1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở

70 1,1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 532,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy việc cung cấp kiến thức cho bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen phế quản về cách nhận biết các dấu hiệu lên cơn hen, các yếu tố gây hen, làm bùng phát cơn hen, sử dụng thuốc c

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phế quản là bệnh mạn tính đường hô hấp phổ biến ở tất cả các lứa tuổi và có xu hướng ngày càng tăng đặc biệt là ở trẻ em, bệnh diễn biến kéo dài gây ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhi, gia đình, xã hội Tỷ lệ mắc hen phế quản đặc biệt ở trẻ em tại tất cả các quốc gia đang ngày một gia tăng Theo báo cáo của Tổ chức Phòng chống hen toàn cầu (Global Intiniative for Asthma – GINA) (2005), hàng năm thế giới có khoảng

300 triệu người mắc hen và 25 vạn người chết vì hen Tại Việt Nam, theo Hiệp hội Hen, Dị ứng và Miễn dịch (2005) có khoảng hơn 5% dân số bị bệnh Hen phế quản ảnh hưởng quan trọng tới cuộc sống của người bệnh, hơn nữa cơn hen kịch phát còn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của họ

Mặc dù hen là bệnh viêm mạn tính đường thở nhưng đa số người bệnh đều có thể chung sống thoải mái với bệnh hen Vài năm trở lại đây đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị và kiểm soát hen, bệnh hen hoàn toàn

có thể kiểm soát được Nhưng thực tế hiện nay vẫn còn số lượng lớn bệnh nhi hen phải nhập viện, nguyên nhân là do sự hiểu biết của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi về bệnh hen còn chưa đúng và chưa đầy đủ Vì vậy việc cung cấp kiến thức cho bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen phế quản về cách nhận biết các dấu hiệu lên cơn hen, các yếu tố gây hen, làm bùng phát cơn hen, sử dụng thuốc cắt cơn, dự phòng hen là rất quan trọng

Để cung cấp kiến thức cho bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen phế quản trên thế giới và Việt Nam đã triển khai nhiều mô hình truyền thông: Phòng tư vấn hen phế quản, câu lạc bộ bệnh nhân hen, Tuy nhiên việc đánh giá hiệu quản của các mô hình này chưa toàn diện Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi của bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen phế quản: Tại Bệnh viện Nhi Đồng II, Viện Nhi trung ương Tại Hà Nội đã triển

Trang 2

khai những mô hình này trong đó có phòng tư vấn tại các khoa điều trị ở các bệnh viện, nhưng chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về hiệu quả hoạt động của các phòng tư vấn này.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở trẻ em” với mục tiêu:

1 Đánh giá kiến thức của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen

về bệnh, cách điều trị, dự phòng hen phế quản trước và sau tư vấn.

2 Đánh giá kỹ năng thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen trong điều trị, dự phòng hen phế quản trước và sau tư vấn.

Trang 3

Chương 1TỔNG QUAN

Từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ XVII do ảnh hưởng của tôn giáo nên việc nghiên cứu về hen không được quan tâm, các hiểu biết về hen gần như không có tiến bộ mới

Năm 1615 Van Helmont thông báo các trường hợp khó thở do phấn hoa Năm 1698 John Floyer giải thích nguyên nhân gây khó thở là do co thắt phế quản, ông phân loại ra khó thở chu kỳ và khó thở liên tục nhưng chưa phân biệt được hen và viêm phế quản mạn tính

Năm 1803, F.D Reisseissen nói đến sự co thắt của các cơ trơn đường

hô hấp mà sau này người ta lấy tên của ông đặt cho cơ trơn phế quản là cơ Reisseissen Năm 1819 Laennec xác định cơn khó thở là do co thắt cơ Reisseissen

Năm 1860 Samter chứng minh bệnh hen do tiếp xúc với lông mèo Năm 1873 Blackley chứng minh phấn hoa và một số loại cỏ có thể là nguyên nhân gây hen

Năm 1902 , việc C Richer gây được shock phản vệ trên thực nghiệm (được giải thưởng Nobel 1913) đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về hen phế quản và các bệnh dị ứng

Trang 4

Năm 1910 Dale phát hiện ra Histamine, năm 1936 Chakravarty tìm ra Serotonin, năm 1940 Ado lưu ý đến vai trò của Acetylcholin.

Sau đó, nhiều tác giả nghiên cứu và tìm ra vai trò của rất nhiều loại chất trung gian hoá học (các lymphokin, leucotrien, cytokin), các loại tế bào (tuyến

ức, lympho B, lympho T) và cả kháng thể (IgE) trong cơ chế bệnh sinh của hen

Từ 1985 đến nay nhiều nghiên cứu chứng minh rằng viêm đóng vai trò quan trọng trong hen dẫn đến tình trạng co thắt phế quản, tăng tính phản ứng phế quản và từ đó có nhiều bước cải tiến trong việc điều trị và phòng bệnh hen

Năm 1992 chương trình khởi động toàn cầu phòng chống hen phế quản (Global Initiative for Asthma) gọi tắt là GINA ra đời nhằm mục đích đề ra chiến lược quản lý khống chế và kiểm soát bệnh hen

1.2 Định nghĩa hen [6, 35, 65]

Hen là tình trạng viêm mạn tính của đường hô hấp với sự tham gia của rất nhiều tế bào viêm, ở những cá thể có nguy cơ bị bệnh quá trình viêm gây nên tình trạng khò khè, khó thở, nặng ngực và ho, nhất là về đêm và gần sáng Các triệu chứng lâm sàng thường kết hợp với tắc nghẽn đường thở ở các mức

độ khác nhau và đường thở thường hồi phục một phần hoặc hoàn toàn một cách tự nhiên hoặc do điều trị

1.3 Dịch tễ học

1.3.1.Tỷ lệ mắc hen:

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1995 có khoảng 150 triệu người mắc bệnh hen phế quản, tỷ lệ hen ở người lớn là 5%, ở trẻ em là 10% [2], trong 2 – 3 thập kỷ qua độ lưu hành hen phế quản vẫn tiếp tục gia tăng với tốc độ đang lo ngại.[3, 21, 28]

Năm 2006, theo GINA hen phế quản là bệnh mạn tính có tỷ lệ mắc cao nhất thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen trên toàn thế giới, ước tính

Trang 5

đến năm 2025 sẽ có khoảng 400 triệu người mắc hen phế quản Tỷ lệ hen ở trẻ em dao động từ 1 – 30% tuỳ theo từng vùng, từng nước [ 28, 64 ].

Tỷ lệ mắc hen của các quốc gia trên thế giới khác nhau, các nước phát triển thường có tỷ lệ mắc hen cao hơn các nước đang phát triển

Theo báo cáo của chương trình khảo sát quốc tế về hen và dị ứng ở trẻ

em (International Study of Asthma and Allergies in Children - ISAAC) cho thấy độ lưu hành của hen đã thay đổi từ 1.6% đến 36.8%

Ở Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ về tỷ lệ mắc hen trên toàn quốc Theo bệnh viện Phạm Ngọc Thạch năm 1995 tỷ lệ hen ở trẻ em trên 7 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh là 3.2%, cũng tại thành phố Hồ Chí Minh theo nghiên cứu của bệnh viện nhi đồng I tỷ lệ khò khè ở trẻ em 12 – 13 tuổi là 29.1%, theo nghiên cứu của sở y tế Hà Nội, tỷ lệ hen ở trẻ em 10.24%, trong đó nội thành chiếm 14.56%, ngoại thành chiếm 7.52% [33]

1.3.2 Tỷ lệ tử vong

Mặc dù đã có dấu hiệu hạn chế do chương trình kiểm soát hen đã được

Tổ chức Y tế thế giới (WHO), GINA và các nước triển khai rộng khắp, tỷ lệ

tử vong do hen vẫn còn là vấn đề cần quan tâm Hàng năm trên thế giới vẫn

có 250.000 người tử vong do hen [26].

Tỷ lệ tử vong do hen chiếm 1/250 các ca tử vong trên toàn thế giới Đáng lưu ý là 85% các trường hợp tử vong do hen có thể phòng ngừa được nếu được sự quan tâm kịp thời của người bệnh, gia đình và thầy thuốc [6, 28, 65] Tỷ lệ tử vong do hen ở trẻ em cũng tăng so với 10 – 20 năm trước đây [5]

Tỷ lệ tử vong do hen không tương ứng với tỷ lệ mắc

1.3.3.Gánh nặng bệnh tật

Đối với người bệnh: Hen phế quản là một bệnh mạn tính thường gặp ở trẻ em và là một trong những nguyên nhân buộc trẻ phải nghỉ học nhiều ngày

Trang 6

Có tới 40% trẻ em phải nghỉ học mỗi khi lên cơn, trung bình trẻ bị hen phải nghỉ học 10 -15 ngày/ năm [5].

Đối với gia đình: Hen phế quản tác động xấu đến tâm lý gia đình coi người bệnh như một gánh nặng

Đối với xã hội: Thiệt hại do hen gây ra cho xã hội bao gồm các chi phí trực tiếp (khám bệnh, xét nghiệm, tiền thuốc, viện phí ) và cả các chi phí gián tiếp (ngày nghỉ việc, nghỉ học, giảm khả năng lao động chất lượng cuộc sống giảm sút) số ngày nghỉ làm việc của người lớn trong gia đình tăng lên do phải chăm sóc trẻ, năng suất lao động giảm sút, thiếu nhiệt tình, giới hạn hoạt động, thiếu hoà nhập xã hội Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới năm

1998 cho thấy chi phí cho bệnh hen phế quản của nhân loại lớn hơn 2 căn bệnh hiểm nghèo là HIV và lao cộng lại Theo GINA chi phí trực tiếp cho phòng chống hen phế quản chiếm 1 – 3% tổng chi phí y tế ở hầu hết các quốc gia [12, 28, 65] Theo tác giả Nguyễn Thị Rồi gánh nặng kinh tế xã hội của bệnh hen ở trẻ nhập viện tại khoa hô hấp bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 7/2006 đến tháng 6/2007 nghiên cứu trên 1762 trẻ em nhập viện kết quả thu được tổng số ngày nằm viện 10.545 ngày, tổng số ngày nghỉ học đối với trẻ

em 864 ngày, chi phí bình quân cho một đợt điều trị mỗi bệnh nhân là 466,548 đồng [37] Những con số thống kê ở Hà Nội cho thấy, mỗi bệnh nhân hen nếu không được kiểm soát tốt mỗi năm phải vào viện cấp cứu trung bình

2 – 4 lần, mỗi lần nhập viện chi phí 2 – 3 triệu đồng, chưa kể các tổn thất gây

ra do nghỉ học, nghỉ việc, mất việc và giảm chất lượng cuộc sống [13]

1.4.Yếu tố nguy cơ của hen phế quản[5, 6, 65]

Trang 7

1.4.2 Yếu tố môi trường[63]:

Ảnh hưởng tới tính cảm thụ của cá nhân có nguy cơ phát triển thành hen phế quản, thúc đẩy làm nặng hen và/ hoặc làm duy trì triệu chứng, bao gồm:

Các loại dị nguyên:

Dị nguyên trong nhà: Bọ nhà, dị nguyên động vật nấm mốc

Dị nguyên ngoài nhà: Phấn hoa và nấm

Yếu tố nghề nghiệp: Hen phế quản hay gặp ở các nước công nghiệp, thường ở công nhân chế biến tôm cua, công nhân dệt, công nhân sản xuất nhựa vv

Khói thuốc lá

Ô nhiễm không khí: Các loại khí thải sinh hoạt và công nghiệp

Nhiễm trùng hô hấp bao gồm:

 Nhiễm trùng do vi khuẩn

 Nhiễm trùng do vi rút

Chế độ ăn: Bản thân thức ăn là tác nhân gây hen: Trứng, tôm, cua cá

1.4.3 Các yếu tố làm nặng hen phế quản [4, 8, 12, 20, 22, 65]:

Dị nguyên: Cả dị nguyên trong và ngoài nhà

Gắng sức, tăng thông khí

Thay đổi thời tiết

Khí sulfure dioxide SO2

Thực phẩm, thuốc và các chất phụ gia

Trang 8

1.5 Cơ chế bệnh sinh trong hen phế quản

Hen là một phức hợp viêm phức tạp tại phổi được đặc trưng bởi:

 Viêm mạn tính đường hô hấp

 Co thắt phế quản

 Tăng mẫn cảm đường thở

 Tái tạo lại đường thở

1.5.1 Viêm là quá trình chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh của HPQ [1, 5, 7, 8,

Các yếu tố gây viêm, các dị nguyên như là một kháng nguyên vào cơ thể kết hợp với kháng thể trên bề mặt dưỡng bào làm thoái hoá hạt giải phóng nhiều chất trung gian hoá học tiên phát và thứ phát như histamin, serotonine, bradykinine, prostaglandin, leucotrien

Yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (PAF: Platelet Activating Factor) gây co thắt viêm nhiễm phù nề phế quản

Vai trò của các phần tử kết dính (AM: Adhension Molicule) các AM và các cytokines có mối quan hệ tương hỗ rất gắn bó trong quá trình viêm dị ứng

1.5.2 Co thắt phế quản[1, 5, 7, 27, 30, 39]

Hậu quả của hiện tượng viêm nói trên đã gây nên tình trạng co thắt phế quản như cơ chế đã trình bày Ngoài ra ở trẻ bị hen phế quản thụ thể B2 bị suy giảm làm cho men Adenylcyclase kém hoạt hoá, gây nên thiếu hụt AMPc ở

Trang 9

cơ trơn phế quản Tình trạng này làm cho ion calci xâm nhập vào tế bào, đồng thời dưỡng bào (mastocyte) bị thoái hoá hạt giải phóng các chất trung gian hoá học gây co thắt phế quản.

Sự rối loạn hệ thần kinh giao cảm làm tăng tiết cholin kích thích hệ cholinergic làm giải phóng các chất trung gian hoá học và làm tăng AMPc nội bào gây phản xạ co thắt phế quản

Trong các tế bào và các chất hoá học trung gian gây viêm cần lưu ý vai trò của Leucotrien đó là những sản phẩm chuyển hóa của acid Arachinodic theo đường 5 – lipooxygenese hình thành hai type leucotrien: sulfido – peptid

và LTB4 Thực chất các Sulfido – peptid là chất SRS – A (Slow Reacting Substance of Anaphylasic) chất gây phản ứng quá mẫn chậm có tác dụng co thắt phế quản rất mạnh

Prostaglandin, đặc biệt là PGD2 là do mastocyte tiết ra thúc đẩy sự giải phóng histamin từ basophil (bạch cầu ưu bazơ) cũng chịu trách nhiệm về sự

co thắt và gia tăng tính phản ứng của phế quản

1.5.3 Quá trình tăng phản ứng đường thở:[1, 5, 7, 8, 27]

Tăng tính phản ứng phế quản là đặc điểm quan trọng trong bệnh sinh hen phế quản Sự biến đổi tính phản ứng phế quản liên quan đến nhịp ngày đêm của sức cản phế quản

Tăng tính phản ứng đường thở là đặc điểm quan trọng ở hen nhưng không phải là duy nhất.Tăng tính phản ứng đường thở còn gặp trong viêm phế quản mạn tính, viêm mũi dị ứng, nấm phổi, bệnh nhầy quánh niêm dịch (mucovisidose)

Tăng tính phản ứng phế quản làm mất cân bằng giữa hệ Adrenegic và

hệ Cholinergic dẫn đến tình trạng ưu thế thụ thể alpha và beta, tăng ưu thế của GMPc nội bào, biến đổi hàm lượng men Phosphodiesterase nội bào, rối loạn chuyển hoá Prostaglandin

Trang 10

Sự gia tăng tính phản ứng đường thở giải thích cho chúng ta cơ chế của hen phế quản do gắng sức, do khói bụi, do không khí lạnh và do mùi hương.

1.5.4 Tái tạo lại đường thở [66]

Hen là tình trạng viêm mạn tính đường thở, hậu quả là thay đổi cấu trúc

và chức năng đường thở dẫn tới tái tạo lại đường thở

Sự thay đổi về tế bào học và mô bệnh học cấu trúc đường thở giải thích

sự giảm chức năng hô hấp theo thời gian ở bệnh nhân hen phế quản

Ở người HPQ, sự tái tạo đường thở bao gồm sự tăng sinh tế bào có

chân, xơ hoá dưới biểu mô, tăng kích thước và số lượng vi mạch dưới niêm mạc, tăng sinh và phì đại cơ trơn đường thở, phì đại các tuyến dưới niêm mạc

1.6 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

1.6.1 Lâm sàng: [2, 5, 7, 8, 30, 65, 66]

Triệu chứng cơ năng

 Ho khan, sau có thể ho có nhiều đờm rãi

1.6.2 Cận lâm sàng:

Đo lưu lượng đỉnh (PEF) bằng dụng cụ lưu lượng đỉnh kế phương pháp này giúp chẩn đoán và tiên lượng HPQ (PEF giảm trong HPQ) [8, 64]

Trang 11

Xét nghiệm máu: [5, 9, 27, 30, 32, 59] Bạch cầu ái toan tăng, thường là trên 5%, có trường hợp lên đến 30 - 40% trong thể hen nặng kéo dài, hoặc hen

có mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh và ký sinh trùng

X quang: Lúc đầu chiếu hoặc chụp phổi có thể bình thường, nhưng sau

đó xuất hiện nhanh chóng hiện tượng khí phế thũng, dần dần lồng ngực như kéo dài theo chiều thẳng đứng, vòm hoành hạ thấp xuống xương đòn nâng lên, khoảng liên sườn rộng ra, đường kính ngang của lồng ngực cũng rộng hơn bình thường Phổi quá sáng tương phản với hình ảnh rốn phổi mờ đậm

Khi có biến chứng tắc nghẽn, viêm nhiễm nặng, trên X quang có thể thấy hình ảnh rối loạn thông khí, có thể xẹp phổi hoặc có biến chứng tràn khí màng phổi [5]

1.7 Chẩn đoán hen phế quản

Chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em gặp rất nhiều khó khăn, nhất là những cơn hen ban đầu Thường chẩn đoán hen phế quản ở trẻ em phải dựa vào các yếu tố sau:

1.7.1 Chẩn đoán hen phế quản trẻ > 5 tuổi [3, 5, 6, 10, 25, 65]

Trong cơn khó thở có thể thấy:

Nhìn: Lồng ngực như bị giãn ra, các xương sườn nằm ngang, các khoang liên sườn giãn rộng

Trang 12

Gõ: Có thể thấy vang hơn bình thường.

Nghe: Phổi có rales rít, rales ngáy (trong cơn hen), rì rào phế nang giảm hoặc mất hẳn trong trường hợp nặng

Tiền sử:

Các triệu chứng trên tái đi tái lại nhiều lần thường xuất hiện vào ban đêm hoặc khi thay đổi thời tiết, sau nhiễm khuẩn hô hấp, khi gắng sức, xúc động và nếu hoặc được dùng thuốc giãn phế quản các biểu hiện trên sẽ giảm đi

Bản thân trẻ có tiền sử, cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, nổi mày đay

Có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp (bụi, khói, phấn hoa, lông xúc vật ), dị nguyên là thức ăn (tôm, cua, cá, trứng, sữa ), các hoá chất và thuốc sau đó lên cơn hen hoặc biểu hiện khò khè

Tiền sử gia đình: Có bố, mẹ, anh chị em bị hen hoặc dị ứng

Đo chức năng hô hấp

Lưu lượng đỉnh(PEF) tăng lên 15% sau khi cho trẻ hít thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh trong 15 – 20 phút hoặc

PEF thay đổi trên 20% đo vào buổi sáng ngay sau khi dùng thuốc giãn phế quản so với 12 giờ sau khi dùng thuốc hoặc

PEF giảm hơn 15% sau 6 phút đi bộ hoặc gắng sức để chẩn đoán hen phế quản ngoài ra còn phải dựa vào hai tiêu chuẩn quan trọng nữa là:

Test phục hồi phế quản: Đo chức năng thông khí rồi dùng Salbutamol dưới dạng phun hít với liều lượng 200mcg sau 20 - 30 phút tiến hành đo lại chức năng thông khí phổi

Trang 13

1.7.2 Chẩn đoán hen phế quản trẻ ≤ 5 tuổi [67].

Dựa vào lâm sàng là chính

Trong cơn khó thở có thể thấy:

Nhìn: Lồng ngực như bị giãn ra, các xương sườn nằm ngang, các khoang liên sườn giãn rộng

Gõ: Có thể thấy vang hơn bình thường

Nghe: Phổi có rales rít, rales ngáy (trong cơn hen), rì rào phế nang giảm hoặc mất hẳn trong trường hợp nặng

Tiền sử:

Các triệu chứng trên tái đi tái lại nhiều lần thường xuất hiện vào ban đêm hoặc khi thay đổi thời tiết, sau nhiễm khuẩn hô hấp, khi gắng sức, xúc động và nếu hoặc được dùng thuốc giãn phế quản các biểu hiện trên sẽ giảm đi

Bản thân trẻ có tiền sử, cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, nổi mày đay

Có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp (bụi, khói, phấn hoa, lông xúc vật ), dị nguyên là thức ăn (tôm, cua, cá,trứng, sữa ), các hoá chất và thuốc sau đó lên cơn hen hoặc biểu hiện khò khè

Tiền sử gia đình: Có bố, mẹ, anh chị em bị hen hoặc dị ứng

Trang 14

Không dựa vào đo chức năng hô hấp.

Loại trừ các bệnh khác gây khò khè:

Viêm tiểu phế quản

Xơ nang tuỵ

Thiếu alpha 1 antitrypsin

Dị vật đường thở

Hạch lao chèn ép

Các khối u trung thất

Điều trị thử

1.8 Phân bậc hen phế quản [3, 5, 25, 65].

1.8.1 Phân bậc hen theo mức độ nặng nhẹ (4 bậc)

chứng

Hạn chế hoạt động

Triệu chứng về đêm

FEV1 hoặc PEF (%

theo dự tính)

Dao động FEV hoặc PEF

Có thể ảnh hưởng đến hoạt động và giấc ngủ

Trang 15

Kiểm soát Kiểm soát một phần Không kiểm soát

Triệu chứng ban

ngày

≤ 2 lần/tuần > 2 lần/tuần

Có 3 hoặc nhiều hơn triệu chứng của kiểm soát hen 1 phần trong một tuần

phổi(FEV1)

bình thường

<80% giá trị lý thuyết

1.8.3 Phân loại mức độ kiểm soát hen ở trẻ dưới 5 tuổi theo GINA 2009 [66]

Kiểm soát một phần

Không kiểm soát

Triệu chứng ban ngày < 2 lần/ tuần > 2 lần/ tuần ≥ 3 điểm của kiểm

soát hen một phần trong bất kỳ tuần

nào

Triệu chứng ban đêm Không Bất kỳ

Nhu cầu thuốc cắt cơn 2 ngày/tuần >2 ngày/tuần

1.9 Điều trị

Để điều trị hen phế quản ở trẻ em có hiệu quả cần phân loại hen theo mức độ nặng nhẹ theo bậc để điều trị đúng

1.9.1 Điều trị hen phế quản ở trẻ dưới 5 tuổi [66, 67]

Bậc Điều trị dự phòng- Duy trì lâu

dài

Điều trị cắt cơn

Bậc 1 Không cần điều trị Thuốc giãn phế quản đường hít tác

Trang 16

Nhẹ

từng

cơn

dụng ngắn: cường β2 dạng hít hoặc ipratropium hoặc thuốc cường β2 dạng viờn, xirụ tuỳ theo triệu chứng Không quá 3 lần/tuần

Nếu cần bổ sung thêm Corticoide

đường uống hoặc tiêm với liều thấp

trong giai đoạn cấp

Thuốc giãn phế quản đường hít tác dụng ngắn: Cường β2 dạng hít hoặc Ipratropium hoặc thuốc cường β2 dạng viờn, xirụ tuỳ theo triệu chứng Không quá 3-4 lần/ngày.

1.9.2 Điều trị hen phế quản ở trẻ trên 5 tuổi [5, 10, 25, 31, 65]

Điều trị dự phòng- Duy trì lâu

Trang 17

- Thuốc giãn phế quản tác dụng

kéo dài: Cường β2 dạng hớt(cú

thể phối hợp với Corticoide dạng

- Thuốc giãn phế quản tác dụng

kéo dài: cường β2 dạng hít tác

dụng kéo dài và/hoặc theophylin

phóng thích chậm và/hoặc cường

β2 dạng uống

- Corticoide dạng uống hoặc tiêm

Thuốc giãn phế quản đường hít tác dụng ngắn: Cường β2

dạng hít

Ghi chú: cần theo dõi quá trình điều trị để quyết định giảm bậc hoặc nâng bậc Giảm bậc nếu khống chế được ổn định trong 3 tháng Nếu điều trị như trên sau 1 tháng không khống chế được thì phải xem xét nâng bậc

1.10 Giáo dục sức khoẻ [4, 5,17, 28, 29].

Chương trình khởi động toàn cầu phòng chống hen phế quản (GINA) được khởi động từ năm 1992 Mục tiêu chính của GINA là:

Trang 18

Nâng cao chất lượng dân trí, tăng cường bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về phòng chống hen, coi bệnh hen là một vấn đề quan trọng toàn cầu về sức khoẻ cộng đồng.

Đưa ra những khuyến cáo chủ yếu về chẩn đoán, phát hiện sớm bệnh hen và quản lý, giám sát bệnh hen có hiệu quả

Điều chỉnh các khuyến cáo cho phù hợp với nhu cầu của người bệnh, với các dịch vụ phòng - chống hen phù hợp với các nguồn lực của địa phương, cộng đồng

Đề xuất các lĩnh vực nghiên cứu để nâng cao chất lượng kiểm soát và quản lý hen trong tương lai tại cộng đồng trên phạm vi toàn cầu

GINA khẳng định có thể kiểm soát được bệnh hen, muốn như vậy cần phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa người bệnh, gia đình, xã hội và các thầy thuốc

Để giảm tỷ lệ cơn hen nặng, duy trì cuộc sống bình thường của trẻ điều quan trọng nhất là nhân viên y tế phải giáo dục cho trẻ và bố mẹ trẻ các vấn

Giúp trẻ tránh được các yếu tố nguy cơ gây hen:

Loại bỏ các nguyên nhân ở gia đình có thể gây cơn hen (súc vật, khói, bụi, phấn hoa )

Sắp xếp phòng ngủ đơn giản sạch sẽ

Biết sử dụng thuốc an toàn hợp lý, đúng liều, đúng cách

Biết cách sử dụng bình xịt định liều có hoặc không có buồng đệm

Trang 19

Biết phát hiện các dấu hiệu nặng của bệnh để có biện pháp xử trí kịp thời

Cần phải thông báo ngay cho thầy thuốc khi có các biểu hiện sau:

 Ho, khò khè, tức ngực > 1lần/tuần

 Thức dậy lúc nửa đêm vì có khó thở

 Trong tuần có nhiều cơn hen

 Hàng ngày phải dùng thuốc cắt cơn hen

Cần phải đến khám ngay tại cơ sở y tế nếu có một trong các biểu hiện:

 Thuốc cắt cơn không có tác dụng

 Thức dậy lúc nửa đêm vì khó thở

 Nói năng khó nhọc

 Tím tái: môi, móng tay, đầu ngón tay

 Co kéo cơ hô hấp

 Nhịp tim nhanh

 Đi lại khó khăn

1.11 Các nghiên cứu đã tiến hành:

Theo báo cáo của chương trình khảo sát quốc tế về hen và dị ứng ở trẻ

em ở 56 nước vào năm 2004 cho thấy độ lưu hành hen đã thay đổi từ 1,6% đến 36,8% Hen trẻ em gặp nhiều ở các vùng đô thị, thành phố hơn so với vùng nông thôn, ở các nước phát triển tỷ lệ mắc hen cao hơn ở nước đang phát triển Tỉ lệ hen ở trẻ em vào khoảng 1-30% tuỳ từng vùng Tỉ lệ bệnh nhân hen nhập viện khá cao: Singapore 9%, Việt Nam 26%, Philippine 27%, Trung Quốc 33% [5, 6]

Về kiến thức phòng chống hen của người dân Năm 2006 theo ARIAP (Asthma insight and Reality study – Asia Pacific): Tỉ lệ người dân Việt Nam

Trang 20

chưa biết bệnh hen có thể điều trị, khống chế được chiếm 88%, tự mua thuốc điều trị hoặc mua thuốc theo đơn cũ 43%, không điều trị dự phòng 89% [6].

Khi tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi của bố mẹ bệnh nhi hen tại khoa nhi bệnh viện trung tâm Maputo (Mozambique) Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu 152 cha, mẹ bệnh nhân bị bệnh hen phế quản đến khám, chữa bệnh tại khoa nhi bệnh viện trung tâm Maputo (Mozambique) Kết quả cho thấy kiến thức về hen rất nghèo nàn, 11% cha mẹ bệnh nhân nghĩ rằng bệnh hen là bệnh truyền nhiễm, 4% nghĩ rằng bệnh lây truyền bởi thức ăn ô nhiễm, hơn một nửa bố, mẹ bệnh nhân nghĩ rằng trẻ không thể làm chủ cuộc sống bình thường thậm chí trong những khoảng thời gian ngoài cơn, một số không có nhận thức đúng về cơn hen phế quản, việc sử dụng thuốc còn thiếu hiểu biết, phần lớn cha mẹ bệnh nhân nghĩ rằng hen có thể chữa được bằng điều trị nội khoa [54]

Năm 2003 Lai CK tiến hành nghiên cứu tình hình bệnh hen ở 3207 trẻ

em mắc hen tại các nước thuộc Châu Á Thái Bình dương trong đó có Việt Nam Số liệu cho thấy có tới 44,3% trẻ bị hen phải thức dậy vào ban đêm vì khó thở, tỉ lệ cơn hen phải nhập viện khá cao 2/5 cơn, tỉ lệ sử dụng corticoide dạng hít là 13,6%, sử dụng thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh là 56,3% và

có 36,5% trẻ phải nghỉ học trong năm vì hen Kết quả cho thấy tình hình kiểm soát hen tại khu vực này còn đang ở mức thấp [51]

Về mục tiêu thứ 6 quản lý lâu dài bệnh hen phế quản sao cho chức năng phổi được gần như bình thường Nghiên cứu của ARIAP cho thấy bệnh nhân hen phế quản chưa được theo dõi và quản lý đúng mức 88% bệnh nhân hen không biết rằng tình trạng bệnh của họ có thể kiểm soát được, 90% người được hỏi không hề sử dụng corticosteroid hít - một dạng điều trị phòng ngừa hen rất hiệu quả [45, 50, 60]

Trang 21

Arlene Butz đã tiến hành một nghiên cứu từ tháng 8/2001 đến tháng 8/

2003 tại Marylyn được thực hiện ở 188 bố, mẹ bệnh nhi, bệnh nhi và người chăm sóc trẻ nhằm đánh giá hiệu quả của biện pháp tham vấn sức khoẻ về bệnh hen phế quản và nâng cao chất lượng cuộc sống của các gia đình có trẻ

bị hen Kết quả cho thấy việc giáo dục sức khoẻ về hen phế quản đã nâng cao kiến thức về hen phế quản cho cả cha mẹ và bản thân trẻ.[41]

Năm 2008 tại Singapore, Prabhakaran L và cộng sự tiến hành nghiên cứu ở 67 bố, mẹ bệnh nhân hen với mục tiêu đánh giá hiệu quả của chương trình giáo dục hen tại bệnh viện Kết quả cho thấy trước tư vấn tỷ lệ bố mẹ bệnh nhi có khái niệm đúng về bệnh hen phế quản là 89.7%, sau tư vấn là 95.6%, trước tư vấn tỷ lệ bố mẹ bệnh nhi nhận biết các dấu hiệu của bệnh hen chỉ là 72.05% nhưng sau tư vấn tỷ lệ bố mẹ bệnh nhi biết được các dấu hiệu của bệnh hen là 97% với p < 0.001 [58]

Tại Việt Nam, năm 2008 qua khảo sát 100 trường hợp trẻ bị suyễn nằm viện tại khoa hô hấp 2 bệnh viện nhi đồng 2 từ tháng 2/2008 đến 8/2008 kết quả thu được: Thân nhân bệnh nhi suyễn có kiến thức đúng 27%, thái độ đúng 95%, và thực hành đúng là 62,5% [17]

Qua khảo sát ở 78 trường hợp bệnh nhân, Hà Tấn Đức nhận thấy kỹ thuật sử dụng bình thuốc định liều (metered – dose inhale: MDI) đạt yêu cầu còn thấp (53,8%) không có trường hợp nào theo dõi bệnh bằng lưu lượng đỉnh

kế tại nhà và những bệnh nhân đã từng nghe tuyên truyền về bệnh hen thì có mức độ hiểu biết cao hơn nhóm chưa từng được nghe (72,5% so với 47,3% với p <0.05)

Năm 2003 Hội hen Dị ứng-Miễn dịch lâm sàng, khoa Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai và Bộ môn Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng trường Đại học Y Hà Nội phối hợp triển khai chương trình khởi động toàn cầu về phòng và chống hen phế quản theo GINA-2002, tổ chức ngày hen toàn

Trang 22

cầu hàng năm Một số câu lạc bộ, phòng tư vấn hen phế quản ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh được thành lập và hoạt động Việc điều tra dịch tễ học hen phế quản cũng đã được một số bệnh viện và cơ sở y tế tiến hành nhưng chưa được tập trung vì vậy chưa có số liệu đầy đủ và chính xác về độ lưu hành hen

ở Việt Nam nhất là số liệu về hen ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi Tại thành phố Hồ Chí Minh số liệu của bệnh viện Nhi đồng I là 29,1%, của Sở y tế Hà Nội là 13,9%

ở trẻ từ 5-11 tuổi [6] Các nghiên cứu về kiến thức và hiệu quả của các can thiệp nhằm mục tiêu hướng tới quản lý hen tốt tại cộng đồng cũng đang được tiến hành

Năm 2004 Bộ Y tế Việt Nam triển khai dự án phòng chống hen phế quản với 7 mục tiêu trong đó có mục tiêu:

- Nâng cao kiến thức về phòng chống hen phế quản trong nhân dân (tuyên truyền và giáo dục sức khỏe)

- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về lĩnh vực kiểm soát dự phòng và điều trị hen phế quản

Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Trang 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng: 92 bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen phế quản đến khám và điều trị tại khoa hô hấp nhi bệnh viện SaintPault từ tháng 3/2010 đến tháng 9 /2010

2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:

Bệnh nhân đến khám và điều trị khoa hô hấp nhi bệnh viện SainPault được chẩn đoán bị hen phế quản theo tiêu chuẩn của GINA (trẻ ≤ 5 Tuổi chẩn đoán hen theo tiêu chuẩn GINA 2009, trẻ > 5 tuổi chẩn đoán hen theo tiêu chuẩn GINA 2006)

Bố, mẹ bệnh nhân có con bị hen đến khám và điều trị tại khoa hô hấp nhi bệnh viện SaintPault

Bố, mẹ bệnh nhân có con bị hen, bệnh nhi hen đồng ý tham gia vào nghiên cứu

* Tiêu chuẩn chẩn đoán hen phế quản đối với trẻ > 5 tuổi

Trong cơn khó thở có thể thấy:

Nhìn: Lồng ngực như bị giãn ra, các xương sườn nằm ngang, các khoang liên sườn giãn rộng

Gõ: Có thể thấy vang hơn bình thường

Nghe: Phổi có rales rít, rales ngáy (trong cơn hen), rì rào phế nang giảm hoặc mất hẳn trong trường hợp nặng

 Tiền sử:

Trang 24

Các triệu chứng trên tái đi tái lại nhiều lần thường xuất hiện vào ban đêm hoặc khi thay đổi thời tiết, sau nhiễm khuẩn hô hấp, gắng sức, xúc động, nếu được dùng thuốc giãn phế quản các biểu hiện trên sẽ giảm đi.

Bản thân trẻ có tiền sử: cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, nổi mày đay

Có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp (bụi, khói, phấn hoa, lông xúc vật ) dị nguyên là thức ăn (tôm, cua, cá,trứng, sữa ) các hoá chất và thuốc sau đó lên cơn hen hoặc biểu hiện khò khè

 Tiền sử gia đình: Có bố, mẹ, anh chị em bị hen hoặc dị ứng

 Đo chức năng hô hấp

 PEF giảm hơn 15% sau 6 phút đi bộ hoặc gắng sức

để chẩn đoán hen phế quản ngoài ra còn phải dựa vào hai tiêu chuẩn quan trọng nữa là:

 Test phục hồi phế quản: Đo chức năng thông khí rồi dùng salbutamol dưới dạng phun hít với liều lượng 200mcg sau 20 -30 phút tiến hành đo lại chức năng thông khí phổi

Đo sức cản đường thở

Đo sức cản đường thở lần 1 sau đó cho bệnh nhân làm test phục hồi phế quản nghiệm pháp dương tính khi sức cản đường thở giảm 25 – 30%.[23, 38]

* Tiêu chuẩn chẩn đoán hen phế quản đối với trẻ ≤ 5 tuổi (GINA 2009) [67].

 Triệu chứng lâm sàng:(chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và tiền sử)

Trang 25

Khò khè

Khó thở

Nặng ngực (trẻ lớn)

Trong cơn khó thở có thể thấy:

Nhìn: Lồng ngực như bị giãn ra, các xương sườn nằm ngang, các khoang liên sườn giãn rộng

Gõ: Có thể thấy vang hơn bình thường

Nghe: Phổi có rales rít, rales ngáy (trong cơn hen), RRFN giảm hoặc mất hẳn trong trường hợp nặng

 Tiền sử:

Các triệu chứng trên tái đi tái lại nhiều lần thường xuất hiện vào ban đêm hoặc khi thay đổi thời tiết, sau nhiễm khuẩn hô hấp, gắng sức, xúc động

và nếu được dùng thuốc giãn phế quản các biểu hiện trên sẽ giảm đi

Bản thân trẻ có tiền sử: cơ địa dị ứng như chàm thể tạng, viêm mũi dị ứng, nổi mày đay

Có tiền sử tiếp xúc với các dị nguyên hô hấp (bụi, khói, phấn hoa, lông xúc vật ), dị nguyên là thức ăn (tôm, cua, cá,trứng, sữa ), các hoá chất và thuốc sau đó lên cơn hen hoặc biểu hiện khò khè

 Tiền sử gia đình: Có bố, mẹ, anh chị em bị hen hoặc dị ứng

 Điều trị thử

2.1.1.2 Tiêu chí loại trừ:

Bố, mẹ bệnh nhân không hợp tác

Bệnh nhân bị hen và gia đình không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.1.2 Phân loại mức độ bệnh nặng nhẹ của bệnh hen phế quản

2.1.2.1 Phân loại mức độ nặng nhẹ của bệnh hen phế quản ở trẻ > 5 tuổi

Bậc Triệu Hạn chế hoạt Triệu FEV1 Dao động

Trang 26

chứng động chứng về

đêm

hoặc PEF (%

theo dự tính)

FEV hoặc PEF

2.1.2.1 Phân loại mức độ nặng nhẹ của bệnh hen phế quản ở trẻ ≤ 5 tuổi

Theo tiêu chuẩn của chương trình chống hen Australia ( National Asthma Council Australia - NAC) năm 2006 [57] chia làm 3 mức độ:

 Hen ngắt quãng không thường xuyên:

Trên 6 - 8 tuần mới có một đợt bùng phátGiữa các đợt trẻ hoàn toàn bình thườngĐợt bùng phát kéo dài 1 - 2 ngày

 Hen ngắt quãng thường xuyên:

Dưới 6 - 8 tuần có một đợt bùng phát

Có rất ít các triệu chứng giữa các đợt bùng phát

Mức độ nặng của cơn hen cũng thay đổi tùy theo bệnh

 Hen dai dẳng:

Trang 27

Triệu chứng có ở hầu hết các ngày, triệu chứng bao gồm: Bị thức giấc do ho, khò khè hoặc khó thở.

Ảnh hưởng tới giấc ngủ và hoạt động thể lực

Các đợt bùng phát rất hay xảy ra

Mức độ nặng đợt bùng phát khác nhau, tùy từng bệnh nhân

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.3.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010

2.1.3.2 Địa điểm nghiên cứu

Khoa hô hấp nhi bệnh viện Saintpaul

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu can thiệp so sánh trước sau

2.2.2.Cỡ mẫu:

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu can thiệp:

2 1

2

p p

Trang 28

2 2

2

2

2 2

2 1

Theo tính toán khi bắt đầu tiến hành nghiên cứu số lượng mẫu cần thiết

là 68, cộng thêm 22(~ 30%) bố, mẹ bệnh nhi và bệnh nhi hen có thể bỏ trong quá trình nghiên cứu Như vậy cỡ mẫu được lựa chọn khi tiến hành nghiên cứu là 90 bố, mẹ bệnh nhi và bệnh nhi hen phế quản

2.2.3 Tiến hành nghiên cứu:

2.2.3.1 Cách tiến hành nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành 2 lần:

Lần 1: Khi bố, mẹ đưa trẻ đến khám và điều trị lần đầu tại khoa hô hấp nhi bệnh viện Saintpault (trước tư vấn)

 Tiến hành phỏng vấn trực tiếp bố, mẹ bệnh nhi theo bộ câu hỏi

có sẵn (phụ lục 1)

 Quan sát viên quan sát đánh giá bố, mẹ bệnh nhi thực hành xịt thuốc cho trẻ theo bảng kiểm (phụ lục 2)

Trang 29

 Tư vấn cho bố, mẹ bệnh nhi kiến thức về bệnh hen, cách điều trị

 Tiến hành phỏng vấn lần 2 theo bộ câu hỏi có sẵn (phụ lục 1)

 Quan sát và đánh giá bố, mẹ bệnh nhi xịt thuốc cho trẻ theo bảng kiểm giống như lần

 Tiếp tục tư vấn, hướng dẫn cho bố, mẹ bệnh nhi kiến thức về bệnh hen, cách điều trị và dự phòng, sử dụng thuốc nếu phát hiện đối tượng nghiên cứu chưa hiểu và thực hành đúng

2.2.3.2 Nội dung nghiên cứu

 Thông tin chung:

 Họ tên trẻ: (ghi đầy đủ họ tên)

 Ngày tháng năm sinh (tính theo lịch dương và theo giấy khai sinh)

 Tuổi: Trẻ trên 1 tuổi ghi số tuổi, trẻ dưới 1 tuổi ghi số tháng

 Số con hiện có trong gia đình

 Nguồn thông tin về bệnh hen phế quản

 Tiền sử gia đình

Trang 30

 Số lần bị ho, khò khè của trẻ trong vòng 12 tháng gần đây.

 Trẻ được chẩn đoán hen ở đâu

 Tìm hiểu kiến thức của bố, mẹ bệnh nhi bị bệnh hen về bệnh hen phế quản, cách điều trị và dự phòng hen

Kiến thức của bố, mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản:

 Định nghĩa về bệnh hen

 Các yếu tố làm bùng phát cơn hen

 Các biểu hiện của bệnh hen phế quản

Kiến thức của bố, mẹ bệnh nhi về cách điều trị bệnh hen phế quản:

 Hen phế quản có thể kiểm soát được

 Thuốc cần dùng để điều trị cắt cơn hen

 Thời gian điều trị thuốc cắt cơn

Kiến thức của bố, mẹ bệnh nhi về phòng bệnh hen phế quản:

 Hen có thể dự phòng

 Để phòng hen thì phải làm gì

 Kể được tên thuốc phòng hen

 Thuốc phòng hen được dùng khi nào

Tất cả các câu trả lời của bố, mẹ bệnh nhi được khoanh tròn trước mỗi câu trả lời và được cho điểm theo bảng điểm đã cho sẵn (phụ lục 3)

 Đánh giá thực hành của bố mẹ bệnh nhi:

 Đối chiếu giữa câu trả lời của bố, mẹ bệnh nhi với sổ khám và theo dõi bệnh của trẻ mang theo và sổ theo dõi và điều trị hen tại khoa về bậc hen, dự phòng đều và khám lại đúng hen, thuốc trẻ đang dự phòng

 Quan sát bố mẹ bệnh nhi xịt thuốc cho trẻ, đánh giá theo bảng kiểm (phụ lục 2)

Trang 31

2.2.3.3 Nội dung tư vấn về kiến thức, cách điều trị, dự phòng hen phế quản và hướng dẫn thực hành xịt thuốc cho bố, mẹ bệnh nhi.

 Giải thích bệnh hen (định nghĩa về bệnh hen) nhấn mạnh hen là một bệnh viêm mạn tính của đường thở

 Nêu các yếu tố làm xuất hiện cơn hen:

 Nhiễm khuẩn đường hô hấp

 Do dị ứng (dị ứng với khói, bụi, phấn hoa, thức ăn )

 Do thay đổi thời tiết

 Không xảy ra hoặc xảy ra ít nhất những biểu hiện của hen

 Không phải nhập viện và cấp cứu vì hen

 Chức năng phổi gần như bình thường

 Không phải dùng thuốc cắt cơn hoặc rất ít khi phải dùng thuốc này

 Trẻ có cuộc sống bình thường

 Không có tác dụng phụ của thuốc

Trang 32

 Tránh các yếu tố làm bùng phát cơn hen (vệ sinh mũi họng, giữ

ấm cho trẻ, điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tránh các yếu tố gây dị ứng )

 Sử dụng thuốc dự phòng hen hằng ngày đối với những trẻ hen bậc 2 trở lên

 Khám định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ

 Giải thích cho bố mẹ của trẻ về bậc hen của con họ

 Giải thích sự cần thiết có sổ khám và theo dõi dự

phòng hen cho trẻ

 Hướng dẫn bố, mẹ trẻ cách xịt thuốc cho trẻ

CÁCH SỬ DỤNG BUỒNG ĐỆM ĐỂ XỊT THUỐC

Trang 33

2.3 Phương pháp thu thập số liệu và phương pháp đánh giá

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp bố mẹ bệnh nhân để đánh giá kiến thức về bệnh, kiến thức về điều trị và dự phòng bệnh hen phế quản

Kiểm tra sổ y bạ, sổ theo dõi dự phòng hen của khoa

Quan sát bố, mẹ bệnh nhân xịt thuốc cắt cơn hoặc thuốc dự phòng hen đánh giá theo bảng kiểm

2.3.2 phương pháp đánh giá

 Đánh giá kiến thức cho điểm dự vào số câu trả lời

đúng theo thang điểm có sẵn (phục lục 3) Tổng số điểm là 10, sau đó chia mức độ hiểu biết chung về bệnh hen phế quản thành 4 mức độ:

Trang 34

 Phần 2: Đánh giá kỹ năng xịt thuốc cắt cơn và thuốc dự phòng theo bảng kiểm có sẵn (phụ lục2) chia làm 2 mức độ: Đúng, chưa đúng.Đúng: Thực hiện đủ, đúng cả 4 bước xịt thuốc đối với bình định liều không có buồng đệm, thực hiện đủ, đúng 3 bước xịt thuốc đối với bình xịt có buồng đệm.

Chưa đúng: Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng bất kỳ một bước nào khi xịt thuốc

2.4 Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi (phụ lục 1)

Bảng kiểm (phụ lục2)

Thang điểm (phụ lục3)

2.5 Kiểm soát sai lệch:

Tập huấn trước khi tiến hành thu thập số liệu

Phỏng vấn thử trước khi tiến hành thu thập số liệu: 10 trường hợp

Trang 35

2.6 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Epi info 6.04

Theo thuật toán thống kê y học: %, khi bình phương của McNemar

2.7 Khía cạnh đạo đức nghiên cứu

Giải thích mục đích và cách tiến hành nghiên cứu cho từng đối tượng đạt tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi cho đối tượng nghiên cứu được biết

2.8 Tính khả thi của đề tài

- Khoa hô hấp nhi – Bệnh viện Saintpaut là chuyên khoa đầu ngành của thành phố Hà Nội, khoa có phòng đo chức năng hô hấp, có các bác sĩ có kinh nghiệm trong việc chẩn đoán và điều trị hen, có số lượng bệnh nhân đến khám

và điều trị đông, trung bình một ngày có 5 – 10 bệnh nhân hen đến khám và điều trị

- Đề tài được sự đồng ý của khoa hô hấp nhi Bệnh viện Saintpault

Ngày đăng: 13/01/2015, 16:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Tiền sử hen, dị ứng của gia đình bệnh nhân - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.2 Tiền sử hen, dị ứng của gia đình bệnh nhân (Trang 37)
Bảng 3.6: Nghề nghiệp của bố mẹ bệnh nhi - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.6 Nghề nghiệp của bố mẹ bệnh nhi (Trang 39)
Bảng 3.8: Kiến thức của  bố mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.8 Kiến thức của bố mẹ bệnh nhi về bệnh hen phế quản (Trang 40)
Bảng 3.9: Kiến thức của bố mẹ bệnh nhi về điều trị hen phế quản - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.9 Kiến thức của bố mẹ bệnh nhi về điều trị hen phế quản (Trang 40)
Bảng 3.10:  Kiến thức của bố mẹ bệnh nhi về cách phòng hen - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.10 Kiến thức của bố mẹ bệnh nhi về cách phòng hen (Trang 42)
Bảng 3.12: Thực hành của bố mẹ bệnh nhi về cách phòng bệnh hen cho trẻ   trước và sau tư vấn - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.12 Thực hành của bố mẹ bệnh nhi về cách phòng bệnh hen cho trẻ trước và sau tư vấn (Trang 44)
Bảng 3.13: Phương pháp xịt thuốc cho trẻ - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.13 Phương pháp xịt thuốc cho trẻ (Trang 45)
Bảng 3.14: Kỹ năng thực hành xịt thuốc đối với bình định liều của bố mẹ   bệnh nhi - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.14 Kỹ năng thực hành xịt thuốc đối với bình định liều của bố mẹ bệnh nhi (Trang 45)
Bảng 3.17: Trình độ học vấn với điểm thực hành trước và sau tư vấn - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.17 Trình độ học vấn với điểm thực hành trước và sau tư vấn (Trang 47)
Bảng 3.16: Phân bố điểm thực hành của bố, mẹ bệnh nhi trước và sau tư vấn. - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.16 Phân bố điểm thực hành của bố, mẹ bệnh nhi trước và sau tư vấn (Trang 47)
Bảng 3.18:  Liên quan giữa kiến thức và thực hành trước và sau tư vấn - đánh giá kiến thức, thực hành của bệnh nhi và bố, mẹ bệnh nhi trong điều trị dự phòng hen phế quản ở
Bảng 3.18 Liên quan giữa kiến thức và thực hành trước và sau tư vấn (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w