Triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ phản ánh quan điểm, quan niệm sống, phản ánh tình cảm keo sơn, nặng tình, nặng nghĩa của những con người đã chung lưng đấu cật biến vùng đất hoang
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS TS VŨ TÌNH
TP HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Tình Các dẫn chứng trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khoa học, khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2010
Người cam đoan
TRẦN THỊ THÙY TRANG
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO NAM BỘ 7
1.1 Khái niệm “triết lý nhân sinh” 7
1.1.1 Khái niệm “triết lý” 7
1.1.2 Khái niệm “nhân sinh quan” .11
1.2 Khái niệm “ca dao”, mối quan hệ giữa ca dao với dân ca 15
1.2.1 Khái niệm ca dao 15
1.2.2 Mối quan hệ giữa ca dao với dân ca 17
1.3 Những điều kiện hình thành triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ 19
1.3.1 Điều kiện tự nhiên hình thành triết lý nhân sinh 19
1.3.2 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành triết lý nhân sinh 24
1.3.3 Điều kiện văn hóa hình thành triết lý nhân sinh 28
Chương 2 NỘI DUNG CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO NAM BỘ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VÙNG NAM BỘ 33
2.1 Nội dung của triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ 33
2.1.1 Đạo làm người trong ca dao Nam Bộ 33
2.1.2 Cách thức ứng xử với tự nhiên và xã hội trong ca dao Nam Bộ 53
2.2 Ảnh hưởng của triết lý nhân sinh trong ca dao đối với con người vùng Nam Bộ 62
2.2.1 Ảnh hưởng đối với đời sống tinh thần của con người vùng Nam Bộ 62
2.2.2 Ảnh hưởng đối với cách ứng xử của con người vùng Nam Bộ 66
Trang 52.3 Ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ trong giai
đoạn hiện nay 69
2.3.1 Nâng cao nhận thức về đời sống xã hội 69
2.3.2 Góp phần giáo dục đạo đức cho con người 71
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng, được phổ biến rộng rãi và có sức sống lâu bền Nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã đến với ca dao, phát hiện những cái hay, cái đẹp, những giá trị thể hiện đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc ẩn chứa trong lớp ngôn từ giản dị mà súc tích của ca dao
Cùng với ca dao là tục ngữ và một số thể loại khác thuộc dòng văn học dân gian Tất cả đều ra đời và phát triển trong lao động và chiến đấu của cuộc sống cộng đồng Song, nếu tục ngữ là những nhận định từ tổng kết kinh nghiệm của nhiều thế hệ, là kết quả hoạt động nặng về lý trí thì ca dao lại nặng về tình cảm Ca dao được coi là khuôn thước của thơ trữ tình, nó phản ánh cảm xúc của người lao động đối với nhau, đối với thiên nhiên, đối với xóm làng, quê hương, đất nước,v.v
“Có thể nói, muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam dồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả về những khía cạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao.” [93, 54] Cùng với việc biểu hiện đời sống tình cảm, ca dao còn phản ánh các sự kiện khác của đời sống xã hội và thái độ của nhân dân lao động trước những sự kiện đó
Tất cả những nội dung mà ca dao đề cập đến bộc lộ cả tình cảm lẫn quan điểm, quan niệm; cả năng lực nhận thức và phẩm chất của người lao động
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo Nhưng, quần chúng không phải chỉ
Trang 7sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là những người sáng tác nữa… Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không “trường thiên đại hải”, dây cà ra dây muống Các cán bộ văn hóa cần phải giúp những sáng tác của quần chúng Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý…” [69, 250] Nam Bộ là vùng đất mới được khai phá vào thế kỷ thứ XVII Đây là nơi đến của nhiều dân tộc khác nhau với những phong tục, tập quán, tín ngưỡng khác nhau, nhưng quá trình khai thác đất hoang, rừng hoang đã gắn kết họ thành một khối để cùng chiến đấu, cùng sản xuất, cùng tồn tại và phát triển
Ca dao Nam Bộ ra đời trong bối cảnh ấy Triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ phản ánh quan điểm, quan niệm sống, phản ánh tình cảm keo sơn, nặng tình, nặng nghĩa của những con người đã chung lưng đấu cật biến vùng đất hoang vu thành vựa lúa của cả nước bằng sức lực, mồ hôi và xương máu của mình
Thế nhưng cùng với những biến đổi của lịch sử thì những quan điểm, quan niệm ấy có sự biến đổi; và khi nước ta thực hiện mở cửa, toàn cầu hóa trở thành xu thế tất yếu thì những giá trị văn hóa truyền thống của người Nam
Bộ nói chung, quan điểm, quan niệm, tình cảm của người Nam Bộ nói riêng đang đứng trước những thách thức mới
Tìm tòi, bảo vệ, lưu truyền những giá trị trong cuộc sống của người Nam Bộ trở thành một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài trong quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
Trang 8Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao thông qua việc nghiên cứu
về văn học dân gian
Theo hướng giá trị lịch sử, trước hết phải kể đến: Lịch sử và văn học dân gian của Đặng Văn Lung (Nxb Văn học, Hà Nội, 2004); Lịch sử văn học dân gian Việt Nam của Bùi Văn Nguyên (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1978); Lịch sử văn học Việt Nam – văn học dân gian – văn học viết của Bùi Văn Nguyên
(Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1961); Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt
Nam của Cao Huy Đỉnh (Nxb Văn học, Hà Nội, 1999) v.v
Những tác phẩm này đã chỉ ra một số đặc trưng của văn học dân gian; đánh giá việc sưu tầm, nghiên cứu các thể loại: ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, thần thoại v.v qua các thời kỳ; đồng thời khái quát lịch sử văn học dân gian Việt Nam trong đó có ca dao, tục ngữ
Theo hướng nội dung, tư tưởng, các tác phẩm thể hiện đa dạng và phong
phú hơn Theo hướng này có những tác phẩm tiêu biểu như: Văn học dân gian
Việt Nam của Đỗ Bình Trị (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1991); Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (Nxb
Thanh Niên, Tp Hồ Chí Minh, 1998); Tư tưởng Việt Nam – tư tưởng triết học
bình dân của Nguyễn Đăng Thục (Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1963), Kho tàng ca dao tục ngữ người Việt của Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật
(Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1995); Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978); Tổng tập văn học
dân gian người Việt của Nguyễn Xuân Kính (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2002); Văn học dân gian – những công trình nghiên cứu do Bùi Mạnh Nhị chủ biên (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999); Văn học dân gian Việt Nam do Lê
Chí Quế chủ biên (Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2001) v.v
Trang 9Những tác phẩm này không chỉ làm rõ ca dao với tư cách là một thể loại văn học dân gian mà còn làm rõ nội dung và những giá trị mà ca dao đã đem lại cho cuộc sống con người
Theo hướng chủ đề văn học dân gian địa phương có các tác phẩm: Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ của Nguyễn Văn Hầu (Nxb Trẻ, Thành phố
Hồ Chí Minh, 2004); Văn học dân gian đồng bằng Sông Cửu Long của Khoa ngữ văn – Đại học Cần Thơ (Nxb Đồng Tháp, Đồng Tháp, 1988); Phương
ngữ Nam Bộ của Trần Thị Ngọc Lang (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995);
Ca dao dân ca Nam Bộ của Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị
(Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1984); Văn học dân gian Tiền Giang do Sở
Văn hóa thông tin Tiền Giang sưu tầm và biên soạn( Xí nghiệp in Tiền
Giang, 1983); Văn học dân gian Bến Tre của Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bạch Liên (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1988); Ca dao dân ca Nam
Kỳ lục tỉnh của Huỳnh Ngọc Trảng (Nxb Đồng Nai, Đồng Nai, 1998), v.v
Các tác phẩm này chủ yếu giới thiệu ca dao, tục ngữ của các địa phương đồng bằng Nam Bộ và rút ra những đặc trưng riêng biệt, cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện của chúng
Ngoài ra có một số công trình mang tính chuyên khảo như: Triết lý dân
gian về hạnh phúc trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam của Lê Huy
Thực (Tạp chí Triết học, số 2, 2004) và Tiêu chí kiểm định đạo đức con
người qua tục ngữ, thơ ca dân gian (Tạp chí Triết học, số 9, 2005); Những nét độc đáo trong tư duy người Việt qua văn học dân gian của Đỗ Lan
Trang 10song chưa có công trình nào đề cập đến “triết lý nhân sinh trong ca dao Nam
Bộ” Trên cơ sở kế thừa thành quả của những người đi trước, tác giả chọn vấn
đề trên (triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ) làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là: Làm rõ nội dung triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ và rút ra một số ý nghĩa của nó trong giai đoạn hiện nay
Để đạt mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Trình bày những cơ sở tự nhiên, lịch sử - xã hội, văn hóa dẫn đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ
- Làm rõ nội dung triết lý nhân sinh được thể hiện trong ca dao Nam Bộ,
và những ảnh hưởng của nó đối với con người vùng đất Nam Bộ
- Nêu lên một số ý nghĩa của việc tìm hiểu triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện bằng phương pháp chung nhất là phương pháp biện chứng duy vật và sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp hệ thống và cấu trúc, v.v
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nam Bộ là vùng đất rộng lớn, nên sau khi tìm hiểu cơ sở hình thành triết
lý nhân sinh của vùng đất này, tác giả chỉ tập trung khảo sát ca dao của một số tỉnh tiêu biểu là Tiền Giang, Long An và Bến Tre
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ triết lý nhân sinh của người Nam Bộ, góp phần làm phong phú thêm tri thức về đời sống tinh thần của người dân vùng đất này
Trang 11Luận văn còn có thề dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm
hiểu về triết lý nhân sinh nói riêng, về đời sống của người Nam Bộ nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương và sáu tiết
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG CA DAO NAM BỘ 1.1 KHÁI NIỆM “TRIẾT LÝ NHÂN SINH”
“Triết lý nhân sinh” là nhân sinh quan được thể hiện dưới dạng triết lý
Để làm sáng tỏ khái niệm này, trước hết phải xác định nội dung của khái niệm
“triết lý” và nội dung của khái niệm “nhân sinh quan”
1.1.1 Khái niệm “triết lý”
Trước khi đưa ra cách nhìn tổng quát về khái niệm triết lý chúng ta cần
điểm qua một số từ điển trong và ngoài nước về khái niệm này
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông thì triết lý có hai nghĩa: 1/ lý luận về
triết học; 2/ quan niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội [94, 461]
Theo Từ điển Hán ngữ hiện đại của Viện ngôn ngữ học Trung Quốc:
Triết lý là nguyên lý về vũ trụ và nhân sinh [80, 19]
Theo Từ điển di sản Mỹ của Tiếng Anh thì một từ Philosophy mang
nhiều nghĩa: 1/ yêu thích và theo đuổi nhằm đạt đến sự khôn ngoan bằng những phương tiện tri thức và các qui tắc luân lý; 2/ sự khám phá để hiểu biết thiên nhiên, tri thức, nguyên nhân của sự việc, các nguyên tắc của chân lý; 3/
hệ thống quan niệm có được do sự nghiên cứu về nhận thức đem lại; 4/ các nguyên tắc về logich học, đạo đức học, thẩm mỹ học, siêu hình học; 5/ tập hợp các quan điểm hoặc lòng tin trong một lĩnh vực nhất định nào đó [80, 20] Nếu tìm hiểu khái niệm “ triết lý” theo quan điểm của các nhà tư tưởng thời cổ đại thì:
Ở phương Tây, khái niệm triết lý và triết học đều được dùng là
“Phylosophia” Trong tác phẩm Metaphysique, Aristotes viết: “Triết lý là kiến
thức suy lý về những nguyên lý và những nguyên do đầu tiên” [64, 198] Triết
Trang 13lý, theo quan niệm của Aristotes là tri thức của con người có khả năng suy lý Người phương Tây khi nói đến triết lý và triết học đều dùng từ
“Phylosophia”, nhưng khi bàn đến các vấn đề liên quan đến đời sống xã hội thì khái niệm này có thể hiểu là triết lý
Ở phương Đông, triết lý được ẩn chứa trong các học thuyết của các nhà
hiền triết Trong tác phẩm Đạo đức kinh, Lão Tử có viết: “ vạn vật cõng âm
dương” “ đạo sinh ra nó (trời đất vạn vật), đức nuôi nó, vật nặn hình cho nó, thế cho nó được trọn vẹn” “khuyết tất tròn, cong tất ngay, vơi lại đầy, cũ lại mới, ít thì được, nhiều thì hóa mê” [80, 24] Từ những luận điểm mộc mạc,
nhưng không kém phần sâu sắc về sự tồn tại và vận động của thế giới, Lão Tử
đã đề xuất triết lý vô vi Vô vi không phải hoàn toàn không làm gì mà là phải hành động thuận theo lẽ tự nhiên, tức phù hợp với phép của Đạo
Phạm Trọng Yêm - nhà tư tưởng Trung Quốc thời Bắc Tống, đã nêu:
“Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” [80, 25] Mệnh đề
có ý nghĩa triết lý là đề cao nỗi lo trước thiên hạ và niềm vui sau thiên hạ của những người có trách nhiệm cai quản việc nước, việc dân
Bàn về khái niệm triết lý, hiện nay các nhà nghiên cứu ở nước ta cho rằng, tuy ở phương Tây không có sự phân biệt giữa triết lý và triết học, nhưng trong tiếng Việt lại quan niệm đó là những khái niệm khác nhau, dùng để biểu đạt và phản ánh những đối tượng khác nhau
Các tác giả sách “Triết lý phát triển ở Việt Nam - Mấy vấn đề cốt yếu”
nêu định nghĩa: “Triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất
về cuộc sống cũng như về hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy” [80, 31]
Trang 14Các tác giả sách “Triết lý phát triển C.Mác, Ph.Ăng ghen, V.I.Lênin và
Hồ Chí Minh” có quan điểm: “Triết lý có thể thể hiện bằng một mệnh đề
hàm súc những ý nghĩa về nhân tình thế thái; về tự nhiên, về xã hội; nó cũng có thể là một hệ mệnh đề tạo thành một quan niệm, một luận thuyết Triết lý đúng và khoa học thì nó trở thành cơ sở lý luận khoa học cho một
hệ thống quan điểm, học thuyết; nó làm công cụ lý thuyết cho hành động hiệu quả của con người” [49, 9]
Theo Giáo sư Vũ Khiêu thì: “Triết lý là triết học khiêm tốn nói về mình, triết lý không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà thể hiện ý nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người” [56, 3]
Theo Giáo sư Hoàng Trinh:“ Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày” [118, 8]
Giáo sư Trần Văn Giàu thì cho rằng: “Triết lý chủ yếu hướng về đạo lý, hướng về đạo lý chứ không phải là đạo lý Nó chủ yếu đặt vấn đề tốt hay xấu, nên hay chăng, chứ không đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải Hai loại vấn đề ấy tuy có quan hệ với nhau nhưng có khác nhau” [39, 6]
Trong những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng quan điểm của Giáo
sư Hoàng Trinh là có sức thuyết phục hơn cả Quan điểm này vừa thể hiện được bản chất của triết lý với tư cách là những nguyên lý đầu tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người; vừa thể hiện được chức năng của triết lý là phương châm cho xử thế trong cuộc sống
Triết lý không phải là triết học nhưng triết lý có quan hệ mật thiết với triết học Từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một học thuyết triết học
Trang 15nhất định, người ta có thể rút ra triết lý về cách ứng xử, phương châm sống và hành động
Tuy nhiên, không phải mọi triết lý đều được rút ra từ những học thuyết triết học, mà trước hết triết lý được tổng kết, đúc kết từ thực tiễn, từ những mối quan hệ trong đời sống và được xem như nguyên tắc xử thế, phương châm sống của con người Những mệnh đề, tư tưởng có ý nghĩa triết lý ấy có thể tìm thấy trong kho tàng tri thức bác học, và cả kho tàng văn hóa dân gian của các quốc gia khác nhau trên thế giới
Qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã từng rút ra nhiều triết lý ứng xử trong quan hệ gia đình, triết lý về lối sống, nếp sống, giá trị, v.v Trong lịch sử tư tưởng của dân tộc cũng có nhiều tư tưởng lớn mang tính triết lý bắt nguồn từ việc tổng kết kinh nghiệm, đạt tới những vấn đề có
liên quan đến quốc kế dân sinh như : tư tưởng của Lý Thường kiệt (Nam quốc
sơn hà, Nam đế cư), Trần Hưng Đạo ( Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc sâu rễ), Nguyễn Trãi (Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân để thay cường bạo), Quang Trung (Xây dựng đất nước lấy việc dạy học làm đầu, tìm
lẽ trị bình lấy tuyển nhân tài làm gốc), Lê Quý Đôn (Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng), v.v
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh - nhà lãnh đạo cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam - ta có thể tìm thấy nhiều triết lý sâu sắc, những vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của dân, của nước:
“Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa xã hội chỉ
còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” [67, 28]
“Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập
cũng chẳng có nghĩa lý gì” [68, 56]
“Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ” [68, 480]
Trang 16“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công” [70, 607]
“Mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng Ta phải biết làm sao
cho phần tốt ở trong mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân để phần xấu mất dần đi” [71, 558]
Những tư tưởng trên của Hồ Chí Minh hàm chứa cả niềm tin vững chắc, giá trị nhân văn và đạo lý cao cả về sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng
xã hội, giải phóng con người ở nước ta trong thời đại ngày nay
Như vậy, với tư cách là “những nguyên lý đầu tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày”, triết lý có thể là kết quả của sự suy lý, song trước hết và cơ bản nó là kết quả của sự tổng kết, đúc kết kinh nghiệm sống của con người Chúng có vai trò định hướng trực tiếp đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn của con người
1.1.2 Khái niệm “nhân sinh quan”
Trong quá trình phát triển, con người luôn đi tìm câu giải đáp cho vấn đề
ý nghĩa, mục đích của cuộc sống Cho dù phương Đông hay phương Tây có khác nhau trong việc tiếp cận vấn đề con người và cuộc sống của con người, nhưng nhìn chung các triết gia đều quan tâm đến vấn đề này
Ở phương Tây, tuy khuynh hướng của tư duy là “hướng ngoại” nhưng những nhà triết học đã dành phần đáng kể trong học thuyết của mình để bàn
về vấn đề này Sorate đã từng nói “có một điều vô cùng quý giá hơn những cây cỏ sông núi, trăng sao, đó là con người Con người là gì và con người sẽ
đi đến đâu” [135, 16] Quan tâm con người, Socrate đã hướng đến việc giáo dục cho con người sống có đạo đức
Trang 17Aristote quan tâm đến con người sống như thế nào và thế nào là cuộc sống hạnh phúc? Aristote cho rằng con người thường theo đuổi cái hay, cái tốt, cái đẹp, thế nhưng mục đích cuối cùng của con người vẫn là để sống hạnh phúc Theo Aristote: Hạnh phúc là hoàn thành bổn phận và thực hiện những
đức tính tốt Vì vậy ông đề cao nguyên tắc trung dung: “ … thất bại có thể có
nhiều cách, ngược lại thành công chỉ có một cách Cũng vì những lý do đại thể như vậy nên cái quá mức cũng như cái chưa tới đều là đặc điểm của cái xấu Còn trung dung lại là đặc điểm của cái thiện” [65, 95]
Ở phương Đông, quan điểm về cuộc sống và đạo làm người được các nhà tư tưởng đặc biệt quan tâm
Khổng Tử cho rằng nguyên tắc tối cao của đời sống là đức nhân, tức là
“yêu mến con người” Vì vậy ông cho rằng “ điều gì mình không muốn thì
đừng làm điều đó cho người khác” Mặc Tử cũng nói về nhân, nhưng theo
ông ý nghĩa thực tế của nhân là “kiêm ái”, từ đó ông đề xướng quan niệm yêu mến lẫn nhau, làm lợi cho nhau “kiêm tương ái, giao tương lợi”.[132, 54] Quan niệm nhân sinh của Phật giáo được khởi đầu từ bản thân con người Phật giáo nêu lên quan niệm sống “từ bi, bác ái”, yêu thương, thông cảm với con người Đức Phật dạy rằng “Ai cũng sợ gươm đao, ai cũng sợ sự chết, vậy nên lấy lòng mình suy ra lòng người, chớ giết, chớ bảo giết”.[113, 301] Quan niệm nhân sinh của Phật giáo đã thể hiện tính nhân bản và lòng khoan dung sâu sắc đối với con người
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Trần Nhân Tông cho rằng:
“Sống mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng thẹn của kẻ trượng phu Gió tuyết trước đầu ngựa, người lại trở về
Non sông đầy trong đáy mắt, hãy dừng ngựa lại chốc lát” [133, 477]
Trang 18Tư tưởng làm trai quyết trả nợ nước, để lại gì cho núi sông, phải giúp ích
gì cho đời mà Trần Nhân Tông đề cập đến cho thấy quan niệm sống của ông
là tư tưởng lo cho dân, cho nước
Trong tư tưởng của Nguyễn Trãi đã đề cập quan niệm “kẻ nhân giả lấy yếu chế mạnh, kẻ nghĩa giả lấy ít địch nhiều”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân làm thay đổi cường bạo” [131, 79] Nhân sinh quan của Nguyễn
Trãi đề cao nhân nghĩa lên hàng đầu, nhân trong tư tưởng của ông là yêu nước, nhân đạo và nghĩa là việc nên làm Nhân nghĩa trong tư tưởng của ông
là việc nên làm, là chuẩn mực của ứng xử
Tuy không nêu khái niệm nhân sinh quan một cách cụ thể, nhưng qua
luận điểm của các nhà tư tưởng phương Đông và phương Tây, chúng ta có thể nhận thấy họ đã nêu lên quan niệm sống của mình trong một giai đoạn lịch sử nhất định Những quan niệm ấy đã làm nền tảng cho con người biết cách ứng
xử trong cuộc sống
Từ những luận điểm trên có thể thấy nhân sinh quan là quan niệm sống của con người trong xã hội
Ngày nay, bàn về “nhân sinh quan” cũng có nhiều quan điểm khác nhau
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Nhân sinh quan gồm những quan niệm
về cuộc sống của con người: lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng”
[135, 589] Theo từ điển Thuật ngữ đạo đức - giáo dục công dân: “Nhân sinh
quan là hệ thống quan điểm, tư tưởng của các giai cấp khác nhau về mục đích và
ý nghĩa cuộc sống của con người trong xã hội” [59, 158] Theo Đại từ điển tiếng
Việt nhân sinh quan “là quan niệm về cuộc đời, thành hệ thống bao gồm lý
tưởng, lẽ sống” [136, 764] Theo Từ điển Wikipedia thì “ nhân sinh quan là
cách nhìn nhận đời sống, công tác, xã hội, lịch sử, dựa theo lợi ích của giai cấp mình.” [138]
Trang 19Theo Hồ Sĩ Quý thì nhân sinh quan “Là quan điểm sống, quan niệm
sống, hệ thống các giá trị người và các giá trị xã hội có ý nghĩa định hướng hành vi, tức là những quan niệm gắn liền với cách sống, lối sống với hành
vi và phẩm chất của hành vi với việc xác định ý nghĩa của cuộc sống và ý nghĩa của sự làm người” [101, 8]
Cho dù cách định nghĩa của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau về văn phong, về độ dài, ngắn; song, khi nói đến nhân sinh quan, tất cả đều đề cập đến các quan điểm, quan niệm về cuộc sống giữ vai trò định hướng cho hoạt động của con người
Khi trình độ con người còn thấp, những quan điểm, quan niệm này thể hiện rời rạc, tản mạn; nhưng khi con người đã đạt đến trình độ khái quát hóa thì những quan điểm, quan niệm này có thể thể hiện dưới dạng lý luận, bộc lộ
cả những nhận định, bình xét, đánh giá và đặc biệt là xác định hệ thống các giá trị định hướng cho hoạt động của con người
Những vấn đề thuộc mục đích, ý nghĩa của cuộc đời thể hiện khát vọng, tình cảm, ý chí, v.v gắn liền với các quan hệ, thể hiện lối sống, nếp sống của con người luôn là những vấn đề quan trọng hàng đầu của nhân sinh quan Như vậy, có thể hiểu: nhân sinh quan là các quan điểm, quan niệm đóng vai trò chỉ đạo cách ứng xử, suy nghĩ và hành động của con người trong các quan hệ
Từ những vấn đề về “triết lý” và “nhân sinh quan”, có thể hiểu:
Triết lý nhân sinh là những quan điểm, quan niệm cơ bản, đóng vai trò nền tảng chỉ đạo cách ứng xử, suy nghĩ và hành động của con người trong quan hệ với bản thân, với tự nhiên, và với cộng đồng xã hội
1.2 KHÁI NIỆM CA DAO, MỐI QUAN HỆ GIỮA CA DAO VỚI DÂN CA
Trang 20Ca dao, dân ca đều là các thể loại của văn học dân gian, nhưng các khái niệm này được các nhà nghiên cứu định nghĩa khác nhau
1.2.1 Khái niệm ca dao
Bàn về “ca dao”, Minh Hiệu cho rằng: “… ở nước ta, thuật ngữ ca dao vốn là một từ Hán – Việt được dùng rất muộn – có thể muộn đến hàng ngàn năm, so với thời gian đã có những câu ví, câu hát” [82, 7] Cao Huy Đỉnh cũng có nhận định tương tự khi ông cho rằng dân ca và văn vần truyền miệng
có thể ra đời ở thời đại đồ đồng [28, 81]
Điều mà Minh Hiệu và Cao Huy Đỉnh đề cập có chứng tích lịch sử xác nhận Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam” tập 1, tr.104 có ghi rằng: Đời Tần ở Trung Quốc trong cuốn “Giao Châu Kí”, Lưu Hán Kì đã nói đến chuyện ở nông thôn Giao Châu thời ấy trẻ mục đồng cưỡi trâu, thổi sáo và hát các bài đồng dao của người Việt
Trong “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Vũ Ngọc Phan cũng kết luận: “ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt” Vũ Ngọc Phan cũng đã dẫn
phần chú thích của Đinh Gia Khánh: “ trong Kinh Thi, phần Ngụy Phong bài
Viên hữu đào có câu: Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao (lòng ta buồn, ta ca và
Tuy được vay mượn nhưng thuật ngữ ca dao đã nhanh chóng phổ cập và được hiểu là “câu hát dân gian không có điệu có khúc nhất định” [91, 34] hoặc “ca dao là phần lời thơ của của các bài dân ca, do xu hướng của những người sưu tầm thời xưa là chỉ ghi chép những câu, những bài hay nhất, giàu ý
Trang 21nghĩa nhất về phong tục, đạo đức, triết lý,…” [19, 42] hay “ca dao là thể thơ dân gian được lưu truyền dưới dạng câu hát” [136, 37]
Theo nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh thì: “…ngày xưa phần lớn ca dao làm ra để hát Rồi từ những bài hát lại có những câu được tách ra thành ca dao” [28, 38] Hai nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên và Đinh Gia Khánh cũng tán thành cách lý giải này và các ông còn cho rằng: “ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu, tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú” [18, 30] Lê chí Quế cũng có ý kiến không khác so với những nhà nghiên cứu trên, khi cho rằng: “ Ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc, để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” [99, 76] Nguyễn Thị Ngọc Điệp cũng đồng tình khi nêu ra: “Ca dao chỉ phần lời thơ của các bài dân ca (những phần lời có kết cấu bền vững, ổn định, có tính chất trữ tình, đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi, v.v.) và những bài thơ truyền miệng được sáng tác theo phong cách thơ trữ tình dân gian truyền thống” [27, 8]
Theo Tiến sĩ Trần Thúy Anh thì ca dao có ba cách hiểu:
Thứ nhất, ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu
Thứ hai, ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân
ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)
Thứ ba, ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ để chỉ một thể thơ dân gian [3, 33]
Quan điểm về ca dao của các nhà nghiên cứu tuy có sự khác nhau nhất định nhưng nhìn chung đều cho rằng:
Trang 221 Ca dao là những bài văn vần được lưu hành trong dân gian, chủ yếu dưới hình thức truyền miệng
2 Ca dao không có những quy định chặt chẽ về kết cấu và âm điệu, song
ca dao mang đậm tính trữ tình
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan - nguyên Tổng thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam - nhận định: “có thể nói, muốn biết tình cảm của nhân dân Việt Nam dồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động hơn
cả về những khía cạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao Việt Nam” [ 93, 54]
3 Nội dung của ca dao phản ánh tính đa dạng của cuộc sống, song trước hết phản ánh tình cảm của người lao động Tình cảm ấy là tình yêu đôi lứa, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu lao động, yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu cuộc sống thanh bình, v.v Cũng từ những tình yêu này, ca dao bộc lộ tư tưởng đấu tranh của người lao động chống lại những bất công trong xã hội Nội dung của ca dao không chỉ phản ánh tình cảm, quan điểm, quan niệm của người lao động mà còn phản ánh cả phẩm chất của họ trong cuộc đấu tranh vì cuộc sống chân - thiện - mỹ
Như vậy, có thể hiểu: Ca dao là những bài văn vần trữ tình được lưu
truyền dưới dạng câu hát trong dân gian, phản ánh đời sống xã hội nói chung, đời sống tinh thần của xã hội nói riêng
1.2.2 Mối quan hệ giữa ca dao với dân ca
Muốn biết giữa ca dao và dân ca có quan hệ như thế nào chúng ta hãy lần theo lịch sử nghiên cứu về ca dao, dân ca để tìm ra lời giải đáp về vấn đề này
Theo Từ điển văn học thì “ ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài
hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu” [19, 31],
“dân ca là một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ, kết hợp với nhau trong diễn xướng” [19, 105]
Trang 23Nguyễn Thị Ngọc Điệp cũng phân biệt hai thuật ngữ này : “dân ca được dùng chỉ toàn bộ các hình thức ca hát dân gian” “ca dao chỉ phần lời thơ của các bài dân ca” [ 27, 7]
Theo các tác giả của Ca dao Việt Nam trước cách mạng, định nghĩa: “ca
là câu thành khúc điệu; dao là câu không thành khúc điệu; dân ca là bài hát có nhạc điệu nhất định… hầu hết dân ca là ca dao có khúc điệu, có tiếng đệm, tiếng lót” [131, 87] Phạm Văn Diêu thì cho rằng “ca dao là hình thức diễn xuất tự nhiên nhất, và là tiếng thơ bình dân được hát lên” [21, 69]
Trong công trình nghiên cứu Tục ngữ - ca dao - dân ca Việt Nam, Vũ
Ngọc Phan luôn gắn liền ca dao với dân ca: “Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta đã tước bỏ đi những tiếng đệm, những tiếng láy ở một bài dân ca thì chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao Do đó,
có thể nói giữa ca dao và dân ca ranh giới không rõ ràng” [93, 41] , “ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca” [93, 42] Cao Huy Đỉnh trong những công trình nghiên cứu dân ca của mình đã làm sáng tỏ thêm nhận định đó “Ngày xưa phần lớn ca dao trữ tình làm ra để hát Rồi từ những bài hát lại có những câu được tách ra thành ca dao Ca dao sinh ra, còn lại, truyền đi và biến đổi chủ yếu là thông qua sinh hoạt dân ca Chính vì vậy mà trên phần lớn ca dao trữ tình còn in rất rõ khuôn dấu của dân ca” [28, 44] Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên tán thành cách giải thích trên: “Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời bài dân ca đã tước bỏ đi tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca” [18, 304] Chu Xuân Diên
có một cách tiếp cận khác khi ông cho rằng: “ca dao dân ca là tên gọi chung các thể loại trữ tình dân gian kết hợp lời thơ và giai điệu nhạc, nội dung miêu
tả những tâm trạng, những tư tưởng, tình cảm của con người Phần lớn lời thơ của dân ca được gọi là ca dao” [18, 305] Tương tự, Đỗ Bình Trị nêu định
Trang 24nghĩa “ ca dao dân ca là tên gọi chung các thể loại trữ tình dân gian Trong diễn xướng đó là những bài ca, là thơ được hát lên theo những giai điệu nhạc nhất định” [116, 86]
Dù định nghĩa của các nhà nghiên cứu về ca dao và dân ca có tách riêng hay gộp chung ca dao dân ca lại với nhau, song chúng ta vẫn thấy toát lên từ các ý kiến nêu trên sự quan tâm đến mối quan hệ giữa ca dao và dân ca
Như vậy theo nhận định của các nhà nghiên cứu thì giữa ca dao và dân ca không có ranh giới Ca dao có thể ngâm không cần tiếng đệm như ngâm thơ, cũng có thể hát có khúc điệu, có tiếng đệm và khi ấy ca dao sẽ biến thành dân ca
Về nội dung thì dân ca cũng như ca dao đều trữ tình Phản ánh một cách
đa dạng những tình cảm phong phú của thế giới nội tâm con người Đó là những tâm tư tình cảm trong những phạm vi khác nhau: gia đình, xã hội, lao động, sinh hoạt, v.v Nhiều bài ca dao vẫn giữ nguyên nội dung, khi xây dựng thành dân ca người ta chỉ thêm vào những tiếng đệm, tiếng đưa hơi, tiếng láy
và điệp khúc
1.3 NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO NAM BỘ
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ăng - ghen nhận định: “Sự
sản xuất ra những ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là có gắn liền trực tiếp và mật thiết với hoạt động vật chất và sự giao tiếp vật chất của con người, nó là ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực ” [7, 37 - 38]
Văn học dân gian Nam Bộ nói chung, ca dao Nam Bộ nói riêng ra đời và phát triển trước hết gắn liền với điều kiện tự nhiên mà người Nam Bộ đã sống, quá trình lịch sử - xã hội mà người Nam Bộ đã trải qua, và môi trường
văn hóa mà người Nam Bộ đã tạo dựng nên
Trang 251.3.1 Điều kiện tự nhiên hình thành triết lý nhân sinh
Nam Bộ là vùng đất mới, bao gồm địa bàn rộng lớn ở cả vùng trên, vùng dưới lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long Do đặc điểm cấu tạo tự nhiên, Nam Bộ được chia làm hai miền: miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ
Miền Đông Nam Bộ có diện tích vào loại nhỏ so với các vùng khác (23.554 km2 , bằng 7,1% diện tích cả nước) Đông Nam Bộ gồm có các tỉnh: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, và đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo Đông Nam Bộ được tạo bởi lưu vực sông Đồng Nai Từ lâu con người ở đây đã học cách sống chan hòa với thiên nhiên, khai thác những nguồn tài nguyên dồi dào, nương tựa vào nhau chống lại những thử thách của tự nhiên Nằm trong miền khí hậu phía Nam, Đông Nam Bộ mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với mùa mưa và mùa khô rõ rệt Khí hậu Đông Nam Bộ nhìn chung tương đối điều hòa, ít có thiên tai, không bị thời tiết quá lạnh hay nóng gay gắt, ảnh hưởng của bão hạn chế Khí hậu với những ngày nắng kéo dài thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi, đặc biệt thích hợp cho cây công nghiệp
Nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa các vùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ vừa có đặc điểm của địa hình miền núi, trung du, vừa có đặc điểm của địa hình đồng bằng và ven biển với độ dốc thấp dần từ bắc xuống nam, từ tây sang đông Các dạng địa hình chính của vùng như: Địa hình đồi núi chiếm 10%, phân bố chủ yếu ở phía bắc và tây bắc thuộc các tỉnh Tây Ninh và Bình Phước; Địa hình đồi
gò lượn sóng chiếm 14% phân bố chủ yếu ở các tỉnh Đồng Nai và Bình Phước; Địa hình đồi thoải và đồng bằng chiếm 76%, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra
Trang 26Đông Nam Bộ còn một dạng địa hình “đầm lầy ngập mặn”, chiếm một tỉ lệ nhỏ, phân bố chủ yếu ở các cửa sông Đồng Nai, Sài Gòn, Thị Vải
Nhìn chung, địa hình Đông Nam Bộ chủ yếu là núi xen lẫn giữa các triền đồi đất đỏ, đất xám và rừng bạt ngàn Đông Nam Bộ ít kênh rạch, cây trái sum xuê, có nhiều sản vật quý, là vùng đất phát triển cây công nghiệp của nước ta
Miền Tây Nam Bộ có diện tích trên 40.000 km2, bao gồm các tỉnh: Long
An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu và thành phố Cần Thơ Tây Nam Bộ có địa hình đồng bằng tương đối thấp, bằng phẳng, vùng đất được bồi đắp do phù sa sông Cửu Long nên đất đai phì nhiêu màu mỡ Miền Tây Nam Bộ là vùng đất có sông Tiền, sông Hậu và các chi lưu nhỏ của sông Mêkông chảy ra biển Nơi mà nhân dân ta từ xưa quan niệm là chín con rồng phun nước tưới cho vùng đất này Tây Nam Bộ hiện nay là vựa lúa và là nơi sản xuất các nguồn thực phẩm và nông phẩm phong phú, đa dạng cho nước ta Miền Tây Nam Bộ cũng có những đặc điểm riêng biệt về địa lý so với các vùng khác trên nước ta Đặc điểm nổi bật nhất có thể kể đến là hệ thống sông ngòi chằng chịt, khoảng 4.900km2 đường sông Do vậy, sông là tuyến giao thông đặc biệt quan trọng đối với những người dân Tây Nam Bộ và phương tiện chủ yếu đi lại nơi đây chủ yếu là ghe, xuồng Theo nhận xét của Trịnh Hoài Đức: “Ở Gia Định chỗ nào cũng có ghe thuyền, hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc đi chơi, đi thăm người thân thích, chở gạo củi buôn bán rất tiện lợi” [30, 78] Trong hoàn cảnh địa hình kênh rạch chằng chịt đó, làng xóm, các điểm dân cư hình thành theo các kênh và đường Những vùng mới khai thác, làng là một dãy nhà trở mặt ra kênh Sau nhà là vườn rộng, sau vườn là ruộng bát ngát Ở một số nơi thực tế không có đường bộ, nhà cửa san sát bên bờ kênh, nhìn ra sông nước Hiệu buôn, nơi làm nghề thủ công, cũng
Trang 27đều như vậy Khách ghé xuồng vào mua bán, giao dịch, hàng đến hàng đi đều bằng đường thủy Những nơi giáp nước hoặc ở ngã ba, ngã tư đường bộ, dân
cư đông đúc, dần dần thành quán xá, chợ búa, thị trấn, lớn hơn nữa thành trung tâm hành chính hoặc thương mại, trên bến dưới thuyền
Ấn tượng sâu đậm mà Nam Bộ để lại trong lòng những người nơi khác đến thăm là sự phì nhiêu và trù phú của nó Thiên nhiên đã thực sự ưu đãi cho vùng đất này một châu thổ màu mỡ, đầy trái ngọt hoa thơm và quanh năm rực rỡ ánh mặt trời
Xuất phát từ những điều kiện tự nhiên đó mà vùng đất này trở thành một vùng đất mới, có nhiều lưu dân lui tới làm ăn sinh sống và họ chọn nơi đây làm nơi cư trú lâu dài
Nam Bộ là vùng đất mới, được thiên nhiên ưu đãi nên những người
từ phương xa tụ hội về đây sinh sống không phân biệt dân tộc, cư dân bản địa hay cư dân ngoại thổ Họ cùng nhau nương tựa với nhau để khai phá vùng đất mới Họ lấy cái nghĩa cái tình để đối xử với nhau, sống với nhau hết sức chan hòa, cởi mở
Nam Bộ có khí hậu mát, điều hòa, một năm chỉ có hai mùa: mùa mưa và mùa nắng Điều kiện tự nhiên sông rạch, ruộng đồng, khí hậu thuận lợi, ôn hòa đã đưa đến cho con người một kho tàng “cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn” Đất đai màu mỡ do phù sa bồi đắp hàng năm, khí hậu điều hòa còn làm cho cảnh vật cây cối luôn xanh tươi, trái cây bốn mùa và những cánh đồng lúa bát ngát Có thể nói, Nam Bộ là vùng đất “lúa đầy đồng, cá đầy ruộng” và để có được những cảnh như vậy người dân lao động ở đây đã phải đổ biết bao mồ hôi, nước mắt, phải trải qua bao khó khăn vất vả để biến vùng đất hoang vu, đầm lầy này thành một vùng có phong cảnh thiên nhiên trù phú, hữu tình Tuy nhiên, điều kiện khí hậu ở Nam Bộ cũng gây ra không ít những trở ngại cho đời sống Do khí hậu mưa nắng hai mùa nên gây ra sự oi bức,
Trang 28ẩm thấp, lại là điều kiện cho các côn trùng như: muỗi, kiến, mọt, mối, rắn, rết, đỉa, vắt, v.v sinh sôi nảy nở Khi mùa nắng chấm dứt, dịch bệnh thường xảy ra
Khí hậu Nam Bộ tuy là hiền hòa, không có nghĩa là không có biến động Thỉnh thoảng cũng có những cơn bão to đổ bộ vào Nam Bộ gây cho người dân không ít những thiệt hại Khu vực miền Tây Nam Bộ hằng năm nhờ lũ bồi tụ một lượng lớn phù sa, mặc dù được xem là lũ hiền nhưng người dân nơi đây vẫn phải gánh chịu những tổn thất do lũ để lại
Điều kiện tự nhiên Nam Bộ cho thấy có thuận lợi xen kẽ với khó khăn, tuy nhiên, bằng bàn tay khối óc của mình, con người đã chủ động khắc phục trở ngại, hạn chế khó khăn, thậm chí biến cái nghịch thành cái thuận cho mình
Bằng sự cải tạo của con người, Nam Bộ với hệ thống kênh rạch dày đặc, đất đai màu mỡ đã trở nên một vùng trù phú, cây trái xum xuê Đó là một thiên nhiên rộng lớn, hữu tình, thiên nhiên ấy là cơ sở để người dân Nam Bộ phản ánh trong lời ca tiếng hát của mình Ca dao Nam Bộ đã thể hiện một cách sinh động hình ảnh thiên nhiên trù phú, ruộng đồng xanh tốt, cây trái trĩu cành Trong không gian thiên nhiên rộng lớn con người đã hăng say lao động, tạo cho mùa màng tốt tươi quanh năm Càng ngày con người nơi đây càng thêm yêu những thành quả mà mình tạo nên, họ càng gắn bó với mảnh đất này, vì vậy niềm tự hào về quê hương đất nước trở thành một nỗi niềm thường trực trong tâm trí người Nam Bộ Mặt khác, thiên nhiên nơi đây cũng không hoàn toàn là thuận lợi, cũng có những biến động gây khó khăn cho việc sản xuất của người dân Trong điều kiện đó, người dân Nam Bộ đã biết cách sống dựa vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của mình Có thể nói đó là cách ứng xử của con người nơi đây với tự nhiên
Trang 29Điều kiện tự nhiên Nam Bộ với những thuận lợi và khó khăn là cơ sở cho
ca dao phản ánh cách ứng xử của con người với tự nhiên; bởi vì “ý thức, ngay
từ đầu đã là một sản phẩm xã hội và nó vẫn còn mãi là một sản phẩm xã hội chừng nào mà loài người nói chung còn tồn tại…” [9, 47]
1.3.2 Điều kiện về lịch sử - xã hội hình thành triết lý nhân sinh
Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, cho thấy vùng đất này trước đây vốn hoang sơ, nhưng từ thế kỷ XVII, nhiều lớp người ở các vùng đất khác do bị giai cấp địa chủ, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, đã di cư vào vùng đất Nam Bộ
để sinh cơ lập nghiệp Sử sách đã ghi lại rằng: “Từ thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Cuộc phân tranh giữa hai họ Trịnh - Nguyễn kéo dài suốt 175 năm trong đó có 45 năm đã diễn ra liên tiếp 7 trận đánh lớn Để phục vụ cho những nhu cầu của cuộc chiến tranh giành giật ấy, đồng thời để thỏa mãn lối sống xa hoa quý tộc của mình, các tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn đã thi nhau vơ vét nhân lực, tài lực của dân chúng, tạo nên cái cảnh đói rét, khổ sở, lầm than phổ biến khắp nơi Ở xứ đàng trong, sự
vơ vét, bóc lột, bóp nặn của bọn phong kiến họ Nguyễn thông qua chế độ binh dịch, thuế khóa hà khắc, sự nhũng nhiễu ức hiếp của bọn quan lại lớn bé, sự cướp đoạt ruộng đất và bóc lột tô tức nặng nề của bọn địa chủ đã đẩy dân chúng, nhất là những nông dân nghèo khổ vào con đường điêu đứng Trong tình cảnh
ấy, ngoài việc đứng lên chống lại, họ chỉ còn một lối thoát duy nhất là rời bỏ quê hương đi tìm đất sống Mà cái đất sống tốt nhất, nơi dung thân lý tưởng nhất đối với họ lúc bấy giờ không đâu bằng vùng đất xa xôi và còn hoang vu ở lưu vực sông Đồng Nai - Cửu Long” [62, 116]
Như vậy, lớp người tiên phong tiến vào vùng Đồng Nai - Cửu Long để kiếm sống và an thân trước hết là những nông dân Trung Bộ, Bắc Bộ vì bị giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột và áp bức nặng nề Tất cả họ gặp nhau và hội tụ lại nơi đây để từng bước tiến hành công việc khai hoang mở đất
Trang 30Công việc khai phá được tiến hành chậm trong điều kiện còn thiếu thốn
về phương tiện lao động Song, vì cuộc sống của mình, con người đã thực hiện việc canh tác ngay trên mảnh đất vừa khai phá xong Các hình thức canh tác cũng được thực hiện phù hợp với từng loại đất, đất cao sử dụng cách trồng theo nương rẫy Bắc Bộ, đất thấp thì theo lối cấy mạ Những điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu mà con người nhận thức được trong quá trình khai phá đã giúp cho con người sáng tạo được nhiều loại công cụ lao động Cùng với việc khai phá, con người đã tìm cách khắc phục, cải tạo các điều kiện tự nhiên không thuận lợi như những vùng bị ngập nước, người dân biết lên liếp trồng trọt, những vùng bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, người dân tìm cách tháo chua, rửa mặn Với sự nỗ lực của những cư dân nơi đây, những con người đi khai hoang mở đất đã dần dần biến vùng đất sình lầy, hoang vu thành cánh đồng rộng lớn, phì nhiêu
Mặc dù là vùng đất mới nhưng Nam Bộ không phải là vùng đất chưa có
ai sinh sống Ngoài người Việt, những cư dân có mặt sớm ở vùng đất này là người Khơme Họ sống trong các phum, sóc và giỏi nghề trồng lúa nước Tuy nhiên, ở giai đoạn này người Khơme vẫn còn chiếm số lượng ít nên công việc khai khẩn chẳng tiến triển bao nhiêu, và vùng đất này vẫn chìm trong hoang vu Theo khảo cứu của Huỳnh Lứa, nhà nghiên cứu đã giải thích vì sao dù có người Khơme sinh sống, tình trạng của Nam Bộ vẫn hoang vu: “Sở dĩ có tình trạng hoang vu kéo dài này là vì số cư dân bản địa quá thưa thớt mặc dù đã trải qua nhiều thế kỷ Ngay như người Khơme cổ có tỉ lệ đông nhất trong số cư dân đó cũng chỉ đạt tới 146.718 người vào giữa thế kỷ XIX Những cư dân đó thường tập trung sinh sống trên các giồng, các dãy đất cao vùng ven rừng, ven núi Vì số lượng quá nhỏ bé so với đất đai, họ không thể và cũng chưa cần mở rộng diện tích khai phá đối với vùng trũng thấp, sình lầy, đầy côn trùng và cỏ lác, đòi hỏi rất nhiều công sức” [62, 85]
Trang 31Cùng chung sống và khai phá để tạo nên vẻ đẹp trù phú cho vùng đất Nam Bộ, chúng ta phải kể đến một lớp người nữa, đó là người Hoa “Vào những năm 1689 - 1715, quá trình di dân cơ chế cũng diễn ra đối với những di dân miền duyên hải Nam Trung Hoa đã di trú ở Nam Bộ nhằm chống lại sự đàn áp dân tộc ở Trung Quốc, sau khi giai cấp phong kiến Mãn Thanh đã thống trị được nước Trung Hoa của người Hán” [32, 19]
Người Hoa đến Nam Bộ sau người Việt, phần lớn họ là những nhóm người quê quán ở các tỉnh ven biển miền nam Trung Quốc như Phước Kiến, Quảng Đông và đảo Hải Nam Vào Nam Bộ, ngoài việc phá rừng khẩn hoang trồng các loại cây trái, họ còn mở mang phát triển thương mại như cất phố, lập chợ ở Mỹ Tho, Cần Thơ và một số tỉnh khác Người Hoa đến Nam Bộ đã nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng những người đi khai phá vùng đất mới
và trên thực tế họ đã trở thành bộ phận của cư dân Việt Nam
Trong công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ còn có một dân tộc nữa, đó
là người Chăm Họ đến đây muộn hơn so với các dân tộc khác “Để chống lại nạn phân biệt dân tộc và các chính sách đàn áp dân tộc của các triều đại phong kiến ở Campuchia, những người Chăm Hồi giáo di trú đến vùng Châu Đốc tại đồng bằng Sông Cửu Long vào nửa đầu thế kỷ XIX bằng một quá trình di dân tập trung và đông người” [32, 19]
Người Chăm ở vùng Nam Bộ còn là bộ phận tách rời ra từ cộng đồng người Chăm vốn sinh sống lâu đời ở Trung Bộ Việt Nam Số người Chăm này chịu ảnh hưởng của đạo Hồi từ những thương nhân Mã Lai và Ấn Độ Họ sống chủ yếu bằng nghề chài lưới hoặc là những nghề thủ công dệt tơ lụa Những người di dân đến đây là những người không cùng xã, không cùng họ hàng Họ là những người ở tỉnh phủ khác nhau tụ tập về đây để tìm con đường sống cho chính bản thân mình Gặp nơi hoang vu với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, phương tiện làm ăn thô sơ, họ bỗng trở thành những người gần gũi thân
Trang 32quen, dựa vào nhau để cùng tồn tại Trước hết, họ quần tụ lại với nhau lập thành những thôn ấp để dễ dàng giúp đỡ nhau khi cần thiết Truyền thống đoàn kết, tương trợ yêu thương nhau là những truyền thống vốn có từ lâu đời của người Việt, lúc này càng được phát huy cao độ hơn bao giờ hết Bởi vậy, ở đây không
có sự phân biệt giữa các thành phần người, tất cả đều sống chan hòa bên nhau, cùng chung sức khai phá và xây dựng nên cuộc sống mới trên vùng đất phì nhiêu, màu mỡ
Con người trên vùng đất Nam Bộ đều là những con người phiêu dạt từ những nơi khác nhau Họ đến và tập hợp lại với nhau không phân biệt Việt, Hoa, Chăm, Khơme, v.v Mặt khác, nơi đây họ cũng không cần biết rõ gốc tích và lai lịch của nhau Họ không hề bị quy định bởi lệ làng, hương ước như
ở miền Bắc, miền Trung Họ cùng nhau làm ăn, giúp đỡ nhau trong những ngày đầu mới đến, người đến trước giúp người đến sau Trong những lúc khó khăn, tất cả đều yêu thương, đùm bọc lẫn nhau Đây cũng chính là yếu tố cơ bản dẫn đến những nét chung trong tính cách, cũng như quan niệm sống của người dân Nam Bộ
Như vậy, điều kiện lịch sử - xã hội của vùng đất Nam Bộ là tiền đề hình thành nên cách sống phóng khoáng, nghĩa hiệp, cởi mở, một tinh thần trọng nghĩa khinh tài Trong một hoàn cảnh phiêu dạt từ những nơi xa xôi đến, những con người ấy ít nhiều trong đầu cũng chất chứa sự mạo hiểm, hoặc dám chịu chấp nhận nguy hiểm Đó là những con người buộc phải liều, cho nên họ coi tính mạng tựa như lông hồng, họ luôn tỏ ra dũng cảm, không sợ nguy hiểm khó khăn Đức tính ấy do quá trình mở mang vùng đất mới đào luyện nên Sự ngang tàng, dũng cảm khiến họ không bao giờ chịu lùi bước trước khó khăn, không bao giờ chịu luồn cúi trước sức mạnh phi nghĩa Hoàn cảnh đưa họ tìm đến với vùng đất mới để sinh sống, gặp những người cùng cảnh ngộ, họ càng thêm yêu nhau hơn, đùm bọc giúp đỡ nhau tạo
Trang 33dựng cuộc sống Thường thường họ kết nghĩa nhau, và khi đã kết nghĩa rồi thì họ sống chết có nhau, thương yêu nhau một cách kỳ lạ Vì vậy họ rất trọng nghĩa, quý trọng tình bạn bè, tình huynh đệ, coi khinh tiền tài, sẵn sàng xả thân vì nghĩa Việc nghĩa theo quan niệm thông thường của nhiều người là bênh vực những người yếu đuối hoặc sa cơ thất thế, chống lại cường quyền hoặc bạo lực phi nghĩa Cái tinh thần trọng nghĩa ấy là nảy sinh từ hoàn cảnh cụ thể đấu tranh để sinh tồn của người dân di cư Ca dao Nam Bộ đã thể hiện rõ tinh thần trọng nghĩa ấy như một sự minh chứng xác thực về đời sống tinh thần được phản ánh từ cuộc sống hiện thực của người dân nơi này Cho nên khi nghiên cứu về đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ, chúng ta không xuất phát từ những điều mà con người nói, tưởng tượng, hình dung, chúng ta cũng không xuất phát từ những con người chỉ tồn tại trong lời nói, trong ý nghĩ, trong tưởng tượng, trong biểu tượng của người khác, mà chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động, hiện thực và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng
và tiếng vang tư tưởng của quá trình đời sống ấy” [7, 37-38]
1.3.3 Điều kiện văn hóa hình thành triết lý nhân sinh
Việt Nam có nhiều dân tộc ít người, nhưng không giống với bất cứ vùng nào, ở vùng đất Nam Bộ các dân tộc ít người cùng sống chung, xen kẽ với người Việt Miền Đông Nam Bộ có các dân tộc: Mạ, Châu Ro, Stiêng, Mơnông, v.v Còn miền Tây Nam Bộ có người Khơme, người Chăm, người Hoa Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: “Gia Định là đất phương Nam của nước Việt Khi mới khai thác, lưu dân nước ta cùng người kiều ngụ như người Đường (Hoa), người Cao Miên, người Tây phương, người Phú Lang - sa (Pháp), người Hồng Mao (Anh),
Mã Cao, người Đồ Bà (Java) ở lẫn lộn” [30, 11]
Trang 34Khi vào vùng đất Nam Bộ sinh sống, đại bộ phận lưu dân là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ, cơ cực, không thể sống ở nơi quê hương bản quán, buộc phải dứt áo ra đi để tìm đất mưu sinh Họ ra đi với hai bàn tay trắng, tiền bạc vốn liếng, phương tiện mọi thứ đều không có Thế nhưng, khi đến đây họ lại đối diện với một môi trường thiên nhiên không dành sẵn cho
họ mọi thứ cần thiết, mà tự bản thân họ phải phấn đấu cam go, khắc phục vô vàn khó khăn trong quá trình chinh phục và cải tạo môi trường thiên nhiên để tạo dựng cuộc sống cho mình
Trong điều kiện ấy, các lưu dân đã đoàn kết lại với nhau nhanh chóng kết thành chòm xóm, lập ra làng xã để tựa nương vào nhau làm ăn sinh sống, đùm bọc giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn hoạn nạn, cùng nhau chống lại thú dữ, trộm cướp
Khác với làng xã Bắc Bộ, ở Nam Bộ, nhà cửa cư dân thoáng đãng, cách xa nhau, trước nhà là sông hay rạch, nơi ghe thuyền qua lại, phía sau là đồng ruộng mênh mông Đặc trưng nổi bật của làng xã Nam Bộ là không bị ràng buộc bởi luật lệ, quy chế nghiêm ngặt với những lệ làng, hương ước phức tạp, không có sự phân biệt quá rõ ràng giữa người ở lâu với người mới đến, giữa dân chính hộ với người ngụ cư Với tính chất “mở” ấy, họ sẵn sàng đón nhận và giúp đỡ để những người phiêu bạt tới có nơi cư trú và có công ăn việc làm
Tính chất “mở” của làng xã Nam Bộ làm cho Nam Bộ là nơi tụ hội của
cư dân nhiều vùng trong cả nước, của nhiều giai tầng xã hội, của nhiều dân tộc khác nhau Từ đó làm cho văn hóa của vùng Nam Bộ có tính đa dạng và
sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc cùng sinh sống trên mảnh đất này Song, những khác biệt về văn hóa giữa các cư dân, dân tộc ở Nam Bộ không đưa tới
sự kỳ thị, xung đột, phân ly Ngược lại, công cuộc đấu tranh để sinh tồn ở vùng đất mới tuy có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn đã đặt ra yêu cầu khách quan buộc người lưu dân phải nhanh chóng hội nhập và hòa
Trang 35đồng để hình thành một cộng đồng xã hội ổn định, bền vững đủ sức chinh phục vùng đất mới
Ở nông thôn Nam Bộ, tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm thể hiện hết sức đậm đà Người dân đoàn kết với nhau, đùm bọc lẫn nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống Ngay ở các làng thuần Việt cũng không có sự phân biệt họ lớn, họ nhỏ, không có sự tranh giành uy quyền giữa các dòng họ, không có sự phân chia phe giáp Ở đây không có tình trạng một họ nắm uy quyền tuyệt đối trong một làng, nên cũng không có tình trạng lấy tên của một họ làm tên làng
Sự thiết lập làng xã Nam Bộ về cơ bản vẫn tạo ra làng xã truyền thống Việt Nam, nhưng do môi trường thiên nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội có những đặc thù nên làng xã ở Nam Bộ mang nhiều đặc trưng khác so với làng
xã ở miền Trung, miền Bắc
Trên lĩnh vực đời sống tinh thần, giống như làng ở Bắc Bộ và Trung
Bộ, ở Nam Bộ làng xã nào cũng có tập tục riêng, lối sống riêng, lễ hội riêng, cách thức ứng xử riêng Đó là chất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên trong làng
Tuy nhiên, Nam Bộ là vùng đất có nhiều dân tộc cùng chung sống bên nhau, cùng trồng trọt, cùng xây dựng cộng đồng và cùng biến vùng đất này thành nơi trù phú, phì nhiêu, nên giữa các dân tộc có những nét chung trong văn hóa, hoặc sự ảnh hưởng giữa các nền văn hóa với nhau
Bên cạnh đó, các dân tộc dễ dàng bỏ qua những tục lệ khó khăn mà chỉ giữ lại những lễ nghi đơn giản cho phù hợp với cuộc sống mới Điều này cho thấy, con người đã chịu sự chi phối, ảnh hưởng rất nhiều từ môi trường vật chất mà con người nơi đây sinh sống Trên vùng đất còn chất chứa những bí ẩn, hoang sơ, thì việc học tập cách làm nhà, cách làm ruộng của nhau, sự giao thoa về văn hóa giữa những tộc người là điều tất yếu Những ảnh hưởng giao lưu văn hóa giữa các dân tộc còn thể hiện qua nhiều sinh
Trang 36hoạt văn hóa và nếp sống khác: cách ăn mặc, xây cất nhà cửa, vay mượn tên các dòng họ, các ngày lễ hội, v.v Về nhà ở, loại hình nhà sàn của người Khơme vẫn được người Việt sử dụng ở một số vùng Đồng Tháp, Cà Mau
Về tập tục mai táng, thì người Hoa, người Việt cũng hỏa thiêu và gởi tro trong tráp như người Khơme Trong những dịp lễ tết các dân tộc đều tiến hành thăm mộ tổ tiên, cúng chùa, tế lễ trong nhà và dự các hội hè, trò vui chung, thăm hỏi nhau, đồng thời làm những loại bánh truyền thống Từ những tập tục riêng của mỗi dân tộc thì giờ đây đã trở thành những nét văn hóa chung, là tài sản chung của các dân tộc, không kể là dân tộc nào Điều
đó cho thấy trong quan niệm của người dân Nam Bộ tính mở, tính phóng khoáng, bao dung được thể hiện ở nhiều phương diện Các dân tộc cùng chung sống ở vùng đất Nam Bộ không quan tâm đó là văn hóa của dân tộc mình hay dân tộc khác, họ sẵn sàng sử dụng văn hóa của dân tộc khác, hay pha trộn, cải tiến văn hóa của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc thành một loại hình văn hóa đặc trưng của địa phương Nam Bộ, sao cho phù hợp với đời sống sinh hoạt, sản xuất trên vùng đất mới
Trong quá trình chinh phục thiên nhiên, cùng sống và làm việc trên một vùng đất, các dân tộc đã vay mượn những yếu tố văn hóa tốt đẹp, những kinh nghiệm sống của nhau để cùng tồn tại và phát triển
Người Việt từ các vùng địa phương Bắc Bộ, Trung Bộ đi khai phá vùng đất này đã mang sẵn trong mình vốn văn hóa riêng của họ Đến đây, sự tập hợp không phân biệt địa phương đã khiến giữa họ có nét pha trộn như về lời
ăn tiếng nói, câu ca điệu hát giữa các vùng cũng như có sự cộng hưởng giữa
tư tưởng của vùng đất nơi họ ra đi và nơi họ đến Đồng thời, giữa khung cảnh thiên nhiên thực tế, hoàn cảnh lao động cụ thể, đã làm nảy sinh những những câu ca điệu hát mới, những tư tưởng mới phù hợp hơn Trên cái gốc sẵn có, người lao động sáng tạo và pha trộn văn hóa giữa các dân tộc, giữa các vùng
Trang 37miền, tạo nên nét hay riêng và thích ứng hơn cho cuộc sống của họ Ấn tượng đối với Nam Bộ không chỉ là khung cảnh thiên nhiên, các sắc thái chủng tộc,
mà còn là nếp sống của con người qua cung cách sinh sống, làm ăn Với điều kiện môi sinh, thổ nhưỡng mới, những con người từ nhiều nơi tụ hội về đây đã dần dần thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện sinh hoạt mới Quá trình chuyển đổi và thích ứng môi trường đó đã dần dần hình thành và phát triển ở vùng đất này những sắc thái văn hóa mang tính tiêu biểu địa phương Như C Mác nói: Chính những người thiết lập nên những quan hệ xã hội phù hợp với năng lực sản xuất vật chất của họ, cũng là những người sản sinh ra những ý niệm phù hợp với những quan hệ xã hội của họ [12, 187 - 188]
Các dân tộc cùng chung sống ở vùng đất Nam Bộ, trên cơ sở những đặc điểm văn hóa riêng của dân tộc mình, trong quá trình khai phá, chinh phục thiên nhiên nơi đây, họ đã vay mượn, giao hoán những yếu tố văn hóa của nhau để cùng tồn tại, phát triển Trong quá trình giao lưu, vay mượn văn hóa của nhau, các yếu tố văn hóa dù của dân tộc nào mà không thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội hay tỏ ra lạc hậu so với quy luật tiến bộ đều phải bị gạt
bỏ, nhường chỗ cho những yếu tố văn hóa tỏ ra ưu việt hơn, phù hợp hơn Như vậy, việc cộng cư của nhiều dân tộc đã làm cho văn hóa Nam Bộ có đặc trưng khác biệt so với các miền khác của nước ta Đó là tính mở và sự giao lưu văn hóa đã thấm vào nếp sinh hoạt văn hóa, phong cách sống của người dân Nam Bộ Những đặc trưng văn hóa đó được phản ánh trong ca dao Nam Bộ, thể hiện quan niệm sống của người dân nơi đây Họ không đặt nặng vấn đề lễ giáo, mà đối với người dân Nam Bộ họ chỉ biết ứng xử với nhau có tình có nghĩa, biết gắn bó máu thịt với mảnh đất nuôi sống mình, hết lòng bảo
vệ nó khi có ai đó muốn phá hoại, xâm chiếm
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO NAM BỘ
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VÙNG NAM BỘ
2.1 NỘI DUNG CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO NAM BỘ
Triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ phản ánh nhiều nội dung trong đó
nổi bật là: đạo làm người, cách thức ứng xử với tự nhiên và xã hội
2.1.1 Đạo làm người trong ca dao Nam Bộ
Đạo làm người trong ca dao Nam Bộ thể hiện rất phong phú, song nổi bật là trong quan hệ gia đình, với quê hương đất nước và tư tưởng trọng nghĩa
Thứ nhất, đạo làm người trong quan hệ gia đình
Trong quan hệ gia đình có quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái Ca dao Nam Bộ đã hướng dẫn cách ứng xử giữa vợ và chồng, giữa con cái đối với cha mẹ sao cho phù hợp với đạo lý
- Về mối quan hệ giữa vợ và chồng
Trong quan hệ giữa vợ và chồng, ca dao Nam Bộ phản ánh quan niệm thủy chung, son sắt
Người vợ và người chồng với quan hệ hôn nhân, dựa trên tình yêu họ đã đến với nhau, gắn kết hai con người xa lạ với nhau Cho nên mối quan hệ ấy muốn bền chặt thì cả vợ và chồng phải hết lòng chung thủy, trước sau như một mới mong xây dựng gia đình hạnh phúc
Muốn thực hiện được điều đó đòi hỏi cả người vợ và người chồng phải luôn hướng về nhau, phải thật sự chung thủy, lấy đó làm nền tảng cư xử trong đời sống gia đình
Đối với người vợ khi đã xuất giá theo chồng phải hết lòng nghĩ đến chồng, lo cho chồng Đó là sự thủy chung xét ở góc độ nết na, đoan chính:
Trang 39“Không chồng đi dọc đi ngang
Trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn về vật chất, vợ chồng vẫn hết mực thương yêu nhau, vẫn lấy đó làm hạnh phúc:
“Cá trê mà nấu canh bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon” [95, 426]
Trong đạo nghĩa vợ chồng, ca dao Nam Bộ đặt ra yêu cầu đối với người phụ nữ là không được so sánh giữa chồng mình với chồng người, phải hết sức tôn trọng chồng mình:
“Rau răm đất cứng khó trồng Dầu hay dầu dở cũng chồng của em” [95, 448]
Là người vợ đoan chính, thủy chung thì lúc nào cũng phải nghĩ về chồng,
về con, về gia đình không được thay lòng đổi dạ, nhất là những lúc chồng đi làm xa Người vợ phải chờ đợi thủy chung, giữ vững niềm tin vào hạnh phúc:
“Chợ Bến Thành dời đổi Người sao khỏi hiệp tan
Xa gần giữ ngãi tào khang Chớ tham nơi quyền quý phụ phàng nghĩa xưa” [95, 226]
Cuộc sống gia đình, vợ chồng cũng có lúc phải có chuyện giận hờn, bất hòa Trong hoàn cảnh ấy ca dao Nam Bộ đã khuyên dạy vợ chồng phải biết
bỏ qua lỗi lầm của nhau, nhất là người phụ nữ trong gia đình phải nhận thức được điều ấy và đóng vai trò hòa giải, làm lành với chồng:
Trang 40“Cây khô nghe sấm nứt chồi Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thương” [95, 428]
Đạo nghĩa vợ chồng là phải gắn bó lâu dài với nhau, chung tay chung sức xây dựng gia đình đầm ấm, hạnh phúc Nếu vợ, chồng đồng tâm hiệp sức thì chuyện gì cũng có thể giải quyết được:
“Bắp với khoai tuy rằng khác giống Nhưng cùng chung sống trên cục đất giồng Anh với em đồng vợ đồng chồng Tát biển Đông cũng cạn, đập núi Hồng cũng tan” [95, 425]
Là vợ chồng ai cũng mong muốn được sống trọn đời bên nhau, cho nên khi chồng đau yếu thì rất cần sự chăm sóc của người vợ, và người vợ chăm sóc chồng mình là bổn phận, trách nhiệm Nếu người vợ hết mực yêu thương chồng sẽ thấy việc làm đó có ý nghĩa, vợ cũng mong sự chăm sóc ân cần, chu đáo sẽ làm cho chồng mau khỏi bệnh:
“Cầm con dao sắc
Em cắt củ gừng
Bỏ vô siêu đất Sắc lại vài phân Cái tay em bưng Cái chân em bước Mái tóc em xước Cái lược em rơi Vừa đi vừa vái ông trời Cho chồng mau mạnh sống đời với em” [95, 427]
Qua việc chăm sóc của người vợ trong câu ca dao trên cho thấy người vợ hết mực thương chồng, lo nấu thuốc cho chồng quên cả chăm sóc cho bản thân, và cũng mong sao chồng mau khỏi bệnh để vợ chồng sống đời với nhau