Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh SXHD nhưng vẫn chưa tìm ra được thuốc điều trị đặc hiệu, nghiên cứu tìm ta vắc xin phòng bệnh vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm. Trong nỗ lực đẩy lùi dịch bệnh của ngành y tế, các biện pháp điều trị bệnh nhân sốt xuất huyết cũng như phun hóa chất diệt muỗi trưởng thành chỉ là giải pháp tình thế do đó hoạt động diệt véc tơ đặc biệt là bọ gậy với sự tham gia tích cực của từng hộ gia đình và cả cộng đồng được coi là giải pháp bền vững và tiềm năng trong phòng chống sốt xuất huyết 16,17. Để đánh giá, dự báo tình hình sốt xuất huyết; các nhà khoa học đã khuyến cáo địa phương phải thực hiện công tác giám sát bọ gậy muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus truyền bệnh bằng quy trình cụ thể để xác định chỉ số có liên quan, trong các chỉ số điều tra, quan trọng nhất là chỉ số BI (Breteau index) cần được ghi nhận 14. Trong quá trình tiến hành công tác phòng chống sốt xuất huyết, việc giám sát bọ gậy muỗi truyền bệnh đã được địa phương chủ động thực hiện thường xuyên mỗi tháng một lần, CBYT xã tiến hành điều tra bắt bọ gậy muỗi bằng cách quan sát, thu thập, ghi nhận và định loại bọ gậy muỗi ở toàn bộ dụng cụ chứa nước trong nhà và chung quanh nhà. CBYT xã được tập huấn hằng năm để đảm bảo được công tác chuyên môn, số liệu bọ gậy có tầm quan trọng trong việc dự báo dịch và xây dựng kế hoạch phù hợp cho việc phòng chống dịch SXH và phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người, để công tác giám sát bọ gậy đạt hiệu quả chúng ta cần phải biết được kiến thức, thực hành về giám sát bọ gậy của cán bộ Y tế xã như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành về giám sát bọ gậy của cán bộ tuyến xã?
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ THƯƠNG DIỄM
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ XÃ VỀ GIÁM SÁT BỌ GẬY VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI HUYỆN BẢO LÂM,
TỈNH LÂM ĐỒNG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
HÀ NỘI,2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CÔNG
NGUYỄN THỊ THƯƠNG DIỄM
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ XÃ VỀ GIÁM SÁT BỌ GẬY VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI HUYỆN BẢO LÂM,
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thúy Quỳnh - Trường Đại học Y tế công cộng là người đã quan tâm, giúp đỡ
và hướng dẫn cho tôi những kinh nghiệm trong công tác và học tập Đồng thời cũng
đã cho tôi những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo, các cán bộ Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Nhà Khoa học trong Hội đồng thông qua đề cương và chấm luận văn đã cho những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Y tế huyện Bảo Lâm, Trạm Y tế 14 xã/ thị trấn thuộc huyện Bảo Lâm đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Cao học 19 Tây Nguyên, cơ quan, đồng nghiệp luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè thân thiết đã động viên, chia sẻ những khó khăn và giành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, với những phát hiện trong nghiên cứu, tôi xin chia sẻ với các đồng nghiệp, đặc biệt là những người đang công tác trong lĩnh vực dự phòng, phòng chống bệnh sốt xuất huyết.
Trang 4MỤC LỤC CHƯƠNG 1 4 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm liên quan 4
1.2 Dịch tễ học sốt xuất huyết dengue: 4
1.2.1 Sơ lược lịch sử sốt xuất huyết dengue 4
1.2.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái muỗi aedes aegypti 5
1.2.3 Phân bố muỗi aedes aegypti và aedes albopictus 7
1.2.4 Nơi sống của bọ gậy (BG) muỗi 8
1.3 Phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue 9
1.3.1 Vacxin phòng bệnh 9
1.3.2 Giám sát véc tơ 9
1.4 Tình hình bệnh SXH trên thế giới và Việt Nam 12
1.4.1 Tình hình dịch sốt xuất huyết trên thế giới 12
1.4.2 Tình hình sốt xuất huyết tại Việt Nam 13
1.4.3 Tình hình mắc SXH tại tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 1994 - 2016 15
1.4.4 Tình hình mắc SXH tại tỉnh Lâm Đồng năm 2016 15
1.5 Sơ lượt về địa bàn nghiên cứu 17
1.5.1 Thông tin chung 17
1.5.2 Thông tin liên quan về bệnh sốt xuất huyết 18
1.6 Hoạt động diệt bọ gậy tại địa phương 19
1.6.1 Công tác tổ chức 19
1.6.2 các biện pháp giảm nguồn sinh sản của bọ gậy 19
1.6.3 Tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng 20
1.6.4 Huy động cộng đồng 20
1.7 Những tồn tại và thách thức trong PCSXH hiện nay ở Lâm Đồng 21
1.8 Một số nghiên cứu về giám sát véc tơ có liên quan 23
1.8.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 23
1.8.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 24
1.9 Khung lý thuyết 28 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
Trang 52.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.1 Nghiên cứu định lượng 29
2.1.2 Nghiên cứu định tính 29
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 29
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 29
2.3 Thiết kế nghiên cứu 29
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 29
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng 29
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính 30
2.4.3 Chọn mẫu 30
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 30
2.5.2 Tổ chức thu thập số liệu: 31
2.6 Các biến số trong nghiên cứu (phụ lục 9) 33
2.7 Khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá: 33
2.7.1 Các khái niệm 33
2.7.2 Đánh giá về kiến thức về công tác giám sát bọ gậy của CBYT tuyến xã 34
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 35
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35
2.10 Hạn chế trong nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 37 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 37
3.2 Công tác tập huấn, giám sát và các công tác khác của chương trình phòng chống sốt xuất huyết 39
3.3 Thực hành của cán bộ y tế tuyến xã về công tác giám sát bọ gậy 43
3.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức giám sát bọ gậy của CBYT tuyến xã .45 3.5 Một số yếu tố liên quan đến thực hành giám sát bọ gậy của cán bộ y tế tuyến xã 47
CHƯƠNG 4 50 BÀN LUẬN 50 4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 50
Trang 64.2 Điều kiện làm việc của cán bộ Y tế tuyến xã 51
4.3 Kiến thức về điều tra bọ gậy của cán bộ y tế tuyến xã 52
4.4 Thực hành về điều tra bọ gậy của cán bộ y tế tuyến xã 54
4.5 Hạn chế của nghiên cứu 59
KẾT LUẬN 60 KHUYẾN NGHỊ 62
GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 67
PHỤ LỤC 69
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Vòng đời muỗi 5 Hình 2: Cấu tạo của bọ gậy 6
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Số mắc, tử vong do SXH trên toàn quốc các năm từ 1980 đến 2015 14
Biểu đồ 2: Số ca bệnh tỉnh Lâm Đồng từ năm 1994 đến năm 2016 15
Biểu đồ 3: Số ca bệnh tỉnh Lâm Đồng năm 2016 16
Biểu đồ 4:Chỉ số BI, DI trung bình năm 2016 của tỉnh Lâm Đồng 16
Biểu đồ 5: Chỉ số BI trung bình năm 2016 của huyện Bảo Lâm 17
Biểu đồ 6 : Biểu đồ dự báo dịch tỉnh Lâm Đồng năm 2016 17
Biểu đồ 7: Nhận biết DCCN ở trong nhà hay có bọ gậy của CBYT 40
Biểu đồ 8: Nhận biết DCCN ở ngoài nhà hay có bọ gậy của CBYT 41
Biểu đồ 9: Tổng hợp kiến thức chung về giám sát bọ gậy của CBYT tuyến xã 43
Biểu đồ 10: Thực hành chung về giám sát bọ gậy của CBYT tuyến xã 45
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 37
Bảng3.2 Điều kiện làm việc của nhân viên y tế tuyến xã với chương trình phòng chống sốt xuất huyết 38
Bảng 3.3 Trang thiết bị, sự quan tâm của lãnh đạo 38
Bảng 3.4 Công tác tập huấn của chương trình phòng chống sôt xuất huyết 39
Bảng 3.5 Công tác kiểm tra, giám sát của chương trình phòng chống sốt xuất huyết 39 Bảng 3.6 Công tác khác của CT.PCSXH 39
Bảng 3.7 Kiến thức về sinh học, sinh thái muỗi 40
Bảng 3.8 Kiến thức về thời điểm và dụng cụ khi điều tra bọ gậy của cán bộ y tế 41
Bảng 3.9 Kiến thức về biểu mẫu điều tra bọ gậy của cán bộ y tế 42
Bảng 3.10 Kiến thức về cách tính các chỉ số BI, HI, CI của cán bộ y tế xã 42
Bảng 3.11 Thực hành về giám sát bọ gậy của cán bộ y tế 43
Bảng 3.12 Thực hành về tìm kiếm bọ gậy của cán bộ y tế 44
Bảng 3.13 Thực hành ghi chép thông tin khi điều tra bọ gậy của CBYT 44
Bảng 3.14 Thực hành về tính các chỉ số (BI,HI,CI) của cán bộ Y tế 44
Bảng 3.15 Đánh giá thực hành về báo cáo kết quả điều tra bọ gậy 45
Bảng 3.16 Liên quan giữa nhân khẩu học với kiến thức về giám sát bọ gậy của cán bộ y tế 45
Bảng 3.17 Liên quan giữa sự quan tâm của lãnh đạo, công tác tập huấn với kiến thức về giám sát bọ gậy của cán bộ y tế 46
Bảng 3.18 Liên quan giữa xã có dự báo dịch với kiến thức về giám sát bọ gậy cảu cán bộ y tế 46
Bảng 3.19 Liên quan giữa kiểm tra thường quy công tác điều tra bọ gậy của tuyến trên (tuyến huyện) với kiến thức về giám sát bọ gậy của cán bộ y tế 47
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nhân khẩu học, sự quan tâm của lãnh đạo, Cán bộ phụ trách chương trình SXH với thực hành giám sát bọ gậy của cán bộ y tế 47
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa các hoạt động của chương trình phòng chống sốt xuất huyết với thực hành về giám sát bọ gậy 48
Bảng 3.22 Liên quan giữa hoạt động kiểm tra với công tác điều tra bọ gậy của tuyến trên với thực hành về giám sát bọ gậy của cán bộ y tế 48
Trang 10Bảng 3.23 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về giám sát bọ gậy của cán bộ y
tế tuyến xã 49
Trang 11SXHD: Sốt xuất huyết Dengue
TTYTDP: Trung tâm Y tế dự phòng
TTYT: Trung tâm Y tế
PLVR: Phân lập vi rút
ULV:Ultra Low Volume ( Phun không gian, phun sương)WHO: Word Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 12TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính do muỗi vằntruyền Tại Việt Nam SXHD được xem như bệnh lưu hành địa phương, nhất là các tỉnhđồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và các vùng ven biển miền Trung [17]
Năm 2016 toàn tỉnh có 1.792 ca tăng gấp 11 lần so với năm 2015 (165/1.792ca)[8] Huyện Bảo Lâm có số ca mắc là 221ca chiếm 12.3% so với toàn tỉnh( 221/1.792 ca) [8] Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh SXHD nhưng vẫn chưatìm ra được thuốc điều trị đặc hiệu, nghiên cứu tìm ta vắc xin phòng bệnh vẫn đangtrong giai đoạn thử nghiệm Để đánh giá, dự báo tình hình sốt xuất huyết việc thực
hiện công tác giám sát bọ gậy muỗi Aedes aegypti truyền bệnh bằng quy trình cụ thể
để xác định chỉ số có liên quan, trong các chỉ số điều tra, quan trọng nhất là chỉ sốBreteau index (BI) cần được ghi nhận [14] Sử dụng nghiên cứu cắt ngang có phântích, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Nghiên cứu phỏng vấn,đánh giá thực hành về giám sát bọ gậy toàn bộ 96 cán bộ tại 14 xã/ thị trấn, huyện BảoLâm, tỉnh Lâm Đồng và phỏng vấn sâu 6 cán bộ chủ chốt nhằm đánh giá kiến thức,thực hành của cán bộ y tế xã về giám sát bọ gậy và các yếu tố liên quan năm 2017
Thông tin về một số đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện làm việc, các công tácgíam sát hỗ trợ của tuyến trên, kiến thức về giám sát bọ gậy, thực hành về về giám sát
bọ gậy của CBYT được thu thập và phân tích
Trong 96 CBYT tham gia, kết quả nghiên cứu cho thấy CBYT nữ 56,3% vàcán bộ trên 35 tuổi cao nhất (62,5%), cán bộ có thời gian công tác >16 năm là caonhất (46,9%), cán bộ kiêm nhiệm trên 2 chương trình cao (83,3%), cán bộ làm trựctiếp chương phòng chống sốt xuất chỉ có 35,4% và 80,2% CBYT cho rằng được sựquan tâm của lãnh đạo và 96,9% được sự quan tâm của chính quyền Có 59,4 %ĐTNC có kiến thức đạt về công tác giám sát bọ gậy; 43,7% ĐTNC có thực hành đúng
về công tác giám sát bọ gậy Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa : Giới tính, sựquan tâm của lãnh đạo, tập huấn, xã nằm trong vùng dự báo dịch và công tác kiểm trathường quy, công việc chính mà CBYT đảm nhiệm với kiến thức và thực hành vềcông tác điều tra bọ gậy của CBYT Trên cơ sở đó cho thấy CBYT phải thường xuyêncập nhật kiến thức về điều tra bọ gậy, thực hiện tốt các kỹ năng điều tra bọ gậy tạicộng đồng Chính quyền tiếp tục hỗ trợ nguồn lực cho địa phương nhất là những nơi
có ca bệnh tăng cao nhằm hạn chế tối đa ca bệnh sốt huyết trên địa bàn
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính do muỗi vằntruyền Bệnh thường gặp ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhiều ở khu vực đô thị
và bán đô thị Muỗi Aedes aegypti là véc tơ chính, Aedes albopictus là véc tơ phụ
truyền bệnh Sốt xuất huyết Dengue ( SXHD) cho người Đây là bệnh lan truyền vớitốc độ rất nhanh, ước tính số ca bệnh tăng lên hơn 30 lần trên toàn cầu trong 50 nămqua.Thực tế có hơn 2,5 tỷ người – khoảng hơn 30% dân số thế giới và hơn 100 quốcgia phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh SXHD Mỗi năm ước tính trên toàn thế giới cókhoảng 390 triệu ca nhiễm vi-rút dengue, trong số này có khoảng 500.000 ca phát triểnthành thể nặng và ước tính có trên 25.000 ca tử vong mỗi năm trên toàn thế giới [15].Chi phí trung bình cho một ca điều trị SXHD tại bệnh viện từ 514 – 1.394 USD, tạiViệt Nam SXHD được xem như bệnh lưu hành địa phương, nhất là các tỉnh đồng bằngsông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ và các vùng ven biển miền Trung [17]
Theo thống kê tròn số, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2016 cả nước ghi nhận gần50.000 ca mắc sốt xuất huyết ở gần 50 tỉnh/thành phố, trong đó có gần 20 trường hợp
tử vong Và SXHD là một trong 10 bệnh truyền nhiễm có số mắc và chết cao nhấttrong 28 bệnh truyền nhiễm gây dịch [18],[20]
Hiện nay dịch bệnh sốt xuất huyết vẫn đang hoành hành và lan rộng, nếu khôngkiềm chế kịp thời thì số mắc và tử vong sốt xuất huyết sẽ còn tiếp tục tăng cao hơn nữa[6]
Từ đầu năm 2016 đến nay toàn tỉnh có 1.792 ca tăng gấp 11 lần so với cùng kìnăm 2015 (165/1.792 ca) Huyện Bảo Lâm có số ca mắc là 221ca chiếm 12.3% so vớitoàn tỉnh ( 221/1.792 ca), có SXH nặng chiếm 57% với 4 typ virut lưu hành trên địabàn, mật độ côn trùng đứng thứ 3 trong toàn tỉnh [8]
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh SXHD nhưng vẫn chưa tìm ra đượcthuốc điều trị đặc hiệu, nghiên cứu tìm ta vắc xin phòng bệnh vẫn đang trong giai đoạnthử nghiệm Trong nỗ lực đẩy lùi dịch bệnh của ngành y tế, các biện pháp điều trị bệnhnhân sốt xuất huyết cũng như phun hóa chất diệt muỗi trưởng thành chỉ là giải pháptình thế do đó hoạt động diệt véc tơ đặc biệt là bọ gậy với sự tham gia tích cực củatừng hộ gia đình và cả cộng đồng được coi là giải pháp bền vững và tiềm năng trongphòng chống sốt xuất huyết [16],[17] Để đánh giá, dự báo tình hình sốt xuất huyết;các nhà khoa học đã khuyến cáo địa phương phải thực hiện công tác giám sát bọ gậy
Trang 14muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus truyền bệnh bằng quy trình cụ thể để xác định
chỉ số có liên quan, trong các chỉ số điều tra, quan trọng nhất là chỉ số BI (Breteauindex) cần được ghi nhận [14] Trong quá trình tiến hành công tác phòng chống sốtxuất huyết, việc giám sát bọ gậy muỗi truyền bệnh đã được địa phương chủ động thựchiện thường xuyên mỗi tháng một lần, CBYT xã tiến hành điều tra bắt bọ gậy muỗibằng cách quan sát, thu thập, ghi nhận và định loại bọ gậy muỗi ở toàn bộ dụng cụchứa nước trong nhà và chung quanh nhà CBYT xã được tập huấn hằng năm để đảmbảo được công tác chuyên môn, số liệu bọ gậy có tầm quan trọng trong việc dự báodịch và xây dựng kế hoạch phù hợp cho việc phòng chống dịch SXH và phụ thuộc rấtnhiều vào yếu tố con người, để công tác giám sát bọ gậy đạt hiệu quả chúng ta cầnphải biết được kiến thức, thực hành về giám sát bọ gậy của cán bộ Y tế xã như thếnào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành về giám sát bọ gậy củacán bộ tuyến xã? Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “ Đánh giá kiếnthức, thực hành của cán bộ y tế xã về giám sát bọ gậy và các yếu tố liên quan tại huyệnBảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng năm 2017” với mong muốn tìm hiểu được thực trạng và đưa
ra những khuyến nghị phù hợp cho việc giám sát bọ gậy tại tuyến xã /phường trongcông tác phòng bệnh sốt xuất huyết tại địa phương
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá kiến thức, thực hành giám sát bọ gậy của cán bộ y tế tuyến xã tạihuyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng năm 2017
2 Phân tích những yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về giám sát bọ
gậy của cán bộ tuyến xã tại huyện Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng năm 2017
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm liên quan
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm trùng cấp tính, gây dịch do vi rútDengue gây nên, bệnh lan truyền chủ yếu do muỗi Ae aegypti
Ổ dịch sốt xuất huyết: Một nơi (tổ, khu phố/xóm/ấp) được xác định là ổ dịchSXHD khi có từ 2 ca lâm sàng xảy ra trong vòng 7 ngày hoặc một ca bệnh SXHDđược chẩn đoán xác định phòng xét nghiệm, đồng thời phát hiện có bọ gậy hoặc muỗitruyền bệnh trong phạm vi bán kính 200 mét [21]
Trực tiếp làm công tác PC.SXH là những cán bộ có quyết định đảm nhiệm côngtác PC.SXH do cơ quan có thẩm quyền kí
Không Trực tiếp làm công tác PC.SXH là những cán bộ tham gia phối hợpcông tác PC.SXH khi có yêu cầu
1.2 Dịch tễ học sốt xuất huyết dengue:
1.2.1 Sơ lược lịch sử sốt xuất huyết dengue
Bệnh sốt Dengue được Spaniards mô tả lần đầu tiên vào năm 1764 Căn nguyêngây bệnh là các virut Dengue do Ashburn và Graig phát hiện năm 1907 Năm 1953một vụ dịch sốt xuất huyết Dengue xảy ra ở Philippin Năm 1958 một vụ dịch tương tựxảy ra ở Thái lan, căn nguyên gây bệnh là các virut Dengue đã được xác định Do dịchngày càng lan rộng ra các nước Đông Nam á, như Việt Nam năm 1958- 1960,Singapo, Lào, Cămpuchia … và các nước Tây Thái Bình Dương trong những năm sau,
tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1964 đã thống nhất tên gọi của bệnh là sốt xuất huyếtDengue[7],[37],[39]
Cho đến nay hầu hết các nước trên thế giới đều có thể có bệnh nhân sốt xuấthuyết Dengue Nhiều công trình nghiên cứu về bệnh này đã được tiến hành Tuy nhiênvẫn còn nhiều vấn đề như co chế bệnh sinh của bệnh, điều trị những thể bệnh nặng vàphòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ [7],[34]
Trang 171.2.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái muỗi aedes aegypti
1.2.2.1 Vòng đời
Giống như các loài muỗi khác, chu kỳ phát triển của Aedes aegypti gồm 4 giai
đoạn: Trứng, bọ gậy, nhộng và muỗi trưởng thành, trong đó chỉ có giai đoạn trưởngthành liên quan trực tiếp đến truyền bệnh (xem hình 1) Để phòng chống bệnh SXHD
có hiệu quả cũng như các bệnh khác do muỗi Aedes aegypti truyền, những hiểu biết về
các đặc điểm sinh học cơ bản, sinh thái và nhận diện của loài muỗi này đóng vai tròquan trọng [32]
Hình 1: Vòng đời muỗi 1.2.2.2 Trứng:
6 - 7 ngày sau khi nở hay 3 – 4 ngày sau khi hút máu, muỗi đẻ trứng ở bề mặt
ẩm của đồ vật chứa nước (sát ngay gần mặt nước) Aedes aegypti và Aedes albopictus
ưa thích đẻ trứng vào nơi có nền tối như màu đỏ, màu đen hơn là các màu sáng Trứngmuỗi có màu đen, sắp xếp riêng rẽ từng quả một và dính vào thành lu vại hoặc chìmxuống đáy nước, nên mỗi lần thay nước trong lu vại phải chú ý cọ rửa sạch sẽ quanhthành vại, đỗ hết cặn ở lu vại để diệt bọ gậy Mỗi lần muỗi đẻ từ 10 – 100 trứng vàđược lặp lại sau 4 đến 5 ngày Cả đời muỗi có thể đẻ 300 – 750 trứng [19]
Trứng Aedes aegypti có sức chịu đựng cao đối với khô hạn, 67% ấu trùng có thể
nở ra từ trứng để trong điều kiện khô hạn 3 tháng (Finlay và Reed, 1960) Trứng cóphôi phát triển hoàn thiện trong vòng 48h trong điều kiện môi trường ấm và ẩm thì cóthể sống sót trong điều kiện khô hạn khoảng 1 năm Trứng sẽ nở sau ít phút khi bịngập nước tự nhiên (do mưa) hoặc nhân tạo (do người đổ nước vào để dự trữ) vàkhông phải tất cả các trứng sẽ nở ở lần ngập nước đầu tiên, một số chỉ nở sau vài lần bị
Trang 18ngập nước Cùng với khả năng chịu hạn, trứng có thể sống sót ở các nhiệt độ mà cácgiai đoạn phát triển khác không chịu đựng được Một số nghiên cứu cho thấy trứng cóthể sống sót 5phút ở 490C, 25h ở -110C và 1h ở -170C Tuy nhiên, khả năng nở còn phụthuộc vào các yếu tố như: Sự khô hạn đột ngột, hàm lượng oxy trong nước, sự thay đổinhiệt độ đột ngột của nước, các chủng muỗi có nguồn gốc khác nhau… chính sức chịuđựng khô hạn của trứng cũng như đặc tính nở của trứng có liên quan rất nhiều đến việc
đề xuất các biện pháp phòng chống Aedes aegypti [1],[19].
1.2.2.3 Bọ gậy (ấu trùng):
Ấu trùng muỗi có 4 giai đoạn hình dạng giống nhau, chỉ khác về kích thước Ấutrùng được chia làm 3 phần rõ rệt: đầu, ngực và bụng (xem hình 2)
Hình 2: Cấu tạo của bọ gậy
Toàn thân bên ngoài được bao phủ bởi một tầng kytin không thấm nước, trênthân có nhiều lông và gai có chức năng cảm giác, vận động, giữ tư thế cân bằng và giữcho bọ gậy bám Đầu bọ gậy hình cầu, hơi dẹt, trên đầu có những lông tơ khác nhautùy theo từng loài Phần ngực của bọ gậy gồm ba đốt nhưng không phân chia rõ, bụng
có 9 đốt, những đốt gần ngực thì lớn, những đốt cách xa ngực càng nhỏ, đốt thứ 8 và
thứ 9 tạo thành một phức hợp đốt chứa ống thở (Culicinae) và mái chèo Bọ gậy phát
triển phụ thuộc vào các yếu tố môi trường khác nhau, nhiệt độ của nước, lượng thức
ăn, mật độ quần thể… nhiệt độ từ 25-300C khoảng thời gian phát triển là 5-7 ngày,nhiệt độ của nước 5-90C BG chỉ sống được 1 thời gian ngắn BG chủ yếu sống trong
nước sạch Bọ gậy của muỗi Aedes aegypti ưa nước có độ pH hơi a xít, nhất là nước
mưa, rồi đến nước máy, nước giếng Bọ gậy rất nhạy cảm với tiếng động và ánh sáng,
Trang 19chúng có thể lặn sâu xuống đáy vật chứa nước khi mặt nước bị khuấy động hoặc chỉcần 1 bóng râm lướt qua [12],[19].
1.2.2.4 Nhộng (Quăng)
Nhộng có hình dạng dấu hỏi, ở phía đầu có 2 ống thở, phần bụng gồm 9 đốt trênmột số đốt có lông, hình thể nhộng phức tạp nên ít được dùng để định loại Giai đoạnnhộng kéo dài từ 1-5 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ của nước Ở nhiệt độ 27-320C conđực cần trung bình 1,9 ngày, con cái cần 2,5 ngày Khả năng chịu đựng của nhộng khácao, chúng có thể sống sót 5phút ở 470C và 82-100% nhộng sống sót ở 4,50C trong24h Sau khi nở, muỗi trưởng thành đậu nghỉ trên xác nhộng và mặt nước khoảng 1h
để cho cánh giãn nở và bộ khung ngoài cứng cáp [12],[19]
1.2.3 Phân bố muỗi aedes aegypti và aedes albopictus
Ở Việt Nam, muỗi Aedes aegypti phát triển, sinh sản quanh năm, mạnh nhất
vào các tháng nóng, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 11) [3],[22]
Ở các tỉnh phía Nam, Aedes aegypti phân bố rộng khắp các tỉnh, các vùng từ một số nơi thuộc các huyện miền núi cao và tỉnh Lâm Đồng có thể gặp Aedes aegypti ở mọi nơi,
đặc biệt là những thành phố, thị xã đông dân, các vùng đồng bằng ven biển, nơi thiếu nướcngọt người dân phải dùng nhiều vật chứa nước dự trữ suốt mùa khô [3]
Theo kết quả nuôi bọ gậy bắt từ các dụng cụ chứa nước ngoài nhà ở các tỉnhmiền Đông nam bộ cho thấy ở tất cả 6 tỉnh này (Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai,
Tây Ninh, Bà Rịa Vũng Tàu, Lâm Đồng) đều có sự hiện diện của loài Aedes
albopictus Đặc biệt ở Bình Phước, Aedes albopictus chiếm tỷ lệ 94.82% các bọ gậy
thu được ở ngoài nhà [10]
Trang 201.2.4 Nơi sống của bọ gậy (BG) muỗi
Cả hai loài muỗi đều đẻ trứng ở các dụng cụ chứa nước trong và xung quanhnhà và có mối liên hệ mật thiết với nơi ở của con người
Aedes aegypti đẻ trứng trong các dụng cụ chứa nước (DCCN) ở trong và xung
quanh nhà, Aedes albppictus đẻ trứng ở những DCCN xung quanh nhà và ngoài vườn
(Cheong, 1967) Có khoảng 17 loại DCCN khác nhau có thể là nơi đẻ trứng của Aedes
aegypti, trong đó lu (bình cảnh) chiếm tỷ lệ cao nhất (23%), tiếp theo là khạp (vại
sành) (21,3%), phuy (12,5%) và chân chén (11,2%) Muỗi đẻ trứng ở những nơi nướcsạch chứa trong lu vại, bể, các mảnh chai lọ, bát vở, lốp ô tô cũ, võ dừa, máng chứanước mưa ứ đọng lâu ngày, ở trong nhà và quanh nhà những nơi râm mát [11]
Các ổ chứa bọ gậy thông thường là:
Ổ chứa thiên nhiên: Hốc cây, thân tre, vỏ ốc, kẽ bẹ lá (thơm, chuối, khóm,môn…) ít khi gặp trên hốc đá
Ổ chứa nhân tạo: Lu, hồ, vật chứa, chai lọ, chén bát bể, vỏ xe vứt bừa bãi ngoàivườn, máng xối, lọ hoa trong nhà, hòn non bộ, ghe xuồng, thùng xe
Tóm lại, các ổ chứa rất đa dạng, do con người tạo ra trong và quanh nhà, luônluôn có mặt và chứa nước không nhất thiết phải nhiều và không bẩn, thường là những
ổ muỗi tồn tại trong mùa khô Qua nhiều năm nghiên cứu tại các tỉnh đồng bằng sôngCửu Long, các kết quả cho thấy ổ chứa bọ gậy hay bị bỏ sót chủ yếu là lu, vại, hồ
những vật chứa nước do con người tạo ra Rất ít gặp bọ gậy Aedes aegypti ở các loại ổ chứa khác [19].
Ổ bọ gậy (BG) chủ yếu của Aedes
ở trong nhà :
Lu khạp chứa nước
Chân chén, chậu kiểng
Hồ chứa nước trong buồng tắm
Phuy chứa nước
Dụng cụ chứa nước bằng nhựa
Trang 211.3 Phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.3.1 Vacxin phòng bệnh
Ngoài việc chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, đến thời điểm hiện tại, bệnh sốt xuấthuyết Dengue đã có vắc xin đang được dùng thử nghiệm tại một số nước (Brazil,Philipin,…), nhưng chưa được triển khai Vì vậy diệt véc tơ, đặc biệt là diệt bọ gậy với
sự tham gia tích cực của từng hộ gia đình và của cả cộng đồng là biện pháp hiệu quảtrong phòng chống SXHD [21]
1.3.2 Giám sát véc tơ
Giám sát véc tơ nhằm xác định nguồn sinh sản chủ yếu của muỗi truyền bệnh,
sự biến động của véc tơ, tính nhạy cảm của véc tơ với hóa chất diệt côn trùng và đánhgiá hoạt động phòng chống véc tơ tại cộng đồng [21]
1.3.2.1 Giám sát bọ gậy
Giám sát thường xuyên: 1 tháng/ 1 lần cùng với giám sát muỗi trưởng thành.
Sau khi bắt muỗi, tiến hành điều tra bọ gậy bằng quan sát, ghi nhận ở toàn bộ dụng cụchứa nước trong và quanh nhà
Có 4 chỉ số được sử dụng để theo dõi bọ gậy của muỗi Ae aegypti và Ae.albopictus:
*Chỉ số nhà có bọ gậy (CSNCBG) là tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy Aedes
Số nhà có bọ gậy Aedes
CSNCBG(%) = x 100
Số nhà điều tra
* Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (CSDCBG) là tỷ lệ phần trăm dụng cụ chứa
nước có bọ gậy Aedes(CI)
Số DCCN có bọ gậy Aedes
CSDCBG(%) = x 100
Số DCCN điều tra
Trang 22* Chỉ số Breteau (BI) là số dụng cụ chứa nước có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra.
Tối tiểu điều tra 30 nhà
Trang 23Động vật ăn bọ gậy
Cá ăn bọ gậy được áp dụng có kết quả tốt trong phòng chống sốt xuất huyếtDengue và sốt rét nhiều năm nay Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các loại cá sẵn
có ở địa phương như cá sóc, cá bảy màu, cá rô phi đều có thể được sử dụng để diệt
bọ gậy Tuy nhiên, biện pháp này chỉ áp dụng được ở những dụng cụ chứa nước có thểtích lớn, còn các loại dụng cụ nhỏ và các vật phế thải lại không áp dụng được trong khi
số lượng các dụng cụ chứa nước nhỏ và các vật phế thải là rất lớn và đây là nơi có thể
trở thành ổ chứa lăng quăng của muỗi Aedes
Mesocyclops
Mesocyclops thuộc nhóm giáp xác, bộ chân chèo Mesocyclops có chu kỳ phát triển
ngắn và có khả năng sinh sản rất cao; khả năng này phụ thuộc vào điều kiện sống nhưnhiệt độ, thiên địch và đặc biệt là thức ăn; chính vì thế chúng có thể khôi phục quần
thể trong điều kiện thuận lợi Mesocyclops phân bố rộng rãi trong tự nhiên, tồn tại lâu dài trong các dụng cụ chứa nước khác nhau Từ những đặc điểm đó Mesocyclops đã
trở thành tác nhân sinh học mới góp phần tích cực ngăn chặn sự phát triển của muỗi
Aedes trong chủ động phòng chống sốt xuất huyết Dengue hiện nay [21]
Biện pháp phòng chống kết hợp
Khi chưa có vacxin phòng bệnh sốt xuất huyết cũng như chưa có chương trìnhkiểm soát muỗi có hiệu quả để ngăn ngừa việc lây truyền bệnh SXHD Việc kiểm soát
muỗi Aedes hiệu quả có thể đạt được bằng việc sử dụng một biện pháp tổng hợp nhằm
vào bọ gậy Tính bền vững của chương trình chỉ có thể đạt được khi cộng đồng thamgia Để đạt được mong muốn trên, ngoài các biện pháp sinh học, hóa học, cơ học tiêudiệt bọ gậy thì công tác truyền thông, huy động cộng đồng tham gia phòng chống sốtxuất huyết cần phải được chú trọng Công tác phòng chống SXHD không chỉ là tráchnhiệm của riêng ngành y tế mà cần phải có sự tham gia, phối hợp nhiệt tình của cácban ngành có liên quan và đặc biệt là sự tham gia tích cực của cộng đồng [21]
Phòng chống véc tơ chủ động: Phải được thực hiện thường xuyên ngay từ khi chưa
có dịch gồm các hoạt động triển khai như:
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về SXHD và huy động sự tham gia của cộng đồngphát hiện loại bỏ ổ bọ gậy: Loại bỏ các vật dụng phế thải, sử dụng tác nhân sinh học
diệt lăng quăng (thả cá, mesocyclops).
Trang 24- Tập huấn cho lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể, mạng lưới y tế, cộngtác viên, giáo viên, học sinh nhà trường về bệnh SXHD, các hoạt động cụ thể loại trừnơi sinh sản của véc tơ truyền bệnh.
- Điều tra xác định ổ bọ gậy nguồn tại địa phương và biện pháp xử lý thích hợp chotừng chủng loại ổ bọ gậy
- Tổ chức các hoạt động diệt bọ gậy thường xuyên đến từng hộ gia đình thông qua hoạtđộng của cộng tác viên y tế, học sinh và các tổ chức quần chúng
- Phun chủ động hóa chất diệt muỗi tại những nơi có nguy cơ cao
1.4 Tình hình bệnh SXH trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình dịch sốt xuất huyết trên thế giới
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) hiện nay đang là vấn đề y tế công cộng rất lớntrên toàn cầu và được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá là một trong những bệnh
do véc tơ truyền quan trọng nhất bệnh có thể gây thành dịch lớn và có tỷ lệ tử vongcao Bệnh SXH được phát hiện vào những năm 50 của thế kỷ trước, có xu hướng lanrộng và lưu hành ra nhiều quốc gia trên thế giới, hiện bệnh đã lưu hành tại 128 quốc gianằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới như vùng Đông Nam Á, châu Phi,châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, trong đó Đông Nam Á và Tây Thái BìnhDương là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Theo (WHO), mỗi năm có khoảng 390triệu trường hợp mắc, phần lớn là trẻ em dưới 15 tuổi, tỷ lệ tử vong trung bình do sốt xuấthuyết khoảng 2,5-5% [38] Theo ước tính của WHO hiện nay có thể có 50-100 triệu caSXH trên toàn Thế giới mỗi năm Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia trải qua dịch bệnhSXH trầm trọng đến bây giờ bệnh lưu hành ở hơn 100 quốc gia tại châu Phi, châu Mỹ,Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương.Châu Mỹ Trong năm 2013,Sốt xuất huyết cũng tiếp tục ảnh hưởng đến một số nước Nam Mỹ đặc biệt là Honduras,Costa Rica và Mexico Ở châu Á, Singapore đã báo cáo một sự gia tăng sau một sự biếnmất trong một số năm và sự bùng phát cũng đã được báo cáo tại Lào [39]
Trong năm 2014, xu hướng này chỉ tăng về số lượng các trường hợp trong quầnđảo Cook, Malaysia, Fiji và Vanuatu với sốt xuất huyết tuýp 3 (DEN 3) ảnh hưởng đếncác quốc đảo Thái Bình Dương Ước tính có khoảng 500.000 người bị sốt xuất huyết trầmtrọng phải nhập viện mỗi năm, một tỉ lệ lớn trong số đó là trẻ em, tử vong khoảng 2,5 %
Tổ chức Y tế thế giới dự báo, tình hình sốt xuất huyết khu vực Tây Thái Bình Dương có
Trang 25thể biến động trong thời gian tới, năm 2014 số ca mắc Sốt xuất huyết ở Malaysia vàsingapore cao gấp hai lần so với cùng kì năm 2013[38],[39].
Trong khi đó tại Australia, Cambodia, Lao PDA, Philippines và Việt Nam số camắc sốt xuất huyết có xu hướng giảm Trong năm 2013, Lào có số ca mắc sốt xuất huyếtcao, đạt đỉnh điểm vào tháng 8.Tuy nhiên, vào đầu năm 2014, số ca mắc sốt xuất huyếtvẫn còn thấp và thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2013.Malaysia có số ca mắc xuấthuyết gia tăng đáng kể, Singapore dự báo năm 2014 có số ca mắc sốt xuất huyết cao gấp 2lần so với cùng kỳ trong năm 2013[38]
Theo thông tin của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương ngày 20/10/2015, tạimột số quốc gia trong khu vực Tây Thái Bình Dương, sốt xuất huyết vẫn có diễnbiến phức tạp và đang có xu hướng gia tăng [39]
Tại Philippines: từ đầu năm 2015 đến nay có 108.263 trường hợp SXH, trong
đó có 317 trường hợp tử vong Số mắc tăng 31,9% so với cùng kỳ năm 2014 Tỷ lệmắc sốt xuất huyết/100.000 dân là 106.33 [39]
Tại Malaysia: Tổng cộng số mắc từ đầu năm 2015 tại Malaysia đến nay là96.222 trường hợp (tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2014), trong đó có 263 trườnghợp tử vong, tỷ lệ mắc sốt xuất huyết/100.000 dân là 313,94
Theo cập nhật của WHO tính đến ngày 02/7/2016, sốt xuất huyết có diễn biếnphức tạp và xu hướng tăng tại các quốc gia trong khu vực như Philippines ghi nhận52.177 trường hợp tăng 41% so với cùng kỳ 2015 Trong đó có 207 trường hợp tử vong,
tỷ lệ mắc là 51/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,4%; Malaysia ghi nhận 59.294 trường hợpmắc, trong đó có 134 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 193/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là0,23%, mặc dù số mắc giảm 5% so với cùng kỳ 2015 nhưng vẫn ở mức cao và số tử vongtăng 39 trường hợp Singapore ghi nhận 7.891 trường hợp mắc, không có tử vong, tỷ lệmắc là 155/100.000 dân, đáng chú ý là số mắc sốt xuất huyết tăng liên tục trong nhữngtuần gần đây Các quốc gia khác trong khu vực như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Úccũng có số mắc gia tăng trong những tuần gần đây và xu hướng tăng cao hơn so với cùng
kỳ năm 2015 [39]
1.4.2 Tình hình sốt xuất huyết tại Việt Nam
Tại Việt Nam, bệnh lưu hành ở hầu hết các tỉnh thành phố, nhưng tập trung chủyếu tại các tỉnh miền Nam và miền Trung
Trang 26Biểu đồ 1 Số mắc, tử vong do SXH trên toàn quốc các năm từ 1980 đến 2015
Giai đoạn từ 1980 - 1999, trung bình mỗi năm ghi nhận 100.000 trường hợpmắc, 300 - 400 trường hợp tử vong Đặc biệt năm 1987 dịch bùng phát với số mắc trên300.000 trường hợp và trên 1.500 trường hợp tử vong [18]
Tại Việt Nam báo cáo ổ dịch sốt xuất huyết đầu tiên xảy ra ở miền Nam vàonăm 1959, cho đến nay bệnh này đã lan toàn quốc Bệnh có ảnh hưởng nặng ở tuổidưới 15 và có xu hướng gây bệnh nặng ở các nhóm tuổi khác
Năm 1963, dịch có xác định mần bệnh ở đồng bằng song Cửu Long Từ đây,bệnh phát ra rộng ra nhiều vùng khác nhau trên cả nước xu hướng tăng vào các năm
1975, 1977, 1980, 1983, 1987 với số ca mắc tăng dần Trong đó vụ dịch SXH lớnnhất vào năm 1987dịch bùng phát với số mắc trên 300.000 và tử vong trên 1000trường hợp
Giai đoạn 2000- 2014 là giai đoạn Việt Nam thiết lập và thực hiện chươngtrình phòng chống SXH quốc gia thì tình hình dịch bệnh đã giảm, trung bình mỗi nămghi nhận 50.000 - 100.000 trường hợp mắc, riêng 2010 có số mắc cao nhất là 128.831trường hợp, 109 tử vong Số mắc giảm dần qua các năm, năm 2014 là năm có số mắcthấp nhất trong vòng 10 năm qua với 17.766 trường hợp mắc và 17 tử vong Tuy nhiên đầu năm 2015 đến nay, số trường hợp mắc sốt xuất huyết đến naytăng lên hơn 49.000 trường hợp mắc tại 54 tỉnh thành phố, trong đó có 34 trườnghợp tử vong [18]
Trang 27Số mắc giảm dần qua các năm, năm 2014 ghi nhận thấp nhất với 31.848 trường,
20 trường hợp tử vong, năm 2015 do vào chu kỳ dịch vì vậy số mắc tăng lên 97.484trường hợp mắc, 66 trường hợp tử vong [16]
Từ đầu năm 2016, tích lũy đến ngày 30/7/2016, cả nước ghi nhận 49.049 trườnghợp mắc tại 48 tỉnh, thành phố, trong đó có 17 trường hợp tử vong Tỷ lệ chung cảnước là 48,2/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc chung cả nước là 0,035%, thấp hơn các nướctrong khu vực[16]
Số mắc vẫn tập trung chủ yếu tại khu vực miền Nam ghi nhận 28.407 trường hợpmắc (chiếm 57,9% số mắc cả nước); Tiếp theo là khu vực miền Trung ghi nhận 12.673trường hợp (chiếm 25,8%); Riêng khu vực Tây Nguyên ghi nhận 7.411 trường hợp (chiếm15,1%), đặc biệt số mắc của khu vực tăng cao so với cùng kỳ năm 2015
Bệnh có tính chất chu kỳ bùng phát 4 - 5năm/lần, dịch thường gia tăng vào mùamưa, miền Bắc vào khoảng tháng 4 đến tháng 10, Miền Nam vào khoảng tháng 4 đếntháng 11[3],[6]
1.4.3 Tình hình mắc SXH tại tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 1994 - 2016
B Biểu đồ 2: Số ca bệnh tỉnh Lâm Đồng từ năm 1994 đến năm 2016
Những năm 1996, 1997 ca bệnh có chiều hướng gia tăng, đỉnh điểm là năm
1998 số ca mắc trên 1500 ca, số ca mắc trung bình trên 100.000 dân là 180 ca/100.000dân, vào những năm này chương trình phòng chống sốt xuất huyết được triển khai số
ca bệnh có chiều hướng giảm và duy trì từ năm 1999 đến năm 2014 Năm 2015 vớitình hình chung của thế giới cũng như khu vực tình hình bệnh sốt xuất huyết lại cóchiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, cao nhất là năm 2016 [16]
Trang 281.4.4 Tình hình mắc SXH tại tỉnh Lâm Đồng năm 2016
B Biểu đồ 3: Số ca bệnh tỉnh Lâm Đồng năm 2016
Năm 2016, toàn tỉnh có 1.792 ca tăng gấp 11 lần so với cùng kì năm 2015(165/1.792 ca) tỷ lệ mắc là 132 ca/100.000 dân cao gấp 12 lần so với chỉ tiêu (11ca/100.000 dân) Theo QĐ 02/2016/QĐ-TTg toàn tỉnh có 10/12 huyện/ thành phố nằmtrong tiêu chí công bố dịch [5] Tình hình giám sát côn trùng cho thấy bọ gậy được pháthiện trong nhiều chủng loại chứa nước như bể cảnh, vật phế thải, chum vại, bể chứa nướcsinh hoạt chỉ số BI trung bình của toàn tỉnh là 53 cao gần 3 lần so với quy định chươngtrình ( BI ≤ 20), chỉ số mật độ muỗi là 0,8 con/ nhà cao gần 2 lần so với quy định ( DI ≤ 0,5con/ nhà) [4]
B Biểu đồ 4:Chỉ số BI, DI trung bình năm 2016 của tỉnh Lâm Đồng
Trang 29Biểu đồ 5: Chỉ số BI trung bình năm 2016 của huyện Bảo Lâm
Biểu đồ 6 : Biểu đồ dự báo dịch tỉnh Lâm Đồng năm 2016
1.5 Sơ lượt về địa bàn nghiên cứu.
1.5.1 Thông tin chung
Bảo Lâm là một huyện thuộc cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc, nằm giữa Thànhphố Bảo Lộc và huyện Di Linh Huyện Bảo Lâm được thành lập theo Quyết định số65/QĐ-CP ngày 11-7-1994 của Chính phủ từ Thành phố Bảo Lộc được chia ra thành 2đơn vị mới là thành phố Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm Tổng diện tích là 1457 KM2,dân số 122.780 người với 28.243 hộ phân bố đều trên 14 xã/ thị trấn trong đó dân tộc
Trang 30thiểu số: 35.851 người, chiếm tỷ lệ 29,2% số dân toàn huyện, Các dân tộc chủ yếusống ở huyện này là dân tộc kinh, khoảng ¼ là K'ho, Mông, Nùng, và dân tộc Tày [8].
Với diện tích tự nhiên 1457 Km2, Bảo Lâm là một trong những huyện có diệntích lớn của tỉnh (chiếm 19%) Bảo Lâm là vành đai bao quanh 3 phía: Bắc, đông vàtây là Thành phố Bảo Lộc, khiến cho chu vi của huyện Bảo Lâm rất dài có ranh giớigiáp với nhiều địa phương khác: Phía bắc giáp với tỉnh Đắk Nông, phía nam giáp tỉnhBình Thuận, phía đông giáp huyện Di Linh, phía tây giáp thành phố Bảo Lộc và cáchuyện: Cát Tiên, Đạ Tẻh và Đạ Huoai Ở vị trí này, Bảo Lâm có điều kiện giao lưu kháthuận lợi với các địa bàn ở trong và ngoài tỉnh [8]
Tình hình kinh tế: Năm 2015 cơ cấu kinh tế được xác định là Công nghiệp –Dịch vụ - Nông lâm nghiệp Người dân sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau (Viênchức, công chức, nông, buôn bán) 100% số hộ trong xã có điện dùng trong sinh hoạt,
có phương tiện nghe nhìn, tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt trên 98% [4],[5],[8]
1.5.2 Thông tin liên quan về bệnh sốt xuất huyết.
Theo báo cáo của Sở Y tế Lâm Đồng tình hình các bệnh truyền nhiễm tại huyện
có chiều hướng giảm riêng bệnh sốt xuất huyết đang có chiều hướng gia tăng Tại BảoLâm bệnh sốt xuất huyết thường được ghi nhận hằng năm và luôn có theo dõi bằngbiểu đồ Số ca mắc sốt xuất huyết từ năm 2011 - 2015 giao động từ 10 đến 15 ca [5].Năm 2016 số tình hình diễn biến phức tạp, số ca mắc phân bố tại 14/14xã/ thị trấn trênđịa bàn toàn huyện chiếm 12.3% số ca mắc trong toàn tỉnh Lâm Đồng (221/1.792 ca)[5] Có 11/14 xã/ thị trấn có ca bệnh sốt xuất huyết tuy nhiên bệnh vẫn tập trung chủyếu tại các xã Lộc An, Lộc Thành, Lộc Nam và thị trấn Lộc Thắng là nơi tiếp giáp vớiBảo lộc và Di Linh là 2 huyện có số mắc cao nhất trong tỉnh, theo QĐ 02/2016/QĐ-TTg có 11/14 xã/ thị trấn công bố dịch Đối với CBYT xã, ngoài nhiệm vụ khám chữabệnh, mỗi cán bộ phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ trong công tác dự phòng bao gồmcác chương trình mục tiêu quốc gia Đây cũng là vấn đề khó khăn hiện nay của huyệnBảo Lâm [8]
Nhằm thực hiện nhiệm vụ của chương trình phòng chống SXH cũng như có cơ
sở nhận định, đánh giá các yếu tố nguy cơ bùng phát dịch CBYT xã đảm nhận vai trògiám sát côn trùng sẽ chọn điểm giám sát hàng tháng và thực hiện công tác giám sátthường quy, dựa trên những số liệu trạm Y tế điều tra kết quả được tổng hợp và gửilên tuyến trên theo quy định của chương trình và là cơ sở dự báo dịch Kết quả điều tra
Trang 31côn trùng thường quy tại TYT xã cho thấy chỉ số côn trùng tại một số điểm trên địabàn còn chưa tương quan với tình hình ca bệnh tại địa phương điều này có thể ảnhhưởng đến các vấn đề giám sát và kiểm soát sốt xuất huyết trở nên trầm trọng hơn [4],[5]
1.6 Hoạt động diệt bọ gậy tại địa phương
1.6.1 Công tác tổ chức
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về SXHD và huy động sự tham gia của cộng đồngphát hiện loại bỏ ổ bọ gậy: loại bỏ các vật dụng phế thải, sử dụng tác nhân sinh họcdiệt bọ gậy (thả cá, Mesocyclops) [5]
- Tập huấn cho Lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể, mạng lưới y tế, cộngtác viên, giáo viên, học sinh nhà trường về bệnh SXHD, các hoạt động cụ thể loại trừnơi sinh sản của véc tơ [5]
- Điều tra xác định ổ bọ gậy tại địa phương và biện pháp xử lý thích hợp cho từngchủng loại ổ bọ gậy
- Tổ chức các hoạt động diệt bộ gậy thường xuyên đến từng hộ gia đình thông qua hoạtđộng của cộng tác viên y tế, học sinh và các tổ chức quần chúng (dùng hóa chất diệt ấutrùng muỗi, thả cá, Mesocyclops, đậy nắp, loại bỏ vật dụng phế thải ) hàng tuần tạikhu vực có ổ dịch hoạt động, tiếp tục duy trì 2 tuần/lần vào những tháng cao điểm (từtháng 4 đến tháng 11 hàng năm) [21]
- Phun chủ động hóa chất diệt muỗi tại những nơi có nguy cơ cao (vùng nguy cơ cao làvùng nhiều năm liên tục có ca bệnh và có chỉ số mật độ muỗi cao ≥ 0,5 con/nhà hoặcchỉ số BI ≥ 30)[21]
- Tổng hợp kết quả và báo cáo cho tuyến trên theo quy định[8]
- Huy động sự tham gia của cộng đồng tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi địaphương Sau đây là một số hướng dẫn, thực hành lựa chọn khi thực hiện hoạt độngphòng chống véc tơ SXHD tại địa phương [5],[8]
1.6.2 các biện pháp giảm nguồn sinh sản của bọ gậy
Bọ gậy Aedes có thể phát triển ở các dụng cụ chứa nước trong nhà và xung
quanh nhà, vì vậy xử lý dụng cụ chứa nước để làm giảm nguồn sinh sản là biện phápđơn giản và rất hiệu quả trong phòng chống véc tơ [17]
a) Xử lý dụng cụ chứa nước
Trang 32- Dụng cụ chứa nước sinh hoạt (chum vại, bể nước mưa, cây cảnh ): dùng các biệnpháp ngăn ngừa muỗi sinh đẻ (có nắp đậy thật kín, thả cá ).
- Lật úp các dụng cụ gia đình như xô, chậu, bát, máng nước gia cầm
b) Loại trừ ổ bọ gậy
- Đối với bẫy kiến, lọ hoa, chậu cây cảnh, khay nước tủ lạnh hoặc điều hòa nhiệt độ:Dùng dầu hoặc cho muối vào, thay nước 1 lần/tuần, cọ rửa thành dụng cụ chứa nước
để diệt trứng muỗi Aedes aegypti, Aedes albopictus.
- Thu dọn, phá hủy các ổ chứa nước tự nhiên hoặc nhân tạo (chai, lọ, lu, vò vỡ, vỏ đồhộp, lốp xe hỏng, vỏ dừa ) cho vào túi rồi chuyển tới nơi thu gom phế thải của địaphương hoặc hủy bỏ bằng chôn, đốt
- Các hốc chứa nước tự nhiên (hốc cây, kẽ lá, gốc tre nứa ): loại bộ, lấp kín, chọcthủng hoặc làm biến đổi
- Sử dụng hóa chất diệt ấu trùng muỗi tại các ổ đọng nước như: các hố ga ngăn mùi, bểcảnh, lọ hoa
1.6.3 Tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng
a) Tuyến tỉnh, huyện: Phối hợp với các cơ quan thông tin tại địa phương bao gồm: đàitruyền hình, đài phát thanh, báo chí và các phương tiện thông tin khác
b) Tuyến xã, phường: Tổ chức các buổi phổ biến kiến thức phòng chống sốt xuất huyếttrong các trường học, các buổi họp dân, khẩu hiệu, tờ tranh, các cuốn sách nhỏ, thămhỏi của cộng tác viên y tế, truyền thanh, các buổi chiếu video bằng những thông tinđơn giản, dễ hiểu, minh họa rõ ràng
Tùy theo đối tượng nghe mà phổ biến các thông tin như:
- Tình hình SXHD trong nước, tại tỉnh, huyện hoặc xã về số mắc và chết trong một vàinăm gần đây
- Triệu chứng của bệnh, sự cần thiết của điều trị kịp thời để giảm tử vong
- Nhận biết vòng đời, nơi sinh sản, trú đậu, hoạt động hút máu của muỗi truyền bệnh
- Những biện pháp cụ thể, đơn giản mà mỗi người dân có thể tự áp dụng để loại bỏ ổ
bọ gậy của muỗi truyền bệnh
- Định ngày và thời gian thực hiện chiến dịch diệtbọ gậy phòng chống sốt xuất huyết
1.6.4 Huy động cộng đồng
Những hoạt động cụ thể như sau:
a) Đối với cá nhân:
Trang 33- Vận động từng thành viên gia đình thực hiện các biện pháp thông thường phòngchống SXHD bao gồm loại bỏ các ổ bọ gậy, diệt muỗi, bảo vệ cá nhân không bị muỗiđốt.
- Phòng muỗi đốt: làm lưới chắn muỗi vào nhà Thường xuyên ngủ màn kể cả banngày, mặc quần áo dài nếu có thể, nhất là đối với trẻ nhỏ
- Xua, diệt muỗi: sử dụng hương xua muỗi, bình xịt xua, diệt muỗi cầm tay, hun khóibằng đốt vỏ cau, dừa hoặc lá cây Treo mành tre, rèm tẩm hóa chất diệt muỗi ở cửa ravào, cửa sổ hoặc sử dụng vợt điện[17]
b) Đối với cộng đồng: Bọ gậy cần sự tham gia tích cực của mỗi hộ gia đình, tráchnhiệm đôn đốc, nhắc nhở của chính quyền địa phương và sự tham gia hưởng ứng củatất cả các tổ chức chính trị - chính trị xã hội [21]
- Tổ chức hoạt động diệt bọ gậy hàng tuần tại các khu vực có ổ dịch đang hoạt động,tiếp tục duy trì 2 tuần/lần ở những tháng cao điểm để loại trừ nơi sinh sản của véc tơnơi công cộng và tư nhân Tuyên truyền rộng rãi thông qua các phương tiện truyềnthông đại chúng, áp phích, tranh tuyên truyền, các cuốn sách nhỏ, mạng lưới cộng tácviên y tế, hoạt động của nhà trường Đánh giá tình hình dịch và những kết quả thamgia của cộng đồng [17]
- Truyền thông đến các hộ gia đình và học sinh trong trường học về các biện pháp đơngiản loại trừ nơi sinh sản của véc tơ ở nhà cũng như ở trường học Tổ chức các cuộcthi tìm hiểu về SXHD, các biện pháp phòng chống, động viên khen thưởng kịp thờinhững cá nhân, tập thể có nhiều đóng góp thiết thực
- Khuyến khích các công ty thương mại, du lịch với tư cách là nhà tài trợ tham gia vàoviệc nâng cao cảnh quan và cải thiện môi sinh trong cộng đồng, làm giảm nguồn sinhsản của véc tơ truyền bệnh Cần cho họ biết rằng kết quả phòng chống SXHD sẽ có tácđộng tốt đến kinh doanh và lợi nhuận của công ty
- Kết hợp các hoạt động phòng chống SXHD với các lĩnh vực phát triển dịch vụ cộngđồng khác như: dịch vụ thu gom rác, cung cấp nước sinh hoạt nhằm làm giảm nơisinh sản của muỗi truyền bệnh
1.7 Những tồn tại và thách thức trong PCSXH hiện nay ở Lâm Đồng
Sự gia tăng nhanh các trường hợp mắc sốt xuất huyết tại tỉnh Lâm Đồng trongnhững tháng gần đây là do một số nguyên nhân sau:
Trang 34Bệnh dịch sốt xuất huyết thường có tính chất chu kỳ, cứ khoảng 3-5 năm nămlại có đợt bùng phát tăng cao số mắc Hiện đang vào mùa mưa, vào thời điểm này nămtrước, dịch bắt đầu gia tăng, đạt đến đỉnh vào những tháng cuối năm 2015 và tiếp tụctăng vào năm 2016 Tốc độ đô thị hóa nhanh, hình thành nhiều vùng dân cư tập trungtạo nên các vùng sinh cảnh, sinh thái thuận lợi cho véc tơ truyền bệnh cũng như bệnhsốt xuất huyết phát triển Sự giao lưu đi lại giữa các tỉnh trên cả nước rất thuận lợicùng với sự di biến động dân số ngày càng mạnh mẽ nên làm gia tăng nguy cơ lanrộng và khó quản lý, kiểm soát nguồn truyền bệnh [5].
Năm 2016, hiện tượng El nino xảy ra tại Việt Nam làm tăng nhiệt độ trung bìnhcủa môi trường là điều kiện cho muỗi phát sinh phát triển Thời tiết hạn hán người dântăng tích trữ nước sạch tại các dụng cụ chứa nước phục vụ đời sống, sinh hoạt tạo điềukiện thuận lợi cho bọ gậy phát triển Việc sử dụng xe công nông là phương tiện vậnchuyển chủ yếu khi làm rẫy, xe máy làm phương tiện đi lại dẫn đến tại các hộ gia đình
có nhiều lốp xe công nông, lốp xe máy cũ không còn sử dụng vứt để ngoài vườn; Tạinhiều hộ gia đình sử dụng bồn nước, bể chứa nước sinh hoạt không đậy nắp hoặc đậykhông kín, ngoài ra còn có các vật liệu phế thải (chai lọ, chum vại) chứa nước đọngkhông được xử lý là điều kiện thuận lợi cho muỗi đẻ trứng và bọ gậy phát triển mạnh,nhất là trong mùa mưa [16]
Ý thức của người dân chưa cao, còn chủ quan, lơ là xem thường bệnh sốt xuấthuyết, chưa chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh dịch, không thựchiện việc diệt muỗi, diệt bọ gậy; không xử lý lốp xe cũ, không đậy nắp hoặc đậy khôngkín dụng cụ chứa nước; chưa được thực hiện một cách triệt để việc nằm màn chốngmuỗi đốt tỷ lệ người dân tự điều trị tại nhà còn cao [8]
Mạng lưới y tế còn mỏng, chưa nhiều kinh nghiệm trong phòng chống sốt xuấthuyết; hoạt động của các cộng tác viên còn yếu, chưa thực hiện tốt việc thăm từng hộgia đình để thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn, nhắc nhở người dân thực hiện các biệnpháp diệt muỗi, loại bỏ vật dụng, phế thải, loại bỏ ổ bọ gậy nguồn Mặc dù nhiều hộgia đình đã ký cam kết thực hiện các biện pháp phòng chống SXH, nhưng việc theodõi, kiểm tra thực hiện còn lỏng lẻo bên cạnh đó tình hình thiếu nhân viên Y tế chochương trình, các nhân viên kiêm nhiệm nhiều công việc được ghi nhận ở tất cả cáchuyện trong tỉnh [5]
Trang 35Tại một số địa phương chính quyền các cấp và các tổ chức chính trị và chính trị
xã hội chưa coi trọng công tác chủ động phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết, khôngtích cực triển khai các hoạt động phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết tại địa phương[8]
1.8 Một số nghiên cứu về giám sát véc tơ có liên quan
1.8.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sốt xuất huyết theo nhiềuhướng và nhiều đối tượng khác nhau Các nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu và
sử dụng bộ công cụ khác nhau như: Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành củangười dân, nghiên cứu về chỉ số bọ gậy ảnh hưởng đến ca bệnh, nghiên cứu về khảnăng của cộng đồng trong việc chung tay phòng chống và kiểm soát sốt xuất huyết[28],[31]
Sự khác biệt ổ bọ gậy ở các dụng cụ chứa nước tại hộ gia đình
Năm 2010, khoa côn trùng của trung tâm kiểm dịch Brazil đã thực hiện nghiêncứu để đánh giá về sự sinh sản của nhộng Aedes Aegypty trong chiến dịch kiểm soátvector SXH tại Sao Paolo Nghiên cứu được thực hiện tại vùng nông thôn phía Bắcbang Sao Paolo thực hiện trên 532 hộ gia đình thu thập chỉ số bọ gậy được thực hiệnvào 2 mùa nắng và mùa mưa (từ tháng 11 tới tháng 4 và từ tháng 4 đến tháng 11 nămsau), số liệu được thu thập hàng tháng Kết quả của nghiên cứu cho thấy có đến 82,7%những nơi có bọ gậy là hộ gia đình, 1162 dụng cụ chứa nước có bọ gậy chiếm 11,7%
Bọ gậy muỗi Aedes Aegypty chủ yếu tập trung ở ngoài nhà và những dụng cụ tại tầng
1 của hộ gia đình đồng thời sự gia tăng sốt xuất huyết có mối liên hệ chặt chẽ với chỉ
số côn trùng (CI, BI, HI) [30],[33]
Trong nghiên cứu mối liên quan giữa chỉ số côn trùng và dịch SXH củaHarinder Sekhon và Cs năm 2014 tại Bantalab, Jammu, những dụng cụ chứa nước có
bọ gậy cao nhất là lốp xe (90,32%), chai nhựa (74,34%), dụng cụ chưa nước nhỏ trongnhà (68,09%), đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc kiểm soát véc tơtrong việc phòng chống dịch SXH [35],[36]
Kiến thức, thực hành của cán bộ Y tế
Tháng 7 năm 2016, Anil ShamRao Mane cùng cộng sự đã thực hiện nghiên cứu
về kiến thức thái độ thực hành trên đối tượng là 189 người dân và 72 cán bộ y tế tại Ấn
Độ, nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi bao gồm 18 câu hỏi dựa trên nền bộ câu hỏi của
Trang 36trung tâm CDC ban hành, kết quả cho thấy sự khác biệt giữa người dân và cán bộ y tế
về kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống SXH (với p<0,01) Nghiên cứu cũngchỉ ra cần có sự hướng dẫn về thực hành phòng chống SXH cho người dân một cách đầy
đủ và truyền thông về SXH rộng rãi hơn nữa [29]
1.8.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu về SXH đã được thực hiện Các nghiên cứu tậptrung vào kiến thức thái độ và thực hành của người dân, đánh giá hiệu quả các giải phápkiểm soát véc tơ, điều tra ổ bọ gậy nguồn, nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động cộngtác viên Tuy nhiên, nghiên cứu về đánh giá kiến thức, thực hành về kết quả giám sát bọgậy của cán bộ y tế vẫn còn hạn chế, trong đó năng lực của CBYT đóng một vai trò hếtsức quan trọng trong việc dự báo dịch cũng như kiểm soát dịch SXH
Sự khác biệt ổ bọ gậy ở các dụng cụ chứa nước tại hộ gia đình
Theo nghiên cứu của Lê Đăng Ngạn và Cs (2014) về đặc điểm ổ bọ gậy nguồn
của muỗi Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết tại tỉnh Tiền Giang cho thấy tại các điểm giám sát bọ gậy nguồn chỉ có bọ gậy Aedes aegypty không tìm thấy bọ gậy của Aedes albopictus trong các DCCN Ổ bọ gậy nguồn Aedes Aegypty tập trung chủ yếu ở
DCCN là lu (87,3%), phi và xô thùng (6,5%) Tỷ lệ tập trung bọ gậy vào mùa mưa là62,8% cao hơn mùa nắng là 31,8% [11]
Một nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúc và Cs (2015) về đánh giá hiệu quả hoạtđộng của CB tuyến cơ sở dựa trên kiến thực và thực hành về giám sát côn trùng hàngtháng tại huyện Đạ Huoai được thực hiện dựa trên kiến thức về điều tra côn trùng củaCBYT tuyến huyện, đồng thời đánh giá khả năng của CBYT về điều tra côn trùng.Nghiên cứu dựa trên hướng dẫn 3711 của Bộ Y tế về phòng chống SXH, số cán bộ y tếtham gia nghiên cứu là 30 trong đó nam chiếm hơn 80%, với số hộ được giám sát là
900 hộ gia đình trong vòng 3 tháng, trong thời điểm cao điểm của dịch SXH trên địabàn từ tháng 8 đến tháng 10 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ CBYT có kiến thứcđúng là 75%, bên cạnh đó chỉ có 65% cán bộ có thực hành đúng khi đi điều tra bọ gậynằm ở nhóm tuổi trên 35 tuổi, tỷ lệ cán bộ kiêm nhiệm các chương trình mục tiêu Y tê
Trang 37ở các vùng địa lý khác nhau, nghiên cứu tiến hành khảo sát tất cả các DCCN trong vàxung quanh nhà tại 800 hộ gia đình tại hai xã của hai tỉnh Bạc Liêu và Bình Dương.Kết quả thu được 2.647 DCCN với 18,74 DCCN có bọ gậy, ở Bình Dương DCCN lớn( lu <100L) có bọ gậy chiếm tỷ lệ 32% và vật chứa linh tinh có bọ gậy chiếm tỷ lệ thấphơn; Trong khi đó ở Bạc Liêu vật chứa nhiễm chủ yếu là DCCN lớn ( lu <100L) có bọgậy chiếm tỷ lệ 89% và hồ vuông > 500L chiếm 64% [25].
Một nghiên cứu khác được thực hiện tại các điểm công cộng của Hà Nội của
Vũ Trọng Dược và Cs về muỗi Aedes Aegypti và Aedes Albopictus véc tơ truyền bệnh
sốt xuất huyết Denguetại đình (chùa) và trường học ghi nhận bọ gậy Ae aegypti chiếm
tỷ lệ lớn Ổ bọ gậy nguồn tại đình (chùa) là bể cảnh (60,3%), chum vại (17,6%); Trongkhi ở trường học là bể cầu (44,8%), phế thải (33,5%) Tại công viên và chợ, bọ gậy
Ae albopictus chiếm ưu thế hơn Ổ bọ gậy nguồn tại công viên là phế thải (60,9%), bể
cầu (33%) và tại chợ là bể cầu (49,3%), bể chứa nước (23,2%) [2]
Tại tỉnh Bến Tre, theo nghiên cứu của Đặng Ngọc Chánh và Cs năm 2011 đãchỉ ra mối liên hệ của véc tơ SXH cụ thể là chỉ số BI, CI, HI có sự khác biệt rõ rệt giữa
2 mùa mưa nắng Trong mùa mưa chỉ số BI lên đến 85, trong khi mùa nắng chỉ số nàychỉ ở mức 48,25% [3]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Tiên về công tác giám sát véc tơ ban đầu trong
mô hình giám sát trọng điểm sốt xuất huyết Dengue năm 2012 tại Vĩnh Long cho thấyDCCN bị nhiễm bọ gậy được phát hiện chủ yếu là DCCN lớn như lu > 100L chiếm57,8%, phuy 17,29%, xô chậu 0,06%, DCCN linh tinh chỉ có 4,26%; Tỷ lệ bỏ sótDCCN lớn khi đi điều tra của cán bộ phụ trách khá thấp chiếm 7%, DCCN linh tinh vàvật phế thải chiếm 23,4% [22]
Kiến thức, thực hành của cán bộ Y tế trong công tác giám sát bọ gậy
Một nghiên cứu của Nguyễn Văn Lộc và Cs (2015) về đánh giá kiến thực và thựchành của cộng tác viên và hộ gia đình tại huyện trọng điểm của tỉnh Lâm Đồng được thựchiện dựa trên kiến thức về phòng, chống bệnh sốt xuất huyết của 124 cộng tác viên và 620
hộ gia đình, đồng thời đánh khả năng của cộng tác viên về công tác vãng gia tại hộ giađình Nghiên cứu dựa trên hướng dẫn 3711 của Bộ Y tế về phòng chống SXH Kết quảnghiên cứu cho thấy tỷ lệ cộng tác viên có kiến thức đúng 87,9% trong đó kiến thức đúng
về biện pháp diệt bọ gậy là cao nhất, chiếm 96,8%, tiếp đến là biết được nơi sống của bọgậy ( 79%) trong đó biết các DCCN trong nhà có bọ gậy chiếm 67%, tuy nhiên thực
Trang 38hành đúng về giám sát bọ gậy chỉ chiếm 74,2%, chủ yếu tìm kiếm các vật chứa nước lớn(95,2%), vật phế thải (81,4%), phát hiện và đổ bỏ là 87% nghiên cứu không thấy có sựkhác biệt về kiến thức giữa nam và nữ [9]
Nghiên cứu của Đỗ Kiến Quốc và Cs đánh giá tác động của cộng tác viên lênnhận thức và thực hành phòng chống sốt xuât huyết tại khu vực phía Nam, năm 2012,nghiên cứu được thực hiện trên 4 tỉnh Cà Mau, Tiền Giang, Trà Vinh và Bà Rịa Vũngtàu với 160 cộng tác viên, 1600 hộ gia đình cho thấy cộng tác viên có kiến thức đúng66,23%, thực hành đúng chỉ chiếm 36,42%, Tính đúng các chỉ số nhà có bọ gậy (HI) là39,07%, Chỉ số Breteau (BI) là 87% và tỷ lệ vật chứa có bọ gậy (CI) là 14,64%, vàkiến thức và thực hành về phòng bệnh của cộng tác viên chưa cao chỉ đạt 68,23%.Thấp nhất là dọn dẹp các vật dụng phế thải chiếm 57,63%, kiến thức về nơi sinh sốngcủa véc tơ truyền bệnh chiếm 79,47% [23]
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc San và Cs về nhận thức, thái độ, thực hànhphòng chống muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết của cộng đồng, cán bộ y tế và biệnpháp can thiệp tại hà nội, kết quả điều tra 55 CBYT cho thấy: 78,2% là nữ và lứa tuổi
từ 31 đến 57 chiếm 78,2% Chủ yếu có trình độ bác sĩ 58,2% và y tá trung học 34,5%.Thâm niên công tác từ 6 đến 10 năm chiếm 20 % và trên 10 năm chiếm 47,3% Côngtác tại các TYT phường 67,3% và phụ trách chương trình phòng chống SD/SXHD là50,9% Kết quả điều tra hiểu biết về phòng chống vector truyền bệnh SD/SXHD củacán bộ y tế thấy: Hiểu đúng về vector chính truyền bệnh SD/SXHD là muỗiAe.aegypti 94,5%; mùa truyền bệnh SD/SXHD 54,5%; thời kì lây nhiễm [26]
Nghiên cứu của Lê Thành Đồng và Cs về đánh giá hoạt động phòng chống sốtxuất huyết tại tỉnh Tây Ninh với phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả Kết quả:Mạng lưới tổ chức đạt theo tiêu chí của chương trình Nhưng triển khai các hoạt độngchương trình còn chưa đồng bộ giữa các thành viên trong Ban Chỉ đạo Ban Chỉ đạophòng chống sốt xuất huyết tại tất cả các tuyến có hoạt động nhưng đa số chưa mangtính thường xuyên Hiệu quả trong các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết tại cáctuyến là chưa cao Các chuyên trách đều kiêm nhiệm, mỗi đơn vị 01 người Có hoạtđộng diệt lăng quăng và vệ sinh môi trường, phun hoá chất phòng chống véc tơ chủđộng, tập huấn cho tuyến dưới Số cán bộ chuyên trách tuyến xã nắm kiến thứcchuyên môn đạt 72,4% [27]
Trang 39Một số yếu tô liên quan đến công tác giám sát bọ gậy
Nhận định của Tổ chức Y tế thế giới triển khai hướng dẫn về công tác kiểm soátvéc tơ cho thấy một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác giám sát véc tơ của cán bộ Y tếnghiên cứu cho thấy Sự phối hợp, hỗ trợ của chính quyền như sự tham gia vào cơ chếphối hợp liên ngành để kiểm soát véc tơ bao gồm Bộ Y tế, Bộ GD & ĐT, Bộ côngtrình công cộng / quản lý nước và chất thải, tăng cường mối liên kết giữa các chươngtrình kiểm soát vector dựa vào cộng đồng và các quản trị viên trung tâm y tế, quản trịviên trường học, lãnh đạo cộng đồng, lãnh đạo tôn giáo, phù hợp với nhu cầu của địaphương đồng thời công tác tập huấn cho các ban ngành liên quan chiếm vai trò quantrọng bên cạnh đó việc cung cấp kiến thức cho các hộ gia đình để thực hiện kiểm soátvector tại hộ gia đình phù hợp và cách bảo vệ cá nhân vô cùng cấp thiết Vấn đề kiểmsoát véc tơ được chính quyền địa phương và các tổ chức cộng đồng tiến hành các cuộcđiều tra, hỗ trợ điều tra KAP của các đối tượng liên quan để đánh giá tác động củanhững yếu tố này đối với thay đổi hành vi để kiểm soát vector hiệu quả thông qua cácchương trình tiếp cận mở rộng của WASH, tiến hành các cuộc điều tra vector Aedes ởcấp hộ gia đình Từ đó mở rộng các chiến dịch kiểm soát véc tơ và đánh giá nguy cơ[24]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lộc cũng cho thấy có mối liên quan giữa việcđược tập huấn hằng năm của cộng tác viên với kiến thức và thành của cộng tác viêntrong công tác vãng gia tại hộ gia đình (p<0,05); Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúccũng thể hiện tỷ lệ nhà có chỉ số bọ gậy vượt ngưỡng lên tới 67% (trong đó có 45% số
hộ có chỉ số BI gấp 3 lần ngưỡng cho phép của BYT), nghiên cứu cho thấy có mối liênquan giữa kiến thức và thực hành của cán bộ Y tế (p<0,05) [13]
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Đỗ Kiến Quốc và Nguyễn Văn Lộc cũng chothấy mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của cộng tác viên OR = 2,46, p<0,05[23]; OR = 3,1, p<0,05 [9]
Trang 401.9 Khung lý thuyết
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, do điều kiện thời gian, nguồn lực hạn chế,học viên chưa đề cập đến kết quả phòng chống bệnh sốt xuất huyết, chỉ đánh giá kiếnthức về giám sát bọ gậy của CBYT tuyến xã, phần quan sát trực tiếp cán bộ điều tra bọgậy, học viên chỉ quan sát hành vi thực hành và cách tính các chỉ số: Tỉ lệ DCCN có
BG (CI), tỉ lệ nhà có BG (HI), Chỉ số Breteau (BI)
-Sinh học, sinh thái muỗi
- Nơi sống của bọ gây
- Thời gian điều tra bọ gậy, dụng cụ khi điều tra bọ gậy
-Giám sát bọ gậy
Thực hành về giám sát bọ gậy của cán bộ
y tế tuyến xã:
-Cách CB tìm bọ gậy-Ghi chép thông tin-Khả năng tính các chỉ
số (BI,HI,CI), báo cáo
Điều kiện làm việc
-Khối lượng công việc
-Tập huấn nâng cao
Giám sát, kiểm tra
-Giám sát thường quy