Tiến hành công nghiệp háo hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất là quy luật chung cảu nhiều quốc gia trong tiến trình trợ thành nước phát triển
Trang 1MỞ ĐẦU
Tiến hành CNH-HĐH, phát triển lực lượng sản xuất sản xuất là qui luật là qui luật chung phổ biến của nhiều quốc gia trong tiến trình trở thành một nước phát triển, có nền công nghiệp hiện đại, cơ sở vật chật chất-kỹ thuật tiên tiến, tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người cao
Ở Việt Nam Đảng đã xác định xây dựng CNXH là sự nghiệp cách mạng của toàn đảng toàn dân Chúng ta đang ở trong giai đoạn quá độ lên CNXH, phải chuẩn bị những điều kiện tiền đề vật chất-kỹ thuật vững chắc cho sự hình thành phương thức sản xuất CNXH Do vậy, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là phải ra sức phát triển lực lượng sản xuất Vì lực lượng sản xuất là yếu tố động hơn cả và cách mạng hơn cả của sự sản xuất.Trước hết, lực lượng sản xuất của xã hội biến đổi và phát triển Rồi sau đó, tùy theo và phù hợp với những biến đổi ấy, quan hệ sản xuất giữa người ta với nhau cũng biến đổi Từ đó giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, hợp thành phương thức sản xuất như chúng ta mong đợi
Phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn
ra mạnh mẽ,đòi hỏi chúng ta phải thực hiện CNH-HĐH Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Đảng ta đã nhận định: “ Nước ta chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH Mục tiêu của CNH-HĐH là xây dựng nước ta trở thành một nước cộng nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”
Ở nước ta CNH-HĐH đã trở thành một chiến lược mang tính thời sự, được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, kinh tế Vì quá trình CNH-HĐH rất phức tạp nó đòi hỏi phải quản lý, kết hợp và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của một quốc gia, đồng thời phải có những chính sách, những định hướng khoa học, đặc biệt trong bối cảnh diễn biến thế giới vừa tạo ra những thuận lợi vừa có những nguy cơ thách thức.Xuất phát từ thực tiễn đó, trong quá trình học môn Triết Học Mác-Lê Nin học viên rất quan tâm và chọn đề tài: CNH-HĐH và phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam, với mong muốn góp phần vào đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH ở Việt Nam
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
I) KHÁI NIỆM : Lực lượng sản xuất là quan hệ kinh tế-kỹ thuật của một nền sản xuất xã
hội Lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữa người với giới tự nhiên Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất còn biểu hiện năng lực thực hiện của con người trong quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố :
1) Tư liệu sản xuất :
1.1) Đối tượng lao động :
Là toàn bộ mọi vật mà lao động của con người tác động vào, cải biến cho phù hợp nhu cầu con người cả trong sản xuất và nhu cầu đời sống, tạo ra sản phẩm mong muốn Đối tượng lao
Trang 2động không phải là toàn bộ giới tự nhiên mà chỉ có một bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào sản xuất.Con người không chỉ tìm trong giới tự nhiên những đối tượng lao động có sẵn, mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượng lao động.Sự phát triển của sản xuất có liên quan tới việc đưa những đối tượng ngày càng mới hơn vào quá trình sản xuất Điều đó hoàn toàn có tính quy luật bởi chính những vật liệu mới, mở rộng khả năng sản xuất của con người
- Đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên do thiên nhiên tạo ra: gỗ,than, đá …
Các tài nguyên thiên nhiên này bao gồm những dạng như :
Tài nguyên thiên nhiên không thể tái sinh : dầu lửa
Tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh được : thủy hải sản
Tài nguyên thiên nhiên có nguồn tái sinh vô hạn : sức gió
Ở nước ta phương hướng là phải tiến hành thăm dò để xác định trữ lượng, có kế hoạch khai thác.Vì trị giá của nó có thể giảm khi không khai thác kịp thời, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng khoa học khoa học-kỹ thuật phát triển phát minh ra nhiều loại nguyên vật liệu nhân tạo mới
-Đối tượng lao động đã qua sử dụng, chế biến : được tiếp tục gia công trong quá trình sản xuất bao gồm các loại nguyên liệu : bông, sắt, thép …Chúng ta phải tăng giá trị của đối tượng lao động này, bằng cách tác động nhiều lao động để chế biến đồng thời kéo dài tuổi thọ của nó trong chu trình kinh tế.Vì những nguyên liệu này có tính chất đặc biệt : không tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất Chúng ta phải làm cho định mức hao phí nguyên vật liệu trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống, hình thành cho được những vùng nguyên vật liệu tập trung
1.2)Tư liệu lao động :
Tư liệu lao động là vật thể hay là phức hợp vật thể mà con người đặt giữa mình với đối tượng lao động, chúng dẫn truyền sự tác động của con người vào đối tượng lao động Đối tượng lao động và tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của quá trình lao động sản xuất hợp thành tư liệu sản xuất.Do đó tư liệu lao động gồm tất cả những đồ vật mà con người dùng để tác động vào đối tượng lao động và tất cả những phương tiện vật chất cần thiết khác cho quá trình lao động sản xuất như :
- Công cụ lao động : quyết định năng suất lao động, sự phát triển của sản xuất
- Vật liệu chứa đựng bảo quản đối tượng lao động : K.Marx gọi là hệ thống mạch máu sản xuất gồm : nhà xưởng, bao bì, kho tàng, phương tiện chứa đựng…
-Những tư liệu lao động khác : nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến lao động ngay lập tức, là kết cấu hạ tầng cơ sở sản xuất gồm: đường xá, giao thông vận tải, hệ thống thông tin bưu điện
Trong toàn bộ tư liệu lao động, công cụ lao động đóng vai trò quan trọng nhất là hệ thống xương cốt, bắp thịt của sản xuất, trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ
phát triển của nền sản xuất xã hội : ” Chỗ khác nhau giữa một thời đại kinh tế này với thời đại kinh tế khác là phương pháp chế tạo những tư liệu lao động dùng để chế tạo hơn là những cái mà người ta chế tạo ra” K.Marx-Tư Bản
Trang 3Công cụ lao động luôn được cải tiến Nó là yếu tố độâng nhất và cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất Lịch sử phát triển kinh tế xã hội loài người ghi nhận sự phát triển của công cụ sản xuất trải qua các giai đoạn :
động hoá Tự hoá động Tin học và các phương tiện của tin học
Quá trình phát triển các công cụ sản xuất không thể đốt cháy giai đoạn được bởi nó vừa mang tính khách quan vừa là kết quả chủ quan của con người Mỗi giai đoạn của quá trình phát triển của công cụ sản xuất biểu hiện sự thay đổi về chất các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội, cùng với sự cải tiến và hoàn thiện công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất của loài người cũng được phát triển phong phú thêm, những nghành sản xuất mới xuất hiện, sự phân công lao động phát triển
2)Người lao động : với những kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức thói quen lao động sử dụng
tư dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất Trong các yếu tố hợp thành tư liệu sản xuất,
người lao động là lực lượng sản xuất cơ bản quyết định nhất Lê Nin từng viết “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động”- Lê Nin toàn tập Yếu tố
trí tuệ của con người được vật hoá vào trong sản phẩm ngày càng nhiều, thì khả năng cạnh tranh của sản phẩm càng cao
Nếu K.Marx chỉ đề cập đến người lao động với năng khiếu nghề nghiệp, trình độ tay nghề người lao động, thì ngày nay người ta tiếp cận người lao động trên một bình diện khác.Người lao động vừa phải có chuyên môn giỏi, vừa phải đủ thể chất : thể lực và trí lực, mỗi con người có một khả năng, năng khiếu thuộc một lĩnh vực nhất định, nếu đầu tư đúng hướng sẽ đem lại hiệu quả Ở Việt Nam lực lượng lao động hiện nay khoảng 38 triệu người Phương hướng trong thời gian tới, chúng ta phải đào tạo được một thế hệ công dân mới có đầy đủ thể lực, trí lực và đạo đức lương tâm nghề nghiệp bao gồm : đội ngũ cán bộ quản lý hành chính, các nhà quản lý kinh tế, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề bên cạnh đó phải lấy khả năng năng lực cá nhân làm thước đo chính, tạo ra nhiều việc làm, cải thiện đời sống người lao động, tạo ra một cơ chế xã hội thích ứng để sử dụng lao động
3) Khoa học-kỹ thuật : Ngày nay trước các cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại đã
tạo ra bước nhảy vọt lớn trong lực lượng sản xuất Vị trí của khoa học trong lực lượng sản xuất ngày càng tăng.Thực chất của cuộc cách mạng đó là mở ra kỷ nguyên mới của sản xuất tự động hóa với việc phát triển và ứng dụng điều khiển học và vô tuyến điện tử Khoa học trở thành điểm xuất phát cho những biến đổi to lớn trong kỹ thuật sản xuất, tạo ra những nghành sản xuất mới, kết hợp khoa học kỹ thuật thành một thể thống nhất, đưa đến những phương pháp công nghệ mới đem lại hiệu quả cao trong sản xuất; phát hiện và đề ra hàng loạt những phương pháp khai thác các nguồn năng lượng mới, chế tạo những vật liệu mới mà trước kia loại người chưa
Trang 4biết tới; tạo ra sự thay đổi trong chức năng của người sản xuất Con người không còn thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu là sáng tạo điều khiển quá trình đó một cách tự động; tri thức khoa học trở thành một tất yếu trong hoạt động của người sản xuất thay cho thói quen kinh nghiệm thông thường; tri thức khoa học được vật chất hóa, được kết tinh vào mọi nhân tố của lực lượng sản xuất, từ đối tượng lao động, tư liệu lao động kỹ thuật, phương pháp công nghệ đến tri thức của con người lao động-“ khoa học hóa sản xuất” Cách mạng khoa học-công nghệ ngày nay là nhân tố trung tâm của công cụ sản xuất và con người, đồng thời trở thành động lực sản xuất, là lợi thế trong sản xuất
Do khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp mà thành phần cấu thành lực lượng sản xuất cũng thay đổi Người lao động trong lực lượng sản xuất không chỉ bao gồm người lao động chân tay, mà còn bao gồm cả kỹ thuật viên, kỹ sư và cán bộ khoa học phục vụ trực tiếp quá trình sản xuất
4) Sự tác động biện chứng giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất :
Tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động khi chúng kết hợp với lao động sống Chính con người với trí tuệ và kinh nghiệm của mình đã chế tạo ra tư liệu lao động và sử dụng nó để thực hiện sản xuất, tư liệu động dù có ý nghĩa lớn đến đâu nhưng nếu tách khỏi người lao động thì cũng không thể phát huy được tác dụng, không thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội Đồng thời những phẩm chất của con người, những kinh nghiệm và thói quen của họ đều phụ thuộc vào tư liệu sản xuất hiện có, phụ thuộc vào chổ họ sử dụng những tư liệu lao động nào Không có nền đại công nghiệp thì không thể có người công nhân hiện đại
Sự phụ thuộc về trình độ, kinh nghiệm và thói quen của người sản xuất vào kỹ huật sản xuất là một trong những biểu hiện sự phụ thuộc của nhân tố chủ quan vào nhân tố khách quan, nhân tố con người sản xuất vào nhân tố vật chất của sản xuất hơn nữa con người không chỉ sử dụng những công cụ hiện có, mà còn sáng chế ra những tư liệu lao động mới những trí thức khoa học, những kinh nghiệm thói quen của con người đều cần thiết để hoàn thiện kỹ thuật, phương pháp sản xuất như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự phát triển của tư liệu lao động thích ứng với bản thân con người với sự phát triển văn hóa khoa học kỹ thuật của họ
II) VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT :
Trước hết trên giác độ từng yếu tố trong lực lượng sản xuất : tư liệu sản xuất, người lao động đều đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất.Trong quá trình sản xuất, nếu thiếu một trong các yếu tố trên, thì quá trình sản xuất không thể diễn ra được.K.Marx trong bộ
Tư bản của mình đã cho rằng : “tư liệu sản xuất, người lao động chỉ là hai yếu tố tiềm thế của sản xuất nếu như chúng tách rời nhau ra”
Một khi các nhân tố của lực lượng sản xuất kết hợp với nhau sẽ tạo ra sản phẩm, tạo ra của cải vật chất là cơ sở của cuộc sống loài người Hoạt động sản xuất này là hoạt động quan trọng, cơ bản nhất của xã hội loài người Vì các hoạt động khác như : chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo chỉ diễn ra khi đáp ứng các nhu cầu cần thiết như : ăn, mặc, ở …của con người
Trang 5Trình độ phát triển lực lượng sản xuất nói lên trình độ con người chinh phục thiên nhiên Sự phát triển của lực lượng sản xuất là cơ sở xác định trình độ phát triển của sản xuất, sự phát triển kinh tế đồng thời là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế Trình độ phát triển lực lượng sản xuất còn phản ánh trình độ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, trình độ và kỹ năng của người lao động sử dụng máy móc tân tiến hiện đại khai thác thiên nhiên đạt hiệu quả cao
Vai trò lực lượng sản xuất còn thể hiện ở mối quan hệ với quan hệ sản xuất Vai trò lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một nền sản xuất xã hội, trong đó lực lượng sản xuất luôn giữ vai trò quyết định, đòi hỏi quan hệ sản xuất gồm : quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất “Lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất phải như thế ấy, lực lượng sản xuất là yếu tố động và cách mạng hơn cả của sự sản xuất Trước hết lực lượng sản xuất của xã hội biến đổi và phát triển; rồi sau đó tùy theo và phù hợp với những biến đổi và phát triển ấy, quan hệ sản xuất giữa người ta với nhau cũng biến đổi”
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy trong một phương thức sản xuất xã hội : mỗi một lực lượng sản xuất nhất định luôn gắn liền với một quan hệ sản xuất tương ứng Khi lực lượng sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất cũng biến đổi phù hợp với sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội trong lịch sử Trong phương thức sản xuất TBCN cho thấy khi lực lượng sản xuất phát triển đến quy mô khổng lồ, quan hệ sản xuất TBCN không còn phù hợp với trạng thái của lực lượng sản xuất xã hội Những mâu thuẫn không thể điều hòa giữa tính chất của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã biểu lộ ra trong những cuộc khủng hoảng chu kỳ về sản xuất thừa Do đó chủ nghĩa tư bản đã thai nghén một cuộc cách mạng có nhiệm vụ thay thế chế độ sở hữu TBCN bằng chế độ sở hữu XHCN
III) QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT :
Ở nước ta, sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc 1954, và cả nước thống nhất 1975 chúng ta đã tiến lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN Trong thời gian đầu, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà chủ yếu là do nhận thức không đầy đủ chủ nghĩa Marx-Lenin, sao chép dập khuôn mô hình phát triển kinh tế-xã hội của các nước XHCN khác, không dựa trên trình độ và đặc điểm phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chúng ta đã thiết lập một quan hệ sản xuất không phù hợp, tiến hành quốc hữu hóa, tập thể hóa nhanh chóng không theo qui luật, phủ nhận sự tồn tại của đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế, chú trọng phát triển công nghiệp nặng không dựa vào nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Hệ quả là chúng ta đã trói buộc và kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một thời gian dài Chính vì không coi trọng vai trò của lực lượng sản xuất như là một động lực, đã dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế -xã hội ở nước ta trong thời gian này
Từ thực tiễn đó, Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa ra đường lối đổi mới đất nước Đảng đã khẳng định giữ vững mục tiêu XHCN, nhưng cần phải nhận thức cho đúng mục tiêu và con đường tiến lên CNXH ở nước ta Tư tưởng chỉ
đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là : “giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, để
Trang 6phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN-Văn Kiện Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần VI” Đảng đã xác định chúng ta tiến lên
CNXH bỏ qua chế độ TBCN, không có nghĩa là bỏ qua những bước đi tất yếu hợp quy luật
Do đó Đảng đã định ra đường lối chuyển từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN
Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chính là sự quan tâm đến sự phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời phù hợp với đặc điểm đa dạng của lực lượng sản xuất ở nước ta trong điều kiện hiện nay Tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất ở mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực được phát huy tác dụng Nó cho phép khai thác nhanh, có hiệu quả mọi khả năng hiện có và tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nước, gắn phân công lao động trong nước với quốc tế và khu vực; thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng
Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới đất nước, vai trò của lực lượng sản xuất cũng như quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ngày càng được coi trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội Vì thế, hơn 10 năm qua Nước ta đã vượt qua khủng hoảng và đạt được những thành tựu to lớn về mặt kinh tế tiếp tục đường lối, tại Đại Hội Đại
Biểu Toàn Quốc Lần VIII, Đảng ta đã nhận định :”Nước ta chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH Nền CNH-HĐH tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp…”
Trong quá trình CNH-HĐH ở nước ta các bộ phận của lực lượng sản xuất, được Đảng đánh giá cao, coi đó là những nhân tố quyết định đến sự thành công của quá trình CNH-HĐH đưa đất nước ta trở thành nước phát triển Với việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học-công nghệ tiên tiến thời đại, nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH
CÔNG NGHIỆP HÓA–HIỆN ĐẠI HÓA
I) KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CNH-HĐH :
1) Khái niệm : Có nhiều khái niệm khác nhau về CNH :
-Tây Âu và Bắc Mỹ : CNH là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động Đó là một quá trình dài chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp
-Khái niệm CNH của Liên Hiệp Quốc : CNH là quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận buộc phải thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội, đảm bảo cho toàn thể nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đạt tới sự tiến bộ kinh tế-xã hội
Trang 7-Hiện đại hóa : là sự đầu tư một cách có hệ thống lâu dài và có hướng đích để thực hiện mục tiêu của con người Hiện đại hóa được nghiên cứu và thực hiện ở mọi lĩnh vực như : kinh tế, kỹ thuật, giáo dục, hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước…CNH-HĐH là hai quá trình đồng thời vận động, cùng diễn ra và tác động tương hỗ lẫn nhau để tạo nên năng lực nội sinh cho phất triển kinh tế-xã hội
Từ quan điểm mới về CNH-HĐH cũng như nội dung của quá trình CNH-HĐH, ở Nước ta
:” CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế,xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học-công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao”- Văn Kiện Đại Hội Đảng lần VII
2) Vai trò của CNH-HĐH :
-Tạo điều kiện để biến đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng suất chế ngự của con người đối với tự nhiên Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế,
do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân; góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
- Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước; nâng cao năng lực tích lũy, tăng công của việc làm, nhờ đó làm tăng sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con người-nhân tố trung tâm của nền sản xuất xã hội.Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường an ninh và quốc phòng.Đảm bảo sự công bằng, dân chủ trong đời sống kinh tế-xã hội.Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ, đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế
Do đó đồng chí Đỗ Mười tại Đại Hội Đảng lần VIII đã xác định “ Tiếp tục sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh CNH-HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”
II) TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ NGHIỆP CNH-HĐH, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA :
Tiến hành CNH-HĐH là qui luật chung phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới trong tiến trình trở thành một nước phát triển, có nền sản xuất hiện đại cơ sở vật chất-kỹ thuật tiên tiến, thu nhập đầu người cao.Ở nước ta, Đảng và nhà nước xác định xây dựng CNXH là sự nghiệp cách mạng vĩ đại của toàn Đảng toàn dân Để xây dựng thành công CNXH, hình thành nên phương thức sản xuất mới CNXH, Chúng ta nhất thiết phải có một cơ sở vật chất-kỹ thuật tương ứng.Bởi mỗi một phương thức sản xuất luôn gắn liền với một cơ sở vật chất-kỹ thuật ở một trình độ nhất định, làm đặc trưng cho phương thức sản xuất đó, được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất cũ và được phát triển đúng trên cơ sở bản thân nó
Điều này có thể thấy : đặc trưng cơ sở vật chất-kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước CNTB là dựa vào công cụ thủ công, lạc hậu Đặc trưng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNTB là nền đại công nghiệp cơ khí hóa, nhưng chỉ đến khi xây dựng xong cơ sở đó, phương thức sản
Trang 8xuất TBCN mới trở thành phương thức sản xuất thống trị.Cơ sở vật chất- kỹ thuật của một xã hội chính là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội.Do đó sự biến đổi cơ sở vật chất-kỹ thuật của một xả hội : là sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển của khoa học-kỹ thuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị
Cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải được biến đổi và cao hơn so với phương thức sản xuất TBCN trên cả hai mặt : trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất gắn với thành tựu của cách mạng khoa học-kỹ thuật Như vậy cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội sẽ là nền công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Xây dựng cơ sơ vật chất-kỹ thuật là điều kiện quyết định nhất có liên quan đến sự phát triển về chất đối với lực lượng sản xuất và năng suất lao động; đối với việc đáp ứng nhu cấu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội; đối với sự thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội
Từ sự phân tích trên cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa CNH và lực lượng sản xuất, cũng như giữa CNH và việc xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật Do đó CNH-HĐH ở nước ta là một quá trình tất yếu để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho CNXH Trong đó, CNH-HĐH là cách thức tiến hành để đạt mục đích xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật CNH là để thực hiện xã hội hóa về mặt kinh tế kỹ thuật theo hướng XHCN Nó có ý nghĩa và vị trí quan trọng toàn diện, do vậy
Đảng ta cho rằng : “Phát triển lực lượng sản xuất, CNH đất nước…là nhiệm vụ trung tâm …của thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở nước ta”
III) ĐẶC ĐIỂM, QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU CỦA QUÁ TRÌNH CNH-HĐH Ở NƯỚC TA :
1) Đặc điểm CNH-HĐH ở nước ta :
-CNH-HĐH ở nước ta để xây dựng CNXH, trong quá trình tiến hành CNH-HĐH theo định hướng XHCN mỗi bước tiến của CNH-HĐH phải đồng thời làm cho các nhân tố XHCN được xác lập, củng cố và phát triển.CNH-HĐH ở một nước nông nghiệp lạc hậu, đại bộ phận dân số (80%) sống ở nông thôn làm nông, thu nhập thấp, sức mua hạn chế, phải coi nông nghiệp và nông thôn là đối tượng trọng yếu của CNH-HĐH và CNH-HĐH phải được tiến hành trước hết ở nông thôn
CNH-HĐH được tiến hành trong cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước, sản xuất phải lấy nhu cầu thị trường làm hướng chỉ đạo còn thị trường thì phản ánh nhu cầu xã hội CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả các thành phân kinh tế, được tiến hành theo chương trình mục tiêu có định hướng CNH-HĐH diễn ra trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại cho nên : CNH phải gắn liền với HĐH, khoa học công nghệ phải luôn đóng vai trò động lực của CNH-HĐH.CNH-HĐH trong xu thế quốc tế hóa về kinh tế phát triển mạnh mẽ Do đó, CNH-HĐH phải được tiến hành trong chiến lược kinh tế mở Do đó tìm mọi cách phát triển lợi thế so sánh tương đối, tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH
Trang 9-CNH-HĐH diễn ra trong bối cảnh vừa có thuận lợi vừa có khó khăn, vừa có thời cơ vừa có nguy cơ :
+ Những thuận lợi :
Trên thế giới, cách mạng khoa học-công nghệ đang phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội Đây là một thời cơ thuận lợi cho phép chúng ta có thể khai thác được những yếu tố, nguồn lực bên ngoài ( vốn, công nghệ, thị trường ….) và những nguồn lực bên trong của đất nước có hiệu quả, thực hiện CNH-HĐH rút ngắn, kết hợp các bước đi tuần tự với bước nhảy vọt, vừa tăng tốc, vừa chạy trước đón đầu
Tiến hành CNH-HĐH đi sau, chúng ta có thể vừa tiếp nhận được công nghệ hiện đại, vừa tiếp thu được nhiều bài học kinh nghiệm của các nước đi trước đặc biệt của các con rồng, con hổ trong quá trình CNH-HĐH.Trong khi quá trình CNH ở Anh, Đức,Mỹ diễn ra với thời gian trên dưới 100 năm thì ở các nước Nic và Asean quá trình CNH chỉ cần 20 năm, điều đó cho thấy chúng ta có thể rút ngắn quá trình CNH-HĐH ở nước ta, nếu có một định hướng khoa học
Việt nam nằm trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á Thái Bình Dương đây là khu vực đang tăng trưởng cao, kinh tế ổn định, được đánh giá là khu vực trọng điểm của kinh tế của thế giới trong tương lai Quan hệ kinh tế giữa các nước trong khối Asean sẽ tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong quá trình CNH-HĐH
Đất nước sau 10 năm đổi mới, đã thoát khỏi những khủng hoảng kinh tế-xã hội, có nhiều tiền đề cần thiết cho CNH-HĐH cụ thể là : trong những năm vừa qua liên tiếp tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ta cao và ổn định Chúng ta đã và đang có những tiềm lực mới ở cả bên trong và ngoài nước để bước vào một thời kỳ phát triển mới
Tài nguyên thiên nhiên của nước ta đa dạng, phong phú, tuy không cao nếu tính bình quân đầu người, song có thể phát triển một nền kinh tế đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho giai đoạn đầu của quá trình phát triển.Nước ta có 3260 km bờ biển các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, đây là một tiềm năng
to lớn và đa dạng Nước ta lại nằm ở cửa ngõ giao lưu quốc tế, có thể phát triển loại hình vận tải quá cảng, viễn dương, dịch vụ hàng hải viễn thông quốc tế Thực tế cho thấy các nước Nic đều là những quốc gia lãnh thổ hải đảo, bán đảo với các ngành kinh tế biển đóng vai trò mũi nhọn phát triển
Về tài nguyên con người-nguồn lực quan trọng nhất của quá trình CNH Ở các nước Nic, nhân tố con ngươì cũng là yếu tố quyết định cho sự thành công của quá trình CNH Nước ta có đội ngũ lao động có học vấn tương đối khá, có khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp kể cả các nghành nghề mới Đặc biệt là lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo tương đối lớn (hiện tại có khoảng 9.000 tiến sỹ, phó tiến sỹ, trên 800.000 người có trình độ đại học, cao đẳng, khoảng trên 2 triệu công nhân kỹ thuật ) Lực lượng này có khả năng làm chủ, tiếp thu và thích nghi với các công nghệ nhập từ nước ngoài, kể cả công nghệ cao Nước ta cũng có một lực lượng tương đối lớn người Việt Nam sống ở nước ngoài (chủ yếu là Châu Âu, Australia), trong đó trên 300,000 người có trình độ cao về chuyên môn Đây là một nguồn quan trọng góp phần phá triển đất nước, là cầu nối Việt Nam với thế giới về chuyển giao tri thức, công nghệ, các quan hệ quốc tế
Trang 10+Những kho ùkhăn :
Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực, vẫn là thử thách to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta quá thấp, lại đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt Mặt khác Nước ta nằm trong khu vực Châu Aù-Thái Bình Dương và Biển Đông, nơi đang còn những diễn biến phức tạp, nơi đang “tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định”
Dấu ấn của cơ chế quản lý cũ-cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp chưa được xóa bỏ hết, cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước còn đang trong quá trình hình thành Quản lý kinh tế xã hội còn nhiều yếu kém, thủ tục hành chính rườm rà, bộ máy hành chính kồng kềnh kém hiệu quả… có ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình CNH-HĐH, đến việc thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ Đặc biệt tệ quan liêu, tham nhũng và suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên, làm cho các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước
bị thi hành sai lệch dẫn đến chệch hướng, đó cũng là mảnh đất thuận lợi cho diễn biến hòa bình
Từ một điểm xuất phát quá thấp, bước vào CNH-HĐH khả năng huy động vốn cho quá trình này rất bị hạn chế, mà vốn là chìa khóa, là điều kiện hàng đầu để thực hiện CNH-HĐH Hiện nay trong tổng số vốn dùng để đầu tư XDCB của nhà nước thì vốn trong nước chỉ có 25%, còn 75% là vay nước ngoài Quản lý và sử dụng kém hiệu quả cùng với tham nhũng sẽ dẫn đến nguy cơ gánh nặng nợ nần lớn lên và khả năng trả nợ khó khăn.Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH từ một cơ cấu kinh tế mất cân đối và kết cấu hạ tầng kém phát triển là những khó khăn, đòi hỏi phải có sự chuyển biến nhanh chóng mới tạo điều kiện để tiến trình CNH-HĐH đất nước có hiệu quả Vì vậy cần chủ động nắm lấy thời cơ phát huy thuận lợi để triển khai quá trình CNH-HĐH, tạo ra thế và động lực mới để đẩy lùi khó khăn nguy cơ của quá trình CNH-HĐH
2) Quan điểm chỉ đạo quá trình CNH-HĐH :
-Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế : đa phương hóa- đa dạng hóa quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả, chọn lọc
CNH-HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Động viện toàn dân tiết kiệm, không ngừng tích lũy cho đầu tư phát triển Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
Khoa học và công nghệ là động lực của CNH-HĐH kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào những khâu quyết định.Lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản trong việc xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có Trong phát triển mới, ưu tiên qui mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần thiết,có hiệu quả Tạo ra những mũi nhọn trong từng bước phát triển; tập trung thích đáng nguồn lực cho các lĩnh vực, các địa bàn trọng điểm;
Trang 11quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mọi vùng trong nước; có chính sách hỗ trợ cho các vùng khó khăn, làm cho các vùng đều phát triển; kết hợp kinh tế, quốc phòng với an ninh
3) Mục tiêu của quá trình CNH-HĐH ở nước ta :
Mục tiêu của CNH-HĐH xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
chất-3.1) Từ nay đến những năm 2000 :
Tập trung lực lượng tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt qua thử thách, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững Đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về mặt xã hội bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, xóa đói giảm nghèo, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau.Đến năm 2000, GDP bình quân đầu người tăng gấp đôi năm
1990 từ 200 USD lên 400USD.Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 9 đến 10%, sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,5-5%, công nghiệp 14-15%, dịch vụ 12-13%, xuất khẩu khoảng 28%, tỷ lệ đầu tư/GDP khoảng 30% Về cơ cấu kinh tế đến năm 2000 : nông nghiệp chiếm khoảng 19-20%, công nghiệp và xây dựng 34-35%, dịch vụ 45-46% GDP
3.2)Từ nay đến năm 2020 :
Đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp đạt mức tương tự của một nước NIC công nghiệp mới vào những năm 80, đạt mức độ trung bình, GDP sẽ tăng từ 8 đến 10 lần so với năm 90 Nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng 10%, công nghiệp và dịch vụ là 90%.Khi đó lực lượng sản xuất ở nước ta sẽ đạt được trình độ hiện đại : phần lớn lao động xã hội sử dụng máy móc, điện khí hóa về cơ bản được thực hiện trong cả nước, năng xuất lao động sản xuất và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiện nay Cơ cấu kinh tế sẽ có bước chuyển biến quan trọng theo hướng CNH-HĐH : nông nghiệp vẫn phát triển mạnh, song công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và lao động xã hội
IV) MỘT SỐ MÔ HÌNH VÀ KINH NGHIỆM VỀ CNH-HĐH :
1) CNH ở các nước Nic :
Các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore được gọi là các nước (Nic) thuộc thế hệ thứ nhất Đông Á, đã tạo nên những nền công nghiệp tăng trưởng nhanh chưa từng thấy Thời gian của quá trình CNH ở những quốc gia vào khoảng 30 năm.Những nước mới CNH (Nic) Châu Á nói trên vốn xuất phát từ một nền nông nghiệp Trong cơ cấu chung của nền kinh tế, nghành nông nghiệp thường chiếm tới 75% lao động và trên 30% GDP Quá trình CNH ở các nước Nic đi qua hai giai đoạn :
-Tạo tiền đề cho CNH : ở giai đoạn này các nước Nic tạo ra các đột phá trong nông nghiệp, trong xây dựng kết cấu hạ tầng và sản xuất các sản phẩm hướng về xuất khẩu…
-Giai đoạn CNH : giai đoạn này được thực hiện tăng tốc qua các yếu tố về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm nhanh tỉ lệ nông nghiệp trong GDP, duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế ở mức cao, thực hiện chính sách thuận lợi cho sự phát triển các công nghệ hiện đại, đảm bảo cho nền giáo dục-đào tạo phát triển vững vàng, gắn liền CNH với HĐH
Trang 12Chỉ trong vòng 30 năm các nước Nic đã trở thành những nước phát triển, họ đã tận dụng những cơ hội tốt để đi tắt, nhảy vọt thông qua tiếp nhận công nghệ tiến thẳng vào công nghệ hiện đại Trong quuá trình CNH, các nước Nic đã có những bước đi thích hợp : lúc đầu là nhập công nghệ, thích nghi và cải tiến chúng dựa trên sự vận dụng các thành tựu khoa học-công nghệ của thế giới và phát triển khoa học công nghệ trong nước, tiếp theo là xây dựng năng lực công nghệ quốc gia nhờ phát triển năng lực nội sinh về khoa học công nghệ để tiến tới sáng tạo công nghệ và xuất khảu công nghệ
Các nước Nic trong quá trình CNH có đặc đểm chung là các chính sách đều nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, đầu tư vào nguồn nhân lực và hướng về xây dựng.Sự ổn định kinh tế vĩ mô được coi là trọng tâm để duy trì cạnh tranh Không chỉ chú trọng sự ổn định kinh tế vĩ mô, ở các nước Nic các chính sách kinh tế tối ưu luôn được kết hợp với các yếu tố chính trị-xã hội và theo đuổi các mục tiêu phát triển lâu dài Mặt khác, bên trong từng nước thường tạo ra được sự nhất trí đối với mục tiêu phát triển và phân chia lợi nhuận không quá chênh lệch nhằm thúc đẩy các mục tiêu kinh tế
Ở Hàn Quốc và đài Loan đất đai là tài sản hiếm, vì thế trong quá trình CNH đã thực hiện phân phối lại ruộng đất cho các chủ nông trại nhỏ Trong giai đoạn 1965-1985 Hàn Quốc đã duy trì sự bình đẳng tương đối giữa hai mức thu nhập ở nông thôn và thành thị và đã thực hiện chương trình tài trợ giá cả nông nghiệp, đầu tư nông thơn tương đối lớn và đó chính là những yếu tố quan trọng trong tiến trình CNH ở Hàn Quốc.Ở Singapore có chương trình xây dựng nhà
ở công cộng là chương trình ưu tiên hàng đầu Nhờ đó, số người dân Singapore có nhà tăng từ 10% vào năm 1970 lên 80% năm 1980 Ở các nước Nic, sự nghèo khổ hầu như đã được xóa bỏ
Nhìn chung các nước Nic đều thiếu tài nguyên thiên nhiên và đất đai tính theo đàu người rất thấp.CNH ở các nước Nic đều coi trọng đầu tư vào nguồn nhân lực Kết quả các nước Nic đã đạt được những thành tựu rất lớn trong giáo dục, có nguồn lao động được đào tạo tương đối tốt, có kỷ luật và có khả năng thích nghi.Lúc đầu các nước Nic đều thực hiện CNH theo chiến lược thay thế nhập khẩu, sau đó từ những năm 60 họ chuyển sang chiến lược hướng về xuất khẩu Nhờ đó đã khai thác được tối đa các nguồn lực trong nước và các điều kiện thuận lợi ở bên ngoài của thời đại
2) CNH ở các nước ASEAN :
Hiệp hội các nước Đông Nam Aù viết tắt là Asean hiện nay bao gồm 9 nước thành viên Trong đó Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia được xem là những nước trong khối ASEAN rất thành công trong phát triển kinh tế và trong tiến trình CNH
CNH ở các nước ASEAN này tiến hành trong điều kiện khác với các nước Nic Các nước này trước đây đều là thuộc địa của các nước tư bản phát triển Họ đều muốn xây dựng nền kinh tế dân tộc độc lập, tự chủ sau khi dành được độc lập Mặt khác, so với các nước Nic, các nước ASEAN khi tiến hành quá trình CNH có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú hơn Các nước ASEAN ở thời kỳ đầu CNH đã đi theo chiến lược thay thế nhập khẩu Thực chất của chiến lược này là giải pháp mở cửa, cho phép khai thác các lợi thế so sánh trong nước và việc khai thá các điều kiện thuận lợi bên ngoài Trong quá trình CNH ở các nước ASEAN rất chú ý thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(FDI), thực tế chỉ ra FDI có vai trò rất quan trọng cho sự
Trang 13phát triển kinh tế Đi cùng với FDI là kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, khả năng mở rộng thị trường…Những nhân tố trên trở thành lực lượng đột phá những bế tắc, góp phần khởi động cho quá trình công nghiệp hóa ở các nước ASEAN
Tuy nhiên vấn để là phải biết sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này khắc phục tính lệ thuộc, chủ động trong việc lựa chọn công nghệ thích hợp và ngăn chặn những tác động tiêu cực Các nước ASEAN trong quá trình CNH rất chú ý đến công nghiệp hướng về xuất khẩu, đặc biệt rất chú ý phát triển loại xí nghiệp qui mô vừa và nhỏ Phát triển công nghiệp theo qui mô vừa và nhỏ là một xu hướng đã được nhiều nước ứng dụng, sỡ dĩ như vậy là vì nó có nhiều ưu điểm như lượng vốn đầu tư ít, thu hồi vốn nhanh, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới nhanh, thích ứng linh hoạt với biến động của thị trường, quan hệ giữa cấp quản lý và nhân viên thân thiện hơn…
Quan tâm đặc biệt tới giáo dục văn hóa, truyền thống, giáo dục hướng nghiệp cho người lao động là một đặc điểm trong quá trình CNH ở các nước ASEAN.Ngoài ra, họ còn có chính sách khuyến khích, kêu gọi các nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật… đang ở nước ngoài về nước làm việc với chế độ đãi ngộ cao Họ cũng có chính sách nhập khẩu các chuyên gia, kỹ sư giỏi của nước ngoài để sử dụng chất xám của họ
Trong quá trình CNH các nước ASEAN rất chú ý đến vai trò điều tiết của nhà nước Sự điều tiết của nhà nước nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện công bằng xã hội và công bằng giữa các dân tộ, quản lý vốn đầu tư, can thiệp vào ngoại thương và bảo hộ nghành công nghiệp chế tạo nội địa, can thiệp vào thị trường lao động, thị trường vốn, qui định
3) Kinh nghiệm về công hiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước :
3.1)Chuyển giao công nghệ : là quá trình đưa công nghệ gồm cả phần cứng
( máy móc thiết bị) và phần mềm (quy trình, phương pháp công nghệ ) từ nước này sang nước khác, làm thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao.Kinh nghiệm chuyển giao công nghệ của các nước(Nhật Bản,NICs, ASEAN…) cho thấy các nưiớc tiến hành công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa qua chuyển giao công nghệ đã đạt dược kết quả nổi bật.Vì chuyển gia công nghệ cho phép : Rút ngắn khoảng cách lạc hậu
so với các nước có nền kinh tế phát triển, do khai thác được lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh về khoa học công nghệ hiện đại của thế giới.Tạo điều kiện để khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực ở trong nước nhằm tăng trưởng kinh tế nhanh Đối với các nước đang chuyển từ nền công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa hướng xuất khẩu thì nó thúc đẩy sự chuyển dịch này có hiệu quả, tạo lực cạnh tranh và hòa nhập thị trường thế giới
Ở giai đoạn đầu các nước tiến hành nhập công nghệ và thích nghi với nó bằng sự làm theo, áp dụng công nghệ một cách khôn ngoan, tài tình theo cách riêng của mình, kết hợp hài hòa công nghệ nhập với văn hóa nước mình, xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, tiến tới sáng tạo công nghệ và xuất khẩu công nghệ.Phương thức chung của các nước chuyển giao công nghệ là sự lựa chọn công nghệ thích hợp, tiến thẳng vào công nghệ hiện đại, công nghệ cao
Công nghệ cao một mặt có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tạo
ra nhiều nghành công nghiệp có giá trị tăng cao, tạo khả năng giao lưu và cạnh tranh quốc tế
Trang 14Mặt khác có ý nghĩa quyết định đối với việc đổi mới công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế, trang
bị kỹ thuật trong các nghành sản xuất, dịch vụ an ninh quốc phòng, thăm dò tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Tuy nhiên trong quá trình chuyển giao công nghệ họ tỉnh táo để tránh nhập công nghệ lỗi thời do các nước chuển sang, để tránh trở thành bãi thải công nghiệp.Bên cạnh đó họ họ còn nghiên cứu, phân loại tính chất và đặc điểm của các kênh chuyển giao công nghệ trên thế giới gồm : kênh chuyển giao công nghệ giữa các nước phát triển với nhau, kênh chuyển giao công nghệ giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, kênh chuyển giao công nghệ giữa các nước đang phát triển để khai thác có hiệu quả từng kênh một.Về hình thức : các nước chuyển giao công nghệ thường áp dụng : chuyển giao chọn gói, chuyển giao bộ phận, thuê chuyên gia để trao đổi, hướng dẫn, đào tạo
3.2) Chiến lược hướng về xuất khẩu thay thế nhập khẩu : Hầu hết các nước thực hiện chiến
lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu như (các nước NIC,ASEAN) đều đạt được kết quả nổi bật.Thực chất của chiến lược này là giải pháp mở cửa ở các nước đang phát triển nhằm tranh thủ các yếu tố thuận lợi bên ngoài(vốn, công nghệ…), khai thác các lợi thế trong nước tiến hành CNH theo con đường rút ngắn Bổ sung những mặt hạn chế của chiến lược thay thế nhập khẩu
Chiến lược này được các nước vận dụng một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện đặc thù của mỗi nước Có nước thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu gắn bó hoàn toàn với thị trường bên ngoài, có nước kết hợp giữa hướng vào xuất khẩu với củng cố thị trường nội địa Tuy nhiên, nền kinh tế mở cửa nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường quốc tế sẽ dẫn đến mất ổn định kinh tế lưu thông trong nước.Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt chính sách mở cửa phù hợp là mở cửa theo hai hướng : thị trường thế giới và thị trường nội địa
V) NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH CNH-HĐH Ở NƯỚC TA :
1) Sơ lược về quá trình CNH-HĐH ở nước ta trong thời gian qua :
Trước đây chúng ta CNH theo kiểu cổ điển hướng vào mục tiêu nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước Xây dựng nền kinh tế khép kín, tự cấp tự túc, để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong khi thế giới đã quốc tế hóa đời sống kinh tế Đại Hội Đảng lần III nhấn mạnh xây dựng một nền công nghiệp tương đối hoàn chỉnh, nhấn mạnh công nghiệp nặng Do đó chúng ta chú trọng phát triển công nghiệp nặng, đầu tư dàn trải cho mọi lĩnh vực của kinh tế, chi phí rất lớn nhưng không mang lại hiệu quả
Từ Đại Hội lần VI chúng ta thực hiện CNH-HĐH theo hướng mới, hướng vào xây dựng hệ thống kinh tế mở, trên cơ sở lưu thông hàng hóa và hội nhập dần với thế giới.Cơ cấu sản xuất và đầu tư hướng trọng tâm vào những lĩnh vực chúng ta có thế mạnh,tận dụng lợi thế so sánh và những lĩnh vực thiết yếu của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đảm bảo thu hồi vốn nhanh hiệu quả.CNH gắn liền với HĐH để phát triển lực lượng sản xuất nước ta đến trình độ tiên tiến của các nước trên thế giới Hướng vào xuất khẩu nhưng không coi nhẹ thị trường trong nước, thực hiện thay thế nhập khẩu có chọn lựa, một chính sách bảo hộ mềm dẻo để thúc đẩy sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh
Do đó quá trình CNH ở nước ta gắn liền với hai nội dung cơ bản :
2) Tiến hành cách mạng khoa học kỹ thuật :
Trang 152.1) Mục tiêu nhiệm vụ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ở nước ta :
Xây dựng thành công cơ sở vật chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội để trang bị công nghệ hiện đại cho các ngành kinh tế quốc dân.Tổ chức việc nghiên cức thu thập phổ biến và ứng dụng thôn tin những thành tựu mới của khoa học mới vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống vớiø hình thức, bước đi với qui mô thích hợp
2.2) Bối cảnh của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới:
Nước ta tiến hành CNH trong bối cánh thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật :Cuộc cách mạng công nghiệp kỹ thuật diển ra vào khoảng 30 năm cuối thế kỹ XVIII và hoàn thành vào khoảng 50 năm đầu thế kỹ XIX diễn ra đầu tiên ở nước Anh với nội dung chủ yếu là cơ khí hóa.Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại xuất hiện vào khoảng thế kỹ XX, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại này đã mang đến cho nhân loại nhiều khám phá to lớn trong các lỉnh vực về : tự động hóa năng lượng, vật liệu mới, công nghệ sinh học, Đặc biệt vào giữa những năm 80, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại chuyển sang giai đoạn thứ 3 giai đoạn có nhiều quan điểm khác nhau đặc tên cho nó Có ý kiến cho rằng đây là công nghiệp siêu đẳng Có ý kiến khác cho rằng là giai đọan vi điện tử, có ý kiến lại cho rằng là giai đoạn tin học hóa: trong khi các nhà tương lai học gọi là giai đoạn văn minh trí tuệ-theo họ văn minh này diễn ra sau văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp Tương ứng với giai đoạn thứ 3 cuộc cách mạng khoa học công nghệ còn có đóng góp mới về lĩnh vực điện tử tin học
Từ diễn biến của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nhiều ý kiến đã thống nhất
ý kiến cho rằng : Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đúng như dự đoán của
K.Marx về mối quan hệ giữa sự phát triển của khoa học và quan hệ sản xuất Người viết : “ Thiên nhiên không tạo ra máy móc, đầu xe lửa, điện báo … tất cả các thứ đó là thành quả sáng tạo của của bộ óc con người, được bàn tay con người tạo ra sức mạnh tri thức đã được vật hóa”
Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp nghĩa là nó bao gồm cả khoa học tự nhiên-kỹ thuật lẫn khoa học xã hội nhất là khoa học kinh tế; nó do con người tạo ra thông qua con người- nhân tố trung tâm, nhân tố chủ thể đến lực lượng sản xuất
Thời gian cho một phát minh mới của khoa học ra đời thay thế cho phát minh cũ có xu hướng rút ngắn lại và phạm vi ứng dụng của một thành tựu khoa học vào sản xuất và đời sống ngày càng mở rộng Đặc trưng này làm tài sản cố định trong quá trình sử dụng, thậm chí vừa mới xây dựng xong không chỉ bị hao mòn hữu hình mà còn bị hao mòn vô hiønh; không chỉ liên quan đến sự tích lũy vốn mà còn lên quan đến biến động của giá thành sản phẩm và liên quan đến tốc độ thay đổi nhanh chóng của các nghành co công nghệ mũi nhọn
2.3) Vị trí và phương hướng đẩy mạnh cách mạng khoa học- kỹ thuật ở nước ta :
Từ bối cảnh của các cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật diễn ra trên thế giới Vị trí của cuộc cách mạng này ở nước ta tất yếu phải được xác định là then chốt và khoa học kỹ thuật được xác định là một quốc sách và một động lực cần đem toàn lực lượng để nắm lấy và phát triển nó.Tiến hành đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật ở nước ta phải là một quá trình chuyển biến từ kỹ thuật thủ công, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp trở thành một nền kỹ thuật hiện đại với công nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao.Do đó phải đón được hướng đi mới của công nghệ, tạo điều kiện ứng dụng rộng rãi trong các ngành của nền kinh tế.Phát hiện được