1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao nam bộ

165 109 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu vấn đề trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ tình yêu đôi lứa sẽ góp phần vào việc làm rõ những phương thức thể hiện tình cảm trong ca dao Nam Bộ, những nét tinh tế, đặc sắc trong cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2013

TRƯỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG CA DAO NAM BỘ

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Đỗ Thị Diệu Hiền

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 5

1.1 Tổng quan về ca dao và ca dao Nam Bộ 5

1.2 Trường từ vựng – ngữ nghĩa 16

CHƯƠNG 2 CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG CA DAO NAM BỘ 23

2.1 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô 23

2.2 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ dùng làm biểu tượng chỉ tình yêu đôi lứa 37

2.3 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái của tình cảm, cảm xúc 59

2.4 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, sắc thái của tình yêu 69

CHƯƠNG 3 SO SÁNH TRƯỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG CA DAO NAM BỘ VỚI CA DAO BẮC BỘ 72

3.1.Về trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô 72

3.2.Về trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ dùng làm biểu tượng chỉ tình yêu đôi lứa 76

3.3 Về trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái của tình cảm, cảm xúc 84

Trang 3

của tình yêu 88 3.5 Màu sắc địa phương Nam Bộ qua các trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa 90

KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ca dao là sản phẩm trí tuệ độc đáo của con người, là sự kết tinh của hiện thực cuộc sống được lưu truyền từ đời này sang đời khác và được xem như một nét văn hóa sinh hoạt của cộng đồng người Việt Nam Mỗi một bài ca dao là bức tranh hiện thực về đời sống lao động sản xuất, về đời sống tình cảm, về các mối quan hệ xã hội, về các sinh hoạt cộng đồng Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, kho tàng ca dao vẫn chưa được khai thác, nghiên cứu một cách toàn diện,

đa chiều để có thể vận dụng vào nghiên cứu cũng như giảng dạy Ngoài ra, nội dung của nhiều bài ca dao không phải dễ dàng được hiểu đầy đủ và thấu đáo Nghiên cứu vấn đề trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ tình yêu đôi lứa sẽ góp phần vào việc làm rõ những phương thức thể hiện tình cảm trong ca dao Nam Bộ, những nét tinh tế, đặc sắc trong cách thể hiện tình cảm của những con người ở vùng đất phương Nam này, nhằm tôn vinh và khẳng định vai trò quan trọng của

ca dao Nam Bộ trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc

Mỗi một vùng, miền đều có những bài ca dao khác nhau phù hợp với lối sống, đặc trưng và phong tục tập quán của con người địa phương Nghiên cứu

đề tài “Trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao

Nam Bộ” nhằm tìm hiểu những nét đặc sắc mang đậm màu sắc địa phương

trong cách dùng từ ngữ để thể hiện tình cảm của người Nam Bộ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là sản phẩm tinh thần phong phú, độc đáo và sáng tạo, ca dao đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà sưu tầm khảo cứu, các nhà folklore Việt Nam

Từ đó đến nay đã có hàng trăm công trình lớn nhỏ khác nhau nghiên cứu về thể loại văn học dân gian này Trong số công trình ấy, đáng chú ý nhất là quyển

“Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan

Nghiên cứu ca dao Nam Bộ trên bình diện ngôn ngữ - đặc biệt là trên bình diện từ vựng – ngữ nghĩa cho đến nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể tiêu biểu là các công trình của các nhà nghiên cứu như : Luận văn thạc sĩ Ngôn

ngữ “Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Việt nhìn từ lý thuyết trường từ vựng –

Trang 5

ngữ nghĩa” (2007) của Lê Thị Thanh Trúc (Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn TP.HCM) ; Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ “Tìm hiểu lý thuyết trường

nghĩa – thực nghiệm liên tưởng tự do” của Nguyễn Duy Trung (Trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM) và mới nhất là Luận văn thạc sĩ

“Nghiên cứu trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong thơ

Xuân Quỳnh” (2012) của Lê Thị Phương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn Hà Nội)…

Nhìn chung, nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa và trong trường từ vựng - ngữ nghĩa trong văn chương đã có những thành tựu bước đầu Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Nhận diện các đặc điểm của trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao tình yêu Nam Bộ

- Trên cơ sở so sánh với trường từ vựng ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Bắc Bộ để làm bật lên nét tương đồng và dị biệt giữa ca dao Bắc Bộ với ca dao Nam Bộ

- Góp tiếng nói vào việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc

- Có thể làm tài liệu tham khảo cho lĩnh vực liên quan đến đề tài này

4 Phạm vi nghiên cứu

Theo yêu cầu của đề tài, bài nghiên cứu tập trung khảo sát các trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ Do điều kiện hạn chế về thời gian và khuôn khổ của đề tài nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số trường từ vựng trung tâm thể hiện tình yêu đôi lứa tiêu biểu Những trường từ vựng – ngữ nghĩa được khảo sát trong đề tài:

- Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô

- Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ các sự vật dùng làm biểu tượng cho tình yêu đôi lứa

- Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ biểu đạt hoạt động, trạng thái tình cảm, cảm xúc

Trang 6

- Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các tính từ biểu đạt tính chất, đặc điểm, sắc thái của tình yêu

Trên những cơ sở này, đề tài hướng đến việc so sánh đối chiếu các trường

từ vựng – ngữ nghĩa trong ca dao Bắc Bộ để thấy được nét đặc sắc trong ngôn ngữ của từng vùng miền cũng như làm rõ đặc trưng văn hóa thể hiện qua ca dao Nam Bộ nói riêng và văn học dân gian nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả, phân tích ngữ nghĩa: Đề tài sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích ngữ nghĩa để miêu tả, phân tích những đặc điểm về ngữ nghĩa của các trường từ vựng trong ca dao tình yêu Nam Bộ xét từ góc độ lý thuyết trường từ vựng – ngữ nghĩa

- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu để phát hiện những nét tương đồng và dị biệt của các trường

từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thủ pháp khảo sát – thống kê để thống kê các trường từ vựng – ngữ nghĩa và số lần xuất hiện của các từ có trong trường

từ vựng ngữ nghĩa chỉ tình yêu đôi lứa Nam Bộ phục vụ cho những nhận xét mang tính định lượng

6 Nguồn ngữ liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng 350 bài ca dao chọn lọc từ 2

công trình sưu tầm là “Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh” (2006), Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm, NXB Tổng hợp Đồng Nai và cuốn “Ca dao – Dân ca Nam

Bộ”, (1984), Bùi Mạnh Nhị, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn

Vinh sưu tầm, NXB Thành phố Hồ Chí Minh

7 Đóng góp mới của đề tài:

Trong các bài viết và các công trình nghiên cứu trước đây, ta thấy các nhà nghiên cứu đã đối chiếu so sánh, phân tích các trường từ vựng – ngữ nghĩa nói chung trên một diện rộng Đề tài này tiếp tục đi sâu nghiên cứu trường từ vựng

Trang 7

– ngữ nghĩa trong ca dao Nam Bộ, cụ thể là các bài ca dao thể hiện tình yêu đôi lứa

8 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa lý luận: Ca dao là thể loại văn học dân gian, thu hút sự quan tâm

của nhiều ngành khoa học trong đó có Việt ngữ học Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu những đặc trưng văn hóa -ngôn ngữ Nam Bộ thể hiện trong ca dao

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần vào việc

nghiên cứu và giảng dạy ca dao Nam Bộ

9 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Các vấn đề lý thuyết cơ sở

Ở phần này, chúng tôi tập trung giải thích các khái niệm có liên quan đến đề tài như các khái niệm về ca dao, ca dao tình yêu Nam Bộ, về trường từ vựng – ngữ nghĩa… Cung cấp cơ sở lý thuyết để dẫn dắt vào phần nội dung nghiên cứu

Chương 2: Các trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ

Chương 2 tập trung nghiên cứu đặc điểm của các trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ: Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô; Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ dùng làm biểu tượng chỉ tình yêu đôi lứa; Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các

từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái của tình cảm, cảm xúc; Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, sắc thái của tình yêu

Chương 3: So sánh trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ và Bắc Bộ

Xem xét tương quan giữa các trường từ vựng ngữ nghĩa về tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ với ca dao Bắc Bộ, so sánh để chỉ ra những nét đặc trưng trong cách thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ

Trang 8

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ

1.1 Tổng quan về ca dao và ca dao Nam Bộ

1.1.1 Khái niệm ca dao

Ca dao là sản phẩm trí tuệ, là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về ca dao và đề xuất những khái niệm khác nhau Tiêu biểu là các tác giả: Nguyễn Văn Mệnh, Chu Xuân Diên,

Mã Giang Lân, Vũ Ngọc Phan, Trần Ngọc Khải:

“Nếu như tục ngữ thiên về lý trí, đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca

dao lại thiên về tình cảm (nội dung trữ tình) Và ca dao là một thể loại đã thể hiện được hết cái hay cái đẹp của ngôn ngữ văn học dân gian.” [12,7]

“Ca dao là tấm gương trung thực về cuộc sống muôn màu muôn vẻ của

nhân dân ” [12,8]

“Về cơ bản, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian ” [12,9]

“Ca dao là một thể loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ

khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao ” [17,42]

“Ca dao là thể loại trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi

diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người Ca dao là nguồn sữa tinh thần nuôi dưỡng trẻ thơ qua lời hát ru, là hình thức trò chuyện của các chàng trai cô gái, là tiếng nói biết ơn, tự hào về công đức của

tổ tiên và anh linh của những người đã khuất, là phương tiện bộc lộ nỗi tức giận hay lòng hân hoan của người lao động, trong gia đình, xã hội.” [22]

“Ca dao là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương

khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.” [23]

Kế thừa các thành quả đi trước, đề tài của chúng tôi quyết định sử dụng định nghĩa sau: “Ca dao là thể loại trữ tình dân gian thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng nhằm diễn tả thế giới nội tâm và phản ánh trung thực cuộc sống của con người”

Như vậy, định nghĩa đã nêu lên được tất cả các thuộc tính quan trọng của

ca dao:

Trang 9

- Ca dao là thể loại trữ tình dân gian

- Ca dao là những câu hát ngắn có vần điệu được phổ biến trong dân gian

- Ca dao là phương tiện diễn đạt nội tâm con người và phản ánh trung thực cuộc sống của con người

1.1.2 Vài nét về ca dao Nam Bộ

Ca dao là cái nôi chứa đựng tình cảm của con người, là ngọn nguồn của những cung bậc cảm xúc Vì thế để hiểu biết sự dồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào trong tình cảm của nhân dân thì không thể không tìm hiểu ca dao Việt Nam

Ca dao, ở đâu cũng vậy, là sản phẩm của quần chúng lao động Bất kì lúc nào, bất kì nơi đâu, những câu ca dao có vần điệu đều có thể ra đời, truyền từ đời này sang đời khác, không ai biết người sáng tác là ai, cũng không ai biết nó được sáng tác trong hoàn cảnh nào, chỉ biết chắc một điều: ca dao được người dân biết đến, sử dụng và truyền bá Không có quần chúng, ca dao nói riêng, văn chương bình dân nói chung không thể phát triển và lưu truyền Qua ca dao, ta

có thể mường tượng được nếp sinh hoạt, hoàn cảnh sống, phần nào tâm tư của người bình dân Do vậy mặc dù ca dao mang những đặc điểm chung nhưng lại

có những nét riêng của từng vùng Và ca dao Nam Bộ luôn gắn với những đặc trưng về vị trí địa lý, sự cởi mở, ngay thẳng và chân thành trong tính cách của những con người nơi đây

Nam Bộ bao gồm Đông và Tây Nam Bộ, có hệ thống kênh rạch dày đặc, chằng chịt Ngoài hai hệ thống sông lớn (hệ thống sông Cửu Long và sông Đồng Nai), miền Tây Nam Bộ còn có hệ thống sông nhỏ đổ ra Vịnh Thái Lan

và mạng lưới kênh tự nhiên cũng như kênh đào Do vậy, hoạt động của những con người Nam Bộ phần lớn gắn với sông nước

Có mặt từ rất lâu đời, ca dao là một món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ Bởi đó là nơi gửi gắm tâm tình, là bài ca trong những lúc lao động mệt mỏi, là nét văn hóa riêng của dân tộc, hơn hết đó là những sản phẩm trí tuệ mà ông cha đã để lại cho đời Mặc dù không đươc nhắc đến ở trường học, nhưng ca dao Nam Bộ vẫn có sức sống riêng của nó Mỗi một

Trang 10

người dân Nam Bộ đều có thể thuộc nằm lòng những bài ca dao của địa phương mình, cho dù đó là tầng lớp trí thức hay lao động thì sự am hiểu về ca dao của vùng đất nơi mình sinh ra và lớn lên đều rất dồi dào Có thể bắt gặp một điệu dân ca trên sông của người chèo đò, hay một câu hát nghêu ngao của những người nông dân đang cắt lúa:

Ngó lên mây trắng trời xanh Ưng đâu cũng vậy, ưng anh cho rồi

Hay

Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc Gió nào độc bằng gió Nam Vang Một tiếng anh than, hai hàng lụy nhỏ

Có chút mẹ già, biết bỏ ai nuôi

Có thể thấy, ca dao tồn tại khắp mọi nơi trên vùng đất Nam Bộ và ở nơi đâu cũng đều mang những tính chất đặc trưng của vùng:

Tính uyển chuyển

Có lẽ sự ưu đãi phóng khoáng của thiên nhiên về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên khiến tính cách những con người Nam Bộ cũng trở nên phóng khoáng

Họ sống không chịu bó hẹp trong những quy tắc, khuôn mẫu mà mang những

cá tính của riêng mình, làm nên nét uyển chuyển trong ca dao

Sự uyển chuyển đó thể hiện ở sự thay đổi về kết cấu, nội dung chung của

ca dao Việt Nam sao cho phù hợp với địa danh nơi họ đang sống Từ một câu

ca dao mang màu sắc phúng dụ, khá phổ biến ở nhiều địa phương:

Chiều chiều quạ nói với diều Tìm nơi đống trấu có nhiều gà con

Nhưng đến với ca dao miền Nam lại chuyển thành dị bản:

Chiều chiều quạ nói với diều

Cù Lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm

Hay như:

Nam Vang đi dễ khó về Trai đi có vợ, gái về có con

Trang 11

Cái tình ấm áp của lòng người, về sự quý mến khách của người địa phương làm cho kẻ lãng du phải dừng chân, được người miền Nam sửa lại là:

Tới đây thì ở lại đây Chừng nào bén rễ xanh cây rồi về

Cũng vì tính chất này mà ca dao Nam Bộ thường ở dạng lục bát biến thể

Số chữ trong mỗi câu tùy thuộc cách nói, không nhất thiết phải là thể lục bát 6/8, miễn sao diễn tả được đầy đủ ý muốn nói và có vần điệu, dễ đọc, dễ nhớ

Tính cường điệu

Tính cách phóng khoáng, không nề hà, không câu nệ khuôn phép và sự vui vẻ, hòa đồng trong tính cách làm nên tính cường điệu trong ca dao Nam Bộ Mọi sự vật, hiện tượng thường được những con người nơi đây nói quá lên cốt

để làm tăng giá trị nội dung của lời nói, mang lại tiếng cười hài hước trong quá trình lao động, sản xuất hay trong lúc thể hiện tâm tình Cái mà chúng ta thường gặp là những cách nói vô nghĩa, cốt chỉ có vần, có điệu, nhất là trong các câu hò, sự cố ý kéo dài câu hò, nói lan man cốt để để tìm ý, tạo sự tiếng cười cho người xung quanh Ca dao thường nói quanh co, không đi ngay vào vấn đề chính, đôi khi không đề cập trực tiếp nội dung cần nói đến

Đầu giồng có bụi Cuối giồng có đa Ngã ba đường cái có cây tơ hồng Con gái chưa chồng, cái lòng hực hỡ Con trai chưa vợ, ruột thắt tầm canh

Để cuối cùng mới bày tỏ lòng mình:

Ngó lên mây trắng trời xanh Ưng đâu cũng vậy, ưng anh cho rồi

Hay cô gái muốn từ chối nhẹ nhàng lời tỏ tình của chàng trai vì phải phụng dưỡng mẹ già, cô không nói thẳng vào vấn đề mà nói bóng gió xa xôi trước:

Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc

Trang 12

Gió nào độc bằng gió Nam Vang Một tiếng anh than, hai hàng lụy nhỏ

Có chút mẹ già, biết bỏ ai nuôi

Ta thấy, tính cách này khác hẳn với cách nói có tính khuôn mẫu ở miền Bắc, người miền Bắc thường nghiêm túc, trữ tình một cách tinh tế, mang ít nhiều tính nghệ thuật hơn:

Trèo lên cây bười hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay…

Hay bày tỏ tình cảm với người mình yêu:

Cô kia áo trắng lòa lòa Lại đây đập đất trồng cà với anh Bao giờ cà chín cà xanh Anh cho một quả để dành mớm con

Tính uyển chuyển trong ca dao là một nét đặc thù của người miền Nam

mà không thể có sự nhầm lẫn với các vùng miền khác

Tính trữ tình

Ca dao Việt Nam nói chung và ca dao Nam Bộ nói riêng là một hình thức đặc biệt của thơ trữ tình Bởi nội dung mà nó đề cập đến thường là thân phận con người, tình cảm cá nhân, cho dù ở phần nào của đất nước, người bình dân diễn tả thường tình cảm một cách rất nhẹ nhàng, thoải mái Những câu nói có lúc bóng gió, có khi bộc trực thẳng thắn, vừa hồn hậu vừa đậm tình quê hương:

Thò tay anh ngắt cọng ngò Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ

Hay:

Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh Thương anh cũng muốn theo anh

Trang 13

Ngặt cha với mẹ không đành thì sao?

Cũng như các vùng miền khác, ca dao Nam Bộ phản ánh rõ nét phong cảnh, đời sống sinh hoạt, đồng ruộng màu mỡ, sông rạch của miền Nam Đời sống tình cảm của người dân cũng hòa hợp với thiên nhiên sông nước:

Cầu cao ván yếu Cậu ngựa nhỏ xíu nói kiệu tứ linh

Em đi đâu tăm tối một mình Hay là em có tư tình với ai?

Tàu Nam Vang chạy ngang cồn cát Xuồng câu tôm bơi sát mé nga Thấy anh cha yếu mẹ già Muốn vô hoạn dưỡng biết là được chăng

Ca dao Nam Bộ cũng như ca dao các vùng miền khác, không chỉ bó hẹp ở tình yêu đôi lứa mà còn là tình cảm về gia đình, tình làng nghĩa xóm, tình yêu quê hương đất nước… với cách thể hiện nhẹ nhàng, bộc trực mà khẳng khái:

Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

Chim quyên ăn trái nhãn lồng Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

Tình yêu quê hương đất nước:

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Thác Mười lóng lánh cá tôm

Ca dao còn là nơi hội tụ những đặc sản, địa điểm du lịch nổi tiếng của Nam Bộ, là phương tiện để quảng bá du lịch rất độc đáo:

Biên Hòa có bưởi Thanh Trà Thủ Đức nem nướng, Điện Bà Tây Ninh

Trang 14

Ba phen quạ nói với diều:

Cù Lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm

Trong ca dao Nam Bộ còn có sự xuất hiện của nhiều từ ngữ được xem là đặc trưng về ngữ âm của vùng miền:

Nước ròng bỏ bãi xa cừ Mặt em có thẹo, anh trừ đôi bông

Bậu nói với qua bậu không hái mận bẻ đào Chớ mận đâu bậu đọc, đào nào bậu cầm tay

Mưa lâm thâm, ướt dầm bông sói Bậu đi lấy chồng sao không nói anh hay

Tính trữ tình trong ca dao Nam Bộ có lẽ được hình thành từ tình cảm chân thành, mộc mạc tha thiết nhưng giản dị của những con người nơi đây làm nên đặc trưng về ca dao Nam Bộ

Tính chớt nhả, cắc cớ

Tính phóng khoáng trong cuộc sống ở vùng đất phương Nam thể hiện rất

rõ nét trong ca dao Nam Bộ, tính chất này còn được đẩy xa hơn, trở thành chớt nhả Hơn đâu hết, chính Nam Bộ là nơi người ta dễ dàng tìm thấy sự cắc cớ, sống sượng gây nên những bất ngờ khiến người trong cuộc nhiều khi tỏ ra lúng túng, không thể thoát khỏi tình huống Như cô gái đang làm việc dưới ruộng, người dính đầy bùn đất hỏi chàng trai đang ở trên bờ:

Hai tay em cắm xuống bùn Mình mẩy lấm hết, chớ anh hun chỗ nào

Chàng trai đáp lại rất thông minh và tinh tế, nhưng cũng không kém phần chân thật:

Cầu trời đổ trận mưa rào Bùn sình trôi hết, chỗ nào anh cũng hun!

Trang 15

Chàng trai muốn đặt cô gái vào tình trạng khó xử, sống sượng yêu cầu

Đôi mình mới gặp ngày nay Cho hun một cái em Hai đừng phiền

Chàng trai đắc ý tưởng sẽ nhận được sự e thẹn, hay sự tức giận của cô gái, nhưng hoàn toàn ngược lại chàng trai bất ngờ trước sự bình tĩnh của cô gái:

Ừ, muốn hun thì hun cho liền Đừng làm thố lộ xóm giềng cười em

Tính cắc cớ còn thể hiện ở những câu hò đố Nếu ở Bắc Bộ, những câu hát đố luôn có tính nghiêm trang, sách vở thì ở Nam Bộ những câu đố có tính buộc thắt, khiến đối phương phải rất nhanh trí để thoát khỏi thế bí Thử so sánh

ca dao hai vùng Bắc Bộ và Nam Bộ về thể loại hát đối:

Ca dao Bắc Bộ:

Chùa nào mà lại có hang

Ở đâu lắm gỗ thời chàng biết không?

Ai mà xin được túi đồng

Ở đâu lại có con sông ngân hà Nước nào dệt gấm thêu hoa…

… Chùa Hương Tích mà lại có hang Trên rừng lắm gỗ thời nàng biết không?

Ông Nguyễn Minh Không xin được túi đồng Trên trời lại có con sông ngân hà

Nước Tàu dệt gấm thêu hoa…

Ca dao Nam Bộ:

Thấy anh ăn học có thi

Em đây xin hỏi con chi không đầu Sao em lại hỏi cơ cầu

Thượng cầm hạ thú, không đầu là con cua

Trang 16

Hay

Thấy anh theo dõi bút nghiên

Em đây xin hỏi, trời nghiêng bên nào Anh từng đọc sách bên Tàu

Đất nghiêng thì có, trời nào đâu nghiêng

Ngoài những tính chất vừa nêu trên, ca dao Nam Bộ còn đi vào lòng người bởi giai điệu đặc trưng, lời hát, dễ nhớ, dễ thuộc Các điệu lý mang âm hưởng dân ca đặc trưng của vùng sông nước Nam Bộ như: lý bánh ít, lý con cóc,…vừa hay , vừa lạ Ca từ trong sáng, không cầu kì, không kiểu cách phù hợp với sinh hoạt của người bình dân

1.1.3 Vị trí của mảng đề tài tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam

Bộ

Từ trước đến nay, tình yêu luôn là đề tài muôn thuở được các văn nghệ sĩ khai thác, nhất là các tác giả dân gian Họ tìm thấy trong cuộc sống nhiều khía cạnh, cung bậc của tình yêu và gửi gắm vào ca dao Số lượng các bài ca dao viết

về tình yêu chiếm số lượng lớn trong ca dao Việt Nam nói chung và ca dao Nam

Bộ nói riêng

Khi cuộc sống cộng đồng dần hình thành, con người buộc phải lao động

để duy trì sự sống Họ sống tụ tập thành một nhóm người (sau này phát triển thành tộc người rồi buôn làng) Họ cùng nhau lao động, sản xuất và chiến đấu vì thế tình cảm nảy sinh trở nên gắn bó thân thiết Và tình yêu trai gái cũng được đơm hoa kết trái từ những buổi lao động mệt mỏi, hai bên cùng nhau hát đối đáp tâm tình, hay trong những đêm hội, các nam thanh nữ tú, cùng quây quần, vui đùa hát ca để tìm kiếm người bạn đời cho riêng mình

Cái hay của ca dao là qua những điệu hò, câu hát, người ta có thể bộc lộ tâm tư, tình cảm của mình cho đối phương biết một cách nhẹ nhàng, trữ tình, nhưng cũng không kém phần bộc trực, khẳng khái Không khó để nhìn thấy một chàng trai gửi gắm lòng mình qua ca dao khi đang việc đồng áng:

Cô kia đi đường này với ta

Trang 17

Trồng đậu, đậu tốt; trồng cà, cà sai

Cô kia đi đường ấy với ai, Trồng bông, bông héo; trồng khoai, khoai hà!

Thanh niên nam nữ trong thôn xóm thường ít gặp nhau trong đám hội, họ chủ yếu gặp nhau trong công việc đồng áng, vì thế đã thiết tha với công việc đồng áng thì càng thiết tha yêu nhau:

Đôi ta bắt gặp nhau đây Như con bò gầy bắt gặp cỏ hoang…

Ca dao về tình yêu của người Nam Bộ nổi tiếng ở sự mộc mạc, hồn nhiên trong từ ngữ, trong cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh đầy đáng yêu, thi vị

Đó cũng chính là biểu hiện đặc trưng của ca dao vùng sông nước

Trước hết là ở chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc không quá bóng bẩy cũng không hề trau chuốt, tạo tiếng cười cảm thông cho nhân vật trữ tình

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông

Lời tỏ tình của những chàng trai cô gái lao động chân chất đôi khi là những khẩu ngữ hằng ngày, không trau chuốt, màu mè, tuy vậy tình cảm thì lại dạt dào, sâu sắc:

Thương em nên mới đi đêm

Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau May đất mềm nên mới hổng đau Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này

Lời tâm sự của chàng trai đêm hôm lặn lội đến thăm người yêu vừa có chút ma mãnh vừa có chút đáng yêu, tội nghiệp, khiến người ta thương nhiều hơn là ghét Hay như nét hóm hỉnh thể hiện ở sự phóng đại nỗi nhớ của một chàng trai với người yêu mình:

Vắng cơm ba bữa còn no Vắng em một bữa giở giò không lên

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trai trở nên ngơ ngẩn đến buồn cười:

Trang 18

Phòng loan trải chiếu rộng thình Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình em ơi

Nhưng cái độc đáo đó ở đây là nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

Tôi xa mình ông, trời nắng tôi nói mưa Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi "rầu thúi ruột" mà họ vẫn đùa Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

Thác ba năm thịt đã thành bùn Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em

Tình yêu còn là sự mong nhớ nhau đến khắc khoải “như đứng đống lửa, như ngồi đống rơm”:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm

Trong kho tàng văn học dân gian của mọi dân tộc trên thế giới, ca dao về

đề tài tình yêu nam nữ luôn nhiều hơn cả Có thể nói, tình yêu nam nữ là đề tài chính yếu và vĩnh cửu trong loại hình sáng tác dân gian này

Những cung bậc của tình yêu muôn hình vạn trạng, đó có thể là sự hạnh phúc của đôi lứa yêu nhau được nên vợ thành chồng, cũng có thể là tình yêu đơn phương, sự hi vọng, khắc khoải chờ đợi vào một tình yêu chưa được đáp trả:

Nếu mà không lấy đặng em Anh về đóng cửa cài rèm đi tu

Ca dao còn là những bài học đạo lý, dạy con người phải biết sống nghĩa tình, dù có gian khổ cũng phải chung thủy cùng nhau vượt qua khó khăn Họ cùng gắn bó keo sơn, tuy khó khăn vất vả nhưng người lao động vẫn phải luôn nắm giữ hạnh phúc cho riêng mình:

Em ơi chua ngọt đã từng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

Ca dao còn là nơi gửi gắm những nỗi đau về một tình yêu không trọn vẹn:

Trang 19

Hay

Tình anh như nước dâng cao Tình yêu như dải lụa đào tẩm hương

Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?

Đưa nhau một bước lên đàng,

Cỏ xanh hai dãy, mấy hàng châu sa…

Cái “tình” trong ca dao là sự bày tỏ kín đáo của chàng trai, cô gái khi yêu nhau, một tình yêu chân chính xuất phát từ trái tim Có thể nói tình yêu nam nữ

là đề tài chính yếu và vĩnh cửu trong loại hình sáng tác dân gian này

1.2 Trường từ vựng – ngữ nghĩa

1.2.1 Khái niệm trường từ vựng – ngữ nghĩa

“Trường” là một thuật ngữ mượn của các ngành khoa học tự nhiên Lý thuyết về trường nghĩa (hay còn được gọi là trường từ vựng – ngữ nghĩa) ra đời khoảng vài mươi năm gần đây Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là khảo sát

từ vựng một cách hệ thống Theo đó, các từ trong ngôn ngữ tập hợp lại theo hệ thống chứ không cô lập, rời rạc nhau Trong lòng hệ thống lớn bao gồm nhiều

hệ thống con Mỗi hệ thống con có chung một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa là một trường Nhà ngôn ngữ học đầu tiên có công đi đầu trong việc đưa

ra khái niệm trường và vận dụng lý thuyết này vào việc nghiên cứu hệ thống từ vựng ngữ nghĩa là M.M.Pokrovski – nhà ngôn ngữ học Nga Ông đã gắn hệ thống “biểu tượng” gần nhau với các hệ thống của hiện tượng đời sống xã hội

và kinh nghiệm Sau Pokrovski cũng còn nhiều cách hiểu về khái niệm trường nghĩa Trên cơ sở đó có thể quy vào hai khuynh hướng chủ yếu [9,109]:

Khuynh hướng thứ nhất quan niệm trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm

mà các từ bên trong ngôn ngữ biểu hiện Đại diện cho khuynh hướng này là L.Weisgerber và J.Trier Cả L.Weisgerber và J.Trier đều chịu ảnh hưởng của học thuyết về “hình thái bên trong của ngôn ngữ” của Humbold và phủ nhận hiện tượng đa nghĩa, đồng nghĩa của các đơn vị từ vựng Đặc biệt là J.Trier, ông cho rằng trường từ vựng bao phủ lên trường khái niệm Một từ chỉ có ý

Trang 20

nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó Như vậy, rõ ràng cơ sở triết học của lý thuyết trường nghĩa này là duy tâm, nó thoát ly thực tế, thoát ly bản chất của ngôn ngữ Ý nghĩa của từ theo khuynh hướng này không đồng nhất với khái niệm

Khuynh hướng thứ hai cố gắng xây dựng lý thuyết trường nghĩa trên cơ

sở các tiêu chí ngôn ngữ học Trường nghĩa không phải là phạm vi có khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa Đại diện cho khuynh hướng này là Ipsen (xây dựng trường nghĩa dựa vào sự gần gũi về ý nghĩa và hình thức), Kenradd – Hicking (xây dựng trường nghĩa căn

cứ vào từ ghép, trong đó từ rời với tư cách là thành tố của từ ghép đóng vai trò thành viên của trường) và Müller và Porzig (xây dựng trường nghĩa căn cứ vào

ý nghĩa ngữ pháp của các quan hệ)

Cũng đi theo khuynh hướng thứ hai, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đưa ra những quan niệm về trường từ vựng – ngữ nghĩa như sau:

Đỗ Hữu Châu là người công bố công trình đầu tiên về lý thuyết trường

vào năm 1973 Theo Đỗ Hữu Châu, “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị

từ vựng theo sự đồng nhất về ngữ nghĩa” [3,46] Dựa vào đó ông đã chia kho từ

vựng thành hai kiểu trường: trường ý niệm và trường ngữ nghĩa

Nguyễn Thiện Giáp trong Giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học cho rằng các

từ có thể được thống nhất thành một nhóm từ vựng ngữ nghĩa dựa vào “sự tồn tại của các từ khái quát, biểu thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất, trung hòa” hoặc có thể dựa trên cơ sở “một khái niệm chung có mặt ở trong mỗi một từ của nhóm” [9,112]

“Trường nghĩa là một vùng nghĩa có thể phân biệt với những vùng khác Người ta thường nói về trường nghĩa của THỨC ĂN, hay QUẦN ÁO, hay CẢM GIÁC Trong một trường ngữ nghĩa, có nhiều từ, có quan hệ với nhau

về nghĩa vị cơ bản.” [24]

Trang 21

Từ những ý kiến trên ta có thể khẳng định, trường từ vựng – ngữ nghĩa là tập hợp của các đơn vị từ vựng có sự đồng nhất về ngữ nghĩa xét theo một phương diện nào đó

1.2.2 Các loại trường từ vựng – ngữ nghĩa

Dựa vào sự phân loại của Đỗ Hữu Châu, ta có hai loại trường: trường ngữ nghĩa và trường ý niệm Cơ sở của sự phân loại này là ý nghĩa biểu thị - vốn dựa trên quan hệ trực tiếp với chức năng gọi tên; và ý nghĩa biểu đạt – vốn dựa trên quan hệ trực tiếp với chức năng biểu đạt khái niệm Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu trường ngữ nghĩa, tức trường từ vựng – ngữ nghĩa

Trường ngữ nghĩa là một phần hiện thực khách quan được chia tách theo kinh nghiệm chủ quan của con người và có sự tương xứng về mặt lý thuyết trong ngôn ngữ dưới dạng là một nhóm từ, một tiểu hệ thống từ vựng nào đó là

sự đồng nhất hay đối lập giữa các đơn vị từ vựng theo một nét nghĩa nào đó trong ý nghĩa Thí dụ, trường ngữ nghĩa về thực vật, động vật, về không gian, thời gian, về con người…Đặc biệt ở đây ta cần chú ý đến các tiểu hệ thống trong những trường ngữ nghĩa Ta hãy xem một thí dụ về trường ngữ nghĩa chỉ hoạt động tác động đến đối tượng sẽ được hình dung như sau:

Trang 22

Hoạt động đến đối tượng

Hoạt động tác động đến ngoại hình Hoạt động tác động đến sự tồn tại

Diệt, hủy, khử, xóa,

hạ, triệt, thủ, tiêu

Chế tạo, phát minh, hình thành…

Qua đây, ta có thể thấy cách phân loại của tác giả về trường ngữ nghĩa là

dựa vào nghĩa của từ Căn cứ vảo cấu trúc biểu vật và cấu trúc biểu niệm của

một từ, trường ngữ nghĩa có thể phân thành trường nghĩa biểu vật và trường

nghĩa biểu niệm

a Trường biểu vật: Trường biểu vật là các đơn vị từ vựng có liên quan

với nhau ở một nét nghĩa biểu vật nào đó [4,149] Như vậy tất cả các

đơn vị nào có chung một nét nghĩa biểu vật thì có thể đưa vào một

trường Một từ có nhiều nghĩa biểu vật có thể thuộc về nhiều trường

Trang 23

trường biểu vật lớn có khả năng phân tích thành nhiều trường biểu vật nhỏ hơn tùy thuộc vào các nét nghĩa chung giữa các từ Ta hãy xem một thí dụ về trường nghĩa biểu vật sau [21,33]:

A Con người nói chung:

- Con người xét theo giới tính: nam, nữ, trai, gái, đàn ông, đàn

bà…

- Con người xét theo tuổi tác: thanh niên, thiếu niên, nhi đồng…

- Con người xét theo nghề nghiệp: sinh viên, nhân viên, thư ký,

giáo viên…

B Hoạt động con người:

- Hoạt động giác quan: nghe, thấy, ngửi, nếm…

- Hoạt động trí tuệ: suy nghĩ, phán đoán, phân tích…

- Hoạt động cơ bắp: xô, đẩy, kéo, đào, xới, xây…

C Đặc điểm con người:

- Đặc điểm ngoại hình: cao, thấp, đẹp, xấu, trắng, đen…

- Đặc điểm nội tâm: hiền, tốt bụng, độc ác, rộng rãi…

b Trường biểu niệm

Trường biểu niệm là một trường nghĩa gồm các đơn vị thỏa một tính chất nào đó ở nét nghĩa biểu niệm Tuy vậy chưa có một tiêu chí rõ ràng và cụ thể

để nhận diện nó Đỗ Hữu Châu cho rằng có thể phân lập các trường loại này theo nguyên tắc của trường biểu vật (nghĩa là dựa trên nét nghĩa phạm trù

chung mà mỗi đơn vị có được) Ví dụ, ta có một tập hợp gồm các từ “phá, thái,

vỡ, sứt, mẻ, gãy”….Tập hợp này có thể là một trường biểu niệm được dựa trên

Trang 24

nét nghĩa phạm trù chung là sự tác động làm biến đổi hình dáng, trạng thái của

sự vật [21,33]

Tương tự như trường biểu vật, một trường biểu niệm lớn có thể bao hàm nhiều trường ngữ nghĩa nhỏ hơn Các từ trong mỗi trường nhỏ có nội dung nghĩa gần gũi với nhau hơn các từ khác trường

Ngoài ra còn có trường nghĩa ngang (tuyến tính) và trường nghĩa liên tưởng Tuy nhiên, đề tài chúng tôi không chú trọng vào việc nghiên cứu hai loại trường này

1.2.3 Trường từ vựng – ngữ nghĩa trong ca dao trữ tình và ca dao trữ tình Nam Bộ

Như đã biết, ca dao trữ tình, đặc biệt là ca dao về tình yêu thường chủ yếu

là những câu hát giao duyên, là lời đối đáp, là “nói chuyện bằng lời thơ điệu hát giữa các đôi trai gái, giữa hai họ, hai phường…” [5,44] Chính vì lẽ đó, ca dao trữ tình đã trở thành một hình thái giao tiếp đặc biệt của ngôn ngữ Phần lớn ca dao về tình yêu luôn phản ánh sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau giữa các nhân vật giao tiếp Sự tương tác qua lại giữa các nhân vật chủ yếu thể hiện bằng những lời đối thoại và có tác dụng điều hòa các hoạt động, các hành vi giao tiếp trong một quá trình hội thoại cụ thể Ca dao, dù ngắn hay dài đều là một chỉnh thể thống nhất giữa cơ cấu ngôn ngữ và cơ cấu văn học, có tính hệ thống, tính mạch lạc và tính thơ (hay rộng hơn là tính nghệ thuật)

Để xác lập một trường từ vựng – ngữ nghĩa trong ca dao trữ tình nói chung và ca dao trữ tình Nam Bộ nói riêng, ta phải tìm ra các trường hợp điển hình, tức những trường hợp mang và chỉ mang các đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa được lấy làm cơ sở Phân lập những từ ngữ điển hình trong ca dao Nam

Bộ thuộc mảng đề tài tình yêu thành các trường từ vựng – ngữ nghĩa nhằm phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng thể hiện tình yêu đôi lứa

về mặt ngữ nghĩa Người nghiên cứu trên cơ sở này có thể tìm ra và giải thích các cơ chế đồng loạt chi phối đồng loạt sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình vận dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Hoạt động

Trang 25

này không chỉ bao gồm sự chỉ vật (sự tạo lập các thông điệp miêu tả) mà cả sự kết hợp ngữ nghĩa giữa các từ về mặt cú pháp)

Cơ sở để phân lập trường trong ca dao và ca dao Nam Bộ cũng dựa trên

sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của các từ Chúng tôi cho rằng trường từ vựng – ngữ nghĩa trong ca dao tình yêu Nam Bộ cũng bao gồm trường biểu vật và trường biểu niệm Hai loại trường này không loại trừ lẫn nhau mà có liên hệ lẫn nhau và trên nguyên tắc phải phân biệt chúng với nhau

 Tiểu kết

Ca dao là cái nôi chứa đựng tình cảm của con người, là ngọn nguồn của những cung bậc cảm xúc Và chính ca dao cũng là một món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam Bộ Từ trước đến nay, tình yêu luôn là đề tài muôn thuở được các văn nghệ sĩ khai thác, nhất là các tác giả dân gian Vì thế,

số lượng các bài ca dao viết về tình yêu chiếm số lượng lớn trong ca dao Việt Nam nói chung và ca dao Nam Bộ nói riêng

Những cơ sở lý thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa vừa đề cập trên đây

có thể giúp chúng tôi dễ dàng khảo sát những đặc trưng cơ bản của một số trường từ vựng – ngữ nghĩa thể hiện tình yêu đôi lứa trong ca dao Nam Bộ

Trang 26

CHƯƠNG 2: CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA THỂ HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG CA DAO NAM BỘ

2.1 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô

Trang 27

22 từ này, chúng tôi có thể chia thành những trường sau:

b1 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô ở ngôi thứ

nhất: anh, em, qua, thiếp, đây, tôi, mình, ta, hai đứa mình, đôi ta, hai ta, vợ

chồng ta

b2 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô ở ngôi thứ hai:

anh, em, chàng, nàng, qua, đó, mình

b3 Trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô ở ngôi thứ ba:

ngãi nhơn, anh học trò, người quân tử, cô gánh nước, vợ, chồng

Sau đây chúng tôi sẽ tìm hiểu và phân tích một số nét nghĩa biểu trưng của các từ có tần số xuất hiện cao trong tiểu trường này

1 Anh

Trang 28

“Anh” là từ mà người phụ nữ dùng để gọi chồng, người yêu hoặc người đàn ông tự xưng để nói với vợ, người yêu [18, 8] Từ “anh” xuất hiện với số lần

nhiều nhất trong trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô, 197 lần

và thường xuất hiện trong những tình huống:

1 Chàng trai là đối tượng được người yêu nhắc đến trong câu chuyện tình yêu của mình:

Anh ơi, nắng mới sợ buổi mưa chiều,

Phận em là gái cũng nhiều nơi thương

[20,118]

Bờ sông khúc lở khúc bồi,

Kiếm nơi quạnh vắng trao lời với anh

[20,193]

Bông phù dung sớm nở tối tàn,

Em sợ anh nói gạt qua đường bỏ em

Trang 29

[20,192]

Anh đừng lên xuống uổng công,

Em nghe ba má nói không kia mà

[16,162]

Sóng dợn bờ tre, con cu sè đuôi phụng,

Em có xa anh rồi cũng để bụng thương anh

[20,112]

Vắng anh gan ruột xót mềm,

Càng thêm đau đớn càng thêm hàng ngày

Đêm thu anh đợi anh chờ,

Nỡ nào em để phòng thơ âu sầu

[20,213]

Bấy lâu thề nguyện cùng nàng,

Anh đây nào dám phụ phàng hay sao?

[20,212]

Dầu cho chua khế cay gừng,

Trăm lời dụ dỗ xin đừng bỏ anh

Trang 30

[20,205]

Thấy em hân hấn má đào,

Thanh tân mày liễu, dạ nào anh chẳng thương

[20,106]

3 Nhân vật trữ tình nhấn mạnh vật sở hữu – phương tiện trao gửi tình cảm trong câu chuyện tình cảm của mình:

Ghe anh nhỏ mũi trản lườn,

Ở bên Gia Định xuống vườn thăm em

[16,284]

Ghe anh vừa tới cắm sào,

Nghe em có chốn, anh muốn nhào xuống sông

“Em” là từ mà người đàn ông dùng để gọi vợ, người yêu hoặc người phụ

nữ dùng để tự xưng khi nói với chồng, với người yêu [18, 473] Về chức năng,

từ “em” được sử dụng tương tự từ “anh” “Anh” và “em” là một cặp từ xưng hô

tương hợp, chúng xuất hiện sóng đôi nhau trong nhiều bài ca dao tình yêu Nam

Bộ Tương tự như từ “anh”, từ “em” cũng có tần số xuất hiện khá cao, 176 lần

(chiếm 30,1%) trong trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô Từ

“em” thường xuất hiện trong các tình huống:

Trang 31

1 Cô gái là đối tượng được người yêu nhắc đến trong những câu chuyện tình yêu:

Đứng xa thấy dạng em cười,

Cũng bằng vàng chín vàng mười trao tay

[20,50]

Chỉ điều ai khéo trao tay,

Đố em thoát khỏi lưới giăng giữa trời

[20,60]

Em đừng buộc chặt tấm lòng,

Gái tơ mà chịu cô phòng uổng thay

[20,188]

Yêu em lên xuống hằng ngày,

Đêm hôm tăm tối thảm thay thân này

[20,204]

Đêm khuya anh ngồi dựa khoang bồng,

Sương sa gió lạnh chạnh lòng nhớ em

[20,99]

2 Cô gái là nhân vật chủ động thể hiện tình cảm với người yêu:

Xin anh chớ khá mỏi chờ,

Em nguyền ở vậy phụng thờ mẹ cha

[20,187]

Nhà anh cửa đóng song gài,

Trang 32

Em vô không được ở ngoài lệ tuôn rơi

[16,339]

Ngãi nhân nay giận, mai hờn

Lòng em ở thẳng như đờn lên dây

[16,337]

Bướm ong bay lượn rộn ràng,

Em nguyện giữ tấm lòng thành với anh

[16,199]

Đừng thấy nhan sắc mà mê,

Bỏ em hiu quạnh trăm bề nhớ thương

Thuyền em đã nhẹ, chèo lạ khó theo

Em nguyện bớt mái thả lèo chờ anh

[16,387]

3.Nàng

“Nàng” là từ dùng để gọi hoặc chỉ người phụ nữ trẻ tuổi được yêu quý [18, 843] Không giống như các từ chỉ giới nữ khác, từ “nàng” mang màu sắc

Trang 33

màu văn chương và chỉ được sử dụng duy nhất ở ngôi thứ hai Từ “nàng” trong

ca dao Nam Bộ thường xuất hiện khi các cô gái trẻ tuổi trở thành đối tượng được các chàng trai nhắc đến bằng một sự yêu quý, trân trọng trong câu chuyện tình yêu của mình

Bao giờ cho sóng bỏ gành, Cù

lao bỏ biển thì anh bỏ nàng

[20,35]

Nằm đêm nghe vạc trở canh,

Nghe chuông gióng sáu, nghe anh dỗ nàng

[20,65]

Tới đây khác xã khác làng,

Thói quen anh cũng lạ, xin nàng khá thương

[20,119]

Chuồn chuồn đậu ngọn dưa leo,

Trông trời mau sáng mần heo cưới nàng

[16,227]

Thảm sầu anh nặng đeo mang,

Cớ nào vui vẻ lòng nàng chẳng thương

[20,216]

Song song đôi ngọn gươm trường,

Chết anh anh chịu, buông anh nàng không buông

[20,85]

Trang 34

Nhìn chung, “anh – em”, “anh - nàng” là hai cặp từ xưng hô được sử

dụng phổ biến nhất trong việc thể hiện tình yêu ở Nam Bộ, chúng xuất hiện 403 lần, chiếm 69% trong trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ ngữ xưng hô Bên

cạnh hai cặp từ xưng hô trên, cặp từ “bậu – qua”, “chàng – thiếp” cũng là

những cặp từ xưng hô có tần số xuất hiện khá cao

4 Bậu

“Bậu” là từ mà người con trai dùng để gọi vợ hay người yêu khi đang giao tiếp với người ấy [18, 72] Khác với từ “em”, là một từ xưng hô để gọi vợ hoặc người yêu, từ “bậu” mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ và chỉ được

sử dụng ở ngôi thứ hai Vì vậy, từ “bậu” đi vào ca dao Nam Bộ trong tình

huống các chàng trai tỏ ý thương mến, thân mật khi nhắc đến vợ hay người yêu trong câu chuyện tình cảm của mình

Bậu giận anh lại cười mơn,

Vuốt gan bậu xuống giận hờn làm chi

[20,74]

Bậu đừng tham đó bỏ đăng,

Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn

[20,69]

Trách lòng em bậu đãi đưa,

Gạt anh dãi nắng dầm mưa nhọc nhằn

[20,60]

Bậu đừng trách ái hờn ân,

Đạo chồng ngãi vợ chẳng gần thì thôi

[20,100]

Trang 35

Bấy lâu bậu cần mẫn cái vườn đào,

Tình xưa nghĩa cựu, bậu có nhớ chút nào hay không?

[20,112]

5 Qua

“Qua” là từ được người đàn ông lớn tuổi sử dụng để tự xưng một cách thân mật khi nói với người vai dưới [18, 1024] Không giống như từ “anh”,

cũng là một từ mà người đàn ông tự xưng khi nói với vợ hay người yêu, từ

“qua” mang đậm màu sắc của phương ngữ Nam Bộ và chỉ được sử dụng ở ngôi thứ nhất Cặp từ “bậu – qua” trong ca dao Nam Bộ là một cặp từ xưng hô

tương hợp, thường xuất hiện sóng đôi, gợi tả mối quan hệ vợ chồng hay người yêu giữa các nhân vật trữ tình

Lưới thưa mà bủa cá kìm,

Lòng qua thương bậu, bậu tìm nơi nao?

[20,63]

Trăng lên khỏi núi trăng quỳ,

Bậu lo thân bậu lo gì thân qua

[20,71]

Bậu nghe ai dỗ ai dành,

Bậu tham chốn khác bậu đành bỏ qua

[20,72]

Bậu đừng sầu não làm chi,

Qua với bậu như nút khuy đã rồi

[16,184]

Trang 36

6 Chàng

“Chàng” là từ mà người phụ nữ dùng để gọi chồng hay người yêu còn trẻ,

tỏ ý thân thiết [18,181] Đây là một từ xưng hô đã cũ, mang đậm màu sắc văn chương và chỉ được sử dụng ở ngôi thứ hai Ở Nam Bộ, người phụ nữ cũng sử

dụng từ “chàng” để tỏ ý trìu mến, thân mật khi xưng hô với chàng trai của

mình

Trời đem điềm lạ khó bàn,

Hay là trời khiến thiếp với chàng gặp nhau

[16,406]

Chàng sao tệ lắm bớ chàng,

Đêm khuya nguyệt lặn hoa tàn đợi trông

[16,213]

Làm thơ mà gởi cho mưa,

Mưa đưa cho gió gió đưa cho chàng

“Thiếp” là từ mà người phụ nữ ngày trước dùng để tự xưng một cách

khiêm nhường khi nói với chồng hoặc với người đàn ông nói chung [18,1213]

“Thiếp” cũng là một từ xưng hô đã cũ, mang đậm màu sắc văn chương và chỉ được sử dụng ở ngôi thứ nhất Cặp từ xưng hô “chàng – thiếp” trong ca dao

Trang 37

Nam Bộ thường xuất hiện cùng nhau, thể hiện mối quan hệ mật thiết, quan hệ

vợ chồng giữa các nhân vật trữ tình

Vì chàng thiếp chịu long đong, Phải chi mình thiếp cho xong một bề

[20,92]

Trời đem điềm lạ khó bàn,

Hay là trời khiến thiếp với chàng gặp nhau

[16,406]

Cao ly sắc với ngưu hoàng,

Uống không mát dạ bằng thiếp với chàng gặp nhau

“Đôi ta” là một cụm từ xưng hô quen thuộc, được sử dụng nhiều lần trong

sáng tác văn học nghệ thuật dân gian nói chung và ca dao tình yêu nói riêng Khảo sát 350 bài ca dao Nam Bộ trích từ 2 công trình được giới thiệu ở trên,

chúng tôi nhận thấy có 16 bài ca dao xuất hiện bằng motip “đôi ta” Xét về nội dung, "đôi ta” là một cụm từ xưng hô thuộc ngôi thứ nhất, số nhiều, luôn chỉ đến hai người, là hai đối tượng trong tình yêu Thoạt nghĩ, “đôi ta” đã là

chuyện “sum họp một nhà” Nhưng thật độc đáo, ở ca dao Nam Bộ, cụm đại từ này không dừng lại ở đó Nó xuất hiện trong nhiều tình huống và biểu hiện đầy

đủ các cung bậc của tình yêu đôi lứa Từ buổi ban đầu gặp gỡ, một người nào

đó trong “đôi ta” đã bộc lộ thái độ mừng rỡ không thể kìm nén:

Trang 38

Đôi ta như đá với dao

Năng liếc năng sắc năng chiều năng quen

[20,105]

Đôi ta bắt gặp nhau đây

Như con bò gầy gặp bãi cỏ non

[20,106]

Đã quen biết nhau, họ coi như đây là “duyên tiền định”:

Bông tàn nhụy lại ngát hương,

Đôi ta gặp mặt người thương đã rồi

[16,192]

Tình đầu duyên mới, sự trong sáng:

Đôi ta như lửa mới nhen,

Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu

[20,31]

cảnh:

“Đôi ta” luôn phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, trắc trở Họ phải chịu

Đôi ta chẳng được sum vầy,

Khác nào chích nhạn lạc bầy kêu sương

[20,85]

Đôi ta duyên nợ hững hờ,

Trách thay Nguyệt lão xe tơ lạc đường

[20,193]

Trang 39

Đôi ta như con cá ở đìa, Ngày

ăn tản lạc, tối về đủ đôi

trời cuối đất Họ dặn dò nhau, cùng nguyện vượt qua mọi thử thách:

Đôi ta như rắn liu điu,

Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau

[20,87]

Đôi ta chẳng đặng duyên hài,

Cùng duyên bỏ một kiếp này mà thôi

[20,200]

Đôi ta thề nguyện trọn đời,

Dầu cho sấm sét chẳng rời nghĩa nhân

[20,207]

Đôi ta kết tóc ngày nay,

Đinh ninh chung thủy chẳng phai lợt tình

[20,208]

Đôi ta là nghĩa tào khang,

Trang 40

Xuống khe bắt ốc lên ngàn hái rau

[16,266]

tượng chỉ tình yêu đôi lứa

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (1969), Trường từ vựng và hiện tượng trái nghĩa, Tạp chí Ngôn ngữ, (S2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng và hiện tượng trái nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1969
2. Đỗ Hữu Châu (1973), Trường từ vựng – ngữ nghĩa và hiện tượng nhiều nghĩa tiếng Việt, NXB. Đại học và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng – ngữ nghĩa và hiện tượng nhiều nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB. Đại học và THCN
Năm: 1973
3. Đỗ Hữu Châu (1973), Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng, Tạp chí Ngôn ngữ, (S2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm trường và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1973
4. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1998
5. Cao Huy Đỉnh, (1995), Lời đối đáp trong ca dao trữ tình, trong Ca dao Việt Nam Những lời bình, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời đối đáp trong ca dao trữ tình, trong Ca dao Việt Nam Những lời bình
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1995
6. Lê Gia (1993), Tâm hồn mẹ Việt Nam – Tục ngữ ca dao quyển 3 Lòng son, NXB. Văn nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm hồn mẹ Việt Nam – Tục ngữ ca dao quyển 3 Lòng son
Tác giả: Lê Gia
Nhà XB: NXB. Văn nghệ TP.HCM
Năm: 1993
7. Lê Gia (1993), Tâm hồn mẹ Việt Nam – Tục ngữ ca dao quyển 4 Hồn thắm, NXB. Văn nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm hồn mẹ Việt Nam – Tục ngữ ca dao quyển 4 Hồn thắm
Tác giả: Lê Gia
Nhà XB: NXB. Văn nghệ TP.HCM
Năm: 1993
8. Lê Gia (1993), Tâm hồn mẹ Việt Nam – Tục ngữ ca dao quyển 6 Hồn thắm, NXB. Văn nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm hồn mẹ Việt Nam – Tục ngữ ca dao quyển 6 Hồn thắm
Tác giả: Lê Gia
Nhà XB: NXB. Văn nghệ TP.HCM
Năm: 1993
9. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2008), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2008
10. Vũ Thu Hương (Tuyển chọn) (2007), Ca dao Việt Nam và những lời bình, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Vũ Thu Hương (Tuyển chọn)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2007
11. Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, NXB. ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB. ĐHQG Hà Nội
Năm: 2006
13. Nguyễn Thúy Loan (2010), Tuyển tập Ca dao - Dân ca Hà Nội, NXB. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Ca dao - Dân ca Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thúy Loan
Nhà XB: NXB. Hà Nội
Năm: 2010
14. Phạm Danh Môn (Sưu tầm chỉnh lý) (2011), Tình yêu đôi lứa trong ca dao Việt Nam, NXB. Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình yêu đôi lứa trong ca dao Việt Nam
Tác giả: Phạm Danh Môn (Sưu tầm chỉnh lý)
Nhà XB: NXB. Bách khoa
Năm: 2011
16. Bùi Mạnh Nhị, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vinh (Sưu tầm) (1984), Ca dao – Dân ca Nam Bộ, NXB.Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao – Dân ca Nam Bộ
Tác giả: Bùi Mạnh Nhị, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vinh (Sưu tầm)
Nhà XB: NXB.Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1984
17. Vũ Ngọc Phan (2002), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
18. Hoàng Phê (2009), Từ điển tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB. Đà Nẵng
Năm: 2009
19. Huỳnh Ngọc Trảng (Sưu tầm) (2006), Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh, NXB. Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh
Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng (Sưu tầm)
Nhà XB: NXB. Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2006
20. Lê Thị Thanh Trúc (2007), Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Việt nhìn từ lý thuyết trường từ vựng – ngữ nghĩa, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngữ nghĩa của tục ngữ Việt nhìn từ lý thuyết trường từ vựng – ngữ nghĩa
Tác giả: Lê Thị Thanh Trúc
Năm: 2007
21. Nguyễn Duy Trung (2005), Tìm hiểu lý thuyết trường nghĩa – thực nghiệm lên tưởng tự do, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu lý thuyết trường nghĩa – thực nghiệm lên tưởng tự do
Tác giả: Nguyễn Duy Trung
Năm: 2005
22. “Tìm hiểu về ca dao Việt Nam”, http://dethi.violet.vn/present/show?entry_id=4233862 23. “Ca dao Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về ca dao Việt Nam"”, http://dethi.violet.vn/present/show?entry_id=4233862 23. “"Ca dao Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w