3 ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn mắc phải liên quan đến chăm sóc y tế đang đƣợc mọi quốc gia đƣa thành mục tiêu ƣu tiên hàng đầu trong các mục tiêu y tế ngắn hạn và chiến lƣợc dài hạn. Trƣớc tình hình có nhiều biến đổi khó lƣờng về các tác nhân gây bệnh cũ chuyển thành phƣơng thức lây truyền mới, mức độ nguy hiểm của các nhiễm khuẩn mắc phải tại các cơ sở y tế ngày càng gây hậu quả nặng nề cho ngƣời bệnh và xã hội. BộY tế đã ban hành thông tƣ 182009TTBYT ngày 14102009 để hƣớng dẫn thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế. Chƣơng đầu tiên, điều đầu tiên đƣợc nêu về kỹ thuật chuyên môn Kiểm soát nhiễm khuẩn là “vệ sinh tay”.. Nhiểm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả nặng nề, làm kéo dài thời gian điều trị, tăng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ. Đặc biệt nó làm gia tăng sự kháng thuốc của các dòng vi khuẩn và là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong. Nguyên nhân gây Nhiểm khuẩn bệnh viện mắc phải thƣờng do môi trƣờng không đảm bảo, công tác cách ly những bệnh nhân có nguy cơ lây nhiễm không triệt để, đặc biệt trong quá trình thăm khám, chăm sóc và điều trị ngƣời bệnh không đảm bảo vô khuẩn, trong đó yếu tố nguy cơ cao là bàn tay nhân viên không đảm bảo vô khuẩn do việc tuân thủ quy trình vệ sinh bàn tay còn hạn chế. Tổ chức y tế thế giới (WHO) ƣớc t ính ở bất cứ thời điểm nào trên thế giới cũng có trên 1.4 triệu ngƣời mắc Nhiểm khuẩn bệnh viện. ở các nƣớc phát triển , Nhiểm khuẩn bệnh viện nói chung đƣợc ghi nhận từ 510%. Nhiểm khuẩn bệnh viện thƣờng xảy ra ở các khoa có nhiều bệnh nhân nặng, bệnh nhân phải chăm sóc đặc biệt, bệnh nhân phải chịu nhiều thủ thuật can thiệp nhƣ hồi sức cấp 4 Tóm lại bàn tay là phƣơng tiện quan trọng làm lan truyền Nhiểm khuẩn bện viện. Rửa tay sẽ loại bỏ hầu hết các vi khuẩn có mặt ở bàn tay,do đó, có tác dụng ngăn ngừa lan truyền mầm bệnh từ ngƣời bệnh này sang ngƣời bệnh khác , từ ngƣời bệnh sang dụng cụ và nhân viên y tế, từ vị trí này sang vị trí khác trên cùng một ngƣời bệnh và từ nhân viên y tế sang ngƣời bệnh . Rửa tay là một biện pháp đơn giản và hiệu quả trong phòng chống Nhiểm khuẩn bệnh viện. Rửa tay cũng là một biện pháp hữu ích nhằm đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế (NVYT) trong thực hành chăm sóc và điều trị ngƣời bệnh. Vệ sinh bàn tay ở NVYT là cần thiết trong phòng chống và kiểm soát Nhiểm khuẩn bệnh viện. Theo Cục Y tế dự phòng chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy. Nếu thực hiện tốt quy trình rửa tay có thể giảm 50% các Nhiểm khuẩn bệnh viện. Ở Việt Nam theo kết quả điều tra của Bộ y tế về sự tuân thủ các thực hành chống nhiễm khuẩn tại các bệnh viện trung ƣơng năm 2003 cho thấy tỷ lệ rửa tay trƣớc khi vào hoặc ra khỏi buồng bệnh là 17,1%, trƣớc khi khám hoặc đụng chạm vào ngƣời bệnh là 6,1%: Khi chuyển công việc chăm sóc từ ngƣời bệnh (NB) này sang NB kia là 13,4%. Bệnh viện trung ƣơng Huế Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện cũng là một trong những nội dung đƣợc lãnh đạo bệnh viện hết sức chú trọng. Đầu tƣ cho các hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn, trực tiếp và vệ sinh tay thực chất là đầu tƣ cho nâng cao chất lƣợng các dịch vụ y tế, an toàn chất lƣợng ngày càng cao. Ngoài đầu tƣ nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và kinh phí cho khám chữa bệnh. Việc tăng cƣờng kiểm soát các hành vi có liên quan đến NKBV ngày càng đƣợc quan tâm, đến nay chƣa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng về kiến thức, thực hành của NVYT về vệ sinh bàn tay. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH TUÂN THỦ VỆ SINH BÀN TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI KHOA NGOẠI TIÊU HÓA BỆNH VIỆN TRUNG ƢƠNG HUẾ”nhằm MỤC TIÊU: 1. Đánh giá kiến thức vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế tại khoa ngoại tiêu hóa bện viện trung ƣơng Huế 2. Xác định tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế tại khoa ngoại tiêu hóa bệnh viện trung ƣơng Huế
Trang 1TRUNG ƯƠNG HUẾ
Họ tên giáo viên hướng dẫn:Ths, BS Trần Đình Hậu
Họ và tên học viên: PHẠM VŨ THÚY HẰNG
Trang 2Được sự quan tâm giúp đỡ của bộ môn Điều dưỡng Trường Đại học
Y Dược Huế, sự tận tình hướng dẫn của giáo viên và sự giúp đỡ nhiệt tình
của khoa Ngoại tiêu hóa Bệnh viện Trung ương Huế, đề tài được tiến hành
và hoàn thành tốt đẹp Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Bộ môn Điều dưỡng trường Đại học Y Dược Huế
- Thầy giáo hướng dẫn: ThS.BS Trần đình Hậu giảng viên bộ môn Điều dưỡng Trường Đại học Y Dược Huế
Nếu không có sự giúp đỡ quý báu đó, tiểu luận này khó được hoàn thành
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, song với năng lực bản thân và thời gian có hạn, hơn nữa đây là lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu
khoa học nên tiểu luận tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu sót
Tôi rất mong được tiếp nhận những ý kiến đánh giá, bổ sung của quý Thầy
Cô giáo và các bạn để tiểu luận được tốt hơn
Sinh viên PHẠM VŨ THÚY HẰNG
Trang 3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn mắc phải liên quan đến chăm sóc y tế đang được mọi
quốc gia đưa thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu y tế ngắn
hạn và chiến lược dài hạn Trước tình hình có nhiều biến đổi khó lường về
các tác nhân gây bệnh cũ chuyển thành phương thức lây truyền mới, mức
độ nguy hiểm của các nhiễm khuẩn mắc phải tại các cơ sở y tế ngày càng
gây hậu quả nặng nề cho người bệnh và xã hội BộY tế đã ban hành thông
tư 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 để hướng dẫn thực hành kiểm soát
nhiễm khuẩn trong các cơ sở y tế Chương đầu tiên, điều đầu tiên được nêu
về kỹ thuật chuyên môn Kiểm soát nhiễm khuẩn là “vệ sinh tay”
thời gian điều trị, tăng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ Đặc biệt nó làm gia
tăng sự kháng thuốc của các dòng vi khuẩn và là nguyên nhân quan trọng
dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong Nguyên nhân gây Nhiểm khuẩn bệnh viện mắc
phải thường do môi trường không đảm bảo, công tác cách ly những bệnh
nhân có nguy cơ lây nhiễm không triệt để, đặc biệt trong quá trình thăm
khám, chăm sóc và điều trị người bệnh không đảm bảo vô khuẩn, trong đó
yếu tố nguy cơ cao là bàn tay nhân viên không đảm bảo vô khuẩn do việc
tuân thủ quy trình vệ sinh bàn tay còn hạn chế Tổ chức y tế thế giới
(WHO) ước t ính ở bất cứ thời điểm nào trên thế giới cũng có trên 1.4 triệu
người mắc Nhiểm khuẩn bệnh viện ở các nước phát triển , Nhiểm khuẩn
bệnh viện nói chung được ghi nhận từ 5-10% Nhiểm khuẩn bệnh viện
thường xảy ra ở các khoa có nhiều bệnh nhân nặng, bệnh nhân phải chăm
sóc đặc biệt, bệnh nhân phải chịu nhiều thủ thuật can thiệp như hồi sức cấp
cứu, sơ sinh, ngoại
Trang 4
Tóm lại bàn tay là phương tiện quan trọng làm lan truyền Nhiểm khuẩn
bện viện Rửa tay sẽ loại bỏ hầu hết các vi khuẩn có mặt ở bàn tay,do đó, có
tác dụng ngăn ngừa lan truyền mầm bệnh từ người bệnh này sang người
bệnh khác , từ người bệnh sang dụng cụ và nhân viên y tế, từ vị trí này sang
vị trí khác trên cùng một người bệnh và từ nhân viên y tế sang người bệnh
Rửa tay là một biện pháp đơn giản và hiệu quả trong phòng chống Nhiểm
khuẩn bệnh viện Rửa tay cũng là một biện pháp hữu ích nhằm đảm bảo an
toàn cho nhân viên y tế (NVYT) trong thực hành chăm sóc và điều trị người
bệnh Vệ sinh bàn tay ở NVYT là cần thiết trong phòng chống và kiểm soát
Nhiểm khuẩn bệnh viện
Theo Cục Y tế dự phòng chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm
tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy Nếu thực hiện tốt
quy trình rửa tay có thể giảm 50% các Nhiểm khuẩn bệnh viện
Ở Việt Nam theo kết quả điều tra của Bộ y tế về sự tuân thủ các thực
hành chống nhiễm khuẩn tại các bệnh viện trung ương năm 2003 cho thấy
tỷ lệ rửa tay trước khi vào hoặc ra khỏi buồng bệnh là 17,1%, trước khi
khám hoặc đụng chạm vào người bệnh là 6,1%: Khi chuyển công việc chăm
sóc từ người bệnh (NB) này sang NB kia là 13,4%
Bệnh viện trung ương Huế Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện
cũng là một trong những nội dung được lãnh đạo bệnh viện hết sức chú
trọng Đầu tư cho các hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn, trực tiếp và vệ sinh
tay thực chất là đầu tư cho nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế, an toàn
chất lượng ngày càng cao Ngoài đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết
bị và kinh phí cho khám chữa bệnh Việc tăng cường kiểm soát các hành vi
có liên quan đến NKBV ngày càng được quan tâm, đến nay chưa có nghiên
Trang 5cứu nào đánh giá thực trạng về kiến thức, thực hành của NVYT về vệ
sinh bàn tay Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH TUÂN THỦ VỆ SINH BÀN TAY
CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI KHOA NGOẠI TIÊU HÓA BỆNH VIỆN TRUNG
ƢƠNG HUẾ”nhằm MỤC TIÊU:
ngoại tiêu hóa bện viện trung ƣơng Huế
khoa ngoại tiêu hóa bệnh viện trung ƣơng Huế
Trang 6
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I Vai trò của vệ sinh bàn tay trong phòng chống nhiễm khuẩn bệnh
viện
1.1 Lịch sử vệ sinh bàn tay trong phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện
Năm 1846, bằng phương pháp thống kê và giám sát dịch tễ học tại bệnh
viên đa khoa thành phố viên Ignaz Semmelweis, một bác sỹ sản khoa
người Hung-ga-ry thấy các sản phụ do sinh viên và bác sỹ đỡ đẻ có tỷ lệ tử
vong cao hơn các sản phụ do các nữ hộ sinh đỡ đẻ Ông nhận thấy các thầy
thuốc đi thẳng từ phòng mổ tử thi tới nhà hộ sinh có mùi khó chịu bốc ra từ
bàn tay mặc dù đã rửa tay bằng nước và xà phòng và rút ra kết luận là sốt
hậu sản ở rất nhiều sản phụ là do" các tiểu phần chêt" truyền từ phòng mổ
tử thi sang nhà hộ sinh qua bàn tay của sinh viên và bác sỹ Từ nhận xét
này, năm 1847 ông đã đưa ra chính sách rửa tay bắt buộc bằng dung dịch
clorin khi nhân viên y tế đỡ đẻ Nhờ đó tỷ lệ tử vong do sốt hậu sản giảm từ
18,3% vào tháng 4/1847 xuống 2,2% vào tháng 6/1847[6] Can thiệp của
Semmelweis lần đầu tiên chứng minh khử khuẩn bàn tay bị ô nhiễm bằng
một dung dịch khử khuẩn giữa các lần tiếp súc với bệnh nhân có thể làm
giảm lan truyền các bệnh nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc và điều trị
hơn là rửa tay bằng nước và xà phòng thường
Nhờ kết quả nghiên cứu của semmelweis, rửa tay dần trở nên được
chấp nhận như một biện pháp quan trọng nhất trong phòng ngừa lây truyền
các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện
Trong nửa thế kỷ qua, tại các nước phát triển rửa tay và khử khuẩn
bàn tay luôn được coi là biện pháp vệ sinh quan trọng nhất trong phòng
Trang 7chống nhiễm khuẩn bệnh viện Nhờ vậy, cùng với sự phát triển của công tác
phòng chống nhiễm khuẩn trong bệnh viện, các quy định về thực hành vệ
sinh bàn tay cũng ngày càng hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu thực tế
Năm 2002, CDC Hoa kỳ yêu cầu các bệnh viện trên toàn nước Mỹ
khuyến khích NVYT khử khuẩn tay bằng cồn trong mọi thao tác chăm sóc,
điều trị người bệnh
Trong khoảng 20 năm gần đây, tại hầu hết các bệnh viện thuộc châu
âu, NVYT được khuyến cáo rửa tay bằng xà phòng trung tính hoặc khử
khuẩn tay bằng cồn trong thời gian 30 giây
1.2.Các phổ vi khuẩn thường có trên da bàn tay nhân viên y tế
Trên da cơ thể người luôn có các vi khuẩn định cư Da ở những khu
vực khác nhau của cơ thể có lượng vi khuẩn hiếu khí định cư khác nhau
đến 4,6x106
bàn tay thành 2 nhóm: Vi khuẩn vãng lai và Vi khuẩn định cư [8]
1.2.1.Vi khuẩn định cư
Nhóm vi khuẩn này gồm:
- Các cầu khuẩn Gram (+):
- Các khuẩn Gram (-):
Phần lớn các vi khuẩn định cư có độc lực thấp, ít có khả năng gây
nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm nhập vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn
như phẫu thuật, đặt catheter tĩnh mạch [6]
Phổ vi khuẩn định cư cư trú ở lớp sâu của da Thông thường , việc sử
dụng các biện pháp cơ học (rửa tay với nước và xà phòng thường) khó loại
bỏ được hoàn toàn các vi khuẩn này ra khỏi bàn tay Do vậy, trước khi thực
Trang 8hiện các thủ thuật xâm lấn đặc biệt là trước khi phẫu thuật, NVYT cần
VSBT bằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc chlorhexidine với thời gian
trên 3 phút nhằm loại bỏ các vi khuẩn này
1.2.2.Vi khuẩn vãng lai
Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi bàn tay bị ô nhiễm
từ bệnh nhân hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh viện (chăn, ga,
giường,dụng cụ phương tiện phục vụ người bệnh) trong quá trình chăm sóc
và điều trị Các vi khuẩn vãng lai không có khả năng tự nhân lên nên không
tồn tại lâu trên da và có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩn này bằng biện pháp
vệ sinh bàn tay thường quy (với nước và xà phòng thường hoặc trà sát tay
bằng dung dịch VSBT có cồn) [8]
Phổ vi khuẩn vãng lai gồm mọi vi sinh vật có mặt trong môi trường
bệnh viện (Vi khuẩn,Vi rút,Ký sinh trùng ,Nấm) và là thủ phạm chính gây
Nhiểm khuẩn bệnh viện Do vậy, vệ sinh bàn tay trước và sau khi tiếp xúc
với mỗi NB là biện pháp đơn giản và quan trọng nhất trong phòng chống
nhiểm khuẩn bệnh viện
Bàn tay khi tiếp xúc với bất kỳ bề mặt môi trường nào cũng có thể bị
ô nhiễm Vi sinh vật Các tác nhân gây nhiểm khuẩn bệnh viện không chỉ có
ở các vết thương nhiễm khuẩn, ở các chất thải và các dịch cơ thể mà còn
thường xuyên có mặt trên da lành của NB Mức độ ô nhiễm bàn tay của
NVYT phụ thuộc vào loại thao tác sạch hay bẩn và thờì gian thực hiện thao
tác trên người bệnh [2]
1.3 Phương thức lây truyền các tác nhân gây nhiểm khuẩn bệnh viện
qua bàn tay:
Trong quá trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân, các vi sinh vật gây bệnh
có ở da , vất thương, các dịch cơ thể, quần áo, vật dụng sinh hoặt của bệnh
Trang 9nhân va của nhân viên y tế, qua yếu tố trung gian là bàn tay, có thể lan
truyền đến mọi nơi bàn tay đụng chạm tới
2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ và hiệu quả vệ sinh bàn tay
2.1 Kiến thức của nhân viên y tế về thực hành vệ sinh bàn tay
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh bàn tay
thường quy là kiến thức của NVYT về tầm quan trọng của thực hành vệ
sinh bàn tay trong phòng choonhs nhiễm khuẩn bệnh viện Tại nhiều cơ sở
y tế vẫn còn một tỷ lệ lớn NVYT chưa có kiến thức đầy đủ về tầm quan
trọng của VSBT trong phòng chống nhiểm khuẩn bệnh viện
2.2.3 Kỹ thuật vệ sinh bàn tay
Vệ sinh bàn tay sẽ không loại bỏ được Vi khuẩn nếu không thực hiện
đúng quy trình Một số vùng như đầu các ngón tay, kẽ móng tay, kẽ ngón
tay, mu ngón cái và mu bàn tay là những vùng thường không tiếp xúc với
hóa chất Vệ sinh bàn tay nếu thực hiện vệ sinh bàn tay không đúng quy
trình Vệ sinh bàn tay theo đúng các bước trong quy trình giúp hóa chất
được dàn đều trên toàn bộ bề mặt bàn tay sẽ có hiệu quả loại bỏ Vi sinh vật
ở bàn tay
3 Các biện pháp tăng cường thực hành vệ sinh bàn tay
3.1 Nâng cao kiến thức của nhân viên y tế về tầm quan trọng của thực
hành vệ sinh bàn tay
Trang 103.2 Tăng cường giám sát tuân thủ vệ sinh bàn tay ở nhân viên y tế
3.3.Một số biện pháp khác
Để duy trì ý thức tuân thủ vệ sinh bàn tay của NVYT, ngoài những
biện pháp đã nêu trên, các cơ sở y tế cần phải kết hợp với nhiều biện pháp
khác như:
- Có quy định về vệ sinh bàn tay, được thể hiện bằng văn bản và được
phổ biến đến mọi NVYT để thực hiện
- Thông tin tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau, kết hợp với
các biện pháp hành chính như phê bình, khiển trách, khen thưởng
Tóm lại, có rất nhiều yểu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh bàn tay
của NVYT, do đó không có một biện pháp đơn lẻ nào có thể cải thiện và
duy trì tốt ý thức tuân thủ vệ sinh bàn tay ở NVYT mà cần thiết phải có sự
phối hợp đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau
Trang 11
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2 1 Đối tượng nghiên cứu:
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Những người trực tiếp tham gia khám, điều trị,
chăm sóc bệnh nhân, bao gồm; Bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý
- Tiêu chuẩn loại trừ : Những cán bộ y tế từ chối tham gia nghiên cứu
Và cán bộ đang đi học
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: Tại khoa Ngoại tiêu hóa bệnh viện trung ương huế
Thời gian nghiên cứu:Từ ngày 25/04 đến 14/05 năm 2011
Thời gian bắt đầu từ 7h 30 phút đến 10h 30 phút trong các ngày hành
chính
2.3 Phương pháp nghiêng cứu và thu thập số liệu
- Điền vào phiếu trả lời bằng cách phát trực tiếp cho nhân viên
- Quan sát trực tiếp bằng bảng kiểm tra
- -Cách đánh giá:
Giám sát viên lựa chọn vị trí quan sát không gây sự chú ý đối với NVYT
và quan sát các đối tượng NVYT thực hiện những thao tác chăm sóc, điều
trị bệnh nhân tại các buồng bệnh hoặc giường bệnh được lựa chọn ngẫu
nhiên Tuân thủ vệ sinh bàn tay được xác định khi NVYT có vệ sinh bàn
tay bằng nước sạch và xà phòng, cồn hoặc dung dịch khử khuẩn Xác định
là không tuân thủ khi không rửa tay hoặc rửa tay bằng nước không
-Cách tính tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay ở nhân viên y tế
Trang 12
Số lần có vệ sinh bàn tay
Tỷ lệ (%) tuân thủ VSBT = x 100
Tổng số cơ hội cần VSBT theo quy định
2.4 Một số giả định về mối liên quan với tuân thủ vệ sinh bàn tay:
- Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho vệ sinh tay; nước, xà phòng, khăn,
2 5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
-Sử dụng các phân tích đơn biến để xác định mối liên quan giữa tuân thủ
VSBT ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan
-Dữ liệu được nhập và xử lý
2.7.Một số khái niệm trong khuôn khổ nghiên cứu
- Rửa tay nhanh bằng cồn (sát khuẩn tay nhanh): sử dụng cồn hoặc các hóa
chất sát khuẩn nhanh để rửa tay
- Rửa tay bằng nước và xà phòng: Sử dụng dung dịch xà phòng và nước để
rửa tay, dung dịch xà phòng có chất sát khuẩn
- Rửa tay bằng nước: Không sử dụng hóa chất (Cồn, xà phòng ) để rửa
tay,chỉ rửa tay dưới vòi nước chảy
Trang 13
- Các cơ hội rửa tay: Theo định nghĩa được mô tả thành các cơ hội cụ thể
như sau:
+ Vào một buồng bệnh
+ Rời khỏi buồng bệnh
+ Trước khi tiến hành bất cứ một quy trình, thủ thuật nào trên bệnh nhân
+ Sau khi thực hiện một quy trình hoặc thủ thuật trên bệnh nhân
+ Khi chuyển đổi quy trình, thủ thuật trên một bệnh nhân
+ Khi bàn tay bị nhiễm bẩn
+ Trước khi đeo găng tay vô khuẩn
+ Sau khi tháo găng
+ Khi chuyển thăm khám, chăm sóc từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác
+ Sau khi xử lý các dụng cụ nhiễm bẩn
+ Sau khi tiếp xúc với bệnh phẩm, các chất tiết của người bệnh
2.8 Những khó khăn và hạn chế của đề tài
Nghiên cứu thực hành vệ sinh bàn tay chỉ tiến hành 189/240 nhân viên y
tế chưa tiến hành trên toàn bệnh viện,
Nghiên cứu này chỉ thực hiện trong giờ hành chính, quan sát ngẫu nhiên
không thực hiện hết tại các thời điểm do vậy có thể phản ánh chưa đầy đủ
về thực hành vệ sinh tay của NVYT toàn bệnh viện
Trang 14Chương 3
K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung
Bác sĩ: 6 Điều dưỡng: 22 Hộ lý: 6
Số phiếu phát ra là 34 và thu lại được là 34
- Số lần quan sát được cơ hội rửa tay của nhân viên là: 135 cơ hội
- Số buồng bệnh nặng là: 2 Số buồng chăm sóc thường: 5
1/Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu kiến thức vệ sinh bàn tay
của nhân viên y tế:
Bảng 3.1: Mức độ nhận thức chung của nhân viên y tế:
Tổng số nhân viên
y tế
Số nhân viên y tế trả lời đúng
Số nhân viên y tế trả lời không đúng
Bảng trên cho thấy cos 34 nhân viên y tế tham gia trả lời các câu hỏi về
kiến thức vệ sinh bàn tay, trong đó có 32 nhân viên y tế trả lời đúng tất cả
các câu hỏi đạt 94%, và trả lời không đúng 2 nhân viên y tế đạt 6%
Biểu đồ 3.1
Trang 15
Bảng 3.2: Số nhân viên y tế phân bổ nhận thức theo chuyên môn
Bảng3.3: cho thấy số nhân viên y tế tham gia nghiên cứu về kiến
thức cơ bản về VSBT là 34 trong đó chủ yếu là nữ 28 còn nam 6
chiếm một tỷ lệ nữ rất đông 83% Độ tuổi nhân viên trẻ <30 chiếm
môn
Số nhân viên trả lời đúng
Trang 16Bảng 3.4: Nhận thức của nhân viên y tế về thực hành VSBT tính theo từng
câu hỏi
Nội dung câu hỏi Trả lời
đúng
Tỉ lệ%
1 NVYT tuân thủ đúng quy trình, thời điểm VSBT có
thể làm giảm nhiễm khuẩn bệnh viện ở bệnh nhân?
2 VSBT trước và sau khi tiếp xúc với mỗi BN có tác
dụng bảo vệ bệnh nhân và nhân viên y tế?
3 Bệnh viện có hướng dẫn thực hanhfVSBT sẽ giúp
NVYT thực hiện đúng yêu cầu VSBT?
4 NVYT tuân thủ đúng quy trình, thời điểm VSBT có
thể làm giảm nhiễm khuẩn bệnh viện ở Nhân viên y tế?
5 Mang găng không phải là biện pháp thay thế cho rửa
tay
6 Trang bị đầy đủ phương tiện rửa tay (nước sạch, hóa
chất rửa tay, khăn lau tay) sẽ làm NVYT rửa tay
Bảng 2 cho thấy NVYT nhận thức đúng về vai trò của mang găng không
nhận thức đúng về các câu hỏi còn lại