môi khác nhau (nước, 95% ethanol, methanol) trên cá rô phi, kết quả cho thấy dịch chiết bởi dung môi nước của

xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) có tác dụng kháng S agalactiae mạnh nhất trong

số 6 loại thảo dược, với đường kính vòng vô khuẩn đạt 27,5 mm và giá trị MIC đạt 31,25 µg/ml Bên cạnh đó, dịch chiết bởi ethanol của

ổi (P guajava) và dịch chiết bởi nước của cây duối nhám (S asper) cũng có tác dụng kháng

S agalactiae mạnh Kết quả thí nghiệm in vivo

cho thấy khi cá rô phi ăn thức ăn có bổ sung bột lá xuyên tâm liên tách chiết bằng dung môi nước, đã giúp làm giảm tỉ lệ chết của cá khi gây

nhiễm với S agalactiae (Rattanachaikunsopon

và ctv., 2009).

Trước đây nhóm đã khảo sát trên mười loại dược liệu bằng phương pháp ngâm trong dung môi nước, ethanol 96% và methanol 96%, trong

đó quế và gừng ngâm trong ethanol và methanol

có tác dụng kháng Streptococcus agalactiae

cao nhất Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục khảo sát tính kháng khuẩn của 2 loại cao chiết thảo dược (gừng và quế) tách chiết bằng phương pháp ngấm kiệt trong dung môi ethanol với các nồng độ khác nhau nhằm tìm ra nồng độ

Trang 5

tối ưu cho tách chiết đối với hai chủng vi khuẩn

Streptococcus agalactiae CC-2.1 và Q9-8.1 thu

từ cá rô phi có biểu hiện xuất huyết, lồi mắt ở

Thu mẫu gan, thận, lách trên cá rô phi giống

đang bị bệnh lồi mắt, xuất huyết nuôi ao ở Trung

tâm Giống thủy sản và cây trồng tại xã Tân An

Hội, huyện Củ Chi và bè nuôi tại phường Long

Trường, quận 9, Tp Hồ Chí Minh Thu những

con cá còn sống, có các triệu chứng bệnh tích:

lồi mắt, xuất huyết (hậu môn, thân, đầu, nắp

mang,…), mổ cá và ghi nhận các dấu hiệu bệnh

lý bên trong cơ thể cá Dùng que cấy để lấy mẫu

bệnh phẩm trên các nội tạng gan, thận, lách Mẫu

bệnh phẩm được cấy trên đĩa môi trường

Brain-Heart Infusion Agar (110493, Merck) để phân

lập vi khuẩn và Blood Agar (110886, Merck) để

xác định các dạng tan huyết, trong đó tan huyết

dạng β là tan huyết hoàn toàn xung quanh khuẩn

lạc, tan huyết dạng α là chỉ tan huyết một phần

và có màu xanh hoặc nâu xung quanh khuẩn

lạc (Buxton, 2005) Đĩa cấy được ủ ở nhiệt độ

35°C trong tủ ấm (Memmert-UFB 400) trong

24-48 giờ Hình dạng, kích thước của các khuẩn

lạc phân lập từ mẫu bệnh được xác định bằng

phương pháp nhuộm Gram (11885, Merck) Sử

dụng test kit API 32 Strep (BioMerieux, Pháp)

để test sinh hóa và xác định kết quả bằng phần

mềm APIweb (bio Mérieux SA, France) Bên

cạnh đó, vi khuẩn được gửi đến Công ty TNHH

Thương mại & Dịch vụ Nam Khoa, quận 7, Tp

Hồ Chí Minh định danh bằng phương pháp giải

trình tự gen 16S rRNA và so sánh với trình tự

trên ngân hàng gen NCBI

2.2 Phương pháp chiết xuất dược liệu

Sử dụng phương pháp ngấm kiệt với dung

môi ethanol để chiết xuất dược liệu (Nguyễn

Thượng Dong và ctv., 2008) Hai loại thảo

dược: Vỏ quế (mua ở Viện Y Học Dân Tộc Tp

Hồ Chí Minh) và củ gừng (mua ở chợ Bà Chiểu,

quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh), được sơ

chế, thái lát mỏng và sấy lạnh ở 40oC (Tủ sấy lạnh, sản xuất ở Việt Nam) cho đến khi đạt độ

ẩm < 12%, được xay mảnh nhỏ bằng máy xay khô (Xinganbangle-880Y) và làm ẩm bằng loại dung môi ngấm kiệt, sau đó cho vào bình ngấm kiệt ngâm 24 giờ, sau 24 giờ sử dụng 30 lít ethanol (Công ty CP dược phẩm OPC) cho ngấm kiệt 1kg thảo dược khô, tốc độ rút dịch chiết 5 ml/phút Hai phương pháp thu dịch chiết khác nhau được thực hiện

+ Mỗi loại thảo dược được ngấm kiệt với ethanol 96%, dịch chiết thu được để riêng ra,

bã thảo dược tiếp tục ngấm kiệt với ethanol 72% rồi ethanol 48% Cô quay dịch chiết của từng phân đoạn và tổng của 3 phân đoạn, thu được 4 loại cao chiết khác nhau đối với mỗi loại thảo dược

+ Mỗi loại thảo dược được ngấm kiệt riêng

rẽ với ethanol 96%, ethanol 72%, và ethanol 48% ("Assessment report on Hypericum perforatum L., herba," 2018) Cô quay dịch chiết thu được từ mỗi nồng độ ethanol và tổng của 3 phân đoạn, thu được 4 loại cao chiết khác nhau đối với mỗi loại thảo dược

Các cao chiết được cô bằng máy cô quay (Haake Phoenix II - C25P - Thermo) ở nhiệt

độ 60oC các dịch chiết tương ứng cho đến khi 99% dung môi được loại bỏ Các cao chiết dạng

Hình 1: Hệ thống ngấm kiệt

Trang 6

sệt được bảo quản lạnh ở -200C để sử dụng cho

các thí nghiệm thử khả năng kháng khuẩn bằng

phương pháp đĩa giấy khuếch tán, cũng như xác

định nồng độ ức chế tối thiểu (Yasuko Sekita và

ctv.,) và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC)

2.3 Phương pháp đánh giá khả năng

kháng khuẩn của các cao chiết thảo dược

2.3.1 Phương pháp đĩa giấy khuếch tán

(Ahn và ctv., 1994)

Tẩm 20 µl cao chiết thảo dược (0,33 g/ml)

vào các đĩa giấy vô trùng có đường kính 6 mm,

ở nghiệm thức đối chứng âm tẩm ethanol 96%,

72% và 48%, mỗi loại được tẩm vào 6 đĩa giấy,

đặt các đĩa giấy này vào tủ vô trùng trong 15

phút cho cao chiết khuếch tán vào đĩa giấy Ở

nghiệm thức đối chứng dương, các đĩa giấy được

tẩm ba loại kháng sinh thương mại là amoxillin

(10 µg), doxycycline (30 µg) và florfenicol (30

µg) (Nam Khoa) Chủng S agalactiae được

nuôi cấy trong môi trường Brain Heart Infusion

Broth (110493, Merck) trong 24 giờ, sau đó so

với ống Mc Farland để được mật độ 108 CFU/

ml (tương ứng ống 0,5), tiếp tục pha loãng 100

lần với nước muối sinh lý để đạt mật độ 106

CFU/ml Hút 1000 µl dịch khuẩn 106 CFU/ml,

tráng đều bằng que thủy tinh tam giác trên mặt

thạch BHI agar (110886, Merck) trong 30 giây

cho vi khuẩn thấm đều vào mặt thạch Sau đó

dùng micropipet hút bỏ lượng dung dịch còn

dư Lật úp các đĩa thạch và để trong tủ cấy vô

trùng trong 5 phút cho khô Đặt các đĩa thạch

vào tủ mát ở 4oC trong 15 phút để cao chiết có

thời gian khuếch tán ra đĩa thạch Sau đó chuyển

tất cả các đĩa thạch vào ủ trong tủ ấm ở 30oC,

đo đường kính vòng vô khuẩn tạo thành xung

quanh các đĩa giấy sau 24 giờ (nếu có) Vi khuẩn

mẫn cảm với dịch chiết nếu vòng vô khuẩn ≥ 7

mm, vi khuẩn kháng với dịch chiết nếu vòng vô

khuẩn <7mm (Nascimento và ctv., 2000)

2.3.2 Xác định nồng độ ức chế tối thiểu

(Yasuko Sekita và ctv.,) và nồng độ diệt khuẩn

tối thiểu (MBC) của các cao chiết thảo dược

Sử dụng đĩa 96 giếng (thể tích giếng 200

µl) để xác định các giá trị MIC và MBC (Nagi

A Al-Haj và ctv., 2018) của các loại cao chiết

có hiệu quả kháng khuẩn mạnh bằng phương pháp đĩa giấy khuếch tán Các cao chiết thảo dược được pha loãng với dung môi tương ứng theo dãy 08 nồng độ bao gồm 32.000, 16.000, 8.000, 4.000, 2.000, 1.000, 500 và 250 µg/ml, mỗi nồng độ lập lại trong 4 giếng Dịch khuẩn

S agalactiae được pha trong ống nghiệm chứa nước muối sinh lý 0,85% để đạt mật độ 108 CFU/ml (tương ứng với Mc Farland 0,5), sau

đó được pha loãng trong nước muối sinh lý để đạt mật độ cuối cùng là 104 CFU/ml, sau khi pha loãng sẽ trải đĩa BHI agar (110886, Merck)

để kiểm tra nồng độ vi khuẩn thực tế Cho vào các giếng 100 µl dịch khuẩn + 100 µl thảo dược

để đạt nồng độ cuối cùng theo dãy nêu trên, mật

độ vi khuẩn cuối cùng trong mỗi giếng là 5 x

103 CFU/ml Các giếng đối chứng âm chỉ chứa 200µl môi trường BHI Broth (110493, Merck) Các giếng đối chứng dương chứa 100 µl BHI +

100 µl dịch khuẩn S agalactiae Ủ các đĩa 96

giếng này ở 300C, sau 48 giờ cho 20 µl thuốc thử resazurine (0,01%) (RM125-1G, Himedia) vào mỗi giếng Thuốc thử resazurine có màu xanh trong dung dịch, các giếng có vi khuẩn phát triển sẽ chuyển màu thuốc thử từ xanh sang hồng (Faikoh và ctv., 2014) Giá trị MIC

là nồng độ thấp nhất của thảo dược tại đó thuốc thử resazurine không chuyển màu Để xác định giá trị MBC, lấy 100 µl mẫu ở các giếng thuộc

4 dãy nồng độ liên tiếp, bao gồm dãy nồng độ tại đó xác định giá trị MIC và 3 dãy nồng độ cao hơn liền kề, và trải trên đĩa BHIA Giá trị MBC là nồng độ thấp nhất của thảo dược tại

đó không có sự phát triển của vi khuẩn trên môi trường BHIA sau khi trải đĩa Các loại cao chiết có giá trị MBC/MIC ≥ 4 được cho là có khả năng kìm khuẩn, MBC/MIC < 4 được cho

là có khả năng diệt khuẩn

2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Giá trị trung bình đường kính vòng vô khuẩn tạo xung quanh các đĩa giấy ở các nghiệm thức được so sánh bằng trắc nghiệm One-way ANOVA và Tukey's post hoc test ở mức ý nghĩa 0,05, sử dụng phần mềm SPSS (version 22.0)

Trang 7

III KẾT QUẢ

3.1 Kết quả phân lập vi khuẩn gây bệnh

trên cá rô phi

Nghiên cứu đã thực hiện thu 5 mẫu cá rô

phi giống (cá rô phi vằn) nuôi ao tại Trung tâm

giống và cây trồng, xã Tân An Hội, huyện Củ

Chi vào tháng 04/2019 và 11 cá rô phi giống

(cá rô phi vằn) nuôi bè tại phường Long Bình,

quận 9 vào tháng 05/2019 Các cá thể này đều

thể hiện các dấu hiệu bệnh tích điển hình như

lồi mắt và xuất huyết ở vây hậu môn, vây lưng

(Hình 2, 3), được thu thận cho phân lập và định danh vi khuẩn bằng test sinh hóa và giải trình

tự gen 16S rRNA Kết quả kiểm tra bằng test API 32 strep (Bảng 1) và xác định kết quả bằng phần mềm APIweb (bio Mérieux SA, France) tất cả 16 mẫu cá bệnh đều bị nhiễm vi khuẩn

Streptococcus agalactiae (Hình 3) Trên môi

trường thạch BA, khuẩn lạc Streptococcus agalactiae có hình tròn, lồi, màu kem, kích thước khoảng 1mm, dung huyết dạng β (Hình

5, 6), vi khuẩn nhuộm gram bắt màu xanh tím (Gram dương), hình tròn, liên kết với nhau tạo

Bảng 1: Kết quả phân lập mẫu cá bệnh

STT Nơi thu mẫu Số mẫu Số mẫu nhiễm

Streptococcus agalactiae

1 Củ Chi 5 5

2 Quận 9 11 11

Hình 2: Cá thu ở Củ chi bị lồi mắt, xuất huyết Hình 3: Cá thu ở quận 9 bị lồi mắt, xuất huyết

thành chuỗi dạng liên cầu khuẩn xen kẽ với

những tế bào đơn lẻ Chúng tôi chọn hai

chủng vi khuẩn CC-2.1 (phân lập từ cá 25gr

nuôi ao ở Củ Chi) và Q9-8.1 (phân lập từ cá

20gr nuôi bè ở Quận 9) để thực hiện các thí

nghiệm tiếp theo của nghiên cứu

3.2 Kết quả thử khả năng kháng khuẩn

của thảo dược bằng đĩa giấy khuếch tán

Kết quả khảo sát trước đây của nhóm về

hiệu quả kháng khuẩn của 10 loại cao chiết

thảo dược tách chiết bằng ethanol 96% và

methanol 99,8%, cho thấy cao chiết quế và

gừng tách chiết bằng ethanol 96% cho hiệu

quả kháng khuẩn cao nhất đối với vi khuẩn

Streptococcus agalactiae (Nguyễn Thị Trúc

Quyên và ctv., 2019)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục khảo sát khả năng kháng khuẩn của hai loại cao chiết quế và gừng, tách chiết bằng phương pháp ngấm kiệt với dung môi ethanol ở 3 nồng độ khác nhau (96%, 72% và 48%) Ở thí nghiệm

1, quá trình tách chiết được thực hiện chỉ với ethanol 96% hoặc lần lượt với 2 hoặc 3 nồng

độ khác nhau của ethanol Qua Bảng 2 cho thấy cao chiết của quế với ethanol 96% có tác dụng kháng khuẩn mạnh nhất đối với cả hai chủng vi khuẩn với đường kính vòng vô khuẩn từ 32-34

mm, giá trị này là tương đương so với đường kính vòng vô khuẩn tạo ra bởi ba loại kháng sinh (35,48 mm đối với amoxillin, 22,47 mm đối với doxycillin và 35,08 mm đối với florfenicol)

Trang 8

Hình 4 Kết quả xác định sinh hóa với API 32 Strep test

Trang 9

Đường kính vòng vô khuẩn (mm)

Dung môi S agalactiae CC-2.1 S agalactiae Q9-8.1

Bảng 2 Đường kính vòng vô khuẩn (mm) tạo thành xung quanh các đĩa giấy tẩm cao chiết

thảo dược, lần lượt tách chiết với ethanol ở các nồng độ khác nhau và sau 24 giờ tiếp xúc với

vi khuẩn S agalactiae, chủng CC-2.1 và Q9-8.1.

Ở thí nghiệm 2, quá trình tách chiết được

thực hiện riêng rẽ với một trong ba nồng độ của

ethanol (96%, 72% và 48%) Qua Bảng 3 cho

thấy cao chiết của quế với ethanol 96% có tác

dụng mạnh nhất đối với cả hai chủng vi khuẩn

với đường kính vòng vô khuẩn từ 29-34 mm, kế

tiếp là cao chiết gừng với ethanol 96% có đường

kính vòng vô khuẩn 16-17 mm Ở thí nghiệm này, cả hai loại cao chiết quế và gừng tách chiết bằng ethanol 96% cũng cho đường kính vòng

vô khuẩn lớn nhất và cao hơn có ý nghĩa thống

kê (p < 0,05) so với tách chiết bằng ethanol ở các nồng độ thấp hơn và so với cao tổng

Đường kính vòng vô khuẩn (mm)

Dung môi S agalactiae CC-2.1 S agalactiae Q9-8.1

Gừng Quế Gừng Quế

Ethanol 96% 16,47 ± 1,3c 33,45 ± 1,8b 16,7 ± 0,9c 29,87 ± 0,3bEthanol 72% 13,77 ± 0,7ab 9,05 ± 0,6a 13,58 ± 0,6b 9,47 ± 0,3aEthanol 48% 12,58 ± 1,1a 8,53 ± 0,6a 11,85 ± 0,6a 8,95 ± 1,2aCao tổng từ 3

phân đoạn trên 14,83 ± 0,6b 8,50 ± 1,0a 15,0 ± 1,1c 10,1 ± 0,4a(tỉ lệ 1:1:1)

Số liệu thể hiện giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Trong cùng một cột, các nghiệm thức có các chữ cái khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Bảng 3 Đường kính vòng vô khuẩn (mm) tạo thành xung quanh các đĩa giấy tẩm cao chiết

thảo dược tách chiết với ethanol ở các nồng độ khác nhau và sau 24 giờ tiếp xúc với vi khuẩn

S agalactiae, chủng CC-2.1 và Q9-8.1

Kế đến là cao chiết gừng với ethanol 96% cho

đường kính vòng vô khuẩn 14-15 mm Ngoài

ra, cả hai loại cao chiết quế và gừng tách chiết

bằng ethanol 96% đều cho đường kính vòng vô

khuẩn lớn nhất và cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với tách chiết bằng ethanol ở các nồng độ thấp hơn và so với cao tổng

Trang 10

Hình 7: Vòng vô khuẩn của cao chiết gừng đối

với chủng CC-2.1 Hình 8: Vòng vô khuẩn của cao chiết quế đối với chủng Q9-8.1

Hình 9: Vòng vô khuẩn của ba loại kháng sinh đối

với chủng Q9-8.1

3.3 Kết quả xác định giá trị MIC và MBC của các cao chiết thảo dược

Kết quả khảo sát khả năng kháng khuẩn

của các cao chiết thảo dược ở điều kiện in vitro,

chúng tôi xác định được cao chiết vỏ quế và

gừng trong ethanol 96% có khả năng kháng

khuẩn mạnh đối với chủng vi khuẩn CC-2.1 và chủng vi khuẩn Q9-8.1, chúng tôi chọn hai loại cao chiết này để xác định giá trị MIC và MBC Kết quả được thể hiện trong Bảng 4

Trang 11

Bảng 4 Kết quả xác định giá trị MIC và MBC của các cao chiết vỏ quế đối với chủng

Streptococcus agalactiae CC-2.1 và Q9-8.1

Loại cao chiết/dung môi Chủng MIC MBC

Vi khuẩn (µg/ml) (µg/ml)

Vỏ quế, ethanol 96% CC-2.1 2.000 8.000 Q9-8.1 2.000 8.000 Gừng, ethanol 96% CC-2.1 1.000 2.000 Q9-8.1 1.000 2.000

Hình 10: Đĩa 96 giếng xác định giá trị MIC

của cao chiết quế (hàng 1-4) và cao chiết gừng

(hàng 5-8) đối với chủng CC-2.1

Hình 11: Đĩa 96 giếng xác định giá trị MIC

của cao chiết quế (hàng 1-4) và cao chiết gừng (hàng 5-8) đối với chủng Q9-8.1

IV THẢO LUẬN

Qua 16 mẫu vi khuẩn thu được từ cá rô phi

giống bị bệnh lồi mắt, xuất huyết nuôi tại ao và

bè tại Tp Hồ Chí Minh, sau nhuộm gram, test

sinh hóa và giải trình tự gen 16S rRNA đều có

kết quả dương tính với vi khuẩn Streptococcus

agalactiae Khuẩn lạc của vi khuẩn Streptococcus

agalactiae hình tròn, lồi, màu kem, kích thước

khoảng 1-2mm, dung huyết dạng β, đây là tan

máu hoàn toàn, vòng tan máu trong suốt và có

đường kính gấp 2-4 lần đường kính của khuẩn

lạc Những Streptococci có khả năng gây tan

máu β phần lớn có khả năng gây bệnh, hầu hết

các chủng vi khuẩn Streptococci không gây tan

huyết thu từ cá bệnh đều là vi khuẩn S difficae

(Alsaid và ctv., 2010; Buller, 2004) Tuy nhiên,

nghiên cứu của (Đặng Thị Hoàng Oanh và ctv.,

2012) phân lập vi khuẩn gây bệnh lồi mắt, xuất

huyết trên cá rô phi nuôi năm 2010 ở huyện Cai

Lậy – tỉnh Tiền Giang phân lập được vi khuẩn

Streptococcus agalactiae nhưng các chủng vi khuẩn này không gây dung huyết khi nuôi cấy trên môi trường BA

Trong nghiên cứu này chiết xuất với ethanol

96%, khả năng kháng khuẩn Streptococcus agalactiae (106 CFU/ml) của gừng (330 mg/ml) cho vòng kháng khuẩn 29-34 mm và quế (330 mg/ml) cho vòng kháng khuẩn 14-17 mm,

khả năng ức chế và diệt vi khuẩn Streptococcus agalactiae (mật độ 5 x 103 CFU/ml) của gừng

có giá trị MIC = 1 mg/ml, MBC = 2 mg/ml và của quế có giá trị MIC = 2 mg/ml, MBC = 8 mg/

ml, giá trị MBC/MIC ≤ 4 chứng tỏ hai loại thảo dược này có khả năng diệt khuẩn cao

Giá trị MIC xác định bởi nghiên cứu này là tương đồng với kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác Nghiên cứu dịch chiết bằng nước

từ gừng trên 18 chủng vi khuẩn A hydrophila có

Trang 12

vòng kháng khuẩn từ 7 - 13,67 mm (10 mg/đĩa),

MIC = 0,05 – 0,20 mg/ml và MBC = 0,78-50

mg/ml (Snuossi và ctv., 2016) Nghiên cứu dịch

chiết bằng nước từ gừng trên 6 chủng vi khuẩn

Staphilococcus sciuri có vòng kháng khuẩn từ

mm với vi khuẩn Streptococcus pneumonia

(Suleiman AG và ctv., 2019) Chiết suất vỏ quế

với nước (1 g/ml) cho vòng kháng khuẩn 21,5

mm với vi khuẩn Streptococcus iniae (105 CFU/

ml), MIC = 0,04 mg/ml (Rattanachaikunsopon

và ctv., 2010) Nghiên cứu chiết xuất bằng

ethanol 95% trên tỏi, nguyệt quế, muồng

trâu, măng cụt, ổi và cây duối (10 mg/ml) khả

năng kháng khuẩn Streptococcus agalactiae

(108 CFU/ml) cho đường kính vòng kháng

khuẩn từ 20-22 mm, khả năng ức chế vi khuẩn

Streptococcus agalactiae (108 CFU/ml) trên

muồng trâu, ổi, cây duối có giá trị MIC ≤ 0,125

mg/ml (Rattanachaikunsopon và ctv., 2009)

Nghiên cứu của chiết xuất bằng ethanol 95%

trên lá sầu đâu (100 mg/ml) có khả năng kháng

khuẩn Streptococcus agalactiae (108 CFU/ml)

cho đường kính vòng kháng khuẩn 10,5 mm,

trên lá cây tông dù (100 mg/ml) cho đường kính

vòng kháng khuẩn 10,9 mm, khả năng ức chế

vi khuẩn Streptococcus agalactiae (108 CFU/

ml) của sầu đâu có giá trị MIC = 1,25 mg/ml,

của lá cây tông dù có giá trị MIC = 0,6 mg/ml

(Kamble và ctv., 2014)

V KẾT LUẬN

Vi khuẩn phân lập được từ cá rô phi giống

bị bệnh lồi mắt, xuất huyết thu tại Tp Hồ Chí

Minh là Streptococcus agalactiae Khả năng

kháng khuẩn Streptococcus agalactiae của cao

chiết quế trong ethanol 96% (nồng độ cao chiết

330 mg/ml) cho đường kính vòng kháng khuẩn

29-34 mm và cao chiết gừng trong ethanol 96%

(nồng độ cao chiết 330 mg/ml) cho đường kính vòng kháng khuẩn 14-17 mm, khả năng ức chế

và diệt vi khuẩn Streptococcus agalactiae (5 x

103 CFU/ml) của cao chiết gừng có giá trị MIC

= 1 mg/ml, MBC = 2 mg/ml và của cao chiết quế có giá trị MIC = 2 mg/ml, MBC = 8 mg/ml

TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt

Đặng Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Thanh Phương,

2012 Phân lập và xác định đặc điểm của vi khuẩn

S agalactiae từ cá điêu hồng (Oreochromis sp.)

bệnh phù mắt và xuất huyết Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 22C, 203-212

Nguyễn Thượng Dong, Vietnam, Bộ giáo dục và đào tạo, Vietnam, Bộ y tế, Viện dược liệu, 2008 Kỹ thuật chiết xuất dược liệu Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật.

Trương Thị Mỹ Hạnh, 2008 Nghiên cứu tính kháng khuẩn và kháng nấm của một số loại thảo mộc Báo cáo đề tài khoa học – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, Bắc Ninh

Nguyễn Thị Trúc Quyên, Lê Linh Chi, Đoàn Văn Cường, Nguyễn Diễm Thư, Mã Tú Lan, Trần Hoàng Bích Ngọc, Nguyễn Thành Nhân, Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, 2019 Khả năng đối kháng vi

khuẩn Streptococcus agalactiae phân lập trên cá

rô phi (Oreochromis spp.) bởi một số cao chiết

thảo dược Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, 3, 124-132

Viện NCNT Thuỷ sản I, 2017 Các bệnh thường gặp trên cá rô phi nuôi tại Việt Nam, tình hình nghiên cứu bệnh do TiLV trên cá rô phi Báo cáo hội nghị phòng chống bệnh mới do TiLV trên cá rô phi nuôi tại Việt Nam, 10/2017

Tài liệu tiếng Anh

Abutbul S., Golan Avi, Barazani Oz, Zilberg Dina,

2004 Use of Rosmarinus officinalis as a treatment

against Streptococcus iniae in tilapia (Oreochromis

sp.) Aquaculture, 238, 97-105 doi:10.1016/j aquaculture.2004.05.016

Ahn Y J., Kwon J H., Chae S H., Park J H., Yoo J Y., 1994 Growth-inhibitory Responses of Human Intestinal Bacteria to Extracts of Oriental Medicinal Plants Microbial Ecology in Health and Disease, 7(5), 257-261 doi:10.3109/08910609409141363 Alsaid Milud, Mohd Daud Hassan, Bejo Siti, Abuseliana Ali, 2010 Antimicrobial Activities

Trang 13

of Some Culinary Spice Extracts against

Streptococcus agalactiae and Its Prophylactic

Uses to Prevent Streptococcal Infection in Red

Hybrid Tilapia (Oreochromis sp.) World Journal

of Fish and Marine Sciences, 2

Assessment report on Hypericum perforatum L., herb,

2018 Committee on Herbal Medicinal Products

(HMPC) European Medicines Agency

Brian Sheehan Ph.D , L Labrie, DVM , Y.S Lee, B.S

, F.S Wong, B.S , J Chan, B.S , C., Komar DVM

, N Wendover, B.S and L Grisez, Ph.D, 2009

Streptococcosis in tilapia Global Aquaculture

Advocate

Buller Nicky B., 2004 Bacteria from Fish and Other

Aquatic Animals A Practical Identification

Manual

Buxton Rebecca, 2005 Blood Agar Plates and

Hemolysis Protocols American Society for

Microbiology

Evans Joyce, Klesius P H., Shoemaker Craig, 2006

An overview of Streptococcus in warmwater fish

Aquaculture Health International, 7, 10-14

Faikoh E.N., Hong Y.H., Hu S.Y., 2014

Liposome-encapsulated cinnamaldehyde enhances

zebrafish (Danio rerio) immunity and survival

when challenged with Vibrio vulnificus and

Streptococcus agalactiae Fish & shellfish

immunology, 38, 15-24

Kamble Manoj, Gallardo Wenresti, Yakupitiyage

Amararatne, Chavan Balasaheb, Rusydi

Rachmawati, Rahma Aulia, 2014 Antimicrobial

Activity of Bioactive Herbal Extracts Against

Streptococcus agalactiae Biotype

2 International Journal of Basis and Applied Biology,

2, 152-155

Nader Mohammed & Kassim, Kais & Ali, Safaa &

Azhar, Dalia, 2010 Antibacterial activity of ginger

extracts and its essential oil on some of pathogenic

bacteria Baghdad Science Journal, 7, 1159-1165

Nagi A Al-Haj, Khadija Zedan Hassan, Alabed Ali A

Alabed, Abdullah Y Al Mahdi, Rasheed Abdsalam,

Albawani Sami Mohammed, 2018 Antibacterial

Assays of Malaysian Medicinal Plant Polygonum

minus Using Different Extraction Methods**

Nagi A Al-Haj," Khadija Zedan Hassan,“Alabed

Ali A Alabed,“Abdullah Y Al Mahdi

Nascimento Gislene G F., Locatelli Juliana, Freitas

Paulo C., Silva Giuliana L., 2000 Antibacterial

activity of plant extracts and phytochemicals on

antibiotic-resistant bacteria Brazilian Journal of Microbiology, 31, 247-256

Ndong Diegane, Chen Yu-Yuan, Lin Yu-Hung, Vaseeharan Baskaralingam, Chen Jiann-Chu,

2007 The immune response of Mozambique

tilapia Oreochromis mossambicus (Peters) and its susceptibility to Streptococcus iniae under

stress in low and high temperatures Fish & shellfish immunology, 22, 686-694 doi:10.1016/j fsi.2006.08.015

Pachanawan A , Phumkhachorn P , Rattanachaikunsopon P., 2008 Potential of Psidium guajava Supplemented Fish Diets in

Controlling Aeromonas hydrophila Infection

in Tilapia (Oreochromis niloticus) Journal of

bioscience and bioengineering, 106(5), 419-424 Rattanachaikunsopon P., Phumkhachorn P., 2009 Prophylactic effect of Andrographis paniculata extracts against Streptococcus agalactiae infection

in Nile tilapia (Oreochromis niloticus) Journal

of bioscience and bioengineering, 107, 579-582 doi:10.1016/j.jbiosc.2009.01.024

Rattanachaikunsopon P., Phumkhachorn P., 2010

Potential of cinnamon (Cinnamomum verum) oil

to control Streptococcus iniae infection in tilapia

(Oreochromis niloticus) Fisheries Science, 76, 287-293

Shangliang T., Hetrick, F M., Roberson, B S., and Baya, A., 1990 The antibacterial and antiviral activity of herbal extracts for fish pathogens J Ocean Uni Qingdao, 20, 53-60

Snuossi Mejdi, Trabelsi Najla, Ben Taleb Sabrine, Dehmeni Ameni, Flamini Guido, De Feo Vincenzo, 2016 Laurus nobilis, Zingiber officinale and Anethum graveolens Essential Oils: Composition, Antioxidant and Antibacterial Activities against Bacteria Isolated from Fish and Shellfish Molecules (Basel, Switzerland), 21(10),

1414 doi:10.3390/molecules21101414 Suleiman A.G., Hamisu M., Adamu M.D., Rabiu S., Abdulrazak M.H., Mujaheed A., Usman A.H., I and Marwan, 2019 In Vitro Antibacterial Activity and Phytochemical Analysis of Zingiber officinale

L Rhizome Extracts Med Chem (Los Angeles), 9(4), 056-059

Yasuko Sekita, Keiji Murakami, Hiromichi Yumoto,

2016 Preventive Effects of Houttuynia cordata Extract for Oral Infectious Diseases Department

of Pharmacognosy, Tokushima - Japan, 770-8505

Trang 14

ANTIBACTERIAL ACTIVITY OF CINNAMON BARK (Cinnamomum

AGAINST Streptococcus agalactiae ISOLATED FROM TILAPIA

FINGERLINGS (Oreochromis spp.)

Doan Van Cuong 1*, Nguyen Thi Ngoc Tinh1, Ma Tu Lan1, Nguyen Thanh Nhan1

ABSTRACT

Streptococcus agalactiae is known as an important pathogen that causes high mortality in many

freshwater and marine fish species In this study, Streptococcus agalactiae was isolated from

tilapia with haemorrhage and eye-protrusion symptoms colected in Ho Chi Minh city Extraction

of two herbs namely cinnamon bark (Cinnamon verum), ginger (Zingiber officinale Rose) by

exhaustion method with ethanol solvent at three separate concentrations (96%, 72%, and 48%) or three consecutive concentrations (96%, then 72% and 48%, respectively) The results showed that cinnamon extract in 96% ethanol demonstrated a highest antibacterial activity, with the diameter of inhibition zone ranging from 29-34 mm, MIC value = 2 mg/ml, and MBC value = 8 mg/ml; while Ginger extract in 96% ethanol showed the diameter of inhibiton zone ranging from 14-17 mm, MIC value = 1 mg/ml, and MBC value = 2 mg/ml In sum, cinnamon and ginger extract in 96% ethanol are considered two potential herbal extracts that can be applied to prevent and to treat diseases

caused by Streptococcus agalactiae in tilapia.

Keywords: Cinnamon bark extract, ginger extract, Streptococcus agalactiae, tilapia.

1 Research Institute for Aquaculture II

* Email: vancuongdisaqua@gmail.com

Người phản biện: TS Nguyễn Ngọc Du

Ngày nhận bài: 18/10/2019 Ngày thông qua phản biện: 02/11/2019

Ngày duyệt đăng: 25/12/2019

Người phản biện: TS Ngô Huỳnh Phương Thảo

Ngày nhận bài: 18/10/2019 Ngày thông qua phản biện: 10/11/2019

Ngày duyệt đăng: 25/12/2019

Trang 15

SỰ HIỆN DIỆN CỦA WHITE SPOT SYNDROME VIRUS, Vibrio parahaemolyticus VÀ Enterocytozoon hepatopenaei TRÊN TÔM

GIỐNG VÀ TÔM NUÔI NƯỚC LỢ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Lê Hồng Phước 1*, Nguyễn Hồng Lộc 1

TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện trên 800 mẫu tôm giống thu tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Vũng Tàu và ĐBSCL và 170 mẫu tôm nuôi nuớc lợ được thu tại các tỉnh Bạc Liêu, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh và Cà Mau từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2019 Kết quả kiểm tra một số mầm bệnh nguy

hiểm bằng phương pháp PCR cho thấy trên tôm giống tỷ lệ nhiễm WSSV, Vibrio parahaemolyticus

gây AHPND và EHP lần lượt là 2,29; 4,86 và 6,4% Tỷ lệ nhiễm các mầm bệnh này trên tôm thịt trong mùa khô lần lượt là 9,38; 10,94 và 25,0% Trong mùa mưa, tỷ lệ nhiễm các mầm bệnh

WSSV, Vibrio parahaemolyticus gây AHPND và EHP trên tôm giống lần lượt là 1,56%; 3,33% và 9,33% Tỷ lệ nhiễm các mầm bệnh này trên tôm thịt là 12,26; 10,37 và 33,02% Tỷ lệ nhiễm Vibrio

parahaemolyticus trên tôm giống trong năm 2019 là 4,0%, cao hơn so với năm 2018 (3,63%) Tỷ

lệ nhiễm WSSV trên tôm giống cũng cao hơn (1,87% trong năm 2019, cao hơn so với 1,13% trong năm 2018) Tỷ lệ nhiễm EHP trên tôm giống năm 2019 cao hơn so với năm 2017 và 2018 (7,78% năm 2019; 6,75% năm 2018 và 2,73% năm 2017).

Từ khóa: WSSV, EHP, Vibrio parahaemolyticus.

1 Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II

* Email: lehongphuoc@yahoo.com

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Một trong những ảnh hưởng lớn đến nghề

nuôi tôm trong những năm gần đây là dịch bệnh

truyền nhiễm do vi rút, vi khuẩn và kể cả ký sinh

trùng Trong đó, đặc biệt cần quan tâm là bệnh

đốm trắng do WSSV (White Spot Syndrome

Virus), bệnh hoại tử gan tụy cấp (Acute

Hepatopancreatic Necrosis Disease: AHPND)

do Vibrio parahaemolyticus và bệnh do vi bào

tử trùng EHP (Enterocytozoon hepatopenaei)

gây ra cả trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng

Năm 2009, lần đầu tiên trên tôm sú nuôi ở Thái

Lan phát hiện vi bào tử trùng mới có tên là EHP

nhưng chưa được người nuôi chú ý Cho đến

năm 2011 bệnh do loài vi bào tử trùng này trở

nên nghiêm trọng hơn ở những trang trại nuôi

trên 5 năm và gần biển (Panakorn, 2012) Ở Việt

Nam, bệnh do EHP cũng được tìm thấy trong

những năm gần đây trên cả tôm sú và tôm thẻ

chân trắng Biểu hiện bệnh không có dấu hiệu

điển hình như bệnh đốm trắng hay hoại tử gan

tụy cấp mà chủ yếu là chậm lớn, mềm vỏ và

màu sắc gan tụy nhợt nhạt Trên thực tế cho thấy

có nhiều trường hợp đồng cảm nhiễm giữa EHP

và AHPND hay tác nhân khác Hiện nay tình hình nhiễm EHP trên tôm nước lợ đang có chiều hướng gia tăng Đây là một loại bệnh không gây chết hàng loạt như bệnh đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp nhưng có ảnh hưởng lớn đến kinh tế đối với nghề nuôi tôm do khi tôm bị bệnh này

sẽ chậm lớn, thậm chí không lớn mặc dù vẫn tiêu tốn rất nhiều thức ăn (tôm nuôi 90-100 ngày tuổi vẫn có thể chỉ đạt kích cỡ 4-5 g/con).Ngày 17/9/2019, Tổng Cục Thủy Sản cùng với Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Sóc Trăng chủ trì Hội nghị “Giải pháp phát triển nuôi tôm nước lợ hiệu quả, bền vững” tại Thành phố Sóc Trăng Hội thảo với các báo cáo tham luận và thảo luận chung chủ yếu tập trung vào bệnh do vi bào tử trùng EHP, hội chứng phân trắng và hoại tử gan tụy cấp trên tôm Đây là các bệnh được xem

là quan trọng nhất đối với tôm nuôi tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay Các ý kiến thảo luận cũng tập trung vào các

Trang 16

bệnh này và chủ yếu là bệnh do EHP Ngoài

ra, theo phản ánh của một số địa phương như

Sóc Trăng, Bạc Liêu, Quảng Nam và Khánh

Hòa thì kết quả phân tích mẫu bệnh trên

tôm giống trong thời gian từ tháng 7-8/2019

đã phát hiện thấy tỷ lệ nhiễm EHP khá cao

(trên 11% số mẫu phân tích) Trước thực

trạng trên, việc duy trì kiểm tra và đánh giá

tình trạng nhiễm các mầm bệnh quan trọng

được nêu trên qua các năm là rất cần thiết

và ý nghĩa cho việc thống kê, cảnh báo cũng

như đề xuất các giải pháp phòng và quản lý

các dịch bệnh này Do đó trong năm 2019,

chúng tôi tiếp tục thực hiện nghiên cứu “Sự

hiện diện của các tác nhân gây bệnh WSSV,

Vibrio parahaemolyticus và vi bào tử trùng

EHP trên tôm giống và tôm nuôi nước lợ ở

Đồng bằng sông Cửu Long”

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Vật liệu

800 mẫu tôm sú và tôm thẻ chân trắng giống được thu tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Vũng Tàu và Đồng bằng sông Cửu Long (Cà Mau, Bạc Liêu) Chi tiết mẫu thu ở các tỉnh được thể hiện trong Bảng 1

170 mẫu tôm sú và tôm thẻ chân trắng thương phẩm được thu tại các tỉnh Bạc Liêu, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng Chi tiết mẫu thu ở các tỉnh được thể hiện trong Bảng 2 Ngoài ra, còn có kết quả nghiên cứu trong năm 2018 từ nhiệm vụ thường xuyên do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II thực hiện trong năm 2018,

Các hóa chất chính: NaOH 0,25N, SDS 0,125%, 10 mM Tris-HCl (pH = 8,3), 1,5 mM MgCl2, DNA, polymerase 0,125 u (Promega, Mỹ), các mồi đã được thiết kế và công bố trên các tạp chí trên thế giới (Bảng 3)

90

40504080

210

50805080

260

207050100

24

68844

30

88789

40

206201020

76

Ghi chú: Mùa mưa từ tháng 6-11; mùa khô từ tháng 1-5

Bảng 1 Số mẫu tôm giống thu ở các tỉnh

Bảng 2 Số mẫu tôm nuôi nước lợ thu ở các tỉnh

Trang 17

Bảng 3 Trình tự mồi sử dụng trong nghiên cứu.

Kiatpathomchai và ctv., 2001

EHP

WSSV

Tác

2.2 Phương pháp nghiên cứu

R1, 0,3 mM mồi R2, 0,5 mM mồi R3, 1,25 unit

Taq polymerase trong tổng thể tích 50 µl Với

chu trình nhiệt: 93oC/5 phút; 5 chu kỳ: 93oC/20

giây, 70oC/20 giây, 72oC/20 giây; 20 chu kỳ:

93oC/20 giây, 55oC/20 giây, 72oC/20 giây, 25

chu kỳ: 93oC/20 giây, 70oC/20 giây, 72oC/20

giây Sản phẩm PCR sau đó được điện di trên

gel agarose 2% Nếu mẫu nhiễm vi rút ở mức độ

nặng, sản phẩm dự kiến có kích thước 1000bp,

526bp và 250bp Nếu mẫu nhiễm vi rút ở mức

độ trung bình, sản phẩm dự kiến có kích thước

526bp và 250bp Nếu mẫu nhiễm vi rút ở mức

đó được điện di trên gel agarose 2%, kích thước

200 mM dNTP, 1,5 mM MgCl2, 0,1 mM mồi và 0,625 unit Taq polymerase trong tổng thể tích

50 µl Chu trình nhiệt: 94°C/3 phút; 40 chu kỳ:

94°C/30 giây, 60°C/30 giây, 72°C/30 giây; kết thúc 72oC/5 phút Sản phẩm PCR sau đó được điện di trên gel agarose 2%, kích thước dự kiến

là 510 bp

Trang 18

3.1 Khảo sát sự hiện diện các mầm bệnh

WSSV, V parahaemolyticus gây AHPND và

EHP trên tôm giống cung cấp cho các tỉnh

ĐBSCL

3.1.1 Kết quả kiểm tra virus gây bệnh đốm

trắng WSSV trên tôm giống

Trong mùa khô 2019, có 90 mẫu tôm sú

giống và 260 mẫu tôm thẻ giống được kiểm

tra Kết quả kiểm tra cho thấy có 3 mẫu tôm sú

và 5 mẫu tôm thẻ nhiễm WSSV (tỷ lệ 3,33%

và 1,92%) có nguồn gốc ở Ninh Thuận, Bình

Thuận và ĐBSCL Trong mùa mưa 2019, trong

tổng số 210 mẫu tôm sú giống và 240 mẫu tôm

thẻ giống được kiểm tra, có 3 mẫu tôm sú giống

nhiễm WSSV (1,43%), trong đó có 1 mẫu ở

Ninh Thuận và 2 mẫu ở ĐBSCL Có 4 mẫu tôm

thẻ giống nhiễm WSSV (1,25%), mẫu này có

nguồn gốc từ ĐBSCL, kết quả chi tiết được thể

hiện trong Bảng 4

3.1.2 Kết quả kiểm tra vi khuẩn V

parahaemolyticus gây bệnh AHPND (VP) trên

tôm giống

Trong mùa khô 2019, có 90 mẫu tôm sú

giống và 210 mẫu tôm thẻ giống được kiểm

tra Kết quả kiểm tra cho thấy có 4 mẫu tôm sú

giống (4,44%) nhiễm V parahaemolyticus gây

AHPND gồm 2 mẫu ở Ninh Thuận và 2 mẫu

ở ĐBSCL Đối với tôm thẻ chân trắng có 13

mẫu (5,0%) nhiễm V parahaemolyticus gây

AHPND, trong đó có 1 mẫu ở Bình Thuận, 4 mẫu ở Ninh Thuận, 4 mẫu ở ĐBSCL và 2 mẫu

ở Vũng Tàu Trong mùa mưa 2019, trong tổng

số 210 mẫu tôm sú giống và 240 mẫu tôm thẻ giống được kiểm tra, có 8 mẫu (3,81%) tôm sú

giống nhiễm vi khuẩn V parahaemolyticus gây

bệnh AHPND và 7 mẫu tôm thẻ giống (2,92%)

nhiễm vi khuẩn V parahaemolyticus gây bệnh

AHPND Kết quả chi tiết được thể hiện trong Bảng 4

3.1.3 Kết quả kiểm tra vi bào tử trùng EHP trên tôm giống

Trong mùa khô 2019, khi kiểm tra 90 mẫu tôm sú giống ghi nhận 8 mẫu (8,89%) dương tính với EHP Đối với tôm thẻ giống khi kiểm tra 260 mẫu có 13 mẫu (5,0%) dương tính với EHP Trong mùa mưa 2019, trong tổng số 210 mẫu tôm sú giống và 240 mẫu tôm thẻ giống được kiểm tra, có 18 mẫu tôm sú (8,57%) và

24 mẫu tôm thẻ (10,0%) nhiễm EHP Như vậy trong mùa mưa năm 2019 tỷ lệ nhiễm EHP trên tôm thẻ cao gấp đôi so với mùa khô, tỷ lệ nhiễm EHP trên tôm sú (6,0%), thấp hơn so với tôm thẻ (9,33%), kết quả chi tiết được thể hiện trong Bảng 4

Trang 19

Bảng 4 Kết quả kiểm tra WSSV, V parahaemolyticus và EHP trên tôm giống

% WSSV (+) % VP (+) % EHP(+) Loại

Tổng

Bình Thuận

Ninh Thuận

Vũng TàuĐBSCL

Tổng

10,000,000,005,713,334,001,250,002,501,92

2,92

0,002,000,002,501,430,001,420,003,001,67

1.56

0,006,670,005,714,442,005,004,005,005,00

4,86

2,506,002,403,753,810,002,862,004,002,92

3,33

10,0010,006,678,578,894,006,252,006,255,00

6,0

5,008,007,5011,258,575,008,5710,0012,0010,0

9,33

Tổng cộng

3.1.4 So sánh tỷ lệ nhiễm các mầm bệnh

WSSV, V parahaemolyticus, EHP trên tôm

giống thu năm 2018 và 2019

Tỷ lệ nhiễm V parahaemolyticus trong năm

2019 (4,0%) cao hơn so với năm 2017 (3,63%)

Tỷ lệ nhiễm WSSV trong năm 2019 cũng cao hơn so với năm 2018 (1,13% trong năm 2018 và 1,88% trong năm 2019) Với EHP cũng ghi nhận tương tự, tỷ lệ nhiễm trong năm 2019 là 7,88% cao hơn so với năm 2018 (6,75%) (Hình 1)

Hình 1 Tỷ lệ nhiễm các mầm bệnh trên tôm giống trong năm 2018 & 2019

Trang 20

3.2 Xác định sự hiện diện của các mầm

bệnh WSSV, V parahaemolyticus gây bệnh

AHPND và EHP trên tôm nuôi thương phẩm

Trong mùa khô 2019, có 24 mẫu tôm sú và 40

mẫu tôm thẻ nuôi được kiểm tra đồng thời 3 mầm

bệnh nguy hiểm là WSSV, V parahaemolyticus

gây bệnh AHPND và EHP Có 6 mẫu nhiễm WSSV

(9,38%) Có 7 mẫu nhiễm V parahaemolyticus

gây bệnh AHPND (10,94%), 16 mẫu nhiễm EHP

(25,0%) (Bảng 5).

Trong mùa mưa 2019, trong tổng số 30 mẫu tôm sú và 76 mẫu tôm thẻ có 13 mẫu nhiễm WSSV

(12,26%), 11 mẫu nhiễm V parahaemolyticus gây

bệnh AHPND (10,38%) và 35 mẫu nhiễm EHP (33,02%).

Kết quả kiểm tra cho thấy, tỉ lệ nhiễm WSSV

và EHP trong các tháng mùa mưa cao hơn các tháng mùa khô.

Bảng 5 Kết quả kiểm tra WSSV, V parahaemolyticus và EHP trên tôm nuôi

% WSSV (+) % VP (+) % EHP(+) Loại

Cà Mau

Tổng

Bạc LiêuBến TreSóc TrăngTrà Vinh

Cà Mau

Tổng

0,000,0016,6016,600,00

8,33

16,6612,5012,500,0025,00

10,00

9,38

16,6012,5012,5025,000,00

13,33

15,000,0010,0020,0010,00

11,84

12,26

0,0016,6616,6616,660,00

12,50

16,6612,5012,5025,000,00

10,00

10,94

16,6612,5025,000,0025,00

16,67

10,000,0010,0010,005,00

7,89

10,38

25,0033,3316,6633,330,00

25,00

33,3337,5037,5025,0025,00

25,00

25,00

33,3325,0037,5025,0050,00

33,33

30,0016,6640,0010,0040,00

32,89

33,02

Tổng cộng

IV THẢO LUẬN

Nghiên cứu của Rahman và ctv., (2007a,b)

cho thấy nhiệt độ có liên quan đến sự nhân lên

của WSSV Nhóm tác giả này bố trí thí nghiệm

gây nhiễm tôm với các nghiệm thức khác nhau

và thay đổi nhiệt độ giữa 27 và 33oC Ở nghiệm

thức 27oC liên tục trong thời gian gây nhiễm tôm

với WSSV cho thấy tôm có dấu hiệu đốm trắng

sau 24 giờ và chết rất sớm sau 36 giờ gây nhiễm,

tỷ lệ nhiễm đạt 100% sau 60 giờ gây nhiễm Ở nghiệm thức duy trì nhiệt độ nước ổn định ở 33°C cho tỷ lệ chết rất thấp từ 0-10% Ở nghiệm thức trước gây nhiễm duy trì ở 27oC nhưng sau gây nhiễm duy trì ở 33oC cho thấy mức độ chết

ở mức thấp hơn so với nhóm nghiệm thức ổn định ở 27oC Tỷ lệ chết ở nghiệm thức này đạt 100% sau 96 giờ gây nhiễm Kết quả thí nghiệm này cho thấy khi tăng nhiệt độ có khả năng ức

Trang 21

chế sự nhân lên của WSSV Điều này khá trùng

hợp trong thực tế khi nhiệt độ thấp, mưa nhiều

thì khả năng bùng phát dịch bệnh đốm trắng

cũng tăng cao Kết quả của nghiên cứu này cho

thấy tỷ lệ nhiễm WSSV trên tôm nuôi trong các

tháng mùa mưa cao hơn các tháng mùa khô

Một số nghiên cứu trên thế giới như Tendencia

và Verreth (2011), Gao và ctv., (2011) cho thấy

yếu tố độ mặn thấp, hàm lượng Vibrio tổng số

trong nước ao cao và sự biến động nhiệt độ

trong ngày lớn là những yếu tố liên quan tới sự

bùng phát bệnh đốm trắng trên tôm Ở điều kiện

nhiệt độ trên 35oC và dưới 15oC sự xuất hiện của

virus gây bệnh đốm trắng giảm rõ rệt và khoảng

nhiệt độ từ 25-28oC là thích hợp nhất cho sự

phát triển của WSSV Nghiên cứu của Phước và

ctv., (2008, 2009) cho thấy hiện tượng đồng cảm

nhiễm của WSSV và Vibrio campbellii làm tăng

mức độ và tỷ lệ chết của tôm thẻ chân trắng trong

điều kiện phòng thí nghiệm Theo nhóm tác giả

này thì khi tôm bị nhiễm với WSSV thì sẽ làm

tăng khả năng mẫn cảm với Vibrio campbellii

Kết quả gây nhiễm tôm với WSSV và sau 24 giờ

với Vibrio campbellii cho thấy tỷ lệ chết tăng

đáng kể ở nghiệm thức gây nhiễm với WSSV

và Vibrio campbellii Đối với nghiệm thức gây

nhiễm với đơn tác nhân ghi nhận tôm chết chậm

hơn và tỷ lệ chết cũng thấp hơn

Tỷ lệ nhiễm EHP trên tôm nuôi được ghi

nhận khá cao (từ 25-33%) Theo Tourtip và

ctv., (2009), bệnh do vi bào tử trùng ngày càng

tăng cao ở các nước Đông Nam Á Hiện nay,

EHP được ghi nhận đã xuất hiện ở Trung Quốc,

Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ

và một số nước ở vùng Nam Á Theo Aranguren

và ctv., (2017), EHP được xác định là yếu tố làm

tăng sự mẫn cảm của tôm thẻ chân trắng đối với

bệnh gan tụy cấp AHPND và triệu chứng SHPN

(Septic hepatopancreatic necrosis) bao gồm hội

chứng phân trắng và dị hình gây ra bởi các loài

vi khuẩn Vibrio Do đó, việc kiểm soát và phòng

tránh loài vi bào tử trùng này trong quá trình

nuôi là rất quan trọng

Liên quan đến bệnh do EHP, ở Cà Mau,

trong tháng 10/2019 có tổng diện tích tôm bị

thiệt hại là 179,67 ha trong đó bệnh đốm trắng

chiếm 26,8%, bệnh hoại tử gan tụy cấp 55,2%

và bệnh khác không xác định rõ tác nhân là 18% (trong đó có nhóm tôm chậm lớn) Huyện Phú Tân có diện tích bị bệnh cao nhất, kế đến

là huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Năm Căn và Thành phố Cà Mau Tôm nuôi phát bệnh tập trung ở giai đoạn thả nuôi từ 20-65 ngày tuổi, thiệt hại nhiều nhất ở giai đoạn nuôi từ 20-45 ngày tuổi Ở Sóc Trăng, trong tháng 10/2019 diện tích tôm nuôi bị thiệt hại là 939,9 ha Tính đến thời điểm hiện tại diện tích thiệt hại tôm nuôi nước lợ ở mức 9,2% Tôm bệnh tập trung ở các huyện Trần Đề, Vĩnh Châu và Mỹ Xuyên với các bệnh chủ yếu là hoại

tử gan tụy cấp, phân trắng và chậm lớn Ở Bạc Liêu, kết quả kiểm tra bệnh tôm trên 196 mẫu cho thấy có 78 mẫu nhiễm EHP (39,7%).Trong thời gian từ tháng 6-8/2019, kết quả giám sát của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, trên tổng số 16 ao nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú nuôi thâm canh thuộc huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau đã phát hiện thấy tôm có tỷ

lệ nhiễm EHP ở mức trung bình 15% Ngoài ra theo phản ánh của một số địa phương như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Quảng Nam và Khánh Hòa thì kết quả phân tích mẫu bệnh trên tôm giống trong thời gian từ tháng 7-8/2019 đã phát hiện thấy tỷ lệ nhiễm EHP khá cao (trên 11% số mẫu phân tích)

V KẾT LUẬN

Đối với mẫu tôm giống tỷ lệ nhiễm Vibrio parahaemolyticus gây bệnh AHPND trong mùa khô là 4,86% và trong mùa mưa là 3,33% Tỷ lệ nhiễm WSSV trong mùa khô là 2,29% và mùa mưa là 1,56% Tỷ lệ nhiễm vi bào tử trùng ghi nhận trong mùa khô là 6,0% và trong mùa mưa

là 9,33%

Đối với tôm thương phẩm tỷ lệ nhiễm WSSV trong mùa mưa là 11,26% và mùa khô

là 9,38% Tỷ lệ nhiễm V parahaemolyticus gây

AHPND trong mùa khô là 10,94% và mùa mưa

là 10,38% Tỷ lệ nhiễm EHP trong mùa khô là 25,0% và mùa mưa là 33,02%

Tỷ lệ nhiễm V parahaemolyticus, EHP

Trang 22

và WSSV trong năm 2019 đều cao hơn so với

năm 2018 Cụ thể là tỷ lệ nhiễm WSSV cao hơn

0,75%, tỷ lệ nhiễm V parahaemolyticus cao

hơn 0,37% và tỷ lệ nhiễm EHP cao hơn 1,13%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Aranguren L F., Jee Eun Han, Kathy F.J Tang,

2017 Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) is a

risk factor for acute hepatopancreatic necrosis

disease (AHPND) and septic hepatopancreatic

necrosis (SHPN) in the Pacific white shrimp

Penaeus vannamei Aquaculture 471: 37-42.

Gao, H., Kong, J., Li, Z., Xiao, G., Meng, X., 2011

Quantitative analysis of temperature, salinity and

pH on WSSV pro-liferation in Chinese shrimp

Fenneropenaeus chinensis by real-time PCR

Aquaculture 312: 26-31.

Han, J.E., Mohney, L.L., Tang, K.F.J., Pantoja,

C.R., Lightner, D.V., 2015 Plasmid mediated

tetracycline resistance of Vibrio parahaemolyticus

associated with acute hepatopancreatic necrosis

disease (AHPND) in shrimps Aquaculture

Reports (2): 17–21.

Kiatpathomchai W., Boonsaeng V., Tassanakajon A.,

Wongteerasupaya C., Jitrapakdee S., Panyim S.,

2001 A non-stop, single-tube, semi-nested PCR

technique for grading the severity of white spot

syndrome virus infections in Penaeus monodon

Dis Aquat Organ 47(3): 235-9

Panakorn, S., 2012 Opinion article: more on early

mortality syndrome in shrimp Aquaculture Asia

Pacific, 8 (1): 8-10.

Phuoc, L.H., Corteel, M., Nauwynck, H.J., Pensaert,

M.B., Alday-Sanz, V., Van den Broeck, W.,

Sorgeloos, P., Bossier, P., 2008 Increased

susceptibility of white spot syndrome virus

infected Litopenaeus vannamei to Vibrio

campbellii J Environ Microbiol 10 (10): 2718–

2727.

Phuoc, L.H., Corteel,M., Thanh, NC., Nauwynck, H.J., Pensaert, M.B., Alday-Sanz, V., Van den Broeck,W., Sorgeloos, P., Bossier, P., 2009 Effect of dose and challenge routes of Vibrio spp

on co-infection with white spotsyndrome virus in

Penaeus vannamei Aquaculture 290: 61–68 Rahman, M.M., Corteel, M., Dantas-Lima, J.J., Wille, M., Alday-Sanz, V., Pensaert, M.B., Sorgeloos, P., Nauwynck, H.J., 2007a Impact of daily fluctuations of optimum (27 °C) and high

water temperature (33 °C) on Penaeus vannamei

juveniles infected with white spot syndrome

virus (WSSV) Aquaculture 269: 107–113.

Rahman, M.M., Corteel, M.,Wille, M., Alday-Sanz, V., Pensaert, M.B., Sorgeloos, P., Nauwynck, H.J., 2007b The effect of raising water temperature to

33 °C in Penaeus vannamei juveniles at different

stages of infection with white spot syndrome

virus (WSSV) Aquaculture 272: 240–245

Tang, K.F.J., Pantoja, C.R., Redman, R.M., Han, J.E., Tran, L.H., Lightner, D.V., 2015 Development

of in situ hybridization and PCR assays for

the detection of Enterocytozoon hepatopenaei

(EHP), a microsporidian parasite infecting penaeid shrimp J Invertebr Pathol 130: 37–41 Tendencia, E.A., Verreth, J.A.J., 2011 Temperature fluctuation,low salinity, watermicroflora: risk

factors for WSSV outbreaksin Penaeus monodon

Isr J Aquacult-Bamid 63: 1−7 Tourtip, S., Wongtripop, S., Stentiford, G.D., Bateman, K.S., Sriurairatana, S., Chavadej, J., Sritunyalucksana, K., Withyachumnarnkul,

B., 2009 Enterocytozoon hepatopenaei sp nov (Microsporida: Enterocytozoonidae), a parasite of the black tiger shrimp Penaeus

monodon (Decapoda: Penaeidae): Fine structure and phylogenetic relationships Journal of invertebrate pathology 102(1): 21-29.

Trang 23

THE PREVALENCE OF WHITE SPOT SYNDROME VIRUS (WSSV),

Vibrio parahaemolyticus AND Enterocytozoon hepatopenaei IN

POSTLARVAE AND GROW-OUT BRACKISH-WATER SHRIMPS IN

THE MEKONG DELTA

Le Hong Phuoc 1*, Nguyen Hong Loc1

ABSTRACT

This study was conducted on 800 postlarvae samples collected at Ninh Thuan, Binh Thuan, Vung Tau and Mekong Delta areas and 170 farmed shrimp samples collected at Bac Lieu, Soc Trang, Ben Tre, Tra Vinh and Ca Mau The samples were collected from January to October of 2019 and

were tested for several dangerous pathogenic agents including WSSV, Vibrio parahaemolyticus and

Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) via PCR method In dry season, the percentage of postlarvae

samples positive with WSSV, Vibrio parahaemolyticus and EHP were 2.29%, 4.86% and 6.4%, respectively Whereas the percentage of farmed shrimp samples positive with WSSV, Vibrio

parahaemolyticus and EHP were 9.38%, 10.94% and 25.00%, respectively In rainy season, the

percentage of postlarvae samples positive with WSSV, Vibrio parahaemolyticus and EHP were

1.56%, 3.33% and 9.33%, respectively, while the percentage of farmed shrimp samples positive

with WSSV, Vibrio parahaemolyticus and EHP were 12.26%, 10.37% and 33.02%, respectively The percentage of postlarve samples positive with Vibrio parahaemolyticus in 2019 was 4.0%,

which was higher than that of 2018 (3.63%) The percentage of postlarve samples positive with WSSV in 2019 was also higher than that in 2019, which were 1.87% and 1.13%, respectively EHP infection in postlarvae was 7.78% in 2019 which was higher than that of 2017 (2.73%) and 2018 (6.75%).

Keywords: WSSV, EHP, Vibrio parahaemolyticus.

1 Research Institute for Aquaculture II

* Email: lehongphuoc@yahoo.com

Người phản biện: TS Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh

Ngày nhận bài: 02/12/2019 Ngày thông qua phản biện: 19/12/2019

Ngày duyệt đăng: 25/12/2019

Người phản biện: TS Nguyễn Ngọc Phước

Ngày nhận bài: 02/12/2019 Ngày thông qua phản biện: 20/12/2019

Ngày duyệt đăng: 25/12/2019

Trang 24

TỔNG QUAN VỀ BỆNH COLUMNARIS TRÊN CÁ NƯỚC NGỌT

Nguyễn Ngọc Du 1*

TÓM TẮT

Bài báo giới thiệu về tình hình bệnh columnaris ở cá nước ngọt trên thế giới và Việt Nam, tác nhân gây bệnh, cơ chế gây bệnh, đường truyền lây và các biện pháp phòng trị Một trong những biểu hiện của bệnh columnaris được ghi nhận phổ biến trong sản xuất cá tra giống là trắng đuôi, thối đuôi và được gọi là bệnh “trắng đuôi, thối đuôi” Bệnh gây nhiều thiệt hại trong quá trình ương nuôi cá da trơn, đặc biệt từ giai đoạn bột lên hương Hơn nữa, bài báo cung cấp thông tin về những nghiên cứu

và triển vọng trong phòng trị bệnh columnaris.

Từ khóa: Bệnh columnaris, trắng đuôi, thối đuôi, Flavobacterium columnare.

1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

* Email:ngocduaqua@yahoo.com

1 Tình hình dịch bệnh trên thế giới

Trong nghề nuôi cá da trơn ở Mỹ,

Flavobacterium columnare là vi khuẩn phổ

biến thứ hai, sau E ictaluri (Hawke & Thune,

1992), gây tổn thất hàng năm lên đến 30 triệu

USD (Shoemaker và ctv., 2011) Trong suốt hai

thập kỷ gần đây, bệnh columnaris cũng là mối

đe dọa lớn nhất cho nghề nuôi cá hồi (Salmo

salar) , cá hồi vân (Salmo trutta), cá hồi Thái

Bình Dương (Oncorhynchus mykiss) ở vùng

Fennoscandia, Phần Lan Vi khuẩn này cũng

được coi là tác nhân gây bệnh quan trọng trong

nghề nuôi cá rô phi ở Brazil F columnare

cũng gây bệnh ở nhiều loài cá cảnh nhiệt đới

như cá molly (Poecilia sphenops), cá platie

(Xiphophorus maculatus) (Decostere và ctv.,

1998), cá da trơn Brazil và cá rô phi sông Nile

(Barony và ctv., 2015) Bệnh columnaris được

cho là nguyên nhân gây tổn thất nhiều nhất ở

các trang trại nuôi cá da trơn ở bang Mississippi

(Mỹ) vào năm 2000 (Khoo, 2001) Trên 70%

hộ nuôi cho biết bệnh columnaris hoặc sự kết

hợp của bệnh columnaris và những bệnh do tác

nhân khác là nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế

lớn nhất đối với các hộ nuôi cá da trơn ở bốn

bang nuôi phổ biến loại cá này ở Mỹ (Khoo,

2001) Theo thống kê của hệ thống kiểm soát

sức khỏe động vật quốc gia của Mỹ vào năm

2004, bệnh ESC (do E ictaluri) và columnaris (do F columnare) là hai bệnh đứng đầu trong

danh sách những bệnh truyền nhiễm ở cá da trơn Những ghi nhận từ phòng xét nghiệm bệnh cá của trường đại học bang Mississippi ở Stoneville cho thấy columnaris chiếm 40,9% và ESC chiếm 30,7% trường hợp cá bệnh vào năm

2004 Tỷ lệ chết của cá da trơn giai đoạn từ bột lên giống từ 30 đến 50% hoặc cao hơn Số liệu thống kê đã ghi nhận tỷ lệ thiệt hại cao nhất

là do ESC chiếm 28%, tương đương thiệt hại khoảng 13,5 triệu USD, columnaris là nguyên nhân gây thiệt hại thứ hai chiếm 23%, tương ứng với khoản tổn thất 10,8 triệu USD (Nguồn: đại học bang Mississippi, 2004) Khoảng thời gian từ năm 2004 – 2007, tỷ lệ thiệt hại do bệnh columnaris chiếm 18,33% (Cunningham và ctv., 2012)

2 Hiện trạng bệnh do Flavobacterium columnare trên cá nuôi ở Việt Nam

Dấu hiệu của bệnh columnaris được ghi nhận tương tự bệnh trắng đuôi, thối đuôi trên

cá tra nuôi ở Việt Nam Bệnh “trắng đuôi, thối đuôi” thường đi kèm với những bệnh khác (bệnh xuất huyết, gan thận mủ, lở loét và ký sinh trùng), gây thiệt hại chủ yếu trên cá giai đoạn từ bột lên hương và cá nuôi thương phẩm

ở giai đoạn nhỏ (dưới 200g) Bệnh phát sinh khi

Trang 25

nhiệt độ môi trường thay đổi do bị ảnh hưởng

của không khí lạnh Hiện nay, bệnh trắng đuôi,

thối đuôi kết hợp với các bệnh truyền nhiễm

khác đang là một trong những nguyên nhân gây

thiệt hại lớn trong sản xuất cá tra giống, được

ghi nhận ở các tỉnh Đồng Tháp (Nguồn: Vasep

com.vn, 19/04/2018), Long An (Nguồn: báo

Long An online, 10/8/2018), cá chết từ 10-30%,

có ao cá chết lên đến 100% Cá bệnh có dấu

hiệu thối đuôi, trắng mang, ngoài ra còn có biểu

hiện phù đầu, xuất huyết, gan thận mủ Những

ghi nhận từ người nuôi cho biết bệnh này dễ

xuất hiện khi cá bị xây xát do đánh bắt, sang

ao, vận chuyển, hoặc do nhiệt độ môi trường

thay đổi đột ngột Cá bị nhiễm bệnh thường bỏ

ăn, gốc vây lưng xuất hiện vết đốm trắng, sau

đó lan dần đến cuống đuôi và toàn thân Cá bị

bệnh nặng thường bơi lờ đờ ngang mặt nước,

rồi lộn đầu xuống và chết Bệnh thường xảy ra

rất nhanh Ngoài cá tra giống, các loại cá khác

như: cá rô phi, điêu hồng cũng thường bị hao

hụt rất lớn ở giai đoạn còn nhỏ, đặc biệt sau khi

vận chuyển cá hương, cá giống Khi nhiễm bệnh

này, cá chết nhanh trong thời gian từ 2-4 ngày

sau khi có biểu hiện bệnh lý, tỷ lệ cá chết từ

80-100% đối với trường hợp nuôi trên bể và

35-60% nuôi ở ao đất

Theo tác giả Bùi Quang Tề, bệnh do F

columnare có dấu hiệu ban đầu là các đốm trắng

trên thân, đầu, vây, mang, sau đó lan rộng thành

các vết loét Các mép vây bị mất màu và sau

đó lan dần tới gốc vây, làm cho vây bị hoại tử

và cụt dần Các vết loét xuất hiện trên mang,

tơ mang bị phá hủy làm cá ngạt thở Không có

dấu hiệu bệnh tích ở các cơ quan nội tạng và

bệnh thường xảy ra khi nuôi nhốt cá với mật độ

cao, môi trường nghèo dinh dưỡng Vi khuẩn

gây bệnh trên nhiều cá nước ngọt như cá ba sa,

cá diếc,… (Bùi Quang Tề, 2006) Năm 2008,

Nguyễn Ngọc Du và ctv., đã ghi nhận sự hiện

diện của vi khuẩn Flavobacterium spp trên

mang cá chép cảnh (Koi) Đây là trường hợp

cá chép cảnh nuôi bè bị chết cấp tính trong thời

gian rất ngắn Cá sống sót có biểu hiện tuột nhớt

tạo thành những đám trắng như sợi bông và

sau đó hình thành vùng hoại tử (Nguyễn Ngọc

Du, 2008) Năm 2012, một nghiên cứu về bệnh trắng đuôi trên cá tra ở khu vực Đồng bằng sông

Cửu Long cho thấy tác nhân là Flavobacterium columnare (Từ Thanh Dung và ctv., 2012) Vi khuẩn này dạng sợi (Myxobacterial) ngoại ký sinh, gây tổn thương chủ yếu trên da, gây ăn mòn đuôi và hoại tử mang Bệnh gây chết cao

ở cá hương, cá giống (85-100%) và ở cá trưởng thành (35-60%), thường xảy ra do cá bị sốc sau quá trình vận chuyển hoặc do sự thay đổi đột ngột của thời tiết Ngoài ra, báo cáo của Đồng Thanh Hà năm 2015 về bệnh columnaris trên cá tra nuôi ở Thái Lan và Việt Nam cho thấy bệnh này là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trên cá tra, cùng với bệnh gan thận mủ gây ra

do Edwardsiella ictaluri (Dong, 2015) Nghiên

cứu ở Việt Nam cũng cho thấy hai chủng F columnare FC-HN2 và FC-CT2 gây bệnh trên

cá tra giống có biểu hiện tương tự ở ngoài tự nhiên FC-HN2 và FC-CT2 gây chết cá sau

6 giờ và 8 giờ cảm nhiễm bằng phương pháp ngâm với giá trị LD50 lần lượt là 1,7x105 và 3,2x106 cfu/ml (Từ Thanh Dung và ctv., 2012)

3 Tác nhân gây bệnh

Bệnh do Flexibacterium columnaris lần

đầu được công bố vào năm 1922 và được xem là mối đe dọa nghiêm trọng đối với cá tự nhiên và cá nuôi (David, 1922) Năm 1944, Ordal và Rucker lần đầu tiên phân lập được

vi khuẩn này từ ổ dịch trên cá hồi sockeye

(Onchorhynchus nerka) ngoài tự nhiên Đến năm 1996, vi khuẩn này được đổi tên thành

Flavobacterium columnare và được sử dụng cho đến nay (Bernardet, 1996) Ngoài ra còn

có một số chủng khác gây bệnh trên cá nước

lạnh như F psychrophylum, F branchiophilum

Vi khuẩn F columnare được tìm thấy chủ

yếu trên các loại cá nước ngọt (Hawke, 1992; Shotts, 1999) Đối với những trường hợp cấp

tính, bệnh do Flavobacterium có khả năng

gây chết lên đến 70%, hoặc có thể đến 100% (Suomalainen và ctv., 2005) Những cá sống sót tăng trưởng rất kém, cơ và vây bị ăn mòn và hoại tử, khung xương bị biến dạng sau một thời gian dài nhiễm bệnh (Austin & Austin, 1999) Các chủng vi khuẩn có độc lực khác nhau có sự

Trang 26

liên quan với khả năng bám dính vào mang cá

và những yếu tố môi trường cũng có ảnh hưởng

đến khả năng bám dính này (Decostere, 2002)

Đây là bước quan trọng trong quá trình phát

sinh bệnh (Decostere và ctv., 1999) Cá nheo

sông channel catfish 4 tháng tuổi gây nhiễm

thực nghiệm với các chủng F columnare

(94-081 và Matt) gây chết từ 87% đến 100%, ở cá 6

tháng tuổi tỷ lệ chết lên đến 60% trong vòng 8

ngày Đối với những chủng mang độc lực thấp

(143-94 và C56-1), khả năng gây chết cá có tỷ

lệ thấp hơn (dưới 40%) Cá bị tuột nhớt, có dấu

hiệu lở tróc trên da hoặc không Dấu hiệu tuột

nhớt càng cao, tỷ lệ cá chết càng tăng (Soto và

ctv., 2008) Trên cá nhiệt đới nuôi ở Brazil, F

columnare cũng được phân lập ở những cá có

vùng da bị mất màu, tạo đốm màu trắng xám ở

một số phần trên cơ thể như đầu, miệng, mang,

vây và thân, được bao quanh bởi vùng đỏ nhẹ

do da bị tróc, đuôi bị ăn mòn, da bị lở loét

(Pilarski và ctv., 2008) Ở Canada, bệnh do F

columnare cũng được ghi nhận ở cá hồi trắng

(Coregonus clupeaformis) với những biểu hiện

bệnh tích như: các vùng nhạt màu trên cơ thể

từ từ bị tróc da và lở loét, các sợi mang bị hoại

tử Mẫu soi tươi vùng hoại tử của da và mang

có nhiều vi khuẩn hình sợi chuyển động trượt

(Scott & Bollinger, 2014) Trên cá hồi Atlantic

(Salmo sala L.) cảm nhiễm với F columnare,

vi khuẩn tạo thành những khuẩn lạc có hình

dạng như đám bông (cotton wool) trên phần

da bị mất nhớt, khởi đầu cho việc hình thành

những vùng hoại tử và sau này phát triển thành

vết loét (Morrison và ctv., 1981) F columnare

hiện diện nhiều ở da và vây của cá koi bệnh do

cảm nhiễm thực nghiệm, không thường xuyên

thấy ở mang, và ít khi phân lập được ở các cơ

quan khác như gan, thận, lách (Tripathi và ctv.,

2005) Tuy nhiên, trong tự nhiên, biểu hiện hoại

tử mang là dấu hiệu thường thấy nhất khi dịch

bệnh columnaris xảy ra, làm cho cá chết trước

khi xuất hiện những dấu hiệu lở loét trên da

(Decostere & Haesebrouck, 1999; Decostere và

ctv., 2002)

F columnare là vi khuẩn hiếu khí, gram âm,

có dạng sợi mảnh, di chuyển bằng cách trượt

Vi khuẩn không thể phân lập được trên các môi trường bình thường mà mọc trên các môi trường nghèo dinh dưỡng như Cytophage agar, Hsu shott agar hoặc Shieh agar (Decostere và ctv.,

1997) F columnare có nhiều dạng khuẩn lạc:

dạng rễ và dẹt (dạng 1), không mọc rễ và cứng (dạng 2), tròn và mềm (dạng 3), hình dạng không bình thường và mềm (dạng 4), trong đó dạng 1

có độc tính nhiều nhất F columnare gây hoại

tử phần cung mang cá chép Cyprinus carpio,

làm mất cấu trúc sợi mang và sự hủy hoại các

tế bào biểu bì mang dẫn đến sự dung nạp giữa sợi mang và tơ mang, cá chết trong vòng 12 giờ sau khi gây nhiễm (Declercq và ctv., 2015) Thí nghiệm ở cá hồi Thái Bình Dương cũng cho thấy mang bị hủy hoại và có nhiều điểm hoại tử

ở cung mang Cá bắt đầu chết sau 15 đến 18 giờ gây nhiễm, tỷ lệ chết lên đến 100% (Declercq và ctv., 2015) Chủng có khuẩn lạc hình dạng rễ có khả năng gây chết cấp tính 100% trong vòng 24

giờ trên cá điêu hồng giống (Oreochromis sp.)

nhưng dạng khuẩn lạc không tạo rễ không có khả năng gây chết (Thanh Dong và ctv., 2016)

4 Cơ chế gây bệnh của F columnare

F columnare có khả năng sản sinh enzyme chondroitin lyase AC phân giải chondroitin

A và C và hyaluronic acid, một phức hợp polysaccharides của mô liên kết Enzyme này hoạt động đặc biệt trên nhóm acidic mucopolysacchrides tìm thấy trên mô liên kết của động vật Hoạt tính protease góp phần làm tổn hại mô và gia tăng tiến trình xâm nhập vào trong cơ thể (Dalsgaard, 1993) Vi khuẩn có khả năng sống sót hàng tháng trong nước hồ đã được

vô trùng và có thể sống trên những mô cá chết

Hơn nữa, F columnare có thể di chuyển rất hiệu

quả từ cá chết sang cá sống, thậm chí còn nhanh hơn từ cá sống sang cá sống Khả năng này làm gia tăng sự phát sinh bệnh tiềm ẩn khi thay đổi môi trường sống của cá

Đa dạng di truyền trong trình tự đoạn 16S

RNA của F columnare thông qua kỹ thuật RFLP

(restriction fragment length polymorphism) thể

hiện các kiểu gene của F columnare bao gồm

genomovar I, I/II, II, II-B và III (LaFrentz và ctv., 2014) Chủng mang kiểu gene genomovar

Trang 27

II được chứng minh có độc lực cao (gây chết

92-100%) ở cá nheo giống so với genomovar

I (gây chết 0-46%) (Shoemaker và ctv., 2008)

Các nghiên cứu cũng cho thấy sự tương tự ở

cá mang xanh blue gill Lepomis macrochirus

Rafinesque (Bullard và ctv., 2013) và cá hồi

Thái Bình Dương (Lafrentz và ctv., 2012)

5 Con đường truyền lây

F columnare có thể lây truyền thông qua

môi trường nước và bùn đất trong ao nuôi Bệnh

columnaris xảy ra khắp mọi nơi và vi khuẩn xâm

nhiễm vào tất cả các loài cá nước ngọt và một

số loài lưỡng cư Cá hồi giống, cá da trơn giống

nuôi ở các trại sản xuất thường rất dễ bị bệnh

columnaris do được nuôi với mật độ cao, trong

đó yếu tố môi trường là điều kiện quan trọng gây

phát sinh dịch bệnh Khi kết hợp với các yếu tố

gây sốc như nhiệt độ tăng, mật độ tăng, xây xát

do vận chuyển…, F columnare có thể tấn công

và gây bệnh cho cá Các nghiên cứu cho thấy

F columnare có thể lây truyền trực tiếp từ cá

sang cá thông qua môi trường nước nhưng quá

trình phát bệnh có liên quan đến các điều kiện

gây sốc như chất lượng nước kém, di chuyển cá

trong quá trình thả giống hay thu hoạch (Wood,

1974) (Hawke và Khoo, 2004) F columnare

có thể tạo thành dạng kén (microcyst) tồn tại

nhiều năm và đây có thể là nguồn lây nhiễm tự

nhiên (Wood, 1979) Thời gian ủ bệnh của F

columnare có thể thay đổi tùy theo độc lực của

chủng và điều kiện của môi trường Chủng có

độc lực cao có thể gây dịch bệnh cấp tính trong

vòng 24 giờ, trong khi chủng có độc lực thấp có

thể cần nhiều thời gian hơn, từ 48 giờ cho đến

vài tuần (Warren, 1981)

6 Khả năng kháng kháng sinh của F

columnare

Nghiên cứu về sự nhạy cảm với kháng sinh

của vi khuẩn F columnare được thực hiện trên

97 chủng thu thập khắp nơi trên thế giới từ năm

1987 đến năm 2011 phân lập từ 17 loài cá khác

nhau Kết quả cho thấy các chủng vi khuẩn này

đều kháng với kháng sinh từ 1-16%, trong đó

có một chủng kháng với nhiều loại kháng sinh

Chủng F columnare phân lập từ cá tra nuôi ở

Việt Nam cho thấy kháng với oxytetracycline, trong khi đó một chủng khác có nguồn gốc từ

cá cảnh ở Việt Nam được kiểm tra có khả năng kháng kháng sinh ở ba cấp độ (Declercq và ctv., 2013)

Chloramine-T ở nồng độ 15 mg/L có thể được dùng để điều trị bệnh columnaris ở cá vàng

(Carassius auratus) (Altinok, 2004) Flofenicol hiện được FDA chấp nhận cho sử dụng để điều trị bệnh do vi khuẩn trên cá (FDA, 2011) và cũng

là loại kháng sinh duy nhất được chấp nhận ở Phần Lan để trị bệnh cho cá trong trường hợp vi khuẩn kháng oxytetracycline (Suomalainen và ctv., 2006)

7 Các nghiên cứu về phòng trị bệnh columnaris

Việc thử nghiệm điều trị bệnh do F columnare bằng các hóa chất trên cá nheo

Ictalurus punctatus cho thấy sulphat đồng (CuSO4) có hiệu quả điều trị ở liều 2,1 mg/L ngâm liên tục 3 ngày, giúp tăng tỷ lệ sống (73%) so với lô đối chứng không xử lý hóa chất (41,5%), trong khi việc xử lý bằng thuốc tím KMnO4 3,5 mg/L không cho hiệu quả rõ rệt (53,6%) (Farmer và ctv., 2014) Thuốc tím cho thấy có tính diệt khuẩn, nhưng cũng làm gia tăng tổn thương ở mang cá (Darwish và ctv., 2002) và có thể làm cá chết nhanh trong trường hợp cấp tính (Dawish và ctv., 2008) Việc sử dụng sulphate đồng cần lưu ý đến tính chất hóa

lý của nước vì hóa chất này thường có độc tính

ở môi trường nước có độ kiềm thấp Cả hai hóa chất này đều có ảnh hưởng đến thành phần hữu

cơ trong ao và tích tụ trong ao Độ cứng của nước cao có ảnh hưởng đến sự phát sinh bệnh

do F columnare ở cá nheo sông Ở môi trường

nước có độ cứng cao, cá thí nghiệm có thể chết lên đến 100% sau 4 ngày gây nhiễm, trong khi không có cá chết ở môi trường nuôi có độ cứng thấp (nồng độ calcium và magnesium thấp) Sự

bám dính của vi khuẩn F columnare ở bề mặt

mang cá cũng cao hơn 1900 lần ở môi trường nước có độ cứng cao so với môi trường nước

có độ cứng thấp Hàm lượng chất hữu cơ hòa tan không cho thấy có ảnh hưởng gì đến độ bám

Trang 28

dính của vi khuẩn trên mang cũng như tỷ lệ chết

của cá (Straus và ctv., 2015)

Nghiên cứu về sự nhạy cảm với kháng sinh

của vi khuẩn F columnare thực hiện trên 97

chủng thu thập khắp nơi trên thế giới từ năm

1987 đến năm 2011 phân lập từ 17 loài cá khác

nhau Kết quả cho thấy các chủng vi khuẩn này

đều kháng với kháng sinh từ 1-16%, trong đó

có một chủng kháng với nhiều loại kháng sinh

Chủng F columnare phân lập từ cá tra nuôi ở

Việt Nam cho thấy kháng với oxytetracycline,

trong khi đó một chủng khác có nguồn gốc từ

cá cảnh ở Việt Nam được kiểm tra có khả năng

kháng kháng sinh ở ba cấp độ (Declercq và

ctv., 2013) Chloramine-T ở nồng độ 15 mg/L

có thể được dùng để điều trị bệnh columnaris

ở cá vàng (Carassius auratus) (Altinok, 2004)

Flofenicol hiện được FDA chấp nhận cho sử

dụng để điều trị bệnh do vi khuẩn trên cá (FDA,

2011) và cũng là loại kháng sinh duy nhất được

chấp nhận ở Phần Lan để trị bệnh cho cá trong

trường hợp kháng oxytetracycline (Suomalainen

và ctv., 2006)

Nhiều thí nghiệm về miễn dịch cho thấy cá

có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại F columnare

thông qua việc hoạt hóa hệ thống miễn dịch

thứ cấp Ở cá hồi Thái Bình Dương, hiệu giá

ngưng kết huyết thanh lên đến 1: 5120 khi tiêm

cá với vaccine chết do nhiệt, tỷ lệ cá sống sót

lên đến 60-70% sau khi tiêm cảm nhiễm với F

columnare ở liều 106 tế bào, tuy nhiên không

thấy có kháng thể kháng F columnare ở những

cá chép gây miễn dịch Hiện nay trên thị trường

đã có vaccine thương mại AQUAVAC-COLTM

(Merk & Co., Inc.) cho bệnh columnaris Thành

phần hoạt hóa trong vaccine này là chủng F

columnare đột biến bất hoạt kháng rifampicin có

nguồn gốc từ chủng mang kiểu gene genomovar

I (Y Zhang và ctv., 2006) Các nghiên cứu gần

đây về vaccine phòng bệnh columnaris đã đạt

được một số thành tựu nhất định Chủng đột

biến genomovar II 17-23 cho tỷ lệ bảo hộ cao

hơn nhiều so với vaccine có nguồn gốc từ chủng

genomovar I ở cá nheo và cá rô phi sông Nile

(Mohammed và ctv., 2013) Tuy nhiên vaccine

này vẫn đang trong quá trình thử nghiệm để đưa

ra thị trường

Nghiên cứu về thảo dược cũng cho thấy tiềm năng trong việc sử dụng làm thuốc phòng

trị bệnh columnaris Hạt thìa là (Nigella sativa)

dạng dầu và dạng bột trộn vào thức ăn làm giảm đáng kể tỷ lệ chết trên cá ngựa vằn zebrafish và

cá nheo thí nghiệm (từ 77% xuống 44% và từ 70% xuống 18%) (Mohammed, 2016) Thành phần polysaccharide của quả sung (Ficus carica polysaccharide – FCP) cho thấy có tác dụng

kháng F.columnare ở cá trắm cỏ với tỷ lệ sống

60% so với lô đối chứng 30% (Yang và ctv., 2014)

Phương pháp phòng trị bệnh bằng probiotic cũng cho thấy có nhiều hứa hẹn Nghiên cứu

về đối kháng vi sinh vật cho thấy chủng

Pseudomonas fluorescens có khả năng ức chế

sự phát triển của F columnare trên cá Walleye

(Sander vitreus), làm cải thiện tỷ lệ sống đến 54% (Seghouani và ctv., 2017) Một số vi sinh thuộc nhóm xạ khuẩn actinobacteria cũng có

khả năng đối kháng với F columnare và F psychrophylum trên cá brook charr (Salvelinus fontinalis) trong phòng thí nghiệm (Boutin và

ctv., 2012) Chủng vi khuẩn Pseudomonas sp

MT5 sử dụng trong thử nghiệm đối kháng với

F columnare mặc dù cho kết quả rất khả quan trong điều kiện in vitro nhưng không làm giảm

tỷ lệ chết in vivo khi thực nghiệm trên cá hồi

Thái Bình Dương (Suomalainen và ctv., 2005).Carbohydrate ligand L-rhamnose được sử dụng trong thí nghiệm phòng bệnh columnaris trên cá nheo sông cho tỷ lệ chết giảm và làm giảm sự tiếp xúc của vi khuẩn gây bệnh với vật chủ thông qua sự giảm biểu hiện của rhamnose-binding lectin (RBL1a) (Beck và ctv., 2012) Vì yếu tố giá thành, một sản phẩm thương mại thay thế rhamnose lipids (RLs), trong đó thành phần

có nhiều L- rhamnose, được sử dụng bằng cách

ngâm và cho ăn ở cá bị gây nhiễm F columnare

Kết quả thí nghiệm cho tỷ lệ sống thấp chứng

tỏ RLs không thể thay thế cho rhamnose trong phòng bệnh columnaris ở quy mô thí nghiệm,

do đó cần thiết phải tìm một nguồn thay thế

Trang 29

L- rhamnose khác có yếu tố giá thành và hiệu

quả (Zang và ctv., 2017) Việc bổ sung một số

prebiotic vào trong thức ăn, như Alltech dietary

additives Actigen(®), một chất có nguồn gốc

từ thành tế bào nấm men, hoặc Allzyme® SSF,

một sản phẩm xuất xứ từ Aspergillus niger, cho

thấy có khả năng bảo vệ vật chủ khỏi sự xâm

nhiễm của F columnare (Zhao và ctv., 2015)

Prebiotic chiết xuất từ nấm men cũng được sử

dụng phòng bệnh columnaris trên cá vàng cho

thấy có hiệu quả (Sink & Lochmann, 2008)

Sử dụng chất kích thích miễn dịch trên cá hồi

vân cho thấy glucan từ nấm men và

beta-hydroxy-beta-methylbutyrate (HMB) có triển

vọng ở mức độ nhẹ trong việc ngăn ngừa bệnh

columnaris ở giai đoạn cá nhỏ (Kunttu và ctv.,

2009) Nghiên cứu gần đây xác định được một

số gene liên quan đến quá trình NF-kB có hiện

diện trong nhớt da của cá nheo sông bị bệnh

columnaris thể hiện tiềm năng trong việc sử

dụng chất kích thích miễn dịch để phòng bệnh

này (Wang và ctv., 2017)

8 Kết luận - Thảo luận

Bệnh columnaris trên cá nước ngọt mặc dù

đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới nhưng

vẫn chưa được quan tâm đúng mức ở Việt Nam

Cho đến nay, chưa có thống kê chính thức nào

về tỷ lệ thiệt hại do bệnh này ở cá nước ngọt

nói chung và cá tra nói riêng Bệnh gây tuột

nhớt trầm trọng ở cá giai đoạn nhỏ trong sản

xuất giống và thường gây chết cấp tính Đối với

những cá lớn hơn, bệnh thường biểu hiện lở loét

gốc vây lưng và đuôi, tuột nhớt, nhớt tạo thành

đám như bông bám ở vùng bị xâm nhiễm, hoại

tử mang… dẫn đến thiệt hại đáng kể trong quá

trình nuôi Việc phát sinh dịch bệnh phần lớn do

môi trường thay đổi đột ngột, tạo điều kiện cho

vi khuẩn tồn tại trong môi trường phát triển và

gây bệnh trên cá

Việc phòng trị bệnh columnaris cho cá

trước đây chủ yếu dùng kháng sinh vì hiệu quả

điều trị tốt Tuy nhiên do chính sách hạn chế

sử dụng kháng sinh, nhiều giải pháp thay thế

đã và đang được nghiên cứu trên thế giới và có

những kết quả nhất định như các hóa chất xử lý

môi trường nuôi, vaccine, thảo dược, probiotic,

prebiotic Ở Việt Nam, việc phòng trị bệnh chưa

có nghiên cứu nào được công bố mà phần lớn dựa vào kinh nghiệm của người nuôi và thường chữa bệnh theo hướng bao vây Do tính chất phát bệnh, hiệu quả chữa trị chỉ khi cá được xử

cá Dĩa và các giải pháp phòng trị Viện NCNTTS

II Báo cáo tổng kết đề tài cấp thành phố - Sở khoa học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

Từ Thanh Dung, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Tiên, 2012 Nghiên cứu tác nhân gây bệnh trắng

đuôi trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)

và giải pháp điều trị Tạp chí Khoa học 2012:22c 136-145 Trường Đại học Cần Thơ.

Tài liệu tiếng Anh

Altinok, I., 2004 Toxicity and therapeutic effects

of chloramine-T for treating Flavobacterium

columnare infection of goldfish Aquaculture,

239(1), 47-56 doi: https://doi.org/10.1016/j aquaculture.2004.05.035

Austin, B., & Austin, D A., 1999 Bacterial Fish

Pathogens: Disease of Farmed and Wild Fish

(Vol XXVIII).

Bailey, T A., 1984 Effects of twenty-five compounds on four species of aquatic fungi (Saprolegniales) pathogenic to fish Aquaculture, 38(2), 97-104 doi: https://doi.org/10.1016/0044- 8486(84)90222-9

Baldwin, T J., & Newton, J.C., 1993 Pathogenesis

of Enteric Septicemia of Channel Catfish, Caused

by Edwardsiella ictaluri: Bacteriologic and Light

and Electron Microscopic Findings Journal

of Aquatic Animal Health, 5(3), 189-198 doi: 10.1577/1548-8667(1993)005<0189:POESOC> 2.3.CO;2

Barony, G M., Tavares, G C., Assis, G B., Luz, R K., Figueiredo, H C., & Leal, C A., 2015 New

hosts and genetic diversity of Flavobacterium

columnare isolated from Brazilian native species

and Nile tilapia Dis Aquat Organ, 117(1), 1-11

doi: 10.3354/dao02931 Bartie, K L., Austin, F W., Diab, A., Dickson, C.,

Trang 30

Dung, T T., Giacomini, M., & Crumlish, M.,

2012 Intraspecific diversity of Edwardsiella

ictaluri isolates from diseased freshwater catfish,

Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage),

cultured in the Mekong Delta, Vietnam J Fish

Dis, 35(9), 671-682 doi:

10.1111/j.1365-2761.2012.01376.x

Beck, B H., Farmer, B D., Straus, D L., Li, C., &

Peatman, E., 2012 Putative roles for a rhamnose

binding lectin in Flavobacterium columnare

pathogenesis in channel catfish Ictalurus

punctatus Fish Shellfish Immunol, 33(4),

1008-1015 doi: 10.1016/j.fsi.2012.08.018

Boutin, S., Bernatchez, L., Audet, C., & Derome,

N., 2012 Antagonistic effect of indigenous skin

bacteria of brook charr (Salvelinus fontinalis)

against Flavobacterium columnare and F

psychrophilum Vet Microbiol, 155(2-4),

355-361 doi: 10.1016/j.vetmic.2011.09.002

Bullard, S A., Mohammed, H., & Arias, C R., 2013

First record of the fish pathogen Flavobacterium

columnare genomovar II from bluegill, Lepomis

macrochirus (Rafinesque), with observations on

associated lesions J Fish Dis, 36(4), 447-451

doi: 10.1111/jfd.12005

Cahill, M M., 1990 Virulence factors in motile

Aeromonas species J Appl Bacteriol, 69(1),

1-16

Cao, H., Zheng, W., Xu, J., Ou, R., He, S., & Yang, X.,

2012 Identification of an isolate of Saprolegnia

ferax as the causal agent of saprolegniosis of

yellow catfish (Pelteobagrus fulvidraco) eggs

Vet Res Commun, 36(4), 239-244 doi: 10.1007/

s11259-012-9536-8

Ciftci, A., Onuk, E E., Ciftci, G., Findik, A., Sogut,

M U., Didinen, B I., Altun, S., 2016

Development and validation of

glycoprotein-based native-subunit vaccine for fish against

Aeromonas hydrophila J Fish Dis, 39(8),

981-992 doi: 10.1111/jfd.12499

Crumlish, M., T Dung, T., F Turnbull, J., T N Ngoc,

N., & W Ferguson, H., 2002 Identification of

Edwardsiella ictaluri from diseased freshwater

catfish, Pangasius hypophthalmus (Sauvage),

cultured in the Mekong Delta, Vietnam (Vol 25).

Dalsgaard, I., 1993 Virulence mechanisms in

Cytophaga psychrophila and other

Cytophaga-like bacteria pathogenic for fish Annual Review

of Fish Diseases, 3, 127-144 doi: https://doi.

org/10.1016/0959-8030(93)90032-7 Declercq, A M., Boyen, F., Van den Broeck, W., Bossier, P., Karsi, A., Haesebrouck, F., & Decostere, A., 2013 Antimicrobial susceptibility

pattern of Flavobacterium columnare isolates

collected worldwide from 17 fish species J Fish Dis, 36(1), 45-55 doi: 10.1111/j.1365- 2761.2012.01410.x

Declercq, A M., Chiers, K., Haesebrouck, F., Van den Broeck, W., Dewulf, J., Cornelissen, M., & Decostere, A., 2015 Gill infection model for columnaris disease in common carp and rainbow trout J Aquat Anim Health, 27(1), 1-11 doi: 10.1080/08997659.2014.953265

Decostere, A., Haesebrouck, F., & Devriese,

L A., 1997 Shieh medium supplemented with tobramycin for selective isolation of

columnaris) from diseased fish J Clin Microbiol,

35(1), 322-324

Decostere, A., Haesebrouck, F., & Devriese, L A.,

1998 Characterization of four Flavobacterium

columnare (Flexibacter columnaris) strains

isolated from tropical fish Vet Microbiol, 62(1),

35-45

E Bly, J., A Lawson, L., J Dale, D., Szalai, A., Durborow, R., & W Clem, L., 1992 Winter saprolegniosis in channel catfish (Vol 13) Farmer, B D., Straus, D L., Mitchell, A J., Beck,

B H., Fuller, S A., & Barnett, L M., 2014 Comparative Effects of Copper Sulfate or Potassium Permanganate on Channel Catfish

Concurrently Infected with Flavobacterium

columnare and Ichthyobodo necator Journal

of Applied Aquaculture, 26(1), 71-83 doi: 10.1080/10454438.2014.882213

Fregeneda-Grandes, J., Rodríguez-Cadenas, F., & Aller-Gancedo, J., 2007 Fungi isolated from cultured eggs, alevins and broodfish of brown trout in a hatchery affected by Saprolegniosis (Vol 71).

Gaunt, P S., Chatakondi, N., Gao, D., & Endris, R., 2015 Efficacy of Florfenicol for Control of

Mortality Associated with Edwardsiella ictaluri

in Three Species of Catfish J Aquat Anim Health,

Trang 31

of General Virology, 80(7), 1817-1822 doi:

doi:10.1099/0022-1317-80-7-1817

Hawke, J P., & Thune, R L., 1992 Systemic

Isolation and Antimicrobial Susceptibility of

Cytophaga columnaris from Commercially

Reared Channel Catfish Journal of

Aquatic Animal Health, 4(2), 109-113 doi:

10.1577/1548-8667(1992)004<0109:SIAASO>

2.3.CO;2

Jiang, R H., de Bruijn, I., Haas, B J., Belmonte,

R., Lobach, L., Christie, J., van West, P

(2013) Distinctive expansion of potential

virulence genes in the genome of the oomycete

fish pathogen Saprolegnia parasitica PLoS

Genet, 9(6), e1003272 doi: 10.1371/journal.

pgen.1003272

Khardori, N., & Fainstein, V., 1988 Aeromonas

and Plesiomonas as etiological agents Annu Rev

Microbiol, 42, 395-419 doi: 10.1146/annurev.

mi.42.100188.002143

Kunttu, H M., Valtonen, E T., Suomalainen, L R.,

Vielma, J., & Jokinen, I E., 2009 The efficacy of

two immunostimulants against Flavobacterium

columnare infection in juvenile rainbow trout

(Oncorhynchus mykiss) Fish Shellfish Immunol,

26(6), 850-857 doi: 10.1016/j.fsi.2009.03.013

Lafrentz, B R., Lapatra, S E., Shoemaker, C

A., & Klesius, P H., 2012 Reproducible

challenge model to investigate the virulence

of Flavobacterium columnare genomovars in

rainbow trout Oncorhynchus mykiss Dis Aquat

Organ, 101(2), 115-122 doi: 10.3354/dao02522

LaFrentz, B R., Waldbieser, G C., Welch, T J.,

& Shoemaker, C A (2014) Intragenomic

heterogeneity in the 16S rRNA genes of

Flavobacterium columnare and standard protocol

for genomovar assignment J Fish Dis, 37(7),

657-669 doi: 10.1111/jfd.12166

Mohammed, H., Olivares-Fuster, O., LaFrentz, S.,

& Arias, C R., 2013 New attenuated vaccine

against columnaris disease in fish: choosing

the right parental strain is critical for vaccine

efficacy Vaccine, 31(45), 5276-5280 doi:

10.1016/j.vaccine.2013.08.052

Nho, S W., Abdelhamed, H., Karsi, A., & Lawrence,

M L., 2017 Improving safety of a live attenuated

Edwardsiella ictaluri vaccine against enteric

septicemia of catfish and evaluation of efficacy

Vet Microbiol, 210, 83-90 doi: 10.1016/j.

vetmic.2017.09.004 Papa, D M., Mae G Candare, C., Lorenze S Cometa, G., Elloisa G Gudez, D., Marielle Isabella T Guevara, A., Bianca Therese G Relova, M.,

& Papa, R D., 2014 Aeromonas hydrophila

Bacteriophage UP87: An Alternative to Antibiotic Treatment for Motile Aeromonas Septicemia in

Nile Tilapia (Oreochromis niloticus) (Vol 97).

Plumb, J A., Green, O L., Smitherman, R O.,

& Pardue, G B., 1975 Channel Catfish Virus Experiments with Different Strains of

Channel Catfish Transactions of the American

Fisheries Society, 104(1), 140-143 doi: 10.1577/1548-8659(1975)104<140:CCVEWD>2 0.CO;2

Poobalane, S., Thompson, K D., Ardo, L., Verjan, N., Han, H J., Jeney, G., Adams, A., 2010

Production and efficacy of an Aeromonas

hydrophila recombinant S-layer protein vaccine

for fish Vaccine, 28(20), 3540-3547 doi:

10.1016/j.vaccine.2010.03.011 Seghouani, H., Garcia-Rangel, C.-E., Füller, J., Gauthier, J., & Derome, N., 2017 Walleye Autochthonous Bacteria as Promising Probiotic

Candidates against Flavobacterium columnare

Frontiers in Microbiology, 8, 1349 doi: 10.3389/ fmicb.2017.01349

Shoemaker, C A., Klesius, P H., Drennan, J D.,

& Evans, J J., 2011 Efficacy of a modified live

Flavobacterium columnare vaccine in fish Fish

Shellfish Immunol, 30(1), 304-308 doi: 10.1016/j.

fsi.2010.11.001 Shoemaker, C A., Olivares-Fuster, O., Arias, C R., &

Klesius, P H., 2008 Flavobacterium columnare

genomovar influences mortality in channel catfish

(Ictalurus punctatus) Vet Microbiol, 127(3-4),

353-359 doi: 10.1016/j.vetmic.2007.09.003 Sink, T D., & Lochmann, R T., 2008 Preliminary Observations of Mortality Reduction in Stressed,

Flavobacterium columnare–Challenged Golden Shiners after Treatment with a Dairy-Yeast

Prebiotic North American Journal of Aquaculture,

70(2), 192-194 doi: 10.1577/A07-067.1 Straus, D L., Farmer, B D., Beck, B H., Bosworth,

B G., Torrans, E L., & Tucker, C S., 2015 Water

hardness influences Flavobacterium columnare pathogenesis in channel catfish Aquaculture,

435, 252-256 doi: https://doi.org/10.1016/j aquaculture.2014.10.003

Trang 32

Suomalainen, L R., Kunttu, H., Valtonen, E T.,

Hirvela-Koski, V., & Tiirola, M., 2006 Molecular

diversity and growth features of Flavobacterium

columnare strains isolated in Finland Dis Aquat

Organ, 70(1-2), 55-61 doi: 10.3354/dao070055

Suomalainen, L R., Tiirola, M A., & Valtonen, E T.,

2005 Effect of Pseudomonas sp MT5 baths on

Flavobacterium columnare infection of rainbow

trout and on microbial diversity on fish skin and

gills Dis Aquat Organ, 63(1), 61-68 doi: 10.3354/

dao063061

Thanh Dong, H., Senapin, S., LaFrentz, B., &

Rodkhum, C., 2016 Virulence assay of rhizoid

and non-rhizoid morphotypes of Flavobacterium

columnare in red tilapia, Oreochromis sp., fry

(Vol 39).

Van den Berg, A H., McLaggan, D.,

Diéguez-Uribeondo, J., & van West, P., 2013 The impact

of the water moulds Saprolegnia diclina and

Saprolegnia parasitica on natural ecosystems

and the aquaculture industry Fungal Biology

Reviews, 27(2), 33-42 doi: https://doi.

org/10.1016/j.fbr.2013.05.001

Wagner, B A., Wise, D J., Khoo, L H., & Terhune,

J S., 2006 The Epidemiology of Bacterial

Diseases in Food-Size Channel Catfish J

Aquat Anim Health, 18(4), 263-272 doi:

10.1577/1548-8667(2002)014<0263:teobdi>2.0

.co;2 Wang, X., Liu, S., Yang, Y., Fu, Q., Abebe, A., & Liu, Z., 2017 Identification of NF-κB related genes

in channel catfish and their expression profiles

in mucosal tissues after columnaris bacterial

infection Developmental & Comparative

Immunology, 70, 27-38 doi: https://doi org/10.1016/j.dci.2017.01.003

Zhang, D., Moreira, G S A., Shoemaker, C., Newton, J C., & Xu, D.-H., 2016 Detection and

quantification of virulent Aeromonas hydrophila

in channel catfish tissues following waterborne

challenge FEMS Microbiology Letters, 363(9),

fnw080-fnw080 doi: 10.1093/femsle/fnw080 Zhang, Y., Arias, C R., Shoemaker, C A., & Klesius,

P H., 2006 Comparison of lipopolysaccharide

and protein profiles between Flavobacterium

columnare strains from different genomovars J

Fish Dis, 29(11), 657-663 doi: 2761.2006.00760.x

10.1111/j.1365-Zhao, H., Li, C., Beck, B H., Zhang, R., Thongda, W., Davis, D A., & Peatman, E., 2015 Impact

of feed additives on surface mucosal health and columnaris susceptibility in channel catfish

fingerlings, Ictalurus punctatus Fish Shellfish

Immunol, 46(2), 624-637 doi: 10.1016/j fsi.2015.07.005

Trang 33

A REVIEW OF COLUMNARIS DISEASE ON FRESHWATER FISH

Nguyen Ngoc Du *1

ABSTRACT

The aim of this paper is to review the columnaris disease on freshwater fish through out the world and Vietnam, causative agent(s), mechanisms of disease developments, transmission routes, and treatments Some of the appearance of columnaris disease are the de-color of the fish muscle, from anus to tail, and tail rod on pangasius, which named “white and rotten tail” The disease causes mass loss in production of catfish industry, especially from the stage of fry to fingerling In addition, the paper reviews curent researchs and the promissing projects on columnaris treatments

Keywords: Columnaris disease, white and rotten tail, Flavobacterium columnare.

1 Research Institute for Aquaculture No.2

* Email: ngocduaqua@yahoo.com

Người phản biện: TS Lê Hồng Phước

Ngày nhận bài: 22/10/2019 Ngày thông qua phản biện: 25/11/2019

Ngày duyệt đăng: 25/12/2019

Người phản biện: TS Lý Thị Thanh Loan

Ngày nhận bài: 22/10/2019 Ngày thông qua phản biện: 25/11/2019

Ngày duyệt đăng: 25/12/2019

Trang 34

THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ CHẼM GIỐNG (Lates calcarifer Bloch, 1790) CỠ

3 - 10 cm TRÊN BỂ COMPOSITE Ở CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU

Trần Văn Nhiên 1*, Nguyễn Xuân Hùng1, Nguyễn Văn Lương1, Nguyễn Hữu Thanh1

TÓM TẮT

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định mật độ ương cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) giống

phù hợp từ cỡ 3 – 10 cm trên bể composite 10m 3 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), gồm 3 nghiệm thức mật độ khác nhau và lặp lại 3 lần: 300 con/m 3 (D300), 500 con/

m 3 (D500) và 700 con/m 3 (D700) Cá giống có chiều dài và khối lượng trung bình ban đầu lần lượt

là 3,50 ± 0,01 cm và 1,52 ± 0,01 g/con Chế độ chăm sóc được áp dụng theo quy trình phổ biến hiện nay Kết quả sau 45 ngày ương, các thông số môi trường nuôi đều nằm trong khoảng cho phép

sự phát triển tốt của cá chẽm giống Nghiệm thức D300 cho thấy tăng trưởng về chiều dài (10,71 ± 0,03 cm), khối lượng (10,44 ± 0,09 g/con), tỷ lệ sống (96,45 ± 0,39%) và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (1,57 ± 0,02) tốt nhất và khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so với nghiệm thức D500 (chiều dài trung bình = 9,47 ± 0,11 cm; trọng lượng trung bình = 9,68 ± 0,09 g/con; tỷ lệ sống = 94,00 ± 1,00%; FCR = 1,64 ± 0,01) và D700 (chiều dài trung bình = 9,26 ± 0,04 cm; trọng lượng trung bình = 9,29

± 0,18 g/con; tỷ lệ sống = 94,36 ± 1,91%; FCR = 1,65 ± 0,02) Việc ương cá chẽm giống từ 3 – 10

cm trên bể composite với mật độ trên 700 con/m 3 khi cỡ cá dưới 5 cm và 300 - 500 con/m 3 khi cá đạt cỡ trên 5 cm nên được áp dụng phổ biến Ngoài ra, tỷ lệ phân đàn và thời gian lọc phân cỡ khi ương ở các mật độ cao hơn cần được thảo luận thêm.

Từ khóa: cá chẽm, Lates calcarifer, mật độ.

1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

* Email: trannhien1995@gmail.com

I GIỚI THIỆU

Bên cạnh sự phát triển của các đối tượng

tôm nước lợ, cá chẽm (Lates calcarifer Bloch,

1790) là một trong những đối tượng có tiềm

năng phát triển nuôi mạnh ở Việt Nam vì đặc

tính dễ nuôi và thời gian sinh trưởng ngắn Theo

Trần Ngọc Hải và ctv., (2013), lồng nổi bằng

lưới có kích thước là 5 x 5 x 3 m, 10 x 10 x 3

m, mắt lưới là 2,5 cm thích hợp cho cá giống

có kích cỡ 10 – 15 cm, mật độ nuôi từ 10 – 15

con/m2 cho năng suất khoảng 8 – 15 kg/m2 lồng

Hiện nay, cá chẽm giống được sản xuất chủ yếu

ở miền Nam như Vũng Tàu; Nam Trung Bộ

như Nha Trang, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình

Thuận…(Nguyễn Duy Huỳnh Trâm & Nguyễn

Khoa Huy Sơn, 2018) Mặc dù đã có thể cho

sinh sản nhân tạo và sản xuất một lượng đáng

kể cá bột (2 – 3 cm) nhưng việc ương nuôi đến

cỡ lớn để thả nuôi trong ao (6 – 8 cm) hay thả

nuôi trong lồng (8 – 10 cm) thì rất ít cơ sở sản

xuất được sản lượng lớn Nguyên nhân có thể

là do: kích thước cá quá nhỏ để có thể ương trong lồng lưới, khó quản lý khi ương trong ao đất hoặc chi phí sản xuất cao nếu sử dụng hệ thống lọc sinh học tuần hoàn (Hoàng Tùng và ctv., 2007) Ngoài ra, việc kiểm soát tỷ lệ phân đàn, hiện tượng ăn nhau và dịch bệnh trong quá trình ương đóng vai trò quan trọng Cũng theo Hoàng Tùng và ctv., (2007), ương cá chẽm bằng mương nổi đặt trong ao đất từ 5 – 10 cm với 53,4% do bị copepod ký sinh Quá trình ương con giống cá chẽm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu

tố như môi trường, thức ăn và đặc biệt là mật

độ ương do cá chẽm sống theo bầy đàn và cạnh tranh với nhau Chính vì điều này, sự chêch lệch

về chiều dài, khối lượng trong quần đàn luôn xuất hiện, điều này còn dẫn đến suy giảm tỷ

lệ sống do hiện tượng ăn lẫn nhau Do đó, thử nghiệm này được thực hiện, nhằm xác định mật

độ phù hợp để ương cá chẽm giống từ 3 cm lên

10 cm đạt hiệu quả cao, phục vụ cho nghề nuôi được thuận lợi

Trang 35

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Bố trí và theo dõi thí nghiệm

Thử nghiệm được bố trí tại Trung tâm Quốc

gia Giống Hải sản Nam Bộ (TTGHS) trong thời

gian 45 ngày Hệ thống bể ương composite có

thể tích 10m3 có gắn sục khí được sử dụng để

bố trí các nghiệm thức theo kiểu hoàn toàn ngẫu

nhiên Thí nghiệm bao gồm ba nghiệm thức

được lặp lại ba lần với các mật độ ương khác

nhau, bao gồm: nghiệm thức 1 là 300 con/m3

(D300), nghiệm thức 2 là 500 con/m3 (D500) và

nghiệm thức 3 là 700 con/m3 (D700)

Cá chẽm giống có khối lượng và chiều dài

trung bình ban đầu lần lượt là 1,52 g/con và

3,51 cm/con dùng để bố trí được sản xuất tại

TTGHS Thức ăn sử dụng là Lucky star Mariner

2 trong thời gian 10 ngày đầu Thành phần dinh

dưỡng trong sản phẩm được công bố là protein

> 56%, lipid > 8%, tro < 13%, xơ thô < 1,4%,

độ ẩm < 8% Thức ăn C5004 được sử dụng từ

ngày thứ 11 đến kết thúc thí nghiệm, thành phần

dinh dưỡng gồm có: độ ẩm < 11%; protein >

43%; lipid 7 – 12%; tro < 16%; xơ thô < 3%

và cỡ viên 4,3 – 4,7 mm Lượng ăn giống nhau

giữa các nghiệm thức với 6% trọng lượng thân

và được cho ăn 3 lần/ngày vào lúc 6 giờ, 11 giờ

và 17 giờ

Chế độ thay nước 100% chảy tràn hàng

ngày được thực hiện Các thông số môi trường

ương bao gồm: nhiệt độ, độ mặn, pH, DO, độ

kiềm, NH4/NH3 và NO2- được đo vào lúc

8 giờ mỗi ngày bằng máy đo đa chỉ tiêu YSI

Professional Plus

Sau 5 ngày đầu và định kỳ 10 ngày tiếp theo

đến kết thúc thí nghiệm, tiến hành thu thập số

liệu bằng cách đo kích thước (± 0,01 cm) và cân

khối lượng (± 0,01 g) ngẫu nhiên của 30 cá thể

ở mỗi đơn vị thí nghiệm

Số lượng cá chết hằng ngày cũng được ghi

nhận để xác định tỷ lệ sống

2.2 Phân tích số liệu

Tốc độ tăng trưởng theo ngày về khối lượng (DWG, g/ngày) và chiều dài (DLG, cm/ngày) được tính toán bằng phương pháp thông thường Theo đó:

+ DWG (g/ngày) = (W2 – W1)/(T2 – T1) Trong đó W1 là khối lượng trung bình của cá tại thời điểm cân cá T1 và W2 là khối lượng trung bình của cá tại thời điểm cân cá T2

+ DLG (cm/ngày) = (L2 – L1)/(T2 – T1) Trong đó L1 là khối lượng trung bình của cá tại thời điểm đo cá T1 và L2 là khối lượng trung bình của cá tại thời điểm đo cá T2

Tỷ lệ sống (SUR, %) được tính theo công thức: SUR = (Số cá tại thời điểm T2/Số cá tại thời điểm T1)*100 Trong đó T2 là thời điểm cân

đo, T1 là thời điểm ban đầu

Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) được tính như sau: FCR = Lượng thức ăn sử dụng/(W1 –

W0) Trong đó, W0 là khối lượng trung bình của

cá ở đầu thí nghiệm và W1 là khối lượng cá ở cuối thí nghiệm

Số liệu được quản lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 Sử dụng phần mềm SPSS 19.0 để phân tích ANOVA một nhân tố

và kiểm định DUNCAN để so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở mức ý nghĩa 5%

Số liệu tỷ lệ sống được trình bày ở dạng số liệu chưa chuyển đổi và được chuyển đổi căn bậc hai trong quá trình xử lý thống kê

III KẾT QUẢ 3.1 Thông số môi trường ương

Kết quả các thông số môi trường trong 45 ngày ương được thể hiện ở Bảng 1 Theo đó, các giá trị này không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức (p > 0,05) Nhiệt độ dao động ở mức 29,3 – 29,50C Độ mặn ổn định ở trong khoảng 32,5 – 32,6‰ pH dao động 7,90 – 7,93 Hàm lượng DO ở mức cao 4,50 – 4,51 mg/L

Độ kiềm nằm trong khoảng 89,5 – 90,0 mg CaCO3/ L Hàm lượng NH4/NH3 và NO2- ở mức thấp 0,05 mg/L

Trang 36

Bảng 1 Các thông số môi trường nước ở các mật độ ương khác nhau

3.2 Tăng trưởng về chiều dài cá chẽm

Tăng trưởng về chiều dài của cá chẽm được

thể hiện ở Bảng 2 Trong đó, chiều dài trung bình

ban đầu (3,50 – 3,51 cm) đến ngày 5 (4,52 – 4,55

cm) không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức

(p > 0,05) Qua các đợt theo dõi tiếp theo, sự

khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê (p

< 0,05) Cụ thể, từ ngày 5 đến ngày 45, nghiệm

thức D300 có chiều dài lớn nhất (6,52 – 10,71

cm) và khác biệt so với D500 (6,26 – 9,47 cm) và

thấp nhất ở nghiệm thức D700 (6,23 – 9,26 cm)

Sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng chiều dài

của cá chẽm ở mật độ D300 từ ngày thứ 5 về sau

là khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so với D500

và D700 Tốc độ tăng trưởng đạt cao nhất đối

với D300 (0,11 – 0,20 cm/ngày) so với D500 và

D700 (0,08 – 0,18) Không có sự khác biệt lớn

giữa D500 và D700, ngoại trừ giai đoạn 25 – 35

ngày ương với 0,12 và 0,10 cm/ngày tương ứng

với hai nghiệm thức trên

3.3 Tăng trưởng về khối lượng cá chẽm

Tăng trưởng khối lượng của cá chẽm được

thể hiện ở Bảng 3 Theo đó, khối lượng trung

bình ban đầu (1,52 – 1,53 g/con) và sau 5 ngày (2,83 – 2,85 g/con) không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức (p > 0,05) Tuy nhiên, sự khác biệt về khối lượng từ ngày 5 đến ngày 45 có ý nghĩa (p < 0,05) Khối lượng cao nhất được tìm thấy ở mật độ D300 (4,94 – 10,44 g/con) so với D500 (4,57 – 9,68 g/con) và thấp nhất ở nghiệm thức D700 (4,32 – 9,29 g/con)

Tốc độ tăng tưởng về khối lượng của cá chẽm sau 5 ngày (0,13 – 0,14 g/ngày) không có

sự khác biệt giữa các nghiệm thức (p > 0,05) Tuy nhiên giai đoạn ngày 5 đến ngày 15 của thí nghiệm có sự khác biệt (p < 0,05) giữa 3 nghiệm thức D300, D500, D700 tương ứng là 0,21; 0,17; 0,15 g/ngày Từ giai đoạn 15 – 25 ngày ương, tốc

độ tăng trưởng lớn nhất và khác biệt giữa D300 (0,20 g/ngày) so với D500 (0,16) và D700 (0,17) Giai đoạn 25 – 35 ngày ương, giá trị này không

có sự khác biệt giữa D300 với D500 (0,18) và

cả hai nghiệm thức này đều khác biệt có ý so với D700 (0,16) Trong giai đoạn cuối của thí nghiệm, giá trị này không có sự khác biệt giữa các mật độ với nhau

29,3 ± 0,2a32,5 ± 0,1a7,90 ± 0,01a4,50 ± 0,03a90,0 ± 0,5a0,05 ± 0,01a0,05 ± 0,02a

29,5 ± 0,5a32,6 ± 0,4a7,90 ± 0,03a4,51 ± 0,02a89,5 ± 0,7a0,05 ± 0,01a0,05 ± 0,04a

Giá trị = trung bình ± độ lệch chuẩn Các trung bình trong cùng một hàng có cùng ký tự chỉ sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Trang 37

Bảng 2 Tăng trưởng chiều dài của cá chẽm ở các mật độ ương khác nhau

Chiều dài (cm/con)

Ban đầu – ngày 5

nhau được thể hiện ở Bảng 4 Giai đoạn 5 ngày

đầu của thí nghiệm, không có sự khác biệt có

ý nghĩa giữa các nghiệm thức (p > 0,05) Tuy

nhiên, giai đoạn từ 5 – 45 ngày ương, sự khác

biệt về tỷ lệ sống giữa mật độ D300 (96,45 –

98,22%) với D500 (94,00 – 97,27%) và D700 (94,36 – 96,21%) mang ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Giai đoạn ngày 5 đến ngày 15 có sự khác biệt giữa D500 (97,27%) và D700 (96,21%), ngoài ra không có sự khác biệt giữa hai nghiệm thức này ở các giai đoạn tiếp theo

Trang 38

Bảng 3 Tăng trưởng khối lượng của cá chẽm ở các mật độ ương khác nhau

Khối lượng (g/con)

Ban đầu – ngày 5

Trang 39

Bảng 4 Tỷ lệ sống của cá chẽm ở các mật độ ương khác nhau

Bảng 5 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn của

IV THẢO LUẬN

Các thông số môi trường ương trong thí

nghiệm này là phù hợp với sự sinh trưởng và

phát triển của cá chẽm Nhiệt độ tối ưu nằm

trong khoảng 26 - 300C, độ mặn trong mức

28 - 33‰ và pH tối ưu ở 7,90 – 8,10 (Davis,

1985; Kungvankij và ctv., 1986) Độ kiềm thích

hợp trong khoảng 80 – 120 mg CaCO3/L, hàm

lượng DO > 4 mg/L Trong khi hàm lượng NH4/

NH3 < 0,5 mg/L và NO2- < 1 mg/L (Rimmer và

Russell, 1998; Nguyễn Chung, 2006)

Sự khác nhau về tăng trưởng chiều dài,

khối lượng và tỷ lệ sống và FCR của cá chẽm

có thể do chế độ chăm sóc, thức ăn nhưng phần

lớn do mật độ nuôi (Nguyễn Duy Quỳnh Trâm

& Nguyễn Khoa Huy Sơn, 2018) Đây là loài

ăn thịt và tạp ăn, hơn nữa trong điều kiện nuôi

có kiểm soát dẫn đến sự cạnh tranh giữa các

cá thể dẫn đến tốc độ sinh trưởng không giống

nhau và ăn thịt đồng loại (Mackinnon, 1985;

Sukumaran và ctv., 2011) Chính vì vậy, tăng

loại (Mackinnon, 1985; Sukumaran và ctv., 2011) Chính vì vậy, tăng

trưởng chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống của

cá chẽm có xu hướng giảm và FCR có xu hướng tăng theo chiều tăng của mật độ từ 300 đến 700 con/m3 Các xu hướng trong thử nghiệm này phù hợp với một số nghiên cứu đã được công bố trước đây Theo Daet (2019), sau 90 ngày ương trong lồng lưới, cá có chiều dài và khối lượng trung bình lần lượt là 3,81 cm và 3,54 g/con đạt tăng trưởng cao nhất với 13,81 cm và 152,34 g/con ở mật độ 10 con/m3; kế đến là 13,53 cm

và 148,68 g/con ở mật độ 15 con/m3; thấp nhất

ở mật độ 25 con/m3 với 11,39 cm và 113,91 g/con Cũng theo tác giả này, tỷ lệ sống giảm từ 87% - 47% và FCR tăng 33,97 – 66,55 khi tăng

3.5 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn

Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn của cá chẽm ở các

nghiệm thức mật độ khác nhau được thể hiện ở

Bảng 5 Theo đó, nghiệm thức D300 đạt thấp

nhất và khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so với

hai nghiệm thức còn lại là 1,57 ± 0,02 Trong

khi không có sự khác biệt (p > 0,05) giữa D500

(1,64 ± 0,01) và D700 (1,65 ± 0,02)

Nghiệm thức FCR

D300D500D700

1,57 ± 0,02a1,64 ± 0,01b1,65 ± 0,02b

Giá trị = trung bình ± độ lệch chuẩn Các trung bình trong cùng một cột có cùng ký tự chỉ sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Trang 40

mật độ từ 10 – 25 con/m3 Thời gian ương kéo

dài, tỷ lệ cho ăn 10% trong 60 ngày đầu và 5%

ở 30 ngày cuối, thức ăn ở dạng chìm, hàm lượng

protein < 39% và tỷ lệ phân đàn lớn, hiện tượng

ăn nhau đã dẫn đến tỷ lệ sống thấp và FCR cao

Sau 60 ngày ương trên bể composite, từ chiều

dài 4,97 cm, cá chẽm đạt chiều dài 10,09 cm,

tốc độ tăng trưởng chiều dài 0,08 cm/ngày ở

mật độ 500 con/m3 so với mật độ 700 và 900

con/m3 (Nguyễn Duy Huỳnh Trâm và Nguyễn

Khoa Huy Sơn, 2018) Cũng theo tác giả này, từ

2,72 g/con đạt 11,7 g/con (500 con/m3) và thấp

nhất ở mật độ 900 con/m3 (10,24 g/con); tốc độ

tăng trưởng khối lượng đạt cao nhất ở mật độ

thấp (0,11 – 0,20 g/con) so với mật độ cao (0,08

– 0,20 g/con) Tỷ lệ sống cũng giảm từ 99,0%

xuống còn 73,0% khi tăng mật độ từ 500 lên

900 con/m3 theo nghiên cứu trên Theo Erlinda

(2014), sau 62 ngày ương trong hệ thống tuần

hoàn, từ 3,45 cm và 0,69 g/con cá đạt 8,13 cm

và 8,06 g/con ở mật độ 4 con/l; 8,0 cm và 7,23

g/con ở 2 con/l và thấp nhất ở mật độ 8 con/l với

7,58 cm chiều dài và 5,86 g/con khối lượng Tỷ

lệ sống giảm từ 71,42 – 47,32% và FCR tăng

từ 1,29 – 1,42 theo chiều tăng mật độ từ 2 – 8

con/l (Erlinda, 2014) Theo Lý Văn Khánh và

ctv., (2010), nghiên cứu ương cá chẽm với các

loại thức ăn khác nhau (thức ăn công nghiệp,

protein > 37,8%; ốc bưu vàng, protein < 40,8%;

cá tạp, protein > 74,6%) trên bể 200 l với mật độ

30 con/bể, sau 6 tuần nuôi, từ cỡ 3,39 cm cá đạt

7,70 cm Trong một nghiên cứu khác của Hoàng

Tùng và ctv., (2007), sau 45 ngày ương bằng

mương nổi đặt trong ao đất với mật độ 3 con/l,

từ cá có chiều dài thân cỡ 1,5 -2,0 cm và 2,36 g/

con về khối lượng đạt được 10,0 cm và 16,36 g/

con; tốc độ tăng trưởng chuyên biệt khối lượng

là 4,66 %/ngày; tỷ lệ sống thấp (53,4%) và FCR

(2,8) cao do cá bị Caligus sp ký sinh ở mang

và thân, chết rải rác trong thời gian ương và sử

dụng hydroperoxide (H2O2) nồng độ 150 ppm

trong 25 phút để tắm cá Theo Kailasam và ctv.,

(2002), tỷ lệ sống cá chẽm đạt 65% ở mật độ 20

và 30 con/l, cao hơn ở các mật độ thấp hơn Cá

chẽm được ương ở mật độ thấp trong ao có thể

đạt 20 – 30 mm so với 10 mm ở mật độ cao sau

3 tuần (Rutledge & Rimmer, 1991) Cũng theo tác giả này, tốc độ tăng trưởng lên tới 3,8 mm/ngày và tốc độ tăng trưởng đặc biệt lên tới 28%/ngày khi ương ở mật độ thấp Theo Kungvankij

và ctv., (1986), cá chẽm giống cỡ 1,0 – 2,5 cm được ương trong trong lồng ở sông, vùng cửa sông hoặc trong ao, sau 30 – 45 ngày có thể đạt

5 – 10 cm

Mặc dù có sự khác biệt về chiều dài và khối lượng, nhưng tỷ lệ phân đàn của cá chẽm ở các mật độ trong nghiên cứu này không lớn hay nói cách khác là sự đồng đều về kích cỡ cao Điều này dẫn đến việc không cần phải lọc phân cỡ

cá theo định kỳ, nhưng vẫn đảm bảo được tăng trưởng tốt và tỷ lệ sống cao Trong thực tế sản xuất, việc lọc phân cỡ cá khi ương ở mật độ cao nhằm hạn chế tình trạng ăn nhau làm giảm tỷ lệ sống đóng vai trò rất quan trọng, tuy nhiên tốn nhiều công sức và gây một số tác động không tốt đến cá như: tình trạng stress, trầy xước cơ thể hay thậm chí là lây truyền bệnh Do đó, việc ương cá ở các mức mật độ cao hơn so với thí nghiệm này cần cân nhắc tỷ lệ phân đàn cũng như thời gian lọc phân cỡ cá

Bên cạnh mật độ ương, độ mặn cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cá chẽm Theo Sen và ctv., (2019), ương cá chẽm ở giai đoạn cá hương với mật độ 50 con/m3 trong 56 ngày ở các mức độ mặn tương ứng là 10, 20 và 30‰ Kết quả là khối lượng cơ thể (60,4 – 49,8 g/con), tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt đối (3,73 – 3,34%) giảm và FCR (1,41 – 1,53) tăng theo chiều tăng của độ mặn Tuy nhiên, trong thử nghiệm này, độ mặn khi ương là khá cao (32,5 – 32,6‰) nhưng vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng và FCR ở mức tốt Điều này có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với các cơ sở sản xuất giống ở vùng có độ mặn cao, không thể dùng nước ngọt để hạ độ mặn

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Tăng trưởng về chiều dài, khối lượng cũng như tỷ lệ sống của cá chẽm có xu hướng giảm dần khi mật độ tăng Trong thử nghiệm này, D300 cho thấy tăng trưởng về chiều dài 10,71

± 0,03 cm; khối lượng 10,44 ± 0,09 g/con; tỷ lệ

Ngày đăng: 18/05/2021, 14:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN