1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tạp chí Nghề cá sông Cửu Long: Số 10/2017

128 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tạp Chí Nghề Cá Sông Cửu Long Số 10/2017
Tác giả Nguyễn Quốc Thể, Trần Ngọc Hiểu, Trịnh Quốc Trọng, Phạm Đăng Khoa, Lê Trung Đỉnh, Nguyễn Thanh Tiền, Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Thị Đang, Nguyễn Thị Kiều Nga, Vũ Thị Hồng Thắm, Trần Hữu Phúc, Nguyễn Trung Kí, Huỳnh Thị Bích Liên, Nguyễn Diễm Thư, Lê Hồng Phước, Vũ Hồng Phượng, Phạm Vũ Ngọc Ánh, Mã Tú Lan, Trần Minh Trung, Nguyễn Hồng Lộc, Lê Hồng Phước, Nguyễn Thị Thủy Tiến, Vũ Minh Sơn, Lê Quỳnh Loan, Nguyễn Hoàng Dũng, Hoàng Quốc Khánh, Nguyễn Đức Duy, Nguyễn Ngọc Du, Lorelei Ford, Lora Petri-Hanson, Larry Hanson, Nguyễn Quốc Cường, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Nguyện, Nguyễn Thanh Trúc, Lê Hồng Phước, Thới Ngọc Bảo, Đặng Ngọc Thùy, Trần Minh Thiện
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Sáng, TS. Phan Thanh Lâm, ThS. Hoàng Thị Thủy
Trường học Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II
Thể loại Tạp chí
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí Nghề cá sông Cửu Long: Số 10/2017 trình bày các nội dung chính sau: Kỹ thuật kích thích sinh sản ngao móng tay chúa (Cultellus maximus Gmelin, 1791), kết quả cải thiện chất lượng giống cá rô phi đỏ qua 3 thế hệ chọn lọc, thử nghiệm in vitro đối với kháng sinh thích hợp trong phòng trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG

TS PHAN THANH LÂM

Thư ký tòa soạn:

ThS HOÀNG THỊ THỦY TIÊN

Email: ria2@ mard.gov.vn

In tại: Công ty In Liên Tường

240/59-61-63 Nguyễn Văn Luông

Quận 6, TP HCM

Trang

Kỹ thuật kích thích sinh sản ngao móng tay

chúa (Cultellus maximus Gmelin, 1791).

Technical to reproductive stimulation for winter’s razor clams (Cultellus maximus Gmelin, 1791).

HUỲNH THỊ BÍCH LIÊN

Hiệu quả các dịch chiết khổ sâm (Croton

tonkinensis) và đơn châu chấu (Aralia armata)

trong phòng trỊ bệnh hoại tử gan tụy cấp trên

tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) ở điều

kiện phòng thí nghiệm.

The effects of Croton tonkinensis and Aralia armata extracts on prevention and treatment

of acute hepatopancreatic necrosis disease

in white-leg shrimp Penaeus vannamei under laboratory conditions.

23-41

TRƯƠNG HỒNG VIỆT, ĐỖ THỊ CẨM HỒNG,

VŨ THIÊN ÂN, TRẦN BẢO NGỌC, NGUYỄN TRẦN GIA BẢO, TRẦN MINH TRUNG

Thử nghiệm in vitro đối với kháng sinh thích

hợp trong phòng trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính.

In vitro  trials of antibiotics on the ability to inhibit acute hepato-pancreatic necrosis disease pathogen.

42-48

NGUYỄN DIỄM THƯ, LÊ HỒNG PHƯỚC,

VÕ HỒNG PHƯỢNG, PHẠM VÕ NGỌC ÁNH,

MÃ TÚ LAN, TRẦN MINH TRUNG

Sự hiện diện của WSSV, Vibrio parahaemolyticus

gây AHPND và EHP trên tôm giống và tôm nuôi theo mô hình QC/QCCT vùng chuyên tôm nước lợ ở ĐBSCL năm 2017.

Occurrence of WSSV, Vibrio parahaemolyticus causing AHPND and EHP in postlarvae and extensive-farmed shrimp in the Mekong delta, Vietnam in 2017.

49-57

NGUYỄN HỒNG LỘC, LÊ HỒNG PHƯỚC

Trang 2

Xác định một số nấm gây bệnh trên trứng cá

bá chủ (Pterapogon kauderni) trong quá trình

ấp bằng phương pháp PCR và SEM.

Identification of fungi causing infection in

Pterapogon kauderni egg during incubation

using PCR and SEM methods.

58-66

NGUYỄN THỊ THỦY TIÊN, VÕ MINH SƠN,

LÊ QUỲNH LOAN, NGUYỄN HOÀNG DŨNG,

HOÀNG QUỐC KHÁNH, NGÔ ĐỨC DUY

Khác biệt trong sự mẫn cảm với Novirhabdo

virus của Zebrafish dòng hoang dại và đột

biến và vai trò của lymphocytes.

Differential susceptibility of wild-type and T

and B lymphocyte deficient zebrafish infected

with a novirhabdo virus reveals the role of

lymphocytes.

67-82

NGUYỄN NGỌC DU, LORELEI FORD,

LORA PETRI- HANSON, LARRY HANSON

Đánh giá tình hình sử dụng chế phẩm vi sinh

trong nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Status of probiotic application in shrimp

farming practices in the Mekong delta.

83-93

NGUYỄN THỊ NGỌC TĨNH, NGUYỄN THỊ THU THỦY,

NGUYỄN ĐỨC MINH, VÕ MINH SƠN,

TRỊNH QUANG SƠN, PHAN VĂN TRÁNG,

ĐỖ THỊ PHƯỢNG, TRẦN HOÀNG BÍCH NGỌC

Đánh giá chất lượng nguyên liệu có nguồn gốc đậu nành sử dụng trong sản xuất thức ăn thủy sản

Evaluation of soybean meal-based ingredients used in aquafeed production.

94-100

NGUYỄN QUỐC CƯỜNG, NGUYỄN THÀNH TRUNG,

NGUYỄN VĂN NGUYỆN Đánh giá diễn biến chất lượng nước và mầm bệnh trên tôm nuôi mô hình nuôi luân canh tôm lúa.

Assessment of water quality and diseases on rice-shrimp culture rotation.

101-113

NGUYỄN THANH TRÚC, LÊ HỒNG PHƯỚC, THỚI NGỌC BẢO, ĐẶNG NGỌC THÙY,

TRẦN MINH THIỆN Đánh giá tác động của thủy sinh vật ngoại lai đến nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

Impact assessment of aquatic alien invasive species on natural aquatic resources in soc trang province.

114-128

NGUYỄN NGUYỄN DU, VŨ VI AN

Trang 3

KỸ THUẬT KÍCH THÍCH SINH SẢN NGAO MÓNG TAY CHÚA

(Cultellus maximus GMELIN, 1791)

Nguyễn Quốc Thể1*, Trần Ngọc Hiểu1TÓM TẮT

Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định các biện pháp kỹ thuật kích thích sinh sản ngao móng tay chúa

(Cultellus maximus) thích hợp nhằm bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, chủ động nguồn giống và đa dạng đối

tượng nuôi Nghiên cứu thực hiện với 5 biện pháp kỹ thuật kích thích sinh sản bao gồm: Kích thích sinh sản bằng tăng nhiệt độ, kích thích sinh sản bằng cách tăng nhiệt độ kết hợp với dòng chảy, kích thích sinh sản bằng tăng nhiệt độ và NH4OH kết hợp với dòng chảy, kích thích sinh sản bằng cách tiêm Serotonin, kích thích sinh sản bằng phương pháp hạ nhiệt độ xuống 18 0 C trong thời gian 45 phút kết hợp với dòng chảy 2m 3 /30 phút Kết quả cho thấy: kích thích sinh sản bằng cách hạ nhiệt

độ đến 18 0 C trong 45 phút kết hợp tạo dòng chảy có các chỉ tiêu sinh sản tối ưu nhất với tỷ lệ sinh sản (38,33 ± 2,89%), tỷ lệ thụ tinh (85,81 ± 2,82%), tỷ lệ nở (81,75 ± 4,60%) có thể ứng dụng để

kích thích sinh sản cho ngao móng tay chúa (Cultellus maximus).

Từ khóa: Kích thích sinh sản, ngao móng tay chúa.

1 Phân viện Nghiên cứu Thủy sản Nam sông Hậu, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.

*Email: nguyenquocthecm@gmail.com

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một trong những nước có sản

lượng nuôi động vật thân mềm lớn, đến năm

2015, diện tích nuôi động vật thân mềm là

34.730 ha, năng suất 7,7 tấn/ha, đạt sản lượng

269.161 tấn, đạt giá trị xuất khẩu 350 triệu USD

và tạo việc làm cho 15.000 người Động vật

thân mềm đang được xem là những đối tượng

ưu thế trong chiến lược phát triển nuôi biển của

nước ta hiện nay, vì vậy trong những năm gần

đây nghiên cứu về động vật thân mềm đã được

nhiều tác giả quan tâm Trong đó, nghiên cứu về

sản xuất giống nhân tạo và phương pháp ương

nuôi ấu trùng đặc biệt được chú trọng (Nguyễn

Quang Hùng và ctv., 2009)

Nghiên cứu sản xuất giống các đối tượng

động vật thân mềm có giá trị kinh tế là điều kiện

cần thiết để bổ sung thêm nguồn cung cấp giống

cho người nuôi vì nguồn giống ngoài tự nhiên

bị suy giảm do khai thác (Nguyễn Thị Xuân

Thu, 2005) Trên thế giới cũng như ở Việt Nam,

nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo các đối tượng động vật thân mềm được khá nhiều tác giả quan tâm và đến nay đã xây dựng nhiều quy trình sản xuất giống cho các đối tượng động vật thân mềm có giá trị kinh tế cao Trong nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo, việc xác định được phương pháp kích thích đẻ trứng, phóng tinh, ương nuôi và phương pháp quản lý bể ương ấu trùng là những vấn đề mấu chốt (Ngô Anh Tuấn, 2012)

Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học sinh sản của các đối tượng động vật thân mềm đã được công

bố như: sò huyết (Hoàng Bích Đào, 2001;

2003), tu hài (Lutraria philippinarum) (Đào

Minh Đông, 2004; Hà Đức Thắng, 2004b),

ngao dầu (Meretrix meretrix) (Dương Văn Hiệp, 2005), bào ngư (Haliotis spp.) (Lê Đức Minh, 2000) vẹm xanh (Perna viridis) (Hà Đức Thắng, 2004a), sò điệp quạt (Chlamys nobilis) (Nguyễn Thị Xuân Thu, 1998) và sò

Trang 4

điệp seo (Comptopallium radul) (Ngô Anh

Tuấn, 2001) Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa

có công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học

sinh sản của ngao móng tay chúa cũng như là

các biện pháp kích thích sinh sản ngao móng

tay chúa được công bố tại Việt Nam Chính

vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành nhằm

xác định các biện pháp kỹ thuật kích thích sinh

sản ngao móng tay chúa (Cultellus maximus)

Đây là một nội dung của đề tài: “Nghiên cứu

đặc điểm sinh học và thử nghiệm cho sinh sản

giống ngao móng tay chúa (Sinonovacula sp.)

tại tỉnh Cà Mau”

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Vật liệu

Ngao móng tay chúa, tên khoa học là

Cultellus maximus (Gmelin, 1791): ngao móng

tay chúa có tuyến sinh dục phát triển tốt, khỏe

mạnh không xây xát, vỏ nguyên vẹn, màu sắc

tự nhiên, chiều dài vỏ từ 70mm trở lên, trọng

lượng 7 – 10con/kg, cắt mô tuyến sinh dục và

phân tích tiêu bản để xác định tuyến sinh dục ở

giai đoạn III, IV

Dung dịch kích thích sinh sản: NH4OH,

Serotonin

Nước biển, bể thí nghiệm: Nước biển dùng

trong thí nghiệm có độ mặn 30‰ được xử lý

bằng chlorine 30ppm, sục khí trong 12 giờ,

sau đó để lắng tự nhiên đến khi hết dư lượng

chlorine, tiến hành xử lý kim loại nặng bằng

EDTA, liều lượng 10ppm, để trong 12 giờ, nước

được cấp vào bể thí nghiệm qua hệ thống lọc

ống lọc tinh, kích thước lần lượt là 5 – 2 – 1 µm

Bể composite được gắn sục khí đáy và bề mặt

Vợt, khay nhựa, máy bơm, buồng đếm

nguyên sinh động vật Fuchs – Rosenthal, kính

hiển vi

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nuôi thuần dưỡng ngao móng tay chúa

bố mẹ

Ngao móng tay chúa được vận chuyển về

trại sản xuất bằng phương pháp hở có sục khí,

sau đó chúng được vệ sinh và lưu giữ trong bể

composite chứa nước biển có độ mặn 25 – 30‰,

nhiệt độ 28 – 30oC, pH 7,5 – 8,5 Bể nuôi thuần dưỡng được sục khí 24/24; thay nước hàng ngày 100%; cung cấp đầy đủ thức ăn là các tảo đơn

bào: Nannochloropsis oculata, Chaetoceros calcitrans, Isochrysis galbana Lưu giữ 1 – 2

ngày để giúp ngao móng tay chúa phục hồi sức sau quá trình vận chuyển

Phân biệt ngao móng tay chúa đực và cái

Ngao móng tay chúa là loài phân tính, chỉ

có thể phân biệt đực - cái khi ngao móng tay chúa đã thành thục sinh dục, có kích thước thông thường chiều dài từ 12cm trở lên, chiều cao khoảng 4 – 4,5cm với độ dày của thân 1,7 – 2,2cm, trọng lượng cơ thể từ 120g trở lên Dựa vào màu sắc tuyến sinh dục để phân biệt đực - cái: con đực có tuyến sinh dục màu trắng sữa, con cái có tuyến sinh dục màu vàng nhạt với bề mặt thô nổi hạt

Cơ quan sinh dục của ngao móng tay chúa nằm bao quanh tuyến tiêu hoá giữa vùng đầu

cơ chân, sát với cơ quan nội tạng, đầu cơ chân

sẽ phồng lên khi tuyến sinh dục phát triển Khi ngao móng tay chúa thò chân ra ngoài để di chuyển có thể thấy được tuyến sinh dục bằng mắt thường

Chỉ tiêu môi trường nước bố trí cho các thí nghiệm kích thích sinh sản ngao móng tay chúa: Nhiệt độ: 28 – 300C; pH: 7,5 – 8,5; độ mặn 30‰

2.2.1 Kích thích sinh sản bằng tăng nhiệt độ

Ngao móng tay chúa được đặt trên khay nhựa phơi ngoài nắng nhẹ với thời gian khác nhau (30; 60; 90 phút), sau đó cho vào bóng mát (nhiệt độ thường) 30 phút trước khi cho vào bể

để kích thích phóng tinh và đẻ trứng

- Nghiệm thức 1: Đối chứng (để nhiệt độ bình thường, không phơi)

- Nghiệm thức 2: Thời gian phơi nắng 30 phút

- Nghiệm thức 3: Thời gian phơi nắng 60 phút

- Nghiệm thức 4: Thời gian phơi nắng 90 phútMỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Mỗi lần lặp

10 con đực và 10 con cái

Trang 5

2.2.2 Kích thích sinh sản bằng tăng nhiệt

độ kết hợp với dòng chảy

Sau khi có kết quả từ thí nghiệm kích thích

sinh sản bằng tăng nhiệt độ, nhiệt độ thích hợp

sẽ được xác định Nhiệt độ này sẽ được thí

nghiệm với tốc độ dòng chảy khác nhau:

- Nghiệm thức 1: Đối chứng (không có

dòng chảy)

- Nghiệm thức 2: Dòng chảy 2m3/60 phút

- Nghiệm thức 3: Dòng chảy 2m3/30 phút

- Nghiệm thức 4: Dòng chảy 2m3/20 phút

Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Mỗi lần lặp

10 con đực và 10 con cái

Dùng máy bơm có công suất nhỏ (bơm

10m3/60phút) điều chỉnh cho phù hợp với từng

nghiệm thức

2.2.3 Kích thích sinh sản bằng tăng nhiệt

độ và NH 4 OH kết hợp với dòng chảy

Sau khi có kết quả từ thí nghiệm kích thích

sinh sản bằng tăng nhiệt độ kết hợp với dòng

chảy, dòng chảy thích hợp sẽ được xác định

Dòng chảy này sẽ được thí nghiệm với nồng độ

tiêm vào phần sinh dục của ngao móng tay chúa

trong điều kiện nhiệt độ thường, sau 2 giờ kiểm

tra và phân tích kết quả (Theo Nguyễn Đức

Minh và ctv., 2015)

Thí nghiệm lặp lại 3 lần, mỗi lần 10 con đực

và 10 con cái

2.2.5 Kích thích sinh sản bằng phương pháp hạ nhiệt độ xuống 18 0 C trong thời gian

Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp

10 con đực và 10 con cái

Các chỉ số theo dõi ở các thí nghiệm kích thích sinh sản

• Tỷ lệ thụ tinh được xác định khi trứng đạt đến giai đoạn phôi vị: Trứng mới được đẻ ra thu 3 mẫu (mỗi mẫu 30 trứng) ấp trong môi trường thích hợp, khi trứng đến giai đoạn phôi

vị đếm tổng số trứng thụ tinh chia cho tổng số trứng mẫu thu

• Tỷ lệ nở được xác định khi trứng được thụ tinh và nở thành ấu trùng: Trứng mới được đẻ

ra thu 3 mẫu (mỗi mẫu 30 trứng) ấp trong môi trường thích hợp, khi trứng nở thành ấu trùng đếm tổng số ấu trùng nở ra chia cho tổng số trứng mẫu thu

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel 2003 và SPSS 16.0, dùng trắc nghiệm ANOVA một yếu tố để so sánh

tỷ lệ sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở của ngao móng tay chúa giữa các nghiệm thức với mức

ý nghĩa P = 95% Trắc nghiệm LSD sẽ được

sử dụng khi có sự khác nhau về tỷ lệ sinh sản,

tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở giữa các cặp nghiệm thức

Trang 6

III KẾT QUẢ

3.1 Kích thích sinh sản bằng cách tăng

nhiệt độ

Với phương pháp kích thích sinh sản bằng

biện pháp tăng nhiệt độ, qua phân tích ANOVA

một nhân tố nhận thấy tỷ lệ sinh sản và tỷ lệ thụ

tinh ở cả 3 nghiệm thức NT2, NT3, NT4 không

có sự khác nhau có ý nghĩa về mặt thống kê; tỷ lệ

sinh sản và tỷ lệ thụ tinh đạt thấp nhất ở nghiệm

thức NT1 (lần lượt là 28,33% và 46,93%) và

khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn

lại (p<0,05)

Tỷ lệ nở ở các nghiệm thức khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê, tỷ lệ nở ở NT1 cho kết quả cao nhất (61,71%) và thấp nhất ở NT4 (32,82%) Tuy nhiên, qua phân tích nhận thấy tỷ lệ sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở cao

và ít biến động nhất ở NT3 Cụ thể với các số liệu ghi nhận qua thí nghiệm, nghiệm thức NT3 (phơi nắng 60 phút) có kết quả kích thích ngao móng tay chúa bố mẹ sinh sản tốt hơn so với các nghiệm thức còn lại với số lượng trứng thu được trung bình là 20,98 ± 10,06 triệu trứng và

ấu trùng chữ D thu được là 6,86 ± 3,94 triệu con (Bảng 1)

Bảng 1: Các chỉ tiêu sinh sản (tăng nhiệt độ)

3.2 Kích thích sinh sản bằng cách tăng

nhiệt độ kết hợp với dòng chảy

Với phương pháp kích thích sinh sản bằng

biện pháp tăng nhiệt độ kết hợp với dòng chảy,

qua phân tích ANOVA một nhân tố nhận thấy tỷ

lệ sinh sản thấp nhất ở 2 nghiệm thức NT1 và

NT2 (26,67 ± 5,77%) và khác biệt có ý nghĩa

thống kê với 2 nghiệm thức còn lại (p<0,05)

Với tỷ lệ thụ tinh, mặc dù sự khác biệt là không

có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức thí

nghiệm, tuy nhiên kết quả ghi nhận cao hơn đối

với 2 nghiệm thức NT3 và NT4 (69,28±13,18

và 69,00±7,16)

Tỷ lệ nở ở các nghiệm thức khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê, tỷ lệ nở ở NT3 cho kết quả cao nhất (51,69 ± 16,49 %) và thấp nhất ở NT4 (43,42 ± 8,29%)

Qua phân tích nhận thấy: tỷ lệ sinh sản, tỷ

lệ thụ tinh, tỷ lệ nở cao và ít biến động nhất ở NT3 Nghiệm thức NT3 (phơi nắng 60 phút kết hợp với dòng chảy 2m3/30phút) có kết quả kích thích ngao móng tay bố mẹ sinh sản tốt hơn so với các nghiệm thức còn lại với số lượng trứng thu được trung bình là 31,67 ± 2,89 triệu trứng

và ấu trùng chữ D thu được là 7,31±2,6 triệu con (Bảng 2)

Trang 7

Bảng 2: Các chỉ tiêu sinh sản (tăng nhiệt độ kết hợp với dòng chảy)

∑ ấu trùng chữ D (triệu) 5,77±0,42dba 5,66±1,52a 7,31±2,6c 6,08 ±1,92ba

Trong cùng một hàng, các giá trị có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Số liệu được trình bày là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn

Hình 1 a) Tuyển chọn, b) Kích thích tăng nhiệt (phơi nắng), c) Kích thích tạo dòng chảy

3.3 Kích thích sinh sản bằng cách tăng

nhiệt độ và NH 4 OH kết hợp với dòng chảy

Kích thích sinh sản bằng biện pháp

tăng nhiệt độ và ngâm trong dung dịch

NH4OH kết hợp tạo dòng chảy qua phân tích

ANOVA một nhân tố nhận thấy: tỷ lệ sinh

sản cao nhất ở NT2 (33,33%) và khác biệt có

ý nghĩa thống kê với các nghiệm thức còn lại

(p<0,05) Tuy nhiên, NT1 và NT3 khác biệt

không có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ thụ tinh

+ dòng chảy 2m3/30 phút) cho tỷ lệ sinh sản

và tỷ lệ thụ tinh tối ưu có thể sử dụng cho sản xuất, số lượng trứng thu được trung bình là 23,57 ± 4,94 triệu trứng và ấu trùng chữ D thu được là 7,56 ± 3,42 triệu con (Bảng 3)

Trang 8

Bảng 3: Các chỉ tiêu sinh sản (tăng nhiệt độ và NH4OH kết hợp với dòng chảy)

Tiêm Serotonin 2μl/cá thể, tiến hành trên

20 cá thể với 3 lần lặp lại, kết quả tỷ lệ sinh

sản trung bình là 25 ± 5,00%, số ấu trùng chữ

D thu được trung bình là 3,23 ± 0,79 triệu con (Bảng 4)

Bảng 4: Các chỉ tiêu sinh sản (Tiêm Serotonin 2μl/cá thể)

Chỉ tiêu Tỷ lệ sinh sản thấp nhất Tỷ lệ sinh sản cao nhất Tỷ lệ sinh sản trung bình

sau đó vớt ra cho vào bể có nhiệt độ bình thường

(nhiệt độ 280C) tạo dòng chảy để kích thích, thực hiện trên 20 ngao bố mẹ với 3 lần lặp lại, kết quả tỷ lệ sinh sản trung bình là 38,33 ± 2,89

%, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở lần lượt là 85,81 ± 2,82% và 81,75 ± 4,6% Số ấu trùng chữ D thu được là 24,48 ± 1,05 triệu con (Bảng5)

Trang 9

Qua các thí nghiệm kích thích sinh sản,

nhận thấy giải pháp kích thích bằng cách hạ

nhiệt độ đến 180C trong 45 phút kết hợp tạo

dòng chảy có các chỉ tiêu sinh sản tối ưu nhất và

ít biến động có thể ứng dụng để kích thích sinh

sản cho ngao móng tay chúa

III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Kết luận

Hạ nhiệt xuống 18oC trong 45 phút kết hợp

với kích thích dòng chảy 2m3/30 phút là biện

pháp thích hợp nhất trong kích thích sinh sản

ngao móng tay chúa

Đề xuất

Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp ương

ngao móng tay chúa giống để thuận lợi hơn cho

việc thả nuôi vào môi trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hoàng Bích Đào, 2001 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của sò huyết tại Đầm Nại – Ninh

Thuận, Tuyển tập báo cáo khoa học Hội thảo

động vật thân mềm toàn quốc ần thứ 2, tháng

8/2001, NXB Nông nghiệp, Tp Hồ Chí Minh,

trang 131 - 136

Đào Minh Đông, 2004 Nghiên cứu đặc điểm sinh

học sinh sản Tu hài Lutraria philippinarum

(Reeve, 1854), Luận văn thạc sĩ nông nghiệp,

77 trang.

Dương Văn Hiệp, 2005 Nghiên cứu một số đặc

điểm sinh học sinh sản ngao dầu Meretrix

meretrix (Lineus, 1758) ở vùng biển Cát Hải -

Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp Nguyễn Quang Hùng và Hoàng Đình Chiều,

Bảng 5: Các chỉ tiêu sinh sản (hạ nhiệt độ đến 180C và để 45 phút)

Chỉ tiêu Tỷ lệ sinh sản thấp nhất Tỷ lệ sinh sản cao nhất Tỷ lệ sinh sản trung bình

Trang 10

2009 Nguồn lợi động vật thân mềm hai mảnh

vỏ Bivalvia tại một số vùng rừng ngập mặn

điển hình ven biển Việt Nam,Viện nghiên cứu

Hải sản, Hải Phòng Bản tin số 14 – tháng

10/2009.

Trương Sỹ Kỳ, Đỗ Hữu Hoàng và Hứa Thái Tuyến,

1996 Đặc điểm sinh sản của sò huyết (A

granosa) sống ở vùng biển Trà Vinh Tập VII,

Tuyển tập nghiên cứu Biển NXB Khoa học và

kỹ thuật, trang 103 – 112.

Lê Đức Minh, 2000 Nghiên cứu đặc điểm sinh học

sinh sản của bào ngư (Haiotis) ở vùng biển Nha

Trang, Khánh Hoà, Luận án tiến sĩ khoa học

sinh học,127 trang.

Nguyễn Đức Minh, Đỗ Thị Phượng, Lê Thị Hoài

Oanh và Lê Ngọc Hạnh, 2015 Nghiên cứu

đặc điểm sinh học sinh sản và thăm dò khả

năng sản xuất giống trên ngao móng tay chúa

(Sinonovacula sp.) Đề tài nghiên cứu thuộc Sở

KH&CN Tp HCM.

Hà Đức Thắng và Hà Đình Thùy, 2004a Kết quả

bước đầu nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo Tu

hài (Lutraria philippinarum Reeve, 1854) Tạp

chí thuỷ sản(6), trang 19-23.

Hà Đức Thắng, 2004b Tuyển tập Quy trình công nghệ sản xuất giống thủy sản, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, trang 119-137.

Nguyễn Thị Xuân Thu, 1998 Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản, sinh trưởng và kỹ thuật sản

xuất giống nhân tạo điệp quạt (Chlamys nobilis

Reeve, 1852) Luận án tiến sĩ khoa học Nông nghiệp, Nha Trang, 172 trang.

Nguyễn Thị Xuân Thu, 2005 Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi động vật thân mềm Giáo trình cao học, 193 trang, trang 28.

Ngô Anh Tuấn, 2001 Một số đặc điểm sinh

học sinh sản của điệp seo (Comptopallium

radula Linene, 1758) Tuyển tập báo cáo khoa

học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần thứ 2, tháng 8/2001 NXB Nông nghiệp, Tp Hồ Chí Minh, trang 197 - 208.

Ngô Anh Tuấn, 2012 Giáo trình Kỹ thuật sản xuất giống và Nuôi động vật thân mềm NXB Nông nghiệp, Tp Hồ Chí Minh, trang 34 - 35.

Trang 11

TECHNICAL TO REPRODUCTIVE STIMULATION FOR WINTER’S

RAZOR CLAMS (Cultellus maximus GMELIN, 1791)

Nguyen Quoc The1*, Tran Ngoc Hieu1

ABSTRACT

This study is to determine the suitable technical reproductive stimulation for Winter’s razor clams

(Cultellus maximus) in order to contribute to the conservation of natural aquatic resources, to ensure

artificial seed source and divesification of farmed species This study was implemented with five reproductive stimulation techniques, including: reproductive stimulation by increasing temperature; reproductive stimulation by increasing temperature combined with water flow levels; reproductive stimulation by increasing temperature and NH4OH combined with water flow levels; reproductive stimulation by Serotonin injections; and reproductive stimulation by decreasing temperature to

18 0 C during 45 minutes combined with water flow rate of 2m 3 during 30 minutes The results show that reproductive stimulation by decreasing temperature to 18 0 C created the optimal reproduction parameters with spawning rate (38.33 ± 2.89%), fertilization rate (85.81 ± 2.82%) and hatching rate

(81.75 ± 4.60%) that could be applied to reproductive stimulation for Winter’s razor clams (Cultellus

maximus).

Keywords: Reproductive stimulation, Winter’s razor clams.

Người phản biện: ThS Nguyễn Đinh Hùng

Ngày nhận bài: 26/10/2017 Ngày thông qua phản biện: 20/11/2017

Ngày duyệt đăng: 12/12/2017

1 Research Sub-Institute for Nam Song Hau Fisheries, Research Institute for Aquaculture No.2.

*Email: nguyenquocthecm@gmail.com

Trang 12

KẾT QUẢ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG GIỐNG CÁ RÔ PHI ĐỎ QUA 3

Đề tài “Ứng dụng di truyền phân tử, di truyền số lượng phục vụ chọn giống nâng cao sinh trưởng cá

rô phi đỏ (Oreochromis spp.)” thực hiện năm 2014 – 2016 đã chọn giống qua 3 thế hệ từ G2 đến G4cho tính trạng tăng trưởng và màu sắc đỏ đẹp Đối với tính trạng tăng trưởng, hệ số di truyền ước tính dao động từ 0,19 đến 0,29 và tăng dần qua từng thế hệ: 0,19 ± 0,09 ở G2, 0,22 ± 0,09 ở G3, và 0,29 ± 0,10 ở G4 Đối với tính trạng màu sắc, hệ số di truyền khá ổn định qua 3 thế hệ chọn giống

và dao động từ 0,27 đến 0,33 Hiệu quả chọn lọc của 3 thế hệ rô phi đỏ chọn giống G2, G3 và G4 dao động từ 17,6 đến 49,8 g (giá trị tuyệt đối) hoặc 5,4 đến 14,2% (giá trị phần trăm) Sau 3 thế hệ chọn lọc (từ G2 đến G4) thì hiệu quả chọn lọc tăng hơn 24% so với ban đầu.

Từ khóa: cá rô phi đỏ, tăng trưởng, màu sắc, thông số di truyền.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá rô phi là tên gọi chung của nhiều loài

cá thuộc họ Cichlidae, được chia làm ba nhóm

chính là Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis

dựa trên tập tính sinh sản và nuôi giữ con

(Beveridge và McAndrew, 2000) Trong số này,

cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.) được nuôi phổ

biến nhất trên toàn thế giới (FAO, 2016) Ở Việt

Nam, cá rô phi đỏ hiện được nuôi phổ biến tại

Nam Bộ Tuy nhiên, công tác quản lý cá bố mẹ

và cá giống chưa chặt chẽ dẫn đến chất lượng

cá giống suy giảm Điều này ảnh hưởng lớn đến

hiệu quả của nghề nuôi do cá lớn chậm, tỉ lệ

sống thấp dẫn đến gia tăng hệ số thức ăn và phát

sinh các chi phí khác như hóa chất xử lý môi

trường, thuốc trị bệnh trong quá trình nuôi Do

đó, sản xuất con giống có chất lượng cao đang

là một yêu cầu bức thiết của nghề nuôi Nghề

nuôi cá rô phi đỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long

đòi hỏi con giống có chất lượng, cụ thể là tăng trưởng nhanh, màu sắc đỏ đẹp và tỉ lệ sống cao Nhu cầu này có thể được giải quyết bằng chọn giống dài hạn

Chọn giống dựa trên lý thuyết di truyền số lượng đã được chứng minh là cách thức khoa học và có hiệu quả nhằm nâng cao các tính trạng mong muốn trên vật nuôi Ngoài ra, kết quả của chọn giống còn được tích lũy và duy trì qua từng thế hệ, do đó chất lượng con giống được

ổn định và gia tăng theo thời gian

Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II áp dụng phương pháp GIFT do Trung tâm Nghề

cá Thế giới đề xuất (WorldFish Center, 2004) Theo đó, các cá thể có giá trị chọn giống ước tính (Estimated Breeding Value, EBV) cao nhất được chọn làm cá bố mẹ cho thế hệ sau Cá bố

mẹ được ghép phối theo tỉ lệ 1 đực: 2 cái và

1 Trung tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.

*Email: trongtq@gmail.com

Trang 13

1 Sau đây được gọi tắt là “ảnh hưởng của môi trường ương riêng rẽ”.

theo nguyên tắc hạn chế cận huyết để sản xuất

các gia đình thế hệ kế tiếp Cá con của từng gia

đình được ương nuôi riêng rẽ Khi cá con đạt

kích cỡ khoảng 5 g trở lên, đại diện ngẫu nhiên

của các gia đình được đánh dấu từ (Passive

Integrated Transpondertag, PIT tag) và thả nuôi

chung trong cùng một môi trường để đánh giá

tăng trưởng Sự khác biệt về ngày tuổi và việc

ương nuôi riêng rẽ các gia đình thường gây ra

ảnh hưởng không mong muốn của môi trường

ương riêng rẽ các gia đình1 (environmental

effect common to full-sibs, gọi tắt là c 2)

Hệ số di truyền (heritability, h 2) được định

nghĩa là tỉ số giữa phương sai của giá trị di

truyền cộng gộp (additive genetic variance, )

và phương sai kiểu hình đo đạc được của tính

trạng chọn lọc (phenotypic variance, ) Tính

trạng có hệ số di truyền cao đồng nghĩa với việc

kiểu hình được đo đạc ước đoán tốt cho kiểu

gen của tính trạng đó, và ngược lại (Falconer và

Mackay, 1996) Tương quan di truyền (genetic

correlation, r g) cho biết mối tương quan kiểu

gen của hai tính trạng quan tâm Tương quan

di truyền thuận (r g>0) ngụ ý nếu chọn lọc một

tính trạng thì tính trạng còn lại sẽ thay đổi theo

cùng một hướng, tức là tính trạng thứ hai có thể

được chọn lọc một cách gián tiếp thông qua

chọn lọc trực tiếp tính trạng đầu tiên Tương

quan di truyền nghịch (r g<0) ngụ ý chọn lọc một

tính trạng thì sẽ làm suy giảm tính trạng còn lại

(Falconer và Mackay, 1996)

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh

giá kết quả cải thiện chất lượng giống cá rô phi

đỏ qua 3 thế hệ chọn lọc (từ G2 đến G4) trên

hai tính trạng là khối lượng thu hoạch và màu

sắc, thông qua các thông số di truyền như hệ

số di truyền, tương quan di truyền và hiệu quả

chọn lọc Nghiên cứu nằm trong khuôn khổ

đề tài Công nghệ sinh học Nông nghiệp Thủy

sản “Ứng dụng di truyền phân tử, di truyền

số lượng phục vụ chọn giống nâng cao sinh

trưởng cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.)” thực

hiện năm 2014 – 2016

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cá rô phi đỏ thế hệ G1 kế thừa từ đề tài “Đánh giá các thông số di truyền và hình thành nguồn vật liệu ban đầu cho

chọn giống cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.)”

thực hiện năm 2010 – 2013 Đề tài được tiến hành tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2016

2.2 Phương pháp nghiên cứu Nuôi tăng trưởng các đàn cá G2, G3 và G4

Cá bố mẹ chọn lọc được tách riêng theo giới tính để nuôi vỗ thành thục Nuôi riêng rẽ cá đực và cá cái trong các giai kích thước 5×10×1

m đặt trong ao 2.000 m2, độ sâu 1,5 m Đánh giá mức độ thành thục của cá cái theo 4 cấp độ và chỉ chọn những cá cái đạt mức độ "sẵn sàng đẻ"

để ghép cặp (WorldFish Center, 2004)

Ghép 1 cá đực với lần lượt 2 cá cái để tạo

ra 2 gia đình cùng cha khác mẹ theo danh sách ghép phối Sản xuất gia đình được thực hiện trong các giai kích thước 1,5×2,0×1,0 m đặt trong ao 2.000 m2 Cá bắt cặp và sinh sản tự nhiên, không tiêm kích dục tố hoặc chất kích thích sinh sản Bốn ngày sau khi ghép cặp thì tiến hành kiểm tra giai sinh sản, sau đó kiểm tra

và thu trứng (riêng rẽ theo từng gia đình) hàng

4 ngày một lần Trứng được ấp trong các bình nhựa thể tích 1 lít Khi trứng nở thì chuyển sang các khay kích thước 20×30×10 cm Ba ngày sau khi noãn hoàng tiêu biến, cá bột được chuyển

ra ương nuôi Đối với các gia đình, ương riêng trong các giai 1,5×2,0×1,0 m Số lượng cá bột cho mỗi giai ương là 300 con Sử dụng thức ăn dạng mảnh (40% đạm), sau đó chuyển sang chế

độ thức ăn viên cỡ 1 mm (30% đạm), cho ăn thỏa mãn

Trang 14

Cá giống được đánh dấu từ (PIT tag) để

phân biệt theo từng cá thể, nhằm duy trì phả hệ

của đàn cá chọn lọc Môi trường nuôi tại Trung

tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam

Bộ là một ao diện tích 2.000 m2, độ sâu nước

duy trì ở mức 1,5 m Thả nuôi 50–60 cá thể đã

đánh dấu PIT/gia đình của tất cả các gia đình

trong cùng một ao nuôi Kích thước trung bình

của cá giống thả nuôi là 5,9 g (G2), 6,1 g (G3)

và 6,1 g (G4) Cho cá ăn bằng thức ăn viên công

nghiệp (28 – 30 % đạm) nhãn hiệu Afiex, cho

ăn 3 – 4% khối lượng thân/ngày, 2 lần/ngày vào

lúc 07:00 giờ và 16:00 giờ Thay nước định kỳ

2 lần/tháng Thời gian nuôi là 181 (144 – 209)

đối với thế hệ G2, 172 (159 – 184) đối với G3 và

161 (132 – 186) ngày đối với G4

Tại thời điểm thu hoạch, tính trạng màu

sắc được đánh giá bằng mắt thường và được chia làm 2 nhóm là ‘đạt’ (cho cá thuộc có

không có hoặc có ít đốm đen) và ‘không đạt’

(cá có nhiều đốm đen) Khối lượng thu hoạch của từng cá thể được đo bằng cân điện tử độ chính xác 0,1 g

Tính toán các thông số di truyền của tính trạng tăng trưởng và màu sắc quần thể G 2 ,

G 3 và G4

Các thành phần phương sai bao gồm là phương sai di truyền cộng gộp, là phương sai ảnh hưởng môi trường và là phương sai kiểu hình được ước tính bằng phần mềm ASReml phiên bản 4 (Gilmour và ctv., 2015) Phương trình tuyến tính cá thể hỗn hợp để ước tính các thành phần phương sai (từ đó tính các thông số

di truyền) của tính trạng khối lượng thu hoạch là

Khối lượng ijk= µ + β1×tuổi cái+β2×(tuổi cá)i 2 + giới tính j+ cá thểk + cá mẹ l + e ijkl

trong đó Khối lượng ijk là khối lượng khi thu

hoạch của cá thể k, µ là giá trị trung bình của

quần thể, β1 là hệ số hồi quy của hiệp biến ‘tuổi

cá’, tuổi cá i là ảnh hưởng cố định của tuổi i lên

khối lượng thu hoạch của từng cá thể tính từ

ngày cá được đẻ ra đến ngày thu hoạch, β2 là hệ

số hồi quy bậc hai của hiệp biến bình phương

tuổi cá ‘(thời gian nuôi) 2 ’, (tuổi cá) i 2 là ảnh

hưởng cố định bậc hai của tuổi i của từng cá thể

tính từ ngày cá được đẻ ra đến ngày thu hoạch,

giới tính j là ảnh hưởng cố định của giới tính j

(đực hoặc cái), cá thể k là ảnh hưởng di truyền

cộng gộp của cá thể k, cá mẹ l là ảnh hưởng của

môi trường chung (c 2) lên các cá con của cùng

một cá mẹ l, và e ijk là ảnh hưởng của số dư

Đối với tính trạng nhị phân màu sắc (‘đạt’ /

‘không đạt’), phương trình tuyến tính cá thể hỗn

hợp sử dụng hàm logit và probit, với ảnh hưởng

cố định là ‘giới tính’ và ‘tuổi cá’ và ảnh hưởng

ngẫu nhiên là ‘cá thể’.

Đối với tính trạng khối lượng thu hoạch,

hệ số di truyền (h 2) được tính theo công thức

, trong đó là phương sai di

truyền cộng gộp, là phương sai ảnh hưởng

của môi trường (c 2) và là phương sai của số

dư Riêng đối với tính trạng màu sắc thì không

bao gồm ảnh hưởng c 2 (vì mô hình toán không converge được), và khi sử dụng hàm logit thì được cố định bằng 1 và hệ số di truyền được

Nhóm đối chứng được thành lập theo

Bentsen và ctv., (2017), theo đó trong từng thế

hệ sẽ chọn những cá thể có giá trị chọn giống tương đương với trung bình của quần thể làm nhóm đối chứng Hiệu quả chọn lọc thực tế

R được tính bằng khác biệt trung bình EBV

giữa nhóm chọn lọc và nhóm đối chứng trong cùng thế hệ, chia cho LSM của toàn quần thể (Dunham, 2011; Maluwa và Gjerde, 2007)

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Chọn lọc cá G 1 , G 2 và G3 làm bố mẹ

Số lượng cá đực, cá cái chọn lọc và đối chứng tương ứng từng năm được thể hiện trong Bảng 1 Tổng số cá được chọn là 3.064 cá thể cho 3 thế hệ từ G1 – G3 Số lượng cá cái chọn

Trang 15

lọc luôn cao hơn cá đực vì áp dụng phương

thức ghép phối 1 cá bố : 2 cá mẹ (nested mating

design) để tạo ra các gia đình cùng cha mẹ

(full-sibs families) và các cặp gia đình cùng cha

khác mẹ (half-sibs groups) (Gjedrem, 2005;

WorldFish Center, 2004) Trong thực tế khi sản xuất gia đình trong chọn giống thì có những cá cái được chọn nhưng không tham gia sinh sản,

do vậy cần chọn nhiều cá cái hơn để thay thế khi cần thiết

Bảng 1 Số lượng cá chọn lọc và đối chứng của 3 thế hệ G1, G2 và G3

Khối lượng cá chọn lọc có xu hướng lớn

hơn qua từng thế hệ Điều này cho phép nhận định được hiệu quả của chọn lọc qua các thế hệ chọn giống (Bảng 2)

Bảng 2 Khối lượng trước khi đưa vào nuôi vỗ của nhóm cá chọn lọc

và đối chứng của 3 thế hệ G1, G2, và G3

G3 380,3 ± 104,4 569,6 ± 113,4 273,1 ± 67,8 437,8 ± 111,9

Về giá trị chọn giống (EBV), có hai xu

hướng là nhóm chọn lọc luôn có trung bình EBV

cao hơn so với nhóm đối chứng (Bảng 3), cho

phép nhận định chọn lọc có hiệu quả tương ứng như được báo cáo trên các chương trình chọn giống thủy sản trên thế giới (Gjedrem, 2012)

Bảng 3 Trung bình giá trị chọn giống (EBV) của 3 thế hệ G1, G2 và G3

Số lượng và tỉ lệ của các cá thể thuộc 2

nhóm màu sắc (đạt/không đạt) của nhóm chọn

lọc được trình bày trong Bảng 4 Màu sắc của

các cá thể chọn lọc được cải thiện qua từng thế

hệ, từ 76,1% (G1) tăng lên 99,0% (G2) và 99,5% (G3) (Bảng 4), cho phép nhận định những cá thể chọn lọc có EBV cao thì màu sắc cũng được cải thiện Kết quả này tương tự như báo cáo trong

Trang 16

chương trình chọn giống rô phi đỏ Progift tại

Trung Quốc (Thodesen và ctv., 2013b), trong

khi chương trình chọn giống rô phi đỏ tại

Malaysia không đề cập đến tính trạng màu sắc (Ngô Phú Thỏa và ctv., 2015)

Bảng 4 Màu sắc của các cá thể bố mẹ chọn lọc qua 3 thế hệ G2, G3 và G4

Số lượng các gia đình cá con G2, G3 và G4

dao động từ 92 – 147 gia đình/thế hệ, đảm bảo

đa dạng di truyền của quần thể chọn giống và

mang lại hiệu quả chọn lọc (Gjedrem, 2005)

Khối lượng của cá mẹ sản xuất ra 3 thế hệ này

tăng đều đặn, cho phép nhận định chọn lọc có hiệu quả Các chỉ tiêu sinh sản như tỉ lệ thụ tinh,

tỉ lệ nở và tỉ lệ sống cá bột 10 ngày tuổi đều đạt yêu cầu cho chọn giống (Bảng 5) Số lượng cá con của từng gia đình tại thời điểm đánh dấu đều lớn hơn 150 cá thể, vượt xa số lượng cần thiết để đánh dấu từ PIT cho nuôi tăng trưởng

Bảng 5 Số lượng các gia đình qua 3 thế hệ G2 (mặn + ngọt), G3 và G4

hệ cá mẹ (g) gia đình thụ tinh (%) nở (%) sống cá bột 10 ngày

tuổi (%)

3.3 Nuôi tăng trưởng

Thống kê mô tả của khối lượng thu hoạch

trên 3 thế hệ G2, G3 và G4 được trình bày trong

Bảng 6 Khối lượng trung bình thô của cá có

Bảng 6 Số lượng cá thể, trung bình, độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên của khối lượng thu hoạch

cá rô phi đỏ của 3 thế hệ rô phi đỏ G2, G3 và G4

Thế hệ Số lượng cá thể Khối lượng thu hoạch

(con) Trung bình (g) Độ lệch chuẩn (g) Hệ số biến thiên (%)

Trang 17

3.4 Đánh giá hiệu quả chọn giống tính

trạng sinh trưởng qua 3 thế hệ chọn giống

(G 2 – G 4 )

Hiệu quả chọn lọc thực tế cho tính trạng

tăng trưởng trên 3 thế hệ rô phi đỏ chọn giống

G2, G3 và G4 dao động từ 17,6 đến 49,8 g (giá trị

tuyệt đối) hoặc 5,4 đến 14,2% (giá trị phần trăm)

(Bảng 7) Hiệu quả chọn lọc cho tính trạng tăng

trưởng tương tự như hiệu quả thu được trên cá

rô phi đỏ Progift tại Trung Quốc (12,3%/thế hệ) (Thodesen và ctv., 2013b) Hiệu quả chọn lọc cũng tương đồng với (sự khác biệt) trung bình giá trị kiểu hình ở từng thế hệ, cho thấy biến dị

di truyền của tính trạng khối lượng thu hoạch của quần thể rô phi đỏ Việt Nam là lớn

Bảng 7 Trung bình bình phương tối thiểu (LSM), giá trị chọn giống nhóm chọn lọc và

đối chứng, hiệu quả chọn lọc thực tế (giá trị tuyệt đối và phần trăm) cho tính trạng tăng trưởng trên 3 thế hệ rô phi đỏ chọn giống G2, G3 và G4

(g)

EBV chọn lọc (g)

EBV đối chứng (g)

= hiệu quả chọn lọc thực tế tính theo phần trăm

3.5 Các thông số di truyền của tính trạng

tăng trưởng và màu sắc của các quần thể G 2 ,

G 3 và G 4

Khối lượng thu hoạch

Các thành phần phương sai và thông số

di truyền của tính trạng tăng trưởng (được ghi

nhận bằng khối lượng thu hoạch) của 3 thế hệ

cá rô phi đỏ G2, G3 và G4 được trình bày trong

Bảng 8 Hệ số di truyền (h 2) nằm ở mức trung bình khá (0,22 – 0,29), gần như tương đương

ở G2 (0,19 ± 0,09) và G3 (0,22 ± 0,09), sau đó tăng lên ở G4 (0,29 ± 0,10) Ảnh hưởng của môi

trường ương nuôi riêng rẽ (c 2) không vượt quá 10% tổng phương sai (phương sai kiểu hình) (0,07 – 0,10) (Bảng 8)

Bảng 8 Các thành phần phương sai, hệ số di truyền và ảnh hưởng của môi trường ương nuôi

riêng rẽ của tính trạng khối lượng thu hoạch trên 3 thế hệ rô phi đỏ chọn giống G2, G3 và G4

Cá rô phi đỏ được báo cáo là có tăng trưởng

kém hơn cá rô phi vằn (Thodesen và ctv., 2011) nuôi trong điều kiện tương tự trong ao nuôi nước ngọt Khi so sánh tăng trưởng của cá rô

Trang 18

phi đỏ chọn giống và cá rô phi vằn chọn giống

tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nam

Bộ thì xu hướng tương tự cũng được ghi nhận

Trong chương trình chọn giống hiện tại, do quần

thể ban đầu G0 đa dạng về di truyền (Trịnh Quốc

Trọng, 2013), và ảnh hưởng tiêu cực của cận

huyết (cả ở G0 và ở những thế hệ sau như G1, G2,

G3 và G4) bị loại trừ do việc ghép phối tránh cận

huyết nghiêm ngặt, nên tăng trưởng của cá phụ

thuộc vào bản chất di truyền của các nhóm cá

thành phần tạo nên G0 Quần thể ban đầu G0 của

cá rô phi đỏ chọn giống Việt Nam bao gồm cá

có nguồn gốc từ Đài Loan, Ecuador, Malaysia,

Israel và Thái Lan (Trịnh Quốc Trọng, 2013),

đảm bảo tính đa dạng di truyền cho chọn giống

dài hạn Do đó, tăng trưởng của cá rô phi đỏ

chọn giống của Việt Nam được kỳ vọng là có

tăng trưởng tương tự như bất kỳ dòng rô phi đỏ

nào trên thế giới

Quần thể chọn giống cá rô phi đỏ Việt

Nam có biến dị di truyền cộng gộp (thể hiện

qua ) tương tự như cá rô phi vằn chọn giống

tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nam

Bộ, và tương đương với các quần thể rô phi

chọn giống trên thế giới Hệ số di truyền (h 2)

của tính trạng tăng trưởng (được ghi nhận bằng

khối lượng thu hoạch) nằm trong khoảng trung

bình được báo cáo (0,12 – 0,71) cho cá rô phi xanh (Thodesen và ctv., 2013a), cá rô phi vằn (Bentsen và ctv., 2012; Thodesen và ctv., 2011;

Trịnh Quốc Trọng, 2013) và cá rô phi shiranus (Oreochromis shiranus) (Maluwa và Gjerde,

2007)

Màu sắc tại thời điểm thu hoạch

Các thành phần phương sai và thông số di truyền của tính trạng màu sắc khi thu hoạch của 3 thế hệ cá rô phi đỏ G2, G3 và G4 được

trình bày trong Bảng 9 Hệ số di truyền (h 2) của tính trạng màu sắc ở mức khá, duy trì ổn định qua 3 thế hệ chọn giống và tương tự cho

cả 2 mô hình logit và probit (0,27 – 0,33), và đều khác biệt có ý nghĩa so với zero (Bảng 9)

Hệ số di truyền ở mức khá cho phép nhận định chọn lọc sẽ giúp cải thiện tính trạng màu sắc trong những thế hệ tiếp theo

Hệ số di truyền của màu sắc nằm trong khoảng tương tự như của khối lượng thu hoạch trong quần thể cá rô đỏ chọn giống tại Việt Nam Tuy nhiên, hệ số di truyền thấp hơn nhiều

so với quần thể chọn giống rô phi đỏ Progift tại Trung Quốc (0,51 ± 0,03) (Thodesen và ctv., 2013a)

Bảng 9 Các thành phần phương sai, hệ số di truyền và ảnh hưởng của môi trường

ương nuôi riêng rẽ của tính trạng màu sắc (‘đạt’, ‘không đạt’)

trên 3 thế hệ rô phi đỏ chọn giống G2, G3 và G4

Trang 19

Cá rô phi đỏ không phải là một loài rô phi

thuần, mà là một nhóm cá rô phi với nhiều màu

sắc khác nhau (ví dụ như đỏ, hồng, cam, vàng,

v.v…) được tạo ra bằng cách lai cá rô phi đen

(Oreochromis mossambicus) đột biến màu với

các loài cá rô phi khác nhằm có được những

đặc tính mong muốn Do đó, cá rô phi đỏ là

con lai của hai hoặc nhiều hơn loài cá rô phi

với mục đích chính là cải thiện tăng trưởng

Hầu hết cá rô phi đỏ tại Châu Á là con lai của

cá rô phi đen và rô phi vằn (Romana-Eguia và

ctv., 2004)

Hầu hết các quần thể cá rô phi đỏ đều có

những cá thể có đốm đen ở nhiều mức độ khác

nhau, làm giảm giá trị của cá thương phẩm

Mặc dù cá rô phi đỏ ở Châu Á và Mỹ La Tinh

được chọn theo kiểu hình để giảm thiểu đốm

đen, vẫn có một tỉ lệ cá khá lớn có nhiều đốm

đen (diện tích đốm đen > 5% diện tích cơ thể)

trong quần thể có nguồn gốc từ Ecuador và

quần thể ban đầu G0 Quần thể ban đầu chọn

giống cá rô phi đỏ tại Việt Nam được thành

lập với sự đóng góp của cá rô phi đỏ Ecuador

(80%), Malaysia (10%), Đài Loan (5%) và

Thái Lan (5%) Nhóm rô phi đỏ Ecuador có rất

nhiều đốm đen và tỉ lệ cá có màu sắc đạt yêu

cầu là khá lớn Lý do là cá rô phi đỏ Ecuador

thương phẩm chủ yếu được xuất khẩu sang Mỹ

dưới dạng philê, nên màu sắc bên ngoài không

phải là một chỉ tiêu quan trọng Ngược lại, cá

rô phi đỏ tại Châu Á được tuyển lựa rất nghiêm

ngặt theo màu sắc thuần nhất và không có đốm

đen, là trường hợp của 3 nhóm cá Malaysia,

Đài Loan và Thái Lan nhập nội

IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

và G3 (0,22 ± 0,09), sau đó tăng lên ở G4 (0,29

± 0,10) Ảnh hưởng của môi trường ương nuôi

riêng rẽ (c 2) không vượt quá 10% phương sai kiểu hình (0,07 – 0,10), ở G2 là 0,10 ± 0,03, G3

là 0,08 ± 0,04 và G4 là 0,07 ± 0,03)

Đối với tính trạng màu sắc, hệ số di truyền

(h 2) của ở mức khá, duy trì ổn định qua 3 thế

hệ chọn giống và tương tự cho cả 2 mô hình logit và probit (0,27 – 0,33) và đều khác biệt

có ý nghĩa so với zero Hệ số di truyền ở mức khá cho phép nhận định chọn lọc sẽ giúp cải thiện tính trạng màu sắc trong những thế hệ tiếp theo

Hiệu quả chọn lọc của 3 thế hệ rô phi đỏ chọn giống G2, G3 và G4 dao động từ 17,6 đến 49,8 g (giá trị tuyệt đối) hoặc 5,4 đến 14,2% (giá trị phần trăm) Sau 3 thế hệ chọn lọc (từ G2 đến

G4) thì hiệu quả chọn lọc tăng hơn 24% so với ban đầu

Đề xuất

Việc duy trì chương trình chọn giống dài hạn cá rô phi đỏ dựa trên nguồn vật liệu ban đầu được thành lập trong khuôn khổ đề tài là hết sức cần thiết, nhằm bảo vệ quần thể chọn giống đã được chọn lọc qua 4 thế hệ và nhằm cải thiện hơn nữa tính trạng tăng trưởng và màu sắc của cá rô phi đỏ Việt Nam Tính trạng chọn lọc chính vẫn là tăng trưởng, được ghi nhận thông qua khối lượng thu hoạch Xem xét bổ sung tính trạng màu sắc và tỉ lệ sống vào chương trình chọn giống dài hạn Nghiên cứu sử dụng chỉ thị phân tử cho truy xuất phả

hệ, nhằm giảm thiểu ảnh hưởng chung của môi

trường (c 2) do việc ương nuôi riêng rẽ các gia đình (trước khi đánh dấu) gây ra và tăng độ chính xác của ước tính các thông số di truyền, từ đó tăng hiệu quả chọn lọc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bentsen, H.B., Gjerde, B., Nguyen, N.H., Rye, M., Ponzoni, R.W., Palada de Vera, M.S., Bolivar, H.L., Velasco, R.R., Danting, J.C.,

Trang 20

Dionisio, E.E., Longalong, F.M., Reyes, R.A.,

Abella, T.A., Tayamen, M.M., Eknath, A.E.,

2012 Genetic improvement of farmed tilapias:

Genetic parameters for body weight at harvest in

Nile tilapia (Oreochromisniloticus) during five

generations of testing in multiple environments

Aquaculture 338–341: 56–65.

Khaw, H.L., Ponzoni, R.W., Hamzah, A.,

Abu-Bakar, K.R., Bijma, P., 2012 Genotype by

production environment interaction in the GIFT

strain of Nile tilapia (Oreochromisniloticus)

Aquaculture 326–329: 53–60.

Maluwa, A.O., Gjerde, B., Ponzoni, R.W.,

2006 Genetic parameters and genotype by

environment interaction for body weight of

Oreochromisshiranus Aquaculture 259: 47–55.

Martinez, V., Neira, R., Gall, G A E., 1999

Estimation of genetic parameters from

pedigreed populations: lessons from analysis of

alevin weight in Coho salmon (Oncorhynchus

kisutch) Aquaculture 180: 223–236.

Merican, Z., 2011 Tilapia is gaining popularity in

Vietnam, Aquaculture Asia Pacific, pp 40.

Ponzoni, R.W., Nguyen, N.H., Khaw, H.L.,

Hamzah, A., Bakar, K.R.A., Yee, H.Y.,

2011 Genetic improvement of Nile tilapia

(Oreochromis niloticus) with special reference

to the work conducted by the World Fish Center

with the GIFT strain Reviews in Aquaculture,

3, 27−41.

R Core Team, 2014 R: A language and environment

for statistical computing R Foundation for

Statistical Computing, Vienna, Austria URL

http://www.R-project.org/.

Sae-Lim, P., H Komen, A Kause, K E Martin,

R Crooijmans, J A M van Arendonk, J E

Parsons, 2013 Enhancing selective breeding

for growth, slaughter traits and overall survival

in rainbow trout (Oncorhynchusmykiss)

Aquaculture 372–375: 89–96.

Trịnh Quốc Trọng, Han A Mulder, Johan A.M

van Arendonk, Hans Komen Heritability and

genotype by environment interaction estimates

for harvest weight, growth rate, and shape of

Nile tilapia (Oreochromisniloticus) grown in

river cage and VAC in Vietnam Aquaculture

384–387: 119–127

Vehvilainen, H., Kause, A., Kuukka-Anttila,

H., Koskinen, H., and Paananen, T., 2012

Untangling the positive genetic correlation between rainbow trout growth and survival Evolutionary Applications, pp 732–745 Weatherley, A.H., Gill, H.S., Casselman, J.M.,

1987 The biology of fish growth Academic Press, London.Bentsen, H.B., Gjerde, B., Eknath, A.E., de Vera, M.S.P., Velasco, R.R., Danting, J.C., Dionisio, E.E., Longalong, F.M., Reyes, R.A., Abella, T.A., Tayamen, M.M., Ponzoni, R.W., 2017 Genetic improvement of farmed tilapias: Response to five generations of selection for increased body weight at harvest in

Oreochromis niloticus and the further impact of

the project Aquaculture 468, Part 1, 206-217 Bentsen, H.B., Gjerde, B., Nguyen, N.H., Rye, M., Ponzoni, R.W., Palada de Vera, M.S., Bolivar, H.L., Velasco, R.R., Danting, J.C., Dionisio, E.E., Longalong, F.M., Reyes, R.A., Abella, T.A., Tayamen, M.M., Eknath, A.E.,

2012 Genetic improvement of farmed tilapias: Genetic parameters for body weight at harvest in

Nile tilapia (Oreochromis niloticus) during five

generations of testing in multiple environments Aquaculture 338–341, 56-65.

Dunham, R., 2011 Aquaculture and Fisheries Biotechnology: Genetic Approaches, 2 nd Edition CAB International.

Gilmour, A.R., Gogel, B.J., Cullis, B.R., Welham, S.J., Thompson, R., 2015 ASReml User Guide Release 4.1 Structural Specication VNS International Ltd., Hemel Hempstead, HP1 1ES, United Kingdom.

Gjedrem, T., 2005 Selection and breeding programs

in aquaculture Springer Netherlands.

Gjedrem, T., 2012 Genetic improvement for the development of efficient global aquaculture: A personal opinion review Aquaculture 344–349, 12-22.

Maluwa, A.O., Gjerde, B., 2007 Response to

selection for harvest body weight of Oreochromis

shiranus Aquaculture 273, 33-41.

Ngô Phú Thỏa, Mai Văn Nguyễn, Phạm Ngọc Tuyên, Nguyễn Hữu Ninh, 2015 Ước tính thông số di truyền của quần đàn rô phi vằn

(Oreochromis nilotitus) qua 6 thế hệ chọn giống

sinh trưởng nhanh trong điều kiện nước lợ mặn Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 115-119.

Romana-Eguia, M.R.R., Ikeda, M., Basiao, Z.U.,

Trang 21

Taniguchi, N., 2004 Genetic diversity in

farmed Asian Nile and red hybrid tilapia stocks

evaluated from microsatellite and mitochondrial

DNA analysis Aquaculture 236, 131-150.

Thodesen, J., Rye, M., Wang, Y.-X., Yang,

K.-S., Bentsen, H.B., Gjedrem, T., 2011 Genetic

improvement of tilapias in China: genetic

parameters and selection responses in growth

of Nile tilapia (Oreochromis niloticus) after six

generations of multi-trait selection for growth

and fillet yield Aquaculture 322, 51-64.

Thodesen, J., Rye, M., Wang, Y.-X., Li, S.-J.,

Bentsen, H.B., Gjedrem, T., 2013a Genetic

improvement of tilapias in China: Genetic

parameters and selection responses in growth,

pond survival and cold-water tolerance of

blue tilapia (Oreochromis aureus) after four

generations of multi-trait selection Aquaculture

396–399, 32-42.

Thodesen, J., Rye, M., Wang, Y.-X., Li, S.-J., Bentsen, H.B., Yazdi, M.H., Gjedrem, T., 2013b Genetic improvement of tilapias in China: Genetic parameters and selection responses in growth, survival and external color traits of red

tilapia (Oreochromis spp.) after four generations

of multi-trait selection Aquaculture 416, 366.

354-Trịnh Quốc Trọng, 2013 Optimisation of selective

breeding program for Nile tilapia (Oreochromis

niloticus), Animal Breeding and Genetics Group,

Department of Animal Science Wageningen University, Wageningen, the Netherlands, pp 176.

WorldFish Center, 2004 GIFT Technology Manual:

An aid to Tilapia selective breeding WorldFish Center, Penang, Malaysia.

Trang 22

1 National Breeding Centre for Southern Freshwater Aquaculture, Research Institute for Aquaculture No 2

The project “Application of quantitative and molecular genetics to improve growth of red tilapia

(Oreochromis spp.)” (year 2014 – 2016) selected for 3 generation from G2 to G4, aiming at growth and external colour Heritability estimate for growth was ranged from 0.19 to 0.29, and increased over time: 0.19 ± 0.09 for G2, 0.22 ± 0.09 for G3, and 0.29 ± 0.10 for G4 For external colour, heritability was relatively stable over 3 generations, ranging from 0.27 to 0.33 Response to selection of G2, G3 and G4 ranged from 17.6 to 49.8 g (trait unit) or 5.4 to 14.2% (percentage) After 3 generations of selection (from G2 to G4) accumulated response was 24%.

Keywords: red tilapia, growth, external colour, genetic parameters.

Người phản biện: TS Nguyễn Văn Sáng

Ngày nhận bài: 20/11/2017 Ngày thông qua phản biện: 10/12/2017

Ngày duyệt đăng: 15/12/2017

Trang 23

HIỆU QUẢ CÁC DỊCH CHIẾT KHỔ SÂM (Croton tonkinensis )

VÀ ĐƠN CHÂU CHẤU (Aralia armata ) TRONG PHÒNG

TRỊ BỆNH HOẠI TỬ GAN TỤY CẤP TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

(Penaeus vannamei) Ở ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM

Trương Hồng Việt1*, Đỗ Thị Cẩm Hồng1, Vũ Thiên Ân1, Trần Bảo Ngọc2,

Nguyễn Trần Gia Bảo2, Trần Minh Trung1

TÓM TẮT

Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc năm 2009, sau đó phát tán đến Việt Nam năm 2010 Nó gây ảnh hưởng tiêu cực cho ngành công nghiệp tôm ở Việt Nam với thiệt hại kinh tế khoảng 7,2 triệu Đô la Mỹ trong năm 2012 Mục tiêu của nghiên cứu này là thử

nghiệm tính hiệu quả của hai dịch chiết Khổ sâm (Croton tonkinensis) và Đơn châu chấu (Aralia

armata) về khả năng phòng AHPND được gây ra bởi Vibrio parahaemolyticus ở tôm thẻ chân trắng

(Penaeus vannamei) bằng gây cảm nhiễm thực nghiệm Có hai thí nghiệm được thực hiện: (1)

Phòng bệnh bằng hai loại dịch chiết Khổ sâm hoặc Đơn châu chấu được trộn vào thức ăn với hai nồng độ gồm 2% (20 g dịch chiết/kg thức ăn) và 4% (40 g dịch chiết/kg thức ăn), tôm được cho ăn liên tục suốt 7 ngày trước và sau khi gây nhiễm bệnh bằng phương pháp ngâm trực tiếp dịch nuôi cấy vi khuẩn vào bể tôm (2) Phòng bệnh bằng hai loại dịch chiết Khổ sâm hoặc Đơn châu chấu được cho trực tiếp vào nước nuôi tôm với hai nồng độ gồm 15 ppm (0,45 g dịch chiết/bể/30 lít nước) và 20 ppm (0,6 g dịch chiết/bể/30 lít nước) Tôm được ngâm dịch chiết 1 giờ trước khi gây nhiễm bệnh bằng phương pháp ngâm trực tiếp dịch nuôi cấy vi khuẩn vào bể tôm, và thêm 1 lần cùng nồng độ dịch chiết đó ở 24 giờ sau gây nhiễm bệnh Kết quả thí nghiệm 1 cho thấy tỷ lệ sống trung bình khi kết thúc thí nghiệm phòng bệnh (7 ngày) với hai dịch chiết trên ở các nồng độ 2% và 4% đều lớn hơn 60%, và tỷ lệ này có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với đối chứng Đối với thí nghiệm 2, tỷ lệ sống trung bình sau khi kết thúc thí nghiệm phòng bệnh (9 ngày) của nhóm ngâm dịch chiết với nồng độ 20 ppm là lớn hơn 60%, và tỷ lệ này có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với đối chứng Từ các kết quả trên, chúng tôi đề xuất hai dịch chiết này có khả năng phòng AHPND ở tôm thẻ chân trắng với liều 2% trộn vào thức ăn hoặc ngâm vào nước nuôi với nồng độ 20 ppm trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Từ khoá: Khổ sâm, Đơn châu chấu, tôm thẻ chân trắng, Vibrio parahaemolyticus, AHPND.

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh hoại tử gan tuỵ cấp (AHPND - Acute

hepatopancreatic necrosis disease) cũng được

xem như là hội chứng gây chết sớm EMS (early

mortality syndrome) đã gây thiệt hại nghiêm

trọng về sản lượng của ngành công nghiệp nuôi

tôm ở Đông Nam Á và Mexico kể từ khi nó được phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc từ năm

2009 (Lightner & ctv., 2012) Sau đó, bệnh này xuất hiện ở Việt Nam (2010), Malaysia (2011), Thailand (2012) (Mooney, 2012; Flegel, 2012), Mexico (2013) (Nunan & ctv., 2014), và

1 Trung tâm Quan trắc Môi trường & Bệnh Thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.

2 Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

*Email: truonghongviet@yahoo.com

Trang 24

Philippines (2014) (De la Pena & ctv., 2015) Ở

Việt Nam, ban đầu chỉ xảy ra tại một số vùng,

sau đó lan ra các tỉnh vùng Tây Nam Bộ gồm

Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre, Tiền Giang, Cà

Mau, tính từ đầu năm 2010 đến tháng 6 năm

2011, tổng thiệt hại ước tính với tổng diện tích

ao nuôi tôm là 98.000 ha Theo báo cáo ở các trại

tôm: ở Bạc Liêu có tổng diện tích ao tôm bị chết

là 11.000 ha, ở Trà Vinh là 6.200 ha với tổng

số 330 triệu tôm đã chết làm thiệt hại hơn 12 tỷ

đồng và ở Sóc Trăng là 20.000 ha làm thiệt hại

1,5 tỷ đồng (Mooney, 2012) Trong năm 2014,

bệnh hoại tử gan tụy cấp xảy ra tại 237 xã, 62

huyện thuộc 22 tỉnh, thành phố Tổng diện tích

nuôi tôm bị bệnh là 5.509 ha (chiếm 0,81% tổng

diện tích thả nuôi của cả nước), trong đó tổng

diện tích nuôi tôm theo hình thức thâm canh và

bán thâm canh bị thiệt hại 5.067 ha; hình thức

nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến và tôm lúa

441 ha Bệnh xảy ra trên cả tôm chân trắng và

tôm sú có độ tuổi từ 10 - 103 ngày sau thả; diện

tích thiệt hại chủ yếu trên tôm chân trắng (3,421

ha, chiếm 62% tổng diện tích bị bệnh hoại tử

gan tụy cấp) (Tổng cục Thuỷ sản, 22/1/2015)

Trong năm 2016, bệnh xảy ra tại 299 xã của 82

huyện, thị xã thuộc 25 tỉnh của cả nước, gồm:

Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Tổng

diện tích bị bệnh là 6.032,68 ha, chiếm 0,9%

diện tích nuôi tôm Diện tích nuôi tôm sú bị bệnh

là 2.456,44 ha; tôm thẻ bị bệnh là 3.576,24 ha

Tôm bệnh có độ tuổi từ 2 - 127 ngày sau thả

Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh bị

bệnh là 5.087,55 ha; nuôi quảng canh, quảng

canh cải tiến bị bệnh là 779,59 ha; còn lại nuôi

theo các hình thức khác là 165,54 ha Tỉnh Bạc

Liêu có diện tích bị AHPND lớn nhất (chiếm

21,81 %), sau đó đến Sóc Trăng, Cà Mau và các

địa phương khác So với năm 2015, bệnh tăng

về phạm vi 02 xã (chiếm 0,67 %) nhưng diện

tích bị bệnh giảm 35,96 % (Tổng cục Thủy sản,

22/2/2017) Đầu năm 2017, một số địa phương

trên địa bàn tỉnh Trà Vinh thiệt hại rất cao như:

xã Dân Thành (thị xã Duyên Hải) thiệt hại 77%

diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng, xã Mỹ Long

Nam (huyện Cầu Ngang) thiệt hại 59% diện tích

nuôi tôm sú, xã Long Hữu (huyện Duyên Hải)

thiệt hại 52% diện tích nuôi tôm sú và 34,7% diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng Đa phần tôm

ở giai đoạn 15-45 ngày tuổi, chủ yếu bị bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy (Tổng cục Thuỷ sản, 28/2/2017) Theo kết quả điều tra 5 tháng đầu năm 2017 cho thấy, diện tích bị bệnh hoại

tử gan tụy ở Đồng bằng sông Cửu Long là 1.557

ha, chiếm khoảng 13,6%, trong đó tỉnh Bạc Liêu

có diện tích bị bệnh lớn nhất (chiếm hơn 25,7% tổng diện tích tôm bị bệnh), tiếp đó là các tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh (Tổng cục Thuỷ sản, 11/7/2017)

Nguyên nhân chính của AHPND đã được

xác định là do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus

(Tran và ctv., 2013) Bộ gen của các chủng gây bệnh AHPND có chứa 2 gen tương đồng với các gen gây độc của côn trùng Photorhabdus (Pir) với tên gọi là PirA và PirB (Yang và ctv., 2014) Các gen này nằm trong đoạn ADN có kích thước 3,5 kb (kilobase) bên trong một plasmid lớn (được xem như là nhiễm sắc thể phụ) có kích

thước 69 kb được bao gồm trong bộ gen của V parahaemolyticus, mã hoá cho hai độc tố gây

bệnh hoại tử gan tuỵ cấp (Yang & ctv., 2014; Han & ctv., 2015) AHPND có thể gây chết đối với tôm sau khi thả nuôi trong khoảng 20-35 ngày đầu thả xuống ao nuôi với tỷ lệ chết có thể lên đến 100% (De Schryver & ctv., 2014) Tôm

bị bệnh AHPND có các dấu hiệu chung như là

vỏ tôm bị mềm, dạ dày và ruột giữa không có thức ăn hoặc đường thức ăn không liên tục, gan tụy bị nhạt màu do màng bao mô liên kết bị mất sắc tố, và gan tuỵ bị teo và bị chai (NACA, 2012) Ở mức độ mô bệnh học, đặc điểm chính của AHPND là sự bong tróc hàng loạt các tế bào biểu mô của ống gan tuỵ như là tế bào tiết (tế bào B), tế bào sợi (tế bào F), tế bào hấp thụ và

dự trữ (tế bào R), và tế bào phôi hay tế bào mầm (tế bào E) Sự bong tróc này bắt đầu từ trung tâm của cơ quan gan tuỵ rồi tiến triển ra vùng tế bào E Trong quá trình bong tróc xảy ra không xuất hiện bất cứ tác nhân nào là nguyên nhân gây bệnh Tiến trình này xuất hiện theo trình tự trước hết là giảm sự biệt hoá các tế bào biểu mô của ống gan và sự tích tụ máu trong cơ quan gan tuỵ trước khi các tế bào bị bong tróc hàng loạt

Trang 25

Sau cùng, cơ quan gan tuỵ bị xâm nhập bởi vi

khuẩn và được gọi là sự nhiễm khuẩn thứ cấp

(Thitamadee & ctv., 2016)

Trong những năm gần đây, sự gia tăng sử

dụng kháng sinh và hoá chất để phòng trị bệnh

này đã gây ra tình trạng bất lợi trong lĩnh vực

nuôi trồng thuỷ sản Điều này có thể làm xuất

hiện nhiều chủng vi khuẩn có khả năng kháng

kháng sinh, và dư lượng của nó không những

làm hại môi trường nuôi thuỷ sản mà còn ảnh

hưởng không tốt đến sức khoẻ của con người

(Syahidah, 2014) Theo Pandey & ctv (2012),

dịch chiết thảo dược không chỉ an toàn cho môi

trường, người tiêu thụ mà nó còn có nhiều lợi ích

trong nuôi trồng thuỷ sản và kinh tế Vì vậy, việc

sử dụng dịch chiết thảo dược để kiểm soát bệnh

nhiễm khuẩn như là chiến lược thay thế kháng

sinh và đã áp dụng thành công ở một số nước

như là Mexico, Ấn Độ, Thái Lan, và Nhật Bản

(Yin & ctv., 2008) Ở Thái Lan, báo cáo cho thấy

rằng dịch chiết củ Riềng (Alpinia galanga) có

khả năng ức chết sự phát triển của 8 loài Vibrio

gây bệnh trong đó có V parahaemolyticus gây

bệnh hoại tử cấp (Chaweepack & ctv., 2015a)

Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu

một số cây có tính kháng khuẩn dùng để trị bệnh

trong nuôi trồng thuỷ sản từ thập niên 90 Hà

Ký (1995) đã nghiên cứu một số loài thảo dược

bao gồm rau nghể hay răm nước (Polygonum

hydropiper), rau sam (Portulaca oleracea),

cây cỏ sữa lá to (Euphorbia hirta), cỏ sữa lá

nhỏ (Euphorbia thymifolis), sài đất (Wedelia

calendulacae), nhọ nồi (Eclipta alba), bồ công

anh (Lactuca indica), cây vòi voi (Heliotropium

indicum) và cây chó đẻ răng cưa hay còn gọi là

diệp hạ châu (Phyllanthus urinaria) có thể sử

dụng trong phòng trị bệnh đốm đỏ ở cá trắm

cỏ Bùi Quang Tề & Lê Xuân Thành (2006) đã

nghiên cứu thành công 2 loại chế phẩm thảo dược

VTS1-C, VTS1-T phối chế từ các hoạt chất chiết

tách từ tỏi (Allium sativum), sài đất (Weledia

calendulacea) sử dụng phòng bệnh nhiễm khuẩn

cho tôm cá Nguyễn Ngọc Phước & ctv., (2007)

sản xuất chế phẩm sinh học bokashi được chiết

xuất từ lá trầu dùng để điều trị các bệnh do vi

khuẩn gây ra trên động vật thủy sản

Dịch chiết Khổ sâm (Croton tonkinensis)

chứa các lớp chất chủ yếu là các hợp chất terpenoid như là flavonoid, alcaloid, polyphenol,

nó thuộc nhóm cây thuốc và vị thuốc dùng làm thuốc bổ, thuốc bồi dưỡng, và có tác dụng tốt với tiêu hóa và dạ dày (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Đối với dịch chiết Đơn châu chấu (Aralia armata), thành phần hoá học có hai triterpenoid

(3βdioic acid và 3-oxooleana-11,13(18)-diene-28,30-dioic acid) và một triterpenoid glycoside (3β-O-6′-O-methyl-β-d-glucuronopyranosyl oleana-11,13(18)-dien-28-oic acid có khả năng diệt cỏ dại (Miao H., & ctv., 2016) Ngoài ra, các hợp chất triterpenoid saponin loại olean có khả năng kháng khuẩn, bảo vệ gan, và bảo vệ dạ dày (Sun & ctv., 2006)

-hydroxyoleana-11,13(18)-diene-28,30-Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của hai loại dịch chiết bằng cồn của Khổ sâm và Đơn châu chấu trong việc phòng

trị AHPND do Vibrio parahaemolyticus gây ra

trên tôm thẻ chân trắng trong điều kiện phòng thí nghiệm

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Vật liệu

Dịch chiết thô Khổ sâm và Đơn châu chấu được cung cấp bởi Viện hoá học và các hợp chất thiên nhiên Dịch thô được tách chiết bằng cồn tuyệt đối, cô đặc và được bảo quản ở nhiệt độ phòng

Tôm thẻ chân trắng có trọng lượng từ 2-3 gram được mua từ Trung tâm Giống Hải sản Nam Bộ Tôm trước khi làm thí nghiệm được nuôi thuần 5-7 ngày tại phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm Quan trắc Môi trường và Bệnh thủy sản Nam bộ Tôm trước khi thí nghiệm được kiểm tra bệnh hoại tử bằng phương pháp mô học

để kiểm tra AHPND

Chủng Vibrio parahaemolyticus ST8T

(được phân lập từ mẫu tôm bệnh ở Sóc Trăng) gây bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) được cung cấp bởi Trung tâm Quan trắc Môi trường

và Bệnh Thuỷ sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản II

Trang 26

2.2 Thử nghiệm khuếch tán trên đĩa giấy

Hiệu quả kháng khuẩn của các dịch chiết

Khổ sâm và Đơn châu chấu được xác định

bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa giấy Thí

nghiệm được thực hiện theo Oometta-aree &

ctv., (2006) và Chaweepack & ctv., (2015a) như

sau: Một khuẩn lạc đơn Vibrio parahaemolyticus

được cấy tăng sinh trên môi trường Nutrient agar

(NA) + 1,5% NaCl, đĩa thạch được ủ ở 30oC

trong 24 giờ Huyền phù vi khuẩn trong dung

dịch NaCl 2% để đạt được mật độ vi khuẩn 108

CFU/ml (dựa vào ống Mc.Farland 0,5) Sau đó,

dịch huyền phù này được pha loãng đến mật độ

106 CFU/ml và trải 1 ml lên môi trường Mueller

Hinton agar Đĩa giấy vô trùng (đường kính 0,6

mm) được tẩm 60 µl dịch chiết Khổ sâm hoặc

Đơn châu chấu có nồng độ là 2% trong cồn

tuyệt đối và được để khô trong tủ cấy Đặt các

đĩa giấy đã được tẩm dịch chiết lên đĩa thạch

đã được trải vi khuẩn và ủ ở 30oC trong 24 giờ

Hiệu quả của dịch chiết thực vật được đánh giá

dựa vào vòng ức chế vi khuẩn

2.3 Xây dựng đường chuẩn mật độ vi

khuẩn theo giá trị mật độ quang (OD)

Mật độ Vibrio parahaemolyticus (VP) dùng

cho thí nghiệm cảm nhiễm thực nghiệm được

ước lượng bằng cách xây dựng phương trình hồi

qui tuyến tính y = ax + b (Despres J P & ctv.,

1991) giữa các giá trị chỉ số OD ở bước sóng

600 nm (OD600nm) và mật độ vi khuẩn (CFU/ml)

được nuôi cấy và đếm số tế bào sống trong môi

trường Nutrient Broth (NB) bổ sung 1,5% NaCl

(NB+1,5% NaCl) Một khuẩn lạc đơn của VP

được tăng sinh trong 20 ml NB+1,5% NaCl, ủ

30oC trong tủ lắc 200 rpm, trong 2 giờ Chuyển

mỗi 1 ml dịch nuôi cấy vào 3 bình khác nhau có

chứa 100 ml môi trường NB+1,5% NaCl Sau

đó, 3 bình này được ủ ở 30oC, lắc 200 rpm, trong

khoảng 3 giờ, được đo và điều chỉnh để được

các chỉ số OD600nm độc lập với nhau, bao gồm

0,80x; 0,85x và 0,90x tương ứng cho mỗi bình

Mỗi giá trị OD600nm của dịch nuôi cấy vi khuẩn

được đếm số lượng tế bào sống bằng cách pha

loãng dãy nồng theo cơ số 10, mỗi nồng độ pha

loãng (10-4, 10-5, và 10-6) được dùng để trải trên

3 đĩa môi trường thạch TCBS với thể tích 0,1 ml trên mỗi đĩa Đĩa thạch được ủ ở 30oC trong thời gian 18-24 giờ Chọn nồng độ có khuẩn lạc mọc rời với số lượng từ 30 đến 300

2.4 Chuẩn bị dịch vi khuẩn cho thí nghiệm cảm nhiễm

Phương pháp chuẩn bị vi khuẩn cho cảm nhiễm dựa vào phương pháp được mô tả bởi Joshi & ctv., (2014) và Trương Hồng Việt & ctv., (2017) với một vài bổ sung như sau: Một khuẩn lạc đơn được tăng sinh trong 20 ml NB+1,5% NaCl, ủ 30oC, trong 2 giờ, lắc 200 rpm Chuyển

5 ml dịch khuẩn vào trong 500 ml NB+1,5% NaCl, ủ 30oC, lắc 200 rpm, trong khoảng 3 giờ Đo mật độ vi khuẩn bằng máy quang phổ (Biorad) với chỉ số OD600nm đến khi đạt được từ 0,800 đến 0,900 Dựa vào đường chuẩn y = a*x + b (y là mật độ vi khuẩn; x là giá trị OD600nm) được xây dựng ở Mục 2.3 để suy ra mật độ vi khuẩn Liều cảm nhiễm phòng bệnh bằng dịch chiết thực vật là mật độ vi khuẩn gây chết tôm 85% (LD85)

2.5 Xác định mật độ vi khuẩn gây chết 85% (LD 85 )

Để tìm LD85, thí nghiệm cảm nhiễm thăm dò

được thực hiện với 4 nồng độ V parhaemolyticus

theo tỷ 4/4, 3/4, 2/4, và 1/4 Dịch nuôi cấy vi khuẩn được đo giá trị OD600nm đến khi đạt từ 0,800 đến 0,900 Dựa vào đường chuẩn (y = a*x + b) được xây dựng ở mục 2.3 để ước lượng mật

độ vi khuẩn của dịch nuôi cấy Dịch nuôi cấy này được dùng cho cảm nhiễm bằng phương pháp ngâm trực tiếp vi khuẩn để đạt được mật

độ cuối cùng theo tỷ lệ trên Nghiệm thức đối chứng âm được ngâm với thể tích môi trường

NB bằng với thể tích dịch vi khuẩn cảm nhiễm ở nồng độ cao nhất Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 bể, mỗi bể 20 tôm trong 30 lít nước biển có độ mặn

20 ppt trong bể nhựa 90 lít Tôm được cho ăn bằng thức ăn thương mại 3 lần/ngày, với lượng 3% trọng lượng thân Tôm chết được ghi nhận hàng ngày và thí nghiệm được kết thúc khi tôm

ở các nghiệm thức thí nghiệm ngưng chết trong

3 ngày liên tục Các bể tôm không được thay nước trong suốt thời gian thí nghiệm LD85 được

Trang 27

tính toán bằng cách xây dựng phương trình hồi

qui tuyến tính Y = a*X+b (Y là tỷ lệ chết tích

luỹ sau cảm nhiễm; X là mật độ vi khuẩn CFU/

ml) giữa các mật độ vi khuẩn cảm nhiễm và thời

điểm kết thúc thí nghiệm (Stephen C E., 1977)

2.6 Thử nghiệm độc tính của dịch chiết

Thử nghiệm độc tính của dịch chiết Khổ

sâm và Đơn châu chấu được thực hiện với hai thí

nghiệm: Thí nghiệm (1) bằng cách cho tôm ăn

3 lần/ngày với 5% trọng lượng thân, cho ăn liên

tục suốt 7 ngày với 2 nồng độ bao gồm 2% (20

g dịch chiết/kg thức ăn) và 4% (40 g dịch chiết/

kg thức ăn); (2) bằng cách ngâm trực tiếp vào

nước nuôi tôm với 2 nồng độ bao gồm 20 ppm

(0,6g/30 lít nước) và 40 ppm (1,2g/30 lít nước)

Đối chứng âm không cho ăn hoặc ngâm dịch

chiết Mỗi nghiệm thức thí nghiệm được lặp lại

3 bể, mỗi bể 20 tôm trong 30 lít nước biển có

độ mặn 20 ppt Tôm được cho ăn bằng thức ăn

thương mại, 3 lần/ngày với liều 3% trọng lượng

thân Các bể tôm không được thay nước trong

suốt thời gian thí nghiệm Thí nghiệm được theo

dõi trong suốt 7 ngày

2.7 Phòng bệnh bằng dịch chiết qua đường

thức ăn

Thí nghiệm được thực hiện với một trong

hai loại dịch chiết Khổ sâm hoặc Đơn châu chấu

với nồng độ 2% (20 g dịch chiết/kg thức ăn) và

4% (40 g dịch chiết/kg thức ăn), tôm được cho

ăn 3 lần/ngày với 5% trọng lượng thân, cho ăn

liên tục suốt 7 ngày trước khi gây nhiễm bệnh

bằng phương pháp ngâm vi khuẩn Sau 7 ngày

ghi nhận số tôm chết để đánh giá khả năng gây

độc của dịch chiết khi trộn vào thức ăn Đối với

các nghiệm thức đối chứng, tôm được cho ăn

thức ăn không trộn với dịch chiết Dịch nuôi

cấy vi khuẩn được đo giá trị OD600nm đến khi đạt

từ 0,800 đến 0,900 Dựa vào đường chuẩn (y

= a*x + b) được xây dựng ở mục 2.3 để ước

lượng mật độ vi khuẩn của dịch nuôi cấy Dịch

nuôi cấy này được dùng cho cảm nhiễm theo

mật độ LD85 Nghiệm thức đối chứng âm được

ngâm với thể tích môi trường NB tương đương

với thể tích dịch vi khuẩn dùng cảm nhiễm Mỗi

nghiệm thức lặp lại 3 bể, mỗi bể 20 tôm trong

30 lít nước biển có độ mặn 20ppt trong bể nhựa

90 lít Đối với các nghiệm thức ăn thức ăn có trộn dịch chiết, tôm tiếp tục cho ăn sau cảm nhiễm 1 giờ, và cho ăn liên tục trong suốt thời gian thí nghiệm Các bể tôm không được thay nướctrong suốt thời gian thí nghiệm Tôm chết được ghi nhận hàng ngày và thí nghiệm được kết thúc khi tôm ở các nghiệm thức thí nghiệm ngưng chết trong 3 ngày liên tục

2.8 Phòng bệnh bằng dịch chiết qua đường nước nuôi tôm

Thí nghiệm được thực hiện bằng phương pháp ngâm hai loại dịch chiết Khổ sâm hoặc Đơn châu chấu để đạt được nồng cuối cùng

là 15 ppm (0,45 g dịch chiết/bể/30 lít nước)

và 20 ppm (0,6 g dịch chiết/bể/30 lít nước) Tôm được ngâm dịch chiết 1 giờ trước khi cảm nhiễm vi khuẩn, và lặp lại nồng độ dịch chiết 1 lần sau 24 giờ gây nhiễm Dịch nuôi cấy vi khuẩn được đo giá trị OD600nm đến khi đạt từ 0,800 đến 0,900 Dựa vào đường chuẩn (y = a*x + b) được xây dựng ở mục 2.3 để ước lượng mật độ vi khuẩn của dịch nuôi cấy Dịch nuôi cấy này được dùng cho cảm nhiễm theo mật độ LD85 Nghiệm thức đối chứng

âm được ngâm với thể tích môi trường NB tương đương với thể tích dịch vi khuẩn dùng cảm nhiễm Mỗi nghiệm thức lặp lại 3 bể, mỗi

bể 20 tôm trong 30 lít nước biển có độ mặn

20 ppt trong bể nhựa 90 lít Tôm được cho

ăn bằng thức ăn thương mại, 3 lần/ngày với liều 3% trọng lượng thân, và cho ăn liên tục trong suốt thời gian thí nghiệm Các bể tôm không được thay nước trong suốt thời gian thí nghiệm Tôm chết được ghi nhận hàng ngày

và thí nghiệm được kết thúc khi tôm ở các nghiệm thức thí nghiệm ngưng chết 3 ngày liên tiếp

2.9 Phân tích thống kê

Số liệu các thí nghiệm được phân tích thống

kê bằng phần mềm SPSS Phân tích ANOVA để tìm sự khác biệt giữa các nghiệm thức tại thời điểm kết thúc thí nghiệm Nếu khác biệt ý nghĩa được xác định, Tukey’s Testđược phân tích để tìm sự khác biệt ở mức ý nghĩa p<0,05

Trang 28

III KẾT QUẢ

3.1 Hoạt tính kháng khuẩn của hai dịch

chiết Khổ sâm và Đơn châu chấu

Kết quả thử nghiệm tính kháng khuẩn

của hai dịch chiết Khổ sâm và Đơn châu chấu

bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa giấy được

thể hiện ở Bảng 1 Kết quả cho thấy đường kính

trung bình của vòng ức chế vi khuẩn lần lượt

là 18 mm và 25 mm Theo Lorian (1995) trong

báo cáo của Oonmetta-aree & ctv., (2006), hoạt động ức chế sự phát triển vi khuẩn được xem là kháng khi có đường kính vòng kháng khuẩn ≤ 9

mm, kháng vừa khi có đường kính vòng kháng khuẩn ≥ 10-13 mm, và nhạy khi có đường kính vòng kháng khuẩn ≥ 14 mm Dựa vào các thông

số này suy ra dịch chiết Khổ sâm và Đơn châu

chấu là nhạy đối với Vibrio parahaemolyticus

gây bệnh hoại tử gan tuỵ cấp trên tôm

Bảng 1: Kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán đĩa Dịch chiết và dung môi

n=6 Đường kính vòng ức chế vi khuẩn (mm) Note

Hình 1 Vòng ức chế phát triển đối với Vibrio parahaemolyticus bởi các mẫu dịch chiết thô

Ảnh A: ĐCC (Đơn châu chấu), MB (Bọ mắm), KHD (Ké hoa đào), Eth (cồn tuyệt đối) Ảnh B: KS (Khổ sâm), HT (Hàn the), TD (Thuốc dấu), Eth (cồn tuyệt đối)

3.2 Kết quả xây dựng đường

chuẩn mật độ vi khuẩn Vibrio

parahaemolyticus

Để ước lượng mật độ Vibrio

parahaemolyticustại thời điểm gây

nhiễm, đường chuẩn hồi qui tuyến

tính tương quan giữa 3 giá trị mật độ

quang (OD) bao gồm 0,805; 0,853

và 0,906 được đo ở bước sóng 600

nm và mật độ vi khuẩn được đếm số

lượng tương ứng được trình bày ở

Bảng 2 và Hình 2 Hình 2 Phương trình hồi qui tuyến tính được xây dựng dựa

Trang 29

Hình 2 thể hiện phương trình hồi qui

tuyến tính được xây dựng là y = 5,95*x-3,86

(y là mật độ vi khuẩn x 109 CFU/ml; x là giá

trị OD được đo ở bước sóng 600nm) có hệ

số xác định R2=99,5% Mật độ vi khuẩn được

ước lượng dựa vào đường chuẩn là từ 9,0 x

108 CFU/ml đến 1,5 x 109 CFU/ml tương ứng với chỉ số OD cần gây nhiễm thực nghiệm từ 0,800 đến 0,900

Bảng 2: Mật độ vi khuẩn (CFU.mL-1) được trải đĩa và đếm theo các chỉ số OD600nm

OD 600nm số đĩa Số khuẩn lạc trong 0,1ml Hệ số pha loãng Mật độ vi khuẩn (CFU,ml -1 )

3.3 Thử nghiệm độc tính của dịch chiết

thực vật đối với tôm

Thử nghiệm độc tính của dịch chiết Khổ

sâm và Đơn châu chấu được thực hiện với hai

thí nghiệm: Thí nghiệm (1) bằng cách cho tôm

ăn 3 lần/ngày với 5% trọng lượng thân, cho ăn

liên tục suốt 7 ngày với 2 nồng độ bao gồm 2%

(20 g dịch chiết/kg thức ăn) và 4% (40 g dịch

chiết/kg thức ăn); (2) bằng cách ngâm trực tiếp

vào nước nuôi tôm với 2 nồng độ bao gồm 20

ppm (0,6g/30 lít nước) và 40 ppm (1,2g/30 lít

nước) Kết quả cho thấy ở tất cả các nghiệm

thức thí nghiệm được ghi nhận không có tôm bị

chết sau 7 ngày ăn hoặc tiếp xúc với dịch chiết

Điều này có thể nói rằng các dịch chiết không

độc đối với tôm thẻ chân trắng

3.4 Xác định mật độ gây chết 85% (LD 85 )

của Vibrio parahaemolyticus

Để đưa ra biện pháp phòng bệnh hoại

tử gan tuỵ cấp (AHPND) gây ra bởi V

parahaemolyticus nhiễm trên tôm thẻ bằng dịch

chiết thực vật, LD85 được xác định làm cơ sở cho thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm ở điều kiện phòng thí nghiệm Dịch nuôi cấy vi khuẩn

đo được giá trị OD600nm là 0,892 Dựa vào đường chuẩn (y = 5,95*x -3,86) ước lượng được mật

độ vi khuẩn của dịch nuôi cấy vi khuẩn là 1,45 x

109 CFU/ml Dịch nuôi cấy này được dùng cho cảm nhiễm bằng phương pháp ngâm trực tiếp

vi khuẩn để đạt được mật độ cuối cùng trong

bể thí nghiệm là 2,12 x 106 CFU/ml (60ml dịch nuôi cấy vi khuẩn); 1,59 x 106 CFU/ml (45ml dịch nuôi cấy vi khuẩn); 1,06 x 106 CFU/ml (30

ml dịch nuôi cấy vi khuẩn); và 0,53 x 106 CFU/

ml (15 ml dịch nuôi cấy vi khuẩn) Kết quả gây nhiễm được trình bày ở Hình 3

Hình 3 bên dưới thể hiện tôm bắt đầu chết nhiều ở ngày thức 2 và ngưng chết ở ngày thứ

7 sau gây nhiễm Ngoài ra, kết quả thí nghiệm cũng cho thấy rằng tỷ lệ tôm chết càng cao tương ứng với các mật độ vi khuẩn càng lớn Ở mật

độ vi khuẩn cao nhất (2,12 x 106 CFU/ml), tôm

Trang 30

Để xác định LD85, phương trình hồi qui

tuyến tính được xây dựng dựa vào số liệu tỷ lệ

tôm chết sau 7 ngày gây nhiễm ở các mật độ

vi khuẩn khác nhau Kết quả được trình bày ở Hình 4

Hình 3 Tỷ lệ tôm chết được ghi nhận sau 9 ngày gây nhiễm trên tôm thẻ chân trắng với

các mật độ Vibrio parahaemolyticus khác nhau

ngưng chết ở ngày thứ 6, với tỷ lệ chết là 96,7%

Trong khi đó, ở 3 tỷ lệ vi khuẩn còn khác (1,59

x 106 CFU/ml; 1,06 x 106 CFU/ml; và 0,53 x 106

CFU/ml), tôm ngưng chết ở ngày thứ 7, với tỷ lệ

chết tương ứng lần lượt là 85%, 55%, và 33,3% Sau 9 ngày thí nghiệm gây nhiễm, nghiệm thức đối chứng âm không ghi nhận tôm chết

Hình 4 Phương trình hồi qui tuyến tính được xây dựng dựa vào tỷ lệ tôm chết sau 7 ngày

cảm nhiễm bằng phương pháp ngâm với Vibrio parahaemolyticus.

Hình 4 thể hiện phương trình hồi qui tuyến

tính được xây dựng là Y = 52,21*X+1,82 (Y là tỷ lệ chết tích luỹ sau 7 ngày cảm nhiễm; X là mật độ vi khuẩn x 106 CFU/ml) có hệ số xác

Trang 31

định R2=99,4% LD85 được ghi nhận dựa vào

phương trình hồi qui tuyến tính là 1,6 x 106

CFU/mlsau 7 ngày Mật độ này được sử dụng

cho thí nghiệm cảm nhiễm phòng bệnh AHPND

bằng các dịch chiết Khổ sâm và Đơn châu chấu

3.5 Phòng bệnh bằng dịch chiết thực vật

qua đường thức ăn

Tôm được cho ănhai loại dịch chiết Khổ

sâm và Đơn châu chấu trước và sau gây nhiễm

7 ngày với nồng độ 2% (20 g/kg thức ăn) và 4%

(40 g/kg thức ăn) Dịch nuôi cấy vi khuẩn đo được giá trị OD600nm là 0,876 Dựa vào đường chuẩn (y = 5,95*x -3,86) ước lượng được mật

độ vi khuẩn của dịch nuôi cấy vi khuẩn là 1,35 x

109 CFU/ml Dịch nuôi cấy này được dùng cho cảm nhiễm theo mật độ LD85 (1,6 x 106 CFU/ml) với thể tích dịch nuôi cấy vi khuẩn được

sử dụng là 36 ml Nghiệm thức đối chứng âm được ngâm với 36 ml môi trường NB Số tôm chết được ghi nhận hàng ngày đến khi kết thúc thí nghiệm

Hình 5 Tỷ lệ sống của tôm sau 7 ngày gây nhiễm với Vibrio parahaemolyticus của thí nghiệm

phòng bệnh bằng dịch chiết Khổ sâm với nồng độ 2% và 4% trộn vào thức ăn Các chữ cái thể hiện khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Kết quả thí nghiệm phòng bệnh bằng dịch

chiết Khổ sâm, Hình 5 thể hiện tôm chết nhiều

ở ngày thứ hai và thứ ba sau gây nhiễm, và tôm

ngưng chết ở ngày thứ năm của thí nghiệm

Trong khi, ở đối chứng dương tôm chết nhiều

ở ngày thứ nhất và thứ hai Tỷ lệ sống của tôm

ở nghiệm thức đối chứng dương là 15% ± 5%

và tỷ lệ sống trung bình của tôm ở nghiệm thức

đối chứng âm là 100% Trong khi đó, nghiệm

thức phòng bệnh bằng dịch chiết ở nồng độ cao

hơn cho tỷ lệ sống cao hơn với tỷ lệ sống trung

bình sau bảy ngày thí nghiệm phòng bệnh với

nồng độ 2% và 4% lần lượt là 63,3% ± 7,6% và

71,7% ± 2,9% Kết quả phân tích thống kê được

thể hiện ở Hình 5 về tỷ lệ sống của tôm ở ngày

thứ bảy cho thấy hai nghiệm thức phòng bệnh

với 2% và 4% không có sự khác biệt ý nghĩa

thống kê (p>0,05), và 2 nghiệm thức này có sự

khác biệt ý nghĩa (p<0,05) so với cả 2 nghiệm thức đối chứng dương và âm Điều này có thể nói rằng dịch chiết Khổ sâm có hiệu quả phòng bệnh hoại tử gan tuỵ cấp ở tôm thẻ chân trắng với cả hai liều 2% và 4% trộn vào thức ăn với tỷ

lệ sống trên 60%

Đối với phòng bệnh bằng dịch chiết Đơn châu chấu, Hình 6 thể hiện tôm chết nhiều ở ngày thứ hai và thứ ba sau gây nhiễm, và tôm ngưng chết ở ngày thứ năm của thí nghiệm Nghiệm thức phòng bệnh bằng dịch chiết ở nồng độ cao hơn cho tỷ lệ sống cao hơn với tỷ lệ sống trung bình sau bảy ngày thí nghiệm phòng bệnh với nồng độ 2% và 4% lần lượt là 61,7% ± 7,6% và 73,3% ± 5,8% Kết quả phân tích thống

kê được thể hiện ở Hình 6 về tỷ lệ sống của tôm

ở ngày thứ bảy cho thấy hai nghiệm thức phòng

Trang 32

bệnh với nồng độ 2% và 4% không có sự khác

biệt ý nghĩa thống kê (p>0,05), và 2 nghiệm

thức này có sự khác biệt ý nghĩa (p<0,05) so với

cả 2 nghiệm thức đối chứng dương và âm Điều

này có thể nói rằng dịch chiết Đơn châu chấu có hiệu quả phòng bệnh hoại tử gan tuỵ cấp ở tôm thẻ chân trắng với cả hai liều 2% và 4% trộn vào thức ăn với tỷ lệ sống trên 60%

Hình 6 Tỷ lệ sống của tôm sau 7 ngày gây nhiễm với Vibrio parahaemolyticus của thí nghiệm

phòng bệnh bằng dịch chiết Đơn châu chấu với nồng độ 2% và 4% cho vào thức ăn Các chữ cái thể hiện khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05)

3.6 Phòng bệnh bằng dịch chiết thực vật

cho trực tiếp vào nước

Tôm được ngâm với hai loại dịch chiết

Khổ sâm và Đơn châu chấu trước gây nhiễm

1 giờ và sau gây nhiễm 24 giờ với nồng độ

15ppm (0,45 g/30 lít nước) và 20 ppm (0,6

g/30 lít nước) Dịch nuôi cấy vi khuẩn đo được

giá trị OD600nm là 0,893 Dựa vào đường chuẩn

(y = 5,95*x-3,86) ước lượng được mật độ vi

khuẩn của dịch nuôi cấy vi khuẩn là 1,45 x 109

CFU/ml Dịch nuôi cấy này được dùng cho

cảm nhiễm theo mật độ LD85 (1,6 x 106 CFU/

ml) với thể tích dịch nuôi cấy vi khuẩn được

sử dụng là 33,5 ml Nghiệm thức đối chứng

âm được ngâm với 33,5 ml môi trường NB Số

tôm chết được ghi nhận hàng ngày đến khi kết

thúc thí nghiệm

Kết quả thí nghiệm phòng bệnh bằng dịch

chiết Khổ sâm, Hình 7 thể hiện tôm chết nhiều

ở ngày thứ hai và thứ tư sau gây nhiễm, và tôm

ngưng chết ở ngày thứ bảy của thí nghiệm Trong khi, ở đối chứng dương tôm chết nhiều ở ngày thứ nhất và thứ ba Tỷ lệ sống của tôm ở nghiệm thức đối chứng dương là 18,3% ± 2,9%

và tỷ lệ sống trung bình của tôm ở nghiệm thức đối chứng âm là 100% Trong khi đó, nghiệm thức phòng bệnh bằng dịch chiết ở nồng độ cao hơn cho tỷ lệ sống cao hơn với tỷ lệ sống trung bình sau chín ngày thí nghiệm phòng bệnh với nồng độ 15 ppm và 20 ppm lần lượt là 51,7% ± 2,9% và 61,7% ± 2,9% Kết quả phân tích thống

kê được thể hiện ở Hình 7 về tỷ lệ sống của tôm

ở ngày thứ chín cho thấy hai nghiệm thức phòng bệnh với nồng độ 15 ppm và 20 ppm có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05), và 2 nghiệm thức này có sự khác biệt ý nghĩa (p<0,05) so với

cả 2 nghiệm thức đối chứng dương và âm Kết quả trên cho thấy rằng dịch chiết Khổ sâm có hiệu quả phòng bệnh hoại tử gan tuỵ cấp ở tôm thẻ chân trắng với liều 20 ppm xử lý vào nước nuôi với tỷ lệ sống trên 60%

Trang 33

Đối với phòng bệnh bằng dịch chiết Đơn

châu chấu, Hình 8 thể hiện tôm chết nhiều ở

ngày thứ hai và thứ tư sau gây nhiễm, và tôm

ngưng chết ở ngày thứ sáu của thí nghiệm

Trong khi, ở đối chứng dương tôm chết nhiều

ở ngày thứ nhất và thứ ba Nghiệm thức phòng

bệnh bằng dịch chiết ở nồng độ cao hơn cho tỷ

lệ sống cao hơn với tỷ lệ sống trung bình sau

chín ngày thí nghiệm phòng bệnh với nồng độ

15 ppm và 20 ppm lần lượt là 51,7% ± 2,9% và

61,7% ± 2,9% Kết quả phân tích thống kê được

thể hiện ở Hình 8 về tỷ lệ sống của tôm ở ngày thứ chín cho thấy hai nghiệm thức phòng bệnh với các nồng độ 15 ppm và 20 ppm có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05), và 2 nghiệm thức này có sự khác biệt ý nghĩa (p<0,05) so với

cả 2 nghiệm thức đối chứng dương và âm Kết quả trên cho thấy rằng dịch chiết Đơn châu chấu

có hiệu quả phòng bệnh hoại tử gan tuỵ cấp ở tôm thẻ chân trắng với liều 20 ppm xử lý vào nước nuôi với tỷ lệ sống trên 60%

Hình 7 Tỷ lệ sống của tôm sau 9 ngày gây nhiễm với Vibrio parahaemolyticus của thí nghiệm

phòng bệnh bằng dịch chiết Khổ sâm với các nồng độ 15 ppm và 20 ppm cho vào nước nuôi Các chữ cái thể hiện khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Hình 8 Tỷ lệ sống của tôm sau 9 ngày gây nhiễm với Vibrio parahaemolyticus của thí nghiệm

phòng bệnh bằng dịch chiết Đơn châu chấu với các nồng độ 15 ppm và 20 ppm cho vào nước nuôi Các chữ cái thể hiện khác biệt ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Trang 34

3.7 Phân tích mô bệnh học

- Kết quả mô học của thử nghiệm độc

tính đối với tôm được ngâm dịch chiết

Sau khi kết thúc thí nghiệm, tôm sống được

cố định trong dung dịch Davidson để kiểm tra

mô bệnh học

Hình 9 Cấu trúc mô học của gan tuỵ của tôm được thử nghiệm độc tính của dịch chiết ở nồng 40

ppm sau 7 ngày: (A) Dịch chiết Khổ sâm và (B) Dịch chiết Đơn châu chấu, gan tuỵ xuất hiện nhiều

tế bào tiết hay tế bào B và có số ít tế bào dự trữ hay tế bào R (C) Đối chứng, gan tuỵ có nhiều cả

tế bào B và tế bào R Mũi tên mập: tế bào B có chứa một không bào lớn; Mũi tên mảnh: tế bào R

có chứa một hoặc nhiều không bào nhỏ Độ phóng đại 400 lần

Kết quả cho thấy gan tuỵ của tôm ở tất

cả các nghiệm thức thí nghiệm có biểu hiện cấu

trúc mô học bình thường Ở hai nhóm ngâm

dịch chiết Khổ sâm (Hình 9A) và Đơn châu

chấu (Hình 9B) với nồng độ 40 ppm, các tế bào

biểu mô của ống gan tuỵ được biệt hoá thành

nhiều tế bào tiết hay tế bào B (chứa một không

bào lớn) và một số ít tế bào dự trữ hay tế bào R

(chứa một hoặc nhiều không bào nhỏ) Trong

khi đó, ở nhóm đối chứng (Hình 9C), gan tuỵ

của tôm có nhiều cả tế bào B và tế bào R Điều này có thể nói rằng các dịch chiết Khổ sâm và Đơn châu chấu không gây độc đối với tôm ngay

cả ở nồng độ 40 ppm, các dịch chiết này còn kích thích miễn dịch cho các tế bào biểu mô của ống gan tuỵ của tôm biệt hoá nhiều tế bào tiết hay tế bào B

- Kết quả mô bệnh học của tôm thí nghiệm phòng trị dịch chiết trộn vào thức ăn

Trang 35

Gan tuỵ tôm ở nhóm đối chứng âm (Hình

10A) biểu hiện cấu trúc bình thường bao gồm

có nhiều tế bào tiết hay tế bào B (chứa một

không bào lớn) và nhiều tế bào dự trữ hay tế

bào R (chứa một hoặc nhiều không bào nhỏ)

Trong khi đó, gan tuỵ của tôm ăn thức ăn có trộn

4% dịch chiết của Khổ sâm (Hình 10B) hoặc

dịch chiết Đơn châu chấu (Hình 10C) vẫn duy

trì cấu trúc gần như bình thường và xuất hiện

nhiều tế bào B Ngược lại, gan tuỵ tôm sắp chết

của nhóm đối chưng dương (Hình 10D) được

thu mẫu sau 2 ngày gây nhiễm có dấu hiệu tổn

thương cấu trúc mô học phù hợp với nhiễm bệnh

hoại tử gan tuỵ cấp (AHPND) điển hình như là

sự bong tróc các tế bào biểu mô của ống gan và

nó bị rơi vào bên trong ống gan, cùng với đó là

số lượng không bào của tế bào B và R bị giảm

nghiêm trọng Các kết quả trên cho thấy rằng

các dịch chiết Khổ sâm và dịch chiết Đơn châu

chấu có khả năng giúp bảo vệ cấu trúc gan tuỵ

của tôm tránh bị tổn thương do độc tố từ Vibrio

parahaemolyticus gây ra.

IV THẢO LUẬN

Việc nghiên cứu tìm ra các sản phẩm thân

thiện và an toàn với môi trường để thay thế

kháng sinh trong phòng AHPND ở tôm nuôi là

rất cần thiết và cấp bách Nhiều báo cáo trước

đây đã chỉ ra khả năng kháng khuẩn của các

dịch chiết thực vật (Oonmetta-areea & ctv., 2006; Vuddhakul & ctv., 2007; Chaweepack

& ctv., 2015a và 2015b) Dịch chiết Khổ sâm

(Croton tonkinensis) được cho là có chứa các

lớp chất chủ yếu là các hợp chất terpenoid như là flavonoid, alcaloid, polyphenol, nó thuộc nhóm cây thuốc và vị thuốc dùng làm thuốc bổ, thuốc bồi dưỡng, và có tác dụng tốt với tiêu hóa và dạ dày (Đỗ Tất Lợi, 2004) Thành phần hoá học của dịch chiết Đơn châu

chấu (Aralia armata) có hai triterpenoid

(3βdioic acid và 3-oxooleana-11,13(18)-diene-28,30-dioic acid) và một triterpenoid glycoside (3β-O-6′-O-methyl-β-d-glucuronopyranosyl oleana-11,13(18)-dien-28-oic acid và các hợp chất triterpenoid saponin loại olean có khả năng kháng khuẩn, bảo vệ gan, và bảo vệ dạ dày (Sun & ctv., 2006; Miao H & ctv., 2016) Theo Citarasu T., (2010) báo cáo rằng một số hợp chất như là phenolics, polyphenols, alkaloids, quinones, terpenoids, lectines và polypeptides

-hydroxyoleana-11,13(18)-diene-28,30-có khả năng thay thế hiệu quả cho kháng sinh trong phòng bệnhnhiễm khuẩn Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện để xác định hiệu quả của các dịch chiết Khổ sâm và Đơn châu chấu trong việc phòng AHPND ở tôm thẻ chân trắng trong điều kiện phòng thí nghiệm Theo kết quả thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn bằng phương

Hình 10 Cấu trúc mô bệnh học của gan tuỵ tôm thí nghiệm phòng trị dịch chiết thực vật trộn vào thức

ăn với liều 4% (A) Đối chứng âm hiện diện nhiều tế bào Bvà R (B) Dịch chiết Khổ sâm và (C) Dịch chiết Đơn châu chấuvẫn duy trì cấu trúc gan bình thường và xuất hiện nhiều tế bào B (D) Đối chứng dương có dấu hiệu bong tróc các tế bào biểu mô và giảm số lượng không bào của tế bào B và R Mũi tên mập: tế bào B có chứa một không bào lớn; Mũi tên mảnh: tế bào R có chứa một hoặc nhiều không bào nhỏ; Mũi tên đứt khúc: các tế bào biểu mô bị bong tróc và rơi vào ống gan Độ phóng đại 400 lần

Trang 36

pháp khuếch tán đĩa cho thấy hai dịch chiết

Khổ sâm và Đơn châu chấu là nhạy với Vibrio

parahaemolyticus Các thí nghiệm phòng bệnh

bằng dịch chiết thực vật dựa vào gây nhiễm

thực nghiệm theo phương pháp ngâm trực tiếp

vi khuẩn vào bể tôm, nên việc ước lượng mật

độ vi khuẩn ở tại thời điểm gây nhiễm rất được

quan tâm Theo các báo trước đây, mật độ Vibrio

parahaemolyticus được nuôi cấy đến pha log

để đạt các chỉ số OD600nm trong khoảng 0,6 đến

0,93 tương ứng với mật độ vi khuẩn 108 CFU/

ml (Joshi & ctv., 2014; Hong X P., & ctv., 2016;

Trương Hồng Việt & ctv., 2017) Trong nghiên

cứu này, các thí nghiệm gây nhiễm chỉ chọn mật

độ V parahaemolyticus ở các chỉ số OD600nm từ

0,800 đến 0,900 tương ứng với mật độ vi khuẩn

từ 9,00 x 108 CFU/ml đến 1,5 x 109 CFU/ml

(dựa vào đường chuẩn y = 5,95*x-3,86 có hệ số

xác định R2 = 99,5%) và thời gian tăng sinh vi

khuẩn tối đa 5 giờ để đảm bảo vi khuẩn đang ở

pha log Ngoài ra, liều vi khuẩn gây nhiễm cũng

rất quan trọng trong thí nghiệm phòng bệnh,

nó được đòi hỏi phải có khả năng gây chết tôm

với tỷ lệ cao và thời gian chết phải kéo dài để

thích hợp cho phòng bệnh Vì vậy, nghiên cứu

này được chọn mật độ gây chết tôm 85% (LD85)

sau 7 ngày là 1,6 x 106 CFU/ml được suy ra từ

phương trình hồi qui tuyến tính (Y = 52,21*X +

1,82 có hệ số xác định R2 = 99,4% ) được xây

dựng dựa vào kết quả của thí nghiệm thăm dò đã

được thực hiện trước đó Liều gây nhiễm phòng

bệnh của nghiên cứu này gần tương đương với

liều gây nhiễm của một số nghiên cứu khác đã

báo cáo như là liều cảm nhiễm ngâm trực tiếp 1

x 106 CFU/ml trong phòng bệnh AHPND ở tôm

giống (P15) bằng dịch chiết tảo đỏ (Boonsri &

ctv., 2016) hoặc là liều cảm nhiễm ngâm trực

tiếp 2,2 x 106 CFU/ml cho phòng bệnh AHPND

ở tôm thẻ 1,3 g bằng Progen-S (Jintasatapor &

ctv., 2017)

Thí nghiệm phòng bệnh được thực hiện để

đánh giá khả năng của hai dịch chiết Khổ sâm và

Đơn châu chấu bằng cách trộn vào thức ăn hoặc

ngâm trực tiếp vào nước Tôm được cho ăn hai

loại dịch chiết Khổ sâm và Đơn châu chấu trước

và sau gây nhiễm bảy ngày với nồng độ 2% (20

g/kg thức ăn) và 4% (40 g/kg thức ăn) Kết quả gây nhiễm cho thấy nghiệm thức phòng trị dịch chiết ở nồng độ cao hơn cho tỷ lệ sống cao hơn với tỷ lệ sống trung bình sau 7 ngày phòng trị bằng dịch chiết Khổ sâm lần lượt là 63,3%

± 7,6% và 71,7% ± 2,9%, còn phòng trị bằng dịch chiết Đơn châu chấu có tỷ lệ sống trung bình cũng tăng dần lần lượt là 61,7% ± 7,6% và 73,3% ± 5,8% Tuy nhiên, các tỷ lệ này không

có khác biệt ý nghĩa thống kê (p>0,05) Các kết quả này cho thấy hai loại dịch chiết này

có khả năng ức chế V parahaemolyticus gây

bệnh AHPND Vì thế, tôm mà được ăn thức

ăn có trộn dịch chiết hoặc là Khổ sâm hoặc

là Đơn châu chấu có thể kháng tốt với nhiễm khuẩn Hiệu quả phòng trị này thấp hơn hiệu quả phòng trị bằng dịch chiết củ riềng mà được báo cáo trước đây với nồng độ dịch chiết 1%

và 2% cho tỷ lệ sống lần lượt là 73,3% và 80% (Chaweepack & cvt., 2015a) Tuy nhiên, sự so sánh hiệu quả này không thể kết luận điều gì bởi vì mỗi phòng thí nghiệm sử dụng chủng vi khuẩn khác nhau, nồng độ vi khuẩn gây nhiễm khác nhau (2,85 x 105 CFU/ml), và phương pháp gây nhiễm (tiêm trực tiếp vào tôm) cũng khác nhau Theo Chaweepack & cvt (2015b), dịch chiết củ riềng ngoài tác dụng ức chế vi khuẩn còn có tác dụng kích thích hệ miễn dịch của tôm Trong khi dịch chiết Khổ sâm và Đơn chấu chấu chưa có báo cáo nào được thực hiện

để đánh giá tác dụng trên đối tượng thuỷ sản Đối với phòng bệnh qua nước nuôi, tôm được ngâm với hai loại dịch chiết Khổ sâm và Đơn châu chấu trước gây nhiễm 1 giờ và sau gây nhiễm 24 giờ với nồng độ 15 ppm (0,45 g/30 lít nước) và 20 ppm (0,6 g/30 lít nước) Việc ngâm lặp lại dịch chiết nhằm mục đích là tăng hiệu quả ức chế đối với vi khuẩn Tỷ lệ sống trung bình sau 9 ngày thí nghiệm phòng bệnh bằng dịch chiết Khổ sâm lần lượt là 51,7%

± 2,9% và 61,7% ± 2,9%, còn tỷ lệ sống của phòng bệnh bằng dịch chiết Đơn châu chấu lần lượt là 51,7% ± 2,9% và 61,7% ± 2,9% Ở thí nghiệm phòng bệnh bằng dịch chiết qua đường nước nuôi có thời gian kết thúc lâu so với phòng bệnh qua đường thức ăn là do thời gian

Trang 37

chết của tôm ở các nghiệm thức thí nghiệm kéo

dài hơn

Cơ quan gan tuỵ cơ bản bao gồm các ống

được phân nhánh và có các loại tế bào biểu

mô như là tế bào mầm (E), tế bào sợi (F), tế

bào dự trữ (R), và tế bào tiết (B) xếp thành

ống gan Vì vậy, nó dễ dàng bị thay đổi cấu

trúc của ống gan và các tế bào biểu mô khi

tiếp xúc các chất độc hoá học hay chất độc

sinh học (Bhavan & Geraldin, 2000) Một số

nghiên cứu báo cáo rằng cơ quan gan tuỵ được

biết là rất nhạy với các loại thức ăn khác nhau,

các chất gây ô nhiễm nước, và các chất có tính

độc Nó thường được dùng để kiểm tra ảnh

hưởng của các chất độc khác nhau (Bautista

& ctv., 1994; Wu J P & ctv., 2008) Dựa vào

yếu tố trên, trước khi thực hiện các thí nghiệm

phòng bệnh bằng dịch chiết, nghiên cứu này

đã tiến hành thử nghiệm độc tính đối với tôm

và gan tuỵ được thu mẫu và kiểm tra mô học

Đối với tôm thí nghiệm phòng bệnh được cho

ăn dịch chiết với liều 20 g/kg thức ăn và 40 g/

kg thức ăn trong suốt 7 ngày, kết quả ghi nhận

cho thấy không tôm nào bị chết sau khi ăn dịch

chiết Đối với tôm được ngâm với các dịch

chiết Khổ sâm hoặc Đơn châu chấu ở nồng độ

20 ppm và 40 ppm cũng không phát hiện tôm

chết sau 9 ngày Phân tích mẫu mô học cho

thấy, gan tuỵ của tôm ở tất cả các nghiệm thức

thí nghiệm có biểu hiện cấu trúc mô học bình

thường như được thấy ở các loài tôm (Bell &

Lightner, 1988; Caceci & ctv., 1988; Lightner

& ctv., 1996; Bhavan & Geraldine, 2000) Ở

hai nhóm ngâm dịch chiết Khổ sâm hoặc Đơn

châu chấu với nồng độ 40 ppm, các tế bào biểu

mô của ống gan tuỵ được biệt hoá thành nhiều

tế bào B và một số ít tế bào R Trong khi đó, ở

nhóm đối chứng, gan tuỵ có nhiều cả tế bào B

và tế bào R Điều này có thể nói rằng các dịch

chiết Khổ sâm và Đơn châu chấu không gây

độc đối với tôm ngay cả ở nồng độ 40 ppm, các

dịch chiết này còn kích thích miễn dịch cho các

tế bào biểu mô của ống gan tuỵ của tôm biệt

hoá nhiều tế bào B Tế bào B có liên quan đến

sự hấp thu chất lỏng và các phân tử nhỏ bên

trong ống gan, đây là một đặc tính của tế bào B

ở giáp xác mười chân (Lyon & Simkiss, 1984; Al-Mohanna & Nott, 1986; Vogt, 1993) Ngoài

ra, tế bào B còn là nguồn enzyme giúp cho quá trình tiêu hoá ngoại bào (Loizzi, 1971; Gibson

& Barker, 1979; Caceci & ctv., 1988) Sự gia tăng của tế bào B giúp thuận lợi trong việc tổng hợp và bài tiếtcác enzyme tiêu hoá Điều này cũng giúp cho tôm thẻ chân trắng hấp thụ nhiều năng lượng từ thực phẩm ăn vào và làm tăng mức độ trao đổi chất để giữ chức năng cơ thể trở nên bình thường (Li E & ctv., 2008)

AHPND bị gây ra bởi Vibrio parahaemolyticus (Tran & ctv., 2013) Ở mức độ

mô học, đặc tính chẩn đoán chính của AHPND

là sự bong tróc ồ ạt của các tế bào biểu mô của ống gan, mà được bắt đầu từ trung tâm của cơ quan gan tuỵ sau đó lan ra ngoài đến vùng tế bào E Sự bong tróc này làm giảm sự biệt hoá các tế bào biểu mô có chứ năng như tế bào B, F

và R (Thitamadee & ctv., 2016) Kết quả kiểm tra mô bệnh học ở thí nghiệm gây nhiễm với

Vibrio parahaemolyticus chủng ST8T và phòng

bệnh bằng dịch chiết trộn vào thức ăn cho thấy gan tuỵ của tôm ở đối chứng dương có biểu hiện bong tróc các tế bào biểu mô phù hợp với đặc tính của bệnh AHPND (Tran & ctv., 2013; Joshi

& ctv., 2014; Thitamadee & ctv., 2016) Trong khi gan tuỵ của tôm được cho ăn thức ăn có trộn dịch chiết Khổ sâm hoặc Đơn châu chấu với liều 4% xuất hiện nhiều tế bào B Kết quả này phù hợp với kết quả mô học của nghiên cứu phòng AHPND bằng dịch chiết Protein thô từ tảo đỏ với kết quả tế bào B xuất hiện nhiều ở gan tôm của các nghiệm thức được cho ăn dịch chiết (Boonsri & ctv., 2016)

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5.1 Kết luận

Dựa vào các kết quả trên, hai dịch chiết này đã được chứng minh là có hiệu quả phòng bệnh qua đường thức ăn với liều 2% (20 g dịch chiết/kg thức ăn) và hiệu quả phòng bệnh qua đường nước nuôi với nồng độ 20 ppm Vì vậy, hai loại dịch chiết này có thể được dùng như

là biện pháp thay thế kháng sinh cho phòng

AHPND gây ra bởi V parahaemolyticus trên

Trang 38

tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei trong

điều kiện phòng thí nghiệm

5.2 Đề xuất

Mặc dù kết quả cho thấy hai dịch chiết

Khổ sâm và Đơn châu chấu có hiệu quả tốt

trong phòng AHPND qua đường ăn và nước

nuôi, chúng tôi đề nghị cần thử nghiệm hiệu quả

của nó ở qui mô nông hộ

LỜI CẢM ƠN

Đề tài này được thực hiện từ kinh phí của

hợp đồng đề tài nhánh số 02/HĐ-TS với Viện

Hoá học và các Hợp chất thiên nhiên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

Hà Ký, 1995 Phòng và trị bệnh cho tôm cá Bệnh

học thủy sản, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội.

Đỗ Tất Lợi, 2004 Những Cây thuốc và Vị thuốc

Việt Nam Nhà xuất bản Y học.

Nguyễn Ngọc Phước, Phạm Thị Phương Lan,

Nguyễn Quang Linh, Kishio Hatai, 2007

Nghiên cứu khả năng kháng nấm của dịch chiết

lá Trầu (Piper betle L) Tạp chí Thủy Sản số

Trương Hồng Việt, Ajaree Nilawongse, Kallaya Sritunyalucksana, Timothy W Flegel, Siripong Thitamadee, 2017 Nghiên cứu vi khuẩn không

thuộc nhóm Vibrio có khả năng kết hợp với

Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan

tụy cấp trên tôm thẻ chân trắng ở Thái Lan ISSN 1859-1159 Tạp chí Nghề cá Sông cửu long Số 9-Tháng 2/2017 26-42.

Tài liệu tiếng Anh

Al-Mohanna, S.Y., Nott, J.A., (1986) B-cells and digestion in the hepatopancreas of

Penaeussemisulcatus (Crustacea, Decapoda) J

Mar Biol Assoc U K, 66, 403–414.

Bautista, M.N., Lavilla-Pitogo, C., Subosa, P.F., Begino, E.T (1994) Aflatoxin B1 contamination

of shrimp feeds and its effect on growth and

hepatopancreas of preadult Penaeus monodon

J Sci Food Agricult 65, 5–11.

Bell, T.A., Lightner, D.V (1988) A Handbook

of Normal Penaeid Shrimp Histology World

Aquaculture Society, Baton Rouge, LA.

Bhavan, P.S., Geraldine, P (2000) Histopathology

of the hepatopancreas and gills of the prawn

Macrobrachium malcolmsonii exposed to

endosulfan Aquat Toxicol 50, 331–339 Boonsri N., Rudtanatip T., Withyachumnarnkul B.,

& Wongprasert K (2016) Protein extract from red seaweed Gracilaria fisheri prevents acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) infection in shrimp.J Appl Phycol DOI 10.1007/ s10811-016-0969-2.

Caceci, T., Neck, K.F., Lewis, D.H., Sis, R.F (1988) Ultrastructure of the hepatopancreas of

the Pacific white shrimp, Penaeus vannamei

(Crustacea: Decapoda) J Mar Biol Assoc U

Galangal (Alpinia galanga Linn) Extract

against the Pathogens that Cause White Feces Syndrome and Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease (AHPND) in Pacific White Shrimp

(Litopenaeus vannamei) International Journal

of Biology; Vol 7, No 3.

Trang 39

Chaweepack, T., Chaweepack, S., Muenthaisong,

B., Ruangpan, L., Nagata, K., & Kamei, K

(2015b) Effect of galangal (Alpinia galanga

Linn) extract on the expression of

immune-related genes and Vibrio harveyi resistance in

Pacific white shrimp (Litopenaeus vannamei)

Aquacult Int., 23(1), 385-399

De La Peña L.D., Cabillon N.A., Catedral D.D.,

Amar E.C., Usero R.C., Mono Tilla W.D.,

Calpe A.T., Fernandez D.D & Saloma C.P

(2015) Acute hepatopancreatic necrosis disease

(AHPND) outbreaks in Penaeus vannameiand

P monodon cultured in the Philippines Dis

Aquat Org., 116, 251–254

De Pooter, H L., Omar, M N., Coolaset, B A.,

& Schamp, N M (1985) The essential oil

of greater galanga (Alpinia galanga) from

Malaysia Phytochemistry., 24, 93-96 http://

dx.doi.org/10.1016/S0031-9422 (00)80814-6.

De Schryver, P., Defoirdt, T., Sorgeloos, P (2014)

Early mortality syndrome outbreaks: a microbial

management issue in shrimp farming? PLoS

Pathog 10: e1003919.

Despres J P., Prudhomme D., Pouliot M C.,

Tremblay A., Bouchard C (1991) Estimation

of deep abdominal fat in men Am J Clin Nutr;

54-471-7 Printed in USA © 1991 American

Society for Clinical Nutrition.

Flegel, T W (2012) Historic emergence, impact

and current status of shrimp pathogens in Asia

Journal of Invertebrate Pathology, 110(2),

166–73

Gibson, R., and P L Barker (1979) The decapod

hepatopancreas Oceanography and Marine

Biology 17: 285-346.

Han, J.E., Tang, K.F.J., Tran, L.H., Lightner,

D.V (2015) Photorhabdus insect-related

(pir) toxin-like genes in a plasmid of Vibrio

parahaemolyticus, the causative agent of acute

hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) of

shrimp Dis Aquat Org 113:33−40

Hong, X P., Xu, D., Zhuo, Y., Liu, H Q and Lu,

L Q (2016) Identification and pathogenicity of

Vibrio parahaemolyticus isolates and immune

responses of Penaeus (Litopenaeus) vannamei

(Boone) Journal of fish Diseases doi:10.1111/

jfd.12441.

Jintasatapor O., Chumkam S., and Songsiritanaphat

P (2017) Effect of Progen-S in Fishmeal

Reduction Diet on White Shrimp, Litopeanaeus

vannamei, Growth performance, Immunity

and Disease Challenge Against Vibrio

parahaemolyticus Aquafeed Nutrient and

Better Feeding Management in Aquaculture 9th Regional Aquafeed Forum 39-40.

Joshi, J., Srisala, J., Truong, V H., Chen, T., Nuangsaeng, B., Suthienkul, O., …

I.-Thitamadee, S (2014) Variation in Vibrio

parahaemolyticus isolates from a single Thai

shrimp farm experiencing an outbreak of acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) Aquaculture, 428-429, 297–302

Li E., Chen L., Zeng C., Yu N., Xiong Z., Chen X., G Qin J.G (2008) Comparison of digestive and antioxidant enzymes activities, haemolymph oxyhemocyanin contents and hepatopancreas histology of white shrimp,

Litopenaeusvannamei, at various salinities

Aquaculture 274 (2008) 80–86.

Lightner, D V., Redman, R M., Pantoja, C R., Tang, K F J., Noble, B L., Schofield, P., Mohney L L., Nunan L M., Navarro, S A (2012) Historic emergence, impact and current status of shrimp pathogens in the Americas Journal of Invertebrate Pathology, 110(2), 174–83

Lightner, D.V., Hasson, K.W., White, B.L., Redman, R.M (1996) Chronic toxicityand histopathological studies with Benlate,

a commercial grade of benomyl, in

Penaeusvannamei (Crustacea: Decapoda)

Aquat Toxicol 34, 105–118.

Loizzi, R F (1971) Interpretation of crayfish hepatopancreatic function based on fine structural analysis of epithelial cell lines and muscle network Zeitschrift fuer Zellforschung und mikroscopische Anatomic 113: 420-440 Mooney, A (2012) An emerging shrimp disease

in Vietnam, microsporidiosis or liver disease?

Available at: http:// aquatichealth.net/ issues/38607 (accessed 24 Feb 2012).

NACA (2012) Final Report Asia Pacific Emergency regional Consultation on the Emerging Shrimp Disease: Early Mortality Syndrome (EMS)/ Acute Hepatopancreatic Necrosis syndrome (AHPNS) Network of Aquaculture Centres in Asia-Pacific.

Nunan L., Lightner D., Pantoja C & Jimenez S (2014) Detection of acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) in Mexico Dis Aquat Org., 111, 81–86.

Gomez-Oonmetta-aree, J., Suzuki, T., Gasaluck, P.,

Trang 40

& Eumkeb., G (2006) Antimicrobial and

action of galangal (Alpinia galanga Linn.)

on Staphylococus aureus Food Science and

Technology., 39, 959-965

Pandey, G., Sharma, M., and Mandloi, A K

(2012) Medicinal plants useful in fish diseases

Plant Archives, 2(1), 1-4.

Stephen C E (1977) ‘‘Methods for Calculating

an LC50’’ Aquatic Toxicology and Hazard

Evaluation, ASTM STP 634, American Society

of Testing and Materials, Philadelphia, pp 65–

84.

Sun H., Fang WS., Wang W.Z., and Hu C (2006)

Structure activity relationships of oleanane and

ursane type triterpenoids Botanical Studies 47:

339-368.

Syahidah, A (2014) Status and potential of herbal

applications in aquaculture Iranian Journal of

Fisheries Sciences, 14, 27-44.

Thitamadee S, Prachumwat A, Srisala J, Jaroenlak

P, Salachan PV, Sritunyalucksana K (2016)

Review of current disease threats for cultivated

Penaeid shrimp in Asia Aquaculture.; 452: 69–

87 doi: 10.1016/j.aquaculture.2015.10.028.

Tran, L., Nunan, L., Redman, R.M., Mohney, L.L.,

Pantoja, C.R., Fitzsimmons, K., Lightner, D.V

(2013) Determination of the infectious nature

of the agent of acute hepatopancreatic necrosis

syndrome affecting Penaeid shrimp Dis Aquat

Org 105:45−55

Vogt G (1993) Differentiation of B-cells in the

hepatopancreas of the prawn Penaeusmonodon

Acta Zool 74: 51-60.

Vuddhakul, V., Bhoopong, P., Hayeebilan, F., & Subhadhirasakul, S (2007) Inhibitory activity

of Thai condiments on pandemic strain of

Vibrio parahaemolyticus Food Microbiology.,

24, 413-418 http://dx.doi.org/10.1016/j fm.2006.04.010

Wu J.P.,Chen H.H., Huang D.J (2008) Histopathological and biochemical evidence

of hepatopancreatic toxicity caused by cadmium and zinc in the white shrimp,

Litopenaeusvannamei Chemosphere 73 1019–

1026.

Yang Y T., Chen I T., Lee C T., et al (2014) Draft

genome sequences of four strains of Vibrio

parahaemolyticus, three of which cause early

mortality syndrome/acute hepatopancreatic necrosis disease in shrimp in China and Thailand Genome Announc; 2:e00816–14 Yin, G., L Ardo, Z Jeney, P Xu and G Jeney (2008) Chineseherbs (Lonicera japonica and Ganoderma lucidum) enhance nonspecific immune

response of tilapia, Oreochromisniloticus and protection against Aeromonashydrophila In:

Diseases in Asian Aquaculture VI, FishHealth Section (Bondad-Reantaso, M.G., Mohan, C.V.,CrumLish, M and Subasinghe, R P eds.) Asian FisheriesSociety, Manila, Philippines, 269-282.

Ngày đăng: 18/05/2021, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm