1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý nhân sinh trong văn học dân gian tỉnh quảng nam

128 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 912,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và để thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN NGỌC VÕ KHOA

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HỌC

DÂN GIAN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ VĂN GẦU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Vũ Văn Gầu Các dẫn chứng trong luận văn

là trung thực, đảm bảo tính khoa học, khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN NGỌC VÕ KHOA

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 5

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8

3.1 Mục đích 8

3.2 Nhiệm vụ 9

3.3 Phạm vi nghiên cứu: 9

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 9

4.1 Cơ sở lý luận của luận văn: 9

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn: 9

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 9

5.1 Ý nghĩa lý luận 9

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

6 Kết cấu của luận văn 10

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH QUẢNG NAM 11

1.1 KHÁI NIỆM TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN 11

1.1.1 Khái niệm triết lý nhân sinh 11

1.1.2 Khái niệm và đặc trưng của văn học dân gian 19

1.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH QUẢNG NAM 26

1.2.1 Điều kiện địa lý – tự nhiên hình thành triết lý nhân sinh 26

1.2.2 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành triết lý nhân sinh 28

1.2.3 Điều kiện văn hóa hình thành triết lý nhân sinh 36

Trang 4

1.3 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH QUẢNG NAM 42

1.3.1 Diện mạo văn học dân gian tỉnh Quảng Nam 42

1.3.2 Một số đặc điểm nhân sinh quan trong văn học dân gian tỉnh Quảng Nam 53

Kết luận chương 1 59

Chương 2 NỘI DUNG, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH QUẢNG NAM 60

2.1 TRIẾT LÝ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI TỰ NHIÊN 60 2.1.1 Con người là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên 60

2.1.2 Con người cải tạo giới tự nhiên thông qua lao động 65

2.1.3 Mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên 68

2.2 TRIẾT LÝ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI CON NGƯỜI 72

2.2.1 Triết lý về đời người 72

2.2.2 Triết lý về cách ứng xử giữa con người với con người trong xã hội 78

2.3 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH QUẢNG NAM 94

2.3.1 Giá trị 94

2.3.2 Hạn chế 104

Kết luận Chương 2 114

KẾT LUẬN CHUNG 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã chuyển biến tích cực,

từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất cùng với việc xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Văn hóa đóng vai trò hết sức quan trọng là động lực, mục tiêu cho sự phát triển kinh tế – xã hội cho nên việc xây dựng, chăm lo và giữ gìn văn hóa dân tộc là nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển

là thể hiển rõ nhất tính ưu việt của chế độ ta Tăng cường đầu tư của Nhà nước, đồng thời tăng cường huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa

kế thừa, phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội.”[16,tr 40] Tiếp nối tinh thần trên, Đại hội cũng

đã đề ra định hướng phát triển văn hóa, đó là: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong

đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội

Trang 6

dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá của con người, với trình độ tri thức, đạo đức và thẩm mỹ ngày càng cao.”[16, tr.75 – 76] Và để thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mà nhân tố góp phần tạo nên sức mạnh của truyền thống đó là kho tàng văn học dân gian Văn học dân gian có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng to lớn đến nền văn hóa Việt Nam Đó là sự tổng hợp những kiến thức của nhân dân lao động thời xưa

về những vấn đề của cuộc sống và lao động sản xuất của con người Những kiến thức ấy tuy gắn chặt với kinh nghiệm nhưng nó là dạng kiến thức tiến gần hơn với nhân dân lao động so với kiến thức khoa học mà con người lúc bấy giờ

có thể đạt được Văn học dân gian là những câu hát bình dân, thông thường trong sinh hoạt xã hội Ðược truyền miệng từ đời này sang đời khác, văn học dân gian mang mọi hình thái khác nhau theo thời gian, là kho tri thức về kinh nghiệm cuộc sống và đạo lý làm người, là “túi khôn” mà ông cha ta đã dày công xây dựng và lưu giữ Những đề tài của văn học dân gian bắt nguồn từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất và những sinh hoạt đời thường nên nội dung của văn học dân gian rất đa dạng và phong phú Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy rằng: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là những người sáng tác nữa… Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không trường thiên đại hải, dây cà ra dây muống Các cán bộ văn hóa cần phải giúp những sáng tác của quần chúng Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý…[58, tr.250]

Tuy nhiên, chúng ta đang sống trong thời đại khoa học công nghệ, để tồn tại và phát triển phải hội nhập với thế giới Chúng ta không thể bảo tồn

Trang 7

những giá trị văn hóa của dân tộc bằng cách khép kín, thu mình đóng cửa và ngược lại cũng không thể phát triển nền văn hóa dân tộc nếu như mở cửa không được kiểm soát, đánh mất bản sắc văn hóa lâu đời của ông cha ta đã dày công xây dựng Vì vậy, để bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc, một mặt chúng ta phải giữ gìn truyền thống bản sắc văn hóa ngàn năm của dân tộc, mặt khác phải mở rộng giao lưu và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại Trong quá trình giao lưu và hội nhập đó, ta phải đối mặt với những thử thách to lớn, đó là sự suy thoái về đạo đức giá trị cá nhân và giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp Thực tế, ở nước ta những năm trở lại đây, đời sống xã hội có nhiều chuyển biến đi xuống, con người xem nhẹ những giá trị truyền thống của dân tộc, chạy theo lối sống không lành mạnh Nền kinh tế thị trường

đã làm cho con người coi trọng đồng tiền hơn tình nghĩa, quay lưng lại với những giá trị đạo đức, chạy theo lối sống xa lạ, trái với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam Do đó, mỗi dân tộc muốn hòa nhập mà không bị hòa tan đều phải quan tâm đúng mức đến việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc bao gồm những giá trị được đúc kết trong văn học dân gian của dân tộc nói chung, của từng địa phương nói riêng trong đó có tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là vùng đất mà khi người ta thường nghĩ đến là nơi mở đầu cho cuộc Nam tiến, từ đó làm bàn đạp tiến đến đồng bằng sông Cửu Long Là một vùng đất được khai phá gần 600 năm, song lại là nơi rất giàu truyền thống với nhiều giá trị văn hóa mang tính đặc trưng gắn bó với lịch sử của vùng đất, gắn bó với con người nơi đây Văn học dân gian Quảng Nam là một trong những giá trị đặc trưng ấy Văn học dân gian xứ Quảng chứa đựng trong bản thân những yếu tố truyền thống vững bền, mang tính phổ cập của văn học dân gian cả nước, đồng thời cũng xác lập được những sắc thái riêng của một địa bàn cư dân giàu năng lực, có tính cách mạnh mẽ và có khát vọng

Trang 8

vươn tới những chân trời hạnh phúc, tri thức mới Văn học dân gian xứ Quảng

là bức tranh sinh động phản ánh trung thực dòng chảy liên tục của văn học dân gian Việt Nam Nó chứa đựng nhiều triết lý sâu sắc như triết lý biện chứng, triết lý giáo dục, triết lý đạo đức và đặc biệt hơn cả là triết lý nhân sinh Triết lý nhân sinh trong văn học dân gian Quảng thể hiện quan niệm của ông cha ta về lẽ sống, về đạo làm người, về cách ứng xử của con người với tự nhiên và giữa con người với nhau trong xã hội; qua đó giúp định hướng cho con người trong cuộc sống Đồng thời nó còn thể hiện năng lực tư duy, phán đoán, phân tích và nhận thức của cha ông ta về vũ trụ và con người Vì vậy, GS.TS Nguyễn Hùng Hậu cho rằng: “Ngày nay, văn hóa dân gian đã trở thành đối tượng của bộ môn khoa học thì hà cớ gì chúng ta – những người làm triết học – lại cứ khư khư đóng cửa không mở rộng sang lĩnh vực triết lý dân gian”[27,tr.404] và “nếu xét ở bình diện phổ thông quần chúng thì nghiên cứu triết lý dân gian còn quan trọng hơn cả nghiên cứu triết lý bác học, triết học, bởi lẽ từ đây rất có thể chúng ta lại tìm ra, phát hiện được cái mạch ngầm sâu thẳm của dân tộc mà tư tưởng bác học chỉ là sự thể hiện bề nổi, bên ngoài”[27, tr.405] Vậy nên, muốn tìm hiểu hồn dân tộc Việt Nam nói chung

và Quảng Nam nói riêng, chúng ta không thể bỏ qua kho tàng văn học dân gian, cũng như qua đó chứng tỏ cha ông ta đã có một khối hiểu biết, kinh nghiệm và luân lý sâu sắc về tự nhiên, xã hội và con người

Thế nhưng, với những biến đổi to lớn của dòng chảy lịch sử, nền kinh

tế thị trường và sự mở cửa, giao lưu đã đưa nước ta hội nhập mạnh mẽ vào nền văn minh nhân loại, làm thay đổi nhanh chóng diện mạo và đời sống đất nước, thì những giá trị văn hóa truyền thống của người Quảng Nam nói chung, quan điểm, quan niệm, tình cảm của người Quảng Nam nói riêng đang đứng trước những thử thách mới Với thực tiễn như vậy, hơn bao giờ hết lại càng đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến những giá trị tinh thần, đó là

Trang 9

truyền thống văn hóa của dân tộc, là nền văn học dân gian; đồng thời kết hợp hài hòa với tinh hoa văn hóa của nhân loại để tạo nên sự phát triển bền vững cho nền văn hóa nước nhà

Chính vì những lí do trên, tác giả chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh trong văn học dân gian tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học cho mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Văn học dân gian và triết lý nhân sinh đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở những góc độ, khía cạnh khác nhau Với đề tài nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu là yếu tố triết lý nhân sinh trong văn học dân gian Vì vậy, xoay quanh chủ đề triết lý nhân sinh trong văn học dân gian đã có những công trình nghiên cứu và được công bố rộng rãi ở nhiều sách và tạp chí, đặc biệt là những năm trở lại đây Có thể khái quát những công trình nghiên cứu đó theo ba hướng như sau:

Hướng thứ nhất, là những công trình nghiên cứu về triết lý và triết lý nhân sinh Theo hướng này có các công trình tiêu biểu như: Triết lý phát

triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu của Phạm Xuân Nam (Nxb Khoa học

xã hội, 2005); “Triết học giáo dục – cơ sở để đổi mới và phát triển giáo dục” của Hà Ly (Tạp chí Khoa học xã hội, số 6, 2005); “Mấy suy nghĩ triết học và triết lý” của Hồ Sỹ Quý (Tạp chí triết học, số 3, 1998); “Văn hóa, triết lý và triết học” của Lương Việt Hải (Tạp chí triết học, số 10, 2008); Triết lý trong văn hóa phương Đông của Nguyễn Hùng Hậu (Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, 2004); Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa của Hoàng Trinh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); Hội thảo đề tài “Triết lý về sự phát triển ở Việt Nam” của Vũ Khiêu (Hà Nội, ngày 14 – 9 – 1997); Hội thảo đề tài “Triết lý về sự phát triển ở Việt Nam” của Trần Văn Giàu (Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 – 1 – 1998); Triết lý nhân sinh của Lê Kiến Cầu, người dịch Chu Quý (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nôi, 2008)…

Trang 10

Các tác giả đã lần lượt trình bày quan niệm về triết lý, triết học; từ đó làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa triết học và triết lý cùng với mối quan hệ mật thiết giữa triết học và triết lý Suy cho cùng, “triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học Bởi từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một triết thuyết nhất định, người ta có thể rút ra những triết lý về cách ứng xử, phương châm sống và hành động của những cá nhân và cộng đồng nào đó tin theo”[60, tr.23 – 24] Còn bàn về vấn đề triết lý nhân sinh, tác giả Lê Kiến Cầu trình bày khá sâu sắc những vấn đề liên quan đến triết lý nhân sinh Mở đầu cuốn sách tác giả đã đề cập ngay đến khái niệm nhân sinh cùng với việc xem xét nó theo ba ý nghĩa là sinh mệnh, cuộc sống, phương hướng của con người và hàng loạt các khái niệm có liên quan cũng như việc chỉ ra nguồn gốc, xuất xứ của các khái niệm ấy Sau đó, tác giả đã đặt ra và thảo luận ba vấn đề lớn là ý nghĩa nhân sinh, vấn đề nhân sinh và nhân sinh quan

Bên cạnh đó, có những công trình nghiên cứu về triết lý, triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ… Tiêu biểu có những đề tài “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên – Huế” của Cao Thị Hoa (Luận văn thạc sĩ triết học Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế, 2011); “Triết lý nhân sinh trong ca dao Nam Bộ” của Trần Thị Thùy Trang (Luận văn thạc sĩ triết học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tp.Hồ Chí Minh, 2010; “Triết

lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Diệp Minh Thy (Luận văn thạc sĩ triết học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tp Hồ Chí Minh, 2014) …

Các tác giả làm rõ ảnh hưởng của ca dao, tục ngữ đối với đời sống xã hội con người Việt Nam Qua đó chúng ta thấy được vai trò của ca dao, tục ngữ đối trong việc phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mối quan hệ giữa con người với con người Tìm hiểu yếu tố triết lý hoặc triết lý

Trang 11

nhân sinh trong ca dao, tục ngữ để thấy được tình người, tính nhân văn trong quan hệ ứng xử…Từ đó có ý thức bảo vệ và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình

Hướng thứ hai, là những công trình nghiên cứu về văn học dân gian Việt Nam Nội dung này không thể không kể đến các tác phẩm Văn học dân

gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên – Võ Quang Nhơn (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009); Tìm hiểu tiến trình Văn học dân gian Việt Nam của Cao Huy Đỉnh (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974); Văn học dân gian Việt Nam của Lê Chí Quế – Võ Quang Nhơn – Nguyễn Hùng Vĩ (Nxb Tổng hợp Hà Nội, 1990); Văn học dân gian những công trình nghiên cứu của Bùi Mạnh Nhị (Nxb Giáo dục, 2003); Giáo trình văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn Thị Bích Hà (Nxb Đại học Sư phạm, 2015); Văn học dân gian người Việt góc nhìn thể loại của Kiều Thu Hoạch (Nxb Lao động, 2012) …

Các tác giả đã nghiên cứu, sưu tầm các thể loại của văn học dân gian; đồng thời khái quát tổng thể xuyên suốt chiều dài lịch sử văn học dân gian Việt Nam từ cổ chí kim Từ đó, tác giả đã làm rõ khái niệm và những đặc trưng của văn học dân gian cũng như nguồn gốc xuất xứ, sự hình thành, phát triển của văn học dân gian Trong một số công trình văn học dân gian nói trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau theo những tiêu chí khác nhau giúp cho người đọc có thể tham khảo, so sánh và đối chiếu

Hướng thứ ba, là những công trình nghiên cứu về văn học dân gian tỉnh Quảng Nam Theo hướng này tiêu biểu nhất bao gồm 4 cuốn sách của người sưu tầm và biên soạn Nguyễn Văn Bổn đó là : Văn học dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng tập 1, của Sở Văn hóa thông tin tỉnh Quảng Nam (Nxb Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng, 1983); Văn học dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng tập 2, của Sở Văn hóa thông tin tỉnh Quảng Nam (Nxb Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng, 1986); Văn học dân gian Quảng

Trang 12

Nam (miền biển) tập 3, của Sở Văn hóa thông tin tỉnh Quảng Nam (Nxb Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng, 2001); Văn học dân gian Quảng Nam (truyện cổ các dân tộc thiểu số miền núi) tập 4, của sở Văn hóa thông tin tỉnh Quảng Nam (Nxb Sở Văn hóa thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng, 2004)

Đây là bộ sách mà tác giả đã hơn mười năm mang ba lô lặn lội khắp các thôn làng để ghi chép và sưu tầm những câu hát, hò, kể chuyện của dồng bào đất Quảng Các công trình tập hợp tất cả những gì là tinh túy nhất của văn học dân gian Quảng Nam với một dung lượng tương đối đầy đủ Là tập hợp những sưu tập văn nghệ dân gian trên địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng từ truyền thuyết, truyện cổ tích, tục ngữ, câu đố, ca dao – dân ca… đồng dao đến các bài ca Cách mạng có trên địa bàn tỉnh nhà Qua đó, cho thấy được rằng tác giả đã thể hiện sự ghi chép một cách công phu, nghiêm túc của một công trình khoa học có chất lượng cao, không chỉ cho chúng ta hiểu biết sâu hơn về văn học dân gian mà còn cung cấp những tri thức về con người cũng như lịch

sử một vùng đất nhiều bí ẩn và huyền diệu này

Điểm qua tình hình nghiên cứu trên cho thấy việc nghiên cứu về triết lý nhân sinh trong văn học dân gian là điều còn hết sức mới mẻ Các công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một thể loại trong văn học dân gian đặc biệt là ca dao, tục ngữ chứ chưa phân tích, làm rõ triết lý nhân sinh trong cả nền văn học dân gian một cách có hệ thống Vì vây, việc kế thừa, bổ sung có chọn lọc để góp phần hoàn thiện làm sáng tỏ triết lý nhân sinh trong văn học dân gian Quảng Nam là việc làm có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Luận văn làm sáng tỏ triết lý nhân sinh trong văn học dân gian Quảng Nam, trên cơ sở đó rút ra những giá trị cũng như hạn chế của triết lý nhân sinh trong văn học dân gian tỉnh Quảng Nam

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích đã nêu, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau: – Trình bày những cơ sở địa lý – tự nhiên, lịch sử, kinh tế – xã hội, văn hóa dẫn đến sự hình thành triết lý nhân sinh trong văn học dân gian Quảng Nam

– Trình bày, phân tích nội dung triết lý nhân sinh trong văn học dân gian Quảng Nam

– Đánh giá những giá trị và hạn chế của triết lý nhân sinh trong văn học dân gian Quảng Nam

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung trong nội dung văn học dân gian của tỉnh Quảng Nam, qua đó tập trung nghiên cứu tính triết lý nhân sinh trong văn học dân gian tỉnh Quảng Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

4.1 Cơ sở lý luận của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của triết học Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm: Phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử – logic…

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

5.1 Ý nghĩa lý luận

– Khẳng định những giá trị to lớn của văn học dân gian Quảng Nam

đó là văn học dân gian Quảng Nam chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc – Khẳng định tư duy của người Quảng Nam nói riêng và người Việt nói chung trong dòng chảy tư duy nhân loại

Trang 14

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 6 tiết

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HỌC

DÂN GIAN TỈNH QUẢNG NAM

1.1 KHÁI NIỆM TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN

1.1.1 Khái niệm triết lý nhân sinh

“Triết lý nhân sinh” là nhân sinh quan được biểu hiện dưới dạng triết

lý Để làm rõ khái niệm triết lý nhân sinh, trước hết ta phải làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm triết lý và khái niệm nhân sinh quan

Thứ nhất, bàn về khái niệm triết lý, theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả

Lê Anh Xuân thì “triết có nghĩa là nguyên lý của vũ trụ và nhân sinh, lý là lý lẽ”[92, tr.503] Có thể hiểu triết lý là nguyên lý, lý lẽ của vũ trụ và cuộc sống Dưới góc nhìn này, triết lý là một dạng tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào sự nhận thức của con người dù con người có nhận thức được hay không

Ở tác phẩm Triết lý phát triển ở Việt Nam – Mấy vấn đề cốt yếu, tác giả

Phạm Xuân Nam cho rằng “Triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những công thức, những phương châm, những tư tưởng cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về những hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng ấy”[60, tr.31] Với cách lý giải này thì triết lý được hiểu là kết quả của sự chiêm nghiệm của con người về cuộc sống và triết lý góp phần định hướng cuộc sống con người Giáo sư Vũ Khiêu thì cho rằng: “Triết lý là triết học khiêm tốn nói về mình, triết lý không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan mà thể hiện ý nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người”[47, tr.3] Triết lý hiểu theo nghĩa mà giáo sư Vũ Khiêu đã nêu

Trang 16

nghĩa là triết học ở trình độ sơ khai Theo tác giả Nguyễn Tất Thịnh thì triết lý được hiểu: “Là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận điều gì là nguồn cội tâm thế, giá trị tinh thần, sức mạnh ứng xử được phát biểu ngắn gọn, súc tích – như một tín điều, làm kim chỉ nam cho cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân

hay một cộng đồng”[77, tr.242] Ở tác phẩm Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa, nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm 2000 giáo sư Hoàng

Trinh thì lại cho rằng “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày… Có những dân tộc có những triết lý từ lâu mặc dầu chưa có triết học với hệ thống các khái niệm của nó”[88, tr.8] Qua đó, có thể hiểu triết lý là ý tưởng cơ bản để con người có thể tìm hiểu về nguồn cội tự nhiên, xã hội và cả con người Đồng thời, triết lý trở thành phương châm sống cho con người Về mặt thời gian, giáo sư Hoàng Trinh chỉ ra rằng triết lý ra đời từ rất sớm và ra đời sớm hơn triết học Triết lý là sự thể hiện tư duy ở dạng sơ khai mà chưa hình thành nên một hệ thống lý luận chặt chẽ; còn triết học ra đời khi trình độ

tư duy khái quát của con người phát triển đến một mức độ nhất định và trở thành một hệ thống

Còn về mặt nội dung, triết học là hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò, vị trí của con người trong thế giới đó Triết học cung cấp thế giới quan và phương pháp luận cho các ngành khoa học khác Trong khi đó, triết lý phản ánh sự việc một cách tản mạn, riêng lẻ, chưa có tính khái quát, chưa có tính hệ thống lập luận rõ ràng, không thể hiện được những quy luật chung hoặc bản chất sâu xa của hiện tượng, quá trình “Nếu triết học ngả về phía bác học thì triết lý nghiêng về phía dân gian Nếu công

Trang 17

cụ của triết học là phạm trù, khái niệm thì công cụ của triết lý là những ẩn dụ, hình ảnh để nói lên tư tưởng Triết học thường gắn liền với tính chặt chẽ và đi liền với tính chặt chẽ này, nó thường khô khan, cứng nhắc, còn triết lý tỏ ra mềm dẻo hơn, sinh động hơn, phổ thông hơn, quần chúng hơn”[27, tr.405] Nếu triết học là lý luận (khách quan), thì triết lý chỉ là lý lẽ (chủ quan) do vậy tính đúng – sai có thể do mọi góc nhìn Nếu triết lý đúng và khoa học thì nó trở thành cơ sở lý luận khoa học cho một hệ thống quan điểm, học thuyết; nó làm công cụ lý thuyết cho hành động hiệu quả của con người Triết lý không phải là triết học nhưng triết lý lại có mối quan hệ mật thiết với triết học

Ở phương Tây thì triết lý và triết học dùng một từ chung là philosophy nhưng giải thích thành nhiều nghĩa: “1) yêu thích và theo đuổi nhằm đạt đến

sự khôn ngoan bằng những phương tiện tri thức và các quy tắc luân lý; 2) sự khám phá để hiểu biết thiên nhiên, tri thức, nguyên nhân của sự việc, các nguyên tắc của chân lý; 3) hệ thống quan niệm có được do sự nghiên cứu về nhận thức đem lại; 4) các nguyên tắc về logic học, đạo đức học, thẩm mỹ học, siêu hình học; 5) tập hợp các quan điểm hoặc lòng tin trong một lĩnh vực nhất định nào đó, ”[60, tr.20] Như vậy thì, ở phương Tây khái niệm triết lý và khái niệm triết học được gói gọn trong từ philosophy Trong cuốn đầu tiên của quyển Métaphysique, Aristote viết: “Triết lý là kiến thức suy lý về những nguyên lý và nguyên do đầu tiên”[29, tr.198]

Trên cơ sở các quan niệm trình bày ở trên, triết lý chính là sự phản ánh của con người trước những vấn đề của cuộc sống, là kết quả của sự đúc kết, tổng kết từ các hoạt động thực tiễn, từ những mối quan hệ đời sống hàng ngày

có tác dụng chỉ đạo, định hướng cho cách ứng xử, phương châm sống, suy nghĩ và hành động của con người trong một hoàn cảnh nhất định Có thể triết

lý không được trình bày dưới dạng một hình thức phổ biến là ngôn từ, mệnh

đề mà được toát ra từ ẩn ý hành vi của con người

Trang 18

Thứ hai, bàn về khái niệm nhân sinh quan Trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, vấn đề con người luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà triết học “Con người từ đâu sinh ra? Ý nghĩa cuộc sống con người là gì? Trong mỗi thời đại lịch sử, con người quan hệ với tự nhiên và với đồng loại như thế nào? Vì đây ở mỗi con người, ở mỗi cộng đồng người có những nét độc đáo về tư tưởng, tình cảm, tâm lý, tính cách, nghị lực, tài năng? Con người có thể làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình hay không? Con người phải làm gì để có cuộc sống xứng đáng với con người?”[36, tr.603] Đây cũng chính là nội dung cơ bản của nhân sinh quan – một nội dung cấu thành thế giới quan triết học Vì vậy nhân sinh quan gồm những quan niệm về cuộc sống của con người đề cập đến lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng Con người ở trong thế giới như thế nào, vai trò và vị trí của con người đối với thế giới ra sao?

Lê Kiến Cầu – học giả Trung Quốc cho rằng: “Nhân sinh không chỉ bao gồm cuộc sống của con người và sinh mệnh của con người mà gồm cả nhân tính nữa”[8, tr.5] Theo ông, nhân sinh được biểu hiện ở khía cạnh sau: Một là về mặt sinh mệnh của con người Đó chính là yếu tố cơ bản duy trì sự sinh tồn của con người

Hai là cuộc sống của con người Mục đích của cuộc sống không chỉ là làm tốt cho mình mà còn làm cho cả nhân loại sống tốt hơn Cuộc sống ở đây

là cuộc sống nội tâm và cuộc sống ngoại tâm, cũng có thể gọi là đời sống tinh thần và đời sống vật chất

Ba là, phương hướng của con người, hướng về một mục tiêu nhất định Theo lý luận, triết lý nhân sinh của một học thuyết tư tưởng đều xuất phát từ thế giới quan, do thế giới quan chi phối Mặt khác, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nhân sinh quan còn chịu sự chi phối của tồn tại xã hội

Trang 19

và các tác động của các hình thái ý thức xã hội khác Chúng ta có thế khái quát một vài quan niệm nhân sinh quan trong triết học Phật giáo, Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử và Trang Tử để tìm hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này

“Phật giáo đặc biệt chú trọng triết lý về nhân sinh Cũng như nhiều trường phái triết học – tôn giáo khác của Ấn Độ cổ đại, Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự giải thoát (Moska) khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại niết bàn (Nirvana) Tính quần chúng của luận điểm nhân sinh Phật giáo thể hiện ở chỗ nêu cao tinh thần “bình đẳng giác ngộ”, tức là quyền thực hiện sự giải thoát cho mọi chúng sinh”[36, tr.58] Để đạt được sự giải thoát, Phật giáo nêu ra bốn chân lý tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người phải thực hiện Đó là tứ diệu đế: Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế Phật giáo lấy việc giải thoát đau khổ làm trọng tâm tư tưởng trong giáo lý của mình Tinh thần triết lý nhân sinh mà Phật giáo đòi hỏi trách nhiệm về đạo đức làm người, không được làm ngơ trước nỗi khổ của người khác, phải toàn tâm toàn ý cứu khổ cho mọi người … Đó cũng là yêu cầu đối với chính mình, mình có thực hiện tốt thì mới hy vọng thoát khổ Phật giáo không lấy giáo lý làm trọng, mà chỉ coi đó là phương tiện để đạt đến chân lý cuối cùng Cái cốt của nó là sự thực hành của mỗi cá nhân đạt đến

sự giác ngộ, tu thành đạo quả, chứ không phải nghe giảng để hiểu đạo

Từ quan điểm nhân sinh quan phật giáo đối chiếu với nhân sinh quan trong triết học Mác – Lênin để thấy rằng triết học Mác – Lênin nghiên cứu vấn đề con người, lấy con người làm điểm xuất phát, đồng thời cũng là mục đích cuối cùng để phục vụ đời sống con người Con người trong triết học Mác – Lênin là con người hiện thực, sống trong một xã hội nhất định, với những quan hệ xã hội cụ thể Còn con người trong Phật giáo là con người nô lệ của các sở cầu tham vọng của mình Mặc dù vậy, nhân sinh

Trang 20

quan Phật giáo vẫn thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc – đó cũng là giá trị lớn nhất trong triết học Phật giáo

Theo quan điểm của Khổng tử, nhân sinh quan biểu hiện bởi chữ nhân Đối với người, nguyên tắc suốt đời của người có nhân phải theo là “thương yêu người khác” “Người nhân muốn tự lập lấy mình, thì phải lo lập cho người, muốn thành đạt cho mình thì cũng lo cho người thành đạt Người nhân ứng xử với mình như thế nào thì cũng ứng xử với người như thế”[10, tr.53] Chữ nhân được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người

và những quan hệ giữa người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội Người có đức nhân phải là người "trước làm điều khó, sau đó mới nghĩ tới thu hoạch kết quả" Theo Khổng Tử, người muốn đạt được đức nhân phải là người có trí và dũng Nhờ có trí, con người mới có sự sáng suốt minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xét đoán được sự việc, phân biệt được phải – trái, thiện – ác, để trau dồi đạo đức và hành động hợp thiên lý Người có dũng ở đây theo Khổng Tử không phải là kẻ ỷ vào sức mạnh, vì lợi mà suy nghĩ và hành động bất chấp đạo lý Người nhân có dũng phải là người có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao minh, có thể hành động một cách thanh cao khi vận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn nạn Người nhân có dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa Với Khổng Tử, đạo sống của con người là phải trung dung và trung thứ, nghĩa là sống đúng với mình

và sống phải với người, thương mình như thương người, việc gì mình không muốn chớ đem cho người, mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt Nếu Khổng Tử cho rằng chữ nhân là cái gốc đạo đức của con người, thì theo ông, để trở thành một con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác là phải hiểu biết mệnh trời để sống thuận mệnh Ông cho rằng không biết mệnh trời thì không lấy gì làm quân tử, nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sức mạnh vươn lên

Trang 21

ở trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần: Đạo người chưa biết thì làm sao biết được đạo quỷ thần Con người phải chú trọng vào sự nỗ lực học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó mới tại ý trời

Theo quan điểm của Lão Tử, con người do đạo tạo ra, được đức nuôi dưỡng, con người có bản tính tự nhiên là chất phác, nhu thuận Đối với người thì khiêm nhu, khiêm nhu theo quan điểm này không phải là hèn yếu, nhu nhược mà khiêm nhu được hiểu là thuận theo quy luật tự nhiên của đạo, thuận theo đạo, theo lý lẽ “nhược thắng cường, nhu thắng cương”, theo đó, nước là vật chất cực mềm, nhưng chế ngự được cái cực cứng là đá, vì nước chảy làm cho đá mòn

Mạnh Tử cũng trình bày quan niệm của ông về triết lý nhân sinh mà trọng tâm của nó là học thuyết tính thiện “Bản tính thiện của con người là do trời phú, theo Mạnh Tử là cái phần cao đại, tôn quý, là tính người bên cạnh cái phần nhỏ nhen, ti tiện, cái bản năng nhục dục tầm thường như cầm thú trong con người Bản tính con người ta là thiện, người ta có làm điều bất thiện chẳng qua là do bị vật dục xui khiến và hoàn cảnh tác động, do người ta không biết gìn giữ, nuôi dưỡng cái phần cao đại, tôn quý trong tâm mình, để cho cái thấp hèn, nhỏ nhen trong con người lấn át che lấp”[10, tr.182]

Theo Trang Tử, vạn vật đều do tự nhiên sinh ra và khuyên con người nên để cho vạn vật thuận theo tự nhiên, tức thuận theo bản tính của mỗi vật Đối với con người, Trang Tử chủ trương nên sống ung dung, tự tại, tinh thần thoải mái, không lo lắng, không tranh giành thắng thua, được mất, cứ thuận theo lẽ tự nhiên của sự vật Khi con người hòa đồng với vạn vật và vũ trụ thì vấn đề sống chết chẳng có ý nghĩa quan trọng gì nữa, nó trở nên nhỏ bé trước cái “vô vi” tự nhiên “Sống chết chẳng qua chỉ là hình thức của sự tồn tại này chuyển sang một tồn tại khác”[10, tr.150]

Trang 22

Từ những luận điểm ở trên ta có thể nhận thấy rằng điểm cốt lõi của khái niệm nhân sinh quan là quan niệm sống của con người trong xã hội

Theo từ điển Tiếng Việt thì nhân sinh quan là “quan niệm thành hệ thống về cuộc đời, về ý nghĩa, về mục đích cuộc sống của con người”[63, tr.711] Trong cuốn Hán Việt nhân sinh quan là “cái quan niệm của người ta đối với con người – cái cách người ta xem đời người ra thế nào”[1, tr.533] Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, với cái nhìn khác nhau tùy vào thế giới quan và lập trường giai cấp, vấn đề con người được các nhà tư tưởng lý giải theo đa chiều hướng Từ phương đông lẫn phương tây cùng chung một quan điểm đó là đề cập đến lẽ sống của con người và vị trí, giá trị của con người đối với thế giới đó

Theo Hồ Sĩ Quý thì nhân sinh quan “Là quan điểm sống, quan niệm sống, hệ thống các giá trị người và giá trị xã hội có ý nghĩa định hướng hành

vi, tức là những quan niệm gắn liền với cách sống, lối sống với hành vi và phẩm chất của hành vi với việc xác định ý nghĩa của cuộc sống và ý nghĩa của

sự làm người”[66, tr.8] Ở đây ta có thể hiểu đơn giản nhân sinh quan là hệ thống tổng quát những quan điểm, quan niệm của con người về lối sống, hành

vi và những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức của con người trong xã hội

Như vậy, từ những vấn đề về triết lý và nhân sinh quan, chúng ta hiểu

về triết lý nhân sinh như sau:

Theo nghĩa rộng, triết lý nhân sinh là gồm những quan niệm về cuộc sống của con người, đề cập đến lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng Con người ở trong thế giới như thế nào, vai trò và vị trí của con người đối với thế giới ra sao?

Theo nghĩa hẹp, triết lý nhân sinh là hệ thống những quan điểm của con người về bản thân, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mối quan hệ

Trang 23

giữa con người với con người trong xã hội Nội dung triết lý nhân sinh biểu hiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong một

xã hội cụ thể Trong xã hội, có quan điểm sống lạc quan, tích cực, tiến bộ nhưng cũng có quan điểm sống bi quan, tiêu cực Song nhìn chung, triết lý nhân sinh có tác dụng to lớn trong việc điều chỉnh hoạt động sống của con người, nó trở thành niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng và mục tiêu cho hoạt động thực tiễn

1.1.2 Khái niệm và đặc trưng của văn học dân gian

Đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện những khái niệm liên quan đến văn học dân gian như: Văn chương bình dân, văn học bình dân, văn chương đại chúng, văn học đại chúng, văn chương truyền khẩu, văn chương truyền miệng, văn học truyền miệng, sáng tác truyền miệng dân gian, sáng tác dân gian, văn nghệ dân gian…; và đến những năm 50 của thế kỉ XX thì văn học dân gian mới chính thức xuất hiện Thuật ngữ flolkore được xem là tương đương cho văn hóa dân gian, văn nghệ dân gian và văn học dân gian Thuật ngữ folklore do nhà nhân chủng học người Anh, ông William Thoms dùng trong bài báo đăng trên tờ Athenaeum, ngày 22/8/1846, với ý nghĩa là những

di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục, đạo đức, tín ngưỡng, những bài dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng Sau khi xuất hiện, thuật ngữ này được hiểu với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Văn hóa dân gian còn được gọi là trí khôn của nhân dân Đó là sự tổng hợp toàn bộ văn hóa tinh thần (gồm văn nghệ dân gian, lễ hội dân gian, tín ngưỡng dân gian ) và một số loại văn hóa vật chất của nhân dân Văn nghệ dân gian bao gồm những loại hình nghệ thuật dân gian thuộc tổng thể bức tranh văn hóa dân gian (gồm có điêu khắc dân gian, hội họa dân gian, mĩ thuật dân gian, âm nhạc dân gian, văn học dân gian ) Văn

Trang 24

học dân gian là một bộ phận của văn hoá dân gian, đây là sản phẩm tinh thần của người bình dân nảy sinh trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh chống lại thiên tai, đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về văn học dân gian như sau:

Theo tác giả Trần Tùng Chinh, văn học dân gian “trước hết, chúng ta

có thể định nghĩa theo kiểu chiết khái niệm Theo đó, "Văn học" chỉ bộ phận sáng tác nghệ thuật bằng chất liệu ngôn từ, còn "Dân gian" nêu ra mối quan

hệ giữa nghệ thuật ngôn từ với các loại hình nghệ thuật khác (Âm nhạc, vũ đạo, tạo hình, môi trường diễn xướng…) Và văn học dân gian dùng chỉ những thể loại sáng tác dân gian trong đó có thành phần nghệ thuật ngôn từ (tức phần “văn học” chiếm vị trí quan trọng hơn nhưng bao giờ nó cũng có mối quan hệ hữu cơ với các thành phần nghệ thuật và phi nghệ thuật khác)”[9, tr.3]

Theo giáo sư Đinh Gia Khánh “Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay”[45, tr.7]

Theo giáo sư Cao Huy Đỉnh “ Văn học dân gian là những sáng tác theo phương thức truyền miệng và tập thể của nhân dân lao động – chủ yếu là của nông dân trước khi xuất hiện nền văn học cách mạng của quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong của giai cấp vô sản, Đảng Cộng Sản Đông Dương”[18, tr.9]

Theo từ điển Wikipedia, “Văn học dân gian là những sáng tác văn học

do nhân dân tạo nên và lưu truyền Văn học dân gian cũng là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết, nhưng lại có những đặc điểm riêng

Trang 25

về lịch sử ra đời & phát triển, về người sáng tác, về cách thức sáng tác & lưu truyền, về nội dung tư tưởng & thể loại nghệ thuật”[94]

Như vậy, tuy có sự khác nhau về diễn đạt ngôn từ, nhưng nhìn chung những nhận định về văn học dân gian của các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở chỗ văn học dân gian là sáng tác của nhân dân và được truyền miệng trong dân gian Văn học dân gian gắn bó với mọi mặt sinh hoạt vật chất

và sinh hoạt tinh thần của nhân dân trong toàn bộ lịch sử và tiếng nói trực tiếp của nhân dân Có thể nói văn học dân gian chính là bộ “bách khoa toàn thư”

vĩ đại, là nơi kết tinh rực rỡ những tri thức, tài năng nghệ thuật, tư tưởng tình cảm của nhân dân Do vậy, đối với nhân dân ở tất cả các thời đại đã qua, văn học dân gian là nơi có thể tìm được những kinh nghiệm thực tiễn để vận dụng vào lao động, chinh phục thiên nhiên, vào đấu tranh xã hội, và cả những bài học đạo lý, những kinh nghiệm ứng xử, Không những thế, đối với thế hệ trẻ chúng ta ngày nay, văn học dân gian góp phần giúp chúng ta nhận thức một cách đúng đắn, toàn diện lịch sử của nhân dân ta, đất nước ta, dân tộc ta trong quá khứ để từ đó hiểu được nhân dân ta, dân tộc ta trong giai đoạn cách mạng hiện đại

Vì văn học dân gian là sáng tác tập thể của nhân dân lao động cho nên văn học dân gian gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của người dân lao động, là bức tranh toàn diện về cuộc sống lao động và đời sống tinh thần của người bình dân Để tìm hiểu rõ ràng hơn về sự phản ánh của văn học dân gian, chúng ta tìm hiểu một số đặc trưng cơ bản văn học dân gian Việt Nam như sau:

Thứ nhất, văn học dân gian mang tính tập thể

Tập thể ở đây là “tập thể nhân dân” Nhân dân là tác giả, nhân dân cũng

là người tiếp nhận, lưu truyền Nói chung, họ vừa là tác giả sáng tạo ra tác phẩm, họ vừa tiếp nhận, lưu truyền tác phẩm Vậy có thể hiểu rõ hơn về tính

Trang 26

tập thể rằng đó là sự gia công của nhiều người (đa phần là những người tài hoa trong dân gian, nhiều cá nhân sáng tạo tham gia vào quá trình sáng tạo tập thể), qua nhiều thế hệ khác nhau (đây cũng là phương thức sáng tác và lưu truyền tác phẩm) Sáng tác ấy, sau đó trở thành tài sản chung của tập thể bởi phù hợp với tâm lý tập thể Tính tập thể còn được hiểu ở phương diện thẩm

mỹ Đối tượng của những sáng tác văn học dân gian là toàn bộ những gì liên quan đến cộng đồng tập thể Và vì thế, văn học dân gian rất coi trọng tâm lý tập thể Cơ sở của tâm lý tập thể là tính tập thể của những hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội của con người trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử nhân loại

Thứ hai, văn học dân gian mang tính đa chức năng

Tính đa chức năng thể hiện các chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ và chức năng sinh hoạt Trong đó chức năng sinh hoạt có một giá trị đặc biệt và độc đáo, thể hiện rõ khi tác phẩm được sử dụng Bởi văn học dân gian phát sinh, tồn tại và lưu truyền đều gắn liền với mọi hoạt động của đời sống nhân dân (lao động sản xuất, chiến đấu, nghi lễ, phong tục, sinh hoạt gia đình, xã hội, vui chơi giải trí…) Văn học dân gian nảy sinh trực tiếp từ trong quá trình lao động, được hát lên trong quá trình lao động và có tác dụng tích cực đối với quá trình lao động đó Những hình thức sinh hoạt này gắn liền với đời sống thực tiễn của nhân dân, đem đến một thế giới quan sinh động làm cho đời sống tinh thần của nhân dân thêm phong phú

và đa dạng

Thứ ba, văn học dân gian mang tính nguyên hợp

“Nguyên” là khởi nguồn, “hợp” là kết hợp, “nguyên hợp” là sự kết hợp ngay từ lúc khởi nguồn, lúc tác phẩm bắt đầu được sinh ra Tính nguyên hợp chi phối tất cả các thành phần nghệ thuật, các yếu tố chất liệu tạo nên bản thân

nó như ngôn từ, nhạc, vũ, động tác, nghệ thuật tạo hình Vì vậy, phải quan

Trang 27

sát đời sống hiện thực của tác phẩm văn học dân gian qua việc sử dụng, lưu truyền và biểu diễn của nhân dân mới dễ dàng nhận rõ tính nguyên hợp (hơn

là văn bản được sưu tầm) Bởi văn học dân gian vốn là nghệ thuật tổng hợp những kinh nghiệm sống đầy đủ, tự nhiên và mạnh mẽ trong môi trường phù hợp với chức năng của nó Trong một tác phẩm văn học dân gian, tính nguyên hợp thể hiện ở hai phương diện Một là nội dung, tính nguyên hợp biểu hiện thông qua hình tượng và thái độ của nhân dân đối với hiện thực được phản ánh Đó còn là tính đa chức năng của tác phẩm Hai là về hình thức, tính nguyên hợp thể hiện ở sự kết hợp giữa ngôn từ với các loại hình nghệ thuật khác như nhạc, vũ, động tác, hóa trang…mà trong sự kết hợp ấy ngôn từ đóng vai trò chủ yếu

Thứ tư, văn học dân gian mang tính truyền miệng

Trong buổi đầu của lịch sử khi con người chưa có chữ viết thì phương thức sáng tác và truyền bá của văn học dân gian trong quần chúng nhân dân lao động là phương thức truyền miệng Trong điều kiện xã hội không giai cấp trong đó quần chúng nhân dân lao động nắm được cả tư liệu sản xuất vật chất,

cả những tư liệu sản xuất tinh thần và không bị hạn chế trong bất cứ lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật nào Ngôn ngữ truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung, ý nghĩa và thế giới nghệ thuật của một tác phẩm văn học dân gian nhằm phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống Mặt khác, khi chưa có chữ viết, truyền miệng là phương thức duy nhất để nhân dân tạo nên tác phẩm văn học dân gian Song khi chữ viết đã hình thành thì nhân dân vẫn sử dụng phương thức truyền miệng là chủ yếu trong sáng tác, diễn xướng

và truyền bá văn học dân gian Cho nên phương thức truyền miệng, con đường ứng khẩu, con đường ứng tác phục vụ đắc lực và làm thỏa mãn nhu cầu giao lưu tình cảm trực tiếp bằng phương tiện nghệ thuật và nhu cầu được sáng tác, ứng đối tại chỗ của nhân dân Như vậy, ứng tác là một hình thức đặc

Trang 28

biệt của sự sáng tạo trong nghệ thuật Tác phẩm hình thành bằng con đường ứng tác là một tác phẩm được xây dựng một cách chớp nhoáng và không có

sự chuẩn bị từ trước, về một đề tài cho sẵn hoặc về một sự kiện vừa mới xuất hiện trong đời sống Người có tài ứng tác dễ dàng là người có một cái vốn tích lũy dồi dào những điều quan sát về cuộc sống, nắm vững và sử dụng thành thạo kỹ thuật sáng tác và sắc sảo trong việc nắm bắt thực tại Tính truyền miệng đã tạo nên khả năng vô hạn cho sự phản ánh những cảm xúc thẩm mỹ trong tư tưởng con người, là phương thức sáng tạo của hoạt động nghệ thuật không chuyên Chính vì thế bằng con đường cửa miệng, ứng khẩu và nhập tâm nên văn học dân gian đã đến với con người một cách tự nhiên nhất, nó bày tỏ mọi tâm tư, tình cảm một cách chân thực xuất phát từ tâm của mỗi người

Ngoài các đặc trưng trên, văn học dân gian còn có những thuộc tính khác như tính dị bản, tính truyền thống, tính vô danh, tính quốc tế, tính dân tộc, tính địa phương…

Vì văn học dân gian là sáng tác một cách tự nhiên và tự phát của quần chúng nhân dân cho nên việc hệ thống các thể loại văn học dân gian chưa nhất quán và khái quát Trong một số các công trình nghiên cứu về văn học dân gian, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau Tác giả chọn một trong số các sự phân loại về văn học dân gian như sau

+ Loại tự sự:

Văn xuôi tự sự bao gồm các thể loại như: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn

Thơ ca tự sự bao gồm: sử thi, các loại vè, truyện thơ

Câu nói vần bao gồm: tục ngữ, ca dao, câu đố, câu phù chú

+ Loại trữ tình:

Thơ ca trữ tình nghi lễ bao gồm: Bài ca nghi lễ lao động, bài ca nghi lễ sinh hoạt, bài ca nghi lễ tế thần

Trang 29

Thơ ca trữ tình phi nghi lễ bao gồm: Bài ca lao động, Bài ca từ sinh hoạt, Bài ca từ giao duyên

và ngược lại ý thức xã hội phản ánh lại tồn tại xã hội Hay có thể nói rằng văn học dân gian ra đời trên cơ sở của một lực lượng sản xuất phát triển nhất định

và một quan hệ sản xuất tương ứng với lực lượng sản xuất ấy Mặt khác văn học dân gian nảy sinh và phát triển trên cơ sở những cảm xúc thẩm mỹ của con người ở các thời đại lịch sử khác nhau Nghĩa là khi mà những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người đã vượt quá giới hạn của sự kiếm sống thuần túy, tức là khi cảm xúc thẩm mỹ không bị lệ thuộc vào những nhu cầu thực tiễn nữa, thì văn học dân gian được nảy sinh trước hết là từ những hoạt động thực tiễn, mà đặc biệt là thực tiễn sản xuất vật chất Chính điều đó giúp văn học dân gian đáp ứng một trong những nhu cầu tinh thần của những con người sáng tạo ra giá trị vật chất, nhu cầu trực tiếp khái quát những kinh nghiệm lao động và thực tiễn xã hội, trực tiếp biểu hiện thế giới quan, nhân sinh quan của chính mình Có thể gọi văn học dân gian như một bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống của nhân dân lao động được ghi lại bằng phương thức nghệ thuật độc đáo

Trang 30

1.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN TỈNH QUẢNG NAM

1.2.1 Điều kiện địa lý – tự nhiên hình thành triết lý nhân sinh

Điều kiện địa lý – tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tính cách và lối sống của con người Quảng Nam, đến quá trình hình thành và phát triển văn học dân gian Quảng Nam Trong quá trình sinh sống, đấu tranh với thiên nhiên, người dân Quảng Nam đã đúc kết những kinh nghiệm quý báu dần dần trở thành triết lý sống qua từng thế hệ, giúp họ vươn lên hòa mình với thiên nhiên

Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, kéo dài

từ Nam đèo Hải Vân đến núi Phong (Quảng Ngãi), nằm giữa trung độ của cả nước Phía bắc Quảng Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp nước Lào, phía nam giáp Quảng Ngãi, phía đông giáp biển Đông, ngoài khơi có đảo Cù Lao Chàm với ngư trường rộng lớn Đặc trưng

cơ bản về địa hình, địa thế của tỉnh Quảng Nam là có hình dạng tựa như một mái nhà, thấp dần từ Tây sang Đông, được hình thành bởi hệ đỉnh núi cao theo hai hướng Tây Bắc và Tây Nam, với mức độ chia cắt địa hình rất lớn Về

cơ bản, địa hình Quảng Nam chia làm ba vùng: Đồng bằng ven biển, Trung

du và Miền núi Trước mặt là biển cả bao la, với một dải cát kéo dài bọc lấy bên trong là đồng bằng duyên hải không lấy gì là rộng lớn Sau lưng là dãy Trường Sơn, núi non trùng điệp án ngữ biên giới Việt – Lào Chính đặc điểm này đã chia cắt vùng đất và tạo thành nhiều mảnh bởi những con sông lớn như: Vu Gia, Thu Bồn, Ly Ly, Trường Giang…làm cho địa hình trở nên cách trở, sự giao lưu giữa các huyện với trung tâm tỉnh và giữa các huyện miền núi với nhau gặp nhiều khó khăn Ai nghe đến địa danh Quảng Nam cũng phải thốt lên rằng:

Trang 31

“Dậm chưng xuống đất kêu trời, Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra”[68, tr.202]

Ở Quảng Nam chế độ nhiệt đới gió mùa bị chi phối bởi dãy Trường Sơn Nhiệt độ trung bình là 25,9 độ Vào đầu mùa đông, gió mùa đến từ phía Đông, thường đem lại mưa vừa hoặc mưa to từ tháng 11 đến hết mùa đông, có khi kéo dài đến tháng 3 năm sau, nhiều đợt gió từ hướng Đông Bắc thổi về, mang theo hơi lạnh Trong mùa hè, luồng không khí Tây Nam đem lại hơi khô nóng, nhiệt độ lên cao Mùa đông thì lượng mưa rất nhiều gây lũ lụt làm thiệt hại đến mùa màng và cuộc sống người dân xứ Quảng Tóm lại, khí hậu nơi đây tương đối khắc nghiệt với hai mùa mưa nắng rõ ràng, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Lào gây ra hạn hán kéo dài; mùa mưa thì gây lũ lụt triền miên đã đè nặng lên đôi vai của người dân Quảng Nam

Cùng với bao vùng miền khác của đất nước, Quảng Nam có nhiều nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng Phải kể đến như tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên biển, tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản…

Dọc duyên hải là những cồn cát, bãi cát trắng; phía bên trong những dải cồn này bao giờ cũng có những đầm hồ dài và hẹp Tỉnh Quảng Nam là tỉnh duy nhất ở miền Trung có thể đi thuyền từ địa đầu phía bắc tỉnh đến phía nam tỉnh bằng con đường nước nội địa, qua các con sông Vĩnh Điện, Thu Bồn, Trường Giang Mặc dù là vùng đất cát, nhưng chính nhờ các sông này hàng năm bồi đắp nên tạo thành những đồng ruộng phì nhiêu thuận lợi cho việc canh tác, trồng trọt, nhất là trồng lúa, trồng dâu, tạo dựng nên được những làng mạc khá sầm uất Quảng Nam có một hệ thống sông ngòi dày đặc, tạo thành mạng lưới giao thông thủy nội địa rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Các con sông nối liền hai miền ngược xuôi, kết thành mạng lưới giao

Trang 32

thông thủy nội địa chằng chịt Dọc theo các con sông ấy đã hình thành nên các chợ, các bến thuyền và các làng mạc trù phú

Biển và rừng không chỉ cung cấp cho Quảng Nam những thực phẩm, những khoáng sản trong lòng biển mà còn hòa nhập với cảnh quan thiên nhiên, cung cấp một bầu không khí ấm áp, điều hòa khí hậu môi trường trên một vùng đất có nhiều biến động rất khắc nghiệt này Tài nguyên khoáng sản

ở Quảng Nam cũng vô cùng phong phú với mỏ vàng ở Bồng Miêu, than đá ở Nông Sơn…

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên ở Quảng Nam xen kẽ giữa mặt thuận lợi và mặt khó khăn Bởi thế, để sinh tồn và phát triển, người dân xứ Quảng ngoài việc phát huy mặt thuận lợi được thiên nhiên ban tặng, song song với

đó họ phải có một ý chí và nghị lực phi thường để cải tạo thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên Và cũng chính điều ấy đã tôi rèn, hình thành, quy định nên tính cách của người dân xứ Quảng Tất cả được thể hiện một cách sinh động

và sâu sắc trong văn học dân gian

1.2.2 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành triết lý nhân sinh

Quảng Nam – Với ý nghĩa là vùng đất rộng lớn về phương Nam, Quảng có nghĩa là mở rộng, Nam là hướng Nam, đi về phương Nam Đó là một sự lựa chọn có tính chiến lược, quyết định vận mệnh sống còn của đất nước trên một vị trí địa lý một bên là núi non hiểm trở, một bên là biển rộng mênh mông Quảng Nam xưa kia là vùng đất của vương quốc Chăm Pa Chúng ta từng được biết đến khu tháp Chăm ở Mỹ Sơn, Đồng Dương hoặc kinh đô Trà Kiệu như là những chứng tích, những di tích, thành tựu văn hóa trong thời kì phát triển rực rỡ nhất của vương quốc Chăm Pa Vương quốc Chăm Pa có hai thời kì cực thịnh với những cung điện, đền đài, thành quách rất uy nguy, tráng lệ được xây dựng từ thế kỷ I đến thế kỷ IX Một trong những sự kiện lịch sử dẫn đến sự hình thành vùng đất Quảng Nam diễn ra ở

Trang 33

thế kỷ XIV đó là cuộc hôn nhân Chiêm – Việt giữa vua Chế Mân và công chúa Huyền Trân dưới đời Trần Anh Tông, hiệu Cảnh Đức (1306) đã đem lại cho Đại Việt Châu Ô và Châu Rí Năm 1307, sau nghi lễ tiễn đưa Công Chúa Huyền Trân về Chiêm Quốc, vua Trần Nhân Tông tiếp thu hai châu Ô và Rí,

di dân khẩn hoang và đổi tên là Thuận Châu (bắc Hải Vân quan) và Hóa Châu (nam Hải Vân quan) Dân Chiêm Thành bỏ đất lui về phía Nam

Năm 1402, sau khi chiếm ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly chia Hóa châu, gồm đất Chiêm Ðộng, Cổ Lũy, lập thành 4 châu là Thăng Châu (Thăng Bình

và phía Bắc), Hóa Châu, Tư Châu và Nghi Châu (Quảng Ngãi và phía Nam),

di dân canh tác và đặt quan An Phủ Sứ cai trị Dân Chiêm Thành lại bỏ đất lui dần về phía Nam

Năm 1470, Hồng Ðức nguyên niên, Vua Lê Thánh Tông sau trận đại thắng bắt được Vua Chiêm Thành là Trà Toàn, triệt để khai thác sự chia rẽ của hoàng tộc Chiêm Thành, chia Chiêm Thành ra làm ba nước nhỏ, phong ba vua: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, chủ đích làm suy yếu đối phương Lại lấy Hóa Châu gồm đất Chiêm Ðộng, Ðồ Bàn, Ðại Chiêm và Cổ Lũy lập thành đạo Quảng Nam (địa danh Quảng Nam bắt đầu xuất hiện trên lịch sử Việt Nam từ đây) Ðạo Quảng Nam gồm có 3 phủ và 9 huyện (tiền thân của Nam, Ngải, Bình, Phú sau này) và đặt quan cai trị Khoảng thời gian này đã chứng kiến quá trình di cư với số lượng lớn, đồng thời cũng đánh dấu bước phát triển của văn hóa Quảng Nam

Năm 1570, Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Ðạo Quảng Nam, truyền nối con cháu (Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu, ) lấn dần vào Nam, xâm chiếm trọn vẹn nước Chiêm Thành, lập phủ Diên Khánh (Khánh Hoà), phủ Bình Thuận, huyện Yên Phúc và huyện Hòa Ða (Bình Thuận)

Năm 1744, Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, sau khi chiếm được

Hà Tiên, Rạch Giá, chia nước ra làm 12 dinh: Chính dinh (Thừa Thiên), Cựu

Trang 34

dinh (Ái Tử), Quảng Bình dinh, Vũ Xá dinh, Bố Chính dinh, Quảng Nam dinh (Quảng Ngãi phủ và Qui Nhơn phủ), Phú Yên dinh, Bình Khang dinh, Bình Thuận dinh (đất Chiêm Thành), Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh, Long

Hồ dinh (đất Chân Lạp) Ðồng thờì lấy Hội An làm cửa biển duy nhất buôn bán với nước ngoài, nên người ngoại quốc thường gọi là Quảng Nam Quốc

Năm 1806 Vua Gia Long, sau khi thống nhất được đất nước, chia nước ra làm 23 trấn Bắc Thành có 11 trấn, Gia Ðịnh thành có 5 trấn, miền trung có 7 trấn, trong đó có Quảng Ngãi trấn, Bình Ðịnh trấn và Phú Yên trấn;

và 4 doanh, thuộc đất kinh kỳ: Trực Lệ, Quảng Ðức doanh (Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh và Quảng Nam doanh Như thế Ðạo Quảng Nam hay Quảng Nam doanh bắt đầu từ đây chính thức chia thành 3 trấn: Quảng Ngãi trấn, Bình Ðịnh trấn, Phú Yên trấn và 1 doanh là Quảng Nam doanh

Năm 1831,Vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh và đặt chức Tổng Ðốc, Tuần Phủ, Bố Chánh Sứ, Án Sát, Lãnh Binh trông coi việc cai trị

Và địa danh tỉnh Quảng Nam có từ đây

Năm 1962 Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Ngô Ðình Diệm chia tỉnh Quảng Nam ra thành thị xã Ðà Nẵng và 2 tỉnh : Quảng Nam (phía Bắc) gồm các quận Hòa Vang, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Ðõi Lộc, Quế Sơn, Hiếu Ðức, Thường Ðức, Ðức Dục va Hiếu Nhơn (gồm thị xã Hội An) và Quảng Tín (phía Nam) gồm các Quận Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Ðức, Hiệp Ðức, Lý Tín và Tam Kỳ (gồm cả thị xã Tam Kỳ)

Năm 1975, sau khi hòa bình thống nhất đất nước, lại sáp nhập 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Thành Phố Ðà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, gồm có 12 huyện là Hòa Vang, Ðiên Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Hiên Giằng, Phước Sơn, Trà My và thành phố Ðà Nẵng

Trang 35

Năm 1996 Chính phủ tách thành phố Ðà Nẵng ra thành một đơn vị hành chánh độc lập Vùng còn lại thành tỉnh Quảng Nam, gồm có hai thị xã Tam Kỳ và Hội An, 6 huyện vùng đồng bằng là Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành, Ðại Lộc, Quế Sơn, 6 huyện vùng sơn cước là Trà My, Tiên Phước, Hiệp Ðức, Hiên, Giằng, Phước Sơn Tòa hành chính (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh) được đặt tại thị xã Tam Kỳ

Như vậy, với quá trình lịch sử hình thành nên vùng đất Quảng Nam là những cuộc di dân, những cuộc nam tiến đến với vùng đất này Về đại thể chúng ta có thể thấy những đợt di cư lớn đến Quảng Nam của người Việt như sau:

- Đợt di dân theo Huyền Trân công chúa

- Đợt di dân theo cuộc viễn chinh của vua Lê Thánh Tông

- Đợt di dân từ miền Bắc vào khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận Quảng

- Đợt di dân từ Quy Nhơn, từ miền Nam ra dưới thời Nguyễn Huệ và thời kì đầu vương triều Nguyễn

- Đợt di dân từ Bắc vào trong những năm 1954 – 1955

- Đợt di dân từ Huế vào trong thập kỷ 60 và sau ngày giải phóng

1975

Quá trình cộng cư của người Việt trên đất Quảng là một quá trình liên tục, lâu dài Quê hương, bản quán của những người Việt này có thể từ nhiều vùng khác nhau ở Bắc Bộ nhưng số đông là cư dân Thanh – Nghệ – Tĩnh Khi đến đất Quảng làm ăn sinh sống họ cũng có những hoàn cảnh, những thân phận không hoàn toàn giống nhau Có thể họ di cư đến đây một cách tự nguyện, nhưng cũng có thể do lưu đày bắt buộc, có người vì chút phiêu lưu mạo hiểm, rời bỏ quê cũ để đi tìm một vận may mới ở vùng đất mới Song, dù xuất phát từ động cơ nào đi nữa thì họ đều mong muốn được an cư lạc nghiệp

Trang 36

nơi đây Vì thế khi đến với vùng đất này, những người Việt này mang theo tên đất, tên làng cùng truyền thống văn hóa nới chôn nhau cắt rốn của họ Nhưng đây chưa phải là tất cả, nếu không kể đến người Chăm Pa vẫn còn, dù vương quốc Chăm Pa lụi tàn, hay người Trung Hoa di cư vào thời Minh (hình thành nên những làng Minh Hương ở Hội An và Tam Kỳ), người Nhật đến buôn bán ở Hội An và cả những tộc người nói ngôn ngữ Môn – Khơme ở vùng núi phía tây Quảng Nam Rõ ràng những con người đến với vùng đất này là những người tứ xứ, không cùng làng, cùng xã, không họ hàng, không sắc tộc nhưng họ cùng chung một con đường là tụ tập về nơi đây để an cư lạc nghiệp Hoàn cảnh đã đưa họ tìm đến vùng đất mới để sinh sống, gặp những người cùng cảnh ngộ những con người này lại càng yêu thương nhau, đùm bọc giúp

đỡ nhau để xây dựng cuộc sống Các tiên dân tỉnh Quảng Nam đông đảo là những người nông dân thuần hậu, cần cù, có chí lớn để ra đi thay đổi cuộc sống, họ là những người lính từng vào sinh ra tử ở chiến trường có ý thức bảo

vệ đất nước, họ là những người xuất thân từ vùng đất hiếu học và còn có những người nước ngoài vào làm ăn sinh sống Để chống chọi với tự nhiên và

cơ bản là để tồn tại ở mảnh đất này, những con người này trở nên gần gũi với nhau, đoàn kết thương yêu nhau để cùng chung sức khai hoang vùng đất nơi đây Trong tính cách của người Quảng Nam vẫn ẩn chứa tính cách của những người đi mở đất thuở trước Có thể nói ở họ đậm đặc nhất là cốt cách tinh thần của người dân xứ Nghệ, xứ Thanh: ham học hỏi, dũng cảm, thẳng thắn, cương trực, chăm chỉ, siêng năng Những tính cách ấy chính là cá tính địa phương của người Quảng Nam Một cung cách thể hiện cá tính mạnh mẽ, không rào đón, không che đậy, có một phần thô vụng, nghiêng về tranh cãi sôi nổi, lý sự gay gắt có vẻ nặng về phần lý hơn phần tình

Về điều kiện kinh tế - xã hội, ở Quảng Nam nền kinh tế nông nghiệp truyền thống đã hình thành và phát triển từ thời xa xưa, cùng với lịch sử dựng

Trang 37

nước và giữ nước của dân tộc Nó gắn liền với quá trình khai hoang lập ấp, phát triển sản xuất, mở mang văn hóa xã hội và đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên của các cộng đồng dân cư Trong suốt quá trình phát triển lâu dài ấy, tính cộng đồng luôn được bảo lưu và duy trì mạnh mẽ, trở thành những đặc trưng cơ bản, có tính phổ quát và bao trùm trong sản xuất và đời sống xã hội ở nông thôn Và vùng đất Quảng Nam không phải là một ngoại lệ

Nền kinh tế truyền thống là nền kinh tế trọng nông và tự cung, tự cấp Hầu như ở các làng đều có các hoạt động sản xuất tương tự giống nhau, bao gồm các hoạt động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp…trong cấu trúc kinh tế ấy, nông nghiệp là hoạt động căn bản và là nghề nuôi sống chính bản thân con người nơi đây Ở đây, nông nghiệp vừa là tất yếu sinh tồn, nhưng cũng là ước mơ, khát vọng về sự giàu có, sung túc và thịnh vượng của dân cư Đất đai, ruộng vườn, lúa gạo hay trâu bò được coi là thước đo về sự giàu có, sung túc Và từ đó tư tưởng dĩ nông vi bản đã trở thành ý thức hệ phổ biến, kể cả đối với tầng lớp quan lại phong kiến cũng như đối với người nông dân và các tầng lớp dân cư khác Người Việt khi đặt chân lên vùng đất này chịu ảnh hưởng rõ rệt từ nền văn hóa Chăm Pa, văn hóa Sa Huỳnh với nghề trồng lúa nước, dâu tằm, bông, hoa màu, nghề rừng, khai thác lâm thổ sản, gỗ quý như trầm hương, quế, nghề biển, nghề thủ công, nghề buôn bán đường biển, đường sông…; người Việt học tập kinh nghiệm người Chăm từ kỹ thuật canh tác trên đất khô, các giống lúa mới, kỹ thuật đắp đập lớn và tưới ruộng bằng hệ thống bờ xe nước quy mô, kỹ thuật tưới nước mội và kinh nghiệm tài tình về việc tìm mạch nước ngầm và thiết lập hệ thống giếng nước ven các chân đồi…Tất cả những tiếp thu mới mẻ đó về công cụ và kinh nghiệm sản xuất chắc chắn đã thúc đẩy sản xuất của người Việt trên vùng đất mới phát triển đáng kể Tuy nhiên ở vùng đất này, người Việt phải chống chọi với thời tiết khác thường và thiên tai ác liệt cho nên phần lớn các hoạt động sản xuất

Trang 38

và sinh hoạt của dân cư lệ thuộc vào rất nhiều các yếu tố và các điều kiện tự nhiên Vì vậy, quan niệm sống của người Quảng Nam luôn mang tâm lý hai mặt: một là vừa cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận cái mới lạ nhưng cũng vừa chặt chẽ, khép kín, ghì giữ, bảo thủ Cởi mở ở chỗ chính mối quan hệ mật thiết với

tự nhiên tạo ra những con người, các cộng đồng dân cư và xã hội nông nghiệp truyền thống những tình cảm sâu đậm, gắn bó với thiên nhiên Trong mối quan hệ triết lý giữa tự nhiên với con người thì trời và đất luôn được coi là yếu tố chi phối đến con người

“Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm, Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng"

Để yên tâm lao động sản xuất, người nông dân đặt niềm tin của mình vào các thế lực siêu nhiên vì thế thiên nhiên trở thành một phần trong đời sống của văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng, tình cảm của con người Nhiều yếu tố

và hiện tượng tự nhiên được sùng bái và trở thành tín ngưỡng như thần sấm, thần mưa, thần sông, thần núi… Và các lễ hội mang đậm sắc thái văn hóa của người dân nơi đây như lễ hội cầu mưa, cầu bông, lễ đua ghe, lễ cúng cơm mới…sự gắn bó mật thiết với tự nhiên, tôn trọng tự nhiên, vừa đấu tranh với

tự nhiên vừa hài hòa với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển – Đó là một trong những triết lý cho sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế nông nghiệp truyền thống

Nhưng cũng chính điều kiện tự nhiên khắc nghiệt này khiến con người nơi đây trở nên khép kín, chặt chẽ hơn so với các vùng miền khác của cả nước Trước hết là tư duy tự túc, quan niệm sống an toàn, thà nghèo nhưng vững chắc Người nông dân ở đây tự sản xuất, tự chế biến, tự tiêu thụ Có được đồng tiền nào cũng gói chặt, giấu kín trong hòm, không dám, thậm chí

Trang 39

không hề nghĩ hay biết đến chuyện quay vòng Họ cặm cụi lao động, nhịn ăn nhịn mặc, tằn tiện tích lũy Sống là suy nghĩ cho tương lai lâu dài, có cái ăn cái mặc, có của để dành, dự trữ vì người nông dân luôn lo sợ đến thiên tai, hạn hán, lũ lụt Tuy nhiên trên phương diện sản xuất, quan niệm sống khép kín, chặt chẽ này luôn ức chế tiêu dùng, thu hẹp tiêu dùng tới mức tối thiếu và hạn chế sự phát triển chung của xã hội Mặc khác, sự tiết kiệm ấy không dẫn tới quá trình tích lũy sản xuất, thay đổi kỹ thuật hay tái đầu tư mở rộng sản xuất mà trái lại sự tích cóp ấy chuyển sang các lĩnh vực ngoài sản xuất như

ma chay, đám đình, giỗ, tết…Trong đó, không ít tập quán tiêu dùng nói trên trở thành hũ tục tốn kém

Quảng Nam là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi cho nền kinh

tế thương nghiệp phát triển Ngay từ thời các chúa Nguyễn, Hội An trở thành thương cảng nhộn nhịp và là lần đầu tiên trong xã hội Việt Nam xuất hiện phương thức chưa từng có: Đó là người dân Hội An sống chủ yếu bằng dịch

vụ Ở nông thôn, tức vùng hậu phương của thị cảng sầm uất Hội An, đã hình thành các mạng lưới chợ dọc ngang, gồm chợ làng, chợ tổng, chợ huyện, chợ đầu mối… và đặc biệt là các đầu nguồn, như các nguồn Thu Bồn, Vu Gia, Lỗ Đông, Trà Nô, Việt An, Chiên Đàn, Tiên Phước, Trà Mi…nổi tiếng gần xa Kinh tế thương nghiệp ở Quảng Nam là kinh tế thương nghiệp mở, chính kinh

tế thương nghiệp đã nối liền các vùng miền lại với nhau, làm cho từng vùng miền phát huy hết thế mạnh của mình Xứ Quảng, với chợ phiên quốc tế Hội

An đã thật sự là trung tâm hội tụ kinh tế của cả Đàng Trong thời bấy giờ, có quan hệ phát triển lưu thông kinh tế với cả khu vực bấy giờ có tên gọi chung

là Quảng Nam thừa tuyên và thậm chí có thế rộng hơn nữa (Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Tây Nguyên…) Kinh tế thương nghiệp tạo điều kiện cho con người Đàng Trong tiếp nhận những yếu tố văn hóa – kỹ thuật nước ngoài, vận dụng chúng vào hoạt động thực tiễn của mình, làm giàu thêm kho tàng kinh

Trang 40

nghiệm dựng nước và giữ nước của dân tộc Đáng chú ý, với một mô hình kinh tế thương nghiệp năng động và cởi mở đã chuyển biến về mặt tính cách cũng như quan niệm sống của người dân nơi đây Con người đã từng bước thoát khỏi tư duy nông nghiệp truyền thống, quan tâm đến thương nghiệp và dịch vụ Quan niệm dĩ nông vi bản ít nhiều đã bị đẩy lùi, quan niệm phi thương bất phú được khẳng định

Như vậy, với điều kiện lịch sử - xã hội của vùng đất Quảng Nam, đặc biệt là lịch sử quá trình cộng cư đã hình thành nên quan niệm sống của người dân nơi đây Quan niệm sống phiêu bạc, một tính cách mở, một tư tưởng ưa khám phá, thích hướng ngoại và tiềm ẩn bên trong những con người năng động ấy là một bản lĩnh vững vàng, kiên định, một nghị lực bền bỉ, một ý chí mạnh mẽ với tinh thần luôn xả thân của người dân Quảng Nam Ngoài những tính cách được bộc lộ ở trên, người Quảng Nam thể hiện quan niệm sống vừa cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận cái mới lạ, vừa chặt chẽ, ghì giữ và bảo thủ Điều này văn học dân gian xứ Quảng sẽ là minh chứng xác thực về đời sống tinh thần được phản ánh từ đời sống hiện thực của người dân nơi này Cho nên khi nghiên cứu về quan niệm sống của người dân Quảng Nam, chúng ta không phải xuất phát từ những điều con người nói, con người tưởng tượng, con người hình dung mà chúng ta xuất phát từ đời sống hiện thực đầy sinh động của con người

1.2.3 Điều kiện văn hóa hình thành triết lý nhân sinh

Văn hóa đặc trưng của người Quảng Nam là văn hóa làng Làng là một cộng đồng về văn hóa, xã hội với các thiết chế, phong tục, tập quán chặt chẽ, các giá trị và chuẩn mực chung về sinh hoạt, lối sống, tâm lý, tư tưởng, đạo đức, phương thức ứng xử trong gia đình, cộng đồng cũng như phương thức ứng xử với tự nhiên, môi trường sinh sống…Đồng thời, làng là nơi lưu giữ những tập tục và bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nên những sắc thái văn hóa

Ngày đăng: 25/04/2021, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w