1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý nhân sinh trong tác phẩm đạo đức kinh của lão tử và ý nghĩa của nó đối với xây dựng đạo đức người việt nam hiện nay

89 26 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 657,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với với mong muốn hiểu rõ hơn tư tưởng nhân sinh quan trong triết học của Lão Tử cũng như ý nghĩa của nó đến việc dây dựng nền đạo đức Việt Nam hiện nay, tác giả cũng xem đây là sự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ QUỐC MẠNH

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TÁC PHẨM

“ĐẠO ĐỨC KINH” CỦA LÃO TỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NGƯỜI VIỆT NAM

HIỆN NAY

Ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Nguyễn Bằng Tường

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, trích dẫn được sử dụng trong luận văn hoàn toàn trung thực, có xuất xứ rõ ràng Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Vũ Quốc Mạnh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4 Chương 1: TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA LÃO TỬ TRONG TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” 9

1.1 Vài nét về Lão Tử 91.2 Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của tác phẩm “Đạo Đức Kinh” 141.3 Nội dung cơ bản triết lý nhân sinh của Lão Tử (Qua tác phẩm: “Đạo đức kinh”) 18

Chương 2 : GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH” ĐỐI VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 48

2.1 Sự du nhập của Đạo giáo vào Việt Nam và những ảnh hưởng của nó trong xã hội 482.2 Những giá trị đạo đức tiêu biểu và quan điểm của Đảng về xây dựng đạo đức người Việt Nam hiện nay 662.3 Ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong tác phẩm “Đạo đức kinh” đối với xây dựng đạo đức người Việt Nam hiện nay 72

KẾT LUẬN 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lão Tử là một triết gia lớn của Trung Quốc cổ đại Ông được coi là người sáng lập ra trường phái Đạo gia-trường phái có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người Trung Quốc và các vùng Đông Á, trong đó có Việt Nam Học thuyết của Ông khái quát sâu rộng, hàm chứa một tư tưởng triết học uyên thâm, một tư tưởng biện chứng sâu sắc được thể hiện qua phạm trù

“Đạo” Qua đó, Ông nâng lên thành một triết lý nhân sinh, một nghệ thuật sống sâu sắc

Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, tư tưởng của Ông như một mạch nước ngầm xuyên qua các thời đại, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của một học thuyết Cho đến nay, cùng với Nho giáo, Phật giáo, học thuyết của Lão Tử có một sức hút kỳ lạ đối với những nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Phương Đông Tư tưởng triết học của Ông dù chỉ gói gọn trong một tác phẩm “Đạo đức kinh”, với khoảng trên 5000 từ nhưng nó không chỉ chứa đựng những tư tưởng triết học sâu sắc mà còn chứa đựng những giá trị tinh tuý nhất của loài người Hêghen nhà triết học cổ điển Đức đã coi Lão

Tử là đại biểu cho tinh thần Phương Đông, còn Renebertrand, một học giả Phương Tây đã đánh giá: “Ông chỉ viết một cuốn sách rất vắn tắt: “Đạo đức kinh” Vài dòng chữ hợp thành quyển sách ấy, chứa đựng sự khôn ngoan trên trái đất này”

Nghiên cứu toàn bộ học thuyết của Lão Tử, bên cạnh học thuyết “Đạo” với tư tưởng biện chứng về tự nhiên, chúng ta còn thấy một nhân sinh quan, một triết lý sống sâu sắc không chỉ có ý nghĩa với Phương Đông mà còn có giá trị cho cả nhân loại

Trên thực tế ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, dịch thuật và khảo cứu về tác phẩm “Đạo đức kinh” Các công trình này phần nhiều tập

Trang 5

trung chủ yếu đến tư tưởng biện chứng mà chưa chú ý nhiều đến mặt triết lý nhân sinh hoặc nếu có thì chưa nghiên cứu có tính chất hệ thống và chưa làm

rõ ý nghĩa của nó đến việc xây dựng nền đạo đức ở Việt Nam hiện nay

Với lý do đó tác giả chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh trong tác phẩm

“Đạo đức kinh” của Lão Tử và ý nghĩa của nó đối với xây dựng đạo đức người Việt Nam hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp của mình Cùng với với

mong muốn hiểu rõ hơn tư tưởng nhân sinh quan trong triết học của Lão Tử cũng như ý nghĩa của nó đến việc dây dựng nền đạo đức Việt Nam hiện nay, tác giả cũng xem đây là sự tập dượt trong công tác nghiên cứu khoa học, tích luỹ vốn kiến thức để phục vụ cho công tác giảng dạy của mình

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan

Toàn bộ tư tưởng của Lão Tử chỉ có trong một cuốn “Đạo đức kinh”, nhưng sách chú giải thì rất nhiều Ở Trung Quốc, từ thời Chiến quốc đến các triều đại phong kiến về sau các học giả đã chú trọng đến việc chú thích và phát triển tư tưởng của Lão Tử, tạo ra sự ảnh hưởng rộng rãi đối với mọi tầng lớp trong xã hội

Ở Việt Nam nhiều năm qua, sách của Lão Tử được nhiều học giả quan tâm đến việc dịch và chú thích

Tác giả Thu Giang-Nguyễn Duy Cần với công trình “Lão tử tinh hoa”,

đã trình bày một cách khái quát toàn bộ tư tưởng của Lão tử, từ khái niệm

“Đạo” và sự biến hóa của “Đạo” sang “Đức”, từ “Đức” chuyển hóa thành Nhân, Nghĩa, Thánh, Trí…

Tác giả Nguyễn Duy Hinh với công trình “Người Việt Nam với Đạo

giáo”, đã khái quát về Đạo giáo Trung Quốc và Đạo giáo Việt Nam, những

ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc đến Đạo giáo Việt Nam và trong đời sống xã hội

Trang 6

Nhiều tác giả với công trình “Đạo gia và văn hóa”, đã nghiên cứu mọi

lĩnh vực thuộc về văn hóa Trung Quốc, nhằm làm rõ thêm mối tương quan giữa 2 nền văn hóa Trung Quốc và Việt Nam

Đỗ Anh Thơ với công trình “Trí tuệ Lão tử”, đã trích một số đoạn

trong “Đạo đức kinh” của Lão tử, có phiên âm, dịch và bình Cái khác lạ trong công trình này là tác giả bình theo kiểu “hiện đại”, có công nghệ thông tin, có thị trường chứng khoán… Đó cũng là một cách nhận định

Tác giả Nguyễn Hiến Lê với công trình “Lão tử Đạo đức kinh”, đã

dịch, chú giải và phân tích một cách khái quát nội dung của tác phẩm

Tác giả Ngô Tất Tố với công trình “Lão tử Đạo đức kinh”, đã dịch và chú

giải cũng như đã đưa ra những nhận định chung về nội dung của tác phẩm

Ngoài ra còn có một số nhà nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Phương Đông như Giản Chi, Nguyễn Tài Thư, Doãn Chính, Nguyễn Hữu Vui…cũng quan tâm phân tích tư tưởng của Ông dưới nhiều góc độ, chẳng hạn tác giả Doãn Chính

với công trình “Đại cương triết học Trung Quốc”, hay Bản dịch của Thanh

Chân về tác phẩm nước ngoài: “Nguyên lý sống hoà hợp và quân bình” của học giả C.Alexander Simpkins và Annellen Simpkins…Đây là một nguồn tư liệu quý để cho các học giả đời sau nghiên cứu về tư tưởng của Lão Tử

Nhìn chung các tác giả này đã đưa ra được những tư tưởng khái quát của Lão Tử về triết lý sống thông qua việc giải thích quan niệm của Ông về

“Đạo” Các tác giả cũng nêu lên được một số những ảnh hưởng của triết lý sống của Lão Tử đến văn hoá Việt Nam song những quan niệm chưa trở thành hệ thống và còn hoà trộn với tư tưởng của Đạo giáo nói chung và lẫn với các giáo phái khác

Với tình hình nêu trên, việc nghiên cứu triết lý nhân sinh trong quan niệm của Lão Tử và ý nghĩa của nó đối với xây dựng nền đạo đức Việt Nam hiện nay vẫn là rất cần thiết và có giá trị to lớn

Trang 7

Nghiên cứu về nền đạo đức Việt Nam thì đã có rất nhiều đề tài khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu về triết lý nhân sinh trong tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão và ý nghĩa của nó đến xây dựng nền đạo đức Việt Nam hiện nay thì chưa có đề tài nào

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là làm rõ nội dung triết lý nhân sinh của Lão tử cũng như ý nghĩa của nó đối với xây dựng đạo đức người Việt Nam hiện nay Để thực hiện mục tiêu này, tác giả xác định cần thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:

+ Phân tích làm rõ những ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong tác phẩm

“Đạo đức kinh” đối với xây dựng đạo đức người Việt Nam hiện nay

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu triết lý nhân sinh trong tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão tử và ý nghĩa của nó đối với xây dựng nền đạo đức người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan

Trang 8

điểm, chính sách của Đảng về việc kế thừa có phê phán những tinh hoa văn hoá nhân loại và những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc

- Phương pháp nghiên cứu chung: Đề tài còn sủ dụng một số phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, so sánh…

6 Đóng góp mới của đề tài

Thứ 1, luận giải có hệ thống triết lý nhân sinh trong tác phẩm “Đạo đức kinh”của Lão tử, từ đó chắt lọc những tư tưởng đạo đức có giá trị trong tác phẩm, đồng thời làm rõ những hạn chế của nó

Thứ 2, tính cấp bách của việc giáo dục đạo đức trong gia đoạn hiện nay, khi nước ta đang thực hiện nền kinh thế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ-là thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng của thế hệ đi trước

Thứ 3, Yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống, đó cũng là một phẩm chất đạo đức của con người mới

Thực hiện mục tiêu mà đề tài đã đề ra, công trình nghiên cứu sẽ là cơ

sở lý luận cho việc nghiên cứu, tìm hiểu và xây dựng một nền đạo đức mới của người Việt Nam hiện nay Đề tài cũng cho thấy sự tiếp thu và phát triển những giá trị đạo đức tiêu biểu của nhân loại trong quá trình xây dựng nền đạo đức mới của người Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 2 chương và 6 tiết:

Trang 9

Chương 1 TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA LÃO TỬ TRONG TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC KINH”

1.1 Vài nét về Lão Tử

Lão tử là một hiện tượng khá lạ trong lịch sử triết học của nhân loại Ông là một triết gia lớn, ảnh hưởng tới cả Đông Á ngang với Khổng tử, thời nào cũng được dân tộc Trung Hoa tôn trọng không như Mặc tử mà tên tuổi bị chìm luôn trong hai ngàn năm Điều mà các học giả nghiên cứu Lão tử luôn quan tâm tới, đó chính là đời sống “danh bất hư truyền” và tác phẩm bất hủ mang tên Ông nữa Ông sinh năm nào? Thời nào? Tên thật là gì? Khi sống tiếp xúc với những ai? Tác phẩm của Ông xuất hiện vào thời Xuân thu hay thời Chiến quốc? Cho đến nay, vẫn còn là một điều bí ẩn và cũng là đề tài gây nhiều tranh luận sôi nổi đối với các học giả hậu thế

Các học giả hiện đại đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phân tích ngôn ngữ để nghiên cứu về đời sống và xuất xứ tác phẩm của Ông, nhưng cho đến nay tất cả vẫn chỉ là giả thuyết và còn nhiều nghi vấn

Đời sống của Lão tử được chép lần đầu tiên trong bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, phần Liệt truyện, thiên 63: Lão tử, Trang tử, Thân Bất Hại, Hàn Phi tử Toàn văn như sau:

“Lão tử là người làng Khúc Nhân, hương Lệ, huyện Khổ, nước Sở; họ

Lí, tên là Nhĩ, tự là Đam, làm quan sử, giữ kho chứa sách nhà Chu

Khi Khổng tử qua Chu, lại hỏi Lão tử về Lễ, Lão tử đáp:

“Những người ông nói đó, thịt xương đều nát cả rồi, chỉ còn lại lời của

họ thôi Vả lại người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp thời thì đội nón lá mà đi chân Tôi nghe nói người buôn giỏi thì giấu kĩ vật quý, coi ngoài như không có gì; người quân tử đức cao thì dong mạo như ngu độn

Trang 10

Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái vẻ hăm hở cùng cái trí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu Tôi chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi”

Khổng tử về bảo môn sinh: “Loài chim, ta biết nó bay được; loài cá ta biết nó lội được; loài thú ta biết nó chạy được Chạy thì ta dùng lưới để bẫy

nó, lội thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn Đến loài rồng cưỡi gió mây mà lên trời thì ta không sao biết được Hôm nay ta gặp ông Lão tử, ông là con rồng chăng?”

Phần thế gia, thiên Khổng tử thế gia của Sử Ký Tư Mã Thiên còn chép một đoạn lời Lão tử khuyên Khổng tử: “Tôi nghe nói người giàu sang tiễn nhau bằng tiền bạc, người nhân tiễn nhau bằng lời nói Tôi không phải người giàu sang, mạn phép tự coi là người nhân mà tiễn ông bằng lời này: Kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống vì ham phê bình người; kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy tới thân vì hay nêu cái xấu của người Kẻ làm con và kẻ làm tôi đều không có cách gì để giữ mình cả” (Phần Thế gia-Thiên 47-Khổng tử)

Sử ký còn chép, có người nói Lão tử là lão Lai tử-là người nước Sở làm ra mười năm thiên về công dụng của của Đạo gia, Ông ta sống cùng thời với Khổng tử Đại khái Ông số khoảng 160 tuổi, có người nói Ông hơn

200 tuổi

Ngoài ra, Tư Mã Thiên còn đưa ra một thuyết nữa, sau Khổng tử mất

129 năm, có viên thái sử nhà Chu tên là Đam đến yết kiến Tần Hiến Công, có người nói Lão tử là Lão Đam, có người bảo không phải, đời không biết ai nói phải, ai nói không phải

Sau bộ Sử Ký Tư Mã Thiên còn có một bộ sử ký nữa là Tiểu Đái Ký của các nhà Nho do Đái Thanh biên soạn dựa trên bộ lễ ký, trong thiên “Tăng

tử vấn” có thuật lại việc Khổng tử đến hỏi Lão tử về lễ và kể lại rằng lần đó Khổng tử theo Lão tử đi chợ táng ở Hạ Đảng, giữa đường gặp Nhật thực

Trang 11

Tất cả ghi chép về cuộc sống của Lão tử được biết đến nay chỉ có vậy, những học giả đời sau nghiên cứu Lão tử căn cứ vào Sử Ký Tư Mã Thiên và những nghi vấn về Ông chia làm hai phái

Phái thứ nhất cho rằng, Lão tử sống vào thời Xuân thu, cùng thời với Khổng tử Còn phái thứ hai cho Lão tử xuất hiện sau Khổng Mặc, phái này đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện gồm Tất Nguyên, Uông Trung, sau này có Khang Hữu Vi, La Căn Trạch, Phùng Hữu Lan, Vũ Đồng Ở Việt Nam có học giả Cao Xuân Huy, Nguyễn Hiến Lê… phái này nghi ngờ rằng những tư liệu

do Tư Mã Thiên chép không chính xác, mà ngay cả Tư Mã Thiên còn có những điểm nghi vấn Ngoài ra, còn một phái nữa cho rằng Lão tử giảng lễ cho Khổng tử là một người, còn Lão tử viết Đạo Đức Kinh là một người khác

Đây cũng là một trong những khó khăn khi xác định về niên đại sống của Lão tử và xuất xứ của tác phẩm “Đạo đức kinh” một cách chính xác và đây cũng là điểm đặc biệt gây sự chú ý và muốn khám phá về đời sống của Lão tử, ngoài những giá trị về mặt tư tưởng triết học

Về truyện vấn lễ, một số người cho rằng, Lão tử cùng thời với Khổng

tử và đều tin đây là câu truyện có thực Họ cho khi viết truyện về Lão tử, Tư

Mã Thiên đã sử dụng tư liệu về Lão tử có thời tiên Tần, đầu tiên phải kể đến

bộ Trang tử Nam Hoa Kinh, bên cạnh đó còn có các bộ Hàn Phi tử, chiến quốc sách, Lã Thị Xuân Thu Hơn nữa Tư Mã Thiên cũng là nhà Nho có lương tâm nếu không có tài liệu chắc chắn thì không thể sao chép Ngoài ra

bộ Lễ Ký cũng được coi là một trong những bộ kinh quan trọng của Nho Giáo Những nhà nho như Lưu Hướng, Đái Đức, Đái Thanh đều là là những nhà Nho có uy tín, nhất là câu truyện Khổng Tử đi chợ táng cùng Lão Tử ở

Hạ Đảng, phài là những câu chuyện có thực mới được ghi chép lại

Nhân trong bộ Tiểu Đái Ký, thiên “Tăng tử vấn” có chép lời của Khổng

tử rằng: “Xưa ta theo Lão Đam đi chợ táng ở Hạ Đảng giữa đường gặp nhật

Trang 12

thực” Trong sách Tả truyện có chép Mạnh Hy tử sắp chết có cho con là Hoài Nam tử theo Khổng tử học lễ Ông Diêu Nhược Cừ một học giả đời Thanh thấy sách chép Mạnh Hy tử sắp chết năm 24 đời Chiêu Công, năm ấy có nhật thực bèn đoán rằng, Khổng tử gặp Lão tử lúc ấy Khổng tử khoảng 34 tuổi Sau này, Hồ Thích lại cho rằng: Khổng tử gặp Lão tử nhưng không biết năm nào? Có thể là năm thứ 24 đời Chiêu Công, cũng có thể là năm thứ 31 đời Chiêu Công, khoảng thời gian Khổng tử 34 tuổi hoặc 41 tuổi (Nhật thực năm

518 hoặc nhật thực năm 511 trước công nguyên) Lão tử lớn hơn Khổng tử nhiều nhất cũng không quá 20 tuổi

Nhưng một số khác lại cho rằng truyện vấn lễ chỉ là một trong số những truyện ngụ ngôn chứ không phải là thật, vì những tài liệu do Tư Mã Thiên sử dụng phần lớn dựa theo sách của Trang tử, mà sách của Trang tử thường có tính chất ngụ ngôn không thể tin được

Về họ và tên của Lão tử, Sử Ký Tư Mã Thiên chép Lão tử họ Lý, tên Nhĩ, tự Bá Dương, thụy là Đam Nguyễn Hiến Lê cho rằng họ và tên tự của Lão tử rất thông dụng từ xưa đến nay, tên Nhĩ tự là Đam thì rất hợp, chữ Đam theo thuyết Văn giải tự có nghĩa là tai thòng xuống, theo truyền thuyết Lão tử sống rất thọ nên người ta gọi là Lão Đam, nghĩa là ông già tai dài, nhưng vì tôn trọng nên gọi là Lão tử, cũng có nghĩa là Ông thày già

Năm 1973, học giả Dư Bồi Lâm đã công bố ở Đài Loan ý kiến cho rằng Lão tử không phải họ Lý mà là họ Lão, với lập luận: Tra khắp các sách cổ thì thời Xuân thu không có họ Lý, mãi tới thời Chiến quốc mới có Lý Khôi, Lý Khắc, Lý Mục… Như vậy đủ biết họ Lý xuất hiện rất trễ Lão tử phải là họ Lão, sách tả chuyện 15 đời Thành Công có Lão Tá, năm 14 có Lão Kỳ, Luận ngữ có Lão Bành, Sử Ký có Lão Lai, không thể tra khảo để biết Lão tử có thuộc dòng họ những người đó không, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, thời

Cổ Đại có họ Lão Vả lại các triết gia thời tiên Tần đều được gọi bằng họ như

Trang 13

Khổng tử, Mặc tử, Tuân tử, Hàn Phi tử…không nhà nào không vậy Lão tử không ra ngoại lệ đó Như vậy rõ ràng họ Lão chứ không phải họ Lý Họ Lão

mà gọi lầm ra họ Lý là do lẽ chữ Lão và chữ Lý đọc ra giống nhau, cũng như Tuân Khanh bị gọi nhầm là Tôn Khanh

Trong Trang tử Nam Hoa Kinh, Trang tử có nhắc tới Lão Đam, giữ chức đồ thư quán, thiên “Thiên đạo” có viết: “Khổng tử qua Tây Phương để gửi sách của mình vào đồ thư quán Môn đồ Tử Lộ thưa: Con nghe nói có vị

đồ thư quán này đã từ chức về vườn, thầy muốn gửi sách vào đồ thư quán thì thử hỏi lại ông ấy xem”

Còn Phùng hữu Lan cho rằng Lý Nhĩ là một nhân vật thời Chiến Quốc, thích sống ẩn dật, còn Lão Đam là một nhân vật thần truyền, sở dĩ người ta nhầm Lão Đam với Lý Nhĩ có lẽ vì khi nhà chép sử Tư Mã Đàm chết, con là

Tư Mã Thiên nối nghiệp cha đã trộn lẫn hai người với nhau Rồi các nhà làm

sử đời sau cứ thế chép lại

Sử Ký Tư Mã Thiên còn chép, Lão Lai tử cũng là người nước Sở, làm

ra 15 thiên về công dụng của đạo gia, Ông ta cũng sống cùng thời với Khổng

tử Bản thân Tư Mã Thiên cũng nghi ngờ Lão tử và Lão Lai tử là hai con người khác nhau Trong thiên Trọng Ni đệ tử, Tư Mã Thiên bảo Khổng tử tôn trọng Lão tử ở Chu, Lão Lai tử ở Sở Như vậy, Tư Mã Thiên coi Lão tử và Lão Lai tử là hai người khác nhau Ông còn bảo Lão tử viết hai thiên nói về ý nghĩa của Đạo và Đức, còn Lão Lai tử viết 15 thiên nói về công dụng của Đạo gia Có nghĩa là Lão tử không phải là Lão Lai tử

Theo Vũ Đồng, thì sách Khổng tử bảo Lão Lai tử cùng thời với Tư

tử, cháu nội của Khổng tử và có lần vấn đáp với Tư tử Nguyễn Hiến Lê kết luận Lão Lai tử là người có thật, nhưng chỉ giống Lão tử ở ba điểm: Cùng

họ Lão, cùng người nước Sở, cùng phái Đạo gia, không thể bảo Lão tử là Lão Lai tử được

Trang 14

Tư Mã Thiên còn đưa ra một thuyết nữa, có người bảo Lão tử chính là Thái sử Đam đã từng yết kiến Tần Hiến Công, sau Khổng tử mất 129 năm, có người bảo phải, có người bảo không phải Đây cũng là một vấn đề Tư Mã Thiên nghi ngờ, vì nếu xét kỹ thì Lão tử đến yết kiến Tần Hiến Công lúc này ông cùng khoảng 220 tuổi (Tính hơn Khổng tử 20 tuổi theo dự đoán của các học giả) Một người tu đạo cũng không thể kéo dài tuổi thọ của mình và khỏe mạnh như vậy, vì những người được coi là sống thọ trên thế giới cũng chỉ sống được khoảng 130 đến 135 tuổi Vậy Lão Đam ở thời Khổng tử và Lão Đam ở thời Chiến quốc là hai người chăng?

Về tên tự của Lão tử, Tư Mã Thiên chép tên Tự của Lão tử là Bá Dương Dưới thời triều U Vương nhà Chu (thế kỷ VII trước công nguyên)

có một viên quan chép sử là Bá Dương Hồ Thích cho rằng, những nhà chép sử đời sau đã nhầm Lão tử với viên quan chép sử ấy Như vậy về họ

và tên của Lão tử cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, chưa có thuyết nào thuyết phục thuyết nào

Vậy Lão tử là ai? Là Lão tử, Lão Lai tử hay Thái sử Đam, Họ Lý hay

họ Lão cũng thật là một câu hỏi khó trả lời chính xác bởi lịch sử 2500 năm đã trôi qua, với biết bao thay đổi Nhưng chúng ta tin rằng ông là một nhân vật

có thật như “Đạo” của Ông vậy Ông là một nhân vật có danh mà lại “vô danh” Vì vô danh cho nên đối với chúng ta, Ông là Lão tử và mãi mãi là tác giả của cuốn sách bất hủ “Đạo Đức Kinh”

1.2 Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của tác phẩm “Đạo Đức Kinh”

Theo ghi chép của Tư Mã Thiên, “Đạo đức kinh” được soạn theo yêu cầu của viên quan coi cửa Hàm Cốc tên là Doãn Hỷ Kết cấu của tác phẩm bao gồm 81 chương và được chia làm hai thiên: Thượng (37 chương) và Hạ (44 chương) nói về ý nghĩa của Đạo và Đức

Trang 15

Sách của Ngô Tất Tố viết: Có người nói Lão tử không phải là người thứ nhất khởi xướng thuyết đạo đức Trước Lão tử đã có một vài người truyền bá thuyết ấy, hiện nay người ta còn có thể biết tên Nhưng những người này chưa từng viết sách Khi Lão tử chán ghét xã hội rối loạn, suy vi,

bỏ nhà Chu đi, vào cửa Hàm Cốc mới viết ra quyển “Đạo đức kinh” để lại cho người giữ ải Tài liệu của quyển “Đạo đức kinh”, Lão tử đã góp nhặt ở tàng thư, khi làm quan ở nhà Chu

Đến thế kỷ thứ XVIII một số người bắt đầu nghi ngờ điều đó Đầu thế

kỷ XX, những nhà nghiên cứu Lão tử của thời hiện đại đã áp dụng những phương pháp khoa học phân tích nội dung, ngôn ngữ tác phẩm và chứng minh

“Đạo đức kinh” không phải là sản phẩm của thời Xuân thu mà là sản phẩm của giữa hoặc cuối thời Chiến quốc Một học giả người Nhật Bản là Tân-điền Tả-hữu-Cát, nêu lên rằng: Thời của Khổng tử chưa có phạm trù “nhân nghĩa”, mặc dù Mặc tử và Tăng tử cũng có dùng, nhưng đến Mạnh tử thì tư tưởng

“nhân nghĩa” mới trở thành tiêu ngữ của Nho giáo, tư tưởng “thủ thiên hạ” (Trị thiên hạ) đến giữa và cuối đời Chiến quốc mới xuất hiện Tư tưởng của Lão tử có sự tổng hợp và vượt trội so với những học thuyết Danh gia, Pháp gia, Mặc gia hậu kỳ

Một giả thuyết được đặt ra rằng Lão tử hay Lão Đam không tự viết sách mà phải là một người hoặc một nhóm người của phái Đạo gia viết ra, nhưng vào thời gian nào thì cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, có người bảo, sau Khổng Mặc, trước Trang Tử, có người bảo từ Trang tử đến Tuân tử

Hầu hết các học giả đều chấp nhận là sách của Lão tử viết ra sau Khổng, Mặc Tức vào khoảng cuối thế kỷ V, đầu đầu thế kỷ thứ IV trước công nguyên, vì Khổng tử và Mặc tử không hề nói đến Lão tử, còn tư tưởng của Lão tử lại đối lập hẳn với tư tưởng của Khổng, Mặc, những danh từ như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của Nho học đều bị Lão tử chê bai, chỉ trích

Trang 16

Nhưng ai là tác giả của tác phẩm “Đạo đức kinh”? Phùng Hữu Lan đưa

ra giả thuyết rằng: Hoặc giả Lý Nhĩ ở đời Chiến Quốc đã lợi dụng cái tên Lão Đam để dấu tên thực của mình, làm cho học thuyết của mình được người ta tôn trọng Còn Quách Mạt Nhược thì đưa ra giả thuyết, sách của Lão tử là của Hoàn Uyên, một thành viên của phái Đạo gia có mặt ở Tắc Hạ đời Tuyên Vương, nước Tề

Chúng ta thừa nhận, tư tưởng triết học của Lão tử có tính chất vượt trội hơn hẳn các học thuyết thời kỳ tiên Tần Nhưng không phải các học thuyết ra đời trước bao giờ cũng lạc hậu hơn các học thuyết ra đời sau; cũng không phải các học thuyết ra đời sau bao giờ cũng tiến bộ hơn các học thuyết ra đời trước Lịch sử tư tưởng phương Đông đã chứng minh điều đó Chẳng hạn, tất cả các học thuyết từ đời Tây Hán đến thời kỳ cận đại, chỉ là

sự kế thừa, bổ sung, chưa có học thuyết nào vượt qua được các học thuyết của Khổng tử, Lão tử hay thời kỳ tiên Tần Hơn nữa, ở thời Xuân thu những

tư tưởng tranh quyền thống trị thiên hạ đã xuất hiện rồi Có thể Lão tử là một trường hợp đặc biệt, có tư tưởng “vượt trội” so với tồn tại của xã hội Một điều chắc chắn tác phẩm này do một người viết và ông chính là tác giả của

nó, vì trong nội dung tác phẩm, Ông đã sử dụng đại từ nhân xưng ngôi chủ

“Ta”, ví dụ “Ta không biết tên chi, mượn một chữ đạo đặt tên cho” hay

“điều mà người xưa dạy, nay ta dùng để dạy” Ông là một nhà hiền triết tài

ba, song không gặp thời, đành viết cuốn sách mỏng để lại cho hậu thế Mặc cho sự đời đổi thay, Ông không tham gia vào chuyện chính sự: “Người quân

tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì như cỏ bông” Điều này rất dễ hiểu, Ông đang sống giữa buổi giao thời, xã hội đang chuyển mình từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến, những cuộc chiến tranh loạn lạc,

xã hội rối ren, việc bảo toàn tính mạng với ông vẫn là thượng sách Với một người chủ trương “vô vi”, làm tất cả nhưng dường như không làm gì cả,

Trang 17

xong việc rồi không để lại tên, thành công mà không ở lại, thì ta không bao giờ có thể biết về ông hơn những gì mà ta đã biết

Về học thuyết của Ông, nhiều học giả cho rằng học thuyết của Ông mang đậm tư tưởng tâm linh đạo học, dành cho những người tìm đến con đường siêu thoát, nhưng nhìn một cách tổng quát, Ông là nhà triết học biện chứng Học thuyết của Ông thể hiện rõ hai phần cơ bản: Triết học về tự nhiên

và triết học về xã hội-nhân sinh, với tư tưởng biện chứng rõ nét Hai phần này thường được Ông trình bày đan xen vào nhau, bổ trợ cho nhau, câu trước làm tiền đề cho câu sau, câu sau chứng minh cho câu trước rất lôgíc và chặt chẽ Thông qua đó, Ông tìm hiểu bí mật cuộc sống con người từ trong tác động tương hỗ lẫn nhau giữa vũ trụ và con người

Ông sống cuộc đời ẩn dật nhưng tư tưởng của Ông không hề ẩn dật, thuyết của Ông không yếm thế như thuyết của Trang tử, mà nó ẩn chứa một sức mạnh phi thường Nói như Lão tử, đạo của Ông nằm ở thế “ẩn” (đạo ẩn không tên) chờ đợi thời cơ, chờ đợi người có đủ trí đức thực hành Thời của Ông thế “hữu vi” đang cường thì thế “vô vi” phải nhược, hay chỉ khi thế “vô vi” cường thì “hữu vi” mới có thể nhược Khác với các triết gia khác trong lịch sử tư tưởng, Ông không lưu danh của mình bằng hành động

mà lưu danh mình bằng tư tưởng “vô vi nhi bất bất vi” (không làm gì mà không gì không làm)

Điều bất hủ của tác phẩm “Đạo đức kinh” là ở chỗ nó kêu gọi các nhà cầm quyền, các chính khách dùng đạo trị quốc an dân, hướng con người vào các giá trị đơn giản, chất phác, lấy chính trực để cải hóa nhân dân Nhưng tư tưởng của Ông đi ngược lại với quyền lợi của các nhà trị quốc “hữu vi” đương thời, cho nên các nhà trị quốc đương thời không thể áp dụng đường lối trị quốc của Ông, vì thế Ông mới than rằng: “Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, nhưng thiên hạ không ai hiểu, không ai làm theo” Những người theo

Trang 18

đuổi sự nghiệp bằng con đường “hữu vi” sao có thể hiểu được con đường và

sự nghiệp “vô vi” của Ông, cho nên nghe thấy Đạo thì “cười rộ lên”

Tác phẩm của Ông được viết theo thể thơ tự do, giàu cảm xúc, lời văn khúc chiết, cô đọng, thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao, bút pháp ẩn

dụ, cú pháp chặt chẽ, câu chữ đối nhau, giàu hình ảnh, mà vẫn toát lên nét khoáng đạt, thâm trầm, sâu kín, mang đậm tính chất triết học Á Đông

1.3 Nội dung cơ bản triết lý nhân sinh của Lão Tử (Qua tác phẩm: “Đạo đức kinh”)

1.3.1 Đối với bản thân cá nhân con người

1.3.1.1 Quả dục (hạn chế dục vọng), sống thuận theo lẽ tự nhiên

Lão tử là triết gia đầu tiên, có lẽ duy nhất cố gắng tìm nguyên nhân sâu xa sự sa đọa của loài người Khổng Mặc chỉ tìm nguyên nhân sự loạn lạc của xã hội đương thời thôi: Tại các nhà cầm quyền không theo đạo tiên vương (Nghiêu, Thuấn), tại vua không ra vua, không chú trọng sự giáo dục

Lễ, Nhạc (Khổng), hoặc tại mọi người không biết yêu người khác như yêu bản thân mình (Mặc)…

Lão tử đi ngược lên nữa, bảo không phải vậy Nguyên nhân chính, duy nhất theo Ông là tại loài người mỗi ngày một xa đạo, không sống theo đạo, tức thuận theo tự nhiên, mất đi sự chất phác, có nhiều dục vọng quá, càng thông minh lại càng có nhiều dục vọng, càng xảo trá, tranh giành, chém giết nhau

Tiền đề Ông đặt ra là con người bản sơ do đạo tạo ra, được đức nuôi dưỡng, cũng tự nhiên, chất phác, ít dục vọng, chân thành, nhu thuận Tiền đề

đó đúng hay không là điều chưa ai biết được – và đem ra bàn thì không bao giờ hết Có thể nó đúng một phần Các nhà nhân chủng học đều nhận rằng các dân tộc sơ khai rất chất phác, thành thực; có thể có một số ưa hòa bình, nhưng

Trang 19

đa số cũng tàn bạo lắm Khi săn mồi thì chém giết lẫn nhau, ăn thịt nhau nữa Không thể tin chắc rằng con người sơ khai đều tốt cả

Nhưng triết gia nào cũng có quyền đặt ra một tiền đề; hễ nó đúng được một phần-dù nhỏ-rồi suy luận một cách đúng để rồi sau cùng đưa ra một kết luận, một giải pháp có ích cho nhân loại trong một thời nào đó, sửa được một vài sai lầm nào đó, là đủ cho triết thuyết của mình có giá trị rồi

Lão tử cũng vậy, Ông suy nghĩ rất đúng Con người vốn chất phác, chỉ

vì các ông thánh mà Khổng, Mặc đặt ra những giá trị giả tạo (hiền và bất hiền, quý và tiện, danh và lợi), gợi lòng ham muốn của dân, rồi dạy cho họ khôn ranh hơn nữa, thì làm sao không sinh ra loạn? Khi loạn rồi, họ đưa ra đức nhân để sửa (như Khổng), sửa không được, họ dùng tới quan niệm nghĩa (như Mạnh), thất bại nữa, họ phải đề cao Lễ (như Tuân), hết lễ tới pháp, thuật (như Hàn Phi)… Và Lão tử kết luận: Chỉ có mỗi một cách là thay đổi lối sống, trở

về với đạo, với tự nhiên, tức là phải “phản phác”

Bước đầu là phải “quản dục”, giảm thiểu dục vọng Trong “Đạo đức kinh” ta thấy có vài ba chỗ dùng danh từ vô dục, như chương 3:

“Sử dân vô tri vô dục” – (Khiến cho dân không biết, không muốn)

Lão tử cho lòng ham danh lợi là đầu mối của loạn Nho, Mặc đều trọng hiền (Luận Ngữ, thiên Tử Lộ, khuyên “đề cử hiền tài”, còn Mặc tử thì có thiên Thượng Hiền), khiến cho dân thèm khát danh lợi, dùng trí xảo để tranh nhau danh lợi Cho nên, bậc thánh nhân (theo quan niệm của Ông chứ không phải quan niệm của Khổng, Mặc) chỉ cần lo cho dân đủ ăn, khỏe mạnh, thuần phác (vô tri) không ham muốn gì cả (vô dục), như vậy là vô vi mà nước sẽ trị Chương 37:

“Phù diệc tương vô dục”-(Khiến cho người dân không còn tư dục)

Nhưng chữ vô ở đó cũng như chữ vô trong từ vô vi, không có nghĩa là hoàn toàn không, không trái hẳn với hữu Vô vi không phải là hoàn toàn

Trang 20

không làm gì cả mà là đừng làm gì trái với luật tự nhiên của vũ trụ; vô dục không phải là hoàn toàn không ham muốn gì cả, mà là đừng muốn cái gì ngoài những nhu cầu tối thiểu tự nhiên của con người Vậy vô dục tức là quả dục, hoặc tiết dục

Về điểm quản dục, thuyết của Lão tử không có gì mới mẻ, Khổng tử và Mặc tử cũng chủ trương như Ông, chỉ khác là Ông nhấn mạnh hơn hai nhà kia, tiến xa hơn, cho thái độ vô dục là hạnh phúc hoàn toàn là điều kiện để trở

về đạo mà nhân loại mới khỏi loạn, còn Nho giáo chỉ cho nó là một điều kiện

để giữ tư cách (Khổng), hoặc nuôi cái tâm (Mạnh); và Mặc tử coi nó là một sự khắc khổ nên theo để mưu hạnh phúc chung trong khi còn nhiều người khốn cùng, khắc khổ tới mức chỉ mong thoa mãn được ba nhu cầu căn bản này thôi:

Đủ ăn, đủ mặc, mệt nhọc, đau ốm được nghỉ ngơi: “Dân có ba mối lo: Đói mà không được ăn, rét mà không có áo, mệt mà không được nghỉ ngơi, ba cái đó

là ba mối lo lớn của dân” – (Phi Nhạc)

Lão tử nhiều lần nhắc ta phải quả dục Chương 64 Ông nói: “Học bất

học”, cùng chương đó, Ông bảo “dục bất dục”, nghĩa là chỉ nên muốn một

điều là vô dục, quả dục

Chương 19, Ông gắn liền quả dục với “bão phác”:

“…biểu hiện sự mộc mạc, giữ sự chất phác, giảm tư tâm, bớt dục vọng” (Hiện tố, bão phác, thiểu tư, quả dục)

Chương 37, Ông nói rõ hơn:

“Trong quá trình biến hóa, tư dục của vạn vật mà phát ra thì ta dùng cái mộc mạc vô danh [tức đạo] mà trấn áp hiện tượng đó, khiến cho chúng không còn tu dục nữa Không còn tư dục mà trầm tĩnh thì thiên hạ sẽ tự

ổn định”

Trang 21

Cũng như Mặc tử, Ông cho rằng con người chỉ cần thỏa mãn những nhu cầu tự nhiên tối thiểu: Bụng thì no, xương cốt thì mạnh; còn những vật hiếm, chỉ gợi lòng ham muốn, khiến cho xã hội sinh loạn, thì phải bỏ hết:

“Không trọng người hiền để cho dân không tranh, không quý của hiếm để dân không trộm cướp, không phô bày cái gì gợi lòng ham muốn, để cho lòng dân không loạn

Cho nên chính trị của thánh nhân là làm cho dân:Lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, tâm trí thì yếu [không ham muốn, không tranh giành], xương cốt thì mạnh” - Chương 3

Những cái làm cho vui tai, đẹp mắt, ngon miệng cũng vậy vì:

“Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắt; ngũ âm làm cho người ta ù tai; ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi; ruổi ngựa săn bắn làm cho người ta

mê loạn; vàng bạc châu báu làm cho hành vi người ta đồi bại Cho nên thánh nhân cầu no bụng mà không cầu vui mắt, bỏ cái này [xa

xỉ, đa dục] mà lựa chọn cái kia [chất phác, vô dục]” - Chương 12

Đúng như lời Mặc tử trong thiên Tiết dụng, thượng: “ [Ăn uống] đủ để

no bụng, nối hơi, mạnh chân tay, sáng tai mắt thì thôi, không rán điều hòa đến cùng cực ngũ vị và mui thơm, không tìm kiếm những của ngon vật lạ ở xa”

Như vậy Lão và Mặc đều chủ trương hủy bỏ mĩ nghệ, nghệ thuật, những cái ta gọi là sản phẩm của văn minh: Lão để cho người trở về chất phác, không sa đọa, tranh nhau; Mặc để cho dân khỏi khổ; Lão vì lý tưởng, Mặc vì thương dân

Danh vọng, địa vị, tiền bạc với Lão tử lại càng nên xa lánh:

“Vàng bạc đầy nhà, làm sao giữ nổi; giàu sang mà kiêu là tự rước lấy học Công thành rồi thì nên lui về, đó là đạo trời” (Công thành thân thoái, thiên chi đạo) - Chương 9

“Danh tiếng với sinh mệnh cái nào quý? Sinh mệnh với của cải, cái nào quan trọng? Được danh lợi mà mất sinh mệnh, cái nào hại? Cho

Trang 22

nên ham danh quá thì phải hao tổn nhiều, chứa của cải nhiều thì mất nhiều” – Chương 44

Phải đặt thân mình ở sau thiên hạ, đặt thân mình ra ngoài vòng danh lợi thì thân mình lại ở trước, mới còn được:

“Hậu kì thân nhi thân tiên, ngoại kì thân nhi thân tồn” - Chương 7

Ngay cái thân mình cũng nên quên nó đi:

“Chúng ta sở dĩ sợ vạ lớn là vì ta có cái thân Nếu ta không có cái thân, thì còn sợ tai vạ gì nữa?” - Chương 13

“Không có cái thân” nghĩa là quên nó đi, cứ để đời ta thuận theo tự nhiên, lúc nào về với đạo, với “vô” thì về, lúc nào chết thì chết

Quả dục thì phải “tri túc” Lão tử có lẽ là người đầu tiên khuyên ta tri túc:

“Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không

nguy” - (Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi), Chương 44

“Họa không gì lớn bằng không biết thế nào là đủ, hại không gì bằng tham muốn cho được nhiều Biết thế nào là đủ và thỏa mãn về cái đủ đó thì mới luôn luôn thấy đủ” - (Tri túc chi túc thường túc hĩ), Chương 46

Tri túc là điều kiện cốt yếu của hạnh phúc mà phương Đông chúng ta biết coi trọng Ngoài hai câu dẫn trên trong Đạo đức kinh, người Trung Hoa còn những câu châm ngôn này nữa: “Tri túc, tiện thị túc, đãi túc hà thời túc?”

- (biết thế nào là đủ thì sẽ thấy đủ, đợi cho có đủ thì bao giờ mới đủ?); và

“Nhân dục vô nhai, hồi đầu thị ngạn” - (Lòng dục của con người là không có

bờ bến, nhưng nếu như nhìn lại phía sau mình thì đó là bờ bến đấy) Người phương Tây trái lại, muốn được thêm nữa, không biết thế nào là đủ, không biết ngừng lại, cho nên họ tiến máu, phú cường nhưng chịu họa cũng lớn

Tri túc thì “Khứ thậm, khứ xa, khí thái”- (bỏ những cái gì thái quá-

Chương 29) Và không cho tình trạng nào, dù tốt tới mấy, phát triển tới cực

Trang 23

điểm, vì theo luật tuần hoàn trong vũ trụ, hễ phát tới cực điểm thì sẽ quay trở lại (phản phục), sẽ suy:

“Vật gì cũng vậy, hễ cường tráng rồi thì sẽ già” (Vật tráng tắc lão

-chương 30)

“Giữ chậu đầy hoài, chẳng bằng thôi đi; mài cho bán nhọn thì không bén lâu” (Trừ nhi doanh chi, bất như kỳ dĩ; sủy nhi nhuệ chi, bất khả

trường bảo) – Chương 9

Hễ lên gần tới cực điểm rồi thì ngưng lại, đó là một trường hợp “vật hoặc tổn chi như ích” – (Vật có khi bớt đi mà lại là thêm lên); nếu trái lại,

không ngừng mà cứ cho tăng hoài thì mau suy, mau kiệt, như vậy là “ích chi

nhi tổn” (Thêm lên lại hóa ra bớt đi) - Chương 42)

Như vậy, trước hết phải “quả dục”, muôn quả dục phải “tri túc”, “tri túc” thì “Khứ thậm, khứ xà, khí thái” (bỏ hết những gì thái quá), sống thuận tự nhiên:

“Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” – Chương

25 Như thế vạn vật được sống tự nhiên, tự nhiên rồi mới bao dung được

1.3.1.2 Bao dung (khoan dung)

Tính bao dung trước hết xuất phát từ đạo lớn:

“Đạo lớn lan tràn khắp có thể qua bên trái, qua bên phải Vạn vật nhờ nó mà sinh trưởng mà nó không can thiệp vào, công thành rồi

mà không nhận là của mình; nó nuôi dưỡng vạn vật mà không làm chủ vạn vật Nó vĩnh viễn là “không”, vô vi, cho nên có thể bảo nó là

ẩn vi, [vô hình]; muốn vật quy về nó mà nó không làm chủ, cho nên

có thể bảo nó là lớn Vì cho tới cùng, nó không tự nhận nó là lớn cho nên mới hoàn thành được cái vĩ đại của nó” – Chương 34

Lão tử cho rằng một khi con người hiểu rõ đạo, bỏ thành kiến, tư dục [quả dục] đi, sống bao dung, công bình [vô tư] thì suốt đời không bị họa

Trang 24

Chương 16, Ông viết:

“Hết sức giữ được cực hư , cực tĩnh xem vạn vật sinh trưởng ta thấy được quy luật phản phục [vạn vật từ vô mà sinh ra rồi trở về vô]

Vạn vật phồn thịnh đều trở về căn nguyên của chúng [tức đạo] Trở về căn nguyên thì thì tĩnh, [tĩnh là bản tính của mọi vật, cho nên] trở về căn nguyên gọi là “trở về mệnh” Trở về mệnh là luật bất biến (thường) của vật Biết luật bất biến thì sáng suốt, không biết luật bất biến thì vọng động mà gây họa

Biết luật bất biến thì bao dung, bao dung thì công bình [vô tư] công bình thì bao khắp, bao khắp thì phù hợp với tự nhiên thì phù hợp với đạo, hợp với đọa thì vĩnh cửu, suốt đời không nguy”

Điều này có nghĩa là chúng ta phải cực hư tĩnh, bỏ hết thành kiến, tư dục đi mà nhận xét vũ trụ, sẽ thấy luật “quy căn” của vạn vật: Từ vô sinh hữu, rồi từ hữu trở về vô; hiểu luật thiên nhiên bất biến đó thì con người sẽ bao dung, công bình [vô tư], hành động theo nó thì suốt đời không bị họa

Người sống bao dung thì có đức cao, làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào

Chương 8 viết:

“Người thiện vào bậc cao [có đức cao] thì như nước Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào, ở chỗ mọi người ghét (chỗ thấp) cho nên gần với đạo… Chỉ vì không tranh với ai, nên không bị lầm lỗi”

Đối với thánh nhân phải giữ đạo làm phép tắc cho thiên hạ, không tự phụ mới trường cửu, không kể công mới có công, không tranh với ai nên không ai tranh giành với mình

Trang 25

Chương 22:

“…Vì vậy mà thánh nhân [thánh nhân ở đây hiểu theo quan niệm của Lão] ôm giữ lấy đạo làm phép tắc cho thiên hạ Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải cho nên mới chói lọi, không tự kể công cho nên mới có công, không tự phụ mới trường cửu [hoặc hơn người] Chỉ vì không tranh với ai cho nên không ai tranh giành với mình được”

Chúng ta chỉ cần làm theo Đạo là thương yêu, đùm bọc vạn loài, làm theo Đức là đối xử bình đẳng với mọi người một cách chân thành thì tự nhiên: Mình sáng, mình chói, mình phải, mình có công, mình chỉ thực hiện Đạo đức chứ đâu cần tranh với ai, thế mà không ai tranh nổi với mình là vậy

Chương 49 Lão tử tiếp:

“Thánh nhân không có thành kiến, lấy lòng thiên hạ làm lòng mình Thánh nhân tốt với người tốt, tốt cả với người không tốt, nhờ vậy mà mọi người đều hóa ra tốt; tin người đáng tin mà tin cả những người không đáng tin, nhờ vậy mà mọi người đều hóa ra đáng tin

Thánh nhân ở trong thiên hạ thì vô tư vô dục, trị thiên hạ thì để lòng mình hồn nhiên Trăm họ đều chăm chú nhìn nghe thánh nhân, thánh nhân đều coi họ như con trẻ”

Người lãnh đạo không nên có sự quan tâm riêng, mà nên lấy việc quan tâm của thiên hạ làm sự quan tâm chung Người thiện cũng như người không thiện ta đều xem bình đẳng như nhau Với người tin ta và người không tin ta,

ta cũng luôn tin họ, nên ta được đức tin Người lãnh đạo sống giữa thiên hạ luôn thận trọng trong việc cư xử công bằng với mọi người, không bao che cho người ủng hộ ta cũng như không trù dập người không tin tưởng ta, mà bao dung, luôn lo nghĩ chăm sóc mọi người như con đẻ của mình

Chương 81 cũng viết: “…Bậc thánh nhân vô dục, không tích trữ,

càng giúp người mình lại càng có dư, cành cho người, mình lại càng

Trang 26

có nhiều Đạo trời chỉ có lợi cho vạn vật chứ không có hại; đạo thánh nhân giúp người mà không tranh với ai”

Người làm đạo thì không làm giàu, vì luôn giúp người thì không thể giàu được, nhưng lòng của họ thì vô cùng thanh thản, vì họ biết chắc rằng phần thưởng của họ đang được dành sẵn ở đó chờ họ Vì Đạo trời luôn làm lợi cho người, và đạo thánh thì làm mà không cậy công và không tranh giành Đức bao dung là ở đó

1.3.1.3 Khiêm nhu

Đối với mình thì quả dục; đối với người thì khiêm nhu Phác và nhu đều là những tính cách của đạo

Chương 40, sau khi bảo: “Phản giả đạo chi động”, Lão tử tiếp ngay:

“Nhược giả đạo chi dụng” (Luật vận hành của đoa là trở lại lúc đầu - trở lại

gốc); diện dung của đạo là nhược, tức khiêm nhu Chữ nhu nhược ở đây không phải là thiếu ý chí, ai bảo sao nghe vậy, mà có nghĩa là đừng cưỡng lại luật tự nhiên của tạo hóa Điều này cho thấy nhân sinh quan của Lão tử chỉ là thuận theo đạo

Chương 37, Ông nói:

“Nhu nhược thắng cương cường”

Chương 78, Ông nhắc lại:

“Nhược thắng cường, nhu thắng cương”

Đó là luật tự nhiên, vì theo Ông: “Kiên cường giả tử chi đồ, nhu

nhược giả sinh chi đồ” – (Chương 76); tức là người ta sinh ra thì mềm yếu

mà khi chết thì cứng đơ Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu mà khi chết thì khô cứng Cho nên cứng mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu thì cùng loài với sống Trong chương này Lão tử đã cho chúng ta thấy những biểu hiện đối lập tất yếu của vạn vật trong cái sinh và cái tử Từ sự khác biệt này Ông đã suy nghiệm ra nhưng lẽ được mất, những cái nên và không nên để ứng dụng trong

Trang 27

đời sống sao cho nhân sinh biết ứng xử mềm dẻo, phù hợp với hoàn cảnh để không hại đến mình và hại đến người, để có thể sống một cách yên ổn nhất, chu toàn nhất

Ông đưa ra ví dụ về nhu thắng cương ở chương 43 như sau:

“Trong thiên hạ cái cực mềm (là nước) chế ngự được cái cực cứng (đá), (vì nước xói mòn được đá); cái “không có” lại len vô được cái không có kẽ hở [như không khí len vô được những chất đá, gỗ cứng

mà trông bề ngoài ta không thấy kẽ hở]”

Ông phàn nàn rằng lẽ đó ai cũng biết mà không ai thi hành được cả

(Thiên hạ mạc bất tri, mạc năng hành – Chương 78) Cho nên mới có những

kẻ cường bạo bất đắc kì tử (chương 42); Cái “cường” của họ thực ra chỉ là bạo chứ không phải là cường, chính nhu mới là cường:

“Thủ nhu viết cường” - Chương 52

Vì giữ được nhu nhược, thuận đạo, mới là có nghị lực lớn; và cũng nhờ biết nhu, biết mềm mỏng, chịu khuất, thân mới được bảo toàn

“Khúc tắc toàn” – chương 22

Khiêm đi liền với nhu Khiêm thì không tự đại Không gì lớn bằng đạo:

“Đạo lớn lan tràn khắp cả, có thể qua bên trái, qua bên phải”

Công của đạo cũng không gì bằng:

“Vạn vật nhờ nó mà sinh trưởng mà nó không can thiệp vào”

Vậy mà nó rất khiêm, không hề tự đại: “Công thành rồi nói không nhận là của mình, nó nuôi dưỡng vận vật mà không làm chủ vạn vật, cho nên có thể bảo nó là lớn Vì cho tới cùng, nó không tự cho nó là lớn cho nên mới hoàn thành được cái vĩ đại của nó” – Chương 34

Khiêm thì không tự biểu hiện, không tự cho là phải, không kể công, không tự phụ:

Trang 28

“Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải, cho nên mới chói lọi, không tự kể công cho nên mới có công, không tự phụ cho nên mới trường cửu” – Chương 22

Khiêm thì không tranh với ai Lão tử thấy thời ông loạn lạc vì vua chúa tranh giành đất đai, bảo vật của nhau; còn dân chúng thì tranh giành địa vị, danh lợi…nên Ông nhắc đi, nhắc lại mấy lần: Đừng nên tranh giành Chương

22, Ông viết:

“Chỉ vì không tranh, nên không ai tranh giành với mình được”

Cuối chương 66, Ông cũng lặp lại y hệt như vậy:

“Không tranh với ai nên không ai tranh giành với mình được”

Chương 8:

“Người thiện vào bậc cao [có đức cao] thì như nước Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào, ở chỗ mọi người ghét [chỗ thấp] cho nền gần với đạo”

Nói đến tranh giành thì thì hầu như những vật ấy chưa hẳn là vật sở hữu của ta Tranh giành nhỏ nhất cũng gây nên mất lòng nhau, lớn hơn chút nữa gây nên ẩu đả, tranh địa vị đưa đến sự hãm hại ngầm, tranh tài lợi đưa đến đâm chém, tù tội, tranh ngôi vị đưa đến đao binh… Thế nên Lão tử khuyên chúng ta không nên tranh giành mà chọn cách nào cho phù hợp với đường lối yêu thương mà đấng tạo hóa đã tạo dựng

Lão tử rất thích nước vì nước khiêm hạ, không tranh với vật nào cả mà lại chảy xuống chỗ thấp, có ở chỗ thấp mới quý hơn mọi vật:

“Sông biển sở dĩ làm vua trăm khe lạch [làm nơi quy tụ của mọi khe lạch] vì khéo ở dưới thấp, nên làm vua trăm khe lạch” – Chương 66

Như vậy là sang lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền: “Quí dĩ tiện vi

bản, cao dĩ hạ vi cơ” – Chương 39 Cho nên khiêm thì không muốn ở trên

Trang 29

người, mà cũng “không dám ở trước người”: “Bất cảm vi thiên hạ tiên” –

Chương 67

Tự đặt mình ở sau người mà thân lại được ở trước: “Hậu kì thân nhi

thân tiên” – Chương 7

Vì không dám đứng trước thiên hạ nên mới được làm chủ thiên hạ:

“…bất cảm vi thiên hạ tiên cố năng thành khí trưởng” – Chương 67

Không có triết gia nào đề cao đức khiêm hạ như Lão tử Ai cũng muốn vinh mà ông khuyên nên giữ nhục, như nước, chịu mọi cái dơ từ trên cao đổ xuống

Khổng tử cũng thích nước, nhưng vì một lẽ khác Ở thiên Ung dã 21, Ông bảo: “Trí nhân nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn Trí giả động, nhân giả tĩnh”-tức là: Người trí thích nước, người nhân thích núi Nước lưu động, mà người trí (sáng suốt) hiểu được sự lí, biết tùy thời hành động, nên thích nước Núi vững, không dời đổi, mà người nhân giữ vững đạo lý, cho nên thích núi

1.3.2 Đối với việc cai trị, quản lý xã hội

1.3.2.1 Vô vi (phản đối hữu vi)

Nhà cầm quyền nào thời đó cũng lo mở mang đất đai, miệng thì nói

mưu hạnh phúc cho dân mà hành động thì ngược lại: “Triều đình thật ô uế,

đồng ruộng thật hoang vu, kho lẫm thật trống rỗng, mà họ bận áo gấm thêu, đeo kiếm sắc, ăn uống chan mứa, của cải thừa thãi Như vậy là trùm

ăn cướp chứ đâu phải hợp đạo”-Chương 53 Trong Đạo đức kinh chỉ có mỗi

chương đó là giọng gay gắt

Lão tử cũng như Khổng tử, Mặc tử, thực tâm thương dân và mỗi nhà đưa

ra một giải pháp cứu dân Khổng bảo phải “chính danh”, Mặc bảo phải “kiêm ái” Lão tử lại cho rằng xã hội sở dĩ loạn, dân sở dĩ khổ là vì không sống theo đạo, không thuần phác, quả dục; do đó mà sinh ra tham lam, xảo trá, trang giành nhau, chém giết nhau Vậy bậc thánh nhân (Ông dùng chữ này để trỏ bậc

Trang 30

vua chúa biết giữ đạo) trước hết phải làm sao cho dân “phản phác” Muốn vậy, chính họ phải biết giữ cái “phác” Giữ cái “phác” để điều khiển trăm quan:

“ Thánh nhân giữ thuần phác mà điều khiển trăm quan, cho nên người giỏi trị nước không chia cắt chi li” - Chương 28

Giữ được cái phác thì vạn vật sẽ tự động quy phục:

“Đạo vĩnh viễn không có tên, chất phác, tuy ẩn vi mà thiên hạ không

ai coi thường nó được Các bậc vương hầu biết giữ nó thì vạn vật sẽ

tự động quy phục” – Chương 32

Đạo thì vĩnh cửu mà không có tên và lại mộc mạc, tuy nhỏ mà dưới trời không gì sai khiến, phục tùng được nó, sửa đổi được nó Bậc vua chúa mà giữ được nó thì vạn vật sẽ phục tùng Trời đất cũng nhờ yêu thương và hòa hợp nên mưa ngọt rưới khắp thấm nhuần vạn vật thì tự nhiên họ tìm đến phục

tùng Chính sách trị nước đó, Lão tử gọi là “vô vi”

Các triết gia như Khổng, Mặc không nghĩ vậy, mà đưa thuyết nhân nghĩa lễ trí ra để răn đời, còn các chính khách khác thì đề nghị sửa đổi luật pháp, càng ngày càng xa đạo mà càng loạn thêm, kết quả ngược với ý muốn

Lão tử bảo thiên hạ không thể trị bằng cách đó được vì: “Thiên hạ là một đồ

vật thần diệu, không thể hữu vi, không thể cố chấp được Hữu vi thì làm cho thiên hạ hỏng, cố chấp thì mất thiên hạ”-Chương 29

Ông dùng một hình ảnh tài tình: “Trị nước lớn như nấu nướng cá

nhỏ”-(Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên” - Chương 60) Nấu cá nhỏ mà lật lên lật

xuống, động tới nó nhiều quá thì sẽ nát, trị nước lớn mà can thiệp vào việc dân nhiều quá, dân sẽ trá ngụy, chống đối Đó là hậu quả của chính sách hữu vi

Ngược lại, vô vi, ít can thiệp vào việc của dân, để cho dân thuận tự nhiên mà sống, thì dân sẽ tự hóa, sẽ vui vẻ mà yên ổn phát triển theo bản năng của họ

Trang 31

Chương 57, Lão tử viết: “Ta không làm gì mà dân tự cải hóa, ta ưa

thanh tĩnh mà dân tự nhiên thuần chính, ta không thi hành giáo lệnh mà dân tự phú túc, ta vô dục mà dân tự hóa ra chất phác”

Như vậy là không làm gì mà không gì không làm (vô vi nhi bất vô vi), đúng với luật tự nhiên của đạo:

“Đạo vĩnh cửu thì không làm gì [vô vi-vì đạo là tự nhiên] mà không

gì không làm [vô bất vi-vì vạn vật nhờ nó mà sinh ra mà lớn], bậc vua chúa mà giữ được đạo thì vạn vật sẽ tự biến hóa” - Chương 43

Công dụng của vô vi lớn như vậy vì nhà cầm quyền đồng hóa với đạo rồi hướng dẫn dân cùng đồng hóa với đạo Điều đó ít ai hiểu kịp

Bước đầu của chính sách vô vi là giảm thiểu Lão tử gọi là “tổn”:

“…Theo đạo thì mỗi ngày một giảm Giảm rồi lại giảm cho tới mức

vô vi” (Vi đạo nhật tổn Tổn chi hựu tổn dĩ chí vô vi) - Chương 48

Chúng ta nhớ một quy luật của đạo là “tổn hữu dư” Mà chính sách cai trị thời đó phiền hà quá, đặt ra nhiều chức quan quá, nhiễu sự quá Cho nên Lão tử bảo phải thu hẹp phạm vi chính sự lại cho đến cái mức tối thiểu

Chỉ cần thỏa mãn những nhu cầu tự nhiên tối thiểu của con người thôi:

“…Chính trị của thánh nhân là làm cho dân thì lòng hư tĩnh, bụng thì no,ý chí thì yếu [không ham muốn, không tranh giành], xương cốt thì mạnh Khiến cho dân không biết, không muốn, mà bọn trí xảo không dám hành động Theo chính sách vô vi thì mọi việc đều trị”-

Chương 3

Còn những cái khác như ngũ sắc, ngũ âm, ngũ vị, những vật quý…đều

có hại, đều phải bỏ hết Lão tử rất ghét những vàng bạc châu báu mà Ông gọi

là “nan đắc chi hóa”, cho nên chương 3 và chương 64, Ông dặn đi, dặn lại:

“Bất quý nan đắc chi hóa” để cho lòng dân khỏi loạn

Trang 32

Tóm lại là thánh nhân “cầu no bụng mà không cầu no mắt” - (Vi phúc bất vi mục) - Chương 12 Ở chương 65: “Thời xưa, người khéo dùng đạo trị

nước thì không làm cho dân khôn ranh cơ xảo, mà làm cho dân đôn hậu, chất phác, dân sở dĩ khó trị là vì nhiều trí mưu”

Đọc chương này có người thắc mắc: Dân có thông minh thì nước mới giàu mạnh thì tại sao Lão tử lại chống lại việc học, lại muốn để cho dân ngu? Nhiều người cho Lão tử là phản tiến bộ Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ rằng thời tiền sử ở Trung Hoa, cái học thời đó chỉ có hai môn: Kinh và sử Kinh thì ghi chép những pháp lệnh của vua và sử ghi chép những cống hiến của các triều đại, nhưng chép theo lệnh của vua Vả lại, triều đại này có thể chê trách triều đại khác chỉ vì cướp ngôi, vì thế sách sử cũng không trung thực được Còn về các ngành nghề thì họ luôn giữ bí truyền Mãi đến những năm

530 trước công nguyên, Khổng tử mới mở trường tư để dạy, nhưng chủ yếu

là để dạy Lễ, Nhạc Mãi đến thế kỉ XVI ở Trung Hoa mới có một số ngành nghề như nông nghiệp, chăn nuôi, toán Mà những người học thời ấy họ học kinh, sử để làm quan Thế nên Lão tử chống cái học ấy nào phải Ông muốn ngu dân Người biết Đạo ngày xưa không muốn dùng kinh sử giả dối để khai sáng cho dân mà để dân thật thà Đừng để dân học được cái dối trá mà trở nên khó trị là vậy

Khổng, Mặc đều cho sự dạy dân là nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà cầm quyền, cho nên có danh từ “chính giáo”, hễ nói tới chính trị (trị dân) thì phải nói tới giáo dân (dạy dân); mà dạy dân thì phải dùng lễ, nhạc và giảng cho dân đạo nhân nghĩa, hiếu trung

Lão tử ngược lại bảo: “Thánh nhân xử sự theo thái độ vô vi, dùng

thuật không nói mà dạy dỗ” (Hành bất ngôn chi giáo) - Chương 2 Dạy dỗ

bằng cách không nói là để cho vạn vật sinh trưởng mà không can thiệp vào

Từ xưa tới nay, chưa ai tin ở bản tính của con người bằng Lão tử

Trang 33

Vậy là quy tắc “phú chi, giáo chỉ” của Khổng tử phải bỏ Không dạy dân thì không cần trường học mà cũng không cần luật pháp, nhà tù:

“Dân không sợ chết thì sao lại dùng tử hình dọa dân? Nếu làm cho dân luôn sợ chết mà có kẻ nào phạm pháp ta cũng bắt được mà giết thì ai còn dám phạm pháp nữa? [Sự thực không như vậy cho nên hình pháp mới vô hiệu]

Có đấng “ti sát” [tức đạo trời] chuyên lo việc giết nếu vua chúa thay đấng ti sát mà giết dân thì cũng như thay thợ đẽo Thay thợ đẽo thì ít khi không đứt tay” - Chương 74

Khi mà dân đã không còn sợ chết nữa mà lấy việc giết chóc, tù tội dọa

họ, có tác dụng không? Giết người phạm pháp là việc cần làm, nhưng kẻ giết người coi chừng có lúc bị thương vì đao kiếm Hãy cải hóa họ, sửa đổi họ trở thành người tốt, vì mạng sống con người tạo hóa ban cho, thì con người không nên tự giết Việc đó là sai với Đạo

Ông tin rằng kẻ nào làm bậy thì đạo trời sẽ không tha:

“Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt” (Thiên võng khôi khôi, sơ

nhi bất thất) - Chương 73

Như vậy là gần như hoàn toàn “vô sự”: Không lễ, nhạc, giáo dục, không

có hình pháp; cũng chẳng cần xây cất kho lẫm, dinh thự, đường xá…do đó, chính phủ được giảm tới mức tối thiểu: Tại triều đình có mười vị quan, mỗi địa phương có vài vị là đủ Họ không có quyền can thiệp vào đời sống của dân, chỉ

có mỗi nhiệm vụ giữ sao cho dân thuần hậu, chất phác Như vậy là:

“Giúp mọi người lầm lạc trở về đạo, giúp vạn vật phát triển theo tự nhiên, mà không dám làm [can thiệp vào]” - Chương 64 Nếu vì được tự do

mà có kẻ còn lòng tư dục, sinh ra tham lam, xảo trá, trang giành, thì nhà cầm quyền sẽ dùng cái “phác” mà ngăn lại, như chương 37 đã chỉ ra:

Trang 34

“Trong quá trình biến hóa, tư dục của vạn vật mà phát ra thì dùng cái “vô danh chi phác” – cái mộc mạc vô danh mà trấn áp, khiến cho vạn vật không còn tư dục nữa Không còn tư dục mà trầm tĩnh thì thiên hạ sẽ tự ổn định”

Phải ngăn ngừa thật sớm:

“Giải quyết việc khó từ khi còn dễ, thực hành việc lớn từ khi còn nhỏ, [vì] việc khó trong thiên hạ khởi từ chỗ dễ, việc lớn trong thiên

hạ khởi từ lúc còn nhỏ Do đó thánh nhân không làm việc gì lớn mà thực hiện được việc lớn” – Chương 63

Trù liệu đối phó việc lớn từ khi nó còn nhỏ, việc khó luôn bắt đầu từ chỗ dễ Vì vậy thánh nhân suốt đời không đối phó với việc lớn mà thành được việc lớn Người mà xem việc quá dễ dàng tất sẽ gặp khó khăn, còn làm việc một cách thận trọng, không khinh rẻ việc gì nên kết quả là chẳng có việc gì khó khăn cả

Phải thật sáng suốt – nhờ đức hư tĩnh – để thấy trước cái loạn sắp xảy ra:

“Cái gì an định thì dễ nắm, điều chưa hiện thì dễ tính […] Ngăn ngừa sự tình từ khi chưa manh nha, trị loạn từ khi chưa thành hình Cây lớn một ôm khởi sinh từ cái mầm nhỏ, đài cao chín tầng khởi đầu thì một sọt đất, đi xa ngàn dặm bắt đầu từ những bước chân” –

Chương 64

Muốn ngăn ngừa từ khi chưa manh nha chỉ có cách theo dõi lời khuyên trong chương 3: Không phô bày cái gì gợi lòng ham muốn của dân; mà phải

khiến cho dân không biết không muốn: “Sử dân vô trí vô dục…tắc vô bất

trị”, đó là quy tắc căn bản trong việc trị dân, đó là chính sách “vô vi” của Lão

tử Trong bộ “Hàn Phi tử”, cuối chương VII phần 3 đã so sánh thuật vô vi của Lão tử với thuật trị nước của Khổng, Trang và Hàn Phi tử, cụ thể như sau:

Trang 35

Khổng tử là người đầu tiên dùng bốn chữ “vô tri nhi trị” (Luận ngũ, Vệ Linh Công-4) Ông cho vô vi là vua phải cảm hóa dân bằng đức của mình, dạy dân bằng lễ, nhạc, ít dùng hình pháp

Lão tử cho vô vi là để cho dân thuận theo tự nhiên mà sống, không can thiệp vào đời sống của dân, nhưng vẫn coi chừng, ngăn ngừa dân có lòng dục, vẫn giữ chính phủ, chi giảm tới mức tối thiểu

Trang tử cho như vậy chưa đủ, phải bỏ chính phủ đi, để cho dân hoàn toàn tự do, cứ theo bản năng mà sống, vì dân tự biết cái họa để tránh, không ai được theo ý riêng của mình mà ép buộc dân, ngay cả việc hướng dẫn dân cũng không nên nữa

Còn Hàn Phi tử cho vô vi là vua chỉ trị quan lại, chứ không trị dân, bắt quan lại làm hết, mình không làm gì cả, muốn vậy phải đặt ra hình pháp nghiêm khắc, dùng “thuật” để bắt quan lại và dân phải làm theo đúng ý mình, không dám phản mình Như vậy hiểu theo Lão tử là cực hữu vi, chứ không phải vô vi

Trang và Hàn ở hai thái cực: Trang cực vô, Hàn cực hữu; Khổng và Lão ở giữa; Khổng gần Hàn, Lão gần Trang Bỏ Trang ra không kể, Khổng và Lão đều được các vua chúa trọng nhưng không theo; Hàn bị Tần Thủy Hoàng giết mặc dầu Tần nhờ chính sách của Hàn Phi – nói chung là của Pháp gia –

mà thống nhất được Trung Quốc Từ đó tới nay, quốc gia nào cũng theo chính sách hữu vi, mà ngày càng hữu vi hơn

1.3.2.2 Giản chính (chống lại sự bóc lột của giai cấp thống trị)

Xuất phát từ tiền đề Ông đặt ra là con người bản sơ do đạo tạo ra, được đức nuôi dưỡng, cũng tự nhiên, chất phác, ít dục vọng, chân thành, nhu thuận…tức là gần tự nhiên, sống thuận theo đạo tự nhiên, do đó Ông phản đối

sự bóc lột của giai cấp thống trị

Trang 36

Xuất phát từ quan niệm “vô vi”, Lão tử cho rằng thánh nhân cần ít can thiệp vào việc của dân, để cho dân thuận tự nhiên mà sống, như thế dân sẽ tự hóa, sẽ vui vẻ mà yên ổn phát triển theo bản năng của họ Họ không có quyền can thiệp vào đời sống của dân, chỉ có mỗi nhiệm vụ giữ sao cho dân thuần hậu, chất phác

Chương 64 viết: “…cho nên thánh nhân chỉ muốn một điều là vô dục

[không muôn gì cả] không quý bảo vật; chỉ muốn học cho được vô tri

vô thức để giúp mọi người lầm lạc trở về với đạo, giúp vạn vật phát triển theo tự nhiên, mà không dám làm [tức can thiệp vào]”

Lão tử tin rằng nếu có kẻ nào làm bậy thì đạo trời sẽ không tha: “Lưới

trời lồng lộng, thưa mà không lọt”-(Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất thất-Chương 73)

Chương 75, Lão tử cho rằng dân bị đói vì vua quan lấy thuế của họ quá nhiều:

“Dân sở dĩ đói là vì nhà cầm quyền thu thuế nặng quá nên dân đói Dân sở dĩ khó trị là vì nhà cầm quyền dùng chính lệnh phiền hà, cho nên dân khó trị

Dân sở dĩ coi thường sự chết là vì nhà cầm quyền tự phụng dưỡng quá hậu, cho nên dân coi thường sự chết

Nhà cần quyền mà vô dục, đạm bạc thì hơn là quý sinh, hậu dưỡng”

Vua quan cứ đàn áp, bóc lột khiến dân không còn sợ chết nữa vì vua quan luôn muốn cho mình, gia đình mình có một cuộc sống quá cao sang Họ thì dinh cơ cao rộng, ăn cao lương mỹ vị đến thừa thãi, dân thì chòi trại không

có cháo mà ăn Sự chênh lệch ấy do đâu? Do vua quan thu thuế quá nhiều để cung vào sự phung phí quá cao của họ Dân quá uất ức nên coi thường cái chết là vậy Nếu vua quan bớt sự phung phí xa hoa, sống tiết kiệm, biết thay đổi “vô vi” thì tự nhiên dân sẽ quý tính mạng của mình

Trang 37

Nếu nhà cầm quyền quá coi trọng dùng chính lệnh, bóc lột dân quá mức sẽ dẫn đến sự khinh nhờn của người dân với chính lệnh

Chương 72, Lão tử viết:

“Dân mà không sợ sự uy hiếp [tức hà chính, bạo hình] của vua thì

sự uy hiếp lớn của dân sẽ đến với vua [tức dân sẽ nổi loạn] Đừng bó buộc đời sống của dân [để cho dân an cư], đừng áp bức cách sinh nhai của dân Vì không áp bức cách sinh nhai của dân nên dân mới không áp bức lại vua [không phản kháng]”

Dân luôn biết mình thấp cổ, bé họng, nên hay sợ, nhưng đến khi không

sợ nữa ắt cái sợ kia sẽ quay trở lại cho những người cai trị họ Có hai việc lớn làm cho dân uất hận nhất mà vua quan cần phải tránh là: “Không nên phá dỡ nhà của họ; không nên đàn áp chuyện làm ăn của họ Vì không bị áp bức nên dân không uất hận làm liều, chống đối lại Cho nên bậc vua quan nên tự biết như vậy chứ đừng chỉ biết quyền lợi của mình mà không nghĩ đến quyền lợi của người khác Nên chỉ tự yêu mình chứ đừng tôn quý mình quá đáng mà khinh thường người khác Vì hiện nay mọi người đều bình đẳng, không còn cảnh muốn giết ai thì giết như thời vua chúa ngự trị vậy Bởi vậy mỗi người

tự suy xét việc làm của mình sao cho phù hợp, để không hại đến mình, không hại đến người khác

Như vậy Lão tử chủ trương chống lại sự bóc lột của vua chúa, chống lại việc cai trị xã hội bằng chính lệnh phiền hà, xét đến cùng điều đó cũng xuất phát từ quan điểm “vô vi nhi bất vô vi” mà thôi

Trang 38

Ở chương 30: “Người giữ đạo mà phò vua thì không dùng binh lực

để mạnh hơn thiên hạ Vì việc như vậy thường quay ngược trở lại [hiếu chiến thì lại chết vì chiến tranh]

Dù có mạnh lên một thời thì rồi cũng suy, “cường tráng thì rồi sẽ già”,

đó là luật phản phục, luân phiên của các tương phản Tiếp ngay chương sau,

Lão tử bảo: “Binh khí là vật bất tường, ai cũng ghét, cho nên người giữ đạo

không thích dùng nó”

Binh lính mạnh, vũ khí tuy tốt là cần phải có để phòng thủ ngoại xâm, nhưng nên nhớ đó là việc chẳng lành Cho nên người có Đạo không hay dùng đến Vào thời loạn, vua để người phó tướng bên trái và thượng tướng bên phải Chém giết nhiều người để thắng trận, để dân chúng thoát khỏi nạn đao binh, chứ không phải để cho ta vui mừng Vì thế phải điềm đạm khi sử dụng binh khí

Ở chương 46, Ông viết:

“Thiên hạ có đạo [các nước không gây chiến với nhau] thì ngựa tốt không dùng vào chiến tranh mà dùng vào việc cầy cấy; thiên hạ vô đạo, thì ngựa dùng vào chiến tranh và ngựa mẹ sinh con ở chiến trường [mà không sinh ở nhà]

Họa không gì lớn bằng không biết thế nào là đủ, hại không gì bằng tham muốn cho được nhiều [đi chiếm nước ngoài] cho nên biết thế nào là đủ và thỏa mãn về cái đủ đó thì mới luôn luôn thấy đủ”

Thiên hạ mà có Đạo, ngựa tốt được dùng vào việc cày cấy Thiên hạ mà

vô Đạo (không biết yêu thương mà chỉ muốn chiếm đoạt) thì ngựa cũng phải sinh con ở chiến trường Sự yên lành của thời bình, cái gian khổ của thời chiến do ai gây ra? Chỉ có lòng tham của vua chúa mà deo rắc cho muôn dân, cho vạn loài Tai họa lớn này là do kẻ có quyền lớn đã có rất nhiều của cải nhưng không cho là đủ

Trang 39

Ông khuyên các vua chúa, nước lớn cũng như nước nhỏ phải khiêm nhu để tránh chiến tranh cho thiên hạ:

“Nước lớn nên ở chỗ thấp, chỗ quy tụ của thiên hạ, nên nhu giống cái trong thiên hạ Giống cái nhờ tĩnh mà thắng giống đực [ham động], lấy tĩnh làm chỗ thấp Cho nên nước lớn mà khiêm hạ đối với nước nhỏ thì được nước nhỏ xưng thần; nước nhỏ mà khiêm hạ với nước lớn thì được nước lớn che chở Như vậy là một bên khiêm hạ

để được [nước nhỏ xưng thần], một bên khiêm hạ mà được [nước lớn che chở] Nước lớn chẳng qua chỉ muốn gồm nuôi nước nhỏ nước nhỏ chẳng qua chỉ muốn thờ nước lớn Khiêm hạ thì cả hai đều được như ý muốn; nhưng nước lớn phải khiêm hạ mới được” -

Chương 61

Thế giới mà dân tộc nào đối với nhau cũng khiêm nhường, bất tranh; cá nhân nào đối với nhau cũng khiêm nhu bất tranh như vậy thì nhân loại cực kỳ văn minh; nhưng luật phản phục tự nhiên, luật luân phiên của các tương phản, tức luật thịnh rồi tới suy, đầy rồi tới vơi, tráng rồi tới lão, dương cực rồi sinh

âm, thì hòa bình rồi tất phải có chiến tranh, không thể có trạng thái vĩnh viễn hòa bình được

Chắc Lão tử và các môn đệ đời sau của Ông hiểu như vậy, nên xét theo

cả trường hợp bất đắc dĩ phải dùng bình thì nên làm sao

Chương 68 khuyên chiến đấu với tinh thần bất tranh:

“Viên tướng giỏi không tỏ ra vũ dũng, người giỏi tác chiến không tỏ

ra hung hăng, người khéo thắng địch không giao phong với địch; người khéo chỉ huy thì tự đặt mình ở dưới người Như vậy là có cái đức không tranh với người, như vậy là biết dùng sức của người, như vậy là hoàn toàn hợp với đạo”

Trang 40

Chương 69, Ông nói tiếp:

“Thuật dùng binh có câu: “Ta không dám làm chủ [tức khiêu chiến]

mà chỉ muốn làm khách [tức ứng chiến], không dám tiến một tấc, thà chịu lùi một thước [không muốn hung hăng mà chịu nhường địch]” Như vậy là dàn trận mà như không thành hàng, xua đuổi mà không đưa cánh tay ra, tuy có binh khí mà như không dùng binh khí, tuy có địch mà như không chạm trán với địch

Họa không gì lớn bằng khinh địch, khinh địch thì mất những vật báu của ta Cho nên khi hai bên cử binh giao chiến, bên nào từ ái thì sẽ thắng lợi”

Thuật dùng binh xưa có câu: “Ta không dám chủ động khiêu chiến, mà chỉ gượng ứng chiến Ta không muốn hung hăng mà nhường nhịn Ta không dam tiến một tấc mà nguyện lùi một thước” Vậy là dàn quân bố trận mà không thành hàng, giương tay mà không lộ tay, nắm binh khí mà như không có binh khí Làm như vậy có ý nghĩa gì? Một là muốn đối phương đừng nên gây chiến tranh, hai là nếu đối phương quá hung hăng, không muốn hóa, dĩ nhiên là họ khinh địch và họ cho ta không phòng bị, thế nào họ cũng bại trận Còn tướng sĩ

ta đối địch mà xem như không có địch là lòng luôn tĩnh, mà tĩnh thắng động là tối ưu trong binh pháp Tại sao họa lớn không có gì bằng không có địch thủ? Vì cho rằng không ai xứng đáng là địch thủ nên lòng tướng sĩ đâm ra ngạo mạn,

bỏ việc rèn luyện, tự phụ, chủ quan mà bại trận Cho nên, ra binh như nhau, kẻ nào có từ tâm, biết thương tiếc sinh mạng tướng sĩ thì ắt sẽ thắng vậy

Lão tử khuyên những kẻ thắng trận rất đúng:

“Người khéo dùng binh hễ có hiệu quả, đạt được mục đích thì thôi, không dám ỷ mạnh hơn thiên hạ Đạt được mục đích mà không tự phụ, đạt được mục đích mà không khoe công, đạt được mục đích mà không kiêu căng, đạt được mục đích mà bất đắc dĩ, đạt được mục đích mà không lấy làm mạnh” - Chương 30

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Tuyết Ba (1999), “Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam", Tạp chí Triết học (1), tr.9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Năm: 1999
2. C. Alexander Simpkins & Annellen Simpkins (2004), Đạo-Nguyên lý sống hoà hợp và quân bình, NXB Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo-Nguyên lý sống hoà hợp và quân bình
Tác giả: C. Alexander Simpkins & Annellen Simpkins
Nhà XB: NXB Mũi Cà Mau
Năm: 2004
3. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê (2005), Đại cương Triết học Trung Quốc, Tập 1, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Triết học Trung Quốc
Tác giả: Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2005
4. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê (2005), Đại cương Triết học Trung Quốc, Tập 2, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Triết học Trung Quốc
Tác giả: Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2005
5. Doãn Chính (2002), Đại cương Triết học Trung Quốc, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2002
6. Doãn Chính (2005), Triết lý phương Đông giá trị và bài học lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phương Đông giá trị và bài học lịch sử
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
7. Phạm Khắc Chương (2002), Đạo đức học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
8. Giáp Văn Cường, Trần Kết Hùng biên dịch (1996), Lão Tử Đạo Đức huyền bí, NXB Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão Tử Đạo Đức huyền bí
Tác giả: Giáp Văn Cường, Trần Kết Hùng biên dịch
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 1996
9. Nguyễn Văn Dân (2009), Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2009
10. Dương Ngọc Dũng (2005), Triết giáo phương Đông, NXB Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết giáo phương Đông
Tác giả: Dương Ngọc Dũng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
11. Nguyễn Đặng Duy (2001), Đạo giáo với văn hóa Việt Nam, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đặng Duy
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2001
12. Thành Duy (2004), Văn hóa đạo đức-mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đạo đức-mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2004
13. Nguyễn Văn Đại (2006), Đạo đức học , NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Nguyễn Văn Đại
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 2006
16. Nguyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
17. Thu Giang - Nguyễn Duy Cần (1992), Lão tử tinh hoa, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão tử tinh hoa
Tác giả: Thu Giang - Nguyễn Duy Cần
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
18. Giáo trình triết học Mác-Lênin (2006), NXB Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác-Lênin
Tác giả: Giáo trình triết học Mác-Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2006
19. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (2006), NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
20. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w