1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình hướng nghiệp cho người khuyết tật điển cứu tại trung tâm khuyết tật và phát triển (drd), câu lạc bộ hướng nghiệp khuyết tật trẻ (ymca), trung tâm bảo trợ dạy nghề việc làm cho người tàn tậ

83 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm đề tài nhận thấy, người khuyết tật hiện nay phần lớn đều đã được đi học nghề, có trình độ chuyên môn nhưng những nghề mà người khuyết tật học xã hội vẫn chưa đáp ứng nhu cầu việc là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2011

Tên công trình:

MÔ HÌNH HƯỚNG NGHIỆP CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Điển cứu tại:

- Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD)

- Câu Lạc Bộ Hướng nghiệp Khuyết Tật Trẻ (YMCA)

- Trung tâm Bảo trợ dạy nghề - việc làm cho người tàn tật

Thành phố Hồ Chí Minh

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Phạm Thị Thu, Lớp K1.CTXH, khóa 2007 - 2011

Thành viên: Trần Nguyễn Lai Thi, Lớp K1.CTXH, khóa 2007 - 2011

Cộng tác viên: CN Huỳnh Ngọc Bích

Người hướng dẫn:

Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hiền, Bộ môn Công Tác Xã Hội

Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2011

Trang 2

NKT: Người khuyết tật

DRD : chương trình khuyết tật và phát triển BLĐTB&XH: Bộ lao động thương binh và xã hội YMCA: Câu lạc bộ hướng nghiệp khuyết tật trẻ WHO : Tổ chức Y tế thế giới

Trang 3

TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI 1

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10

1.2 Thao tác hóa các khái niệm 14

1.3 Những chính sách, dịch vụ hỗ trợ hướng nghiêp cho người khuyết tật 17

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

2.1Tình hình chung về việc làm, hướng nghiệp cho người khuyết tật ở Việt Nam 27

2.2 Giới thiệu 3 mô hình hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật ở khu vực TP Hồ Chí Minh 37

Hoạt động đào tạo và dạy nghề: 45

2.3 Đánh giá chung về 3 mô hình hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật 45

PHẦN KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHẦN PHỤ LỤC 64

Trang 4

TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Đề tài “Mô hình hướng nghiệp cho người khuyết tật” sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu sẵn có, phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với việc thu thập thông tin được sử dụng là công cụ phỏng vấn sâu, và quan sát có tham dự để làm nghiên cứu cho đề tài

Qua quá trình học tập, tìm hiểu, tham gia các hoạt động xã hội, hỗ trợ cho người khuyết tật, chúng tôi nhận thấy nhìn chung người khuyết tật hiện nay đã được hỗ trợ thêm về nhiều mặt, tạo điều kiện cho người khuyết tật hội nhập Thế nhưng, vấn đề việc làm luôn là vấn đề lớn không những đối với người khuyết tật mà còn gây nhức nhối đối với các cấp lãnh đạo

Ở đề tài này, nhóm chúng tôi đã đi khảo sát ở ba mô hình khác nhau về vấn đề hướng nghiệp giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại Câu lạc bộ hướng nghiệp khuyết tật trẻ (YMCA), Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD), và Trung tâm Bảo trợ dạy nghề - việc làm cho người tàn tật Nhóm đề tài nhận thấy, người khuyết tật hiện nay phần lớn đều đã được đi học nghề, có trình độ chuyên môn nhưng những nghề mà người khuyết tật học xã hội vẫn chưa đáp ứng nhu cầu việc làm, một phần là do những quy chuẩn mà xã hội đặt cho từng dạng khuyết tật: khiếm thị thì thường học mát xa, khiếm thính thì làm phục vụ, kết cườm; khuyết tật vận động thì học vi tính Chính vì thế mà cơ hội việc làm cho các bạn bị giới hạn do không được định hướng nghề nghiệp, được

tự do lựa chọn những ngành mà mình yêu thích, phù hợp với nhu cầu lao động của thị trường

Nhận thấy những khó khăn mà các bạn khuyết tật đang gặp phải, mong muốn được thay đổi đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu đề tài này Thông qua

đó, nhóm đề tài đã đưa ra một mô hình hướng nghiệp giúp NKT chọn được một ngành nghề phù hợp với khả năng và sở thích của họ Từ đó tạo cho họ có được công ăn việc làm ổn định

Trang 5

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài:

Người khuyết tật luôn là vấn đề đáng được sự quan tâm của xã hội đặc biệt khi Việt Nam đang trên đường hội nhập với nền kinh tế thế giới Thực vậy, nền kinh tế Việt Nam vốn có xuất phát điểm thấp, chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp, thêm vào đó lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh nên khi nền kinh

tế đang dần thay đổi sang cơ chế thị trường thì việc đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động chuyên môn ra đời là điều tất yếu Việt Nam là đất nước có dân số đông, nguồn nhân lực lao động dồi dào, cần cù, chịu khó nhưng chất lượng đào tạo còn thấp, vì thế nhu cầu tìm kiếm việc làm để phát triển kinh tế, đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình có chất lượng cao hơn là một nhu cầu cần thiết Nhu cầu đó còn khó khăn hơn khi người lao động là người khuyết tật Nhiều người thường nghĩ khuyết tật đồng nghĩa với mất khả năng kiếm sống cho bản thân và gia đình, đặc biệt khi phần lớn người khuyết tật được xếp vào hạng nghèo hoặc ít khá giả Tuy nhiên việc làm không chỉ có ý nghĩa kinh tế đối với người khuyết tật mà còn có ý nghĩa sâu sắc bởi việc làm đồng nghĩa với giá trị của bản thân, sự chấp nhận và tôn trọng người khuyết tật của xã hội

Theo số liệu thống kê của Chính Phủ năm 2003 thì Việt Nam có trên 5 triệu người khuyết tật, chiếm 6, 3% tổng dân số Gần 8% hộ gia đình Việt Nam

có người khuyết tật mà hầu hết là các hộ nghèo Có đến 80% người khuyết tật sống phụ thuộc vào nguồn trợ cấp từ gia đình hoặc xã hội thông qua Nhà Nước

và cộng đồng (1) So sánh với năm 2003 thì gần đây nhất theo Báo cáo kết quả suy rộng mẫu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở 01/04/2009 thì hiện nay tính từ mức độ khó khăn trở lên và được gọi là khuyết tật thì cả nước có 12, 1 triệu lượt người bị khuyết tật (2) Thực tế cho thấy, số lượng người khuyết tật trong những năm gần đây có chiều hướng tăng, chính vì vậy vấn đề về người khuyết tật ngày càng đòi hỏi phải có sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và cộng đồng trên nhiều khía cạnh Làm thế nào để người khuyết tật có thể sống độc lập, có

Trang 6

khả năng làm việc và tạo ra thu nhập phù hợp với khả năng và tình trạng sức khỏe của chính bản thân mình, để tự nuôi sống bản thân và vươn lên trong cuộc sống thì một trong những dịch vụ xã hội cơ bản nhất đối với người khuyết tật

đó là hướng nghiệp và dạy nghề

Như chúng ta đã biết, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, pháp lệnh… hỗ trợ cho người khuyết tật học nghề, tiếp cận và kiếm được việc làm nhằm giúp NKT có cuộc sống ngày càng thoải mái và đầy đủ hơn nhưng trên thực tế việc thực hiện pháp luật, chính sách về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật vẫn chưa hiệu quả và không được giám sát thường xuyên nên người khuyết tật vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi

Nhận thức được vấn đề này, nhóm chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài

“Mô hình hướng nghiệp cho người khuyết tật” với mong muốn khảo sát các

mô hình hướng nghiệp cho người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh Đề tài nhằm tìm hiểu đặc điểm của các mô hình hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật hiện nay, phân tích những thuận lợi, khó khăn của từng mô hình, từ đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp liên quan đến vấn đề nghiên cứu, cũng như hướng đến việc tìm ra một mô hình hướng nghiệp cho NKT thực sự phù hợp và hiệu quả

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu tìm hiểu các mô hình hướng nghiệp, đào tạo, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đề xuất những giải pháp khả thi trong thực tiễn nhằm

đưa ra một mô hình hướng nghiệp phù hợp và hiệu quả cho người khuyết tật

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu tình hình chung về vấn đề hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam

Trang 7

- Khảo sát 3 mô hình hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật ở thành phố Hồ Chí Minh gồm:

 Câu lạc bộ hướng nghiệp khuyết tật trẻ (YMCA), số 217A/10 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 17, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

 Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD), số 91/6N Hòa Hưng, Quận 3, Tp.Hồ Chí Minh

 Trung tâm Bảo trợ dạy nghề - việc làm cho người tàn tật, Thành phố

Hồ Chí Minh, 215 Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn (điểm mạnh – hạn chế), hướng phát triển của ba mô hình trên

- Kiến nghị và đề xuất những giải pháp Công tác xã hội về mô hình hướng nghiệp cho người khuyết tật mang tính phù hợp và hiệu quả

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Mô hình hướng nghiệp cho người khuyết tật

Khách thể nghiên cứu

Ban Giám đốc các Trung tâm, Chương trình, Ban chủ nhiệm các Câu lạc

bộ, NKT đã và đang tiếp cận với các dịch vụ, đang học nghề, làm việc tại các

cơ sở hướng nghiệp, dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT

Phạm vi nghiên cứu

Trong điều kiện giới hạn về thời gian và kinh phí thực hiện, nhóm tác giả chỉ thực hiện điển cứu tại 3 cơ sở hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại thành phố Hồ Chí Minh là:

- Câu lạc bộ hướng nghiệp khuyết tật trẻ (YMCA), số 217A/10 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 17, Quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

- Trung tâm khuyết tật và phát triển (DRD), số 91/6N Hòa Hưng, Quận

10, Tp.Hồ Chí Minh

- Trung tâm Bảo trợ dạy nghề - việc làm cho người tàn tật, Thành phố

Hồ Chí Minh, 215 Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh

Trang 8

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, cũng như để trả lời những câu hỏi mà nghiên cứu đặt ra, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp nghiên cứu định tính với công cụ thu thập thông tin

được sử dụng là công cụ phỏng vấn sâu

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện được 4 mẫu phỏng vấn sâu đối với các khách thể là: các giám đốc, chủ nhiệm của các trung tâm, câu lạc bộ, chương trình và người khuyết tật tại 3 cơ sở điển cứu

Ba cơ sở điển cứu được chọn dựa vào phương pháp chọn mẫu cụm Nhóm nghiên cứu chia các cơ sở hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại thành phố Hồ Chí Minh thành 3 cụm gồm:

- Đại diện cho cụm 2 là: Trung tâm khuyết tật và phát triển (DRD),

số 91/6N Hòa Hưng, Quận 10, Tp.Hồ Chí Minh

- Đại diện cho cụm 3 là: Trung tâm Bảo trợ dạy nghề - việc làm cho ngườitàn tật, Thành phố Hồ Chí Minh, 215 Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh

Thông qua công cụ phỏng vấn sâu đối với đại diện các cơ sở, nhóm nghiên cứu đã thực hiện việc thu thập thông tin về mô hình hoạt động, quá trình hình thành và phát triển, tình hình hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm cho NKT, những thuận lợi, khó khăn và định hướng phát triển của cơ sở

Trang 9

Thêm vào đó, nhóm nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp quan sát tham dự nhằm quan sát và ghi nhận các hoạt động cụ thể diễn ra tại các trung tâm, câu lạc bộ… để từ đó phản ánh trung thực hơn thực trạng hướng nghiệp của khách thể nghiên cứu

Ngoài ra, nhóm chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có được lấy từ các nguồn là các công trình nghiên cứu khoa học, các báo cáo có liên quan đến lĩnh vực người khuyết tật, các bài viết trên các tạp chí, tập san chuyên ngành công tác xã hội, xã hội học trong và ngoài nước, sách tài liệu tham khảo và thông tin đăng tải trên các trang web uy tín… Các dữ liệu thu thập được đã góp phần củng cố kết quả nghiên cứu, giúp nhóm tác giả có cái nhìn khái quát và phản ánh hoạt động của các mô hình, sự khác biệt về đối tượng tiếp cận dịch vụ giữa các mô hình, từ đó có thể so sánh và bổ sung cho kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Đề tài góp phần làm rõ thêm về các mô hình hướng nghiệp hiện nay cho người khuyết tật, từ đó đưa ra một mô hình hướng nghiệp phù hợp và hiệu quả, qua đó bổ sung thêm cơ sở lý luận cho các nghiên cứu và hoạt động trong lĩnh vực liên quan Ngoài ra, đề tài cũng nêu lên vai trò của hướng nghiệp trong việc định hình cho NKT có được một công ăn việc làm ổn định Hơn thế nữa, những đề tài nghiên cứu về người khuyết tật, đặc biệt là mảng việc làm, hướng nghiệp cho NKT còn rất ít nên đây sẽ là đề tài giúp bổ sung cho các chương trình hành động, chính sách, pháp luật lao động cho NKT trong tương lai

Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đã khái quát được thực trạng hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại một số cơ sở đã được khảo sát, qua đó cũng cung cấp thêm thông tin về nhu cầu, nguyện vọng, điều kiện làm việc của NKT… Từ đó nhóm tác giả có thể bổ sung kiến thức và kinh nghiệm cho mình

Trang 10

Nhưng trên hết, kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa rất lớn trong việc phản ánh nhu cầu lao động của người khuyết tật, nhấn mạnh vai trò của công tác đào tạo, hướng nghiệp và tạo việc làm cho NKT Đề tài giúp có cái nhìn thoáng hơn từ phía doanh nghiệp, cơ sở đối với khả năng làm việc của NKT cũng như hướng đến việc cung cấp cho các cơ quan, tổ chức liên quan những ý tưởng về mô hình hướng nghiệp cho NKT một cách phù hợp và hiệu quả

Kết quả nghiên cứu cũng có thể làm tư liệu tham khảo cho các môn học như công tác xã hội với người khuyết tật, công tác xã hội với nhóm dễ bị tổn thương… Ngoài ra nhóm tác giả cũng mong muốn kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được chuyển đến Sở LĐTB- XH để họ có thể đưa ra những chính sách tốt hơn trong việc thực hiện mô hình hướng nghiệp cho NKT có hiệu quả nhất

và có biện pháp, hỗ trợ nhân viên xã hội khi họ làm việc với NKT Kết quả đề tài cũng là nguồn tư liệu hữu ích cho các bạn có ý định nghiên cứu cùng chủ

đề

Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài

Với tinh thần làm việc nghiêm túc, trách nhiện cao trong quá trình tìm hiểu về mô hình việc làm, hướng nghiệp cho NKT tại thực địa (chương trình

dự án, câu lạc bộ, trung tâm bảo trợ) cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi đã tập hợp được lượng thông tin khá đa dạng và phong phú Điều này thực sự đã góp phần đảm bảo tính hợp lý và độ tin cậy thông tin của cuộc nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi có một số thuận lợi sau:

 Sự chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn: Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Hiền

 Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu đã được một số các tác giả đề cập trên các tạp chí, các trang web Nguồn tư liệu đó sẽ là cơ sở để nhóm chúng tôi đi sâu tìm hiểu và làm rõ thêm vấn đề cần nghiên cứu

 Trong quá trình thực hiện đề tài, tiếp cận với các đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu hướng nghiệp, việc làm cho NKT, nhóm đã được sự

Trang 11

giúp đỡ nhiệt tình từ phía các anh chị khuyết tật, giải đáp những thắc mắc của sinh viên tại địa bàn thực tế như câu lạc bộ, chương trình dự án…

 Đồng thời được sự giúp sức hỗ trợ nhiệt tình từ phía chị Huỳnh Ngọc Bích điều phối mảng việc làm ở DRD trong việc tìm hiểu, cung cấp thông tin, tài liệu và đề ra các giải pháp

Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức, thời gian cũng như kinh phí vì vậy mà trong quá trình nghiên cứu đề tài của nhóm chúng tôi còn

có một số hạn chế, khó khăn như sau:

 Đề tài chỉ dừng lại ở việc quan sát và thu thập thông tin trên nguồn dữ liệu sẵn có chứ không tiến hành điều tra và phỏng vấn sâu được nhiều đối tượng (ở đề tài chỉ có 4 mẫu phỏng vấn) nên chưa có cái nhìn khái quát về thực trạng của vấn đề để đưa ra nhận định, đánh giá khách quan hơn

 Đề tài chỉ đi sát vào tìm hiểu thông tin từ những nhân vật chịu trách nhiệm trong mảng việc làm chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu những người thụ hưởng gì từ phía hỗ trợ của những người trong mảng việc làm, hướng nghiệp đó

Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm 3 phần chính là: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, ngoài ra còn có phần phụ lục

Phần mở đầu gồm:

- Lý do chọn đề tài

- Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

- Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn

- Thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu

- Kết cấu của đề tài

Phần nội dung của đề tài gồm hai chương:

Trang 12

Chương 1: Cơ sở lý luận

- Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Những khái niệm liên quan

- Các chính sách, dịch vụ hỗ trợ cho người khuyết tật

- Khung lý thuyết của đề tài

- Các lý thuyết sử dụng trong đề tài

Chương 2: Kết quả nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Việc làm là một trong những nhu cầu cần có ở con người để mỗi người

ai cũng có thể tự thể hiện mình, tự làm những công việc mình thích Tuy nhiên

để có một công việc phù hợp không phải là dễ, đặc biệt đối với những người khuyết tật thì vấn đề này lại là một trong những vấn đề nan giải Để có được việc làm phù hợp với riêng từng dạng tật của người khuyết tật thì NKT phải được học nghề theo đúng dạng tật để thuận lợi trong việc học cũng như phát huy khả năng của mình trong công việc sau này Có rất nhiều chính sách để hỗ trợ cho NKT về vấn đề việc làm Nhưng trên thực tế thì không phải tất cả NKT đều được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định nhà nước Về vấn đề này, trong thời gian vừa qua cũng có một số công trình nghiên cứu, hội thảo, bài viết

Tìm hiểu về vấn đề việc làm của người khuyết tật vận động ở TP.Hồ Chí Minh, trong nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Nương (3), tác giả cho biết: dạng khuyết tật vận động là dạng tật có số lượng đông nhất so với các dạng tật khác, vì vậy đây là đối tượng mà tác giả muốn nói đến nhằm nêu lên thực trạng chung về vấn đề việc làm cho người khuyết tật Từ đó nêu lên những mong đợi

và nguyện vọng của đối tượng nghiên cứu về vấn đề việc làm, đáp ứng nhu cầu của họ, đồng thời tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị và giải pháp cho vấn đề nghiên cứu

Nhóm tác giả, “Học nghề và việc làm người tàn tật cần biết” năm 1997,

do Tổ chức Phát triển Châu Á vì người tàn tật (ADDP) Thông qua tài liệu này, nhóm tác giả mong muốn giúp người khuyết tật tìm hiểu về các văn bản, chính sách đối với người khuyết tật, giúp họ thấy được mối quan tâm của Đảng và Nhà Nước về vấn đề học nghề và việc làm Từ đó, giúp họ vững tin vươn lên trong cuộc sống tham gia lao động sản xuất tăng thêm sản phẩm xã hội, giúp

3

Huỳnh Thị Nương (2003), Tìm hiểu vấn đề việc làm của người khuyết tật vận động

ở TP.Hồ Chí Minh hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học Địa Lý, chuyên

ngành Địa Lý dân số xã hội, Trường ĐH KHXH&NV, TP Hồ Chí Minh

Trang 14

người quản lý các doanh nghiệp quan tâm hơn đến người khuyết tật, các cấp các ngành hiểu biết cặn kẽ hơn về vấn đề việc làm liên quan đến người khuyết tật

Theo tác giả Hoàng Mai, với bài viết “Dạy nghề và tạo việc làm cho

người khuyết tật”, tác giả cho biết “với hơn 5 triệu người khuyết tật trên cả

nước, có lẽ vấn đề nan giải trước tiên mà họ phải đối mặt đó là học nghề Các trường dạy nghề trên cả nước không phải là ít song lại không có nhiều cơ hội cho họ, đặc biệt là những người khuyết tật vận động và khiếm thính, khiếm thị

có cơ hội theo học” (3) Ở bài viết này, tác giả đưa ra một số cơ sở dạy nghề và

tạo việc làm cho NKT, nhấn mạnh cơ sở dạy nghề gia đình Gọi là cơ sở dạy nghề gia đình bởi lẽ các cơ sở dạy nghề này đều có xuất phát điểm là do các cá nhân tự thành lập và điều hành, thuận tiện cho người khuyết tật làm việc và hòa nhập vì môi trường làm việc xung quanh người khuyết tật rất thân thuộc và gần gũi với chính bản thân họ

Còn theo tác giả Ngọc Bảo, “Nhân rộng những mô hình việc làm hiệu quả cho người khuyết tật” (4), tác giả bài viết cho biết theo Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam, thì trong hơn 5 triệu người khuyết tật (NKT) của cả nước, có 2 triệu NKT rất cần có nghề nghiệp Tuy nhiên, làm thế nào để giúp NKT được học nghề và tạo việc làm bền vững thì trên thực tế chưa có nhiều mô hình hiệu quả Thực vậy, ở bài viết này tác giả đưa ra quan điểm là đào tạo nghề cần phải gắn với việc làm, phải đảm bảo khi học xong NKT kiếm được việc làm, thu nhập chứ không phải học xong để đấy Bởi lẽ, NKT thuộc các dạng tật khác nhau, trình độ tiếp thu và xu hướng học nghề cũng khác nhau cho nên việc đào tạo nghề sao cho phù hợp với người khuyết tật để áp dụng trong thực tế làm việc cho người khuyết tật là một trong những vấn đề nan giải của xã hội Trong bài viết này, tác giả cũng đưa ra được mô hình mới, nếu NKT học nghề ở các trung tâm dạy nghề trước đây, mỗi tháng Nhà nước trợ cấp 540 ngàn đồng/NKT thì cách đào tạo này chỉ đảm bảo NKT biết nghề, song sẽ không đảm bảo là sau học nghề có tìm được việc làm và làm việc có bền vững hay không? Để khắc phục hạn chế trên, Hội Bảo trợ người tàn tật và

4 Theo Báo Lao Động Online, 08/04/2010

Trang 15

trẻ mồ côi VN đang thực hiện chính sách hỗ trợ mỗi cơ sở dạy nghề 2 triệu đồng/1 NKT (nếu cơ sở cam kết giúp NKT học nghề và sau đó tạo việc làm ở

cơ sở ít nhất 1 năm) Mô hình này tuy mới triển khai nhưng khá hiệu quả Đáng mừng hơn, thực tế, chưa có trường hợp nào dừng hợp đồng làm việc với NKT sau 1 năm Đây có thể xem là một mô hình mới cần xem xét để nhân rộng

Một bài viết khác của tác giả Phú Sơn và Hồng Thạnh, “Dạy nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật: Vẫn cần một hướng đi bền vững” (5), theo bài viết thì tác giả cho rằng việc làm cho người khuyết tật là rất cần thiết vì đó là

cơ hội, là cách để giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng Thế nhưng trong thực tế hiện nay thì việc dạy nghề, học nghề cho người khuyết tật còn nhiều khiếm khuyết Đã có nhiều chính sách ban hành hỗ trợ tạo điều kiện việc làm cho người khuyết tật tuy nhiên việc áp dụng vào thực tế thì chưa khả thi Cho nên, theo tác giả thì để có hướng đi bền vững cho NKT, điều cốt yếu nhất là phải nâng cao nhận thức và vận động quần chúng cùng tham gia vào công tác dạy nghề, truyền nghề, đánh giá đúng khả năng tham gia lao động, tạo việc làm lâu dài tại cộng đồng cho NKT Cần có cơ chế khuyến khích các đơn vị, tổ chức tiếp nhận NKT nếu họ đủ khả năng làm việc

Cũng quan tâm đến vấn đề việc làm của NKT, nhưng ở đây tác giả Quỳnh Anh lại chú trọng tìm hiểu về “Quỹ việc làm cho người khuyết tật: Thai nghén đến bao giờ?” (6) Bài viết có nêu rõ theo Nghị định 81/CP, ngày

23/11/1995 của Chính phủ quy định:“Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương lập Quỹ Việc làm cho người tàn tật để trợ giúp người tàn tật phục hồi chức năng lao động và việc làm” Thế nhưng sau 14 năm được ban hành, Quỹ

Việc làm cho người khuyết tật (NKT) vẫn còn trong thời kỳ ''thai nghén'' khiến NKT gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, bình đẳng và hòa nhập xã hội Việc thành lập Quỹ Việc làm cho NKT là nhằm trợ giúp NKT vươn lên trong cuộc sống, giúp đỡ NKT học nghề, tạo việc làm, hỗ trợ các cơ sở dạy nghề, cơ

sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho NKT, hỗ trợ các doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế có nhận NKT vào học nghề và làm việc đạt tỉ lệ

Trang 16

cao Quy định là như vậy nhưng cho đến nay, số lượng NKT được nhận vào các cơ quan, xí nghiệp làm việc tỉ lệ chưa cao Thống kê của Bộ LĐ-TB&XH cho thấy, đến nay cả nước chỉ có 11 tỉnh, thành phố lập Quỹ việc làm cho NKT Sự chậm trễ trong việc thành lập Quỹ khiến NKT gặp phải rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Nguyên nhân của tình trạng trên có thể bắt nguồn từ nhiều phía như việc thiếu chế tài xử phạt đối với các doanh nghiệp, việc xuất hiện một quỹ mới đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ hoặc chuyên trách, hoặc kiêm nhiệm và đều phải có thù lao cho đội ngũ này, hay nhiều tỉnh còn nghèo nên chưa có ngân sách, các nguồn vốn huy động đều hạn chế, mà lại phải chi cho nhiều lĩnh vực, hạng mục khác…Tuy nhiên việc thành lập Quỹ việc làm cho NKT là một hoạt động thiết thực để NKT có thêm nhiều cơ hội bình đẳng

và hòa nhập

Nguyễn Thị Kim Dung, “Cẩm nang tìm việc làm”, Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000, theo bài viết tác giả giới thiệu nhu cầu tuyển dụng của các ngành nghề của 52 công ty trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh với địa chỉ cụ thể, điều kiện thủ tục thị trường, địa chỉ các trung tâm chi nhánh giới thiệu việc làm và những kinh nghiệm trong quá trình đi phỏng vấn để tạo điều kiện cho NKT có công ăn việc làm

Trên đây là một số nguồn tài liệu hạn hẹp mà nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu Do hạn chế về thời gian và nguồn tài liệu nên nhóm chỉ tổng quan một số báo cáo, bài viết trên các báo, tạp chí, trang web Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu chúng tôi nhận thấy vẫn chưa có nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu về hoạt động hướng nghiệp cho người khuyết tật mà chủ yếu tập trung vào công tác dạy nghề và giải quyết việc làm Dưới góc nhìn của sinh viên ngành công tác xã hội, nhóm nghiên cứu nhận thấy hướng nghiệp có một vai trò hết sức quan trọng quyết định sự thành công của công tác đào tạo và giải quyết việc làm, vì vậy nhóm đã tiến hành nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị và giải pháp về một mô hình hướng nghiệp cho NKT phù hợp và hiệu quả

Trang 17

1.2 Thao tác hóa các khái niệm

1.2.1 Những khái niệm về người khuyết tật

Người khuyết tật (tiếng Anh: People with disability) là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm

đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày

Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn Còn Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm

1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người

khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng

kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết

cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là:

khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap)

Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999) Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác (DPI, 1982) Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng

Trang 18

phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống

Bộ Y tế và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là hai bộ chính soạn thảo ra các chính sách và cung cấp các dịch vụ phục hồi chức năng, chăm sóc

và điều trị và cung cấp phúc lợi xã hội cho người khuyết tật Hai bộ phận này đã sử dụng những định nghĩa về khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật của tổ chức y tế thế giới là:

Khiếm khuyết (ở các bộ phận cơ thể): bị mất hoặc tình trạng bất bình thường một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý Khiếm khuyết

có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh Giảm khả năng (ở cấp độ cá nhân): giảm hoặt mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây ra; hạn chế hoặc mất chức năng (vận động, nghe, hoặc giao tiếp)

Tàn tật (ở cấp độ xã hội): những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật Hậu quả của sự tương tác giửa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với những rào cản trong môi trường xã hội, văn hóa hoặc vật chất, làm cho cá nhân này không thể tham gia một cách bình đẳng và cuộc sống cộng đồng chung hoặc hoàn thành một vai trò bình thường

Để phân loại khuyết tật, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng phương pháp phân loại của tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong đó khuyết tật được chia thành

7 loại chính như sau:

- Khuyết tật thể chất/vận động (chẳng hạn: cụt tay chân, tê liệt, tật bẩm sinh khác)

- Khuyết tật nghe/nói (giao tiếp)

- Khuyết tật nhìn

- Khuyết tật về khả năng học tập (nhận thức hoặc trí tuệ)

- Hành vi lạ (do bệnh về tâm thần như trầm cảm và tâm thần phân biệt gây ra)

- Động kinh

- Những khuyết tật khác, chẳng hạn như bệnh phong

Trang 19

Tuy nhiên việc phân loại này không được sử dụng một cách thống nhất

vì các tài liệu khác nhau định nghĩa về các loại khuyết tật cũng khác nhau (7)

Còn theo Pháp lệnh về Người tàn tật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ

nghĩa Việt Nam định nghĩa người tàn tật như sau: “Không phân biệt nguồn gốc

gây ra tàn tật, người tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó

khăn”

1.2.2 Những khái niệm về mô hình hướng nghiệp và dạy nghề

Nghề nghiệp là một dạng lao động mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách

là chủ thể của hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân Như vậy, nói tới nghề nghiệp là nói tới điều kiện khách quan

do xã hội đặt ra

Nghề nghiệp nào trong nó cũng hàm chứa giá trị Tri thức lí thuyết nghề, kĩ năng kĩ xảo, “bí quyết công nghệ”, truyền thống, đạo đức nghề, hiệu quả nghề Những giá trị này được hình thành có tính chất tự phát (con đường kinh nghiệm) hoặc thông qua con đường giáo dục (hệ thống giáo dục đào tạo hoặc con đường truyền nghề ngắn hạn)

Nghề gắn với “nghiệp”, thất nghiệp tức là không có việc làm, không có thu nhập và không tạo ra sản phẩm Có nghề nhưng có thể thất nghiệp, có việc làm ổn định và chắc chắn có thể khẳng định được là người “có nghề” Khái niệm “việc làm” với “nghề” không đồng nghĩa, sự nhầm lẫn này gây ra hậu quả sai lầm trong quá trình đào tạo nghề, hoặc thiết lập mô hình giáo dục nghề hiện nay

Khái niệm mô hình được hiểu là “vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật thể khác để trình bày, nghiên cứu hoặc là hình thức diễn đạt hết sức ngắn gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy”

Trang 20

Mô hình có tính đồng nhất hoặc tương đồng với cấu trúc của đối tượng được

mô tả

Mô hình khuyết tật

Có nhiều mô hình khuyết tật, dưới đây chỉ trình bày hai mô hình chính:

Mô hình y học của khuyết tật: theo đó khuyết tật là tình trạng suy giảm thể chất, tinh thần của một cá nhân ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của cá nhân đó Như vậy việc chữa trị hoặc kiểm soát khuyết tật đồng nghĩa với việc xác định, tìm hiểu, cũng như tác động lên khuyết tật Do đó nếu chính phủ, khu vực tư nhân và toàn xã hội đầu tư cho việc chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ có liên quan để chữa trị các khuyết tật về mặt y học sẽ giúp người khuyết tật có một cuộc sống bình thường Mô hình này nhấn mạnh đến bản chất của chính khuyết tật

Mô hình xã hội của khuyết tật: theo đó những rào cản và định kiến của

xã hội dù là có chủ ý hay vô ý là những nguyên nhân chính xác định ai là người khuyết tật và ai không là người khuyết tật Mô hình này cho rằng một số người

có những khác biệt về mặt tâm lý, trí tuệ hoặc thể chất (những khác biệt mà đôi khi có thể coi là những khiếm khuyết) so với chuẩn mực chung, nhưng những khác biệt này sẽ không dẫn đến các khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống nếu xã hội có thể giúp đỡ và có suy nghĩ, ứng xử tích cực Mô hình xã hội nhấn mạnh tới sự bình đẳng và chú trọng đến những thay đổi cần thiết của xã hội (8)

1.3 Những chính sách, dịch vụ hỗ trợ hướng nghiêp cho người khuyết

tật

1.3.1 Cơ chế chính sách dành cho người khuyết tật

Ngày 13 Tháng 12 năm 2006, Liên Hợp Quốc đã thông qua công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật, đến nay (thời điểm của bài báo là năm 2008) đã có khoảng 200 quốc gia tham gia ký kết Việt Nam là thành viên thứ

118 tham gia ký Công ước vào tháng 10/2007 Ngày 30/7/2009, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, đại diện Chính phủ Mỹ cũng đã ký công ước này Đây

là công ước quốc tế về nhân quyền đầu tiên mà Mỹ đã ký trong gần một thập

8 Theo www.ttbtntt.com.vn Trung tâm Bảo trợ -Dạy nghề và Tạo việc làm cho người khuyết tật Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố)

Trang 21

kỷ qua Được xây dựng dựa trên khuôn khổ Tuyên ngôn nhân quyền, Công ước

về quyền của người khuyết tật đã có hiệu lực từ ngày 3 tháng 5 năm 2008 và lần đầu tiên, Công ước này đã thiết lập quyền của 650 triệu người khuyết tật trên toàn thế giới Đây là hiệp ước đầu tiên mang lại vị thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người Công ước này còn có ý nghĩa đặc biệt khi thay đổi cách nhìn đối với tình trạng khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không phải là vấn đề y tế, và xác lập sự dịch chuyển từ phương thức tiếp cận theo hướng nhân đạo sang hướng nhân

quyền

Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã ký cam kết tham gia Công ước về quyền của NKT Đến nay, Công ước đã được 136 quốc gia ký kết và 41 quốc gia phê chuẩn Như vậy, kể từ ngày 03/5/2008, Công ước đã có hiệu lực trên toàn hành tinh Ở Việt Nam, các cơ quan, tổ chức hữu quan đang tích cực chuẩn bị đề án

để báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình cơ quan có thẩm quyền đã phê chuẩn công ước này

Công ước quốc tế về quyền của NKT dành Điều 27 để quy định rõ quyền làm việc của NKT: "Các quốc gia thành viên công nhận quyền được làm việc của NKT, trên cơ sở bình đẳng với người khác; trong đó bao gồm cả quyền có cơ hội kiếm sống bằng một công việc được tự do lựa chọn hoặc chấp nhận trong thị trường lao động và môi trường làm việc mở, hòa nhập và dễ tiếp cận đối với NKT." Điều 27 cũng đề ra 11 biện pháp mà các quốc gia thành viên cần phải thực hiện để bảo đảm quyền làm việc của NKT:

- Nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật trong các vấn đề có liên quan đến tất cả các hình thức về việc làm, bao gồm các điều kiện tuyển dụng, thuê và nhận vào làm, duy trì việc làm, thăng tiến trong sự nghiệp, các điều kiện lao động an toàn và bảo đảm sức khỏe

- Bảo vệ quyền của NKT, trên cơ sở bình đẳng với người khác, nhằm bảo đảm điều kiện lao động công bằng và thuận lợi, bao gồm cơ hội bình đẳng và được trả lương bình đẳng cho những công việc như nhau,

có các điều kiện làm việc an toàn và bảo đảm sức khỏe, bao gồm việc bảo vệ khỏi bị quấy rối và được bồi thường cho nỗi bất bình

Trang 22

- Bảo đảm NKT có thể thực hiện quyền lao động và quyền về công đoàn, bình đẳng với người khác

- Bảo đảm NKT tiếp cận có hiệu quả tới các chương trình chung về hướng dẫn kỹ thuật và dạy nghề, các dịch vụ sắp xếp việc làm, chương trình đào tạo và bổ túc nghề

- Nâng cao cơ hội có việc làm và sự thăng tiến trong nghề nghiệp của NKT trong thị trường lao động cũng như hỗ trợ trong việc tìm việc làm, nhận được việc làm, duy trì việc làm và trở lại làm việc

- Tăng cường khả năng tự tạo việc làm, lập doanh nghiệp, phát triển các hợp tác xã và bắt đầu tạo dựng sự nghiệp riêng

- Tuyển dụng NKT trong khu vực công

- Thúc đẩy việc làm của NKT trong khu vực tư nhân thông qua các chính sách và biện pháp phù hợp, trong đó có thể bao gồm những chương trình hành động được phê chuẩn, sự khuyến khích và các biện pháp khác

- Bảo đảm có sự điều chỉnh hợp lý đối với NKT tại nơi làm việc

- Nâng cao sự tiếp thu kinh nghiệm làm việc của NKT trong thị trường lao động mở

- Thúc đẩy phục hồi nghề nghiệp và chuyên môn, duy trì việc làm và trở lại làm việc của NKT

- Các quốc gia thành viên bảo đảm NKT không bị bắt lao động cực nhọc như nô lệ hay khổ sai; và họ được bảo vệ, trên cơ sở bình đẳng với những người khác, trước những công việc lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc

Người khuyết tật là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước ta dành rất nhiều sự quan tâm cho đối tượng này, tuy nhiên, do số lượng người khuyết tật ở nước ta còn đông, hơn 5, 3 triệu người, nên người khuyết tật gặp nhiều khó khăn, nhất là trong vấn đề huy động các nguồn lực từ xã hội trợ giúp họ hoà nhập cộng đồng cũng như phát huy tiềm năng của chính người khuyết tật Những khó khăn mà người khuyết tật ở Việt Nam gặp phải trong công tác huy động nguồn lực xã hội mà người khuyết tật

Trang 23

gặp phải là: nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật còn hạn chế; sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở ngại hoà nhập; huy động sự ủng hộ từ bản thân nội lực các cơ quan tổ chức trong nước chưa nhiều; chưa biết sử dụng có hiệu quả nguồn ủng hộ từ các tổ chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng lực quản lý; điều kiện giao thông chưa tiếp cận; các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế, việc làm còn chưa đi vào chiều sâu và hiệu quả; Bản thân nhiều người khuyết tật còn chưa khẳng định được tiếng nói của chính mình trong xã hội do mặc cảm, tự ti… Nhìn chung, những khó khăn là vô cùng, ngay cả với những người không phải khuyết tật, vì vậy, trong khuôn khổ của chương trình, để đi được một cách

có trọng tâm, xin nói đến bốn phần chính:

Cho đến nay, văn bản pháp luật đầy đủ và có hiệu lực rộng rãi về vấn đề người khuyết tật duy nhất là pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về Người tàn tật (06/1988/PL-UBTVQH10, ngày 30 tháng 07 năm 1998) Pháp lệnh cũng đã đề cập đến nhiều chính sách dành riêng cho người khuyết tật có liên quan đến y tế, giáo dục, học nghề, việc làm, hoạt động thể dục thể thao

như:

- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội

- Người tàn tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật

- Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách và vận động xã hội để trợ giúp người tàn tật trong việc khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, học văn hoá, học nghề, tạo việc làm, tự ổn định đời sống

- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia các hoạt động xã hội - từ thiện trợ giúp người tàn tật với các hình thức phù hợp

Trang 24

Bên cạnh pháp lệnh, là một số các văn bản đơn lẻ tập trung vào một vài lĩnh vực việc làm, trợ cấp xã hội…

1.3.2 Các chương trình hỗ trợ dành cho người khuyết tật

Các chương trình hỗ trợ người khuyết tật tập trung ở vấn đề an sinh xã hội như bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục dạy nghề và hướng nghiệp, giáo dục hoà nhập, trợ cấp xã hội…

Gần đây, nhiều cơ quan và tổ chức trong cũng như ngoài nước dành nhiều quan tâm hơn cho lĩnh vực người khuyết tật và có đầu tư mở các cơ sở giáo dục dạy nghề cho người khuyết tật như dạy tin học (công nghệ thông tin), dạy nghề (may, thêu, thủ công, …) Nhiều trung tâm phục hồi chức năng và nuôi dưỡng người khuyết tật ra đời, nhiều tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước có các dự án đầu tư, tài trợ cho các trung tâm này

Bên cạnh đó, các trung tâm tư vấn cho người khuyết tật cũng ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của không chỉ người khuyết tật mà còn của gia đình người khuyết tật và những người có quan tâm

Mạng lưới người khuyết tật trên cả nước ngày càng được mở rộng thông qua những kênh thông tin chính thống như báo đài, ti vi, tổ chức về người khuyết tật…

Gần đây, tiếp cận giao thông của người khuyết tật cũng đã được quan tâm, với các chương trình như giao thông tiếp cận cho người khuyết tật, xe bus miễn phí tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, việc đăng kiểm xe ba bánh cũng được tiến hành…

Hàng năm, ngày 18-04 được lấy là ngày người khuyết tật Việt Nam, trong ngày này, nhiều chương trình về người khuyết tật diễn ra Cùng với đó, ngày 03-12 hàng năm, ngày người khuyết tật quốc tế luôn là một cơ hội lớn cho tất cả người khuyết tật trên cả nước giao lưu, chia sẻ và tìm kiếm cơ hội việc làm

Các Lý thuyết sử dụng trong đề tài:

Để làm rõ hơn những vấn đề mà nhóm chúng tôi đã đề cập trong đề tài

thì nhóm xin trình bày một số lý thuyết mà nhóm đã vận dụng:

Trang 25

1.1.1 Lý thuyết xã hội hóa và hành động xã hội của Max Weber

Theo Max Weber thì xã hội hóa là một quá trình dạy dỗ và học hỏi mà qua đó cá nhân tham gia vào quá trình này học cách hành động đúng đắn theo chuẩn mực của nhóm xã hội Qúa trình xã hội hóa thống nhất với nhau qua ba giai đoạn: giai đoạn ở gia đình, nhà trường và ngoài xã hội, con người thường học cách suy nghĩ và hành động phù hợp với những người xung quanh trong cả

ba môi trường một cách đan xen và nó chỉ chấm dứt khi chúng ta chết đi Qúa trình này là một quá trình khó khăn, phức tạp, cá nhân ở mỗi hoàn cảnh khác nhau sẽ có những hành động khác nhau Điều đó có nghĩa là con người ngoài việc phản xạ với các kích thích thì còn lựa chọn những cách ứng xử phù hợp với mong muốn của xã hội

Hoàn cảnh (điều kiện sống)

↓ Nhu cầu → Động cơ → Chủ thể → Công cụ → Mục đích

Theo Max Weber con người thường hành động theo 4 kiểu hành động: hành động hợp mục đích, hành động do cảm xúc, hành động mang tính truyền thống, hành động hợp lý Hành động xã hội chính là kết quả của quá trình học hỏi được ở người khác để cá nhân trưởng thành và phát triển nhân cách của mình thông qua tương tác xã hội

Nhóm nghiên cứu chúng tôi sử dụng lý thuyết này nhằm giải thích rõ hơn nữa mối quan hệ tương tác của con người và xã hội, điều đó có nghĩa là con người trong chúng ta dù là ai chăng nữa thì muốn hoàn thiện và phát triển, phải được

xã hội hóa ở các môi trường hay còn gọi là tác nhân xã hội hóa Điều này còn

có ý nghĩa hơn đối với người khuyết tật trong việc tương tác với các mối quan

hệ xã hội, được học hỏi, trau dồi kiến thức, kỹ năng để áp dụng trong cuộc sống, tạo cơ hội việc làm cho họ Và ngược lại trong quá trình làm việc NKT cũng sẽ tương tác và được xã hội hóa, thông qua đó có thể học hỏi, phát triển

và hòa nhập cộng đồng

Trang 26

1.4.2 Lý thuyết phân tầng xã hội của Max Weber

Cấu trúc xã hội nói chung và sự phân tầng xã hội nói riêng chịu sự tác động của hai nhóm yếu tố cơ bản: Các yếu tố kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất, thị trường…), và các yếu tố phi kinh tế (vị thế xã hội, năng lực, cơ may, quyền lực…)

Dựa trên các yếu tố này, ông phân biệt phân tầng xã hội thành: Phân tầng xã hội – giai cấp, phân tầng xã hội – vị thế, phân tầng xã hội – quyền lực Phân tầng xã hội – giai cấp đề cập đến yếu tố kinh tế (tài sản, nguồn vốn, sức lao động…) tác động đến cơ may sống của con người Phân tầng xã hội – vị thế dựa trên uy tín, danh vọng và đánh giá của xã hội tác động đến cuộc sống của con người Phân tầng xã hội – quyền lực: sự thống trị về quyền lực gây ảnh hưởng đến hành động của cộng đồng

Theo thuyết phân tầng xã hội thì những người nắm giữ kinh tế, có vị thế

và quyền lực (thường là những người giàu) sẽ có cơ hội sống cao hơn những người không nắm giữ các yếu tố này (thường là những người nghèo)

Chúng tôi vận dụng lý thuyết này vào đề tài nhằm giải thích cho câu hỏi nghiên cứu: Phải chăng người khuyết tật thường khó khăn hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội (văn hóa, y tế, giáo dục, hướng nghiệp việc làm…)? Phải chăng cơ hội nghề nghiệp của họ thường thấp hơn Và họ cần phải được quan tâm hơn nữa?

1.4.3 Lý thuyết nhu cầu của Maslow

Lý thuyết nhu cầu Maslow phần nào giải thích được động lực kích thích hành vi của con người Maslow phân chia các nhu cầu của con người làm 5 mức, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, thường được biểu diễn dưới dạng tháp Một cách biểu diễn khác là hình thang:

Nhu cầu sinh lý là căn bản nhất, gồm nhu cầu thức ăn và đồ uống, nhà

ở, quần áo, thư giãn Chúng được ưu tiên thỏa mãn trước khi con người nghĩ đến mức nhu cầu tiếp theo Hầu hết mọi người có mong muốn về an ninh và an toàn, không gặp phải những điều bất ngờ Mong muốn được các tổ chức xã hội chấp nhận là nhu cầu có tính xã hội hay nhu cầu có tổ chức Nhu cầu tự trọng

là những mong muốn có được địa vị, sự kính trọng, thành đạt và thành tích

Trang 27

trong mắt mình và mọi người Hiện thực hóa tiềm năng phát triển của mình và khám phá ra khả năng chính mình là nhu cầu tự thể hiện bản thân

Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu

của con người theo 5 cấp bậc:

- Nhu cầu cơ bản (basic needs)

- Nhu cầu về an toàn (safety needs)

- Nhu cầu về xã hội (social needs)

- Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)

- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)

Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp này đã được Maslow hiệu chỉnh thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc:

- Nhu cầu cơ bản (basic needs)

- Nhu cầu về an toàn (safety needs)

- Nhu cầu về xã hội (social needs)

- Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)

- Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs)

- Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs)

- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)

- Sự siêu nghiệm (transcendence)

Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới

Nhu cầu cơ bản (basic needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể

(body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu

cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái, …đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người

Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Nhu cầu này sẽ trở

thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ, … Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để

Trang 28

ở, …Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng

là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần

Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm, …cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này

Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu

mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love) Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm

Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi

là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng,

sự tự tin vào khả năng của bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn

Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs):

Maslow mô tả nhu cầu này như sau: “self-actualization as a person's need to be and do that which the person was “born to do”” (nhu cầu của một

cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra

để làm”) Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội

Như chúng ta biết, con người luôn có rất nhiều nhu cầu, trong đó nhu cầu chăm sóc sức khỏe là rất cần thiết Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi

mà nền kinh tế đang trên con đường hội nhập và phát triển, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về mọi mặt Vì vậy, chất lượng cuộc sống

và sức khỏe là một trong những yêu cầu cần được quan tâm của toàn xã hội

Trang 29

Thực tế trong các mô hình hướng nghiệp, đối tượng hưởng thụ các dịch vụ cũng có sự khác nhau giữa các dạng tật, giữa các mô hình, giữa thành thị với nông thôn - vùng sâu, vùng xa Bên cạnh đó, việc ban hành pháp lệnh của người tàn tật, luật khuyết tật của Nhà nước ta trong thời gian vừa qua, cùng với việc đầu tư nâng cấp, đưa các cơ sở dạy nghề về với nông thôn, vùng sâu, vùng

xa, đề ra các chính sách đãi ngộ cho các cơ quan, xí nghiệp có người khuyết tật làm việc, chính là việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người khuyết tật

Đó là sự vận dụng thuyết nhu cầu vào thực tiễn cuộc sống, khắc phục, hạn chế bớt sự phân tầng trong xã hội Nhóm nghiên cứu đề tài thông qua việc sử dụng các lý thuyết này nhằm giải thích sâu hơn những vấn đề nghiên cứu của mình

Khung lý thuyết của đề tài:

Thực trạng việc làm của người khuyết

khăn

Chính bản thân người khuyết tật

Gia đình người khuyết tật

Xã hội (chính sách và pháp lệnh của Nhà

Các nhà doanh nghiệp, công

Kiến nghị và giải pháp

MÔ HÌNH HƯỚNG NGHIỆP

Trang 30

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1Tình hình chung về việc làm, hướng nghiệp cho người khuyết tật ở Việt Nam

Việt Nam hiện có trên 5, 3 triệu NKT, chiếm 6, 4% dân số Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ là hai vùng có số người khuyết tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương ứng là 41, 86% và 35, 77% NKT ở độ tuổi lao động từ 16 - 55 (đối với nữ) và từ 16 - 60 (đối với nam), chiếm khoảng 70%;

có 61% trong độ tuổi lao động nhưng chỉ có khoảng 30% đang tham gia lao động tạo thu nhập cho bản thân và gia đình Thực tế cho thấy trình độ của phần lớn NKT thấp: Theo Bộ LĐTBXH, trình độ học vấn của NKT: 41% số NKT chỉ biết đọc, viết; 19, 5% NKT học hết cấp một; 2, 75 % có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học nghề và ít hơn 0, 1 % có bằng đại học hoặc cao đẳng Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghèo (9)

Theo báo cáo mới đây của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người khuyết tật và các văn bản pháp luật liên quan thì hiện có tới 37% người khuyết tật đang sống trong hộ nghèo, gần 80% trong độ tuổi lao động không có khả năng tham gia lao động, gần 88% số người từ 16 tuổi trở lên chưa được đào tạo chuyên môn, 79% đang sống dựa vào gia đình, người thân Những con số trên cho thấy vấn đề sinh kế cho người khuyết tật vẫn là bài toán nhức nhối

Hiện nay, cả nước có khoảng 1 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm 3% trẻ em nói chung ở lứa tuổi dưới 18 Mục tiêu của Việt Nam là sẽ đưa 70% trẻ em khuyết tật tới trường vào năm 2010; dạy nghề cho NKT đã được Nhà nước quan tâm và chỉ đạo tổ chức thực hiện từ lâu, ngay trong Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề… Nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề này từng bước được nâng cao và có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn Theo số liệu từ Hội Bảo trợ

9 Theo Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2005

Trang 31

Người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam, Hội Người mù và các Sở Lao động – thương binh và Xã hội, từ năm 1999 đến nay, cả nước có gần 30.000 NKT được học nghề Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về dạy nghề cho NKT được kiện toàn một bước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đều có những quy định cụ thể: ưu tiên cấp địa điểm thuận lợi, hỗ trợ vốn, kinh phí đào tạo, miễn giảm thuế, cho vay ưu đãi đối với các cơ sở dạy nghề cho NKT; giảm 50% học phí đối với người giảm khả năng lao động từ 31 – 40%, từ 41% trở lên được miễn học phí và hưởng trợ cấp; từ năm 2005, đối với giáo viên dạy nghề tại các cơ sở cho NKT được hưởng phụ cấp ưu đãi bẳng 70% lương theo ngạch bậc hiện hưởng và phụ cấp chức vụ

Năm 2003, Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh của Người tàn tật Việt Nam (nay là Hiệp hội Kinh doanh của Thương binh và Người tàn tật Việt Nam) được thành lập với mục tiêu phối hợp, hỗ trợ và tăng cường hợp tác giữa các hội viên cũng như với các tổ chức, cơ quan hữu quan nhằm phát triển dạy nghề, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tạo việc làm cho thương binh và người tàn tật Hiệp hội đã có một Tạp chí Hướng nghiệp và hoà nhập, ba trung tâm dạy nghề ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh và một Trung tâm Nghệ thuật hướng nghiệp Hiệp hội đã đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 51/2008/QĐ-TTg, ngày 24/4/2008 dành một số ưu tiên về thuế

và vay vốn cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh của NKT nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, tạo thêm nhiều việc làm dành cho NKT.Sau hơn 5 năm hoạt động, Hiệp hội đã phát triển từ 113 cơ sở lên 283 cơ sở hội viên trên toàn quốc; trong số đó, có 58 cơ sở có chức năng dạy nghề Khoảng 70% học viên được tạo công ăn việc làm ngay sau khi tốt nghiệp, nhờ cơ chế phối hợp, liên kết của các cơ sở với dạy nghề và các doanh nghiệp Bên cạnh đó, hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm trên cả nước cũng thu hút một số lượng lớn NKT vào học nghề, bình quân khoảng 10.000 người/năm Hàng năm, có hàng chục nghìn lượt lao động là NKT được đào tạo thông qua các khoá học nghề ngắn hạn, dài hạn Các tổ chức phi Chính phủ, tổ chức tự lực của NKT và vì NKT cũng đã triển khai nhiều chuơng trình, dự án dạy nghề và tạo việc làm cho NKT như Tổ chức Tầm nhìn thế giới (World Vision), Tổ chức Quan tâm

Trang 32

thế giới (World Concern), Hội Trợ giúp Người tàn tật việt Nam (VNAH), Tổ chức Chữ Thập đỏ Tây Ban Nha (CRS), Cơ sở Vì ngày mai; một số cơ quan, doanh nghiệp như Công ty HeartLink, Công ty TNHH Ford Việt Nam, Công ty Thiết bị và Sản phẩm an toàn Việt Nam (Tạp chí LĐXH) Trong toàn quốc hiện có hơn 500 cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của NKT với khoảng hơn 25.000 NKT đang làm việc Các doanh nghiệp này có quy mô lớn, nhỏ khác nhau Có doanh nghiệp có trên 400 NKT đang làm việc như công ty Chân

- Thiện - Mỹ ở Hải Dương và Bắc Ninh Nhưng lại có doanh nghiệp chỉ có 5 đến 6 NKT làm việc

Đa số NKT sống cùng với gia đình và có mức sống nghèo hoặc trung bình Hơn 80% NKT sống cùng với gia đình tại nông thôn Đại bộ phận họ làm nghề thủ công truyền thống như: đan lát mây tre, bện thừng, làm chổi, dệt đay Ngoài ra, họ còn làm những nghề trong gia đình như trồng rau, chăn nuôi gia súc, gia cầm Tại nhiều làng nghề truyền thống, họ thực hiện nhiều các công việc không đòi hỏi nhiều sức lực và vận động ở nhiều nơi, NKT còn làm việc theo tổ, nhóm trong các hợp tác xã cùng một địa phương Có nhiều người làm việc tại nhà, hợp tác xã giao nguyên liệu và thu nhận sản phẩm Việc làm của NKT ở nông thôn đã góp phần nhất định vào thu nhập của gia đình và tạo cho họ một cuộc sống độc lập, tạo vị thế bình đẳng và hoà nhập nhất định.Còn một mảng việc làm của NKT là các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của NKT Các doanh nghiệp này phần lớn do NKT tự thành lập hoặc được thành lập bởi các thành phần kinh tế khác, nhưng mỗi doanh nghiệp phải đạt được trên 51% NKT làm việc trong tổng số biên chế của đơn vị

Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO, các cơ sở sản xuất, kinh doanh của NKT phải cố gắng năng động, vượt lên để có cơ hội phát triển, đứng vững trong nền kinh tế thị trường Trước mắt, cần đổi mới phương thức quản

lý, đổi mới công nghệ, trang thiết bị, cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm và tìm được đầu ra cho sản phẩm Trong nền kinh tế thị trường, nếu NKT không được đào tạo thì không thể tìm được việc làm phù hợp và có thu nhập ổn định

để nuôi sống bản thân và gia đình, có cơ hội bình đẳng thực sự và hoà nhập đầy

đủ

Trang 33

Một trong những dịch vụ cơ bản đối với NKT là hướng nghiệp và dạy nghề nhằm giúp họ có việc làm, tạo thu nhập để họ có thể độc lập phù hợp với khả năng và tình hình sức khỏe của mình Hàng năm ngân sách Nhà Nước dành cho hoạt động dạy nghề cho NKT đều tăng, năm 2005 là 11 tỷ, đến 2006 tăng lên 20 tỷ, năm 2007 là 156 tỷ (cho hai đối tượng là nông dân và người khuyết tật), năm 2008 con số này là 160 tỷ đồng Nhận thức của xã hội đối với NKT từng bước được nâng cao Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về dạy nghề cho NKT được kiện toàn một bước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đều có những quy định ưu đãi đối với các hoạt động này như ưu tiên cấp địa điểm thuận lợi, hỗ trợ vốn, kinh phí đào tạo, miễn giảm thuế, cho vay vốn ưu đãi đối với các doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề; giảm 50% học phí đối với người suy giảm khả năng lao động từ 31- 40%, từ 41% trở lên được miễn học phí và hưởng trợ cấp; từ năm 2005 giáo viên dạy nghề cho NKT còn được hưởng phụ cấp ưu đãi bằng 70% lương theo ngạch bậc hiện hưởng và phụ cấp chức vụ Tuy nhiên, có thế thấy việc thực hiện luật pháp và chính sách về dạy nghề đối với người khuyết tật chưa nghiêm, hoạt động kiểm tra giám sát chưa thường xuyên, chính vì vậy người khuyết tật vẫn chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận dạy nghề Hệ thống dạy nghề vừa thiếu vừa yếu, chưa đủ khả năng đáp ứng công tác dạy nghề nói chung và dạy nghề cho NKT nói riêng Nội dung chương trình, ngành nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu, quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành; chưa có những giáo trình riêng dành cho NKT; thiếu các thiết bị dạy nghề đối với họ; đội ngũ giáo viên còn yếu về cả kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực kĩ thuật, sư phạm và quản lý đối với NKT Bên cạnh đó, việc đánh giá mức độ khuyết tật theo khả năng lao động đối với chúng ta hầu như chưa có Hiện chỉ mới tồn tại các hệ thống đánh giá dạng tật theo y tế mà chưa có hệ thống đánh giá về khả năng lao động còn lại để hướng nghiệp và dạy nghề cho phù hợp, giúp họ tìm được một nghề ổn định cuộc sống Thực tế cho thấy, dạy nghề cho người khuyết tật có đặc thù khác với dạy nghề nói chung là phải gắn liền với tạo việc làm, chỉ nên dạy những nghề mà họ có thể tạo việc làm hoặc dạy nghề theo địa chỉ của các

cơ sở kinh doanh Tuy nhiên những cán bộ giới thiệu việc làm cho người tốt

Trang 34

nghiệp tại các cơ sở dạy nghề cho NKT chưa đủ kĩ năng tiếp cận, làm việc với

họ Chính vì vậy, hiệu quả của việc hướng nghiệp định hướng dạy nghề chưa cao NKT chưa tin tưởng vào việc tìm kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp Những bất cập nêu trên cũng xuất phát từ những khó khăn trong việc dạy nghề cho NKT Trước hết là những định kiến từ phía gia đình, xã hội và nhận thức của cộng đồng đối với NKT Nhiều người vẫn còn nghĩ họ là những người tàn phế, cần sự bao bọc của gia đình và xã hội Thứ hai, các giáo viên dạy nghề cho NKT chưa có kinh nghiệm dạy hòa nhập, phương tiện giao thông và tiện nghi khó tiếp cận đối với NKT Thứ ba về phía các cơ sở dạy nghề cho NKT còn thiếu định hướng nghề nghiệp và tư vấn lựa chọn chương trình học phù hợp cho học viên, chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo nghề cho NKT Cuối cùng là do chính những NKT còn có những hạn chế nhất định trong việc tiếp thu nghề nghiệp được học, thiếu tự tin trong cuộc sống, khả năng diễn đạt không rõ rang và chính xác, cộng với những trở ngại trong việc đi lại… khiến họ không thể trở thành đối tượng dạy nghề như những người bình thường (10)

Theo quy định, mỗi NKT học nghề ngắn hạn được hỗ trợ 540.000đ/tháng, trong đó có 300.000 đồng học nghề, còn 240.000 đồng là tiền

hỗ trợ đi lại, ăn, ở Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh của người tàn tật Việt Nam vừa có công văn gửi các Bộ, ngành chức năng, đề nghị nghiên cứu, nâng mức

hỗ trợ từ 540.000 đồng/người lên 700.000 đồng/người vì tình hình trượt giá Theo kết quả điều tra, trong tổng số người khuyết tật được hỏi ý kiến thì

nguyện vọng của người khuyết tật:

- 48, 5% số người tàn tật mong muốn nhà nước trợ cấp vốn để tự tạo việc làm

- 23, 9% có nguyện vọng phục hồi chức năng

- 13, 56% có nhu cầu được bố trí việc làm

- 9, 98% mong muốn nhà nước thu hút vào các cơ sở bảo trợ xã hội

Trang 35

Nếu tính gộp các nhu cầu được trợ cấp vốn để tự tạo việc làm và có nguyện vọng được đào tạo thì tỉ lệ này lên tới 66, 14% Điều này chứng minh

đa số người khuyết tật có ý chí vươn lên để có cuộc sống tự lập, độc lập về kinh tế và hòa nhập với cộng đồng Trước thực trạng và những khó khăn của NKT trong tìm việc làm, những năm qua, Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam đã xây dựng chương trình tạo việc làm cho NKT là 1 trong 5 hoạt động trọng tâm của Hội Trong đó, trước hết chú trọng phát triển mô hình dạy nghề, truyền nghề phù hợp với tạo việc làm tại cộng đồng Mô hình này được thực hiện thành công ở các địa phương có làng nghề truyền thống như: nghề khảm trai ở Ngọ Hạ (huyện Phú Xuyên, Hà Nội), nghề chạm bạc, kim hoàn ở xã Minh Thắng (Vũ Thư, Thái Bình); một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ gia đình có các nghề mây giang đan, thêu ren móc chỉ, thủ công mỹ nghệ, may mặc, cơ khí, sửa chửa điện tử

Có nhiều hình thức dạy nghề, truyền nghề gắn với giải quyết việc làm như: Tập trung theo lớp, xen ghép giữa người không khuyết tật và NKT, tổ chức tại xưởng sản xuất, tại nhóm, hộ gia đình, kèm cặp vừa học vừa làm, cầm tay chỉ việc Về quy mô, có nơi 30 - 50 người nếu có địa điểm rộng Có nơi chỉ kèm dạy từ 3 - 5 người tại nhà Thời gian học nghề cũng linh hoạt, theo yêu cầu của từng nghề và dạng khuyết tật (đặc biệt đối với người khiếm thính, khiếm thị ), thường từ 2 - 6 tháng, đặc biệt là ngay trong quá trình học nghề

đã có thể tạo ra sản phẩm, có chút ít thu nhập Đây là điểm thuận lợi cho NKT,

là nguồn động viên to lớn và lại có thu nhập ngay để trang trải cuộc sống

Năm năm qua, các cấp Hội đã tổ chức dạy nghề cho 12.773 NKT, trong

đó có 3.480 người được dạy nghề từ Chương trình mục tiêu quốc gia và 9.293 người từ các nguồn của Hội, trong đó khoảng 80% học nghề tại các cơ sở cộng đồng, kết quả có tới 85% có việc làm ổn định Về thu nhập, tuy chưa cao, nhưng NKT đã có thể tự hào không phải là người hoàn toàn sống dựa vào gia đình Thêm nữa, được làm việc, có thu nhập giúp NKT tự tin, hòa nhập tốt hơn

Tuy nhiên, có thể nhận thấy việc thực hiện luật pháp và chính sách về dạy nghề đối với NKT chưa nghiêm Việc làm có ý nghĩa quan trọng đối với

Trang 36

NKT, lực lượng lao động khuyết tật có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước Việc làm giúp NKT nâng cao vị thế và cải thiện chất lượng cuộc sống Người sử dụng lao động và các ngành chức năng, cộng đồng cần nhìn nhận đúng về khả năng lao động của NKT và thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với vấn đề việc làm cho NKT

Tạo việc làm cho người khuyết tật là tạo điều kiện để họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội Nó vừa có ý nghĩa kinh tế, chính trị và xã hội sâu sắc Đó cũng là truyền thống tốt đẹp của dân tộc

ta, là trách nhiệm của người khuyết tật, gia đình và nhà trường, tổ chức kinh doanh, đoàn thể, hội quần chúng, tổ chức xã hội và các cấp chính quyền

Nhìn chung hệ thống các trường dạy nghề cho người khuyết tật rất phân tán, phần lớn các trường trực thuộc các Bộ, ngành và địa phương Hệ thống dạy nghề này vẫn tiếp tục tạo ra một lực lượng lao động kém thích nghi với những nhu cầu của một nền kinh tế thị trường đang phát triển, trường học với các cơ sở thiết bị còn lạc hậu, trang thiết bị thí nghiệm và kĩ thuật lỗi thời không còn đáp ứng được một số nhu cầu của các doanh nghiệp hiện đại Hơn nữa, các giáo trình giảng dạy tập trung chủ yếu vào lí thuyết với chỉ một phần rất nhỏ gắn với việc chuyển giao kĩ năng thực tế cho người học

Nội dung, chương trình, nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu, quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành Chưa có giáo trình cho các loại hình đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo tại địa phương và đào tạo tại nơi làm việc Mặt khác nhu cầu học nghề rất đa dạng cả về nghề (vì có nhiều dạng khuyết tật), thời gian và địa điểm trong khi đó chỉ có giáo trình của một số nghề truyền thống như (may, sữa chữa điện tử ) được đào tạo tại trường Thị trường luôn luôn biến động, nghề đào tạo cũng phải thay đổi theo để đáp ứng nhu cầu của người học nghề Nhưng sự thích nghi với những nhu cầu của thị trường còn chậm, do đó sức hút đối với đối tượng đến học nghề chưa cao Giáo viên và cán bộ quản lý còn yếu và thiếu về kiến thức, kĩ năng và nhận thức hợp

lý về các lĩnh vực kĩ thuật, sư phạm và quản lý

Công tác dạy nghề cho người khuyết tật, do vậy cũng chịu chung số phận với hệ thống dạy nghề trì trệ của cả nước trong thời gian qua Hiện nay

Trang 37

công tác dạy nghề cho người khuyết tật còn rất khiêm tốn, hàng năm chỉ mới hướng nghiệp dạy nghề cho khoảng 5.000 đến 6.000 người khuyết tật (có khoảng 100 cơ sở hướng nghiệp dạy nghề cho người khuyết tật) Con số này còn rất thấp so với nhu cầu của người khuyết tật, các nghề dạy trong các cơ sở dạy nghề còn rất hạn chế, một số nghề rất ít phù hợp với cơ hội việc làm hiện hành Những khiếm khuyết khác là thiếu quy trình quản lý và đội ngũ cán bộ

bố trí việc làm – những người giới thiệu việc làm cho người khuyết tật tại các

cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật còn hạn chế về trình độ hoặc sự tin cậy để tiếp xúc với những người sử dụng lao động trong khu vực công nghiệp hoặc công nghiệp để thương lượng việc làm cho người khuyết tật Nhiều cơ sở không tìm được việc làm cho người khuyết tật thì thường kéo dài các khóa đào tạo một cách không xác định

Đào tạo và đào tạo lại nghề - cả chính qui và không chính qui có vai trò then chốt trong việc bình đẳng hóa cơ hội việc làm trong thị trường lao động cho người khuyết tật Để đào tạo nghề thành công thì chiến lược đào tạo là phải

có những chính sách bảo đảm việc dạy nghề, thực tập nghề và vừa học, vừa làm một cách phù hợp Các cơ sở dạy nghề là những phương thức tổ chức để giúp người khuyết tật chuyển từ người không có việc làm sang có việc làm được trả công Tuy nhiên chi phí để quản lý và vận hành một cơ sở như vậy là một gánh nặng đối với ngân sách Nhà Nước Vì vậy cần thực hiện chủ trương

xã hội hóa hệ thống dạy nghề đối với người tàn tật nhằm huy động mọi nguồn lực Đồng thời thực hiện lồng ghép với các chương trình mục tiêu khác nhằm

sử dụng hiệu quả nguồn lực trong công tác dạy nghề cho người khuyết tật

Chính phủ cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng giáo dục và đào tạo như là chìa khóa cho phép cải thiện chất lượng lực lượng lao động của mình Có chính sách đầu tư thích đáng cho việc đổi mới cơ sở hạ tầng bao gồm

cả nhà máy, trang thiết bị và giáo trình giảng dạy Nâng cao trình độ giáo viên trong hệ thống dạy nghề

Nên thành lập các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật nhằm mục đích bảo đảm việc làm tạm thời hoặc mang tính chất thực tập tay nghề và dạy nghề cho người khuyết tật; đảm bảo việc làm cho những

Trang 38

người khuyết tật do mức độ thương tật nặng không thể kiếm và duy trì được việc làm

Hiện đã có các cơ sở dành riêng cho người khuyết tật mang lại lợi ích thiết thực nhưng về cơ bản những cơ sở sản xuất kinh doanh đó thường nhỏ bé, không kinh tế, hạn chế bởi những công việc lặp đi, lặp lại, không có nhiều nhu cầu, khả năng thặng dư và tiềm năng lao động ít ỏi, không có cơ hội phát triển

sự nghiệp Phần lớn những cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật thường phổ biến với cơ quan bảo trợ và tổ chức từ thiện Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thường sử dụng nhiều lao động và phát triển dần kĩ năng thủ công, đào tạo theo hình thức vừa học, vừa làm và sử dụng công nghệ phù hợp

Theo báo cáo mới đây của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản pháp luật liên quan thì hiện có tới 37% người khuyết tật đang sống trong hộ nghèo, gần 80% trong độ tuổi lao động không có khả năng tham gia lao động, gần 88% số người từ 16 tuổi trở lên chưa được đào tạo chuyên môn, 79% đang sống dựa vào gia đình, người thân Những con số trên cho thấy vấn đề sinh kế cho người khuyết tật vẫn là bài toán nhức nhối

Trong khi đó, mặc dù công tác đào tạo nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật cũng được Nhà nước đặc biệt quan tâm nhưng vì nhiều lý do, người khuyết tật vẫn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Kể từ khi có Pháp lệnh người tàn tật (năm 1998), số lượng người khuyết tật được học nghề ngày càng tăng, giai đoạn 1999-2004 có gần 19.000 người, giai đoạn 2005-2008 mỗi năm

có khoảng 8.000 người

Hiện tại trong cả nước có 260 cơ sở dạy nghề, trong đó 55 cơ sở chuyên biệt và 205 cơ sở có tham gia dạy nghề cho người khuyết tật Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo cũng đã dành hàng trăm tỷ đồng kinh phí cho việc đầu tư xây dựng cơ sở, hỗ trợ dạy nghề cho người khuyết tật mỗi năm

Quy định lập quỹ việc làm cho người tàn tật được đưa ra cách đây 14 năm nhưng mới có một số ít tỉnh, thành thực hiện Theo lãnh đạo Cục Việc

Trang 39

làm, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự chậm trễ trên là do quỹ phụ thuộc lớn vào ngân sách của địa phương Cả nước mới chỉ có 11 tỉnh, thành phố lập được quỹ

và đây là con số quá khiêm tốn sau 14 năm thực hiện

Ông Tào Bằng Huy, Phó Cục trưởng Cục Việc làm cho biết: “Cùng với quy định thành lập quỹ, Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành còn quy định các doanh nghiệp phải nhận một tỷ lệ nhất định lao động là người tàn tật vào làm việc (2% hoặc 3% tùy theo loại hình doanh nghiệp); doanh nghiêp tiếp nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc thấp hơn tỷ lệ quy định thì hàng tháng phải nộp một khoản tiền vào Quỹ việc làm cho người tàn tật

Đồng thời, quy định chế tài xử lý đối với các doanh nghiệp vi phạm, cụ thể: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không nhận người khuyết tật vào làm việc hoặc không nộp tiền vào quỹ”

Như vậy, trong Bộ luật Lao động và các văn bản liên quan khác đã có những quy định đầy đủ về việc thu một khoản tiền từ các doanh nghiệp không nhận đủ số lao động khuyết tật, cũng như chế tài xử phạt với doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định Tuy nhiên việc thực hiện các quy định này còn hạn chế Để tiếp tục thực hiện tốt các quy định này, theo lãnh đạo Cục Việc làm, trong thời gian tới các địa phương cần phải xúc tiến việc lập Quỹ việc làm cho người tàn tật, đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử phạt hành chính đối với các trường hợp vi phạm Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Lao động để các doanh nghiệp hiểu và tự nguyện thực hiện

Theo các doanh nghiệp, không chỉ bất công bằng mà việc nhận công nhân là lao động khuyết tật còn “làm khó” doanh nghiệp như thất thường trong giờ giấc lao động, năng suất lao động thấp, phải cải tạo hệ thống dây chuyền, nhà xưởng cho phù hợp với lao động khuyết tật Trong khi số tiền họ làm từ thiện còn nhiều hơn khoản phí họ phải đóng Với ý kiến này, lãnh đạo Cục Việc làm khẳng định vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật không chỉ

là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và bản thân người tàn tật mà là trách

Trang 40

nhiệm của toàn xã hội, trong đó có các doanh nghiệp Đây là nghĩa vụ mà các doanh nghiệp phải thực hiện Các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước đã phát triển, đang phát triển như Đức, Pháp, Ấn Độ cũng có quy định về tỷ lệ lao động là người khuyết tật mà doanh nghiệp phải nhận, thậm chí còn quy định cao hơn VN, như ở Đức là 5%, Ấn Độ là 3% Và họ đã thực hiện khá thành công, góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho người tàn tật Còn từ thiện là xuất phát từ ý thức, trách nhiệm, sự tự nguyện đối với xã hội của các doanh nghiệp, không nên đưa ra để so sánh

Để giải quyết việc làm cho lao động khuyết tật, tại nhiều địa phương xuất hiện các làng nghề tiểu thủ công nghiệp Một số trung tâm dạy nghề nhân đạo bằng phương pháp dạy nghề, chuyển giao dần công tác quản lý rồi cho những nhóm học viên tự tách ra để lập tổ hợp sản xuất, lập doanh nghiệp và hoạt động rất hiệu quả Nhiều số liệu cho thấy đối với các cơ sở dành riêng cho người khuyết tật không nên tuyển lao động phổ thông vì điều này không khuyết khích được các bạn khuyết tật nhiều bạn ỉ lại

Các quy định của Bộ luật Lao động đối với người lao động khuyết tật đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý cho vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ nuôi dưỡng, học văn hóa đối với người khuyết tật, hoạt động thể dục, thể thao

và sử dụng các công trình công cộng cũng như học nghề và việc làm cho người khuyết tật Người khuyết tật luôn nhận được trợ cấp hàng tháng và mức trợ cấp

xã hội hàng tháng luôn được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước và đảm bảo mức sống tối thiểu

2.2 Giới thiệu 3 mô hình hướng nghiệp, dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật ở khu vực TP Hồ Chí Minh

2.2.1 Câu Lạc Bộ Khuyết tật Trẻ (YMCA)

Câu Lạc Bộ Hướng Nghiệp Khuyết Tật Trẻ VN-YMCA là một tổ chức tự

lực được thành lập và điều hành bởi Người Khuyết Tật, chính thức đi vào hoạt động ngày 01/08/2000 Trong quá trình hoạt động, CLB đã nhận được sự hỗ trợ tích cực về mặt tinh thần lẫn vật chất của Công ty Hợp Tác Trẻ VN - YMCA

Ngày đăng: 07/05/2021, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w