Luận văn được nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước, đánh giá được thực trạng và đưa ra các giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HỒNG DƯƠNG
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bá Chiến
Phản biện 1:………
………
Phản biện 2:………
………
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, Học viện Hành chính Quốc
gia
Địa điểm: Phòng ……… - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành
chính Quốc gia
Số:77 - Đường Nguyễn Chí Thanh- Quận Đống Đa – TP Hà Nội
Thời gian: vào hồi …… giờ …… tháng …… năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia
hoặc trên trang Web của Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
ĐHQGHN là cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm tổ hợp các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau,
tổ chức theo hai cấp để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học; là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao, được Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển Trong những năm qua, công tác tổ chức quản lý dự án đầu tư từ NSNN tại ĐHQGHN đã đạt được nhiều kết quả trên các phương diện về xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn, chương trình, kế hoạch; đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trên cả phương diện tổ chức bộ máy, pháp luật, tổ chức thực thi, kiểm tra, giám sát và xử lý các vướng mắc phát sinh trong quản lý dự án đầu tư từ NSNN
Tuy nhiên, tổ chức quản lý dự án đầu tư từ NSNN tại ĐHQGHN còn một số bất cập: khung pháp lý về đầu tư, đấu thầu, NSNN, xây dựng chưa thống nhất, phức tạp, khó thực hiện; pháp luật về chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, triển khai đầu
tư, kiểm soát đầu tư nằm trong nhiều văn bản khác nhau, gây không ít khó khăn cho quản lý và tổ chức thực hiện; tổ chức bộ máy, năng lực quản lý, phân cấp, phân quyền về ngân sách, đầu tư cần phải thay đổi; việc đầu tư ngân sách gặp khó khăn, thu hút vốn xã hội hóa chưa được thông thoáng; công tác kiểm soát còn nhiều bất cập Nguyên nhân của tình trạng trên là do hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, bộ máy quản lý nhiều tầng nấc, năng lực chưa đồng đều; nguồn vốn đầu tư chưa đủ và giải ngân chậm và khả năng thu hút vốn chưa cao; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thực sự phát huy hết tác dụng
Để giải quyết những bất cập trên, góp phần phát triển ĐHQGHN thành đơn vị
sự nghiệp hàng đầu ở Việt Nam và ngang tầm khu vực, cần thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp tổng thể tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ
nguồn NSNN tại ĐHQGHN Đây cũng chính là lý do học viên lựa chọn đề tài “Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tại Đại học Quốc gia Hà Nội” làm Luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu về dự án đầu tư từ nguồn NSSNN, quản lý dự án đầu tư
từ nguồn NSNN
Sách Quản lý dự án đầu tư công của TS Lê Như Thanh, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, 2017
Luận án Tiến sĩ Kinh tế Nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam của tác
giả Phạm Minh Hoá, Học viện Khoa học xã hội, 2017
Sách Thực trạng và giải pháp đầu tư công, dịch vụ công ở Việt Nam của tác
giả Hoàng Văn Hoan (Chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2016
Tình hình nghiên cứu tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
Trang 4Thể chế quản lý nhà nước về đầu tư công ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp của PGS.TS Nguyễn Hữu Hải và TS Trịnh Thị Thủy, Tạp chí Quản lý nhà
nước, số 254 (3/2017)
Hội thảo quốc tế về Cải cách thể chế kinh tế: chuyển đổi cấu trúc tăng trưởng
toàn diện và bền vững do Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Bộ
Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng Viện nghiên cứu Kinh tế Phát triển Thế giới thuộc Đại học Liên hợp Quốc (UNU-WIDER) tổ chức ngày 29 - 30/6/2014 tại Hà Nội
Bài Bàn về thể chế kế hoạch đầu tư công tại Việt Nam của tác giả Ngô Văn
Giang đăng trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 20, tháng 07/2017
Tình hình nghiên cứu tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN tại ĐHQGHN
Luận văn Thạc sĩ Giải pháp quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Ban
Quản lý các dự án Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Ngô Đức Phương, Trường
Đại học Kiến trúc Hà Nội, 2017
Tuy nhiên qua khảo sát cũng cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực diện, có hệ thống về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN tại ĐHQGHN, trong khi đây là lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng to lớn và lâu dài đến sự phát triển đất nước Có nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn triển khai tại ĐHQGHN về lĩnh vực này cần được làm sáng tỏ Vì vậy, đề tài này sẽ được thực hiện dựa trên việc tham khảo, tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình trước đó và vẫn đảm bảo tính mới, không trùng lặp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án
đầu tư từ nguồn NSNN, đánh giá được thực trạng và đưa ra các giải pháp bảo đảm tổ
chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN tại ĐHQGHN
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, luận văn hoàn thiện, bổ sung thêm: khái niệm, đặc điểm, vai trò; nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức
thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
- Nêu và đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu
tư từ nguồn NSNN tại ĐHQGHN, chỉ ra những kết quả, hạn chế, bất cập, nguyên nhân của kết quả, hạn chế
- Trên cơ sở thực trạng, nguyên nhân ở trên, luận văn đề ra các giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN tại ĐHQGHN
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN tại ĐHQGHN
Trang 55 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý, sử dụng NSNN nói chung, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN nói riêng
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong khi thực hiện đề tài cụ thể là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và các phương pháp khác
Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu xuất phát từ lý luận và thực tiễn của luận văn có thể
là tài liệu tham khảo cho những nhà lãnh đạo, quản lý của Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ĐHQGHN; là tài liệu tham khảo cho sinh viên, người nghiên cứu về quản lý dự án đầu tư, quản lý NSNN và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu nội dung gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp luật của tổ chức thực hiện pháp luật về quản
lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước
Chương 2 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3 Giải pháp bảo tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý
dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý
dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước
1.1.1 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn
ngân sách Nhà nước
Khái niệm ngân sách nhà nước
Theo khoản 14, Điều 4 Luật NSNN thì NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước
Khái niệm quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
Theo quy định tại khoản 15 Điều 4 Luật Đầu tư công sửa đổi năm 2019 thì đầu
tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và các đối
tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này Vốn đầu tư công theo quy quy
định của pháp luật bao gồm: vốn NSNN; vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư theo quy định của pháp luật Như
vậy, xét về mặt nguồn vốn thì đầu tư dự án từ NSNN có phạm vi hẹp hơn dự án đầu
tư công Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, các dự án đầu tư công chủ yếu sử dụng vốn từ
NSNN, vốn từ các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập rất ít và tỷ trọng rất thấp trong
tổng vốn đầu tư
Dự án đầu tư từ nguồn NSNN cần thiết phải có sự quản lý, nhất là trong điều kiện
Việt Nam hiện nay Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động,
phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung của dự án đầu tư
Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
Như vậy, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
được hiểu là tổng thể các hoạt động của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm quản lý
nhà nước, chủ đầu tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan hiện thực hóa các quy định
của pháp luật về quản lý dự án dự án từ nguồn NSNN, bảo đảm sử dụng NSNN tiết
kiệm, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí
1.1.2 Đặc điểm của tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn
ngân sách Nhà nước
Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
do nhiều chủ thể thực hiện
Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
có nội dung rất đa dạng, phức tạp, có sự tác động qua lại giữa nội dung
Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN bị
chi phối bởi yếu tố chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội
Trang 7Thứ tư, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
được quy định trong nhiều văn bản ở các cấp, các ngành
1.1.3 Vai trò của tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
hiện thực hóa giá trị, mục đích, ý nghĩa của đầu tư
Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN là
nhân tố quan trọng bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng nguồn vốn NSNN
Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả và khả năng cân đối nguồn lực; sử dụng vốn đúng mục đích, không để thất thoát, lãng phí đối với từng nguồn vốn, từng giai đoạn, từng nội dung và hạng mục
Thứ tư, tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
bảo đảm các dự án đầu tư được công khai, minh bạch
1.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
1.2.1 Ban hành văn bản, chương trình, kế hoạch về quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
Hệ thống văn bản này chủ yếu là các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật (nghị định, thông tư, quyết định quy phạm), kế hoạch, chương trình của các cơ quan từ Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ đến ủy ban nhân dân các cấp; văn bản, chương trình, kế hoạch của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện quản lý dự
án như chủ đầu tư, nhà thầu thi công, đối tác
Việc ban hành các văn bản, chương trình, kế hoạch phải căn cứ vào nhiều văn bản pháp luật, trong đó có các văn bản tiêu biểu sau:
i) Luật Thương mại năm 2005;
ii) Luật Thanh tra năm 2010;
iii) Luật Đấu thầu năm 2013;
iv) Luật Đầu tư công năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019);
v) Luật Đầu tư năm 2014;
vi) Luật Xây dựng năm 2014;
vii) Luật NSNN 2015;
viii) Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015;
1.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
Ở Việt Nam, quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN được giao cho nhiều cơ quan với thẩm quyền với cơ chế chỉ đạo, thực hiện, phối hợp và kiểm soát, cụ thể:
Quốc hội
Có thể khái quát thẩm quyền của Quốc hội trong quản lý dự án đầu tư từ NSNN như sau: Ban hành nghị quyết về đầu tư NSNN; quyết định chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia sử dụng vốn NSNN; quyết
Trang 8định và điều chỉnh kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm; điều chỉnh tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia; giám sát việc thực hiện kế hoạch đầu tư từ nguồn NSNN, chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia; giám sát việc thực hiện pháp luật về dự án đầu tư từ NSNN
Chính phủ
Chính phủ có thẩm quyền: thống nhất quản lý nhà nước về đầu tư; trình Quốc hội ban hành luật, nghị quyết; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết về đầu tư; ban hành văn bản pháp luật về quản lý đầu tư; trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia; quyết định chủ trương đầu tư chương trình đầu tư theo quy định; lập và trình Quốc hội quyết định, điều chỉnh kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm; tổ chức thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm; báo cáo Quốc hội về tình hình thực hiện
kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm, các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về đầu tư và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư, các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ và sử dụng vốn đầu tư; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ xác định vốn đầu
tư ngân sách nhà nước chi cho đầu tư phát triển của quốc gia theo từng ngành, lĩnh vực trong kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm
Bộ Tài chính
Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Tài chính - ngân sách Trong lĩnh vực đầu tư, Bộ Tài chính có thẩm quyền: Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm; phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Chính phủ xác định vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước chi cho đầu tư phát triển của quốc gia theo từng ngành, lĩnh vực trong kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm; chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các cơ quan tài chính của địa phương cân đối kinh phí thường xuyên để thanh toán các chi phí lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, phê duyệt quyết định đầu tư các chương trình và bảo trì, vận hành các dự án đưa vào sử dụng
Bộ, cơ quan ngang bộ
Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu tư theo quy định của pháp luật; ban hành, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn các dự án theo quy định; quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án theo quy định và quyết định đầu tư chương trình, dự án theo quy định; tổ chức lập kế hoạch đầu tư; theo dõi, đánh giá, giám sát, kiểm tra, thanh tra
tình hình thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án thuộc phạm vi quản lý
Trang 9Kiểm toán nhà nước
Trong lĩnh vực đầu tư từ NSNN, kiểm toán nhà nước có quyền: Quyết định kế hoạch kiểm toán hằng năm về kế hoạch, chương trình, dự án và báo cáo Quốc hội trước khi thực hiện; tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hằng năm, kiểm toán chuyên đề và thực hiện kiểm toán về kế hoạch, chương trình, dự án theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết quả kiểm toán năm, kiểm toán chuyên đề và kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán về kế hoạch, chương trình,
dự án; tổ chức công bố, công khai báo cáo kiểm toán về kế hoạch, chương trình, dự
án theo quy định của pháp luật
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp
Hội đồng nhân dân: Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án theo quy định; xem xét, cho ý kiến về kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm của địa phương, bao gồm danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án vốn ngân sách trung ương hỗ trợ có mục tiêu; quyết định kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm của địa phương, bao gồm toàn bộ danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương; giám sát các dự án sử dụng vốn NSNN được giao cho địa phương quản lý, bao gồm cả vốn ngân sách trung ương, vốn ngân sách địa phương, vốn từ nguồn thu hợp pháp của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập dành để đầu tư do địa phương quản lý
Ủy ban nhân dân: thực hiện quản lý nhà nước về đầu tư trên địa bàn theo quy định của pháp luật; trình Hội đồng nhân dân cùng cấp các nội dung sau đây: Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách địa phương; xem xét, có ý kiến về chủ trương đầu tư dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư theo quy định; xem xét, quyết định kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm theo danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án do địa phương quản lý; được phân cấp hoặc ủy quyền cho cơ quan cấp dưới, cơ quan chuyên môn quyết định đầu tư đối với các dự án theo quy định; tổ chức thực hiện và theo dõi, đánh giá kế hoạch đầu tư thuộc nguồn vốn đầu tư do cấp mình quản lý
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chủ trì tổ chức giám sát đầu tư của cộng đồng và phản biện xã hội đối với các chương trình, dự án theo quy định; tổ chức lấy ý kiến cộng đồng về chủ trương đầu tư các chương trình, dự án trên địa bàn theo quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật Đầu
tư công và theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Chủ đầu tư, các Ban Quản lý dự án, các tổ chức, cá nhân theo dõi, đánh giá, kiểm tra dự án
Theo quy định tại Điều 94 Luật Đầu tư công, chủ đầu tư dự án từ nguồn NSNN có quyền và trách nhiệm: i) tổ chức quản lý, thực hiện chương trình, dự án, bảo đảm đúng mục tiêu, tiến độ, chất lượng và hiệu quả của chương trình, dự án; ii) báo cáo, cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý, cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt nam các cấp về việc thực hiện chương trình, dự án theo quy định của pháp luật
Trang 10Đối với các Ban Quản lý chương trình, dự án có thẩm quyền: đề xuất các phương
án, giải pháp và tổ chức quản lý, thực hiện chương trình, dự án bảo đảm đúng mục tiêu, tiến độ, chất lượng theo ủy quyền của chủ chương trình, chủ đầu tư và báo cáo chủ chương trình, chủ đầu tư về tình hình triển khai thực hiện chương trình, dự án
1.2.3 Triển khai thực hiện quản lý dự án đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
Thứ nhất, công tác chỉ đạo thực hiện dự án đầu tư từ nguồn vốn NSNN
Thứ hai, hoạt động quản lý về đấu thầu
Thứ ba, quản lý chất lượng, quản lý thời gian, quản lý nhân lực, quản lý thông
tin, quản lý chi phí, quản lý rủi ro, quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán trong dự
án đầu tư từ NSNN
Thứ tư, đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư từ nguồn NSNN
1.2.4 Kiểm soát việc thực hiện dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước
Một là, kiểm toán dự án đầu tư từ nguồn NSNN Để nâng cao hiệu quả hoạt
động đầu tư từ ngân sách Nhà nước, đã có nhiều giải pháp kiểm soát đầu tư từ nguồn NSNN được đưa ra Theo Luật Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán kiểm tra đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và
sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của nhà nước Đây là công cụ rất đắc lực trong quản lý kinh tế cả về vi mô và vĩ mô thông qua việc tổ chức kiểm toán đối với các lĩnh vực, ngành, các loại hình đơn vị kinh tế mà ở đó phát sinh hoạt động sử dụng NSNN Cụ thể như sau:
- Góp phần đánh giá toàn diện (bao gồm cả yếu tố đầu vào, đầu ra và các yếu tố
có liên quan), trên cơ sở đó thúc đẩy, nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, hiệu lực các nguồn lực kinh tế của Nhà nước trong đầu tư từ nguồn NSNN tại các ngành, địa phương cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân;
- Trên cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước, tạo cơ sở cho việc khai thác các nguồn lực kinh tế của xã hội phục vụ cho những mục tiêu chung của nền kinh tế; qua đó góp phần tham gia vào việc phân bổ hợp lý các nguồn lực kinh tế Nhà nước ở từng lĩnh vực, ngành, địa phương, Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước có thể tư vấn cho Nhà nước những giải pháp để hoàn thiện quy trình phân bổ ngân sách cụ thể cũng như hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý kinh tế;
- Trên cơ sở công khai kết quả kiểm toán phản ánh một cách toàn diện hoạt động quản lý, sử dụng các nguồn lực kinh tế Nhà nước, Kiểm toán hoạt động của Kiểm toán Nhà nước góp phần phát huy dân chủ xã hội, trên cơ sở đó trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hiện đại hóa nền hành chính Nhà nước, phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa [41]
Hai là, kiểm tra, thanh tra đối với dự án đầu tư từ nguồn NSNN Đây là
phương thức kiểm soát sử dụng vốn NSNN hiệu quả bên cạnh kiểm toán Nội dung kiểm tra đầu tư bao gồm: Tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư; việc lập, thẩm định, phê duyệt, giao kế hoạch đầu tư; việc lập, thẩm định, phê duyệt
và thực hiện các chương trình, dự án được bố trí trong kế hoạch đầu tư; tình hình thực
Trang 11hiện kế hoạch đầu tư; tình hình nợ đọng xây dựng cơ bản, lãng phí, thất thoát trong đầu
tư công (Điều 69 Luật Đầu tư công 2019)
Về thanh tra đầu tư công, Điều 77 Luật Đầu tư công 2019, Luật Thanh tra 2010
và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định: Thanh tra hoạt động đầu tư công phải gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ thanh tra của các cơ quan, tổ chức và phải đúng trình tự, thủ tục thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra Kết luận thanh tra về hoạt động đầu tư công được công khai theo quy định của pháp luật Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đầu tư công, cơ quan thanh tra xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển hồ sơ tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý
Ba là, giám sát đối với dự án đầu tư từ nguồn NSNN Giám sát của các cơ
quan nhà nước với nội dung theo dõi thường xuyên, kiểm tra định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất quá trình thực hiện đầu tư của các cấp, các ngành và địa phương; phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai phạm, thiếu sót để đảm bảo đầu tư theo quy hoạch, kế hoạch, mục tiêu và đảm bảo hiệu quả
Bên cạnh đó, các dự án đầu tư từ nguồn NSNN chịu sự giám sát của cộng đồng,
xã hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ trì tổ chức thực hiện giám sát đầu tư của cộng đồng và phản biện xã hội Cơ quan chủ quản tham khảo, giải trình, tiếp thu ý kiến cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án đối với việc quyết định đầu tư dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án có quy mô di dân, tái định canh, định cư lớn, dự
án có nguy cơ tác động lớn đến môi trường, dự án có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án về chủ trương, chính sách đầu tư, xây dựng, đất đai, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường, đền bù, giải phóng mặt bằng và phương án tái định canh, định cư theo quy định của pháp luật
Nội dung giám sát đầu tư của cộng đồng khá đa dạng, bao gồm: việc chấp hành các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường; công tác đền bù, giải phóng mặt bằng và phương án tái định canh, định cư bảo đảm quyền lợi của Nhân dân; các chương trình, dự án sử dụng một phần vốn đóng góp của người dân; tình hình triển khai và tiến độ thực hiện các chương trình,
dự án; việc thực hiện công khai, minh bạch trong đầu tư từ nguồn NSNN theo quy định của pháp luât
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu
tư từ nguồn ngân sách Nhà nước
1.3.1 Yếu tố chính trị
Yếu tố chính trị là tiền đề, cơ sở nền tảng quan trọng đối với tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN Hệ thống chính trị (các đảng phái, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội) cùng với quan điểm, đường lối, định hướng sẽ tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN theo hai hướng: tích cực và tiêu cực Bên cạnh đó, bảo đảm chính trị là bảo đảm về dân chủ, văn hoá chính trị Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN chỉ có thể thực hiện, thực hiện có hiệu quả nếu đặt trong môi trường dân chủ, đặt trong xã hội có văn hoá chính trị phát triển Trong xã hội dân chủ, nhân
Trang 12dân cần được giám sát hoạt động đầu tư với nhiều phương thức hiện đại, đa dạng và nhà nước phải có trách nhiệm công khai, minh bạch hóa hoạt động sử dụng NSNN
1.3.2 Yếu tố kinh tế
Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN vừa là cơ
sở hạ tầng nhưng cũng chứa đựng yếu tố của kiến trúc thượng tầng, sẽ bị quyết định, chi phối bởi trình độ phát triển kinh tế, nền sản xuất, tiềm lực kinh tế của nhà nước và mức sống của người dân Tiềm lực kinh tế lớn, dân giàu, doanh nghiệp phát triển sẽ tạo tiền đề đẩy mạnh đầu tư, hoàn thiện bộ máy quản lý và hệ thống thể chế Ngược lại, trong nền kinh tế nghèo nàn, suy thoái, tất yếu sẽ bị hạn chế về vốn, kinh nghiệm quản lý, khả năng kiểm soát vốn thấp sẽ làm cho hệ thống pháp luật và bộ máy quản
lý đầu tư từ NSNN yếu, thiếu và lạc hậu
1.3.3 Yếu tố pháp lý
Yếu tố pháp lý ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN Thực chất thể chế cũng đã bao gồm các quy định, quy tắc do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư, có thể khái quát thành các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, các nguyên tắc pháp lý cơ bản của tổ chức thực hiện pháp luật về
quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
Thứ hai, pháp luật về tổ chức bộ máy quản lý dự án đầu tư từ NSNN
Thứ ba, pháp luật về chủ trương, quyết định, triển khai tổ chức thực hiện pháp
luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN
Thứ tư, pháp luật về kiểm soát tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án
đầu tư từ nguồn NSNN
1.3.4 Yếu tố xã hội
Các yếu tố về văn hoá, xã hội, tư tưởng đối với tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự án đầu tư từ nguồn NSNN rất đa dạng, phong phú và có ý nghĩa lớn Trong một xã hội bảo thủ, lạc hậu, trì trệ, bị Nhà nước thống trị về tư tưởng, xã hội và báo chí bị kìm kẹp thì ở việc tổ chức thực hiện quản lý, tính công khai, minh bạch và khả năng giám sát sử dụng vốn NSNN sẽ thấp Tư duy về quản lý kinh tế, về đầu tư
bị ảnh hưởng nặng nề của phương thức sản xuất nông nghiệp, đầu tư manh mún, nhỏ
lẻ Văn hóa đầu tư, quản lý tài chính tiền tệ trong thời kỳ hội nhập và cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội và thách thức bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý dự
án đầu tư từ nguồn NSNN
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
DỰ ÁN ĐẦU TƯ TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Đại học Quốc gia Hà Nội và các dự án đầu tư nguồn ngân sách Nhà nước
2.1.1 Khái quát về Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQGHN là cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm tổ hợp các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau,
tổ chức theo hai cấp để đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, trong đó tập trung vào lĩnh vực khoa học, công nghệ cao và một số lĩnh vực kinh
tế - xã hội mũi nhọn
Hiện nay, hệ thống tổ chức của ĐHQGHN sau khi được điều chỉnh, sắp xếp lại bao gồm: Cơ quan ĐHQGHN tham mưu, giúp việc cho Ban Giám đốc ĐHQGHN (Văn phòng, 08 Ban chức năng và Khối Văn phòng Đảng - đoàn thể) và 34 đơn vị thành viên và đơn vị trực thuộc
2.1.2 Các dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước
Từ năm 2014 đến nay, Ban Quản lý các dự án, ĐHQGHN đã và đang quản lý rất nhiều dự án đầu tư từ nguồn NSNN với tổng số kinh phí hàng ngàn tỷ đồng
Bảng 2.1 Thống kê các dự án của ĐHQGHN do Ban Quản lý các dự án
làm chủ đầu tư và trực tiếp quản lý
Nguồn: Ban Quản lý các dự án, ĐHQGHN
Tổng mức đầu tư (triệu đồng)
Thời gian thực hiện
1 Xây dựng và phát triển mô hình mới về đào tạo và
nghiên cứu Y-Dược hiện đại đạt chuẩn quốc tế
83.000 2012-2014
2
Nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học
cơ bản đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và
3 Xây dựng và Phát triển Trường THPT chuyên
Khoa học Tự nhiên đạt chuẩn quốc tế 50.000 2012-2016
4
Đầu tư chiều sâu xây dựng tổ hợp nghiên cứu, đào
tạo và sản xuất sản phẩm truyền thông VNU
Multimedia
37.386,8 2014-2016
5
Xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại phát triển một
số lĩnh vực ưu tiên theo hướng đại học nghiên cứu
tiên tiến của Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN
100.000 2014-2016
7 Xây dựng ngân hàng gen vi sinh vật quốc gia 74.000 2015-2019