Triết lý nhân sinh đó chính là những quan điểm, quan niệm về sự sống của con người được rút ra từ trong thực tiễn cuộc sống.. Triết lý nhân sinh được thể hiện trên nhiều lĩnh vực về: kiế
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG
CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Đà Nẵng, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của đề tài 3
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
7 Đóng góp mới của đề tài 9
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 9
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH 10
1.1 TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH 10
1.1.1 Khái niệm triết lý 10
1.1.2 Triết lý nhân sinh 11
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH 13
1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc ra đời của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh 13
1.2.2 Những nội dung của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh 15
1.2.3 Vài nét nghệ thuật nổi bật trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh 21
1.3 NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH 26
1.3.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên 26
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32
1.3.3 Tiền đề văn hóa, tư tưởng 34
Tiểu kết Chương 1 37
Trang 5TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH 38
2.1 QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI, ĐỜI SỐNG NỘI TÂM VÀ Ý NGHĨA CỦA CUỘC SỐNG 38
2.1.1 Bản chất con người và số phận 38
2.1.2 Đời sống tâm tư tình cảm và ý nghĩa cuộc sống 41
2.2 QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI TỰ NHIÊN VÀ VỚI CỘNG ĐỒNG 44
2.2.1 Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên 44
2.2.2 Mối quan hệ giữa con người với cộng đồng 48
2.3 QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI CON NGƯỜI 52
2.3.1 Tình yêu đôi lứa 52
2.3.2 Tình cảm vợ chồng 58
2.3.3 Tình cảm cha mẹ và con cái 61
2.3.4 Một số mối quan hệ tình cảm khác 66
Tiểu kết Chương 2 69
CHƯƠNG 3 NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH 70
3.1 VỀ MẶT GIÁ TRỊ 70
3.1.1 Giá trị thực tiễn 70
3.1.2 Giá trị thời đại 74
3.2 MẶT HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ 75
3.2.1 Những hạn chế 75
3.2.2 Nguyên nhân 79
Trang 6TRỊ TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
HIỆN NAY 80
3.3.1 Thực trạng công tác bảo tồn ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh 80
3.3.2 Một số kiến nghị 83
Tiểu kết Chương 3 86
KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ
BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, khi mà xã hội loài người ngày càng văn minh, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật ngày càng lớn mạnh thì thế giới
có thiên hướng tập trung nhiều vào trung tâm của vũ trụ, đó chính là “con người” Những kinh nghiệm, những triết lý xưa nay được nhìn nhận một cách đúng đắn và nghiêm túc bởi hiện thực cuộc sống đã chứng minh rằng đó chính là “túi khôn” của dân gian để lại, nó giống như những lời tiên tri báo trước cho con người về quy luật của cuộc sống và tạo hóa Triết lý nói chung, trong đó có triết lý nhân sinh được đề cao, coi trọng hơn bao giờ hết Triết lý nhân sinh đó chính là những quan điểm, quan niệm về sự sống của con người được rút ra từ trong thực tiễn cuộc sống Triết lý nhân sinh được xem như là kim chỉ nam định hướng, chỉ dẫn cho cách đối nhân xử thế, cho hành động hay lối sống của con người
Nghệ Tĩnh là một vùng đất có nền văn hóa lâu đời, có những đặc điểm riêng về vị trí địa lí, tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội đã hình thành nên triết
lý nhân sinh mang nét đặc trưng riêng của xứ Nghệ Triết lý nhân sinh được thể hiện trên nhiều lĩnh vực về: kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật… Trong đó ca dao, tục ngữ được xem là thể loại ổn định, độc đáo phản ánh rõ nét những triết lý nhân sinh sâu sắc của con người xứ Nghệ Tuy nhiên, việc nghiên cứu
và bảo tồn các giá trị về ca dao, tục ngữ nói chung và triết lý nhân sinh nói riêng vẫn còn những hạn chế nhất định Do đó, nghiên cứu triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là vấn đề thiết yếu và có ý nghĩa quan trọng, giúp chúng ta hiểu rõ hơn quan niệm của cha ông ta về lẽ sống, về đạo làm người, về cách ứng xử của con người với thế giới tự nhiên và giữa con người với con người trong xã hội Qua đó, làm rõ những giá trị để bảo tồn và phát
Trang 8huy trong giai đoạn hiện nay, góp phần khẳng định giá trị văn hóa dân gian
của Nghệ Tĩnh, củng cố niềm tin, lý tưởng sống cho những người con vùng
đất Nghệ Tĩnh nói riêng và thế hệ trẻ của Việt Nam nói chung
Nhận thức được tầm quan trọng đó nên tôi chọn đề tài: “Triết lý nhân
sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học
của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong ca
dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh; luận văn đánh giá về giá trị, hạn chế và đề xuất các
giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy giá trị triết lý nhân sinh của ca dao, tục
ngữ Nghệ Tĩnh
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đã nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ lý luận chung về triết lý nhân sinh và ca dao, tục ngữ
Thứ hai, phân tích nội dung triết lý nhân sinh trong cao ca dao, tục ngữ
Nghệ Tĩnh
Thứ ba, làm rõ giá trị, hạn chế và đề xuất giải pháp gìn giữ và phát huy
các giá trị triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung triết lý nhân sinh trong ca
dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung
triết lý nhân sinh trong kho tàng ca dao, tục ngữ vùng Nghệ Tĩnh: Quan niệm
về bản chất con người và ý nghĩa cuộc sống, quan niệm về mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên, quan niệm về mối quan hệ giữa con người với cộng
đồng, con người với con người trong xã hội
Trang 94 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề triết lý nhân sinh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn kết hợp các phương pháp: phương pháp logic
và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê, sưu tầm, so sánh và đối chiếu, điền giã, ngôn ngữ học
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương và 9 tiết
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nói đến vấn đề triết lý nói chung, trong đó có triết lý nhân sinh không phải là vấn đề còn mới mẻ trong lịch sử nghiên cứu Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Trên cơ sở tìm hiểu có chọn lọc, khái quát vấn đề, chúng tôi chia thành hai nhóm nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh nói
chung:
“Triết lý nhân sinh”, chương VIII trong cuốn Tâm Tư hay là Khoa Siêu
lý Viễn Đông của tác giả Kim Định, do Nhà xuất bản Khai Trí ấn hành năm
1970 được đăng trên tạp chí Văn Hóa Nghệ An (11/2011) Tác giả đã phân biệt được triết lý hiện đại và triết lý cổ điển, và cho rằng triết lý chủ trương tìm đạo ngay trong đời sống con người, trong những việc thường nhật gần gũi
cụ thể trong gia đình trong xã hội của mình
Bàn về lý thuyết nhân sinh, tác giả đưa ra quan điểm: Nhân sinh phải hiểu ở bình diện triết lý nghĩa là trên một bình diện khác hẳn với đời sống
Trang 10công dân, kinh tế, chính trị thông thường Đời sống triết lý nhân sinh phải là một đời sống có thống nhất mọi hành vi cử chỉ phải quy hướng theo một tiết điệu, một đích điểm Đích điểm đó trong triết lý nhân sinh chính là Tính Bản Nhiên con người Cụ thể: Với người tôn giáo điểm đó có thể là giới truyền của thần minh, với triết học ý niệm là lý với sự kết thành ý thức hệ, với nhân sinh là "tương dĩ thuận tính mệnh chi lý" tức là thuận theo cái Đạo của Tính Mệnh
Tác giả Tô Duy Hợp (2005), “Giá trị bền vững của Triết lý dân gian trong toàn cầu hóa”, Hội thảo Quốc tế: Toàn cầu hóa: Những vấn đề triết học
ở châu Á - Thái Bình Dương, Viện Triết học, Hà Nội Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra lý thuyết về Triết lý dân gian, đó là một loại hình triết lý mang tính dân gian, làm rõ Triết lý và triết học đều cùng một phạm trù, đó là thế giới quan và nhân sinh quan Nhưng triết lý là thế giới quan kinh nghiệm nó khác với triết học - thế giới quan lý luận Triết lý dân gian là tinh hoa của văn hoá dân gian
Bàn về triết lý nhân sinh, có công trình của tác giả Vũ Tố Hảo, Hà Châu
(2012), “Tư tưởng tiến bộ - Triết lý nhân sinh thực tiễn của nhân dân và vai trò của vè, truyện kể trong dân gian” Trong tác phẩm này hai tác giả có đề
cập đến triết lý nhân sinh, coi nó là một tư tưởng tiến bộ trong văn học dân gian Tuy nhiên, hai tác giả chỉ để cập đến triết lý nhân sinh trong Vè và Truyện kể mà thôi
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về triết lý nhân sinh trong ca
dao, tục ngữ:
Gần với đề tài chúng tôi đang nghiên cứu phải kể đến các công trình của
tác giả Ninh Viết Giao, một con người được xem là “Người con xứ Thanh nên danh xứ Nghệ” Tác giả đã dành gần như hầu hết cuộc đời mình để nghiên
cứu về kho tàng dân gian Nghệ Tĩnh, con người Nghệ Tĩnh Ông đã để lại một
Trang 11công trình khá đồ sộ, tiêu biểu như: Ninh Viết Giao (2003) “Kho tàng ca dao
xứ Nghệ” (2 tập), Ninh Viết Giao (2012) “Văn hóa dân gian xứ Nghệ, tập 1,
Ca dao và đồng giao” , Ninh Viết Giao (2006) “Nghệ An đất phát nhân tài”, Ninh Viết Giao (2003), “Về văn hóa xứ Nghệ”, Ninh Viết Giao (2004), “Về văn học dân gian xứ Nghệ” hay Ninh Viết Giao, Trần Thanh Tâm (1975)
“Nghệ Tĩnh trong tổ quốc Việt Nam”, Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi (1984) “Ca dao Nghệ Tĩnh”…Tác giả đã có công lớn trong việc sưu tầm, bảo
tồn và gìn giữ kho tàng văn hóa dân gian xứ Nghệ như: ví dặm, hát phường vải, hò, vè, truyện kể,… và trong đó có ca dao, tục ngữ Các công trình nghiên cứu của Ninh Viết Giao đã phản ánh các mặt sinh hoạt và tính cách của con người Nghệ Tĩnh Tác giả đã làm rõ ngọn nguồn của ca dao, tục ngữ và nội dung ca dao của người Việt ở Nghệ Tĩnh đồng thời cũng chỉ ra được những mặt hạn chế nhất định trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh Tuy nhiên, việc xác định nội dung các triết lý, trong đó có triết lý nhân sinh thì chưa thấy tác giả bàn luận nhiều, có chăng cũng chỉ là những nội dung đan xen trong các bài viết Phần lớn nội dung ca dao, tục ngữ vẫn dưới dạng sưu tầm, chú giải Bên cạnh những mảng nghiên cứu của tác giả Ninh Viết Giao, chúng ta không thể không nói tới công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Dương Lịch
nổi tiếng với tác phẩm “Nghệ An ký” (2004) Đây được xem là công trình
nghiên cứu tỉ mỉ nhất, rõ ràng nhất về vị trí địa lý (khí trời, địa chí, mạch sông núi), nhân chí (chép về người) và sinh lý (đời sống nhân dân) của vùng đất Nghệ Tĩnh Tác phẩm này góp phần làm rõ hơn những đặc điểm tiêu biểu nhất và chân thực nhất của vùng đất cũng như con người xứ Nghệ Đó là những tư liệu lịch sử quan trọng, là cơ sở giúp cho những nhà khoa học khác
có căn cứ để tìm hiểu và nghiên cứu về nét đẹp văn hóa, văn học dân gian trong đó có ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Ngoài ra, còn nhiều tác giả đã có những công trình nghiên cứu, những
Trang 12bài viết nói về giá trị của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh như: Tác giả Nguyễn
Thanh Truyền (2011), “Chất người Nghệ Tĩnh trong một chùm ca dao”, Tạp
chí Văn hóa Nghệ An Qua bài viết này tác giả đã làm rõ nội dung Ca dao - dân ca Nghệ Tĩnh là chân dung tinh thần của con người vùng văn hóa Hồng Lam: bản lĩnh cứng cỏi, bền bỉ gân guốc, trọng nghĩa khinh tài, điềm tĩnh sâu sắc, giàu khát vọng và nhiều lúc thiết tha tinh tế… Tất cả những đặc điểm ấy được thể hiện qua những hình tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa, giàu sức sống
Nguyễn Thị Kim Ngân, “Đọc ca dao tình yêu xứ Nghệ” đăng trên Bình
luận văn học, Nxb Văn hóa Thông tin Tác giả đã nêu rõ: Cũng như ca dao các vùng trong cả nước, những bài ca dao của xứ Nghệ là những lời ướm hỏi, những câu giao duyên tế nhị, những lời thề nguyền gắn bó, những lời xe kết diết da, những lời nhớ nhung và những trách móc ai oán, những nỗi niềm tủi nhục và những trách móc đắng cay, nói lên những mối tình éo le, ngang trái, dang dở… với mọi nỗi giận hờn, lo lắng, đau xót nhưng dạt dào sức sống Tất
cả đều trong sáng lành mạnh và ít nhiều mang bản sắc riêng của con người xứ Nghệ trong Tổ quốc Việt Nam
Trong bài viết “Tìm hiểu yếu tố triết học trong tục ngữ Việt Nam” của
Vũ Hùng in trên Tạp chí Triết học, số 1/1994, tác giả đã chỉ ra sự khác nhau
cơ bản giữa tục ngữ Việt Nam và triết học đồng thời cũng phân tích để làm rõ một số yếu tố triết học trong tục ngữ Việt Nam Ở đây, tác giả mới chỉ phân tích một cách chung chung về các yếu tố triết học trong tục ngữ mà chưa đi sâu phân tích một khía cạnh cụ thể nào
Tác giả Trần Hồng Lưu (2017), “Triết lý về Trời và Thời trong ngôn ngữ dân gian nước ta”, Tạp chí Dân tộc và nhân học Việt Nam đã phát hiện và chỉ
ra rằng: những triết lý trong ca dao, tục ngữ còn thô sơ, mộc mạc trong quan niệm về đời sống sản xuất cũng như trong đời sống tình cảm của người dân qua những bài ca dao, những câu tục ngữ Tác giả khẳng định rằng, những
Trang 13quan niệm về triết lý ấy được xem là “túi khôn” trong dân gian, nó không chỉ
bó gọn trong việc nhận định về thời vụ trong sản xuất nông nghiệp mà còn
mở rộng sang các lĩnh vực thế thái nhân tình của cuộc đời con người
Luận văn Thạc sỹ văn học “Đặc điểm ca dao xứ Nghệ” của tác giả
Nguyễn Thị Kim Ngân (2008) Luận văn gồm có 3 chương, nêu lên sơ lược
về vùng văn hóa xứ Nghệ, đặc điểm nội dung ca dao xứ Nghệ, đặc điểm nghệ thuật của ca dao xứ Nghệ
Ngoài ra, có một số luận văn thạc sĩ trong nước đã nghiên cứu về triết lý
nhân sinh trong cao dao, tục ngữ như: Phạm Thị Thúy Hằng (2006), “Những
tư tưởng triết học trong truyện kể dân gian Việt Nam” (2006) Tác giả đã trình
bày một số tư tưởng triết học về thế giới quan, nhân sinh quan của con người Việt Nam Đề cập đến những ảnh hưởng của truyện kể dân gian đối với việc xây dựng nền văn hóa của dân tộc
Lê Thị Hồng Nhung (2015), “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” Ở đề tài này, tác giả đã khái quát được cơ sở hình thành, những
nội dung cơ bản trong tục ngữ, ca dao Việt Nam Tác giả đã đề cập đến khái niệm triết lý và triết lý nhân sinh, đồng thời làm rõ một số nội dung của triết
lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam như: Quan niệm về đời người, ý nghĩa của cuộc đời con người, quan niệm về cách ứng xử giữa con người với
tự nhiên, cách ứng xử giữa con người với con người Thông qua đề tài này, tác giả bước đầu chỉ ra được những giá trị và hạn chế của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
Ngô Thành Tâm (2014), “Một số vấn đề triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ tỉnh Khánh Hòa” Tác giả đã khái quát được những giá trị về những
triết lý trong cao dao, tục ngữ tỉnh Khánh Hòa như: triết lý về thế giới quan, nhân sinh quan, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, về văn hóa và các giá trị văn hóa Đồng thời, tác giả bước đầu đề xuất được những giải pháp, kiến nghị
Trang 14phù hợp để giữ gìn và phát huy các giá trị triết lý trong ca dao, tục ngữ của tỉnh Khánh Hòa;
Cao Thị Hoa (2011), “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên Huế” Tác giả đã trình bày những tư tưởng triết học được thể hiện trong
ca dao, tục ngữ Thừa Thiên Huế, làm rõ yếu tố về triết lý nhân sinh như: Tư tưởng triết học biểu hiện qua mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với xã hội Tác giả cũng đã bước đầu rút
ra một số nhận xét về ca dao, tục ngữ Thừa Thiên Huế Gần đây nhất là luận
án Tiến sĩ Triết học cấp Học viện của NCS Nguyễn Thị Tình (2018), “Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống
xã hội ở nước ta hiện nay” Những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh
trong tục ngữ, ca dao Việt Nam đã được làm rõ trong luận án này Tác giả đã phân loại các loại triết lý nhân sinh theo đặc thù của đời sống người Việt thể hiện trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam Điều quan trọng là luận án chỉ
ra những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, làm rõ ý nghĩa của các triết lý nhân sinh trong việc xây dựng nhân sinh quan lành mạnh của con người Việt Nam hiện nay
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm lớn, và nghiên cứu rộng đến mảng đề tài ca dao tục ngữ vùng miền nói riêng và ca dao,tục ngữ Việt Nam nói chung Các tác giả bước đầu đã gợi mở được những lý thuyết quan trọng về triết lý và triết lý nhân sinh Tuy khai thác vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau, vùng miền khác nhau nhưng cùng chung một mục đích
đó là khẳng định tầm quan trọng của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu có chọn lọc các nguồn tài liệu liên quan tới đề tài, chúng tôi tìm cho mình cách tiếp cận riêng và đi sâu nghiên cứu vào tính triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh Hy vọng đây
là mảnh đất tuy xưa nay vốn được xem là khô cằn, sỏi đá sẽ trở nên màu mỡ,
Trang 15phì nhiêu hơn qua những bài ca dao, tục ngữ đong đầy tính triết lý nhân sinh
và tình yêu thương của người dân xứ Nghệ
7 Đóng góp mới của đề tài
Luận văn làm rõ được những nội dung cơ bản, những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Nghệ Tĩnh; Đồng thời đề xuất một số giải pháp có tính khả thi cho việc gìn giữ và phát huy các giá trị triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh hiện nay
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa những nội dung triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh, đồng thời khẳng định những giá trị nhân văn, tiến bộ trong triết lý nhân sinh của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Trang 16CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ CA DAO,
TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
1.1 TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH
1.1.1 Khái niệm triết lý
Triết lý là cái ý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết hay một sinh hoạt, một hiện tượng, một cử chỉ
Triết lý là những quan điểm, quan niệm được con người rút ra từ thực tiễn cuộc sống của mình Nó có tác dụng chỉ dẫn, định hướng cho hành động của con người
Khác với triết học, triết lý mang đậm dấu ấn của cộng đồng người, triết
lý được rút ra từ những trải nghiệm trong cuộc sống Trải nghiệm càng sâu, càng rộng thì tính triết lý càng cao Triết lý thường được phát biểu ngắn gọn, súc tích Triết lý có sức mạnh định hướng cho cách đối nhân xử thế, cho hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng
Triết lý thường phù hợp với những phạm trù: Chân lý, đạo đức, lẽ phải Triết lý mang tính giáo dục cao bởi tính đúng đắn và kinh nghiệm từ thực tiễn
Có thể thấy rằng, rất nhiều quan niệm về triết lý được đưa ra, mỗi quan niệm đều có ý nghĩa đúng đắn của nó Tuy nhiên, theo chúng tôi các quan niệm đó đúng mà chưa đủ Trên cơ sở kế thừa những quan điểm về triết lý đã
có cộng với quá trình nghiên cứu, tìm hiểu của bản thân, chúng tôi cho rằng: Triết lý trước hết đó là những quan niệm đúng đắn, được con người rút ra, đúc kết từ trong thực tiễn cuộc sống Khác với triết học, triết lý gần gũi hơn với cuộc sống, là bài học mà cá nhân nào cũng có thể tự đưa ra được triết lý sống cho riêng mình Trải nghiệm càng nhiều, triết lý càng sâu sắc Triết lý không
Trang 17ở đâu xa với, mà nằm ngay trong cuộc sống của con người
Triết lý có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn tới mọi mặt của đời sống con người như: Triết lý sống, triết lý kinh doanh, triết lý giáo dục…Trong giới hạn của đề tài chỉ đề cập đến triết lý nhân sinh được thể hiện trong ca dao, tục ngữ tỉnh Nghệ Tĩnh
1.1.2 Triết lý nhân sinh
Triết lý nhân sinh theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam: “Nhân” là người,
“sinh” là cuộc sống, triết lý nhân sinh là triết lý về sự sống con người
Nhân sinh phải được hiểu ở bình diện triết lý nghĩa là trên một bình diện khác hẳn với đời sống công dân kinh tế, chính trị thông thường Đời sống triết
lý nhân sinh phải là một đời sống có sự thống nhất mọi hành vi cử chỉ phải quy hướng theo một tiết điệu, một đích điểm Đích điểm đó trong triết lý nhân sinh chính là “Tính bản nhiên con người” [64, tr.1]
Có rất nhiều quan niệm về triết lý nhân sinh Theo quan niệm của Cao Đài: Triết lý nhân sinh nhìn nhận con người là một hiện hữu, chấp nhận đời sống con người là một thực tại sinh tồn
Quan điểm của Đạo Phật: xem con người là chủ nhân của trái đất, cho rằng tin vào có đời sau, có nhân quả báo ứng, có luân hồi sinh tử… mới biết đến căn cốt của nhân sinh
Triết lý nhân sinh được biểu hiện một cách đầy đủ và rõ nét trong cuộc sống của mỗi con người Sau đây là một vài triết lý nhân sinh được đúc kết từ trong thực tiễn cuộc sống:
Một là, triết lý nhân sinh về đời người và số phận con người Đời người,
nói như Phật Giáo đó là “bể khổ”, một đời người là một con đường dài đầy phong ba, không thể mọi việc đều như ý muốn của con người Vì vậy, sống không nên so đo với người khác, cũng không nên tính toán thiệt hơn, và không nên quá nghiêm khắc với bản thân mình
Trang 18Cuộc đời con người càng khổ đau nhiều thì càng hiểu được những khi vui vẻ Chính vì vậy hãy biết quý trọng những phút giây vui vẻ và hạnh phúc Cuộc đời con người luôn đi đôi giữa thành công và thất bại, có khi được khi mất chứ không phải hoàn toàn là thành công hết thảy Do vậy, con người luôn luôn phải cố gắng nỗ lực chinh phục thử thách mới thành công được Đời người có một thói quen không tốt chính là thích so sánh với người khác, xem ai tốt hơn mình, lại có ai không bằng mình Mà thực ra, sự phiền muộn và căn nguyên đau buồn của bạn trước nay đều không phải đau khổ và bất hạnh của người khác, mà là thái độ của bản thân bạn
Bi thương lớn nhất của đời người là cầu mà không được, buông bỏ cũng không thành, được rồi lại không biết trân trọng Trên đường đời, chúng ta phải học cách buông bỏ để cho đôi vai bớt nặng trĩu những phiền muộn, hướng tới tương lai phía trước tốt đẹp hơn
Hai là, quan niệm triết lý nhân sinh về con người: Truy cầu hưởng lạc
được xem là thiên tính của con người Đã là con người ai cũng có nhu cầu được sống vui vẻ, hạnh phúc và giàu có Tuy nhiên, không phải nhiều tiền là hạnh phúc, không phải giàu có là hạnh phúc mà hạnh phúc chân chính là sống sao để không hổ thẹn với lòng mình, để không hối hận với lòng mình
Lòng người vốn lương thiện “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, nếu như để tâm thanh tĩnh con người có thể phân biệt được đúng, sai, hiểu được những điều nên làm và không nên làm để có những thái độ, lối hành xử đẹp trong cuộc sống
Triết lý nhân sinh cũng cho rằng, điều quan trọng đầu tiên người sống trên đời chính là làm người tốt, hiểu được tự ái, tự tôn để bản thân có một tâm hồn trong sáng lại phong phú đủ để thừa nhận đả kích của vận mệnh, cũng xứng được sự ban thưởng của vận mệnh Nếu có thể như vậy, cũng có thể xem là đã làm chủ nhân của vận mệnh Kẻ thù lớn nhất của con người đó
Trang 19chính là bản thân mình, cuộc chiến với bản thân và một cuộc chiến dai dẳng
và chiến thắng bản thân luôn là chiến thắng vẻ vang nhất
Cũng giống như quan niệm về triết lý, triết lý nhân sinh được hiểu trên những bình diện khác nhau của cuộc sống Khi nói đến “nhân sinh” đó chính
là sự sống của con người, đó là phạm trù vô cùng rộng lớn và phức tạp Mỗi người có một quan điểm về triết lý nhân sinh riêng, nhưng nhìn chung xoay quanh triết lý về nhân sinh chính là sự sống của con người Đứng trên qua điểm duy vật của chủ nghĩa Mác - LêNin, chúng ta nhìn nhận triết lý nhân sinh không phải là do thượng đế sinh ra, thượng đế định đoạt Con người cùng với quá trình tiến hóa, chọn lọc của tự nhiên, làm chủ vũ trụ và cuộc sống Sự sống của con người do chính con người định đoạt, do con người làm chủ Và muốn giải thoát được số phận, con người phải tự vùng lên đấu tranh chứ không đổ lỗi cho số phận hay chờ đợi sự giải thoát, ban ơn nào cả
Chính vì vậy, triết lý nhân sinh cũng chính là những quan điểm, quan niệm, những kinh nghiệm về sự sống được con người rút ra từ trong thực tiễn cuộc sống
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc ra đời của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Khái niệm ca dao theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: Ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu nam nữ
Ca dao thường là những câu thơ có thể hát theo những làn điệu dân ca, hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học
Theo M.Gorki: “Đó là hình thức cao nhất, hay nhất và thiên tài nhất, bao giờ cũng ngắn nhưng trí tuệ và tình cảm trong đó đáng giá hàng ngàn kho sách”
Trang 20Tác giả Ninh Viết Giao cho rằng: “Mỗi câu ca dao là một mảnh tâm hồn trĩu nặng, nhưng cũng là một dải lụa đào duyên dáng như những cô thôn nữ đang kỳ đôi mươi, mười tám, thắt giải lưng xanh, má hồng đỏ thắm, môi trầu cắn chỉ, mắt lay láy hạt huyền” [20, tr.12]
Tục ngữ theo tác giả Vũ Ngọc Phan: “Đó là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán” [48, tr.6]
Giáo sư Nguyễn Lân cho rằng: Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn nói lên hoặc một nhận xét về tâm lý, hoặc một lời phê phán khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức
tự nhiên hay xã hội Ví dụ: “Trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường (hay)”;
“Chết trong còn hơn sống đục”; “Đói cho sạch, rách cho thơm; Bỡn quá hóa thật”; “Gió heo may chuồn chuồn bay thì bão”
Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, về sản xuất lâu đời, nó là những đúc kết, những lời nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, có tác dụng hướng dẫn con người nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời Ví dụ: “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, “Cõng rắn cắn gà nhà”,
“Chó cắn áo rách”, “Đông sao thì nắng vắng sao thì mưa”
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là một bộ phận cấu thành trong kho tàng ca dao Có thể là do những lính thú lưu động, những dân tứ chiếng, những đợt sóng người chuyển cư, những người buôn bán, những ông đồ Nghệ đầu năm đeo cái tay nái đỏ trong đó có cái tráp đen đi khắp bốn phương tìm nơi dạy học mang về Nhưng qua những câu tục ngữ từ nơi khác du nhập vào đều có ít nhiều “chất Nghệ Tĩnh” Ví dụ: Tục ngữ: “Ăn cây nào rào cây nấy (ấy)”, “Ăn chẳng nên đọi (chén), nói chẳng nên lời”, “Ăn trên ngồi trốc (đầu)”, “Thương
người, người nỏ (không) thương ta”… Ca dao: Anh về cho em về theo/ Đói no
có chắc (có nhau), giàu nghèo đủ đôi; Buồn chi ra rứa mà buồn/ Dưới khe
Trang 21vượn hót trên nguồn chim kêu; Cách đây cùng đó bờ rào/ Anh sang nỏ (không) được, anh trao miếng trầu; Cây đa bến nước con đò/ Biết rằng bạn
cũ còn chờ ta không/ Vì dù hết đợi hết trông/ Cây đa còn đó, tấm lòng còn đây…[20, tr.251 - 268]
Quả thật, lời ca, tiếng thơ chân chất, mộc mạc nhưng chan chứa tình đời, tình người sâu lắng giống như con người xứ Nghệ vậy Mỗi dòng chữ mang một dấu ấn rất riêng, rất đặc trưng của vùng quê xứ Nghệ không chỉ thể hiện qua câu chữ mang đặc trưng địa phương mà cả ở nội dung sâu xa của nó
1.2.2 Những nội dung của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Những bài ca dao được lưu truyền ở Nghệ Tĩnh đều phản ánh các mặt sinh hoạt và tính cách của những con người đã bao năm sinh sống, chiến đấu
và sáng tạo trên đất Hồng Lam
Ca dao của các vùng là tài sản của cả nước Và tất nhiên ca dao của từng vùng dù mang những đặc điểm, những sắc thái riêng vẫn thể hiện những đặc điểm chung, phổ biến của cả nước Đó là truyền thống cải tạo tự nhiên, đấu tranh chống lại giai cấp áp bức, ngoại xâm; truyền thống tự lập tự cường, tư tưởng chịu đựng gian khổ vượt khó, cần cù, sáng tạo trong lao động; tư tưởng yêu thương, đoàn kết
Ca dao Nghệ Tĩnh là tấm gương phản chiếu rõ nhất cuộc sống của những con người nơi đây Đó là một cuộc sống vật lộn gian khổ, bền bỉ giữa con người và thiên nhiên Mùa hè hạn hán, gió Lào, nắng và gió ròng rã khiến cho người và gia súc uể oải, cây cối xác xơ, cỏ dại và lau lách quắt khô Bà con bực bội, căm uất ông trời:
Sấm cũng ở trên nguồn,
Chớp cũng ở trên nguồn
Không mưa giông đôi ba trộ (trận) để giải buồn nhà nông [20, tr.615] Còn khi đã mưa, mưa hết ngày nọ qua ngày kia, mưa như nước xối, mưa
Trang 22thối đất thối cát:
Trời làm một trộ (trận) mưa dông,
Trời làm hai trộ mưa dông,
Nước chảy băng đồng, băng hói, băng bãi, băng sông
Lũ lụt kéo về cuốn phăng đi tất cả ruộng đồng, mùa màng mất trắng Người dân chỉ còn biết kêu than:
Gió mưa chi lắm hỡi trời,
Làm mùa toan gặt lại trôi đầy đồng
Con đau vợ đói nhìn chồng,
Khóc thảm khóc thiết đỏ tròng con ngươi
Chính vì vậy nên bà con luôn phải tiết kiệm, lo xa: Dân choa chính thực dân nghèo,Tháng mười nghe tiếng cối kêu ầm ầm Có khi đói kém, phải kéo
nhau đi đào củ mài, cuốc rau má, mót ngô, mót khoai, làm thuê…
Biết bao nhọc nhằn, gian khổ nhưng người dân nơi đây không buông xuôi Họ vẫn tin vào ngày mai tươi sáng: “Sông kia lúc lở, lúc bồi, con người khổ mãi rồi thì có vinh” hay “Có khó mới có miếng ăn, có nhọc có nhằn mới
Ông trời ông ở không minh,
Ở cao ông nỏ thấu tình dân đen
Vua chi mà vua,
Quan chi mà quan,
Lọng vàng thì có, lòng vàng thì không
Bên cạnh bọn bóc lột, còn có bọn giặc ngoại xâm: Từ ngày Phú Lăng
Trang 23sang đây, bắt người cướp của tù đày thảm thương”
Lòng căm oán quân thù dâng cao, người dân sẵn sàng đứng dưới lá cờ khởi nghĩa của sĩ phu cần vương, nhất là Đảng tiền phong
Bao giờ Hồng Lĩnh nên (thành) cồn,
Sông Lam hết nước mới hết nguồn đấu tranh [20; tr.743]
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh còn là tấm gương phản ánh chân thực nhất con người xứ Nghệ Đó là con người có bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống Dường như luôn đứng đầu song, ngọn gió, luôn phải đương đầu với những
khó khăn, thử thách nên con người nơi đây trở nên cứng cỏi và gan thép: Cả gan vác quốc lên rừng/ Đào cho trốc mũi cũng xin đừng hãi ai; Sông sâu sào ngắn chơi vơi/ Cả gan anh chống những nơi thác ghềnh; Đã đi đến quán thì nằm/ Beo kêu chẳng sợ, hùm gầm chẳng kinh; Chơi nơi quỉ khốc thần sầu/ Dù trăm gươm múa trên đầu cũng chơi… Trong cuộc chạy đua anh tài cũng không thua kém ai:
Không bằng cũng đứng ngang vai,
Thua tiền thua bạc, chữ anh tài không thua
Đèo cao, núi cao, sông sâu, hùm, beo cũng chẳng là gì với những con người xứ Nghệ Dường như gian khổ không làm họ nản chí mà làm cho họ quyết tâm hơn, vượt lên hoàn cảnh, chinh phục thiên nhiên Họ thách thức cả với sự hiểm nghèo, có khi tưởng như gàn dở, ương bướng để đạt được chí lớn Tính cách ấy đã được giáo dục ngay từ thuở ấu thơ:
Ru con con ngủ à ơi,
Trông cho con lớn, nên người khôn ngoan
Làm trai gánh vác gian sang,
Mẹ cha trông xuống, thế gian trông vào
Ru con con ngủ đi nào,
Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng
Trang 24Làm trai quyết chí anh hùng,
Ra tay đánh dẹp vẫy vùng nước non
Nếu như ngày xưa, chí làm trai dặm nghìn da ngựa thì chí làm trai xứ
Nghệ cũng lẫy lừng không kém: Làm trai đứng ở trên đời/ Làm cho xứng đáng giống nòi nhà ta; Nước triều khi xuống khi lên/ Làm trai chí ở cho bền
là hơn; Tóc xanh dù gội sớm trưa/ Sức trai dù trải nắng mưa quản gì
Tác giả Bùi Dương Lịch trong tác phẩm “Nghệ An ký” nhận định rõ:
“Xứ nà tuy đất xấu dân nghèo, nhưng dân đều vui vẻ công việc sẵn sàng vì nước, có lòng tôn quân thân thượng và biết lễ nghĩa liêm sỉ, phong tục thuần hậu chưa từng bị gián đoạn bao giờ”
Tác giả Đại Nam nhất thống chí cũng viết tương tự: “Nghệ An đất xấu dân nghèo, tập tục cần kiệm, nhà nông chăm chỉ ruộng nương, học trò ưa chuộng học hành, không mê đạo Phật, chỉ thờ thánh Khổng, rất kính cẩn việc thờ thần” Một người Pháp đã viết về một người xứ Nghệ: “Tính tình cứng cỏi, ham thích văn chương, cần cù lao động và dũng cảm kiên trì chống cõi đất đai cằn cỗi để sinh sống”
Nhưng con người xứ Nghệ đâu chỉ bởi khô khan, gân guốc, rắn rỏi, đó còn là những con người với vẻ đẹp tâm hồn đầy lý tưởng, điềm tĩnh mà sâu
lắng yêu đất nước, quê hương mãnh liệt: Cảnh trời ai bán tôi mua/ Mua non, mua nước, mua chùa, mua hương/ Mua hoa mới nở giữa vườn/ Mua trăng mới mọc trên sườn non cao; Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ/ Ai vô xứ Nghệ thì vô; Non Hồng ai đắp mà cao/ Sông Lam ai bới, ai đào mà sâu?; Thuyền ngược hay là thuyền xuôi/ Thuyền ai về Nghệ cho tôi về cùng
Nỗi nhớ, niềm thương về quê hương luôn đau đáu trong lòng mỗi người con xa xứ Những tên làng, tên nước, tên con sông, ngọn núi cứ khắc sâu mãi
trong tâm trí: Ra đi anh nhớ Nghệ An/ Nhớ Thanh Chương thơm nhút/ Nhớ
Trang 25Nam Đàn thơm tương; Ai về Hà Tĩnh thì về/ Mặc lụa chợ hạ, uống nước chè Hương Sơn; Ai về Hồng Yến thì về/ Có cá bàu Nậy, có chè khe Yên
Không chỉ dừng lại ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, xóm làng, ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh còn là bản tình ca thấm đẫm tình yêu thương chan chứa của tình yêu lứa đôi và tình cảm gia đình
Tình yêu, đó luôn là một đề tài muôn thuở, một mảnh đất màu mỡ phì nhiêu cho mọi ngọn nguồn sáng tạo thi ca Tình yêu đôi lứa trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh cũng đẹp mặn mà và mang dấu ấn riêng của những chàng trai,
cô gái xứ Nghệ Cũng giống như ca dao, tục ngữ trên mọi miền, ta gặp lại những lời ướm hỏi tình tứ, những câu trao duyên tế nhị, những lời xe kết da diết, những lời thề nguyền son sắt, những lời than thở nhớ nhung và cả những câu trách móc, giận hờn, những nỗi niềm tủi nhục, những số phận đắng cay:
Anh say em như bướm say hoa/ Như Lưu Linh say rượu, Bá Nha say cầm; Bao giờ Hồng Lĩnh đá mòn/ Núi Hoành Sơn mây phủ, dạ em còn nhớ anh; Ai
ơi thẻ bạc đừng cầm/ Lòng đây thương đó thâm trầm đó ơi/ Lòng đây thương
đó bùi ngùi/ Ai trao thẻ bạc cũng chùi thẻ đi
Ta cũng bắt gặp những mối tình éo le, ngang trái như: tình cũ, tình già, tình muộn, tình phụ, tình lầm, tình nghèo, tình chờ, tình chênh lệch, tình ép buộc, tình dang dở… với một nỗi giận hờn, lo lắng, xót xa nhưng ấm tình đời, dạt dào sức sống Tất cả đều trong sáng, lành mạnh với phong cách suy nghĩ
có cái bản sắc riêng của con người xứ Nghệ: Ai làm cho vịt bỏ đồng/ Cho cuông (công) bỏ rú, cho rồng bỏ mưa; Ai làm cho ách xa cày/ Trâu xa chạc mũi (dây thừng), đôi ta rày xa nhau; Anh mà không lấy được nường/ Anh về
tự vẫn sông Lường em ơi; Anh mà không lấy được em/ Anh về đóng cửa cài rèm đi tu
Tình yêu của trai gái xứ Nghệ, con người xứ Nghệ như một ngọn núi lửa Nó âm ỉ, nung nấu, sục sôi trong lòng, chực tuôn trào Song, ngoài mặt
Trang 26vẫn điềm tĩnh, trầm lặng, cái trầm lặng của mặt nước biển hồ trong những ngày gió lặng sóng lăn tăn, nhưng dưới đáy hồ vẫn có vô số sóng ngầm
Lời nói tưởng như đanh, như nén, như sắt đá ấy lại trầm lặng đến mức lạnh lùng Đằng sau đó là một con người dũng cảm, kiên quyết, đã yêu nhau thì dù “Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều”, đã hẹn ước thì: “Đem quách nhau đi, công cha nghĩa mẹ sau thì hãy hay” Tình yêu đó, dù có nghèo khổ:
“Yêu nhau quán cũng như nhà, lều tranh quét sạch hơn tòa ngói cao” Thậm chí, khi bị cha mẹ cản trở “…Dù thầy mẹ đập chín chục một trăm, đập rồi lại dậy, quyết tâm lấy chàng”
Phải chăng, cái dũng cảm, liều lĩnh và kiên quyết ấy là do con người nơi đây bao năm chịu đựng thời tiết khắc nghiệt, và đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc
Tuy vậy, tình yêu của họ dản dị, chân thực lắm:
Anh không yêu em quần là áo lượt,
Anh không yêu em gương lược suốt ngày
Anh yêu em cái quốc liền tay,
Cái vai liền gánh miệng hay vui cười
Tình yêu không phải đâu xa vời, hoa lá mà tình yêu gắn với hiện thực lao động:
Đua nhau ta cấy ta cày,
Cho cao cốt thóc cho đầy bồ khoai [20, tr.584]
Có thể thấy rằng, qua những bài ca dao, tục ngữ thấy được rõ con người
xứ Nghệ với tinh thần kiên quyết, nghị lực bền bỉ, lòng tin vô bờ, ý thức cao siêu, tâm hồn rộng lớn Người Nghệ Tĩnh quen với mọi khó khăn, hiểm nghèo
đã sớm định hình tính cách gân guốc, rắn rỏi, khô khan “Đời sống tình cảm với cái đẹp của lý tưởng, tuy không bộc lộ một cách ồn ào hời hợt, nhưng lại
có phần suy nghĩ, điềm tĩnh, sâu sắc và bền bỉ cảm động đến thiết tha” (trích
Trang 27Văn thơ Phan Bội Châu)
1.2.3 Vài nét nghệ thuật nổi bật trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
- Tính bộc trực thẳng thắn
Về mặt hình thức của ca dao, tục ngữ xứ Nghệ, nếu so sánh với ca dao, tục ngữ miền Bắc thì không được mượt mà, uyển chuyển Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh phần nhiều bộc trực, thẳng thắn, có phần cứng rắn Điều này cũng thật sự dễ hiểu, cuộc sống nơi đây thường xuyên phải vật lộn chống chọi với thiên nhiên khô cằn, khắc nghiệt, chế độ phong kiến kéo dài dai dẳng, tàn nhẫn, xảo quyệt, chiến tranh liên miên với giặc ngoại xâm trường kỳ, gian khổ Cuộc sống đói nghèo, túng quẫn luôn dày vò, đeo đẳng
Quá trình phải chống chọi lại với các thế lực tối tăm ấy đã làm cho lời
ca, tiếng nói của họ phải bộc trực, thẳng thắn và nhiều khi đến mức cục cằn, bốp chát, sống sượng:
…Ông trời chết nứt chết trương
Ông ghét tôi khổ ông thương nhà giàu
Họ chửi vào mặt bọn địa chủ không thương tiếc:
Tổ cha mồm lưỡi nhà bay,
Xỏ xiên xỏ lá có ngày chết tươi
Hãy nghe họ lăng mạ bọn xâm lăng:
…Máu chi tanh tưởi máu ơi,
Mồ cha quân đế quốc đã sướng đời không bay
Quen lối nói bộc trực, thẳng thắn nên chúng ta khó lòng bắt gặp những câu nói nhẹ nhàng, dễ nghe, thậm chí là chướng tai, chói tai Người xưa có câu:
Chim khôn hót tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
Nhưng trong hoàn cảnh này của người dân xứ Nghệ, khó lòng “khôn”
Trang 28như vậy được
Kể cả trong tình cảm, tình yêu đôi lứa, tiếng nói vẫn cứ cộc cằn, thô thiển đến như vậy:
Sơn cách, thủy cách
Tình nhân cũng cách,
Bởi vì cái quần anh rách,
Bởi vì cái áo anh rách,
Cho nên tình nghĩa mới xa cách
Mối tình trục trặc, chưa thuận lòng ba mẹ:
Đôi ta thương chắc,
Chú bác trục trặc,
Cha mẹ không ì (ừ)
Giống như trâu không chạc mũi biết tắc rì đường mô!
Có khi lời ca thách thức, một lời tuyên chiến, biểu hiện thái độ đấu tranh
quyết liệt để bảo vệ hạnh phúc: Vợ anh, anh lấy đã lâu/ Đố ai lắm ruộng nhiều trâu vô giàng; Đố ai lấy được vợ anh/ Thì anh cho một cẳng/ Chân đi lủng lẳng như cẳng đánh cù; Đã thù thì anh thù cho nốt/ Nhà thì anh đốt khói bay lên trời…
Lời ca không mượt mà, uyển chuyển, bay bướm nhưng câu chữ chắc như đinh đóng cột, thái độ mạnh mẽ, rõ ràng, dứt khoát, không lấp lửng, lập lờ Có
lẽ đó chính là nét đặc trưng, độc đáo rất riêng chỉ có ở tục ngữ, ca dao xứ Nghệ Bùi Dương Lịch viết: “Văn chương người Nghệ An phần nhiều mạnh
mà cứng cỏi, ít bóng bẩy (hoa lệ) Vì văn chương là tiếng nói của lòng, khí chất (con người) như thế, nên phát ra lời văn cũng như thế…”
- Tính trí tuệ bác học
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh mang đặc trưng riêng, đó là tính trí tuệ và bác học Tính trí tuệ và bác học này không chỉ có tác giả là các nhà nho, khoa
Trang 29bảng mà nó còn xuất hiện trong những bài ca dao, tục ngữ của tầng lớp bình dân Họ học lỏm, chắp vá và bằng kinh nghiệm từ thực tiễn cuộc sống và lao động , ngày qua tháng lại họ vận dụng để sáng tác Những cách vận dụng tài tình đã làm nên những bài ca dao, những câu tục ngữ dí dỏm, tinh nghịch nhưng cũng đầy tính trí tuệ và bác học
Ta bắt gặp những bài ca dao mang tính “trí tuệ”:
Đá có rêu bởi vì nước đứng,
Núi bạc đầu là tại sương sa
Trong cuộc sống với những chắt lọc thiết thực, tinh tế mà sâu sắc: Khi vui ngó núi cũng vui/ Khi buồn nhặt trái sim rơi cũng buồn; Gừng già càng lụi càng cay/ Anh hùng càng cực càng dày nghĩa nhân…
Nhiều bài ca dao là bài đố có tính chất dân gian:
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non
Thì bài đáp lại có tính chất bác học:
Trăng ba mươi tuổi trăng ngà
Thanh sơn bất lão gọi là núi non
- Tính trạng
Tính Trạng: “Trạng” ở đây không phải là nói phét, nói láo “Trạng” ở đây thể hiện tính vui vẻ, thông minh nhanh trí song dí dỏm của người xứ Nghệ Cần thấy rằng, tính trạng ở đây không mâu thuẫn gì với nét trầm lặng, điềm tĩnh của con người xứ Nghệ mà nó là hai mặt thống nhất, bổ sung cho nhau trong tính cách con người xứ Nghệ “Trạng” có khi là châm biếm, nhưng
ít mang tính chất phóng đại, khoa trương những khuyết điểm và tính xấu của những kẻ bị đưa ra chế giễu, lên án Nó gây ra tiếng cười đầy khoái trá của trí tuệ, cười mà khâm phục tác giả của bài ca dao, tục ngữ ấy Một số bài còn mang yếu tố “tục‟ nhưng vẫn mang lại nụ cười sảng khoái
Trang 30Tiếng cười khi sổ sàng, phóng khoáng, thường sử dụng biểu tượng hai mặt để trêu cợt lẳng lơ, song cái nhìn thì bình dị, lạc quan Những bài ca dao, những câu tục ngữ mang tính „Trạng” đã phần nào làm vơi bớt đi cuộc sống ngột ngạt, nghèo khổ nơi đây Phan Bội Châu một lần đi hát phường vải, bị một cô gái hỏi:
Thiếp đưa chàng một nạm (nắm) ngô rang,
Đúc (gieo) nơi mô mà mọc, thiếp đốt nhang mời về
Nghe xong, Phan Bội Châu đáp lại:
Chỗ nào nắng mãi không khô
Mưa lâu không ướt, đúc vô mọc liền
Hay một ông cử đi hát ví trên sông, thấy một cô gái đẹp đang xắn quần lội dưới bến Ông cử ấy giở giọng bỡn cợt;
Ra đây anh hượt một sào,
Lạch này coi thử chỗ nào cạn sâu
Nào ngờ cô gái liền đáp lại:
Lạch này chỗ cạn, chỗ sâu,
Sa chân cũng dễ ngập đầu anh ơi
Bảy anh học trò đi hát phường vải Một cô gái buông giọng trêu ngược: Mấy lâu nay buôn bán lằng nhằng,
Sinh ra một trận bảy thằng con trai
Cô gái cố tình chế nhạo bảy anh học trò vắt mũi chưa sạch, chưa đủ “cỡ”
để thi thố tài năng với cô ta Song, cô gái đã bẽ bàng khi bị một anh đáp lại: Anh trách cái thầy địa lý, cái chốn địa hình,
Mả che em táng vô đó, nên phát đinh đả nhiều
Tại phường hát nọ, một ông đồ “bày” cho một cô gái hát:
Đồn rằng chàng học kinh thi
Cá nằm dưới cỏ, chữ chi rứa chàng?
Trang 31Chàng trai ở ngoài đáp lại:
Anh đây chẳng học kinh Thi,
Cá nằm dưới cỏ có khi cá tràu
Rõ ràng là những câu ca dao đối đáp rất “chanh chua”, “đốp chát”, nhưng cũng đầy tài tình và dí dỏm Phản xạ của người ra câu hát và người đối đáp rất nhanh nhạy, tinh tế, không chịu hơn thua về từng ý tứ, câu chữ Nghe qua tưởng chừng như đang mạt sát, tranh cãi nhau lớn, nhưng lại là lời “chửi đẹp” đầy thâm thúy, bấm bụng vì cái tức không giải thoát được Có người cho
đó là tính phồn thực trong văn nghệ dân gian Tính phồn thực này được lặp đi lặp lại dưới ba hình thức: đó là sự miêu tả trực tiếp các hình ảnh liên quan đến sinh thực khí nam và nữ; đó là sự miêu tả trực tiếp các hành động tính giao và cuối cùng là những hình ảnh, những biểu tượng phát sinh Toàn bộ tính phồn thực trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh nói chung không phải là sự tục tĩu đơn giản, mà đó là ý thức hệ đúng đắn , nghiêm túc của cộng đồng người xứ Nghệ xưa kia, hướng vào thế giới huyền hùng nhằm cầu mong một cuộc sống phồn vinh và hơn để giải thoát những ấm ức trong cuộc sống đương thời
Những bài ca dao, những câu tục ngữ đó chính là một nét đẹp văn hóa độc đáo, tài hoa, dí dỏm, làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân dân Nghệ Tĩnh
- Một số nét nghệ thuật khác
Ngoài ra, hình thức đối trong thể lục bát và song thất lục bát của ca dao Nghệ Tĩnh cũng là một nét nghệ thuật độc đáo Không chỉ đối ngẫu mà còn đối câu, đối bài, hiện tượng gieo vần, về ngôn từ, nhất là các từ địa phương, các dạng kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật…cũng rất sáng tạo và độc đáo
Về tục ngữ, nghệ thuật chủ yếu là kết cấu ngôn từ, câu chữ và cách gieo
vần Trong đó thể hiện ở kết cấu ngôn từ hết sức đa dạng Tục ngữ 4 chữ: Có
Trang 32tật, dật mình; Bút sa, gà chết; Chó treo, mèo đậy… Tục ngữ 5 chữ: Việc bé xé
ra to; Cháy nhà ra mặt chuột; Đồng tiền liền khúc ruột;… Tục ngữ 6 chữ: Cơm chưa ăn, gạo còn đó; Đứng núi này trông núi nọ… Tục ngữ 7, 8 chữ: Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng; Chưa học bò đã lo học chạy; Cờ đến tay ai người ấy phất
Nghệ thuật gieo vần, chủ yếu vần lưng: Người chửa, cửa mả; Con gái cái bòn; Lụt thì lút cả làng; Ăn cây nào, rào cây ấy; Cái nết đánh chết cái đẹp…Gieo vần hai vế song song: Người lúc vinh, lúc nhục; Khôn ba năm, dại một giờ; Nói thì dễ, làm thì khó… Gieo vần tương phản: Đói cho sạch, rách cho thơm; Yêu nên tốt, ghét nên xấu; Gái tham tài, trai tham sắc… Hoặc có khi gieo vần như ca dao: Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo; Nhất nước, nhì phân tam cần tứ giống; Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon; Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn nó béo thì lòng mới ngon
Với sức mạnh của kết cấu ngôn từ, giúp cho người đọc, người nghe có khả năng ghi nhớ, truyền khẩu và thông tin ngắn gọn Chính vì lẽ đó, tục ngữ rất dễ thuộc, dễ nhớ và có khả năng lưu truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân
1.3 NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
1.3.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên
Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ từ thời nhà Hậu Lê, tức Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng - sông Lam Núi Hồng Lĩnh nằm trọn trong đất Hà Tĩnh và sông Lam nằm ở ranh giới giữa Nghệ An và Hà Tĩnh Trung tâm của Xứ Nghệ nằm ở hai bên dòng sông Lam
là phủ Đức Quang và phủ Anh Đô khi xưa, tức là các huyện Hương Sơn, Đức
Trang 33Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của HàTĩnh và các huyện Thanh Chương, Nghi Lộc, thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương,
Anh Sơn của Nghệ An ngày nay
Hà Tĩnh, Nghệ An luôn gắn bó với nhau về các mặt: Địa lý, lịch sử, kinh
tế, văn hóa, phong tục, ngôn ngữ Ở đó có sông Lam, núi Hồng tượng trưng
cho tinh thần gan góc, hiên ngang, tinh thần hiếu học, trọng đạo lý làm người
- Về vị trí địa lý
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung
Bộ, diện tích 16.493,7 km² Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam Trước đây, Nghệ An cùng với Hà Tĩnh có cùng một tên chung là Hoan Châu (trước đời Nhà Lý), Nghệ
An châu (đời Nhà Lý, Trần), xứ Nghệ (năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông), rồi trấn Nghệ An Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (nam sông Lam) Năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập thành một tỉnh - Nghệ Tĩnh Từ năm 1991, lại tách ra thành 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh
Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ Lãnh thổ Nghệ An nằm trong tọa độ Vĩ độ: 18°33′ đến 19°25′ vĩ bắc Kinh độ: 102°53′ đến 105°46′ kinh đông
Phía Bắc, Nghệ An giáp Thanh Hóa, phía nam giáp Hà Tĩnh, phía Tây chung biên giới với Lào, phía Đông giáp biển Toàn Tỉnh có diện tích tự nhiên là 16.493,7 km², chiếm khoảng 5% diện tích cả nước và số dân 2.912.041 người (2009) chiếm 3,74% dân số Việt Nam Nghệ An là tỉnh dẫn đầu cả nước về diện tích và thứ 3 về dân số của cả nước
Nghệ An có đường biên giới với Lào dài 419 km, là tỉnh có đường biên giới trên bộ dài nhất Việt Nam
Hà Tĩnh là một tỉnh của Việt Nam, nằm ở khu vực Bắc Trung bộ Trước
Trang 34đây, Hà Tĩnh cùng với Nghệ An là một miền đất có cùng tên chung là Hoan Châu (trước thời Nhà Lý), Nghệ An châu (thời Lý, Trần), xứ Nghệ (năm 1490), đời vua Lê Thánh Tông), rồi trấn Nghệ An Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành hai tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam)
và Hà Tĩnh (nam sông Lam)
Năm 1976, Hà Tĩnh sáp nhập với Nghệ An, lấy tên là Nghệ Tĩnh Năm 1991, Quốc hội Việt Nam khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Nghệ Tĩnh, tái lập tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh trải dài từ 17°54‟ đến 18°37‟ vĩ Bắc và từ 106°30‟ đến 105°07‟ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp hai tỉnh Borikhamxay và Khammuane của Lào, phía Đông giáp Biển Đông
Hà Tĩnh nằm cách thủ đô Hà Nội 340 km về phía nam, ở phía đông dãy Trường Sơn với địa hình hẹp, dốc và nghiêng từ tây sang đông, độ dốc trung bình 1,2%, có nơi 1,8%
Xét về vị trí địa lý, Nghệ An và Hà Tĩnh nằm ở vị trí có tầm quan trọng chiến lược của cả nước về quốc phòng, an ninh, tâm điểm của vùng Trung Bộ
- Địa hình sông, núi
Nghệ An là một tỉnh có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển Phía Tây là dãy núi Bắc Trường Sơn Tỉnh có 10 huyện miền núi, trong số đó 5 huyện là miền núi cao Các huyện miền núi này tạo thành miền Tây Nghệ An Có 9 huyện trong số trên nằm trong Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Các huyện, thị còn lại là trung du và ven biển, trong đó Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, và Cửa Lò giáp biển
Nhìn chung, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối Đặc điểm địa hình trên là một trở
Trang 35ngại lớn cho việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đặc biệt là các tuyến giao thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn cho phát triển lâm nghiệp và bảo vệ đất đai khỏi bị xói mòn, gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh Tuy nhiên, hệ thống sông ngòi có độ dốc lớn, thác lớn, thác nhỏ là tiềm năng để phát triển thủy điện và điều hòa nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh
Hà Tĩnh, lãnh thổ chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam và bị chia cắt mạnh bởi các sông suối nhỏ của dãy Trường Sơn với nhiều dạng địa hình chuyển tiếp, xen kẻ lẫn nhau Sườn Đông của dãy Trường Sơn nằm ở phía tây, có độ cao trung bình 1500 mét, đỉnh Rào Cọ 2.235 mét, phía dưới là vùng đồi thấp giống bát úp, tiếp nữa là dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra biển có độ cao trung bình 5 mét và sau cùng là dãy cát ven biển bị nhiều cửa lạch chia cắt Tỉnh Hà Tĩnh được chia làm bốn loại địa hình cơ bản gồm:
Vùng núi cao nằm ở phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình dốc bị chia cắt mạnh, tạo nên thành những thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các triền sông lớn của hệ thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu và Rào Trổ
Vùng trung du và bán sơn địa là vùng chuyển từ vùng núi cao xuống vùng đồng bằng, chạy dọc phía tây nam đường Hồ Chí Minh, địa hình có dạng xen lẫn giữa các đồi trung bình và thấp với đất ruộng
Vùng đồng bằng chạy dọc hai bên Quốc lộ 1A theo chân núi Trà Sơn và dải ven biển với địa hình tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông, phù sa biển trên các vỏ phong hoá Feralit hay trầm tích biển
Vùng ven biển nằm ở phía Đông đường Quốc lộ 1A, địa hình vùng này được tạo bởi những đụn cát, ở những vùng trũng được lấp đầy bởi những trầm tích, đầm phá hay phù sa Ngoài ra, vùng này còn xuất hiện các dãy đồi núi sót chạy dọc ven biển và nhiều bãi ngập mặn được tạo ra từ nhiều cửa sông Nhìn chung địa hình của cả hai vùng Nghệ An và Hà Tĩnh vô cùng phức
Trang 36tạp, hiểm trở, chủ yếu là núi cao, sông sâu, gây khó khăn cho phát triển kinh
tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp, công nghiệp Chính vì vậy, đời sống của nhân dân hai Tỉnh này gặp rất nhiều khó khăn, nghèo nàn và lạc hậu Điều này được thể hiện rõ trong những bài ca dao nói về những khó khăn khi lên rừng, xuống biển lao động sản xuất
- Khí hậu
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt mùa hè và mùa đông Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, Tỉnh chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô và nóng Vào mùa đông, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.670 mm Nhiệt độ trung bình: 25,2 °C Số giờ nắng trong năm: 1.420 giờ Độ ẩm tương đối trung bình: 86 - 87%
Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều Ngoài ra, Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc
và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc; nên thời tiết, khí hậu rất khắc nghiệt Hàng năm, Hà Tĩnh có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa hè
Mùa hè: Từ tháng 4 đến tháng 10, đây là mùa nắng gắt, khô hạn kéo dài kèm theo nhiều đợt gió phơn Tây Nam (gió Lào) khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới hơn 40 °C, khoảng cuối tháng 7 đến tháng 10 thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớn gây ngập úng nhiều nơi, lượng mưa lớn nhất
500 mm/ngày đêm
Mùa đông: Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này chủ yếu có gió mùa Đông Bắc kéo theo gió lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 7°C Khí hậu hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đều vô cùng khắc nghiệt, mùa hè ảnh hưởng của gió Lào nắng bỏng lửa, mùa đông thì rét cắt da cắt thịt, mưa bão,
lũ lụt triền miên Sống ở miền đất khí hậu khắc nghiệt đã ảnh hưởng rất nhiều
Trang 37đến tư duy, cách sống và tính cách của người dân nơi đây Tư duy theo kiểu
bó hẹp, cục bộ sau lũy tre làng, ít thay đổi hay tự đổi mới; tính cách bộc trực, thẳng thắn, rắn rỏi đầy nội lực mạnh mẽ, có khi nóng nảy, cục cằn và cách sống hay lo xa, tiết kiệm
- Tài nguyên thiên nhiên
Nghệ An, đất đai diện tích lớn là tiềm năng để phát triển sản xuất nông, lâm, thuỷ sản trên quy mô lớn, tập trung, tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến các loại sản phẩm từ cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày Với 885.339 ha diện tích đất có rừng, rừng tự nhiên chiếm tỷ lệ lớn với diện tích 732.741 ha, rừng trồng chiếm 152.867 ha, độ che phủ đạt gần 54% Rừng Nghệ An mang nhiều nét điển hình của thảm thực vật rừng Việt Nam Theo thống kê có đến 153 họ, 522 chi và 986 loài cây thân gỗ, chưa kể đến loại thân thảo, thân leo và hạ đẳng Trong đó có 23 loài thân gỗ và 6 loài thân thảo được ghi vào sách đỏ Việt Nam Rừng tập trung ở các vùng đồi núi với hai kiểu rừng phổ biến là rừng kín thường xanh, phân bố ở độ cao dưới 700m
và rừng kín hỗn giao cây lá kim, phân bố ở độ cao lớn hơn 700m
Hà Tĩnh hiện có 276.003 ha rừng, gồm 199.847 ha rừng tự nhiên và 76.156 ha rừng trồng, với độ che phủ của rừng đạt 45 % Rừng tự nhiên thường gặp là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới Rừng trồng phần lớn là thông nhựa Hà Tĩnh có thảm thực vật rừng đa dạng với hơn 86 họ và 500 loài cây gỗ, gồm nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác
Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km với nhiều cửa sông lớn với khoảng 267 loài cá, thuộc 90 họ, trong đó có 60 loài có giá trị kinh tế cao, 20 loài tôm, nhuyễn thể như sò, mực, Về khoáng sản, tỉnh có trữ lượng khoáng sản nằm rải rác ở hầu khắp các huyện gồm than đá, sắt, thiếc, phosphorit, than
Trang 38bùn, kaolin, cát thuỷ tinh, thạch anh
Hà Tĩnh có nhiều sông nhỏ chảy qua, con sông lớn nhất là sông
La và sông Lam, ngoài ra có con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Ngàn Trươi, Rào Cái Tổng chiều dài các con sông khoảng 400 km, tổng sức chứa 13 tỷ m³ còn hồ Kẻ Gỗ, hồ Sông Rác, hồ Cửa Thờ Trại Tiểu, Đập Đồng Quốc Cổ Đạm ước 600 triệu m³
Tài nguyên thiên nhiên cả hai vùng nhìn chung đa dạng, phong phú, có nhiều sản vật quý hiếm Tuy nhiên do địa hình hiểm trở, núi cao, sông sâu, giao thông đi lại khó khăn nên người dân không thể nào khai thác hết được những thế mạnh này Cuộc sống vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngư nghiệp
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Về điều kiện kinh tế
Nghệ An là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ, giáp tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh ở phía Nam, nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở phía Tây với 419 km đường biên giới, bờ biển ở phía Đông dài 82 km
Vị trí này tạo cho Nghệ An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế,
xã hội Bắc - Nam, xây dựng và phát triển kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế Bên cạnh đó, Nghệ An nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền My-an-ma, Thái Lan, Lào, Việt Nam Biển Đông nằm trên tuyến du lịch quốc gia và quốc tế Với vị trí chiến lược như vậy, Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hóa với các cả nước và các nước trong khu vực, nhất là các nước Lào, Thái Lan, Trung Quốc
Kinh tế Hà Tĩnh chủ yếu dựa vào nông, lâm, ngư nghiệp và thủ công nghiệp Phần lớn diện tích đất canh tác là trồng lúa, còn lại chủ yếu là cây công nghiệp thương phẩm và hoa màu Ngành trồng cây ăn quả đang được
Trang 39đầu tư, ngoài ra còn có trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm tỉ trọng thấp Diện tích rừng (đặc biệt là rừng tự nhiên) có diện tích lớn đang là động lực phát triển mạnh ngành lâm nghiệp Các sản phẩm lâm nghiệp có giá trị là các loại gỗ, lâm sản quý, dược liệu, Tuy nhiên, lâm nghiệp phát triển thiếu bền vững do nạn phá rừng, canh tác và sản xuất lạc hậu Ngành nuôi trồng thủy, hải sản đang được đầu tư phát triển nâng cao giá trị Tỉnh còn có các cảng nước sâu và cửa biển giúp phát triển mạnh ngư nghiệp
Nền công nghiệp chiếm tỉ trọng không lớn nhưng đang phát triển mạnh Công nghiệp tập trung ở các ngành chế biến nông, lâm, thủy, hải sản, khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, luyện kim, điện lực, cơ khí Các ngành công nghiệp chế biến thường phân bố rải rác, quy mô không lớn Các con sông ở Hà Tĩnh hiện đang phát triển và vận hành các nhà máy thủy điện nhỏ và vừa Ngành dịch vụ chưa phát triển mạnh Ngành này của tỉnh tập trung chủ yếu vào phát triển du lịch nhờ các danh lam thắng cảnh, di tích lịch
sử, đặc biệt là du lịch biển
Hà Tĩnh có Khu kinh tế Vũng Áng được xem là khu kinh tế ven biển trọng điểm quốc gia, với sản phẩm công nghiệp chủ lực là thép (22,5 triệu tấn), nhiệt điện (7000 MW) và dịch vụ cảng nước sâu với 59 cầu cảng cho tàu
từ 5 vạn đến 30 vạn tấn cập bến
Xét về điều kiện kinh tế, nhìn chung cả hai vùng Nghệ An và Hà Tĩnh chủ yếu vẫn dựa vào nông, lâm, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Chính vì vậy tốc độ phát triển kinh tế chậm, đời sống của bà con hai Tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn Điều này đã ảnh hưởng lớn đến tư duy, quan niệm của người dân xứ Nghệ trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, trong lao động sản xuất, trong đời sống tâm tư tình cảm Lối tư duy cục bộ nông nghiệp chậm chạp, ít đổi mới, chủ yếu dựa vào trời, phụ thuộc tự nhiên, thụ động trong đấu tranh đòi quyền lợi, chậm đổi mới phương thức sản xuất
Trang 40- Điều kiện xã hội
Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An
và Hà Tĩnh) từ thời Nhà Hậu Lê Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng - sông Lam Hai tỉnh này có cùng phương ngữ - tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng ca câu hò ví dặm, cùng uống chung dòng nước sông Lam
Ngày 27/11, trong kỳ họp lần thứ 9 Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể diễn ra tại Pháp, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc đã chính thức công nhận dân ca
ví, dặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Điều kiện xã hội cả hai vùng còn nhiều mặt hạn chế Do kinh tế chậm phát triển, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn nên điều kiện về an sinh, xã hội còn nghèo nàn, tồn tại nhiều hủ tục xưa chưa được xóa bỏ Tình trạng mất công bằng, dân chủ còn khá phổ biến Điều này được bộc bạch rất thẳng thắn trong ca dao, tục ngữ
1.3.3 Tiền đề văn hóa, tư tưởng
Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An và
Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi
là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng - sông Lam Hai tỉnh này có cùng phương ngữ - tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng
ca câu hò ví dặm, cùng uống chung dòng nước sông Lam
Nghệ An là một vùng đất có lịch sử định cư lâu đời Các di chỉ thuộc Văn hóa Quỳnh Văn thuộc thời kỳ đồ đá mới được phát hiện tại Quỳnh Lưu vào những năm 1930 cho thấy khu vực này đã được định cư bởi nhóm cư dân ven biển biết làm đồ gốm, thuần dưỡng súc vật cách đây khoảng 6000 năm Nghệ An có truyền thống hiếu học, có nhiều dòng họ, nhiều làng học nổi